BỐ CỤC BÀI VIẾT

PHẦN DẪN NHẬP

PHẦN I: CƠ SỞ CHO VẤN ĐỀ TRANG PHỤC THỜI HÙNG VƯƠNG

I. Những vấn đề logic khi tìm tòi về trang phục thời kỳ Hùng Vương:

II. Nền tảng cho trang phục từ khảo cổ học & lịch sử:

1. Liệu người Việt có biết dệt vải hay không?

a. Chứng cớ từ khảo cổ học: 
b. Chứng cớ từ lịch sử: 

2. Những chiếc khuy áo & khóa thắt lưng:

III. Thử tìm tòi về vật liệu, kỹ thuật dệt may & màu sắc của vải trong thời kỳ này:

1. Vật liệu:

a. Theo các ebook khảo cổ học: 
b. Theo các ebook lịch sử: 

2. Kỹ thuật dệt may:
3. Màu sắc của vải & trang phục:

IV. Trang phục thời kỳ Hùng Vương với những chứng cứ trực tiếp:

1. Ebook lịch sử:
2. Ebook khảo cổ: 
3. Ebook cán dao găm & hình vẽ trên các trống đồng Đông Sơn:

V. Tổng kết:

PHẦN II: PHỤC DỰNG TRANG PHỤC THỜI KỲ HÙNG VƯƠNG

I. Nhận thức căn bản:

II. Nền tảng tiến hành & công thức thực hiện:

1. Nền tảng tiến hành:

a. Nguồn gốc tộc Việt:
b. Các cuộc di cư tạo dựng các dân tộc thuộc các hệ ngữ:
c. Sự tương đồng trong nguồn gen của các nhóm dân có nguồn gốc từ cộng đồng tộc Việt công đoạn muộn:
d. Văn hóa Điền Việt & vấn đề nghiên cứu, tiếp cận trong xem qua cổ vật Điền Việt:
e. Kết luận:

2. Công thức thực hiện:

III. Tiến hành phục dựng:

A. Khảo sát về các dạng trang phục & một vài vấn đề về trang phục thời Hùng Vương: 

1. Khảo sát về các dạng trang phục thời Hùng Vương:

2. Trang phục thời Hùng Vương trong thời Bắc thuộc:

3. Khố & trang phục thời kỳ Hùng Vương:

B. Tiến hành phục dựng trang phục:

1. Trang phục của vua, thủ lĩnh & quý tộc thời Hùng Vương:

1.1. Trang phục căn bản của các tầng lớp quý tộc thời Hùng Vương:

a. Bộ trang phục của quý tộc nữ:
a. Bộ trang phục của quý tộc nam:

1.2. Áo choàng lông chim & lông vũ giành cho vua, hoàng gia & thủ lĩnh vùng:

a. Áo choàng lông chim giành cho vua, hoàng gia & thủ lĩnh nam: 
b. Áo choàng lông ngỗng, lông thiên nga giành cho hoàng gia, thủ lĩnh nữ:

1.3. Dạng áo choàng vải giành cho thủ lĩnh, quý tộc nam & nữ:

2. Các dạng trang phục của các tầng lớp khác trong xã hội Việt:

2.1. Áo chui đầu vạt trái cho cả nam & nữ giới:

2.2. Các dạng trang phục giành cho dân đen:

a. Dạng áo váy quấn với họa tiết dễ dàng giành cho cả nam & nữ giới:
b. Dạng áo hai tà cho nữ giới:
c. Dạng đầm xòe xếp ly cho nữ giới:

2.3. Dạng áo hai tà cho lễ tế:

2.4. Dạng áo trùm Poncho:

2.5. Dạng áo – quần giành cho cả nam & nữ:

2.6. Trang phục lao động:

a. Khố: 
b. Áo tơi: 

2.7. Trang phục của chiến binh:

3. Các phòng ban phụ của trang phục:

3.1. Mảnh áo trùm ngực:
3.2. Băng đeo chéo:
3.3. Khăn:
3.4. Dép:

4. Tìm lại các dạng mũ & khăn:

4.1. Vương miện của các vua Hùng:
4.2. Dạng mũ của thủ lĩnh nữ:
4.3. Khăn đội đầu:
4.4. Khăn vấn:
4.5. Mũ hình nón:
4.6. Nón dẹt:
4.7. Mũ hình tam giác:
4.8. Dạng mũ hình chữ nhật:
4.9. Mũ dạng khăn đội đầu:
4.10. Dạng khăn xếp lớp:

5. Tìm lại các dạng tóc của người Việt xưa: 

5.1. Các kiểu tóc giành cho cánh mày râu:
5.2. Các kiểu tóc giành cho nữ giới:

PHẦN III: CÁC PHỤ KIỆN, VẬT DỤNG PHỤC DỰNG CÙNG TRANG PHỤC

I. Trang sức & phụ kiện đi cùng trang phục: 

1. Găng tay, bao chân đồng:
2. Những chiếc vòng tay, trang sức:
3. Vòng (kiềng) bằng đồng:
4. Xà tích đeo cổ:
5. Nhẫn đồng, bạc & vàng:
6. Trâm cài đầu bằng đồng & vàng:
7. Khuy cài áo cho trang phục nam & nữ giới:
8. Các loại vòng cổ giành cho nam & nữ giới quý tộc:
9. Các dạng khuyên tai cho quý tộc & dân đen:

a. Khuyên tai giành cho quý tộc: 
b. Khuyên tai giành cho dân đen: 

10. Khóa thắt lưng & gài đai lưng giành cho quý tộc & dân đen:

a. Khóa thắt lưng cho quý tộc nam:
b. Gài đai lưng cho trang phục dạng váy thụng:

II. Phụ kiện phục dựng cùng trang phục: 

1. Rìu Việt:
2. Dao găm:
3. Kiếm dài:
4. Gùi tre:

PHẦN IV: KHẢO CỨU VỀ HOA VĂN, KỸ THUẬT DỆT VÀ MAY TRANG PHỤC

I. Hoạ tiết trang trí trên trang phục & khăn:

1. Các loại họa tiết trang trí:
2. Cách sắp đặt các loại họa tiết:

a. So với trang phục của cánh mày râu: 
b. So với trang phục của nữ giới:

3. Các loại họa tiết trong thực tiễn may mặc:

II. Khảo cứu về các kỹ thuật dệt, nhuộm & may trang phục:

1. Trồng cây, nuôi tằm & khai thác sợi:
2. Xe sợi:
3. Các kiểu khung dệt:

a. Dệt bằng khung rời: 
b. Dệt bằng khung cửi: 

4. Dệt vải, may thêu trang phục:

a. Kỹ thuật dệt may của người Mường, người Thái: 
b. Kỹ thuật ikat, hay nhuộm bao sợi: 

5. Khám phá về kỹ thuật nhuộm vải & màu nhuộm:

PHỤ LỤC
Sơ khảo về tục xăm mình

PHỤ LỤC: CÁC VẤN ĐỀ CẦN LÀM RÕ
Θ Trang phục nhà Sở & văn hóa Điền Việt
Θ Khảo về trang phục quần

PHẦN DẪN NHẬP

Dân tộc Việt có một dĩ vãng đáng tự hào & trân trọng, các vị vua Hùng chính là “linh hồn” kiến tạo thành công đoạn lịch sử trọng yếu đó. Thời kỳ do các vua Hùng kiểm soát từng được coi như một công đoạn huyền sử không có thật, nhưng những tìm tòi khảo cổ đã chứng tỏ sự tồn tại của một nhà nước trong thời kỳ cội nguồn của dân tộc Việt, được kế thừa truyền thống từ các văn hóa thượng cổ tại vùng Động Đình, Dương Tử trong huyền sử được truyền lại từ ngàn xưa.

Họ tiến triển khỏe khoắn trình độ văn minh của mình liên tục trong nhiều nghìn năm, trổ tài trên cả hai góc cạnh trí não & vật chất, với dấu hiệu di vật từ thời kỳ đồ đá, đồ ngọc cho tới đồ đồng, cùng những di sản trí não hiện đã phai mờ hoặc mất tích. Sự tiến triển đó đi cùng với trình độ văn minh, đi cùng với trang phục, thế nhưng hình ảnh “trang phục” của thời đại đó lại được các nhà nghiên cứu khắc họa một cách kỳ lạ & khó hiểu:

Trang phục được phục dựng lại một cách bất hợp lý như vậy, đã hình thành những hiểu nhầm không nhỏ trong nghĩ suy của người Việt về thời đại các vua Hùng của dân tộc mình, cho là thời kỳ đó người Việt đang còn trong tình trạng sơ khai, cổ lỗ sĩ, bởi đây là dạng trang phục của một dân tộc chậm tiến, kém văn minh, chứ không phải của một dân tộc đã tạo nên những chiếc trống đồng với những ý niệm sâu xa, phi thường, cũng như có một quá trình tiến triển văn minh bền lâu trong nhiều ngàn năm.

Sự bất hợp lý trong phục dựng trang phục thời kỳ Hùng Vương còn trổ tài rõ hơn, khi chính những phát hiện khảo cổ đã chứng tỏ người Việt biết dệt vải ngay từ thời kỳ văn hóa Hà Mẫu Độ cho tới Lương Chử (cách ngày nay từ 7000 tới 5000 năm), kế thừa vào thời văn hóa Phùng Nguyên (cách ngày nay hơn 4000 năm), tới thời Đông Sơn thì đã có khuy áo, có khóa thắt lưng, chứng tỏ lịch sử bền lâu & sự tiến triển tới độ cầu kỳ & cầu kỳ của trang phục Việt. Vậy nên, trang phục “cởi trần, đóng khố, đeo lá cây” là một hình ảnh bất hợp lý, thiếu chuẩn xác & cũng không khách quan với những thực tiễn khảo cổ học.

Việc phục dựng lại trang phục thời kỳ Hùng Vương là rất trọng yếu, có thể ảnh hưởng tới nhận thức của mọi người về thời kỳ này. Này là điều chúng tôi cho là thiết yếu phải làm được, mặc dầu sẽ gặp phải rất là nhiều khổ cực, do sự thiếu thốn tư liệu. Nhưng có một điều rất may mắn với tất cả chúng ta: còn nhiều dân tộc ở miền Đông Á & Đông Nam Á ngày nay gìn giữ được những nét văn hóa của cộng đồng Việt thượng cổ, trong đó có trang phục, & tư liệu hình ảnh từ các cổ vật văn hóa Đông Sơn, tư liệu cổ sử & văn hóa, cũng như cổ vật Điền Việt là những tư liệu vô cùng quan trọng để tất cả chúng ta tìm lại trang phục cổ của dân tộc mình.

Qua những nền tảng đó, chúng tôi sẽ tiến hành phục dựng lại trang phục thời kỳ Hùng Vương, với hướng đi lấy cổ vật Việt thời Đông Sơn làm mấu chốt, so sánh, đối chiếu, sàng lọc qua cổ vật văn hóa Điền Việt, đối chiếu, so sánh với các dân tộc còn cất giữ những nét văn hóa Việt cổ với sự cảnh giác thiết yếu để có thể tìm lại những dạng trang phục căn bản nhất của thời kỳ này.

Chúng tôi mong ước rằng công trình này của mình có thể làm nền tảng cho việc phục dựng trang phục Việt cổ thời Hùng Vương sau này, từ đó đóng góp phần biến đổi nhận thức của mọi người về cội nguồn của dân tộc, để có thể thấy được dĩ vãng đáng tự hào mà Tổ Tiên người Việt đã từng xây dựng nên.

Bài khảo cứu sẽ được chúng tôi chia thành bốn phần, phần trước nhất là tiền đề minh chứng có sự tồn tại của trang phục, phần kế đến, chúng tôi sẽ tìm kiếm, phục dựng tương đối các loại trang phục thời Hùng Vương, cũng như tìm lại các dạng mũ miện, trang sức, phụ kiện & các họa tiết sử dụng trong trang trí trang phục.

Nếu có bất kỳ điểm nào mà độc giả thấy chưa thỏa đáng ở nội dung, xin hãy tự nhiên chia sẻ quan niệm của mình ở phần phản hồi, để chúng tôi có thể hoàn thành hơn bài khảo cứu của mình.

Lang Linh

PHẦN I
CƠ SỞ CHO VẤN ĐỀ TRANG PHỤC THỜI HÙNG VƯƠNG

I. Những vấn đề logic khi tìm tòi về trang phục thời kỳ Hùng Vương:

Việc nghiên cứu trang phục thời kỳ Hùng Vương từ trước tới thời điểm hiện tại đều chưa có sự thăm dò toàn diện các tư liệu lịch sử, khảo cổ, văn hoá, trang phục thời kỳ này đã được mặc định là dạng trang phục cởi trần, đóng khố, bên cạnh đó không còn trang phục gì khác so với cánh mày râu. Bên cạnh đó các yếu tố logic về tự nhiên, dân tộc, trình độ tiến triển đã trổ tài tính bất hợp lý trong suy nghĩ cởi trần đóng khố về trang phục thời kỳ Hùng Vương.

1. Vào thời kỳ Đông Sơn hơn 2200 năm ngoái, thì nhiệt độ bình quân của địa cầu ít hơn ngày nay hơi nhiều (hình dưới), miền Bắc nước ta trong thời kỳ này lại nằm trong vùng có mùa đông rất lạnh, có thể còn tồn tại băng tuyết (đến thời Lý, thời tiết vẫn còn lạnh hơn ngày nay & có hiện tượng băng tuyết ghi lại trong sử sách [1]), thêm nữa, do khí hậu có độ ẩm cao nên mùa đông ở miền Bắc viet nam thường lạnh giá hơn đối với nhiệt độ thực tiễn. Với khí hậu như thế, thì trang phục đóng khố, cởi trần chắc nịch sẽ chẳng thể chống chịu được thời tiết hà khắc trong mùa đông.

Khí hậu của miền Bắc viet nam cũng có mùa nóng, trang phục có thể dễ dàng hơn trong mùa này, người Việt cũng từng sáng kiến ra nhiều vật liệu có tính thoáng mát như vải lanh, vải tơ chuối…  để thích hợp cho tiết trời nóng bức. Chiếc khố chỉ được sử dụng trong đời sống lao động, có thể thấy trong các hình ảnh tư liệu thời Pháp thuộc, thì nông dân, ngư dân Việt vẫn đóng khố để thuận lợi cho lao động, thường ngày, họ vẫn mặc trang phục đầy đủ, chiếc khố thường ngày có thể chỉ được sử dụng như một dạng đồ lót mặc trong trang phục thôi vậy.

Print

Quần áo có công dụng bảo vệ thân thể khỏi sự giá lạnh của thời tiết, & theo các nghiên cứu, thì khi con người còn ở châu Phi đã có quần áo [1a, 1b]. Quần áo trong công đoạn trước khi  rời khỏi châu Phi có thể bằng lông thú, vỏ cây, lá cây quấn quanh người. Nhiệt độ của miền Bắc viet nam vào mùa đông cao hơn nhiệt độ bình quân ngày nay, vậy nên để duy trì sự sống trước thời tiết lạnh giá, nhân loại cần mặc đủ ấm. 

2. Vấn đề thứ hai, một vấn đề logic mà tất cả chúng ta thường lãng quên: văn minh vật chất, văn minh trí não phải đi cùng với trang phục. Những người tạo nên những chiếc trống đồng cầu kỳ & tinh vi, với trình độ luyện kim thượng thừa, ý niệm văn nghệ phi thường, lắng đọng, che giấu những triết lý thâm sâu mà hậu thế tất cả chúng ta ngày nay còn chưa thể hiểu hết được, không lẽ lại là những người dã man, kém văn minh, không biết may trang phục mà mặc hay sao?

Xét về tính logic, nếu còn mặc trang phục như vậy, thì nhân loại chưa tới tiến ngưỡng cửa văn minh, bởi dệt vải, may trang phục là nền móng căn bản trước nhất chứng tỏ trình độ văn minh của dân cư nông nghiệp an cư. Không biết dệt vải may trang phục, cũng có nghĩa họ không có đủ năng lực vật chất, kiến thức & kỹ thuật để tạo thành những chiếc trống đồng tinh vi, vì thế cũng sẽ không tồn tại nền văn minh Đông Sơn tác động mênh mông tới khắp vùng Đông Á & Đông Nam Á như thế.

csm_VO_83624_201311_1_1a506e212e2

3. Người Việt có nguồn gốc chung với các dân tộc ở vùng miền Bắc viet nam & Nam Trung Hoa như: Mường, Tày, Thái, Nùng… [2], cùng với này là các dân tộc có địa phận sinh sống trong mảnh đất nay là Trung Hoa như Choang, Dai, Thủy… Có thể thấy họ đều có trang phục, & trang phục đều có những điểm giống nhau & có sự tương đồng, hợp nhất khẳng định trong dạng trang phục, màu sắc, họa tiết, suy luận một cách hợp lý, thì người Việt cũng nên có một dạng trang phục cũng giống như thế. 

4. Những logic chúng tôi đề cập tới ở trên đã trổ tài việc phục trang cởi trần đóng khố cho người Việt thời Hùng Vương là bất hợp lý, bởi họ là những người thuần hóa lúa nước từ sớm, tiến triển đời sống nông nghiệp an cư, tạo nên nguồn lương thực dư thừa để tiến triển đời sống vật chất, dấu hiệu qua các công đoạn đồ đá, đồ ngọc cho tới đồ đồng. Đời sống văn minh đó phải đi cùng với trang phục, đi cùng với kỹ thuật dệt vải, điều này sẽ được chúng tôi minh chứng thông qua những chứng cứ chứng tỏ kỹ thuật dệt vải của người Việt bắt đầu từ thời kỳ Hà Mẫu Độ tới Lương Chử & văn hóa Phùng Nguyên cho tới Đông Sơn.

II. Nền tảng cho trang phục từ khảo cổ học & lịch sử: 

Chúng tôi sẽ đi tìm những nền tảng từ khảo cổ học & thư tịch lịch sử để minh chứng sự tồn tại của vải, kỹ thuật dệt vải cùng với khả năng sản xuất vải sll, là những tiền đề minh chứng cho sự tồn tại trang phục của người Việt trong thời kỳ Hùng Vương.

1. Liệu người Việt có biết dệt vải hay không?

Nguồn gốc của người Việt là một vấn đề chính để tất cả chúng ta xác nhận được thời điểm hiện ra của kỹ thuật dệt vải trong xã hội Việt thời xưa. Vấn đề nguồn gốc người Việt đã được chúng tôi khảo cứu kỹ càng trong bài “khảo cứu về nguồn gốc dân tộc Việt Nam” [dẫn], các văn hóa tại vùng Động Đình, Dương Tử là cội nguồn gần nhất của người Việt trước khi về viet nam, tại đây đã tìm ra nhiều dấu vết trọng yếu minh chứng sự tồn tại của vải & kỹ thuật dệt vải. Vào thời điểm 4000 năm ngoái, người Việt từ vùng Động Đình, Dương Tử đã di cư về viet nam, các nghiên cứu di truyền học đã trổ tài rất rõ dòng di cư này [2][13]. Khi họ di cư về viet nam, thì tại văn hóa Phùng Nguyên, cũng từng tìm ra rất là nhiều dọi xe sợi là chứng cứ trọng yếu chứng tỏ sự tồn tại của kỹ thuật dệt vải. 

a. Chứng cớ từ khảo cổ học: 

Người Việt đã biết dệt vải từ rất sớm, ngay từ thời điểm văn hóa Hà Mẫu Độ đã tìm ra những mảnh khung dệt nguyên thủy sớm nhất toàn cầu, kế thừa nó là văn hóa Lương Chử có thời đại hơn 5000 năm ngoái ngày nay đã có dấu vết của các mảnh vải bằng các vật liệu lụa, lanh, gai, sau thời điểm họ di cư về viet nam, tại văn hóa Phùng Nguyên, cũng từng trổ tài những dấu vết trọng yếu minh chứng kỹ thuật dệt vải: dấu vải & dọi xe sợi. Tới thời Đông Sơn thì ngành dệt vải đã thịnh đạt, chiếm thế chủ chốt trong đời sống của người Việt, & họ cũng tiến triển được nhiều loại vải khác nhau.

◊ Dấu vết tại văn hóa Hà Mẫu Độ & Lương Chử: 

– Những mảnh của khung dệt nguyên thủy cũng được tìm ra từ các vị trí của văn hóa Hà Mẫu Độ tại tỉnh Chiết Giang, di vật sớm nhất được tìm ra có mốc thời đại vào khoảng 8000 năm ngoái ngày nay [3], đây là những mảnh khung dệt cổ nhất toàn cầu, kế cận công đoạn này, là những mảnh khung dệt có thời đại khoảng 6500 năm cách ngày nay (hình dưới).

20180621131553173

– Dấu vết vải với các vật liệu lụa, vải lanh (hemp) & vải gai (ramie) đã được tìm ra trong các vị trí văn hóa Lương Chử – Chiết Giang, có thời đại từ 2700 năm ngoái Công nguyên. Đây là các vật liệu căn bản được kế thừa & sử dụng trong các văn hóa từ Phùng Nguyên cho tới Đông Sơn, thời kỳ Đông Sơn cũng tìm được 3 loại vật liệu căn bản này trong vải mặc. [4]

Mảnh lụa, sợi lụa & mảnh vải gai được tìm ra tại văn hóa Lương Chử, có thời đại tới khoảng 4700 năm BP. [Nguồn: 1, 2, 3]

◊ Dấu vết tại các văn hóa Phùng Nguyên cho tới Đông Sơn tại viet nam:

– Khoa khảo cổ đã tìm ra rất là nhiều dọi xe sợi trong các di chỉ thuộc công đoạn văn hóa Phùng Nguyên cách nay 4000 năm. GS.TS Hán Văn Khẩn, Viện khảo cổ học viet nam công nhận: “Dọi xe chỉ tìm thấy khá phổ biến trong văn hóa Phùng Nguyên. Nó được làm bằng đất sét tương đối mịn hoặc tương đối thô… Dọi xe sợi có đường kính trung bình 0,6 – 2cm… Như vậy, nghề dệt vải đã phổ biến trong văn hóa Phùng Nguyên. Cư dân văn hóa này ít nhất có hai loại vải mặc, đó là vải dệt từ sợi và vải vỏ cây”. [5]

Untitleds2

Dọi xe sợi có tính năng se nguyên liệu thành sợi vải. Đây là chứng cứ trọng yếu chứng tỏ cho sự tồn tại của kỹ thuật dệt vải.

Tư liệu về cách dùng dọi xe sợi của Thổ Nhĩ Kỳ & châu Mỹ. [Nguồn: 1, 2]

– Khảo cổ học viet nam phát hiện nhiều dấu tích vải vóc bao bọc trên các đồ sứ, đồ đồng, đặc biệt là trong các mộ táng. Tại Bắc Bộ viet nam tìm ra dấu tích các chất liệu vải sớm trong các di tích Châu Can, Phùng Nguyên, Đồng Đậu, chứng tỏ người Phùng Nguyên đã biết dệt vải (Lê Văn Lan, Trịnh Minh Hiên [1973: 236]). [6]

– Một số mộ táng thời Hùng Vương ở Lâm Thao (Phú Thọ) thuộc công đoạn văn hóa Gò Mun cách nay 3.000 năm thấy rõ vết vải liệm trên hài cốt. Các mộ Châu Can (Hà Tây cũ), mộ Việt Khê (Hải Phòng) thuộc văn hóa Đông Sơn cách nay 2.800 năm đến thế kỷ II trước công nguyên, đều có vải liệm. [5]

vai-ds

– Năm 2002, trọng tâm tiền sử Đông Nam Á kết phù hợp với bảo tàng Hưng Yên khai quật khu mộ táng hình thuyền ở Động Xá, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên. Từ khoảng 1200 miếng vải to nhỏ khai quật được phát xuất hiện 7 chất liệu vải, làm từ ba cỡ sợi của hai lối dệt khác nhau. Ngoài những phát hiện các chất liệu vải khá giống ở mộ Châu Can, mộ Động Xá còn tìm ra hơn 20 miếng vải làm từ những băng sợi lanh màu nhuộm chàm. Nền vải chính dệt đan xen những sợi gai cho thấy sự phong phú trong kiểu cách thời bấy giờ, có những chất liệu vải phục vụ riêng cho yêu cầu trang trí hoặc để may cắt & thêu trang phục. [7]

Vải thời văn hóa Đông Sơn [Nguyễn Việt]

– Năm 2005 hai tiến sĩ khảo cổ học Nguyễn Việt & Bùi Văn Liêm cộng tác với hai tiến sĩ khảo cổ học người Úc, khai quật ngôi mộ ở Động Xá (Hưng Yên) có thời đại 2.100 (+_60 năm). Trong ngôi mộ tìm ra một tấm vải liệm còn nguyên vẹn, bên trong còn bọc vài lớp vải nữa… Họ tổng kết: “Dữ liệu vải sợi của đội khảo cổ Việt Nam – Úc ở Đông Xá khẳng định rằng, nghề dệt vải đã phát triển trong thời đại kim khí ở Bắc Việt Nam và rằng vải giữ vai trò trung tâm trong mộ táng Đông Sơn, không chỉ cho trang phục mà còn làm chiếu, vải bọc và vải liệm”. [5]

vải 3

b. Chứng cớ từ lịch sử: 

Thư tịch lịch sử cũng ghi lại một dấu vết trọng yếu chứng tỏ cho sự tiến triển & quy mô của ngành dệt vải của người Việt trong thời gian đầu thời kỳ Bắc thuộc, trổ tài một trình độ tiến triển cao trong kỹ thuật dệt vải của người Việt đã có từ trước đây:

Sử có ghi lại rằng, vào thế kỷ I – II, vào thời nhà Hán, nhà Ngô đô hộ quốc gia ta, chính quyền đô hộ buộc dân Việt phải cống nộp vải Cát Bá (một chất liệu vải bông trắng mịn), vải tơ chuối, lụa tơ tằm. Tới thời Đường, chính quyền Trung Quốc đánh thuế người Việt bằng các chất liệu vải, lụa, sa, the. Điều này cho thấy, vải dệt giành cho may mặc của người Việt từ đầu công nguyên đã rất đa dạng, đẹp đẽ, & được người Hán ưa thích.

