Bài viết số 2 lớp 11 đề 2: Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam thời xưa qua bài ‘Bánh trôi nước’, “Tự tình 2” và “Thương vợ”, Bài văn mẫu lớp 11: Hình ảnh người phụ nữ

Bài văn mẫu lớp 11: Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam thời xưa qua bài “Bánh trôi nước“, “Tự tình 2” và “Thương vợ, sẽ giúp ích cho học viên khi nghiên cứu hình ảnh người phụ nữ trong xã hội thời xưa.

Ebook trên gồm dàn ý cụ thể và 5 bài văn mẫu lớp 11 vô cùng hữu hiệu cho học viên khi tìm tòi về các tác phẩm trên. Mời độc giả cùng đọc qua.

Dàn ý cụ thể hình ảnh người phụ nữ Việt Nam thời xưa

1. Mở bài

– Giới thiệu hình mẫu người phụ nữ trong văn học nói chung.

– Xúc cảm về người phụ nữ trong “Bánh trôi nước” và “Tự tình” của Hồ Xuân Hương, “Thương vợ” của Trần Tế Xương.

2. Thân bài

– Niên đại bối cảnh, bài viết căn bản trong thơ của hai Author trên.

– Họ là những người phụ nữ có tài có sắc (thân em vừa trắng lại vừa tròn, trơ cái hồng nhan với nước non), có phẩm chất cao đẹp như bà Tú trong Thương vợ của Tú Xương (Quanh năm bán buôn ở mom sông – Nuôi đủ năm con với một chồng).

– Thân phận của những người phụ nữ đó lại vô cùng nhỏ xíu, cuộc sống của họ long đong lận đận. Họ phải sống trong một cơ chế xã hội phong kiến cổ lỗ sĩ, trọng nam khinh nữ, người phụ nữ không có chỗ đứng và địa vị trong xã hội vì thế mà những người phụ nữ có tài như Hồ Xuân Hương thường không được coi trọng đồng thời việc làm của một người vợ thường ít được người chồng thông cảm dù cho quanh năm lam đàn vất vả nuôi chồng nuôi con chăm chút cho gia đình luôn được yên ấm dù mình có phải chịu thiệt thòi.

– Bản lĩnh của người phụ nữ trong xã hội xưa: Mặc dầu bị trói buộc trong những ý kiến, phong tục cổ hủ và cổ lỗ sĩ… Nhưng trong sâu thẳm tâm hồn họ vẫn đẹp, vẫn sáng, vẫn luôn vùng lên để đòi bình quyền. Để mong muốn rằng: Họ là nữ nhi nhưng vai trò của họ trong xã hội là rất lớn…

3. Kết bài

– Người phụ nữ xưa phải chịu nhiều xấu số và sự giới hạn của ý thức xã hội

– Thông báo con người phải biết trân trọng hạnh phúc của ngày bây giờ.

Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam thời xưa – Mẫu 1

Văn thơ trung đại Việt Nam, đặc biệt là các tác phẩm viết bằng chữ Nôm nói nhiều đến tình yêu và số phận người phụ nữ trong cuộc sống.

“Nương tử ơi!
Chướng căn ấy bởi vì đâu? Oan thác ấy bởi vì đâu?
Cho đến nỗi xuân tàn hoa nụ, thơ lẩn trăng rằm?”

(Văn tế Trương Quỳnh Như, Phạm Thái)

“Đau đớn thay phận đàn bà,
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.”

(Truyện Kiều, Nguyễn Du)

“Nguyệt Nga là gái tuyết trinh,
Sắc phong quận chúa hiển vinh rỡ ràng.”

(Truyện Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu)

Hồ Xuân Hương và Tú Xương, qua “Bánh trôi nước”, “Tự tình II”, “Thương vợ” đã làm hiện lên hình ảnh người phụ nữ Việt Nam thời xưa với bao ấn tượng sâu xa, với bao thương cả man mác.