Các ebook của Trung Quốc cũng ghi chép về các chất liệu vải tơ chuối, vải bông (cát bá), các chất liệu vải đó là chứng minh cho sự tiến triển của ngành dệt vải tới độ phong phú về vật liệu của người Việt thời kỳ hậu Đông Sơn không lâu, cũng như khả năng sản xuất sll, với cụ thể Sĩ Nhiếp mang về làm cống phẩm cho triều đình hàng nghìn tấm vải cát bá mịn.

Sách  của Trung Quốc chép: “Ở Giao Chỉ, thân cây chuối xé ra như tơ, dệt thành vải gọi là tiêu cát, dễ rách, nhưng đẹp, màu vàng nhạt. Cũng gọi là vải Giao Chỉ.” Từ vải tơ chuối, lại tiến đến vải dệt bằng sợi quả cây bông vải, gọi là vải cát bối hay cát bá. Sách  của Trương Bột ghi: “Huyện Yên Định ở Giao Châu có cây bông cao hơn một trượng, quả to như chén rượu, da mỏng, trong ruột như mối tơ, sắc trắng bạch, làm vải được…”. Trong những sản vật mà Sĩ Nhiếp mang về làm cống phẩm có hàng nghìn tấm vải cát bá mịn (…) Đã dệt được khăn bông, thêu hoa, gọi là “bạch diệp”. [5a]

2. Những chiếc khuy áo & khóa thắt lưng: 

Những chứng cứ từ khảo cổ & lịch sử chứng tỏ rằng dân cư tộc Việt đã biết dệt vải từ sớm, tại viet nam, thì người Việt cũng từng sản xuất được vải ngay từ thời văn hóa Phùng Nguyên sau thời điểm di cư về viet nam, tới thời Đông Sơn thì đã có khả năng sản xuất sll, phân phối vải cho chủ yếu dân cư. & chúng tôi còn tìm ra những chứng cứ chứng tỏ cho sự tồn tại của trang phục thời kỳ Hùng Vương: khuy áo & khóa thắt lưng.

31740018_2064802130201298_6540243423729811456_n

– Những chiếc khuy áo bằng đồng này được phát hiện giờ di chỉ Gò Quê trên địa phận văn hóa Sa Huỳnh, cùng nhiều hiện vật Đông Sơn khác như hộ tâm phiến, dao găm (sắt & đồng), rìu cân xòe cùng những chiếc khuy đồng này, trên đó có dấu tích của vải [Trịnh Sinh].

Những chiếc khuy này từng được thấy sớm nhất trong mộ Việt Khê (Hải Phòng, thế kỷ 3 TCN), cũng như hiện ra trong nhiều di chỉ Đông Sơn khác. Theo thông tin khảo cổ, thì tại ngôi mộ Việt Khê cũng từng thu thập được nhiều chất liệu vải khác nhau. [Nguyễn Việt] 

9743845906_c4b283cf61_k
khuydong_auto_x1

Theo Ts. Lâm Thị Mỹ Dung, thì loại khuy này đã có tiền thân là loại khuy bằng ngọc được phát hiện trong thời văn hóa Đồng Đậu (3500 năm ngoái ngày nay).

568e7a29-414a-4a91-94ed-9621489b40e2

Không những thế, khảo cổ học viet nam phát hiện không ít những chiếc khóa thắt lưng bằng đồng, với nhiều hình dáng khác nhau, được đúc tinh vi với nhiều hình dáng tinh tế.

Những chiếc thắt lưng tinh vi được sử dụng cùng với trang phục thời Đông Sơn. [Nguồn: BST Phạm Lan Hương, BST Bảo tàng Barbier-Mueller]

Đây là những chứng cứ rất trọng yếu chứng tỏ vấn đề trang phục của người Việt thời kỳ Hùng Vương: có khuy, có khóa thắt lưng, tức có trang phục, không dừng lại ở đó, trang phục còn tồn tại thể tiến triển tới độ cầu kỳ & cầu kỳ, suy nghĩ về trang phục của Tổ Tiên tất cả chúng ta cũng từng rất tiến bộ.

III. Thử tìm tòi về vật liệu, kỹ thuật dệt may & màu sắc của vải trong thời kỳ này:

1. Vật liệu:

a. Theo các ebook khảo cổ học: 

Theo ebook khảo cổ học, thì có 3 vật liệu căn bản được sử dụng trong dệt may của người Việt thời Đông Sơn:

Có ba vật liệu được khảo cổ công nhận chắc nịch được sử dụng trong dệt may trang phục Đông Sơn, này là sợi tơ tằm, sợi làm từ cây gai, & sợi làm từ cây lanh. [8]

Các vật liệu căn bản này đã khởi đầu được sử dụng từ thời văn hóa Lương Chử, với những mảnh vải, sợi vải lụa, gai & lanh tìm được có thời đại sớm nhất vào khoảng 4700 năm ngoái ngày nay, thời kỳ Đông Sơn hay tới thời phong kiến & ngày nay, người Việt vẫn tiếp tục sử dụng những vật liệu này trong may mặc trang phục. Lụa có thể cũng từng được sử dụng thông dụng từ ngay thời kỳ này, với nhiều dấu lụa tìm được tại văn hóa Lương Chử.

Tới thời Đông Sơn, thì những khảo cứu khảo cổ học cũng từng cho phép cam đoan về việc sử dụng thông dụng sợi tơ tằm, thêm vào đó, thì ebook lịch sử cũng ghi lại rằng trong công đoạn đầu công nguyên, trong lúc Trung Quốc một năm chỉ nuôi được 3 lứa tằm thì hiệu suất tằm ở Giao Chỉ, Nhật Nam, Lâm Ấp một năm đạt được tới 8 lứa, tạo nên nguồn cung lớn để phân phối vải lụa cho các tầng lớp dân cư. [Thủy Kinh Chú, Tam Đô Phú, Tề Dân Yếu Thuật] [7] [9]

b. Theo các ebook lịch sử: 

Người Việt cũng từng sáng kiến ra rất là nhiều chất liệu vải khác nhau, dựa theo những loại vật liệu có nguồn gốc từ tự nhiên:

“Ngành dệt đan cũng là một thành quả đáng kể của người Bách Việt cổ. Khảo cổ học đã phát hiện khoảng 20 chất liệu vải khác nhau đã từng hiện ra ở cộng đồng này, thông dụng có vải đay, vải gai, , lụa, gấm, the, vải thuyên, v.v. với nhiều khổ vải khác nhau tùy vào từng vùng, trong đó nổi tiếng đặc biệt là các chất liệu vải làm từ sợi gai, đay [Li Hui-Lin 1983: 48].

Vật liệu may mặc thiên về cây trồng. Vào khoảng 1.000 năm trCN, vùng Bách Việt đã sản xuất được nhiều chủng chất liệu vải vóc khác nhau, như tơ đay, tơ gai, tơ lụa, the, vải thuyên, vải sa, vải tơ rối v.v… Vải bông hiện ra muộn hơn. Đến đầu CN, dân Đông Lạc Việt ở đảo Hải Nam đã sản xuất chất liệu vải khổ to rất rất được ưa chuộng (theo Hậu Hán Thư). Ban Cố trong Hán Thư viết “… (Vùng Nam Việt) gần biển, có tê giác, voi, trân châu, bạc, đồng, trái cây, gấm vóc..”, “(Đảo Hải Nam) nam thì làm đồng, nữ thì dệt vải”. Trong mộ Nam Việt Vương tại Quảng Châu tìm ra “bao vải đay”, “bó dây thừng vải đay” & nhiều “di vật bằng lụa” khác. Khảo cứu của Eberhard W. [1968: 270-277] cho thấy chất liệu vải cát bối (sớm nhất ở Lâm Ấp), vải ngô đồng, vải câu đưa, vải mộc miên & vải làm từ vỏ cây là đặc sản nổi tiếng Lĩnh Nam & Vân–Quý, kết quả của tài trí tận dựng các loại vật liệu cây trồng chỉ có ở bản địa. Hơn thế, kỹ thuật dùng vỏ cây dó của người Bách Việt được xem như là tiền thân của ngành chế tác giấy, mà sau này người Hán ghi công phát minh cho Thái Luân đời Tây Hán [Eberhard W. 1968: 270-275].

Đặc biệt hơn, tiểu vùng Tây Lạc Việt còn tồn tại loại vải tơ chuối, được sản xuất bằng kỹ thuật tiến bộ. Chất liệu vải này rất phù phù hợp với kiểu thời tiết nóng bức của mùa hè nên rất rất được ưa chuộng (ghi trong Nam Châu Dị Vật Ký, Ngô Đô Phú, Nam Phương Thảo Mộc Trạng). Về sau kỹ thuật sơ chế truyền rộng khắp Lĩnh Nam, đến thời Đường, nó đã biến đổi thành vật triều cống của nhiều mảnh đất như Quảng Châu, Triều Châu, Đoan Châu, Phong Châu, Hạ Châu, Tân Châu (thuộc Quảng Đông), thậm chí lên đến tận Kiến Châu vùng Ngô-Việt (ghi trong Nguyên Hòa Quận Huyện Chí). Vải trúc tuy chỉ là mặt hàng thứ cấp song cũng sớm hiện ra trong lịch sử. Không những thế, cây ngô đồng cũng phân phối lượng nguyên liệu dệt vải đáng kể.” [6]

2. Kỹ thuật dệt may: 

Thời kỳ văn hóa Đông Sơn, đã có những nghiên cứu minh chứng những kỹ thuật cầu kỳ trong dệt may trang phục: sử dụng đan xen các loại sợi để tạo nên các chất liệu vải chất lượng tốt, kỹ thuật thêu, kỹ thuật dệt đăng-ten (tạo khoảng không).

– Trong ngôi mộ cổ Việt Khê ở Thủy Nguyên – Hải Phòng khai quật năm 1958, & khu ngôi mộ ở xã Châu Can, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Sơn Bình (Hà Tây cũ) khai quật năm 1974 đã thu thập được nhiều chất liệu vải khác nhau. Khu mộ ở Châu Can đã tìm được những mảnh vải của trang phục, nhiều đặc biệt là ngôi mộ số 3 & số 6. Đánh giá bước đầu: “Những mảnh vải sợi không được se lại mà để nguyên sợi tự nhiên, sợi dọc thưa hơn sợi ngang và cách đều khoảng 2mm sợi ngang bé hơn đượt dệt dày xít nhau đều đặn”. Có những mảnh vải có đường mép dọc & ngang, điều này chứng tỏ sợi vải được dệt vòng đi vòng lại. Theo quan niệm của kĩ sư phòng kĩ năng dệt thuộc nhà xưởng dệt kim Đông Xuân thì đây là chất liệu vải sợi đay hay gai, sợi dọc to & thưa hơn sợi ngang nhưng rất đều. Chiều ngang & chiều đọc vải đều có đường biên, khổ vải hẹp, có thể vải được dệt bằng bí quyết con thoi với khung cửi. Khi nói về thời đại kim khí, F. Ăng-ghen đánh giá: “Thành tựu thứ nhất là khung dệt vải, thành tựu thứ hai là việc nấu quặng và chế tác đồ kim loại”, vậy từ những mảnh vải, lụa & kĩ năng dệt ở khu mộ Châu Can đã chứng tỏ trình độ văn minh tiến triển ở thời Hùng Vương. [7]

– Theo TS Nguyễn Việt, năm 2000, trọng tâm tiền sử Đông Nam Á đã thu thập nghiên cứu cùng với người nước ngoài để giữ gìn thành công các miếng vải cổ trong mộ thuyền Châu Can. Những mảnh vải này thực sự đã cho ta thấy sắc nét kĩ năng dệt, cấu trúc trang trí, may cắt, các loại diềm tua & trang phục thời Đông Sơn. Qua nghiên cứu 118 miếng vải lớn nhỏ được chọn lọc ra từ 0,015m khối đất bùn vớt ra từ lòng mộ Châu Can. Những mảnh vải hiện diện rõ những phần khác nhau của trang phục. Trang phục ở mộ mà chủ nhân được chôn là một giới trẻ tuổi khoảng 18 đến 20, mặc áo có diềm khâu, diềm tua. Vạt áo trang trí dệt bằng hai loại sợi hỗn hợp: sợi lanh (cannabis) & lụa (silk). Những mảnh thắt lưng ở mộ Châu Can được dệt bằng vật liệu sợi vải gai (boehmira) có bề ngang rộng khoảng 6cm. Kĩ năng dệt vải thắt lưng đều được se theo kĩ năng xoắn nhưng hoàn toàn khác đối với kĩ năng se xoắn S thông dụng hiện tại. Những chứng cứ trước nhất của thuật thêu (embroidery) cũng từng tìm ra ở trang phục trong những ngôi mộ này. [7]

– Nghiên cứu hơn 1300 mảnh vải & lụa khác nhau có tuổi khoảng 2100 đến 2300 năm, bước đầu biết chúng thuộc loại sợi thân cây gai (boehmira) & lanh (cannabis). Trên một số mảnh vải gai có hiện tượng sợi dọc mất đứt đoạn tạo nên như vải dệt kiểu đăng-ten. Trong những thông báo trước nhất cho là do kĩ năng dệt tạo thành vải như thế, nhưng sau thời điểm những mảnh vải này qua kính thổi phồng cho thấy những vết lồi lõm, so le điều độ ở phần sợi đăng-ten là dấu ấn tồn tại của những sợi dọc trước đó. [7]

3. Màu sắc của vải & trang phục: 

a. Theo ebook khảo cổ, thì có 4 màu sắc chính trổ tài trên vải cổ thời Đông Sơn:

“Có thể nhận ra bốn màu sắc chính trên nền vải sợi thời Đông Sơn: Màu ngà tự nhiên của sợi vỏ cây cũng như tơ tằm (màu natural), màu xanh chàm, màu nâu gụ với những tông màu từ đậm đến tươi hồng, màu vàng nghệ óng của tơ tằm. Bốn màu trên về cơ bản vẫn được lưu truyền và ưa thích cho đến tận ngày nay trong trang phục lễ hội và hàng ngày của các dân tộc sinh sống trên đất Việt Nam.” [8]

b. Theo các ebook dân tộc học, thì các dân tộc ưa thích các màu sắc sau, đều là những màu sắc căn bản được nhuộm từ các loại lá cây tự nhiên:

Màu sắc trên trang phục của các dân tộc: căn bản đặc biệt là màu chàm từ đậm tới nhạt, được chủ yếu các dân tộc cùng nguồn gốc với người Việt ưa thích (nó cũng được trổ tài trên nền vải cổ Đông Sơn), sau này là các màu sắc: trắng, đen, đỏ, hồng, vàng, nâu, xanh, cam, tím.

Độc giả có thể tìm tòi kỹ hơn về màu sắc cũng như kỹ thuật nhuộm tại Phần IV, Mục II.5.

IV. Trang phục thời kỳ Hùng Vương với những chứng cứ trực tiếp: 

Bên cạnh những tư liệu gián tiếp minh chứng sự tồn tại trang phục thời kỳ Hùng Vương, thì trong ebook lịch sử, ebook khảo cổ, các hình hoạ trên trống đồng cũng từng trực tiếp trổ tài trang phục trong thời kỳ Hùng Vương.

1. Ebook lịch sử:

Trong sách Tam Quốc Chí, phần Ngô chí có ghi lại: Thế kỷ III SCN, Thái thú Tiết Tông trong tờ sớ xin chọn Thứ sử Giao Châu đã diễn đạt người Việt: “tóc búi, chân trần, áo chui đầu vạt trái”.”

Sách Tam Quốc chí đã ghi lại rõ ràng và cụ thể về phong tục tóc búi, chân trần, cùng với cụ thể trọng yếu đặc biệt là áo chui đầu vạt trái của người Việt, cũng tương đồng với các sử liệu về phong tục của người Việt trong các thời kỳ trước. Tới thời điểm đó người Việt vẫn căn bản giữ được phong tục & văn hóa của dân tộc mình. Áo vạt trái là đặc thù chung của tộc Việt, có phân bố rộng khắp trong địa phận có dân cư tộc Việt sinh sống, hình dáng áo này được chia thành hai loại hình, một là áo chui đầu vạt trái & áo váy quấn vạt trái. 

Trong sách Luận Ngữ có ghi lại cụ thể: “Quản Trọng theo giúp Tề Hoàn Công nên nghiệp bá, nhờ vậy mà thiên hạ từ loạn đổi sang trị. Nếu không có Quản Trọng thì chúng ta phải gióc tóc và vắt vạt áo bên trái như bọn man di. Lẽ nào vì tấm lòng trung quân nhỏ hẹp tầm thường mà đi treo cổ bên lạch suối sao?”. [Luận Ngữ, 14:17]

Man di là cách gọi có tính miệt thị được người Hoa Hạ sử dụng để chỉ người Việt, cụ thể này phân phối cho tất cả chúng ta thông tin trọng yếu về dạng áo vạt trái của người Việt từ thời Khổng Tử. 

Ebook trong Sử Ký của Tư Mã Thiên cũng ghi lại về cụ thể người Âu Việt tại vùng Chiết Giang có phong tục xâm mình, mặc áo quấn thân sang trái, như phong tục chung của tộc Việt:

“Người đàn ông cắt tóc xâm mình, mặc áo quấn thân áo sang trái, giống như dân Âu Việt vậy”.

(Tư Mã Thiên, Sử Ký, Triệu thế gia)

2. Ebook khảo cổ: 

Ebook khảo cổ cũng từng công nhận sự tồn tại của trang phục thời kỳ Hùng Vương, với dạng áo tương đồng với áo váy quấn vạt trái mà ebook lịch sử đã ghi lại:

Năm 2000, trọng tâm tiền sử Đông Nam Á đã cùng với các Chuyên Viên nước ngoài khai quật mộ thuyền Châu Can, chủ nhân của ngôi mộ là một giới trẻ tuổi khoảng 18 đến 20, trên người có trang phục, mặc áo có diềm khâu, diềm tua. Vạt áo trang trí dệt bằng hai loại sợi hỗn hợp: sợi lanh (cannabis) & lụa (silk). Những mảnh thắt lưng ở mộ Châu Can được dệt bằng vật liệu sợi vải gai (boehmira) có bề ngang rộng khoảng 6cm. [7]

3. Ebook cán dao găm & hình vẽ trên các trống đồng Đông Sơn:

Các tượng cán dao găm Đông Sơn, cũng như trên hình họa của trống đồng Đông Sơn cũng từng trực tiếp trổ tài trang phục thời kỳ Hùng Vương, với các dạng trang phục khác nhau so với cả nam & nữ giới. Đây là chứng cứ cam đoan một cách chắc nịch về trang phục thời kỳ Hùng Vương. 

Trang phục được trổ tài trên cán dao găm & hình họa trống đồng Đông Sơn. [Nguồn: 1. Lê Văn Hảo; 2. BST nhà hàng Trống Đồng; 3. Hoa Văn Việt Nam – Nguyễn Du Chi; 4. Trống đồng Động Xá, chụp lại trong phim Đi tìm trang phục Việt; 5. Những trống đồng Đông Sơn phát hiện ở Việt Nam – Nguyễn Văn Huyên]

Như thế ebook lịch sử, khảo cổ đều đã cùng minh chứng rằng người Việt trong thời kỳ Hùng Vương đã có trang phục, trang phục được may bằng nhiều chất liệu vải, với nhiều hình dáng khác nhau, giành cho cả nam & nữ giới. Cho nên hình ảnh cởi trần đóng khố là hoàn toàn không phù phù hợp với thực tiễn trang phục thời kỳ Hùng Vương. 

V. Tổng kết:

Những nền tảng gián tiếp & trực tiếp mà chúng tôi đã đề cập ở trên đã chứng tỏ người Việt đã có trang phục, trong đó một tiền đề trọng yếu là dệt vải, thì ngành dệt vải người Việt đã có quá trình tiến triển tối thiểu trong hơn 4000 năm, bắt đầu từ văn hóa Hà Mẫu Độ, kế thừa tại các văn hóa Lương Chử & Phùng Nguyên, tới thời Đông Sơn thì vải đã tiến triển về số lượng & phong phú về vật liệu. Dấu vết về những chiếc khuy áo & khóa thắt lưng cũng chứng tỏ cho sự tiến triển của trang phục thời kỳ các vua Hùng của người Việt.

Chứng cớ khảo cổ cũng từng minh chứng sự tồn tại của trang phục trong thời kỳ Hùng Vương, với nhiều hình dáng áo được trổ tài trên các đối tượng là nam & nữ. Cho nên vấn đề trang phục của người Việt đã rõ ràng và cụ thể: họ có trang phục, & trang phục được may bằng nhiều chất liệu vải, với nhiều màu sắc khác nhau, cũng như có một suy nghĩ rất tiến triển trong kiến trúc trang phục. 

Trong phần hai, chúng tôi sẽ tiến hành tìm kiếm & thăm dò trang phục đã từng tồn tại trong thời kỳ Hùng Vương.

PHẦN II
PHỤC DỰNG TRANG PHỤC THỜI KỲ HÙNG VƯƠNG

I. Nhận thức căn bản:

Những khảo cứu tuần tự của chúng tôi đã minh chứng rằng người Việt thời kỳ Hùng Vương đã có ngành dệt vải rất tiến triển, họ đã có trang phục, & những dấu vết trọng yếu: khuy áo, khóa thắt lưng chứng tỏ cho sự tiến triển trong suy nghĩ trang phục tới độ cầu kỳ, cầu kỳ & hiện đại, những tác phẩm phác thảo người Việt thời kỳ Hùng Vương về hình ảnh người Việt cởi trần đóng khố, không có trang phục vì vậy mà hoàn toàn vô lý & không chuẩn xác. Không những thế cũng từng có những chứng cứ trực tiếp minh chứng sự tồn tại của trang phục với ebook khảo cổ, cổ vật cũng như ebook lịch sử, cam đoan sự tồn tại của trang phục trong thời kỳ Hùng Vương. 

Dựa theo nền tảng đó, chúng tôi sẽ tiến hành khảo cứu toàn diện về trang phục thời kỳ Hùng Vương, với cổ vật Đông Sơn được sử dụng làm mấu chốt, sàng lọc & so sánh với cổ vật Điền Việt, đối chiếu với trang phục của các dân tộc có cùng nguồn gốc với người Việt trong vùng Đông Á & Đông Nam Á, cũng như so sánh với các vùng văn hóa có liên hệ với tộc Việt. Một công thức nghiên cứu cảnh giác & toàn diện sẽ giúp tất cả chúng ta tìm được trang phục thật sự của người Việt trong thời kỳ Hùng Vương.

II. Nền tảng tiến hành & công thức thực hiện:

1. Nền tảng tiến hành:

Nguồn gốc dân tộc Việt & nguồn gốc tộc Việt là vấn đề căn bản để xác nhận chuẩn xác công thức tiếp cận của chúng tôi trong khảo cứu trang phục thời kỳ Hùng Vương, khi chúng tôi xem qua, tìm kiếm & đối chiếu trên diện rất rộng các dân tộc thuộc các hệ ngữ Nam Á, Nam Đảo, Tai-Kadai, Hmong-Mien trong vùng Đông Á & Đông Nam Á. Nguồn gốc từ một cộng đồng chung là nền tảng căn bản để xác nhận tính link trong văn hóa & trang phục của các nhóm dân có nguồn gốc từ tộc Việt.

Xem Thêm  Chương 1: Người đàn ông trong mơ - người đàn ông trong mơ

a. Nguồn gốc tộc Việt:

Chúng tôi đã khảo cứu kỹ càng về nguồn gốc tộc Việt & nguồn gốc dân tộc viet nam trong bài: Khảo cứu về nguồn gốc dân tộc viet nam [dẫn]. Chúng tôi sẽ đề cập qua trong bài khảo cứu này để độc giả hình dung căn bản về nguồn gốc tộc Việt.