Bài thơ “Bánh trôi nước” có hai lớp nghĩa: tả thực chiếc bánh trôi, một món ăn dân tộc và tượng trưng cho phẩm chất tốt đẹp của người con gái quê ta. Chữ “trắng” và chữ “tròn” cùng hình ảnh nhân hoá “thân em” đã trổ tài vẻ đẹp khiêm nhường, dịu dàng, trinh trắng và điệu đà của “em”. Tuy tình yêu và số phận bị phụ thuộc vào lễ giáo phong kiến và đạo tam tòng, vào “tay kẻ nặn. Dù “rắn nát”, dù vất vả, lận đận và long đong, trải qua “bảy nổi ba chìm”, nhưng em vẫn giữ được tấm chân tình kiên trung, sắt son. Hình ảnh ẩn dụ “tấm lòng son” và hai tiếng “vẫn giữ” đã truyền tụng tiết hạnh kiên trì, lòng chung tình sắt son của người phụ nữ ngày xưa trong mọi gia đình Việt Nam. “Bánh trôi nước” là bức chân dung văn nghệ với hai gam màu “trắng” và “son” đẹp tuyệt:

“Thân em vừa trắng lại vừa tròn,
Bảy nổi ba chìm với nước non.
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn,
Mà em vẫn giữ tấm lòng son.”

Chùm thơ “Tự tình” ba bài của Bà chúa thơ Nôm, đặc biệt biệt bài thơ thứ hai, đã nói lên một cách cảm động về bi kịch tình duyên của người phụ nữ phận hẩm duyên ôi!

Người phụ nữ ấy thao thức giữa đêm khuya, một mình một bóng đang lắng nghe tiếng trống dồn “văng vẳng” từ một chòi canh xa mang lại. Thao thức vì cô quạnh, vì lẻ bóng. Rượu và trăng cũng không làm vơi đi bao nỗi buồn chồng chất, đang đè nát cõi lòng. “Chén rượu hương đưa” tưởng chừng có thể làm say để quên đi bao nỗi buồn chứa chất tâm hồn, cố uống cho say, nhưng “say lại tỉnh” để mà thêm buồn; buồn cho tình duyên lẽ mọn! Bơ vơ ngắm “vầng trăng bóng xế”, ngắm mãi ngắm hoài mà trăng kia vẫn “khuyết chưa tròn”. Hạnh phúc mà nàng trông đợi chỉ là “Một tháng đôi lần có cũng không!”. Định mệnh và bi kịch ấy thật đáng buồn!

Trong bi kịch tình duyên, người bầy bà lẽ mọn cố vùng vẫy bươn ra nhưng thoát sao được. Dù có “xiên ngang mặt đất”, dù có “đâm toạc chân mây”, nhưng đám rêu kia, mấy hòn đá nọ cũng chẳng thể nào biến đổi được tình cảnh đáng tiếc, đáng buồn, đáng tủi, đáng hận:

“Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám,
Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.”

Phép đảo ngữ trong hai câu thơ chẳng những làm nổi trội cái dữ dội tiềm tàng của thiên nhiên mà còn tô đậm sự chống cự duyên số, chống cự đến chán nản của người bầy bà “lấy chồng chung”.

Thời gian chẳng đem lại hạnh phúc cho nàng. Mùa xuân cũng chẳng đem đến niềm vui gì cho nàng, mà nỗi ngao ngán, thống khổ cứ chồng chất mãi thêm. Mùa xuân đi qua rồi mùa xuân lại trở lại, tuổi hàng ngày một cao, nhan sắc ngày một phai tàn, nhưng tình yêu và hạnh phúc chỉ được “san sẻ tí con con” mà thôi! Thật đáng buồn! Thật tội nghiệp. Tổng Cóc và ông phủ Vĩnh Tường cũng chẳng đem lại cho nàng chút hạnh phúc nào! Hai cấu kết đã cực tả nỗi thống khổ trong bi kịch tình yêu của Hồ Xuân Hương:

“Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại,
Mảnh tình san sẻ tí con con!”

“Tự tình” – Bài II chẳng những nói lên nỗi thống khổ cô quạnh mà còn trổ tài niềm khao khát tình yêu hạnh phúc của người bầy bà trong tình cảnh “lấy chồng chung”. Giá trị nhân bản của bài thơ thật sâu sắc.

Bài thơ “Thương vợ” với cảm xúc chủ yếu là tình thương, lòng quý trọng, mang ơn của ông so với người hiền thê thục của mình.

Bà Tú là hiện thân cho bao đức tính tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam. Bà bán buôn tần tảo ở mom sông suốt quanh năm, không có một ngày ngơi nghỉ. Một gánh nặng gia đình được bà “nuôi đủ”:

“Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Nuôi đủ năm con với một chồng.”