Tộc Việt có nguồn gốc dân cư cổ di cư từ vùng Đông Nam Á đi lên trong thời điểm hơn 12000 năm ngoái do nạn biển tiến, khiến vùng sinh sống của họ là vùng đồng bằng sông Hồng gắn liền với đảo Hải Nam chìm xuống biển.

Nghiên cứu của Chuan Chao Wang & đồng nghiệp năm 2013 [11] đã phát hiện một dòng di cư rất lớn từ Đông Nam Á vào thời điểm 12.000 năm ngoái lên vùng Động Đình, Dương Tử, dòng di cư này cũng từng đi lên cả vùng đồng bằng sông Hoàng Hà.

Dân cư cổ gốc Đông Nam Á đã sinh sống tại vùng Động Đình, Dương Tử & bắc Đông Á, tạo dựng nên các văn hóa Cao Miếu, Hà Mẫu Độ, Lăng Gia Than tại vùng Động Đình, Dương Tử, & các văn hóa Hồng Sơn, Đại Vấn Khẩu, Ngưỡng Thiều tại vùng bắc Đông Á, sau đó dân cư tiền Việt đã di cư về Động Đình, Dương Tử để tạo dựng tộc Việt với các văn hóa Lương Chử & Thạch Gia Hà. Tới thời điểm hơn 4000 năm ngoái, đã xảy ra nạn hạn hán [11], khiến dân cư tộc Việt phải di cư về phía Nam. [2][12][13]

b. Các cuộc di cư tạo dựng các dân tộc thuộc các hệ ngữ:

Các dân tộc mênh mông thuộc các hệ ngữ Nam Á, Tai-Kadai & Nam Đảo có một nguồn gốc chung từ cộng đồng tộc Việt. Họ bên cạnh nhau xây dựng nên văn minh tộc Việt tại vùng Động Đình, Dương Tử, trước khi những biến cố xảy ra khiến dân cư tộc Việt phải di cư về Đông Nam Á lục địa, Đài Loan & vùng Đa Đảo. Đây là nền tảng chính để chúng tôi tiến hành phục dựng trang phục thời kỳ Hùng Vương.

Các nghiên cứu di truyền học được thông báo trong thời gian gần đây đã trổ tài dòng di cư của dân cư tộc Việt về vùng Đông Nam Á lục địa & hải đảo trong khoảng thời gian hơn 4000 năm ngoái.

Nghiên cứu của Viện nghiên cứu hệ gen viet nam, Viện Nhân chủng & tiến hóa Max Planck Đức, Phòng thử nghiệm động lực học từ ngữ của Đại học Lion Pháp năm 2019 đã trổ tài người Việt có nguồn gốc chính yếu là những người di cư từ Nam Đông Á về viet nam cách đây từ 2.500 – 4.000 năm ngoái [2].

Nghiên cứu gen của Hugh McColl & các đồng nghiệp năm 2018 [13] (hình 9) cũng có quan niệm tương đồng với nghiên cứu của Viện hệ gen viet nam cộng tác với các Chuyên Viên Pháp, Đức. Cả hai nghiên cứu di truyền trên đều dựa theo các bộ gen cổ & các bộ gen hiện đại.

Mô hình di cư ở Đông Nam Á thời tiền sử được xây dựng nên gồm 2 lớp từ châu Phi tới  Đông Nam Á vào khoảng 30.000-60.000 năm ngoái & từ Đông Á di cư ngược về cách đây 2.500 – 4.000 năm.

2-768x943

Nghiên cứu về nhân chủng học dựa theo hình thái xương sọ năm 2019 [14] (hình 11) cũng cho thấy nhân chủng học người Việt hiện đại tạo dựng do dòng di cư từ 4.000 năm ngoái từ sông Dương Tử.

3-768x576

Các dân cư thuộc hệ ngữ Nam Á di cư về viet nam & Đông Nam Á lục địa, với nhóm chính đã trở về viet nam. Bản đồ phân bố hệ ngữ Nam Á trổ tài phân bố của dân cư trong cuộc di cư này.

austroasiatic

Người Nam Đảo đã di cư từ vùng Động Đình, Dương Tử sang Đài Loan, sau đó mới xuống vùng Đa Đảo.

Migraciones_austronesias

Dân cư thuộc hệ ngữ Tai-Kadai tạo dựng tại vùng miền Bắc viet nam hoặc Quảng Tây sau thời điểm đất Việt chìm vào vòng phụ thuộc, sau đó một phần đã di cư xuống vùng Đông Nam Á lục địa, một phần ở lại Nam Trung Quốc & miền Bắc viet nam.

TaiFamilyTree_Overlaid_On_Map

Dân cư thuộc hệ ngữ Hmong-Mien cũng có nguồn gen tương đồng với dân cư tộc Việt (Việt (Kinh), Dai).

cc6a1-ce1baa5u-di-truye1bb81n-ngc6b0e1bb9di-vie1bb87t

Đây chính là nền tảng để học giả Andréas Lommel trong tác phẩm “Tiền sử” nhận định như sau: “Tất cả miền đất mênh mông từ Thái Bình Dương trở lên đến Hoa Nam Trung Quốc đều có cùng một nền văn hóa. Đảo Bornéo ở Nam Dương (Indonesia) cũng có cùng nghệ thuật như miền sông Hoài thuộc Giang Tô miền Nam nước Ngô thời Xuân Thu Chiến Quốc. Đặc tính văn hóa gắn liền với môi trường sinh sống của thực vật và động vật từ trầu cau, cây dâu đến heo, gà, công. Các phong tục tập quán từ nhuộm răng ăn trầu, xâm mình, cà răng đến lễ hội mừng nước, đua thuyền, vai trò quan trọng của trống đồng và cồng chiêng trong các lễ hội dân gian.”.

Nguồn gốc tộc Việt & các dân tộc thuộc các hệ ngữ Nam Á, Nam Đảo, Tai-Kadai cũng như sự tương đồng với hệ ngữ Hmong-Mien là nền tảng chính để tất cả chúng ta có thể qua đó tìm tòi trang phục của người Việt trong thời kỳ Hùng Vương qua các dân tộc có một địa phận sinh sống rộng khắp trong vùng Đông Á.

c. Sự tương đồng trong nguồn gen của các nhóm dân có nguồn gốc từ cộng đồng tộc Việt công đoạn muộn:

Các dân tộc nhóm Nam Á & Nam Đảo tách ra khỏi tộc Việt kể từ thời điểm hơn 4000 năm ngoái, nhưng vẫn có sự giao lưu, qua lại rất thường xuyên, với biểu trưng chính là những chiếc trống đồng & đồ đồng. Sau thời điểm 4000 năm, dân cư tộc Việt vẫn tiếp tục tiến triển trong vùng nam Đông Á & miền Bắc viet nam, sau đó được ghi lại như cộng đồng Bách Việt trong sách sử Trung Hoa. Các dân tộc có nguồn gốc từ cộng đồng tộc Việt sau thời điểm đó là các dân tộc: Việt, Mường, Thái, Tày, Nùng, Choang… thuộc hai hệ ngữ Nam Á & Tai-Kadai. Sự giao lưu & hòa huyết nội tộc khiến nguồn gen tộc Việt đan xen đều hơn, nên gen người Việt trong công đoạn này có phần khác với người Nam Á & Nam Đảo di cư xuống trong hơn 4000 năm ngoái, nhất là người Nam Đảo, họ đã hòa huyết với số đám đông Australoid da đen, tuy văn hóa vẫn là tộc Việt nhưng nguồn gen đã biến đổi hơi nhiều.

Công trình nghiên cứu mới đây của Viện nghiên cứu hệ gen viet nam, Viện Nhân chủng & tiến hóa Max Planck (Đức), Phòng thử nghiệm động lực học từ ngữ của Đại học Lion (Pháp) năm 2019, đã cho thấy dân cư gốc tộc Việt như Kinh Việt, Tày, Nùng, Choang, Mường, Thái, Hán Hoa Nam… có hệ gen gần nhau & độc đáo đối với Hán Hoa Bắc. [2]

Sự tương đồng gen của các dân tộc thuộc hai hệ ngữ Nam Á & Tai-Kadai cho tất cả chúng ta thấy nguồn gốc chung của các dân tộc trong công đoạn gần nhất trước khi tộc Việt tan rã, đây là các dân tộc gần nhất để tất cả chúng ta có thể tìm tòi về trang phục thời kỳ Hùng Vương của dân tộc mình.

d. Văn hóa Điền Việt & vấn đề nghiên cứu, tiếp cận trong xem qua cổ vật Điền Việt:

Văn hóa Điền Việt cũng thuộc tộc Việt, có cổ vật hoàn toàn tương đồng với đồ đồng Đông Sơn & các vùng tộc Việt khác, điều đó đã được chúng tôi minh chứng thông qua bài khảo cứu về cổ vật các vùng tộc Việt [dẫn], & các nghiên cứu khảo cổ công nhận tính hợp nhất của nó với văn hóa Đông Sơn:

Học giả Mỹ Chiou Peng (2008 a: 34) về Điền Việt & Đông Sơn: “Những tư liệu tích lũy hơn nửa thế kỷ qua khẳng định những hiện vật tương đồng từ vùng Đông Sơn và Vân Nam thuộc về hai nền văn hóa anh em trong một vùng văn hóa của người Việt ở bán đảo Đông Dương và Tây Nam Trung Quốc”. Nhà khảo cổ học viet nam Chử Văn Tần (1980/2003) đã xác nhận một loạt các yếu tố tương đồng Điền – Đông Sơn, ngoài trống đồng còn tồn tại lưỡi cày hay cuốc hình tim, lưỡi liềm, dao gặt, bàn chải bầu dục, dao găm, kiếm ngắn, rìu lưỡi cân họa tiết hình vảy cá, muôi hình quả bầu, tên đồng mặt cắt tam giác .v.v. [16]

Các cổ vật đặc thù tộc Việt tại vùng Vân Nam của văn hóa Điền Việt. [Nguồn: Bảo tàng tỉnh Vân Nam, Bảo tàng thành phố Yuxi (Ngọc Khê), Vân Nam, BST Kiều Quang Chẩn]

Văn hóa Điền Việt theo trường phái văn nghệ tả thực, nên trang phục được trổ tài trên cổ vật của họ khá rõ, đây là nền tảng để tất cả chúng ta đối chiếu, tìm kiếm & so sánh để tìm thấy những dạng trang phục trong thời kỳ Hùng Vương. Bên cạnh đó cũng phải làm rõ một vài vấn đề về văn hóa Điền Việt, do sự phong phú trong cục diện văn hóa & lịch sử Điền thời kỳ đó, nên cần tách bạch để tất cả chúng ta nhận diện được mấu chốt văn hóa tộc Việt trong văn hóa của họ. Văn hóa của họ có văn hóa tộc Việt làm mấu chốt, dân cư chủ yếu cũng là dân cư tộc Việt, ngoài ra trên phương diện trang phục, kiểu tóc, thì có sự phong phú khẳng định.

Wang Ningsheng (1979, 1989) dựa theo nền tảng sự độc đáo trong trang phục, kiểu tóc đã chia các nhân vật trên các tượng đồng & đồ đồng văn hóa Điền Việt thành hai nhóm chính, trong đó tầng lớp cao nhất & chiếm số đông là quý tộc Điền, là dân cư tộc Việt, có đặc thù trang phục: cả nam & nữ đều mặc áo chẽn thường xuyên có họa tiết dọc sọc, đi chân trần, & đeo khuyên tai lớn. Cánh mày râu thỉnh thoảng mặc một chiếc áo choàng với cổ áo đặc biệt bên ngoài áo chẽn của họ. Đầu của họ búi tóc hoặc búi tóc với một chiếc mấn. Đây là những đặc thù trọng yếu của tộc Việt, trong đó trang phục có thể phong phú hơn đối với nhận xét của Wang Ningsheng. [17] 

Kiểu đặc thù trang phục của quý tộc Điền Việt, thuộc nhóm đầu tiên, dân cư tộc Việt tại vùng này. [17] 

Bên cạnh dạng trang phục này, thì quý tộc Điền Việt còn được trổ tài trong trang phục áo váy quấn, dạng áo váy quấn của họ quấn vạt phải, có phần khác với phong tục chung của tộc Việt.

Dạng áo váy quấn được mô phỏng cụ thể hơn trên hình vẽ trên các pho tượng Điền Việt. [1,2]

Nhóm thứ hai là tầng lớp bao gồm những người đã chiến tranh chống lại người Điền & những người đã bị họ chinh phục. Phụ nữ thuộc nhóm 2 có dấu hiệu là để tóc hai bên, bím tóc dài xuống lưng với hai lọn tóc buông xõa khuôn mặt. Váy của họ dài, rộng & nặng; họ đeo những chiếc vòng (hình dưới). Cánh mày râu để tóc dài thắt bím hoặc trong hai tết lỏng lẻo. Chiếc áo dài không tay vừa khít của họ dài đến bắp chân. [17] 

Hình 1: Trang phục đặc thù của nhóm thứ hai, thuộc tầng lớp những người chiến tranh chống lại người Điền hoặc bị họ chinh phục. Hình 2: những người cánh mày râu trong nhóm đó là tù nhân hoặc là nạn nhân của đại chiến.

Không những thế có những tượng với trang phục được trổ tài rất phong phú, trổ tài có thể họ thuộc các dân tộc khác nhau tới cống nạp & trổ tài lòng trung thành với vua Điền.

qừcbCác dân tộc khác nhau đến cống nạp, trổ tài lòng trung thành với vua Điền. [17]

Qua những nền tảng xác nhận cục diện trang phục & văn hóa này, chúng tôi sẽ sử dụng những đặc điểm giống nhau của văn hóa tộc Việt trong văn hóa Điền Việt đã được ngoại trừ các yếu tố tác động hoặc đến từ bên ngoài để đối chiếu, so sánh với sử liệu, khảo cứu, cổ vật Đông Sơn để tìm được các dạng trang phục gần chuẩn xác nhất.

e. Kết luận:

Các nền tảng mà chúng tôi đã dẫn ra rõ ràng và cụ thể ở trên, đã trổ tài mối quan hệ trực tiếp giữa người Việt tại miền Bắc viet nam từ thời văn hóa Phùng Nguyên với các văn hóa Lương Chử, Thạch Gia Hà, có thể cam đoan người Việt tại viet nam là hậu duệ của các dân cư từ vùng Động Đình, Dương Tử (vốn có nguồn gốc từ viet nam & Đông Nam Á di cư lên), đây là nền tảng để xem qua cổ vật & trang phục của các văn hóa này trong phạm vi giới hạn, do thời gian đã cách nhau khá xa, nên chúng tôi sẽ lựa chọn những cổ vật không có nhiều khả năng biến đổi nhất để phối hợp phục dựng với trang phục thời Đông Sơn, trang phục thời kỳ Lương Chử cũng chỉ được sử dụng để đối chiếu & so sánh với thư tịch lịch sử. 

Dân cư của các văn hóa Lương Chử, Thạch Gia Hà, vào thời điểm hơn 4000 năm ngoái đã di cư về Lĩnh Nam, viet nam & Đông Nam Á, thời điểm đó chủ yếu là dân cư của hai hệ ngữ lớn: Nam Á như các dân tộc Tây Nguyên, Khmer, Khơ Mú… & các dân tộc tại vùng Nam Đảo, các dân tộc này đã tách ra tộc Việt từ thời điểm đó, cũng như có sự giao thoa, hòa huyết với người Ấn Độ & người Australoid da đen, nên việc xem qua trang phục của họ cũng nên đối chiếu & so sánh thận trọng, do đã có sự biến đổi khẳng định trong phong thái trang phục.

Sau thời điểm 4000 năm, thì các dân cư tộc Việt vẫn tiếp tục tiến triển trong một cộng đồng chung tại vùng Nam Dương Tử tới miền Bắc viet nam, cho tới khi tộc Việt tan rã do bước chân xâm lược của người Hoa Hạ vào thời Sở-Tần-Hán, đã tạo ra các dân tộc thuộc hai hệ ngữ Nam Á như Việt, Mường, & Tai-Kadai như Thái, Tày, Nùng, Choang, Dai… Không những thế là các dân tộc thuộc hệ ngữ Hmong-Mien như Hmong, Dao. Đây là các dân tộc gần nhất với tộc Việt, nên có thể làm nền tảng gần hơn để đối chiếu với cổ vật & sử liệu về trang phục thời kỳ Hùng Vương. 

2. Công thức thực hiện:

Dựa theo nền tảng nghiên cứu di truyền, khảo cổ & từ ngữ về nguồn gốc chung của các dân cư tộc Việt, cùng với thăm dò về văn hóa tộc Việt trong văn hóa Điền Việt ở trên, chúng tôi sẽ tiến hành nghiên cứu toàn diện để tìm tòi về trang phục thời kỳ Hùng Vương theo hướng đi như sau: lấy cổ vật Đông Sơn, thư tịch lịch sử, khảo cứu của các nhà nghiên cứu văn hóa làm nền móng, rồi tới tìm kiếm, so sánh các cổ vật văn hóa Điền Việt, kế đến này là đối chiếu, so sánh với các dân tộc có nguồn gốc từ cộng đồng tộc Việt ở vùng nam Đông Á & miền Bắc viet nam theo các thứ tự ưu tiên mà chúng tôi đã đề cập tới ở phần trên, sử dụng một phần cổ vật về trang phục tại các văn hóa Lương Chử, Thạch Gia Hà, sau đó mới tìm kiếm các dạng trang phục tương đồng với thư tịch lịch sử ở những nơi có liên hệ với tộc Việt. 

Các vùng có liên hệ với tộc Việt bao gồm vùng châu Mỹ & Bhutan, chúng tôi sẽ xem qua các dân tộc này trên nền tảng đối chiếu với thư tịch lịch sử để tìm dạng trang phục gần nhất. Việc đối chiếu này vô nghĩa cam đoan các dạng trang phục này là của người Việt, chỉ có thể nói này là các dạng trang phục tương đồng với trang phục của tộc Việt, tất cả chúng ta dựa trên đó để tìm kiểu dáng gần nhất với trang phục thời kỳ Hùng Vương.

Từ hướng đi này, chúng tôi sẽ tiến hành tìm lại trang phục thời kỳ Hùng Vương của dân tộc Việt.

III. Tiến hành phục dựng:

A. Khảo sát về các dạng trang phục & một vài vấn đề về trang phục thời Hùng Vương: 

1. Khảo sát về các dạng trang phục thời Hùng Vương:

Trang phục thời kỳ văn hóa Đông Sơn có thể bao gồm cả dạng áo váy, & dạng áo – quần, trong đó dạng áo váy chiếm thế chủ chốt trong trang phục của người Việt, giành cho cả nam & nữ, theo như thư tịch lịch sử đã ghi lại:

“Người Việt vùng Lĩnh Nam, đặc biệt là Tây Lạc Việt, thường ngày vẫn mặc áo và váy (theo Hậu Hán Thư, Đông Di Truyện) (áo váy quấn và váy chui đầu), cũng giống như câu ca dao Việt Nam: “Cái thúng mà thủng hai đầu, bên ta thì có bên Tàu thì không”.” [6]

Chúng tôi cũng nhận ra có nền tảng để cho là thời kỳ văn hóa Đông Sơn đã có thể có cả dạng trang phục quần. [Xem thêm ở phần Θ Khảo về trang phục quần ở cuối bài khảo cứu]

Dựa theo nền tảng đó, chúng tôi sẽ đi tìm các dạng trang phục tồn tại trong đời sống người Việt, cả hai dạng áo váy & áo quần.

◊ Áo váy quấn vạt áo sang trái (tả nhậm)

Trong sách Luận Ngữ có ghi lại cụ thể: “Quản Trọng theo giúp Tề Hoàn Công nên nghiệp bá, nhờ vậy mà thiên hạ từ loạn đổi sang trị. Nếu không có Quản Trọng thì chúng ta phải gióc tóc và vắt vạt áo bên trái như bọn man di. Lẽ nào vì tấm lòng trung quân nhỏ hẹp tầm thường mà đi treo cổ bên lạch suối sao?”. [Luận Ngữ, 14:17]

buitocsaugay22-1-1Áo vạt trái trên trống đồng Động Xá. [Nguồn: Phim Đi tìm trang phục Việt]

◊ Áo hai tà:

Áo hai tà là một trong những đặc thù trọng yếu của tộc Việt, nó được trổ tài trên trang phục trên trống đồng, cũng như trên các cán dao găm bằng đồng. Dạng trang phục này có nhiều hình dáng, được sử dụng cho nhiều đối tượng.

◊ Dạng áo chui đầu vạt trái:

Trên trống đồng Đông Sơn cũng như trong thư tịch lịch sử cũng trổ tài dạng áo váy chui đầu vạt trái cho cả nam & nữ giới.

vab (1)

[Nguồn: Những trống đồng Đông Sơn phát hiện ở Việt Nam – Nguyễn Văn Huyên]

◊ Áo chui đầu kiểu Poncho:

“Cổ sử Trung Hoa như Bác Vật Chí, Dị Vật Chí và Tam Tài Đồ Hội (三才图会, đời Minh), từng nhắc đến khái niệm “dân khoan ngực (穿胸民)”, theo khảo cứu của Eberhard W. [1968: 360-361], đó chính là hình ảnh chiếc áo choàng đầu kiểu poncho đặc thù của người Việt cổ vùng Dương Tử. Theo Author, dân cư Bắc Bộ viet nam thời Đường cũng khá chuộng loại áo này.” [6]

◊ Đầm xòe xếp ly: 

Trên thạp Hợp Minh có trổ tài một dạng váy có thể là dạng đầm xòe xếp ly.

Untiatled[Nguồn: Hoa Văn Việt Nam – Nguyễn Du Chi]

◊ Áo lông chim: 

Theo khảo cứu của Author Nguyễn Ngọc Thơ, tất cả chúng ta cần chú tâm đến một loại trang phục rất trọng yếu để biểu trưng cho quyền lực của người Việt, áo lông chim, áo này đi cùng với văn hoá tôn thờ & xem trọng loài chim của người Việt xưa. Loại áo này có thể được dùng cho cả các vị vua Hùng & quý tộc.

“Ngoài các sản phẩm đồ dệt nói trên, áo lông chim cũng là một sản vật đặc trưng Bách Việt. Các cuốn Lĩnh Biểu Kỷ Man, Xích Nhã, Việt Tây Tùng Tải và Lĩnh Ngoại Đại Đáp có dẫn các thủ lĩnh (hoặc vua) các bộ tộc Âu Việt, Lạc Việt và Lâm Ấp thường mặc áo lông thiên nga (hoặc lông chim). Người Hán gọi kiểu áo đó là “điểu y” (鸟衣), gọi cộng đồng mặc áo lông chim là Điểu Di (鸟夷). Áo lông chim nối liền với tục thờ chim của dân cư bản địa. Hình ảnh “vũ nhân”, “điểu nhân” trên mặt trống đồng hay các sản phẩm có chạm khắc họa tiết Đông Sơn – Điền Việt phản ánh đầy đủ nhận định này.” [6]

◊ Áo lông ngỗng:

Theo khảo cứu của Author Nguyễn Ngọc Thơ & Bùi Thiết, thì các dân cư Việt Lĩnh Nam đã sử dụng lông ngỗng làm vật liệu may mặc, có thể là áo khoác lông ngỗng như truyện Mỵ Châu – Trọng Thủy đã ghi lại.

“Ngoài chất liệu thực vật, cư dân trong vùng còn sử dụng lông ngỗng làm chất liệu may mặc. Cuốn Lĩnh Nam Di Vật có chép rằng các tù trưởng các đạo phương Nam thường lấy lông ngỗng dệt làm áo ấm [Bùi Thiết 1999: 191-192]” [6]

◊ Áo khoác vải:

Dạng áo khoác vải có dây buộc là một dạng áo phổ thông, được sử dụng trong nhiều nền văn hóa, cũng có thể được sử dụng trong đời sống của người Việt xưa, giành cho cả nam & nữ.

2. Trang phục thời Hùng Vương trong thời Bắc thuộc: 

Truyền thống trang phục của người Việt có từ thời Hùng Vương được duy trì tới thời điểm nào? Chúng tôi tìm ra một dấu vết lịch sử trọng yếu được ghi lại, chứng tỏ cho sự tồn tại lâu bền của phong tục trang phục Việt trong thời Hán thuộc:

Trong sách Tam Quốc Chí, phần Ngô chí có ghi lại: Thế kỷ III SCN, Thái thú Tiết Tông trong tờ sớ xin chọn Thứ sử Giao Châu đã diễn đạt người Việt: “tóc búi, chân trần, áo chui đầu vạt trái”.” 

Phong tục mặc áo quấn thân sang trái của người Việt còn được duy trì tới tối thiểu tới TK III SCN. Điều này cũng có nghĩa trang phục người Việt tới lúc đó vẫn căn bản giữ nguyên truyền thống từ trước thời Hán thuộc của mình.

Cho nên tất cả chúng ta khi phục dựng trang phục thời hai Bà Trưng, cho tới thời Bà Triệu, hay sau đó, cũng có thể sử dụng trang phục thời Hùng Vương để phục dựng lại.

3. Khố & trang phục thời kỳ Hùng Vương:

Trang phục dạng khố là một dạng trang phục tồn tại trong hệ thống trang phục của người Việt thời kỳ Hùng Vương, có quan niệm đề cập đến định nghĩa “văn minh” & “không văn minh” so với dạng trang phục khố để xác nhận vai trò của nó trong đời sống của người Việt. Vậy khố chuẩn xác được sử dụng trong các hoạt động nào trong đời sống của người Việt?

Các tư liệu của văn hóa Điền Việt, qua sự thăm dò căn bản của chúng tôi ở phần trên sẽ là nền tảng để tất cả chúng ta xác nhận chuẩn xác được khố đóng vai trò như vậy nào trong đời sống của người Việt. Trong các pho tượng của văn hóa Điền Việt, qua sự thăm dò rất rộng cổ vật của họ, chúng tôi hầu hết không tìm ra dấu tích của sự tồn tại trang phục dạng khố trong các hoạt động của họ, bao gồm cả tâm linh, di chuyển & đời sống thường nhật.

Kiểu đặc thù trang phục của quý tộc Điền Việt, qua sự khảo cứu của chúng tôi ở phần trên thì là tầng lớp cao nhất của vùng này, là dân cư tộc Việt. [17] 

Trang phục chính & thường ngày của người Điền Việt là dạng áo váy liền, cùng với này là áo choàng vải hoặc lông vũ, dạng trang phục này cũng gần tương đồng với trang phục của người Việt. Hầu hết không tìm ra dạng trang phục khố trong đời sống của người Điền Việt.

Không những thế còn một vấn đề nữa, này là trang phục của các hình họa trên trống đồng, có nhiều người cho là trang phục trên trống đồng là chiếc khố. Vậy chuẩn xác những hình ảnh trên trống đồng là dạng trang phục như vậy nào?

ávfwq
Hình họa được trổ tài trên trống đồng Đông Sơn. [Nguồn: Nguyễn Văn Huyên, Những trống đồng Đông Sơn phát hiện ở Việt Nam]

Trước hết tất cả chúng ta cần xác nhận chuẩn xác vai trò của những hình họa trên trống đồng: đây là những hình ảnh trổ tài hoạt động tâm linh, do trống đồng là vật thờ trời, nên các hình họa đều được trổ tài với mục đích tế trời, cũng như thờ cúng Tổ Tiên, thờ núi sông. Đây là nền tảng trước nhất để tất cả chúng ta nhìn nhận chuẩn xác về trang phục trong lễ tế, nó yêu cầu sự trang trọng & kín đáo trong trang phục, cũng giống như tất cả chúng ta ngày nay không được phép ăn mặc hở hang tới các vị trí tâm linh. Hoạt động tâm linh của người Việt có vai trò rất trọng yếu, có thể nói chiếm vai trò chủ chốt trong đời sống của dân cư tộc Việt, do vậy các hoạt động này phải có sự đàng hoàng trong trang phục. Suy nghĩ trang phục của người Việt cũng từng rất tiến triển, các dạng trang phục đều trổ tài tính triết lý khẳng định, nhất là dạng trang phục đi cùng hai tà, nên việc cho là người Việt sử dụng chiếc khố trong lễ tế là chưa hợp lý về mặt logic. Hoạt động tâm linh của người Điền Việt cũng từng trổ tài dạng trang phục rất kín đáo. 

4_180212173758_1 (1)

Xem xét kỹ hình họa trống đồng, tất cả chúng ta sẽ thấy được hai tà rất dài & rộng, cũng như gắn liền với thân & tách từ phần thân dưới, nên nó khó có khả năng là một chiếc khố, phần chân cũng hoàn toàn có khả năng là một chiếc quần, chứ không phải chân trần. Dạng trang phục này khá tương đồng với trang phục sử dụng trong điệu Hoàng Vũ của người Miêu trên đảo Hải Nam, cũng sử dụng áo hai tà & quần.

65b4dbf68e89f4ac96839d2c8179d7a3Điệu Hoàng Vũ của người Miêu trên đảo Hải Nam. 

Như thế trang phục khố chỉ có thể đóng vai trò trong hoạt động lao động, thể thao hoặc sử dụng như một dạng đồ lót mặc trong trang phục. Trang phục khố không có nhiều khả năng được sử dụng trong hoạt động tâm linh được miêu tả trên các hình họa trống đồng, cũng như không đóng vai trò chính trong hệ thống trang phục của người Việt. 

B. Tiến hành phục dựng trang phục: 

1. Trang phục của vua Hùng, thủ lĩnh & quý tộc thời Hùng Vương:

1.1. Trang phục căn bản của các tầng lớp quý tộc thời Hùng Vương:

Đối tượng xem qua chính:

– Những pho tượng trên cán dao găm đồng Đông Sơn:

Các pho tượng trên các cán dao găm là nữ giới được trổ tài trang phục rất rõ ràng và cụ thể, vì thế đây sẽ là nền tảng chính để chúng tôi tìm lại trang phục của quý tộc nữ:

[Nguồn: 1. Lê Văn Hảo; 2. BST Phạm Lan Hương, chụp bởi Nguyễn Việt; 3. BST Bảo tàng Barbier-Mueller; 4. BST nhà hàng Trống Đồng]

– Trang phục của quý tộc của văn hóa Lương Chử: 

Trang phục thời văn hoá Lương Chử, được các nhà nghiên cứu Trung Quốc phỏng dựng từ một ngôi mộ vị quý tộc của thời kỳ văn hoá này, là nguồn xem qua đáng giá cho tất cả chúng ta để tìm lại trang phục nam thời văn hoá Đông Sơn, với dạng váy quấn, đầu đội mũ lông chim, cổ đeo vòng nhiều lớp, tay đeo vòng. Đây là những dấu hiệu trang phục căn bản được bảo lưu về thời kỳ văn hoá sau như từ Phùng Nguyên tới Đông Sơn.

Hypothetical-reconstruction-of-a-Liangzhu-leader-based-on-jade-paraphernalia-within[Nguồn: dẫn]

Trang phục của các vua Hùng, thủ lĩnh & quý tộc cả nam & nữ thời Hùng Vương đều cùng một dạng căn bản như vậy này, từ cấu tạo trang phục này, các họa tiết, cụ thể trang trí, vật liệu sẽ được sử dụng để phân định địa vị của người mặc chúng.

a. Bộ trang phục của quý tộc nữ: 

◊ Cấu tạo trang phục căn bản: 

download folder (144)2

Trang phục căn bản của quý tộc nữ thời kỳ đó là áo cùng với váy quấn, áo có thể là dài tay hoặc cộc tay, váy được quấn quanh thân mình. Nhiều dân tộc Đông Á & Đông Nam Á còn trổ tài một dạng áo váy cũng giống như vậy.

Dạng áo váy của người Việt có thể có màu sắc cùng với họa tiết áo & chân váy đồng nhất với nhau, chứ không khác màu & đơn điệu như các dân tộc Mường, Thái. Cổ áo cũng có thể xẻ nhẹ cũng giống như pho tượng gỗ Điền Việt thứ hai.

– Sử dụng cạp váy quấn quanh bụng như các dân tộc Mường, Thái. Trước váy được trang trí với một đoạn vải rời (xế) như trang phục của người Hmong.

Kiểu cạp váy quấn quanh bụng của người Mường & người Thái. 

20190218_110302

Dạng trang phục này rất tương đồng với các dạng trang phục của người Lê, người Bana, cũng như người Bhutan. Màu sắc & họa tiết trên áo & váy là hợp nhất với nhau cũng giống như trang phục của người Lê. Cách quấn váy tất cả chúng ta có thể xem qua cách quấn Kira của người Bhutan ở hình ảnh cuối cùng. Trang phục của người Việt khác với các dân tộc là có đoạn vải rời (xế), cũng như có cạp váy quấn quanh bụng.

Dạng áo cùng váy quấn của người Lê, người Bana, người Bhutan. 

◊ Phỏng dựng:

Trang phục quý tộc nữ thời Hùng Vương được phỏng dựng bởi họa sĩ Đỗ Thái Thanh (trang Anh Hùng 4000) với dạng mũ giành cho quý tộc, khuyên tai ngọc hai tự thú, áo choàng lông vũ, áo cùng váy quấn thân sang trái được sử dụng cùng cạp váy & chiếc xế, ngoài ra là các phụ kiện như vòng cổ, vòng tay, kiếm dài. 

118791297_170963734628468_1698457718592137448_o (1)

Họa sĩ Phan Thanh Nam đã phác thảo hình mẫu hai bà Trưng dựa theo trang phục quý tộc nữ thời kỳ Đông Sơn. Họa tiết được họa sĩ thực hiện khá tốt, như những gì chúng tôi đã tìm lại trong bài khảo cứu này.

118308466_2787457038152532_6948202856420735480_o (2)

Họa sĩ lilsuki cũng từng phỏng dựng trang phục dựa theo hình mẫu được khắc họa trên các cán dao găm bằng đồng Đông Sơn:

trang-phuc-2-12-1 (3)

◊ Bộ phụ kiện: 

– Đầu búi tóc hoặc đội khăn tròn đội đầu.

– Tai đeo khuyên tròn bằng ngọc hoặc đá mã não. [Xem thêm Phần III, mục I.9. Các dạng khuyên tai cho quý tộc và thường dân]

– Cổ đeo những chiếc vòng mã não, ngọc… cũng giống như trong các nền văn hoá cổ xa xưa, căn cơ của Đông Sơn như Lương Chử, Thạch Gia Hà. Vòng được kiến trúc thành nhiều lớp dài ngắn tiếp nối nhau (có thể là 3 lớp), cũng giống như cách đeo trang sức của thời văn hóa Lương Chử. [Xem thêm phần III mục I.8. Các loại vòng cổ dành cho nam và nữ giới quý tộc]

So sánh trang phục thủ lĩnh nam Lương Chử với tượng nữ thời Đông Sơn (dạng vòng cổ nhiều lớp này có thể được sử dụng cho cả nam & nữ)

b. Bộ trang phục của quý tộc nam: 

◊ Cấu tạo trang phục căn bản: 

Dạng trang phục của quý tộc nam thời kỳ Hùng Vương, là dạng áo váy quấn, thân áo được quấn sang trái (tả nhậm), như miêu tả lại của sách Luận Ngữ. 

Trong sách Luận Ngữ có ghi lại cụ thể: “Quản Trọng theo giúp Tề Hoàn Công nên nghiệp bá, nhờ vậy mà thiên hạ từ loạn đổi sang trị. Nếu không có Quản Trọng thì chúng ta phải gióc tóc và vắt vạt áo bên trái như bọn man di. Lẽ nào vì tấm lòng trung quân nhỏ hẹp tầm thường mà đi treo cổ bên lạch suối sao?”. [Luận Ngữ, 14:17]

Man di là cách gọi có tính miệt thị được người Hoa Hạ sử dụng để chỉ người Việt, cụ thể này phân phối cho tất cả chúng ta thông tin trọng yếu về dạng áo vạt trái của người Việt từ thời Khổng Tử. 

Ebook khảo cổ về văn hóa Đông Sơn cũng ghi lại một dạng áo với vạt áo được trang trí, cùng mảnh thắt lưng, chứng tỏ đây là một dạng áo váy quấn, có cấu tạo tương đồng với dạng áo được miêu tả trong sách Luận Ngữ. 

“Trong mộ thuyền Châu Can được khai quật, những mảnh vải hiện diện rõ những phần khác nhau của trang phục. Trang phục ở mộ mà chủ nhân được chôn là một thanh niên tuổi khoảng 18 đến 20, mặc áo có diềm khâu, diềm tua. Vạt áo trang trí dệt bằng hai loại sợi hỗn hợp: sợi lanh (cannabis) và lụa (silk). Những mảnh thắt lưng ở mộ Châu Can được dệt bằng chất liệu sợi vải gai (boehmira) có bề ngang rộng khoảng 6cm.” [7]

Dạng áo váy quấn này cũng được trổ tài khá rõ trên hình họa trống đồng Động Xá, với áo được sử dụng cùng với thắt lưng để cố định thân áo. 

buitocsaugay22-1-1Hình vẽ trang phục dạng áo váy quấn trên trống đồng Động Xá. 

Dạng áo này được trổ tài rõ ràng và cụ thể trong tranh phục dựng trang phục thủ lĩnh nam thời Lương Chử, loại trang phục này tồn tại rất lâu về sau này ở các dân tộc khắp vùng Đông Á. Với người Việt, thì họa tiết, màu sắc cũng như vật liệu có thể là quy chuẩn cho vị trí của người mặc.

Hypothetical-reconstruction-of-a-Liangzhu-leader-based-on-jade-paraphernalia-withinTrang phục quý tộc Lương Chử. [Nguồn: dẫn]

Dạng áo váy quấn của người Việt là áo dài tay, chân váy có thể dài tới quá nửa đầu gối, chứ không ngắn như tranh phục dựng thời văn hóa Lương Chử. Thân áo cũng được quấn theo hướng trái lại đối với tranh phục dựng, tức tả nhậm (quấn thân sang trái).

Thử so sánh với trang phục của người Bhutan, thì chúng tôi nhận ra dạng áo váy quấn này hoàn toàn tương đồng với áo Gho. Dạng áo váy quấn (kiểu giao lĩnh) là trang phục của nhiều dân tộc khắp vùng Đông Á, Bhutan cũng là vùng thuộc văn hóa Đông Á thượng cổ, có nhiều dấu hiệu của văn hóa Đông Á, kiểu trang phục của họ có thể đưa dấu ấn từ xa xưa. Tất cả chúng ta có thể xem qua trực tiếp hình dáng áo của họ, & sử dụng màu sắc & họa tiết Việt mà chúng tôi liệt kê ở phần IV để trang trí & kiến trúc.

[Nguồn: 1, 2]

Cả hai dạng áo váy quấn giành cho nam, & áo váy giành cho quý tộc nữ mà chúng tôi tìm lại ở trên đều khá tương đồng với cặp đôi áo váy giành cho quý tộc nam (Gho) & nữ (Kira) của người Bhutan.

Bhutan. Couple in traditional national clothes. Vector illustration

[Nguồn: dẫn]

◊ Bộ phụ kiện: 

– Đầu đội băng đô hoặc búi tó.

– So với cánh mày râu cũng có những chiếc vòng mã não, ngọc nhiều lớp như so với nữ. [Xem thêm phần III mục I.8. Các loại vòng cổ dành cho nam và nữ giới quý tộc]

– Tai cũng đeo khuyên tròn cũng giống như nữ giới. [Xem thêm phần III mục I.9. Các dạng khuyên tai cho quý tộc và thường dân]

– Bụng đeo thắt lưng, khóa thắt lưng được sử dụng cùng với vải để cố định thân áo. Những chiếc khóa thắt lưng có thể được giành riêng cho quý tộc nam. [Xem thêm phần III mục I.10. Khóa thắt lưng và gài đai lưng dành cho quý tộc và thường dân]

◊ Phỏng dựng:

Trang phục quý tộc nam thời Hùng Vương được phỏng dựng bởi họa sĩ Đỗ Thái Thanh (trang Anh Hùng 4000) với áo váy quấn thân sang trái, thắt lưng đồng, mũ lông chim, khuyên tai, áo choàng lông vũ cùng phụ kiện.

118933120_172147911176717_2071093146176311112_o (1)

◊ Trang phục của các vị vua Hùng: 

Với các vị vua Hùng, họ cũng sử dụng dạng áo váy quấn thân sang trái như chúng tôi đã tìm lại ở trên, ngoài ra dạng áo của họ sẽ cầu kỳ, cầu kỳ hơn, được may bằng chất liệu vải tốt nhất, cũng như có thể rộng & dài hơn đối với trang phục quý tộc, ống tay & thân váy rộng hơn, chân váy có thể dài chấm đất, như thế sẽ trổ tài được tính quyền uy của các vị. Trang phục của vua Hùng cũng sử dụng những chiếc khóa thắt lưng với độ tinh vi cao hơn đối với của quý tộc.

watermark (22)

Trang phục của thủ lĩnh Lương Chử được bảo tàng tỉnh Chiết Giang phục dựng có thể là một nguồn xem qua cho tất cả chúng ta về trang phục của các vị vua Hùng, với mũ lông chim & áo váy quấn vạt trái.

P6042074_wb-800x600Nguồn: Bảo tàng tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. 

◊ Phỏng dựng:

Trang phục vua Hùng được phỏng dựng bởi họa sĩ Đỗ Thái Thanh (trang Anh Hùng 4000) với áo mũ miện mào chim, áo choàng lông chim, áo váy quấn thân sang trái, vòng cổ, thắt lưng, cùng dép & phụ kiện. 

119919319_176925597365615_6668777627469747539_o (1)

1.2. Áo choàng lông chim & lông vũ giành cho vua, hoàng gia & thủ lĩnh vùng: 

Vua, hoàng gia hay thủ lĩnh vùng cũng sử dụng những dạng trang phục của quý tộc nam & quý tộc nữ như chúng tôi đã tìm lại ở trên, với sự độc đáo trong kiến trúc, vật liệu cũng như họa tiết & màu sắc, ngoài ra, có thể họ còn tồn tại dạng áo để trổ tài tính quyền lực của mình: những chiếc áo choàng lông chim & lông vũ. Cả hai dạng áo này trong thư tịch lịch sử được ghi lại giành cho những người thuộc tầng lớp cao trong xã hội.

Với cánh mày râu, thì dạng áo lông chim được ghi lại sử dụng cho vua hoặc thủ lĩnh vùng ở khắp vùng Hoa Nam & viet nam, trong địa phận của đất nước Văn Lang:

“Các cuốn Lĩnh Biểu Kỷ Man, Xích Nhã, Việt Tây Tùng Tải và Lĩnh Ngoại Đại Đáp có dẫn các thủ lĩnh (hoặc vua) các bộ tộc Âu Việt, Lạc Việt và Lâm Ấp thường mặc áo lông thiên nga (hoặc lông chim).” [6]

Còn so với nữ giới, thì dạng áo lông ngỗng được ghi lại như một dạng trang phục của Mị Châu, một Mị Nương (hoàng gia) của thời An Dương Vương.

Dạng áo này rất cầu kỳ & cầu kỳ trong may mặc, yêu cầu nhiều thời gian, công phu cũng như nguyên liệu, nên chúng chỉ giành cho một số đối tượng hãn hữu, là các tầng lớp cao nhất trong xã hội.

a. Áo choàng lông chim giành cho vua, hoàng gia & thủ lĩnh nam: 

So với các vị vua, thủ lĩnh cánh mày râu, thì họ sử dụng những chiếc áo choàng lông chim, với vai trò trổ tài địa vị, do tính cầu kỳ & cầu kỳ trong kiến trúc & may mặc của nó. Dạng áo này đã được ghi nhận trong thư tịch lịch sử, có ý nghĩa trọng yếu trong đời sống người Việt. Ở vùng Đông Á chúng tôi hầu hết không tìm ra dấu vết của chúng, nhưng thật may mắn là người địa phương Hawaii còn cất giữ loại áo khoác lông chim này.

Các dạng áo khoác lông chim của người Hawaii & cách dùng trong thực tiễn. [Nguồn: tổng hợp qua công cụ tìm kiếm hình ảnh của Google]

◊ Người Việt & người Polynesian liên hệ với nhau như vậy nào? 

Các nghiên cứu di truyền đã minh chứng về một phần nguồn gốc tộc Việt của người Polynesian, họ di cư từ vùng Động Đình, Dương Tử sang Đài Loan sau đó xuống vùng Đa Đảo [18][19], bao gồm cả đảo Hawaii, dân cư tại đây có phong tục tương đồng với tộc Việt, như việc ăn trầu. Sự liên hệ của người Việt & người Polynesian còn được trổ tài qua nghiên cứu gen của loài heo, theo nghiên cứu này, thì loài heo tại Hawaii có nguồn gốc trực tiếp từ miền Bắc viet nam [20], chứng tỏ sự giao thương & thỏa thuận giữa hai vùng trong thời kỳ sau thời điểm 4000 năm. Văn hóa Đông Sơn cũng tác động tới vùng Đa Đảo với dấu hiệu là trống đồng & các di vật bằng đồng có phong thái Đông Sơn.

Cho nên, tất cả chúng ta có thể xem qua hình dáng áo của người Polynesian địa phương Hawaii để phục dựng lại dạng áo lông ngỗng & lông chim của tộc Việt. Dạng lông, dạng màu sắc của loại áo lông chim của người Việt có thể sử dụng lông các loài chim địa phương viet nam & Hoa Nam có màu sắc đẹp. 

Loại áo này có thể được sử dụng cho mùa đông, có đồng thời hai tính năng: biểu tượng quyền lực & giữ ấm.

Chúng tôi còn tìm được phương pháp cụ thể làm loại áo này, độc giả có thể xem ở giai đoạn này.

b. Áo choàng lông ngỗng, lông thiên nga giành cho hoàng gia, thủ lĩnh nữ:

So với hoàng gia, thủ lĩnh nữ, thì áo choàng lông ngỗng hoặc lông thiên nga được họ sử dụng để trổ tài tính quyền lực của mình. Dạng áo này được ghi lại trong truyền thuyết Mỵ Châu – Trọng Thủy, cũng như trong thư tịch lịch sử như một dạng áo giành cho hoàng gia. Dạng áo này cũng không còn dấu vết ở vùng Hoa Nam & Đông Nam Á, nhưng thật may mắn vì người Hawaii ngoài việc có dạng áo lông chim, họ còn tồn tại cả dạng áo choàng sử dụng lông ngỗng.

Chiếc áo lông ngỗng này được một nghệ nhân Hawaii có tên Boris Huang phục dựng lại, hình dáng gần tương đương dạng áo choàng lông chim, nhưng thay vào vì sử dụng lông chim thì Author sử dụng lông ngỗng, tạo nên một chiếc áo choàng với màu sắc thuần trắng rất đẹp & phù phù hợp với nữ giới.

41958068_10156647444793934_1299338077893820416_o

1.3. Dạng áo choàng vải giành cho thủ lĩnh, quý tộc nam & nữ: 

Bên cạnh những dạng trang phục chính mà chúng tôi đã tìm lại ở trên, thì trong trang phục của người Việt còn tồn tại thể tồn tại dạng áo choàng vải, được choàng bên ngoài trang phục chính, sử dụng cho các tầng lớp từ hoàng gia, thủ lĩnh cho tới quý tộc. Cách kiến trúc, màu sắc, vật liệu & họa tiết trang trí giữa các tầng lớp sẽ có sự độc đáo.

Cấu tạo áo choàng vải cũng giống như áo choàng lông chim, này là dạng áo căn bản chung giành cho các dạng áo choàng, với cấu tạo chung đó áo sẽ được kiến trúc các hoa văn khác nhau cho nam & nữ, các kiểu áo choàng vải trên trang phục của người Điền Việt là một đề xuất cho cách trang trí hoa văn trên áo choàng vải.

◊ Áo choàng vải giành cho thủ lĩnh, quý tộc nữ: 

Với quý tộc nữ, thì dạng áo choàng vải được trổ tài khá rõ ràng và cụ thể trên tượng đồng Điền Việt, với áo được choàng bên ngoài trang phục, có dây buộc trước cổ, cũng như được trang trí bằng họa tiết các sinh vật: Phượng, Hươu…, chứng tỏ đây là dạng áo giành cho tầng lớp cao trong xã hội. Với dạng áo của người Việt, cũng có thể sử dụng các vật tổ như Rồng – Phượng, hay hình mẫu mặt trời để kiến trúc trên áo để biểu trưng cho hoàng gia & quý tộc.

Xem Thêm  6 Cách Mở Khóa Mật Khẩu Wifi Xài "Free" Đơn Giản - cách lấy mật khẩu wifi

u=1529468546,2144947375&fm=173&app=49&f=JPEG

◊ Áo choàng vải giành cho thủ lĩnh, quý tộc nam: 

So với thủ lĩnh, quý tộc nam, thì dạng áo cũng căn bản tương đồng với áo choàng của thủ lĩnh, quý tộc nữ, được trổ tài khá rõ ràng và cụ thể trên tượng đồng Điền Việt. Dạng áo này cũng có dây buộc trước cổ, choàng bên ngoài trang phục chính.

Dạng áo choàng vải cũng được các nhà nghiên cứu Trung Quốc phục dựng lại, tất cả chúng ta có thể xem qua được hình dáng & phương pháp trang trí được trổ tài trong tranh phục dựng:

[Nguồn: 1, 2]

2. Các dạng trang phục của các tầng lớp khác trong xã hội Việt:

2.1. Áo chui đầu vạt trái cho cả nam & nữ giới:

Các ebook lịch sử cũng cho thấy ngoài dạng áo váy quấn thân sang trái, thì trang phục của người Việt còn có dạng áo chui đầu vạt trái, giành cho cả nam & nữ giới.

Trong sách Tam Quốc Chí, phần Ngô chí có ghi lại: Thế kỷ III SCN, Thái thú Tiết Tông trong tờ sớ xin chọn Thứ sử Giao Châu đã diễn đạt người Việt: “tóc búi, chân trần, áo chui đầu vạt trái”.”