Nhờ sự đảm đương, tháo vát của vợ mà ông Tú tuy “ăn lương vợ” nhưng khá phong lưu:

“Cho hay công nợ âu là thế,
Mà vẫn phong lưu suốt cả đời.
Tiền bạc phó cho con mụ kiếm
Ngựa xe chẳng thấy lúc nào ngơi”

(Tự cười mình)

Hình ảnh “thân cò” là một ý tưởng của Tú Xương để nói về sự làm ăn vất vả, khó nhọc của bà Tú. Cặp từ láy “lặn lội” và “eo sèo” đã cực tả nỗi gieo neo, đức tính chịu thương cần cù của người vợ, người mẹ trong nhà đông con:

“Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông,”

Bà Tú đang là hiện thân của đức hi sinh lặng thầm. Bà cam chịu, kiên trì về duyên phận. Các thành ngữ “một duyên hai nợ”, “năm nắng mười mưa” kết phù hợp với các ngôn ngữ “âu đành phận”, “dám quản công” cho thấy tiết hạnh, tâm hồn của bà Tú thật cao quý. Bà đã sống hết mình vì cuộc đời và hạnh phúc của chồng con:

“Một duyên hai nợ âu đành phận,
Năm nắng mười mưa dám quản công”

Hai cấu kết là lời nhiếc của bà Tú cũng là lời tự trách mình của nhà thơ:

“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,
Có chồng hờ hững cũng như không”

“Không” là không giàu sang phú quý, không được “Võng anh đi trước, võng nàng theo sau” như các bà nghè khác. “Không” là không được sống trong cảnh vinh thân phì gia “tối rượu sâm banh, sáng sữa bò” như vợ của các thầy ký, thầy phán khác thời bấy giờ.

Tú Xương tuy tự trách mình, nhưng ông đã nói lên toàn bộ tấm chân tình quý trọng và mang ơn so với người hiền thê thục thương yêu.

Hình ảnh bà Tú trong bài thơ “Thương vợ” là hình ảnh của một người phụ nữ Việt Nam với bao phẩm chất tốt đẹp như đảm đương, tần tảo, chịu thương cần cù và giàu đức hi sinh.

Xem Thêm  [Update] Hoa khôi nhí Cần Thơ cật lực kiếm tiền mua chung cư cho mẹ, bảng điểm học kỳ vẫn nể | trang hoa quan co thai nhi

Qua các bài thơ “Bánh trôi nước”, “Tự tình” – Bài II, “Thương vợ” người đọc thấy được phẩm chất của người phụ nữ Việt Nam, càng mang ơn và tự hào về người mẹ, người chị, người vợ trong mỗi gia đình tất cả chúng ta. Đúng như Huy Cận đã viết:

(*11*).

Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam thời xưa – Mẫu 2

Hình ảnh người phụ nữ luôn là đề tài thân thuộc của văn học dân gian. Mảng đề tài đầy cảm xúc nhân văn này đã làm ra giá trị của nền văn học nói chung, bộ mặt của các Author nói riêng. Tiêu biểu là Hồ Xuân Hương với “Tự tình” (II) và Tú Xương với “Thương vợ”.

Đúng như thế, hai bài thơ với hai người phụ nữ đều khát khao một tổ ấm gia đình. Xong cuộc sống lại lắm éo le trắc trở. Họ phải chịu đựng số phận hẩm hiu cơ chế phong kiến mục nát. Cái cơ chế mà khi nhắc tới ai ai cũng thấy bất điềm tĩnh. Là phụ nữ thì sao chứ? Chẳng lẽ phụ nữ không phải con người trong xã hội? Hà cớ gì cứ phải bắt người phụ nữ làm những thứ họ không mong muốn từ những hủ tục cổ lỗ sĩ: cha mẹ đặt đâu con ngồi đó, trọng nam khinh nữ, người phụ nữ không có quyền hành gì trong nhà.