Trong các ebook lịch sử khác như Hán Thư, Hậu Hán Thư, cũng có ghi về dạng trang phục “áo chui đầu vạt trái”, cũng giống như miêu tả của sách Tam Quốc Chí. Đây là một dạng áo váy xuông dễ dàng của người Việt, với triết lý tả nhậm được trổ tài trên vạt áo phía bên trái, sử dụng cùng với khuy áo bằng đồng. Khảo cứu văn hóa học cũng cho thấy một dạng áo cũng giống như miêu tả của các ebook lịch sử.

“Người Việt vùng Lĩnh Nam, đặc biệt là Tây Lạc Việt, thường ngày vẫn mặc áo và váy (theo Hậu Hán Thư, Đông Di Truyện) (áo váy quấn và váy chui đầu), cũng giống như câu ca dao Việt Nam: “Cái thúng mà thủng hai đầu, bên ta thì có bên Tàu thì không”.” [6]

Dạng áo chui đầu này tồn tại cả trong các ebook khảo cổ của văn hóa Điền Việt & văn hóa Đông Sơn. 

a. Dạng áo chui đầu vạt trái khổ rộng giành cho tầng lớp cao trong xã hội: 

Dạng áo chui đầu vạt trái này có nhiều hình dáng khác nhau, về kiểu dáng căn bản có thể cũng giống như những hình ảnh trên trống đồng văn hóa Điền Việt ở dưới đây. Dạng áo này rất gần với trang phục của dân tộc Mapuche, người địa phương Nam Mỹ (Chile). Bên cạnh đó độc đáo của trang phục người Việt với trang phục của Điền Việt & người Mapuche là áo có thêm vạt bên trái đi cùng với khuy. 

Dạng áo trùm trên trống đồng Điền Việt & dạng áo của người địa phương Nam Mỹ (Chile) [Nguồn].

b. Dạng áo chui đầu vạt trái cho cả nam & nữ dân đen:

Bên cạnh dạng áo chui đầu vạt trái cho tầng lớp cao trong xã hội, thì còn có cả dạng áo giành cho các tầng lớp ít hơn trong xã hội của người Việt. Đây là dạng áo váy có thể được sử dụng cho cả nam & nữ giới, được trổ tài rõ ràng và cụ thể trên trống đồng Đông Sơn & Điền Việt, & cũng được ghi lại trong thư tịch lịch sử mà chúng tôi đã dẫn lại ở trên. 

vab (1)

Dạng váy xuông trên trống đồng Đông Sơn. [Nguồn: Những trống đồng Đông Sơn phát hiện ở Việt Nam – Nguyễn Văn Huyên]

Theo hình vẽ trên cả hai trống đồng Điền Việt & Đông Sơn, thì đây là trang phục giành cho cả nam & nữ, có kích cỡ bé hơn dạng trang phục cho tầng lớp cao trong xã hội, với cánh mày râu có thể sử dụng cùng dây lưng vải, còn với nữ giới có thể sử dụng cùng cạp váy. 

các dạng áo 2[Nguồn: dẫn]

Dạng áo này của người Điền được phỏng dựng lại bởi các nhà nghiên cứu Trung Quốc, dạng áo của người Việt cũng tương đồng với dạng áo của người Điền Việt, nhưng được bổ sung thêm hàng khuy cài vạt trái, với những chiếc khuy bằng đồng. 

0 (9)

2.2. Các dạng trang phục giành cho dân đen:

a. Dạng áo váy quấn với họa tiết dễ dàng giành cho cả nam & nữ giới: 

Bên cạnh dạng áo váy quấn với họa tiết, vật liệu thượng hạng hơn giành cho quý tộc, thì kiểu áo váy quấn cũng được giành cho cả dân đen, với họa tiết dễ dàng hơn hoặc không có họa tiết, khi nó được ghi lại như một đặc thù của người Việt.

Trong sách Luận Ngữ có ghi lại cụ thể: “Quản Trọng theo giúp Tề Hoàn Công nên nghiệp bá, nhờ vậy mà thiên hạ từ loạn đổi sang trị. Nếu không có Quản Trọng thì chúng ta phải gióc tóc và vắt vạt áo bên trái như bọn man di. Lẽ nào vì tấm lòng trung quân nhỏ hẹp tầm thường mà đi treo cổ bên lạch suối sao?”. [Luận Ngữ, 14:17]

buitocsaugay22-1-1Áo váy quấn được trổ tài trên trống đồng Động Xá. [Nguồn: Phim Đi tìm trang phục Việt]

 

Dạng áo váy quấn thân sang trái được mô phỏng cụ thể hơn trên hình vẽ trên các pho tượng Điền Việt. [1,2]

Dạng áo này trong sử liệu không ghi rõ là giành riêng cho nam hoặc cho nữ, do vậy nữ giới cũng có thể có dạng áo vạt trái tương đương, bên cạnh các loại trang phục chính. Dạng áo vạt trái có thể được phối với váy quấn cùng cạp váy cũng giống như trang phục của người Tai Lue, đây là một nhánh của người Shan thuộc hệ ngữ Tai-Kadai. Dạng trang phục của người Tai Lue còn được giữ được đặc thù áo vạt trái. 

unnamed (100)Trang phục của người Tai Lue Thái Lan. [Nguồn]

◊ Phỏng dựng:

Trang phục áo váy quấn thân sang trái thời Hùng Vương được phỏng dựng bởi họa sĩ Đỗ Thái Thanh (trang Anh Hùng 4000), trang phục được phục dựng cùng thắt lưng đồng, mũ lông chim, khuyên tai, áo choàng lông vũ cùng phụ kiện.

118933120_172147911176717_2071093146176311112_o (1)

Bên cạnh dạng áo giành cho nam, thì nữ giới cũng có thể có kiểu áo váy quấn thân sang trái đi cùng với dạng váy quấn & cạp váy tương đương của người Tai Lue.

119117588_173484047709770_7271911933648790691_o (1)

b. Dạng áo hai tà cho nữ giới:

Dạng áo hai tà cũng là một đặc thù của người Việt, khi dạng áo này được sử dụng cho nhiều đối tượng mà mục đích, giành cho cả nam & nữ. Trên rìu đồng Đông Sơn cũng trổ tài hình ảnh một gia đình bao gồm cha, mẹ & con cháu đều mặc dạng áo hai tà, cũng như hình ảnh nữ giới mặc chiếc áo hai tà được trổ tài trên họa tiết Đông Sơn.

Áo hai tà được trổ tài cho cả nam & nữ trên rìu đồng, cũng như cho riêng nữ trên hình họa trống đồng. [1. Hoa Văn Việt Nam – Nguyễn Du Chi; 2. Những trống đồng Đông Sơn phát hiện ở Việt Nam – Nguyễn Văn Huyên]

Dạng áo váy hai tà này có cùng ý nghĩa & sáng kiến kiến trúc với áo váy của nữ quý tộc, với lớp xế ở phía trước váy. Dạng áo váy hai tà cũng như có xế là rất thông dụng trong các dân tộc được chúng tôi khảo cứu.

download folder (144)2

Dạng áo hai tà của người Việt xưa có thể được cài khuy & sắp đặt họa tiết trang trí bên vai trái (tả nhậm), với những chiếc khuy đồng. Áo bao gồm hai lớp, áo váy bên trong, & áo hai tà bên ngoài, tà váy có thể dài bằng hoặc quá lớp váy bên trong.

img20180601101221358_800-1-1-1

Dạng áo váy hai tà cũng tồn tại trong trang phục của người Dao Tiền. Họ còn cải biến hơn với việc sử dụng hơi nhiều tà áo. Trang phục của người Dao Tiền khá tương đồng với cả hai dạng áo váy hai tà & áo váy quấn cùng xế. Người Hmong xưa kia cũng có trang phục với tà áo rộng hơn, cũng giống như dạng áo hai tà của người Việt & các dân tộc.

Dạng áo hai tà ở người Dao Tiền & người Hmong thời Pháp thuộc. 

Dạng áo hai tà ở các dân tộc Động, Pa Dí, Kam, La Hủ, Bố Y. 

c. Dạng đầm xòe xếp ly cho nữ giới: 

Trên thạp Hợp Minh có họa tiết trổ tài một dạng đầm xòe xếp ly, dạng đầm xòe xếp ly hiện ra rất thông dụng trong các dân tộc ở viet nam & Hoa Nam như Hmong, Choang, Động, Paiwan…

Untiatled

Dạng đầm xòe xếp ly được trổ tài trên thạp Hợp Minh là liền với thân áo, độ dài có thể tới gần cổ chân. Dạng áo này có thể có thêm chiếc xế hoặc hai tà ở lớp ngoài cùng cũng giống như các dân tộc được chúng tôi dẫn ở các hình phía dưới.

Dạng đầm xòe xếp ly ở các dân tộc Choang, Hmong, Động, Paiwan. 

2.3. Dạng áo hai tà sử dụng cho lễ tế: 

Chúng tôi nhận ra dạng áo hai tà được sử dụng trong hầu hết trên toàn bộ hình họa trên các trống đồng thời Đông Sơn của người Lạc Việt & cộng đồng tộc Việt, với chủ yếu hình họa được trổ tài cho hoạt động tế lễ. 

Dạng áo hai tà này cũng hiện ra trong hình họa của chủ yếu các trống đồng ở các vùng tộc Việt khác, cũng giành cho nhiều mục đích & đối tượng như trên trống đồng Đông Sơn.

Dạng áo hai tà được trổ tài trên trống đồng Điền Việt & trống đồng Dư Hàng, Chiết Giang. [Nguồn: 1, 2]

◊ Hình dáng căn bản của áo hai tà:

Dạng áo hai tà theo các hình vẽ trên trống đồng cho thấy thân áo gắn liền với áo hai tà, phần chân có thể mặc quần dài, do thuộc tính trang trọng của các dịp lễ tế. Theo khảo cứu văn hóa, thì tộc Việt có thể đã có trang phục dạng quần. Dạng áo hai tà này còn tồn tại thể thấy trong điệu Hoàng Vũ của người Miêu trên đảo Hải Nam. Tà áo của người Việt có thể rộng hơn đối với tà của người Miêu trên đảo Hải Nam. 

65b4dbf68e89f4ac96839d2c8179d7a3Điệu Hoàng Vũ của người Miêu trên đảo Hải Nam [nguồn]

◊ Dạng áo hai tà đính lông chim sử dụng cho lễ tế: 

Dạng áo hai tà với hình dáng cũng giống như trên được đính thêm lông chim để sử dụng trong lễ tễ, cùng với này là đội mũ lông chim, như một cách thức hóa trang thành chim, để trổ tài nền văn hóa lưỡng hợp Tiên (Chim) – Rồng của dân tộc Việt (cùng với cách thức xăm mình hình rồng).

Trên trống đồng Điền Việt có trổ tài khá rõ ràng và cụ thể hai hình ảnh tương phản: trang phục thường ngày & trang phục lễ tế, trang phục thường ngày là dạng áo váy xuông & váy quấn sử dụng cho chủ yếu dân cư, còn phía dưới là dạng áo hai tà đi cùng lông chim được sử dụng trong các dịp lễ tế.

Untbbxitled

Trong ngày lễ, người Việt cũng có sử dụng cùng với những chiếc mũ lông chim, thường ngày có thể không sử dụng. Dạng mũ lông chim có thể cũng giống như của người Paiwan & người Động, với chiếc khăn đội đầu đính lông chim lên phía trên.

mũ lông chim

EdfkMC_17D2ymrn93tmAC-sB8XWryRDg7H4x4wjFlYsszHvTI3Tk-O3_1uOKltOF_jbS0Fp0zg3y0jDWJ9GihWK-yaUxGVeXuu2OnAHZj_nQNk8JuIq9Lrn56xBwzd4ebnHXrfj1Mũ lông chim của người Động. [Nguồn: dẫn]

Điệu vũ thờ cúng Tổ Tiên, tế lễ núi sông được trổ tài khá rõ ràng và cụ thể trên trống đồng, với hình ảnh người hóa trang thành chim với áo hai tà đính lông chim & đội mũ lông chim.

điệu vũ

Dạng trang phục tương đồng với dạng áo hai tà trên trống đồng Đông Sơn còn được trổ tài trên trang phục điệu vũ của các dân tộc Miêu, Đồng.

Điệu vũ của người Miêu & người Đồng. [Nguồn: 1, 2]

Điệu vũ thờ cúng Tổ Tiên, tế lễ sông núi, còn giữ được ở người Hmong, được gọi là Hoàng Vũ.

Thời nhà Chu cũng sử dụng áo lông chim phục vụ cho mục đích tế lễ cũng giống như người Việt. Đây là tác động có tính lan tỏa của văn hóa gốc Cao Miếu tại Hồ Nam của người Việt.

Điệu Hoàng Vũ của người Hmong trên đảo Hải Nam, & áo lông sử dụng trong cúng tế của nhà Chu. [Nguồn: 1, 2]

2.4. Dạng áo trùm Poncho:

Dạng áo chui đầu kiểu Poncho được cổ sử Trung Hoa như Bác Vật Chí, Dị Vật Chí & Tam Tài Đồ Hội (三才图会, đời Minh), từng nhắc đến định nghĩa “dân khoan ngực (穿胸民)”, theo khảo cứu của Eberhard W. [1968: 360-361], đó chính là hình ảnh chiếc áo choàng đầu kiểu poncho đặc thù của người Việt cổ vùng Dương Tử. Theo Author, dân cư Bắc Bộ viet nam thời Đường cũng khá chuộng loại áo này. [6] 

Chúng tôi có tìm được một tư liệu trang phục của dân tộc Mapuche, người địa phương châu Mỹ, họ cũng có liên hệ với văn hóa của tộc Việt, cổ vật của họ có sự liên quan với văn hóa Lương Chử & Thạch Gia Hà của tộc Việt, nên tất cả chúng ta có thể dựa trên những ghi chép trong cổ sử & xem qua dạng áo của họ để phục dựng lại dạng áo Poncho thời kỳ Hùng Vương, tất cả chúng ta cần sử dụng những họa tiết, màu sắc của người Việt để phác thảo lại một trang phục có tính Việt nhất.

Dạng áo trùm Poncho này có thể được may bằng vải gai, & có thể được sử dụng như một dạng áo ấm trong mùa đông.

880px-Artesania_Chilena_-_Manta_Mapuche

2.5. Dạng áo – quần giành cho cả nam & nữ: 

Về trang phục dạng quần, chúng tôi chưa tìm được chứng cứ khảo cổ minh chứng trang phục thời Hùng Vương đã có dạng quần, ngoài ra quần đã hiện ra từ sớm tại văn hóa Hoa Hạ, sự giao lưu, tác động văn hóa qua lại giữa người Việt & người Hoa Hạ là rõ ràng và cụ thể trong các công đoạn. Văn hóa Điền Việt cũng từng có quần. Các dân tộc có cùng nguồn gốc với người Việt cũng từng có rất thông dụng trang phục dạng quần. Yu Tianjin & các nhà nghiên cứu Trung Quốc cũng xác nhận “Tục mặc quần ngắn hay váy ngắn, đội khăn”, là một phong tục của tộc Việt. Cho nên có nền tảng để bảo rằng thời kỳ Hùng Vương đã có trang phục dạng quần. [Xem thêm mục Θ Khảo về trang phục quần ở cuối bài khảo cứu]

Trang phục dạng quần dài & áo khá dễ dàng, chủ yếu các dân tộc đều có cùng một hình dáng. Áo & quần tách biệt, áo có thể là cộc tay hoặc dài tay.

Bên cạnh quần dài, thì còn có cả dạng quần ngắn, đi cùng với áo dài, đầu đội khăn, đây là một phong tục được Yu Tianjin & các nhà nghiên cứu Trung Quốc kể đến như đặc thù của văn hoá tộc Việt: “Tục mặc quần ngắn hay váy ngắn, đội khăn”.  

eaa9654cly4flufwbr5nfj20ha0obaau-1

Dạng áo & quần ngắn của người Điền Việt. [Nguồn: dẫn]

Các dạng áo – quần của người Paiwan, Dao Đỏ, Hmong, Tày, Nùng.

2.6. Trang phục lao động: 

a. Khố: 

Tượng trên cán dao găm Đông Sơn rất thông dụng hình ảnh cánh mày râu cởi trần, đóng khố, này là hình ảnh có tính văn nghệ, trổ tài sự khỏe khoắn của giới nam, cũng giống như những pho tượng Hy Lạp cổ xưa. Thường ngày, người Việt mặc xiêm áo như chúng tôi đã tìm lại ở trên, họ chỉ đóng khố, cởi trần lúc lao động cho dễ chịu & tiện dụng. Khố của người Việt thời Hùng Vương có thể còn cầu kỳ hơn, với cả những họa tiết cũng giống như trên cán dao găm.

Dạng khố cùng hai tà khố trên cán dao găm Đông Sơn & của người Việt thời Pháp thuộc sử dụng trong lao động. [Nguồn: 1. Martin Doustar – Art of bronze age in Southeast Asia; 2. Ảnh được chụp từ thời Pháp thuộc tài miền Bắc Việt Nam (Tonkin)]

Dạng khố của người Việt thời Hùng Vương cũng kín đáo & dày dặn hơn đối với khố của người Việt cận đại, có cả hai tà trước & sau, cũng giống như khố của người Dayak.

Tà sau của khố trổ tài trên cán dao găm & khố của người Dayak. [Nguồn: 1. Martin Doustar – Art of bronze age in Southeast Asia; 2. như ảnh]

b. Áo tơi: 

Bên cạnh chiếc khố, thì chiếc áo tơi với vật liệu tự nhiên, dễ tìm kiếm, dễ may mặc như vậy này cũng có thể được sử dụng trong đời sống lao động của người Việt xưa. Loại áo này có thể sử dụng khi làm ruộng, khi lao động để tránh nắng mưa.

1f2549aebfcea3c

2.7. Trang phục của chiến binh:

Trong hình ảnh minh họa lại “trang phục” của các chiến binh Đông Sơn, thì họ chỉ cởi trần, đóng khố, đeo hộ tâm phiến & đánh giặc, hình ảnh đó hoàn toàn không chuẩn xác với thực tiễn khảo cổ học. Khảo cổ học phát hiện rất là nhiều mảnh áo giáp bằng đồng, bên cạnh những chiếc hộ tâm phiến, nên trang phục của người lính Việt thời Đông Sơn có thể đã cầu kỳ & cầu kỳ, chứ không dễ dàng là cởi trần, đóng khố, đeo hộ tâm phiến.

dong_son_brozne_armor_2

Không những thế, thì pho tượng của văn hóa Điền Việt cũng từng trổ tài trang phục & áo giáp rất rõ ràng và cụ thể:

mp29116085_1440468988691_64

Bản mô phỏng lại bộ giáp trên tượng của văn hóa Điền Việt:

377_171126172754_1_lit (1)

Các nhà khảo cổ Trung Quốc đã phục dựng lại trang phục của vua Điền, với áo giáp đi cùng với áo choàng vải hoặc lông vũ như chúng tôi đã tìm lại ở trên.

滇王模拟画像_12

Ngoài dạng áo giáp mảnh như trên, thì chiến binh Việt còn tồn tại thể sử dụng áo giáp da & áo giáp vải, cũng có công dụng rất hiệu quả trong đại chiến.

Các dạng áo giáp có thể được sử dụng cùng với nhiều miếng hộ tâm phiến được phát hiện rất thông dụng trong thời Đông Sơn, được sử dụng để che đậy điểm hiểm yếu trước ngực.

Chiến binh cũng có thể có những chiếc khiên phòng ngự bằng gỗ, với kiểu dáng cũng giống như trên tượng đồng Điền Việt:

0LMoI9Mzdt

Bản phục dựng chiến binh Đông Sơn từ bạn Phan Thanh Nam (Ấm Chè), đây là bản phục dựng dựa theo sự thăm dò trang phục & cổ vật Đông Sơn & tộc Việt sót lại, rất đáng để tất cả chúng ta xem qua:

67873925_2449592731938966_3108717790068998144_o

3. Các phòng ban phụ của trang phục:

3.1. Mảnh áo trùm ngực: 

Các dạng trang phục của nữ giới mà chúng tôi đã tìm lại ở trên có thể được sử dụng cùng với áo trùm ngực với những tua rua trang trí. Loại áo này hay được dùng trong những dịp trọng yếu như lễ hội, lễ cưới, được sử dụng giành riêng cho các nàng.

Người Kalavan (Đài Loan), người Paiwan (Đài Loan), người Dayak (Indonesia), người Miao (Hồ Nam, TQ). 

3.2. Băng đeo chéo:

Dạng băng đeo chéo người chúng tôi nhận ra được các dân tộc sử dụng khá thông dụng, & nó cũng hiện ra trên các pho tượng của văn hóa Điền Việt. Nó có thể được sử dụng để trổ tài tính quyền lực, hoặc sử dụng trong những dịp trọng yếu như lễ hội, lễ cưới…

20161012121125418 (1)

Băng có thể là băng đơn, hoặc băng đôi đeo chéo thân người, cũng giống như các dân tộc ở các ảnh dưới đây.

Băng đeo chéo trong trang phục người Kalavan, Tây Nguyên, Dayak, Paiwan, Hmong. 

3.3. Khăn:

– Có thể đã có những chiếc khăn cũng giống như khăn của các dân tộc anh em của người Việt đang sử dụng vào thời văn hoá Đông Sơn, được sử dụng với tính năng giữ ấm, & có thể cả trong những dịp tế lễ.

Khăn Piêu của người Thái. [Nguồn]
Khăn thổ cẩm của người Mạ (Tây Nguyên). [Nguồn]

3.4. Dép:

Người Việt rất ưa chuộng đi chân đất, do đời sống đồng hành chặt chẽ với đồng ruộng, với nông nghiệp, đây cũng là dấu hiệu đồng hành chặt chẽ với người Việt trong thời kỳ trung đại, hiện ra ở cả tầng lớp dân dã & quý tộc.

Bên cạnh đó, ngay từ thời văn hóa Hà Mẫu Độ cách ngày nay khoảng 7000 năm, thì người tiền Việt cũng từng sáng kiến ra một dép bằng gỗ, với di vật khảo cổ tìm được tại di tích khảo cổ Cihu, tỉnh Chiết Giang, là chiếc dép bằng gỗ cổ nhất toàn cầu tìm ra được. Có thể thấy từ các lỗ xỏ dây, thì đây là một dạng xép xỏ ngón như dép lào tất cả chúng ta đi ngày nay.

Ship_12

Tới thời văn hóa Lương Chử, thì người Việt cũng từng kế thừa loại dép này, cũng tìm ra được di vật khảo cổ để lại. Đây là một loại dép có kiểu dáng hơi khác đối với dép thời văn hoá Hà Mẫu Độ, với 6 lỗ thay vì 5 lỗ, kiểu dáng có thể gần cũng giống như hình phục dựng phía dưới.

Dép thời văn hóa Lương Chử cùng tranh phục dựng lại. [Nguồn]

Tới các thời văn hóa từ Phùng Nguyên cho tới Đông Sơn, người Việt có thể kế thừa những loại hình dép này, ngoài ra thời tiết của miền Bắc viet nam rất khó cất giữ được những đồ dùng bằng gỗ như vậy này, hoặc có thể có nhưng chúng tôi chưa tìm ra được tư liệu, nên tất cả chúng ta có thể sử dụng dạng dép của văn hóa Hà Mẫu Độ & Lương Chử.

Loại dép này có thể được sử dụng riêng cho bậc quý tộc & các vị vua Hùng, do dân thường thường chỉ đi chân đất như nguyên nhân chúng tôi đã đề cập. Những hình dáng cũng từng khá căn bản, nên khả năng chúng sẽ không bao giờ thay đổi quá nhiều theo thời gian.

Theo nghiên cứu khảo cổ của người Trung Quốc, thì người Lương Chử có thể còn sử dụng guốc da thú để giữ ấm trong mùa đông, đây cũng là đề xuất trọng yếu để tất cả chúng ta thử tìm lại các loại giày dép trong thời kỳ này.

4. Tìm lại các dạng mũ & khăn: 

4.1. Vương miện của các vua Hùng:

So với các vị vua, thì họ có riêng cho mình những chiếc vương miện, do quyền lực của các vị vua Hùng thời kỳ này là rất lớn, cả về chính trị & tôn giáo, nên họ cần phải có vật để trổ tài sự độc đáo. Loại vương miện thời kỳ đó tất cả chúng ta có thể xem qua chiếc mũ miện mào chim trên tượng ngọc thời văn hoá Thạch Gia Hà.

Mũ miện mào chim trổ tài trên tượng ngọc Thạch Gia Hà. [Nguồn: dẫn]

4.2. Dạng khuôn búi tóc của thủ lĩnh nữ: 

Dạng khuôn búi tóc của thủ lĩnh nữ được trổ tài trên cán kiếm ngắn có trổ tài hình mẫu hai bà Trưng. Chiếc khuôn búi tóc trên chiếc cán kiếm ngắn có thể cũng giống như hình ảnh được phục dựng của blog Daiyevon ở phía dưới.

[Nguồn: BST Phạm Lan Hương; Blog Daiyevon]

Kiểu búi tóc cao, buộc ở giữa này cũng có trổ tài rõ ràng và cụ thể trên tượng cán dao găm Đông Sơn khác, & cũng được trổ tài trên tượng gỗ Điền Việt:

[Nguồn: BST Kiều Quang Chẩn – Vang vọng từ trống Đông Sơn]

4.3. Khăn đội đầu:

Những chiếc khăn tròn đội đầu được các dân tộc sử dụng rất thông dụng, chủ yếu được sử dụng cho những người trẻ, giành cho cả nam & nữ giới. Mỗi dân tộc sẽ có sự độc đáo trong kiến trúc về kích thước, họa tiết, cũng như có thể có sự độc đáo trong từng dịp. Tất cả chúng ta có thể sử dụng những họa tiết truyền thống của người Việt như chúng tôi đã liệt kê ở phía dưới để kiến trúc một dạng khăn tách biệt của người Việt. Dạng khăn tròn đội đầu cũng được trổ tài khá rõ ràng và cụ thể trên các di vật khảo cổ của văn hóa Đông Sơn. 

Người Dayak, người Yao, người Bana, người Paiwan, người Thuỷ, người Mường, người Bana (nam).

– Trên khăn vải có thể được kiến trúc thêm biểu tượng chữ V, được trổ tài trên pho tượng người quỳ Đông Sơn, có thể có tính tượng trưng cho quyền lực của người quý tộc.

So sánh hình ảnh khăn đội chữ V của tượng Lạc Việt Đông Sơn với của tộc Paiwan, Đài Loan.

Chiếc khăn tròn đội đầu này có thể đi cùng với mảnh khăn trùm phía sau đầu, cũng giống như trên cán dao găm Đông Sơn, có tính năng giữ ấm trong mùa đông. Dạng khăn này khá tương đồng với dạng khăn của người Lô Lô.

Cán dao găm Đông Sơn & dạng khăn của người Lô Lô.

Dạng khăn tròn đội đầu này có thể sử dụng những họa tiết tứ giác cũng như họa tiết chữ S, đây là hai dạng họa tiết được sử dụng rất thông dụng trong kiến trúc trang phục cũng như mũ miện, bên cạnh đó các họa sĩ cũng có thể sáng kiến các loại họa tiết được chúng tôi liệt kê ở phía dưới.

Dạng họa tiết tứ giác trên khăn đội đầu Điền Việt; họa tiết tứ giác & chữ S Đông Sơn & Phùng Nguyên. 

Những chiếc băng đô được may bằng vải gai, với một kỹ thuật tách biệt còn được gìn giữ ở các dân tộc Đông Nam Á, được gọi là “supplementary weaving”. Các họa tiết được tạo hình dễ dàng cũng giống như thế này:

laverne+backstrap+supplementary+weft

4.4. Khăn vấn:

Chiếc khăn vấn, đồ dùng rất thân thuộc & thông dụng trong đời sống người Việt cho tới ngày nay, cũng có thể được sử dụng trong đời sống người Việt thời Đông Sơn. Các dân tộc cũng có sử dụng & trổ tài loại khăn vấn này khá thông dụng. Chúng tôi nhận ra nó có thể có cùng ý nghĩa với loại khăn tròn đội đầu như phía trên. Loại khăn vấn này có thể được sử dụng cho người trung niên & cao tuổi, cho cả nam & nữ giới.

Khăn vấn của người Việt, người Paiwan, người Dayak, người Lự, người , người Miao. 

Chiếc khăn vấn được trổ tài trên cán dao găm Đông Sơn & tượng Điền Việt. [Nguồn: Nhà hàng Trống Đồng, dẫn]

qwqgqwegKhăn vấn được trổ tài rõ ràng và cụ thể hơn trên chiếc cán dao găm Đông Sơn được triển lẵm tại Quán ăn Trống Đồng. [Chụp lại từ phim đi tìm trang phục Việt, tập 1, dẫn]

Chiếc khăn vấn có thể được chít thêm khăn mỏ quạ, dạng khăn được người Việt ở miền Bắc sử dụng từ rất lâu đời. Chiếc khăn mỏ quạ của người Việt đi cùng với khăn vấn, cũng giống như dạng khăn vấn chúng tôi đã tìm lại ở trên. Dạng khăn này giống như một sự “hóa trang” thành chim, trong văn hóa lưỡng hợp Chim-Rồng (Tiên-Rồng) của người Việt, đồng thời cũng có công dụng giữ ấm cho đầu.

Chiếc khăn mỏ quạ cùng khăn vấn của người Việt trong trang phục hát Xoan, & pho tượng Đông Sơn có dạng thức tương đồng.

Đi tìm trang phục Việt 2+3 - Vải Đông Sơn, Trang phục Việt qua các bảo tàng nước ngoài 16-56 screenshotKhăn vấn cùng khăn kiểu mỏ quạ được trổ tài trên một chiếc cán dao găm Đông Sơn khác tại bảo tàng Barbier-Mueller. [Chụp lại từ phim đi tìm trang phục Việt, tập 2-3, dẫn]

Dạng đội khăn cũng giống như khăn mỏ quạ của người Việt có thể nói là một phong tục chung của rất là nhiều dân tộc ở vùng Đông Á. Mỗi dân tộc có một kiểu cách đội khăn khác nhau.

Dạng khăn đội đầu của người Thủy, Thái, Dao Đỏ, Cống, Dao Tiền. 

4.5. Mũ hình nón:

Loại mũ tương đương chiếc nón này rất thường thấy trên các cán dao găm Đông Sơn, chúng tôi thử tìm kiếm, thì thấy chiếc mũ của người Dayak rất giống với chiếc mũ này, & cũng gần cũng giống như chiếc nón lá của người Việt ngày nay. Dạng mũ này có thể được sử dụng khi lao động.

Mũ của người Dayak; pho tượng trên cán dao găm Đông Sơn có chiếc mũ tương đồng với người Dayak. [Nguồn: BST Martin Doustar – Art of bronze age in Southeast Asia]

Dạng nón này còn được trổ tài trên một chiếc cán dao găm Đông Sơn khác, là tượng nữ giới, khác với tượng cánh mày râu chúng tôi đã dẫn ở trên.

Đi tìm trang phục Việt 2+3 - Vải Đông Sơn, Trang phục Việt qua các bảo tàng nước ngoài 16-37 screenshotNón được trổ tài trên tượng cán dao găm Đông Sơn, được triển lẵm tại bảo tàng Barbier-Mueller. [Chụp lại từ phim đi tìm trang phục Việt, tập 2-3, dẫn]

Dạng mũ này rất tương đồng với nón chóp của lính khố đỏ, có thể đây là một dạng mũ được người Việt cất giữ trong dòng văn hóa dân gian, sau đó biến thể thành nhiều dạng như loại nón chóp & nón lá:

4.6. Nón dẹt: 

Trên tượng cán dao găm Đông Sơn cũng có trổ tài một dạng nón dẹt rất đặc biệt. Dạng nón này còn có ở người Việt, được những người lính khố đỏ thời Pháp thuộc đội. Dạng mũ này có thể giành riêng cho chiến binh.

Nón dẹt trên cán dao găm Đông Sơn, & của lính khố đỏ. 

4.7. Dạng khăn xếp lớp: 

Dạng khăn xếp lớp cũng có thể từng tồn tại trong trang phục của người Việt, với hình ảnh được trổ tài khá rõ ràng và cụ thể trên cán dao găm, với các đường lớp được trổ tài khá rõ ràng và cụ thể. Dạng khăn này cũng tồn tại thông dụng trong các dân tộc, được sử dụng cho cả nam & nữ giới.

imagejpeg_9

Dạng khăn xếp lớp này rất thông dụng trong các dân tộc viet nam & Hoa Nam.

Người Lê, người Bố Y, người Lự, người Dao Đỏ, người Lê, người Choang, người Miao (3 ảnh cuối). 

Dạng khăn xếp lớp đã được phục hồi, mang trở lại cuộc đời của người Việt bởi chúa Nguyễn, được gọi là mũ mấn.

14918921_1213677045356563_7439886374683648171_o

4.8. Mũ hình tam giác:

Dạng mũ này cũng có thể đã từng được người Việt sử dụng trong thời kỳ văn hóa Đông Sơn. Nó rất giống với chiếc mũ của người Pa Dí ở miền Bắc viet nam.

Chiếc mũ trên cán dao găm Đông Sơn & chiếc mũ của người Pa Dí

Unzvtitled

4.9. Dạng mũ hình chữ nhật: 

Dạng mũ hình chữ nhật được trổ tài trên tượng cán dao găm thời Đông Sơn khá tương đồng với mũ của người Choang.

Tượng trổ tài mũ chữ nhật trên cán dao găm Đông Sơn tại bảo tàng Barbier-Mueller & dạng mũ trong trang phục của người Choang

4.10. Mũ dạng khăn đội đầu: 

Trên cán dao găm Đông Sơn được chúng tôi sử dụng xem qua trang phục quý tộc nữ có trổ tài khá rõ ràng và cụ thể một dạng mũ trùm đầu (nhìn từ phía trước & phía sau, thì hình vẽ trên cán dao găm giống chiếc mũ hơn là vấn tóc). Chúng tôi nhận ra dạng mũ này khá tương đồng với dạng mũ của người Lê trên đảo Hải Nam. Dạng mũ này có thể được sử dụng cùng với mái tóc thả xuôi.

Mũ trên cán dao găm Đông Sơn & mũ đội đầu của người Lê đảo Hải Nam [Nguồn].

5. Tìm lại các dạng tóc của người Việt xưa: 

Các loại mũ có thể có sự phong phú, nhưng kiểu tóc là đặc thù của một dân tộc, được sử dụng để nhận diện dân tộc trong thời xưa, về căn bản, kiểu tóc sẽ không độc đáo quá nhiều giữa các vùng, kiểu tóc có thể được biến đổi vào các dịp chẳng hạn như phụ nữ có chồng sẽ biến đổi kiểu tóc. Trong sử sách, thì hai kiểu cắt tóc ngắn & búi tóc được ghi lại đặc thù chung của tộc Việt, cổ vật & kiểu tóc của người Việt cũng trổ tài căn bản hai dạng tóc đó. 

5.1. Các kiểu tóc giành cho cánh mày râu:

◊ Cắt tóc ngắn & búi tó: 

Cắt tóc ngắn được ghi lại trong sử sách như một đặc thù của người Việt.

Các sách Thuyết Uyển (thiên Phụng Sứ), Hoài Nam Tử (thiên Nguyên Đạo Huấn), Sơn Hải Kinh (thiên Hải Nội Kinh) đều có ghi “người Việt cắt tóc xăm mình cho giống loài giao long để tránh bị hại”.

Trong sách Tam Quốc Chí, phần Ngô chí có ghi lại trong cụ thể, Thái thú Tiết Tông trong tờ sớ xin chọn Thứ sử Giao Châu vào thế kỷ III SCN đã diễn đạt người Việt: “tóc búi, chân trần, áo chui đầu vạt trái”.”

Nhưng bên cạnh dạng cắt tóc ngắn, thì người Việt còn còn phong tục búi tóc, trong đó thông dụng đặc biệt là kiểu búi tó, với tóc được búi lỡ sau gáy. Cả hai dạng tóc này có thể độc lập hoặc đi bên cạnh nhau. Cả 2 dạng tóc ngắn & búi tó đều được trổ tài trên pho tượng người Việt tại vùng Chiết Giang.

165e144cfdd54b7db9647b608b0fc64b

Dạng búi tó ở người Việt thời cận đại:

14918921_1213677045356563_7439886374683648171_o2

◊ Dạng búi thấp phía sau đầu: 

buitocsaugay22-1

◊ Tết tóc đuôi sam: 

Người Việt bên cạnh các kiểu búi tóc & cắt tóc ngắn, thì còn có cả tục tết tóc đuôi sam với hai nhánh ở phía sau đầu, được trổ tài thông dụng trên các tượng cán dao găm đồng Đông Sơn. Dạng tóc này độc đáo căn bản với kiểu tết tóc của kẻ địch của người Điền Việt mà chúng tôi đã dẫn ở phần trên. 

asiaart (11)Tết tóc đuôi sam Đông Sơn. 

5.2. Các kiểu tóc giành cho nữ giới:

Nữ giới thì có nhiều hình dáng hơn đối với cánh mày râu, do dấu hiệu giới tính của mình.

◊ Dạng búi tóc lên cao, gập đôi, kẹp vòng hoặc buộc dây cố định cũng có thể là một dạng búi tóc của người Việt xưa, được trổ tài trên pho tượng cán dao găm thời văn hóa Đông Sơn.

kieuquangchan (177)

Dạng tóc này cũng được trổ tài trên các tượng đồng & gỗ Điền Việt.

Kiểu tóc búi & buộc được trổ tài trên tượng đồng & gỗ Điền Việt. [Nguồn]

Kiểu tóc búi cao với vải buộc ở giữa này có thể biến thể thành khuôn chụp tóc cũng giống như tượng hai bà Trưng mà chúng tôi đã đề cập trong phần 3.1.

◊ Không những thế, thì còn tồn tại thể tồn tại cả dạng xõa tóc, tồn tại trên cả cán dao găm Đông Sơn, tượng & họa tiết Điền Việt. Trước đây, trong các thời kỳ Lý Trần, dân cư Việt cũng khá ưa thích dạng xõa tóc như vậy này.

Untitledba

Không những cắt ngắn, xõa tóc, mà cả trên tượng Đông Sơn & họa tiết trống đồng Điền Việt, đều trổ tài một kiểu tóc uốn cụp rất hiện đại:

Untitledvbab

tóc ngắn.png

Để tóc dài & thả tóc cũng có thể là một kiểu tóc của phụ nữ Việt thời kỳ Hùng Vương với hình họa được khắc trên thạp đồng Hợp Minh:

Untiatled

◊ Tết tóc & vấn tóc quanh đầu: 

Trên tượng cán dao găm Đông Sơn cũng trổ tài hình ảnh nữ giới tết tóc & vấn tóc quanh đầu, tương đương kiểu quấn tóc của người Bố Y ở hình dưới.

Kiểu tết tóc trên tượng Đông Sơn & của người Bố Y. 

Kiểu vấn tóc này khá tương đồng với tranh phục dựng của blog Daiyevon.

5_zpse0d37be9 (2)

◊ Dạng búi thấp phía sau đầu: 

unzvtitled (1)Dạng búi thấp phía sau đầu trên tượng đồng Đông Sơn. 

Nguồn: Gary Todd.

búi tóc lỡ

Vài đánh giá về trang phục thời kỳ Hùng Vương

Qua khảo cứu cụ thể, chúng tôi có vài lời cần trình bày với độc giả về cục diện văn hóa thời kỳ Hùng Vương thông qua trang phục.

Văn hóa tộc Việt là rất phong phú, mỗi vùng lại có sự độc đáo khẳng định trong phong tục, ngoài những đặc điểm giống nhau, thì mỗi vùng lại có nét đặc thù riêng, có thể nói đây là thực trạng “đại đồng tiểu dị”, phong phú trong hợp nhất của văn hóa tộc Việt. Văn hóa Đông Sơn lại là nơi chăm chú sự phong phú lớn nhất của tộc Việt, khi đây là vùng đồng bằng, trọng tâm & có điều kiện tiến triển thuận tiện, nên dân cư tộc Việt đã chăm chú di cư về viet nam trong công đoạn cuối của tộc Việt, khi bị người Hoa Hạ xâm lược & chiếm đóng. Qua các nghiên cứu di truyền, khảo cổ & từ ngữ học, tất cả chúng ta có thể thấy được văn hóa thời kỳ Đông Sơn có văn hóa Nam Á chiếm ưu điểm, nắm vai trò chính trong chính trị & tâm linh, các dân cư tộc Việt trở về đều hòa vào mấu chốt Nam Á để tạo dựng dần dần người Việt. Cho nên qua đây tất cả chúng ta cũng xác nhận được nền tảng về trang phục chính trong thời kỳ Đông Sơn là của dòng Nam Á, có tính triết lý cao & hợp nhất mạnh. 

Trong cục diện đó, văn hóa thời kỳ Đông Sơn đã trổ tài sự phong phú trong hợp nhất. Trang phục chung & căn bản của tộc Việt là trang phục áo váy quấn tả nhậm, áo váy hai tà, áo choàng lông chim – lông ngỗng, áo choàng vải… Đặc thù tóc cũng được trổ tài rõ qua phong thái búi tóc & cắt tóc ngắn. Này là sự hợp nhất, còn sự phong phú được trổ tài rõ nhất qua những chiếc mũ mà chúng tôi đã tìm kiếm trên các cổ vật & đối chiếu với các dân tộc, mỗi vùng Việt có thể lại có một kiểu mũ đặc thù của mình, bên cạnh các kiểu tóc & trang phục đặc thù chung của tộc Việt. 

Khi phục dựng, các họa sĩ hãy chăm chú vào các loại mũ từ phần 4.1 tới 4.7, đây là các dạng mũ có thể là của dòng Nam Á, chủ chốt của người Việt thời kỳ Đông Sơn. Phần trang phục cần dựa trên cổ vật & tư liệu mà chúng tôi đã tìm lại ở trên, cùng với này là xem qua trang phục các dân tộc để tìm thấy kiểu dáng gần chuẩn xác nhất của trang phục thời Hùng Vương.

PHẦN III: CÁC PHỤ KIỆN, VẬT DỤNG PHỤC DỰNG CÙNG TRANG PHỤC

I. Trang sức & phụ kiện đi cùng trang phục: 

1. Găng tay, bao chân đồng: 

– Loại găng tay giành cho chiến binh:

– Bao chân giành cho chiến binh hoặc hoạt động tâm linh:

– Găng tay giành cho hoạt động tâm linh:

2. Những chiếc vòng tay, trang sức: 

Bên cạnh loại vòng tay bằng đồng, thì quý tộc nữ có thể đeo thêm những chiếc vòng tay được xâu chuỗi từ những hạt ngọc, thủy tinh, cũng khá đẹp & trang trọng. (Về màu sắc & kiểu dáng của các loại hạt ngọc, thủy tinh, xin mời xem ở phần vòng cổ ở phía dưới)

Vòng tay bằng ngọc thời văn hóa Đông Sơn. [Nguồn: Bảo tàng Lịch Sử Quốc Gia (2015). Văn hóa Đông Sơn – Sưu tập hiện vật Bảo tàng Lịch sử quốc gia. NXB Văn hóa dân tộc.]

ưvgwqv[Nguồn: Trịnh Quang Vũ, 2007, Lịch sử trang phục các triều đại phong kiến Việt Nam. NXB Văn hóa Thông tin]

Quý tộc nữ có thể đeo tới 3-4 chiếc vòng tay ở một bên tay, điều này được trổ tài khá rõ ràng và cụ thể trên tượng đồng Đông Sơn & tượng đồng Điền Việt:

3. Vòng (kiềng) bằng đồng: 

Vòng (kiềng) cũng là một loại trang sức rực rỡ của người Việt xưa, dạng vòng kiềng này hay được dùng cho nữ giới.

111038210 (1)

4. Xà tích đeo cổ: 

– Những chiếc xà tích được người Việt thời trung đại ưa chuộng sử dụng, thời kỳ Đông Sơn cũng có tồn tại các loại xà tích với nhiều hình dáng khác nhau, tất cả chúng ta có thể đem chúng phục dựng cùng trang phục, rất đẹp & mới lạ.

Tư liệu & phục dựng của blog Daiyevon. [Nguồn: Trịnh Quang Vũ, 2007, Lịch sử trang phục các triều đại phong kiến Việt Nam. NXB Văn hóa Thông tin]

6. Trâm cài đầu bằng đồng & vàng: 

5. Nhẫn đồng, bạc & vàng:

Nhẫn cũng là trang sức rất thông dụng trong đời sống của người Đông Sơn Lạc Việt.

Tư liệu & phục dựng của blog Daiyevon. [Nguồn: Trịnh Quang Vũ, 2007, Lịch sử trang phục các triều đại phong kiến Việt Nam. NXB Văn hóa Thông tin]

6. Trâm cài đầu bằng đồng & vàng: 

Những chiếc trâm cài đầu cũng là công cụ rất trọng yếu đi cùng với phong tục búi tóc của người Việt. Chủ yếu trâm cài đầu là bằng đồng, nhưng Author Trịnh Quang Vũ cho biết đã tìm ra một chiếc trâm bằng vàng ở Thanh Hóa. Loại trâm này có thể được sử dụng cho quý tộc.

tonghoptram_zps2fbbc6e5

Dân đen có thể sử dụng các loại trâm cài dễ dàng & dễ sản xuất hơn:

Trâm cài đầu dạng dễ dàng cho dân đen. [Nguồn: Nguyễn Việt; Báo Nghệ An]

7. Khuy cài áo cho trang phục nam & nữ giới: 

Trong kiến trúc trang phục thời Hùng Vương, tất cả chúng ta có thể sử dụng những chiếc khuy có kiểu dáng gần hiện đại được tìm ra tại các văn hóa Đồng Đậu cho tới Đông Sơn, với nhiều kiểu dáng khác nhau để phục dựng lại trang phục.

Khởi nguồn từ thời Đồng Đậu, người Việt đã tạo nên chiếc khuy bằng ngọc:

568e7a29-414a-4a91-94ed-9621489b40e2 (1)

Thời Đông Sơn đã hiện ra dạng khuy cài áo bằng đồng với 4 lỗ chống xoay khá hiện đại:

31740018_2064802130201298_6540243423729811456_n-1

8. Các loại vòng cổ giành cho nam & nữ giới quý tộc: 

Cả nam & nữ giới quý tộc đều đeo 3 lớp vòng xếp lớp như chúng tôi đã đề cập trong phần trang phục quý tộc. Các dạng vòng này cũng giống như các hình ảnh dưới đây, chúng tôi cũng sẽ phân phối thêm các dạng hạt chuỗi để họa sĩ có thể tự do tạo nên các vòng có kiểu cách khác nhau:

Cổ vật văn hoá Đông Sơn_45Chuỗi hạt thời văn hóa Đông Sơn với các hạt ngọc, thủy tinh, mã não cực đẹp, các họa sĩ có thể tùy biến dựa theo các hạt được trang trí trên chuỗi hạt này. [Nguồn: Bảo tàng Lịch Sử Quốc Gia (2015). Văn hóa Đông Sơn – Sưu tập hiện vật Bảo tàng Lịch sử quốc gia. NXB Văn hóa dân tộc.]

Các loại vòng mã não, ngọc.
(Nguồn: các cổ vật được chụp tại Bảo tàng lịch sử viet nam.)

IMG_20191012_1608572

Vòng đá đen, vòng ốc trắng & các hạt vòng thời Đông Sơn tìm ra tại Làng Vạc. 

Các loại vòng xưa thời văn hóa Đông Sơn. 
(Ảnh chụp tại bảo tàng cổ vật Hoàng Long)

545_52f62_zps86a40b0f

9. Các dạng khuyên tai cho quý tộc & dân đen:

a. Khuyên tai giành cho quý tộc: 

Quý tộc thời kỳ Hùng Vương có thể đeo những chiếc khuyên tai bằng ngọc, được tìm ra rất thông dụng ở văn hóa Đông Sơn với nhiều kiểu cách, kiểu dáng khác nhau.

Theo ghi nhận ebook khảo cổ, thì ở các văn hóa Đông Sơn cũng tìm ra khuyên tai hai tự thú & ba vấu, bốn vấu: “Khuyên tai hình 4 vấu nhọn thấy ở các xưởng thủ công Đông Sơn như ở Nghĩa Lập, Đồng Đậu, Vĩnh Phú, Hà Bắc, Hải Phòng. … Riêng các loại khuyên tai hai đầu thú ở Nghi Xuân – Hà Tĩnh, bên bờ sông Lam bằng đá, sừng màu đen cùng với một số vũ khí Đông Sơn bằng đồng thau (Văn Tấn – Trịnh Dương 1977). Khuyên tai 3 vấu nhọn tìm thấy ở Làng Vạc (Nghệ An) trong ngôi mộ thời Đông Sơn ở Hà Tĩnh, Quảng Bình. Khuyên tai hình con đỉa hiện nay ở nông thôn Việt Nam người ta vẫn còn đeo.” [Nguồn: Trịnh Quang Vũ, 2007, Lịch sử trang phục các triều đại phong kiến Việt Nam. NXB Văn hóa Thông tin]

Xem Thêm  ICT là gì? Ứng dụng trong ngành IT và mọi lĩnh vực đời sống - tôi tan an

ằccvwafqv
Khuyên tai hai tự thú, khuyên tai 4 vấu, khuyên tai 3 vấn Đông Sơn. [Nguồn: Trịnh Quang Vũ, 2007, Lịch sử trang phục các triều đại phong kiến Việt Nam. NXB Văn hóa Thông tin]

Khuyên tai bằng ngọc thời Đông Sơn & tiền Đông Sơn:
1. Khuyên tai đá xám ; 2. Khuyên tai bốn mấu.

Thời văn hóa Đông Sơn còn tìm ra rất là nhiều khuyên tai hình vành khăn, bên cạnh những chiếc vòng tai tròn bằng đồng. Dạng khuyên tai này có thể được sử dụng cho nhiều tầng lớp & đối tượng, bao gồm cả trẻ con.

Khuyên tai vành khăn bằng ngọc & thủy tinh. [Nguồn: Bảo tàng Lịch Sử Quốc Gia (2015). Văn hóa Đông Sơn – Sưu tập hiện vật Bảo tàng Lịch sử quốc gia. NXB Văn hóa dân tộc.]

Các dạng khuyên tai hình khăn thời Đông Sơn. [Báo mạng VN, Bảo tàng lịch sử Hà Nội, Bảo tàng Hoàng Long]

b. Khuyên tai giành cho dân đen: 

Dân đen có thể sử dụng các loại khuyên tai bằng đồng tròn, dễ dàng cũng giống như các cổ vật dưới đây:

Khuyên tròn thời văn hóa Đông Sơn & khuyên tròn Điền Việt. 

10. Khóa thắt lưng & gài đai lưng giành cho quý tộc & dân đen: 

a. Khóa thắt lưng cho quý tộc nam:

Trong thời văn hóa Đông Sơn, cũng có các dạng thắt lưng được tìm ra thông dụng, các thắt lưng này có thể được sử dụng cho dạng áo váy quấn của quý tộc nam mà chúng tôi tìm lại ở trên. (Riêng chiếc thắt lưng có hai chú chim bồ nông & mặt trời trước nhất có thể sử dụng cho các vị vua Hùng, do sự độc đáo của nó với phần sót lại)

b. Gài đai lưng cho trang phục dạng váy thụng:

Ngoài những chiếc khóa thắt lưng có thể giành cho các cấp bậc trên, thì có thể có cả những chiếc gài đai lưng đi cùng với dây quấn vải để buộc quanh thân mình. Dạng gài đai lưng này chúng tôi cho là giành riêng cho cánh mày râu, do nữ giới thường sẽ sử dụng cạp váy để cố định thân. Ở viet nam cũng phát hiện nhiều dạng khuy này, đặc biệt có chiếc còn mạ vàng, có thể được sử dụng cho tầng lớp quý tộc.

Khuy thắt lưng đồng của văn hóa Điền Việt cùng cách dùng. 

Khuy thắt lưng đồng mạ vàng & khuy thắt lưng đồng trong thực tiễn. [Bảo tàng Hoàng Long]

II. Phụ kiện phục dựng cùng trang phục: 

1. Rìu Việt: 

– Một điều rất trọng yếu khi phục dựng trang phục thủ lĩnh nam, này là cần phục dựng kèm với những chiếc rìu Việt, này là vật biểu quyền lực trọng yếu của người Việt từ thời đồ đá cho tới cuối thời Đông Sơn.

Thủ lĩnh Việt cầm rìu được khắc họa trên trống đồng, & trong thời Lương Chử. 

Barbier-Mueller (20)

Các dạng rìu đồng sử dụng cho các quý tộc bậc cao. 

2-2

Về cách tra cán, tất cả chúng ta có thể xem qua các hình họa trên trống đồng Đông Sơn, được trổ tài khá rõ các cách tra cán, trong hình trên tất cả chúng ta có thể thấy được nhiều kiểu cách tra cán, căn bản đặc biệt là cán thẳng, rìu được tra trực tiếp vào cán, phía trên có thể trang trí thêm lông chim, với rìu lưỡi hài thì lưỡi nhọn được hướng lên trên.

rìu 1Các cách tra cán rìu cũng như sử dụng rìu trên các trống đồng Đông Sơn. [Nguồn: Nguyễn Văn Huyên, Những trống đồng Đông Sơn phát hiện ở Việt Nam]

Về trang trí & màu sắc cán, tất cả chúng ta có thể xem qua cán sơn then với hai màu sắc căn bản là đỏ & đen cũng giống như của người Điền Việt, kỹ thuật sơn then của tộc Việt đã có từ lâu tại vùng Động Đình, Dương Tử, sau đó các thời sau vẫn tiếp tục kế thừa kỹ thuật sơn then này. Theo thông tin chúng tôi thu được từ nhà khảo cổ Nguyễn Việt, thì ở viet nam cũng có dạng gỗ sơn then được tìm ra tại các mộ Việt Khê, Châu Can, Yên Bắc…, do vậy tất cả chúng ta có thể xem qua hình dáng, màu sắc & cách trang trí của người Điền Việt để phục dựng lại hình mẫu rìu trong thời Hùng Vương.

Chiếc cán rìu đồng phía dưới tương đồng hoàn toàn với các hoa văn đặc thù của văn hóa Đông Sơn, cách đúc & trang trí rìu đồng này tất cả chúng ta có thể sử dụng trực tiếp trong phục dựng trang phục thời kỳ Hùng Vương.

9965026983_e2dc542cba_c

rìu Điền Việt
Rìu cán gỗ sơn then của văn hóa Điền Việt. [Nguồn: dẫn]

Bên cạnh rìu đồng, thì người Điền Việt còn giúp cán gỗ sơn then cho nhiều đồ dùng khác, tất cả chúng ta có thể xem qua cách trang trí của họ, sử dụng thêm các họa tiết Đông Sơn để trang trí.

Các đồ dùng có cán gỗ sơn then được tìm ra tại nghĩa trang Yangfutou (Dương Phú Đầu), Côn Minh, Vân Nam, Trung Quốc, thuộc văn hóa Điền Việt. [Nguồn: Rui Mu, 2014, Conservation of Western Han dynasty bronze excavated from Yangfutou, Kunming, China; Kiều Quang Chẩn]

2. Dao găm: 

Dao găm là vật hộ thân rất trọng yếu trong đời sống của người Việt, có thể mỗi người trưởng thành đều có một chiếc dao găm găm bên thân mình.

Những chiếc dao găm thường đi cùng với bao đồng để dắt bên thân mình:

[Nguồn ảnh: BST Kiều Quang Chẩn]

3. Kiếm dài: 

Dạng kiếm dài cũng được sử dụng trong đại chiến bảo vệ cương vực. Kiếm dài thời Đông Sơn rất cầu kỳ & phong phú kiểu cách, tương đương những chiếc kiếm ở hai ảnh dưới. Tất cả chúng ta có thể sử dụng chúng để phục dựng cùng trang phục của tướng lĩnh & binh sĩ. Các loại hình kiếm thời Đông Sơn rất phong phú kiểu cách, có thể bằng cả hai vật liệu đồng & sắt.

Các dạng kiếm Đông Sơn [Ảnh 1, Ảnh 2, Ảnh 3: Bảo tàng cổ vật Hoàng Long, Ảnh 4: Martin Doustar] 

Các loại hình kiếm đồng & kiếm sắt trên có thể được sử dụng cùng với những chiếc bao gỗ sơn then cũng giống như cổ vật phía dưới của văn hóa Điền Việt.

9964958796_7572e61820_c (1)

4. Gùi tre: 

– Phụ kiện của nông dân, có thể kể tới những chiếc gùi bằng mây tre đan rất thông dụng trong các dân tộc anh em của các bạn. Đây có thể nói là một loại “phụ kiện” rất đặc thù, có nhiều công dụng, đồng hành mật thiết với đời sống hằng ngày, nên tất cả chúng ta có thể sử dụng nó cho phục dựng trang phục thời kỳ Hùng Vương, nhất là cho những người phụ nữ nông dân Việt.

Gùi Tây Nguyên; Gùi Thái; Gùi Mường

Trong văn hóa Điền Việt, chiếc gùi cũng hiện ra trên những pho tượng trên trống đồng, với cùng một phong cách dùng dây vải đội lên đầu để đỡ chiếc gùi như các dân tộc viet nam ngày nay.

v2-b35ef31354f54a6376f7a5b5e09d798d_r

PHẦN IV: KHẢO CỨU VỀ HOA VĂN, KỸ THUẬT DỆT VÀ MAY TRANG PHỤC

I. Hoạ tiết trang trí trên trang phục & khăn:

1. Các loại họa tiết trang trí: 

– Tất cả chúng ta có thể sử dụng những hoạ tiết của các nền văn hoá từ Phùng Nguyên, Đông Sơn để đem lên trang phục thời Hùng Vương, các dạng họa tiết này đồng hành rất mật thiết với các hoạt động của người Việt, trổ tài trên đồ đồng, đồ gốm & cả trong đời sống thường ngày. Các dân tộc cũng sử dụng rất thông dụng những motif họa tiết như vậy này trong trang phục của mình.

Các họa tiết mà chúng tôi dẫn dưới đây được thống kê trong khảo cứu về kỹ thuật dệt ikat, những họa tiết này có liên hệ trực tiếp với may mặc & kỹ thuật dệt, do vậy tất cả chúng ta tuyệt đối có thể đem toàn bộ những họa tiết này lên trang phục, với sự đổi khác thích hợp.

Geometric-motifs-from-cast-bronze-drums-from-the-Dong-Son-culture

Các dạng họa tiết trên đồ gốm & đồ đồng Đông Sơn & tiền Đông Sơn. [Sách Hoa Văn Việt Nam – Nguyễn Du Chi]

– Nhân loại & mặt trời: mặt trời có ý nghĩa tâm linh hết sức trọng yếu so với người Việt, dấu hiệu rõ ràng và cụ thể đặc biệt là những tia mặt trời được trình diễn ngay tâm trống đồng, hình mẫu này tuyệt đối có thể đem vào trình diễn nơi trang phục, như một hình ảnh chính tâm, bên cạnh những hoạ tiết hình học lặp lại ở phía chung quanh. Số cánh của mặt trời có thể dao động theo số chẵn từ 8-18 cánh, không trọng yếu số lượng.

các ngôi sao
288 (1)
ác

– Rồng & Phượng, hai biểu tượng trọng yếu của người Việt, được khắc họa trên nhiều miếng ngọc của văn hóa Thạch Gia Hà cũng có thể được mang lên trang phục. Dạng họa tiết này có thể được sử dụng riêng giành cho tầng lớp hoàng gia & quý tộc thượng hạng, bởi đây là các biểu trưng rất trọng yếu, đưa ý nghĩa lớn, & có tính quyền lực.

Bên cạnh loài hình ngọc Phượng Hoàng ở trên, tất cả chúng ta cũng có thể sử dụng hậu duệ của ngọc Phượng Hoàng thời Thạch Gia Hà là loại hình chim Lạc, hay chim Tiên, các văn hóa thời kỳ đồ đồng có sự đổi khác thân hình chim Phượng Hoàng theo hướng thân dài, chân dài, mỏ dài, sự biến đổi được tìm ra trên cả văn hóa tộc Việt & văn hóa Hoa Hạ. Loài chim Lạc, hay chim Tiên là hậu duệ của loài chim được khắc họa trên ngọc như trên, nó hiện ra rất thông dụng trên trống đồng. Tất cả chúng ta có thể sử dụng chúng để đem lên trang phục, nhưng vì tính trọng yếu, nên chỉ có thể sử dụng cho các trang phục của quý tộc.

cc3b2 (1)Chim Lạc hay chim Tiên được khắc họa trên trống đồng Đông Sơn. [Nguồn: Nguyễn Văn Huyên, Những trống đồng Đông Sơn phát hiện ở Việt Nam]

– Tới thời kỳ đồ đồng, thì Rồng cũng thay đổi về kiểu dáng, với nhiều kiểu khắc họa khác nhau, khởi đầu có chân & móng, rồng trong thời kỳ đồ đồng có vị trí kém trọng yếu hơn đối với chim Lạc, khi chúng hiện ra khá hiếm có trên các mặt trống đồng. Tất cả chúng ta cũng có thể sử dụng những hình mẫu này để đem lên trang phục, ngoài ra cần cải biến cho thanh thoát & phù phù hợp với trang phục hơn.

ds1008dongvata

– Các loại chim từng tồn tại trong đời sống trí não & tâm linh của người Việt cũng có thể được khắc họa trên trang phục. Có thể xem qua những hoạ tiết chim được khắc hoạ trên trống đồng, nhưng cần phải “dày công” hơn một tí: “thổi hồn” vào những chú chim đó, cho thật & sinh động hơn, bởi hoạ tiết trên trống đồng đã được lắng đọng & tối giản, tuy chúng vẫn có tính văn nghệ nhưng nếu đem ứng dụng trực tiếp vào trang phục chúng tôi cho là sẽ không thực sự thích hợp lắm.

– Những chú hươu cũng là một đề xuất rất thú vị để đem lên trang phục, bởi những chú hươu được gắn với hình ảnh của Mẹ Âu Cơ, cùng với các loài chim.

Ảnh hươu trên trống đồng Đông Sơn;
Hình ảnh hươu sao, biểu trưng cho Mẹ Ngu Cơ của người Mường. [Nguyễn Xuân Quang]

–  Các loài cá, các sinh vật phong phú khác nhau được khắc họa trên đồ đồng, đồ gốm từ thời Phùng Nguyên tới Đông Sơn cũng là đề xuất thú vị có thể đem khắc họa lên trang phục.

– Tất cả chúng ta cũng tuyệt đối có thể mang hình ảnh những con thuyền trên trống đồng lên trang phục, nhưng cần cải biến để nó thích hợp hơn cho việc may mặc, thích hợp hơn với trang phục nói chung, bởi thuyền là đặc thù rất riêng của người viet nam Á, đặc điểm của họ là đi thuyền, đánh trận bằng thuyền rất tài giỏi, đây có thể kể ra như một đặc thù tách biệt của người viet nam nhóm Nam Á.

– Hoạ tiết chữ S cùng với vòng tròn đồng tâm là các hoa văn trọng yếu so với người Việt, có nguồn gốc từ ranh giới đường thái cực cũng như đĩa bích Đông Sơn, tất cả chúng ta có thể sử dụng các kiểu đổi khác của họa tiết đồng tâm để mang lên trang phục.

ac

Họa tiết chữ S các biến thể đóng vai trò rất trọng yếu trong trang phục của người Đồng. [Nguồn: dẫn]

– Xoáy âm dương cùng hình mẫu người nổi tiếng tám cánh, gốc của hình ảnh tia mặt trời trên trống đồng thời văn hoá Đông Sơn, tuyệt đối có thể mang lên trang phục của người Việt. Bởi vốn người Việt có gốc văn hoá là lưỡng hợp âm-dương, Tiên – Rồng.

h1-1

– Họa tiết hình sóng nước được trổ tài trên trống đồng Đông Sơn, với dạng họa tiết thực tiễn được hình mẫu trên trang phục của người Dao Tiền, cũng là một đề xuất rất thú vị để tất cả chúng ta tạo hoạ tiết để đem chúng lên trang phục thời kỳ Hùng Vương, bởi nhóm Nam Á của người Việt có đời sống nối liền với sông nước, bên cạnh thuyền, rồng, thì sóng nước cũng có thể trổ tài dấu hiệu đó rất rực rỡ. 

nguoi-dao-tien1

2. Cách sắp đặt các loại họa tiết: 

a. So với trang phục của cánh mày râu: 

Trang phục áo váy quấn của cánh mày râu có thể khá dễ dàng, với các hoa văn được sắp đặt dọc rìa váy, & cả ở phần chân váy. Ở giữa áo có thể được trình diễn các hình họa mặt trời, Rồng – Phượng.

Cách sắp đặt họa tiết dọc rìa váy & đáy váy trên trang phục trên chiếc áo váy quấn giành cho nam của người Điền Việt, ở giai đoạn này là dạng họa tiết chữ S ở phần rìa váy.

b. So với trang phục của nữ giới:

◊ Cách sắp đặt căn bản nhất: 

avn

– Sắp xếp họa tiết hình học dưới đáy váy, rìa váy & đáy cổ tay: 

Dạng sắp đặt họa tiết này, ở phía dưới váy, là các hình họa tiết hình học lặp lại, với độ dài ngắn khác nhau tuỳ thẩm mỹ của người kiến trúc. Ở các lớp áo khác nhau, có thể kiến trúc các dạng họa tiết khác nhau, kích cỡ dài ngắn khác nhau, tương đương dường như dưới đây. Với họa tiết tại đáy cánh tay có thể dễ dàng & tinh tế hơn.

70057_276_175
phu nu dao tien hoa tham

Dạng họa tiết được sắp đặt theo cách hai đường thẳng cùng lúc dọc váy, còn bên trong được sắp đặt họa tiết hình học lặp lại, so với cả đáy váy & ống tay.

Với dạng sắp đặt họa tiết này, tất cả chúng ta có thể sử dụng những họa tiết hình học Đông Sơn ở phía trên, cùng những đường thẳng, đường tròn, cũng như tự mình sáng kiến thêm một tí dựa theo cấu tạo căn bản đó (cần phải xem qua trang phục của các dân tộc khác). Chúng tôi cho rằng những họa tiết trên trống đồng Đông Sơn dưới đây là rất thích hợp để có thể sắp đặt theo cách như vậy này.

geometric-motifs-from-cast-bronze-drums-from-the-dong-son-culture2

Trên tượng đồng Điền Việt cũng trổ tài khá rõ ràng và cụ thể cách sắp đặt họa tiết dọc rìa áo & ở chân váy. Dạng sắp đặt đó là căn bản & sử dụng cho cả nam & nữ giới.

vav

– Các họa tiết trọng yếu như mặt trời, rồng – phượng, người nổi tiếng 8 cánh có thể được trổ tài trong trọng tâm của trang phục.

paiwan

Hoạ tiết trang trí xuôi theo vạt khuy áo. Các dân tộc ngày nay hầu hết đều đã chuyển sang dạng hữu nhậm, cài áo bên phải, còn truyền thống của người Việt là cài áo bên trái, theo hướng trái lại, các họa tiết được trang trí xuôi theo vạt áo gần đoạn khuy. Dạng trang trí này cũng sử dụng cho cả loại khuy áo ở giữa.

Da9Coi9V4AAP7dH

◊ Cách sắp đặt họa tiết xếp lớp: 

Ngoài dạng sắp đặt họa tiết dễ dàng, dễ may mặc như trên, chúng tôi nhận ra còn tồn tại thể có dạng sắp đặt họa tiết có độ cầu kỳ cao hơn, với họa tiết được xếp lớp dọc thân váy. Trên pho tượng cán dao găm có trổ tài khá rõ dấu hiệu này, với áo được sắp đặt các họa tiết xếp lớp, chân váy cũng thế, cũng được sắp đặt thành các lớp họa tiết.

45954283_1385840424886654_838582112457064448_o

Dạng kiến trúc họa tiết này cũng được trổ tài khá rõ trên tượng gỗ Điền Việt.

qimuguizuonv_57363642

Cách sắp đặt, xếp lớp họa tiết này khá giống với áo váy của người Lê:

unnamed-4 (3)

Trên một pho tượng gỗ Điền Việt khác cũng trổ tài dạng áo váy quấn với họa tiết & màu sắc hợp nhất từ trên áo tới váy, chứ không chia thành hai màu sắc như các dân tộc Mường, Thái, dạng màu sắc & họa tiết này tương đồng với người Lê. Họa tiết được trổ tài rực rỡ & dày hơn ở phần chân váy, trên áo trổ tài một hệ thống họa tiết dễ dàng, tinh tế hơn.

003szKb0zy6OC6P52zM7a&690

Ở đoạn giữa chân váy có thể kiến trúc thêm các hoa văn mặt trời, Rồng Phượng như chúng tôi đã tìm lại ở phía trên.

Cách sắp đặt này có thể không thông dụng, do tính cầu kỳ trong may mặc của dạng trang phục này sẽ không thích hợp cho trang phục của chủ yếu cư dân, nhất là người dân Việt ở vùng đồng bằng, dân số đông cũng như cần biến đổi trang phục nhiều. Cho nên dạng trang phục có họa tiết sắp đặt cầu kỳ như vậy này có thể sử dụng cho quý tộc nữ. 

3. Các loại họa tiết trong thực tiễn may mặc: 

Chúng tôi sẽ thử tìm lại các loại họa tiết trong thực tiễn may mặc để thuận lợi hơn cho việc phục dựng của các họa sĩ. Từ những minh họa căn bản này, tất cả chúng ta sẽ thấy được trong thực tiễn, họa tiết trên trống đồng, đồ gốm đều có thể được khắc họa trên trang phục. Căn bản những hoa văn chúng tôi đặt ra ở trên có thể đem trực tiếp lên trang phục, so với những họa tiết chim, người… thì cần phải dựa trên cách khắc họa trên thổ cẩm mà chúng tôi đã tìm lại ở phía dưới để khắc họa.

Các lớp chính có họa tiết xếp liền nhau có thể cách nhau bằng những dải trống, không có họa tiết, hoặc dải chấm, dải tròn… Cần sắp đặt các dải họa tiết cho hài hòa & phù hợp.

Các dạng họa tiết được hình mẫu hóa từ các vật thực tiễn của các dân tộc Mường, Thái, Hmong tất cả chúng ta cũng có thể xem qua & sử dụng vào trang phục của mình.

– Họa tiết mặt trời cùng dải họa tiết tam giác:

OLYMPUS DIGITAL CAMERA

– Người nổi tiếng 8 cánh cùng với kết hợp các dải họa tiết trong cùng một khối trên thổ cẩm của người Tây Nguyên. Cách sắp đặt họa tiết này tất cả chúng ta có thể học được, mang trực tiếp lên trang phục của người Việt do những hoa văn là căn bản tương đồng với hoa văn của người Việt:

nganvancuong_lichsuvanhoathai42

– Họa tiết hình người trên thổ cẩm Tây Nguyên:

2212201410200980KPVN35

– Họa tiết hình các sinh vật trên thổ cẩm Tây Nguyên:

22122014102006629KPVN16

– Họa tiết hình chim & người trên thổ cẩm người Tày:

bce29e365f1474c2a5cc602e6c9a9cb4

Chim trổ tài trên thổ cẩm của người Hmong:

11427719_455916317911799_1915396123256804945_n2

– Họa tiết giải tam giác xếp lớp:

458410522

– Dải họa tiết tứ giác nối tiếp & xoắn thừng:

unnamed (32)2

– Họa tiết tứ giác & các dạng họa tiết tương đồng trên thổ cẩm của người Tây Nguyên:

22122014102008789KPVN28

– Họa tiết dải vuông trên thổ cẩm Tây Nguyên:

hoa-tiet-tren-trang-phuc-cua-nguoi-dan-toc-5

– Họa tiết chữ S xoắn tròn cùng với dải họa tiết tam giác & họa tiết hoa hòe trên trang phục Hmong:

unnamed (34)22

II. Khảo cứu về các kỹ thuật dệt, nhuộm & may trang phục:

Dệt vải đóng một vai trò rất trọng yếu trong đời sống của người Việt xưa, nó là một ngành tách biệt, yêu cầu một lượng lớn nhân lực, nguồn lương thực dồi dào do tiến triển nông nghiệp cho phép dân cư Việt thời kỳ đó có đủ & dư nhân lực để có thể dệt vải, cũng như cho các nghề thủ công & công nghiệp khác như đúc đồng, làm gốm… Ngành dệt vải thường được giành riêng cho nữ giới, bởi tính cầu kỳ, cầu kỳ, yêu cầu sự kiên trì & khéo léo của người dệt vải. Các giai đoạn của ngành dệt khá lâu & cầu kỳ, nên có thể các trang phục của người Việt xưa được dệt & nhuộm dễ dàng để giành cho chủ yếu cư dân, những họa tiết yêu cầu các giai đoạn cầu kỳ hơn chỉ giành cho bậc quý tộc.

1. Trồng cây, nuôi tằm & khai thác sợi: 

Bước đầu của kỹ thuật dệt may xuất phát điểm từ chỗ trồng cây, nuôi tằm & khai thác sợi.

– So với sợi lanh & các loài sợi có nguồn gốc cây trồng, thì người dân trồng, khai thác, phơi, sau đó tước cây lanh thành các sợi đều nhau.

– So với sợi tơ tằm, thì người dân trồng cây dâu tằm, nuôi tằm, để tằm thả tơ, kết kén, khoảng 1 tháng sau thời điểm nuôi tằm, người dân thu hoạch kén, luộc kén, kéo sợi tơ từ kén tằm, thành sợi tơ tằm.

Đây là bắt đầu cho tiến trình dệt vải, tiến trình trồng cây, nuôi tằm, khai thác sợi yêu cầu rất là nhiều thời gian, ngoài ra nó cũng chỉ là một phần của tiến trình dệt vải yêu cầu nhiều kỹ thuật cũng như sự công phu, tỉ mẩn trong từng giai đoạn.

2. Xe sợi: 

Bước kế đến của tiến trình dệt vải là xe sợi, trong thời Phùng Nguyên, thì rất thông dụng kỹ thuật xe sợi bằng dọi đất nung. Sợi được khai thác từ cây trồng & tơ tằm được xe thành sợi với kỹ thuật như hình minh họa phía dưới.

Minh họa kỹ thuật xe sợi bằng dọi đất nung của người châu Âu & địa phương châu Mỹ.

Kỹ thuật xe sợi tới thời Đông Sơn có thể tiến triển hơn, thành guồng xe sợi & quay tơ (xa), cũng giống như người Mường dưới đây, để có thể xe sợi thành sợi vải, chuẩn bị cho công đoạn dệt vải.

unnamed (73)

Sợi sau đó được kéo để mang vào khung cửi.

Không những thế một số ít sợi sẽ được xe vào con thoi, để chuẩn bị cho giai đoạn dệt bằng khung cửi.

xa-quay-soi-xa-khut

3. Các kiểu khung dệt: 

Khung dệt có hai kiểu cách khác nhau: khung rời & khung cửi, nối liền với các công đoạn lịch sử, khung rời được sử dụng từ thời đá mới, tới thời đồ đồng khoảng hơn 2300 năm ngoái, thì khởi đầu hiện ra khung cửi cùng con thoi. Kiểu dệt bằng khung rời được sử dụng thông dụng trong thời đá mới, & vẫn được tiếp tục sử dụng trong thời đồ đồng & đồ sắt.

a. Dệt bằng khung rời: 

So với hình ảnh dệt bằng khung rời, thì nó được được trổ tài rất rõ trên tượng đồng Điền Việt, với hình ảnh nữ giới ngồi bệt để dệt vải trên khung rời, người Tây Nguyên cũng có kỹ thuật cũng giống như vậy, đây là kỹ thuật sơ khai & dễ dàng nhất, được sử dụng có thể thông dụng trong công đoạn khoảng 4000 năm ngoái đây.

Mẹo dệt vải thủ công của người Điền Việt & người Tây Nguyên. 

20180621131954506

Cụ thể hơn về chiếc khung rời của người Tây Nguyên: “Người phụ nữ Jrai và Bahnar không dệt trên khung cửi cố định. Công cụ dệt của họ chỉ là những bộ phận rời đơn giản mà đa số tham gia vào việc giăng sợi thành một thảm dọc trước mặt người dệt, để người này ngồi một chỗ mà đan chỉ ngang qua thảm dọc kia. Một khi sợi đã được đan thành thảm dọc, với sự tham gia của các bộ phận rời ở trên thì tổng thể ấy được thấy như một khung dệt rõ nét nhất. Khi dệt bắt buộc họ phải ngồi trên nền đất hoặc nền nhà, hai chân duỗi thẳng đạp lên một thanh gỗ nằm ngang để căng mặt sợi trên khung dệt, tất cả các đầu khung dệt được cột vào chỗ chắc chắn như cột nhà, hoặc gốc cây, khi dệt người phụ nữ dùng chân và lưng của mình để căng dàn sợi.” [Nguồn]

Về phương pháp dệt bằng khung rời, độc giả có thể xem ở giai đoạn này.

b. Dệt bằng khung cửi: 

Ebook khảo cổ cho thấy tới thời kỳ Đông Sơn, người Việt đã chuyển sang dệt bằng bí quyết con thoi với khung cửi:

“Trong ngôi mộ cổ Việt Khê ở Thủy Nguyên – Hải Phòng khai quật năm 1958, và khu ngôi mộ ở xã Châu Can, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Sơn Bình (Hà Tây cũ) khai quật năm 1974 đã thu thập được nhiều loại vải khác nhau. Khu mộ ở Châu Can đã tìm được những mảnh vải của trang phục, nhiều nhất là ngôi mộ số 3 và số 6. Nhận xét bước đầu: “Những mảnh vải sợi không được se lại mà để nguyên sợ tự nhiên, sợi dọc thưa hơn sợi ngang và cách đều khoảng 2mm, sợi ngang bé hơn đượt dệt dày xít nhau đều đặn”. Có những mảnh vải có đường mép dọc & ngang, điều này chứng tỏ sợi vải được dệt vòng đi vòng lại. Theo quan niệm của kĩ sư phòng kĩ năng dệt thuộc nhà xưởng dệt kim Đông Xuân thì đây là chất liệu vải sợi đay hay gai, sợi dọc to & thưa hơn sợi ngang nhưng rất đều.

Chiều ngang & chiều đọc vải đều có đường biên, khổ vải hẹp, có thể vải được dệt bằng bí quyết con thoi với khung cửi. Khi nói về thời đại kim khí, F. Ăng-ghen đánh giá: “Thành tựu thứ nhất là khung dệt vải, thành tựu thứ hai là việc nấu quặng và chế tác đồ kim loại”, vậy từ những mảnh vải, lụa & kĩ năng dệt ở khu mộ Châu Can đã chứng tỏ trình độ văn minh tiến triển ở thời Hùng Vương.” [7]

Khung cửi là một bước tôn tạo to hơn nhiều đối với kỹ thuật dệt bằng khung rời, các dân tộc gần với người Việt hơn như là Mường, Thái, Tày, Hmong đều đã chuyển sang dệt bằng khung cửi lớn & cố định, bằng các loại gỗ có độ bền cao. Loại khung cửi này đi cùng với con thoi được xe lại bằng dụng cụ như chúng tôi đã đề cập tới ở trên.

unnamed (72)

4. Dệt nhuộm & may thêu trang phục: 

Theo ebook khảo cổ, thì người Việt thời kỳ Hùng Vương dệt vải sử dụng công thức nhuộm sợi rồi mới dệt, chứ chưa nhuộm trực tiếp cả tấm vải sau dệt.

“Những màu sắc này được tạo ra bằng cách nhuộm sợi (chứ chưa phải nhuộm cả tấm vải). Các sợi màu khác nhau được đưa vào khung dệt để tạo hình trang trí trên tấm vải theo nguyên tắc trang trí của nghệ thuật đan lát mây tre.” [Nguồn]

Cho nên các kỹ thuật chính của thời kỳ Đông Sơn bao gồm kỹ thuật dệt sợi nhuộm cũng giống như người Mường, Thái, & kỹ thuật nhuộm ikat như người Dai & các dân tộc Đông Nam Á.

a. Kỹ thuật dệt nhuộm của người Mường, người Thái: 

Với người Mường, người Thái, họ se sợi, sau đó nhuộm trực tiếp những bó sợi vải, họa tiết được tạo nên trong tiến trình dệt vải.

unnamed (74)

Họ sử dụng những loại sợi màu nhuộm sẵn, để dệt thành các loại họa tiết trực tiếp trong tiến trình dệt.

Để hình dung rõ hơn về tiến trình dệt của hai dân tộc Mường, Thái, độc giả có thể tham khảo các video sau: người Mường, người Thái.

b. Kỹ thuật ikat, hay nhuộm bao sợi: 

Ở người Nam Đảo & người Dai cũng tồn tại một dạng dệt sợi dọc, tạo họa tiết ngay trên vải được dàn thành hàng ngang. Kỹ thuật này được các nhà nghiên cứu minh chứng có thể bắt nguồn từ khoảng hơn 4000 năm ngoái, khi người Nam Đảo & người Dai, cũng như người Việt đang còn ở vùng Động Đình, Dương Tử.

Kỹ thuật này xuất phát điểm từ việc xe sợi, sau đó dàn thành dàn sợi đều nhau, cũng giống như hình phía dưới.

The-warp-ikat-process-making-the-resists-Warp-threads-stretched-on-a-frame-with-partly

Họa tiết sẽ được tạo trực tiếp trên vải:

Process of ikat using colour coded plastic cord in Bali

Cuối cùng là tiến trình dệt vải thành tấm, với cả hai kiểu khung rời & khung cửi cố định:

Vải khi đó sẽ được tạo dựng các họa tiết đã được tạo ở phần bao sợi & nhuộm.

Các kỹ thuật dệt nhuộm của các dân tộc là các đề xuất trọng yếu để tất cả chúng ta có thể tìm tòi về kỹ thuật dệt nhuộm của dân tộc Việt xưa kia.

5. Khám phá về kỹ thuật nhuộm vải & màu nhuộm: 

Về kỹ thuật nhuộm vải, thì các ebook khảo cổ cho thấy người Việt thời kỳ Đông Sơn nhuộm sợi, sau đó dệt chứ chưa phải dệt cả tấm, bằng các công thức mà chúng tôi đã đề cập tới ở trên. Những sợi vải sau thời điểm được se sẽ được lấy đi nhuộm màu.

images1672085_7

Về màu nhuộm, thì các màu căn bản tạo thành các bộ trang phục thời Hùng Vương:

– Các ebook khảo cổ: màu ngà tự nhiên, màu xanh chàm, màu nâu gụ, màu vàng nghệ.

– Các ebook dân tộc học: trắng, đen, đỏ, hồng, vàng, nâu, vàng, cam, tím, xanh.

Các loại màu được sử dụng từ các loại cây tự nhiên, được pha với các tỉ lệ khác nhau để có được màu nhuộm như ý. Như thế thì màu nhuộm sẽ rất phong phú, có thể từ tông màu đậm tới nhạt, tùy theo người nhuộm quyết định, có thể thực hiện được qua nhiều lần nhuộm. Chúng tôi sẽ trích dẫn các ebook về cách dệt & các loại cây được sử dụng để nhuộm màu để độc giả hình dung rõ hơn.

– Của người Việt: “Bốn màu cơ bản hiện có bằng chứng trên vải sợi thời dựng nước là: màu ngà tự nhiên không nhuộm, màu chàm nhuộm từ lá cây indigo, màu nâu gụ từ củ nâu và màu vàng nghệ.” [Nguồn]

– Của người Mường: “Sợi dệt thổ cẩm được nhuộm từ các chất liệu có nguồn gốc thiên nhiên: màu đỏ nhuộm từ nước cây bang (tô mộc), màu vàng chế từ hạt quả chung khù, màu xanh lấy từ lá cây mớc… Người Mường sử dụng từ 3 màu hoặc 5 màu cho một tấm thổ cẩm gồm: xanh, đỏ, vàng, trắng, đen.” [Nguồn]

– Của người Cơ Tu: “Người Cơ Tu cho đến nay vẫn còn giữ nhiều bí quyết trong nhuộm màu thổ cẩm. Màu hồng chính là màu được tạo ra từ củ nâu luôn sẵn có trong những cánh rừng. Đồng bào thường chọn những củ lớn nặng đến vài ký. Khi sử dụng, chúng được thái thành lát, bỏ vào nồi nước đang sôi. Với chất liệu này, nếu chỉ nhuộm một lần sẽ có được màu hồng, màu nâu, màu tím. Các màu khác cũng có thể được tạo ra bằng cách kết hợp các chất liệu tạo màu đỏ và đen.” [Nguồn]

– Của người Thái: “Sau khi rửa sạch, các loại lá, rễ cây được cắt nhỏ cho vào nồi đun trong khoảng 10 phút, vừa đủ thời gian để các loại lá, rễ cây ra màu. Tùy vào từng mẫu hoa văn, bà con có từng cách thức pha chế, với tỷ lệ khác nhau để cho ra các màu sắc như đỏ tím, xanh rêu, màu vàng cam, xanh nõn chuối, xanh lá cây,… Tất cả các màu nhuộm đều bằng nguồn nguyên liệu tự nhiên có trong rừng như màu vàng da cam được chiết ra từ rễ xẹt, lá nhãn vôi ra màu xanh nõn chuối, màu nâu từ lá cà phê, màu đỏ từ cánh kiến…. Còn các màu khác phải pha trộn nhiều loại màu với nhau. Đây là bí quyết pha màu của mỗi “nghệ nhân” để có màu tự nhiên như ý.” [Nguồn]

Từ những màu sắc phong phú & căn bản này, các họa sĩ có thể sử dụng, kết hợp để phục dựng trang phục thời kỳ Hùng Vương, tạo thành những bộ trang phục tinh tế & hài hòa nhất.

PHỤ LỤC
Sơ khảo về tục xăm mình

Bên cạnh trang phục, thì tục xăm mình là một đặc thù rất tách biệt của người Việt mà tất cả chúng ta cần chú tâm phục dựng lại. Tục xăm mình của người Việt có sức tác động hết sức rộng rãi khắp vùng Đông Á & Đông Nam Á, phong thái xăm cũng có những nét chung gần nhau. Chúng tôi sẽ dựa trên hai pho tượng được phát hiện giờ Chiết Giang để thử so sánh với các dân tộc còn giữ tục xăm mình, tìm lại cách xăm mình căn bản nhất của người Việt xưa.

Ý nghĩa của tục xăm mình: 

Xăm mình có một ý nghĩa tâm linh đặc biệt với người Việt, cùng với việc xăm mình hình rồng & hóa trang thành chim, nằm trong cục diện văn hóa lưỡng hợp Tiên – Rồng, mấu chốt của văn hóa Việt thượng cổ. Tục xăm mình được tiến hành  khi giới trẻ tới tuổi trưởng thành, này là một nghi thức cao quý, chứ không như ngày nay tất cả chúng ta nhìn nhận.

Mẹo xăm mình: 

Mẹo xăm mình được trổ tài khá rõ ràng và cụ thể trên các pho tượng người xăm mình phát hiện giờ Chiết Giang, đất xưa của người Lạc Việt.

– Xăm mình họa tiết hình học, dạng khối vuông dọc cánh tay, tới gần 1/4 ngực.

– Ở giữa bụng xăm hình đầu rồng, với xoáy tròn có ý nghĩa khí âm dương quy tụ. Đây mới chính là xăm hình rồng chứ không phải dạng rồng ngày nay tất cả chúng ta vẫn thấy.

Các dân tộc tuy đã biến thể & biến đổi hơi nhiều, nhưng cũng có cách sắp đặt họa tiết gần tương đồng như vậy. Bước này chúng tôi sẽ dẫn ra cách xăm mình ở người Kalinga & Paiwan để xem qua, còn khi phục dựng, tất cả chúng ta cần dựa trên những pho tượng Chiết Giang, đây là nền tảng chính & trọng yếu để dựng lại cách chuẩn xác nhất cách xăm mình thượng cổ của người Việt.

Kiểu xăm mình dọc cánh tay tới 1/4 ngực này ở các dân tộc Kalinga & Paiwan.

Cách xăm mình của người Kalinga, Paiwan & các dân tộc Nam Đảo chính yếu là những hoa văn hình học, dải họa tiết sắp đặt cùng lúc với nhau, cũng giống như họa tiết trên trống đồng của người Việt. Dạng họa tiết được sắp đặt theo hình chữ nhật, cả ở họa tiết dọc tay & họa tiết trên ngực, kiểu sắp đặt này giống với người Paiwan hơn là người Phillipines.

Như thế tất cả chúng ta có thể dựa trên cách xăm mình trên các pho tượng Chiết Giang & phần nào này là các dân tộc Nam Đảo để phục dựng lại tục xăm mình thượng cổ của người Việt.

Còn về công cụ & bí quyết xăm mình thì sao?

Mẹo xăm mình tất cả chúng ta có thể xem qua cách xăm mình của người Paiwan như dưới đây, các dân tộc vùng Đông Nam Á cũng có cách xăm mình tương đương, với những chiếc que có gắn kim để gõ vào da thịt, tạo hình xăm.

23244088_1904765969552139_849336850135785402_n-e1518634170798

PHỤ LỤC: CÁC VẤN ĐỀ CẦN LÀM RÕ

Θ Trang phục nhà Sở & văn hóa Điền Việt

Việc chúng tôi xem qua các pho tượng & họa tiết trống đồng Điền Việt có vướng phải một vấn đề, là Điền Việt đã bị xâm lăng & cai quản bởi nhà Sở, sau đó Sở Trang Kiểu làm vua của vương quốc Điền, nhưng qua khảo cứu của chúng tôi, thì cục diện văn hóa Điền Việt trổ tài sự Việt hóa của tướng Sở Trang Kiểu & hậu duệ hơn là sự Hoa hóa so với văn hóa Điền Việt. Hai dấu hiệu trọng yếu nhất: mộ táng & trống đồng, đều chẳng thể hiện dấu hiệu văn hóa Hoa Hạ như triều Nam Việt cùng thời, mộ táng thì không theo kiểu lăng mộ của phương Bắc, trống đồng, vật biểu quyền lực & tâm linh cũng tiếp tục được đúc & sử dụng, các di vật cũng tương đối ít đặc thù của phương Bắc, chứng tỏ cho điều đó.

Dạng trang phục của nhà Sở chúng tôi nhận ra cũng hoàn toàn độc đáo với trang phục của Điền Việt. Người Điền Việt căn bản vẫn giữ nguyên được văn hóa, phong tục chung của tộc Việt, cả ở quý tộc & dân đen, cũng như có sự tương đồng hầu hết hoàn toàn với trang phục thời kỳ Đông Sơn của người Lạc Việt, do vậy nền tảng xem qua trang phục trên các pho tượng Điền Việt để phục dựng lại trang phục thời Hùng Vương của chúng tôi là vững vàng & hoàn toàn có nền tảng.

Trang phục của nhà Sở dựa theo các pho tượng, tranh & ebook khảo cổ. [Nguồn]

Θ Khảo về trang phục quần

Quần vốn đã hiện ra từ khá lâu, được tạo nên tối thiểu cách ngày nay hơn 3300 năm bởi người du mục Trung Á, với nhu cầu sử dụng để cưỡi ngựa cũng như giữ ấm phần thân dưới. Dạng quần này từ vùng Trung Á, đã lan truyền sang văn hóa Hoa Hạ từ sớm, dấu vết sớm đặc biệt là từ thời Tây Chu, các triều đại sau đó kế thừa & tiếp tục sử dụng.

Quần thời Tây Chu & quần thời Tây Hán. [Nguồn]

Văn hóa Điền Việt cũng gần với vùng Trung Á, nên đã đảm nhận dạng trang phục quần từ khá sớm. Hai hướng lan truyền: một là nhóm Hoa Hạ ở phía Bắc có sự tiếp xúc & giao lưu khá mạnh với văn hóa tộc Việt, hai là Điền Việt ở phía Tây, anh em ruột thịt của văn hóa Đông Sơn, & ngay giáp với Đông Sơn, dân cư hai nhóm thường xuyên giao lưu với nhau, nên sự lan tỏa của quần tới vùng miền Bắc viet nam cũng là một điều tự nhiên.

Mặc dầu người Việt trên các đồ đồng không có điều kiện để trổ tài trang phục dạng quần: dao găm đồng chủ yếu là ước lệ, lắng đọng, đồ đồng chủ yếu sử dụng họa tiết kỷ hà, ít trổ tài rõ trang phục, còn trống đồng thì chủ yếu được trổ tài hình ảnh áo hai tà sử dụng trong lễ tế. Thì dựa theo nền tảng đã đề cập ở trên, chúng tôi cho là có thể thời kỳ Đông Sơn đã có trang phục dạng quần, ngoài ra có thể sử dụng trong một phạm vi giới hạn, chẳng hạn như để sử dụng trong chiến trường, hoặc hoạt động văn nghệ như trên tượng Điền Việt, nó chưa đi sâu & đồng hành mật thiết với đời sống của người Việt, người Việt chủ yếu vẫn chỉ sử dụng dạng áo váy như chúng tôi đã tìm lại ở trên.

HẾT BÀI KHẢO CỨU

Lang Linh
Tranh minh họa: Hộ Quốc Vệ Thần. 

Ghi chú & ebook xem qua: 

[1] Đại Việt Sử Ký Toàn Thư ghi lại 2 lần tuyết rơi ở Cấm thành Thăng Long vào mùa xuân.
– Nhâm Ngọ, Long Phù năm thứ 2 (1102), (Tống Sùng Ninh năm thứ 1). Mùa xuân, tháng giêng, ngày Lập xuân; tuyết lành xuống.
– Giáp Ngọ, Hội Tường Đại Khánh năm thứ 5 (1114), (Tống Chính Hòa năm thứ 4). Mùa xuân, tuyết điềm tốt xuống.

[1a] Ralf Kittler, Manfred Kayser, and Mark Stoneking, Molecular evolution of Pediculus humanus and the origin of clothing. Current Biology, 2003. 13(16): p. 1414-1417.

[1b] David L Reed, Vincent S Smith, Shaless L Hammond, Alan R Rogers, and Dale H %J Plos Biol Clayton, Genetic analysis of lice supports direct contact between modern and archaic humans. 2004. 2(11): p. e340.

[2] Liu D, Duong NT, Ton ND, Van Phong N, Pakendorf B, Van Hai N, Stoneking M (2020). Extensive ethnolinguistic diversity in Vietnam reflects multiple sources of genetic diversity. Molecular Biology and Evolution.
https://doi.org/10.1093/molbev/msaa099

[3] Earliest Evidence of Pattern Looms Discovered in China
https://www.seeker.com/culture/archaeology/earliest-evidence-of-pattern-looms-discovered-in-china

[4] Gerard C. C. Tsang, Textile Exhibition: Introduction
http://www.asianart.com/textiles/intro.html

[5] Vũ Kim Biên, Thời Vua Hùng không có “văn hóa đóng khố“
https://kienthuc.net.vn/tham-cung/thoi-vua-hung-khong-co-van-hoa-dong-kho-326883.html

[5a] Sổ tay văn hóa viet nam

[6] Nguyễn Ngọc Thơ (2011), Văn hóa Bách Việt vùng Lĩnh Nam trong mối quan hệ với văn hóa truyền thống ở viet nam.

[7] Lịch sử trang phục các triều đại phong kiến viet nam. Quang Vũ Trịnh. Nhà xuất bản Văn Hóa – Thông Tin, 2007.

[8] Lịch sử vải sợi viet nam & vấn đề lễ phục – Nguyễn Việt
http://ape.gov.vn/lich-su-vai-soi-viet-nam-va-van-de-le-phuc-ds248.th#

[9] Lịch sử sinh ra của các loại vải thuần Việt
https://www.elle.vn/the-gioi-thoi-trang/lich-su-ra-doi-cua-cac-chat-lieu-vai-thuan-viet

[10] Hirofumi Matsumura, Hsiao-chun Hung, Charles Higham, et al. (2019). Craniometrics Reveal “Two Layers” of Prehistoric Human Dispersal in Eastern Eurasia. Scientific reports;9(1):1451.

[11] Chuan‐Chao WANG Shi YAN Zhen‐Dong QIN Yan LU Qi‐Liang DING Lan‐Hai WEI Shi‐Lin LI Ya‐Jun YANG Li JIN Hui LI, et al. (2013). Late Neolithic expansion of ancient Chinese revealed by Y chromosome haplogroup O3a1c‐002611.
https://onlinelibrary.wiley.com/doi/full/10.1111/j.1759-6831.2012.00244.x

[12] Yang, M.A., X. Fan, B. Sun, C. Chen, J. Lang, Y.-C. Ko, C.-h. Tsang, H. Chiu, T. Wang, and Q. Bao, Ancient DNA indicates human population shifts and admixture in northern and southern China. Science, 2020.
https://science.sciencemag.org/content/early/2020/05/14/science.aba0909

[13] McColl H, Racimo F, Vinner L, Demeter F, Gakuhari T, Moreno-Mayar JV, Van Driem G, Wilken UG, Seguin-Orlando A, De la Fuente Castro C, Wasef S (2018). The prehistoric peopling of Southeast Asia. Science. 361(6397):88-92.
https://science.sciencemag.org/content/361/6397/88

[14] Matsumura H, Hung HC, Higham C, Zhang C, Yamagata M, Nguyen LC, Li Z, Fan XC, Simanjuntak T, Oktaviana AA, He JN. Craniometrics reveal “two layers” of prehistoric human dispersal in eastern Eurasia (2019). Scientific reports. 9(1):1-2.
https://www.researchgate.net/publication/330875335_Craniometrics_Reveal_Two_Layers_of_Prehistoric_Human_Dispersal_in_Eastern_Eurasia

[15] Zi-Yang Xia, Shi Yan, Chuan-Chao Wang, Hong-Xiang Zheng, et al. (2019) Inland-coastal bifurcation of southern East Asians revealed by Hmong-Mien genomic history

[16] Tạ Đức, 2013, Nguồn gốc người Việt – người Mường.

[17] Heather A. Peters, 2001, Ethnicity Along China’s Southwestern Frontier.
https://www.researchgate.net/publication/233703687_Ethnicity_Along_China’s_Southwestern_Frontier

[18] Bing Su & đồng nghiệp, 2000,  Polynesian origins: Insights from the Y chromosome.
https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC26928/

[19] Per Hage & Jeff Marck, 2015, Matrilineality and the Melanesian Origin of Polynesian Y Chromosomes.
https://www.journals.uchicago.edu/doi/10.1086/379272

[20] J. Koji Lum & đồng nghiệp, 2006, Recent Southeast Asian domestication and Lapita dispersal of sacred male pseudohermaphroditic “tuskers” and hairless pigs of Vanuatu.

https://www.researchgate.net/publication/6707820_Recent_Southeast_Asian_domestication_and_Lapita_dispersal_of_sacred_male_pseudohermaphroditic_tuskers_and_hairless_pigs_of_Vanuatu

Chia sẻ với đồng bọn:

Thích bài này:

Thích

Đang tải…

By ads_law

Trả lời