Trước tiên, thơ của Hồ Xuân Hương là những lời than thân từ nỗi niềm riêng của một cá thể, chất chứa những vấn đề đưa tầm phổ quát của thân phận người phụ nữ. Hay nói cách khác, bằng việc viết lên tiếng nói cá nhân. Hồ Xuân Hương làm sống lên hình ảnh người phụ nữ Việt Nam xưa. “Tự tình” (II) nằm trong chùm thơ tự tình gồm ba bài viết bằng chữ Nôm. Này là sự thống khổ vì không là chủ được thân phận mình. Trong cảnh quan lúc nửa đêm nổi trội chỉ là tiếng động “văng vẳng” của trống canh dồn. Tiếng trống dồn dập, gấp gáp như thúc dục dội vào lòng người. Tiếng động văng vẳng chẳng những đơn thuần là sự cảm tưởng bằng thính giác mà đang là cảm tưởng của xúc giác về thời gian. “Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn”. Nhức nhối một tâm sự “trơ cái hồng nhan với nước non”. Vẻ đẹp của người phụ nữ trong đêm đơn độc và im ắng, gợi lên hình ảnh “hồng nhan” trở nên rẻ rúng, không có giá trị. Chắc hẳn ai trong tình cảnh của Hồ Xuân Hương cũng cảm thấy đìu hiu, đau nhói, u sầu. Hình ảnh “cái hồng nhan” với “nước non” càng cho thấy tâm trạng bẽ bàng tủi hổ của người phụ nữ. Cùng với nỗi buồn đè nặng lên con người nhỏ xíu trong xã hội, đè lên thân phận của họ. Hồ Xuân Hương là con người rất mạnh khỏe, bà không cam chịu và mong muốn thoát khỏi. “Chén rượu hương đưa” là một phương tiện giải sầu, tuy không phải phương tiện duy nhất nhưng là tốt nhất vào giờ đây. Tìm quên trong chén rượu, say rồi lại tỉnh, càng uống càng nhận thức mọi thứ cụ thể hơn. Nó như một vòng luẩn quẩn khiến người phụ nữ ấy nhận biết sự cô quạnh trĩu nặng hơn. Nhắm tới vầng trăng mong tìm người bạn tri âm tri kỷ giữa đất trời nhưng “khuyết chưa tròn” lại còn “bóng xế”. Ngoại cảnh và con người g đây như một. Người phụ nữ tự hỏi đến lúc nào trăng mới tròn. Đến lúc nào người mới có được tình yêu cho mình. Trăng đã sắp tàn mà vẫn chưa tròn, tuổi xuân qua đi mà nhân duyên chưa tới. Người phụ nữ đang chơi vơi giữa một toàn cầu rộng lớn, hoang vắng, mong muốn thoát khỏi nhưng bất lực trước nỗi cô quạnh đơn độc với chính mình.

Đến với Tú Xương là đến với những bài thơ ngập tràn tình yêu thương, cảm động viết về người vợ đang còn sống. Bài thơ “Thương vợ” trổ tài tâm thế và vị trí của một người mẹ, một người vợ đảm đương. Bà Tú có thể đã phải chịu nhiều nghiệt ngã của cuộc sống nhưng bà lại có niềm hạnh phúc mà bao kiếp người vợ xưa không có được. Vì chồng, thương con mà cam chịu cuộc đời khốn khó vất vả. Quanh năm suốt tháng, ngày này qua ngày khác không có lấy một ngày nghỉ, ngày mưa cũng như ngày nắng Bà Tú lam đàn bán buôn trên một vùng đất nhô lên ở lòng sông. Cái nơi cập kênh, gồ ghề hiện lên hình ảnh tần tảo, tất bật ngược xuôi của bà Tú. “Quanh buôn bán ở mom sông”. Cái nền không gian, thời gian ấy, cuộc mưu sinh đầy khốn khó của bà Tú được ông Tú phác thảo. “Lặn lội thân cò khi quãng vắng”. Hình ảnh “thân cò” là hình ảnh tượng trưng cho người phụ nữ trong xã hội xưa. Ông Tú đã dùng hình ảnh đó để nói về nỗi vất vả của bà Tú, đồng thời cũng gợi lên số kiếp, nỗi đau thân phận. Thân cò “lặn lội” trong một khoảng trống gian “khi quãng vắng” vừa nêu ra cái rợn ngợp của thời gian, vừa nêu ra cái rợn ngợp của không gian. Hình ảnh bà Tú trở nên sắc nét hơn về sự vật lộn với cuộc đời. “Eo sèo mặt nước buổi đò đông”. Cảnh bươn trải, chen chúc nhau của những người bán buôn rất khốn khó. “Buổi đò đông” đâu có giống như “khi quãng vắng”. Nó chẳng những có những lời cự cãi, mè nheo, sự chen lấn xô đẩy mà còn tồn tại những nguy hiểm bất trắc. Biết là vậy nhưng bà Tú vẫn đi trên chuyến đò đó để dành miếng cơm manh áo cho chồng con. Dù vắng hay đông bà Tú cũng thui thủi một “thân cò”. Tuy rằng số phận ràng buộc họ nhưng nhờ đó những phẩm chất cao quý của người phụ nữ được hiện diện.

Dù đớn đau thế nào, dù yếu ớt đến đâu thì trong sâu thẳm con tim Hồ Xuân Hương cũng ánh lên ngọn lửa khao khát, ao ước, không chịu khuất phục mà mong muốn vùng lên chiến tranh biến đổi cuộc đời của mình. “Xiên ngang mặt đất rêu từng đám/Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn”. Tâm trạng con người như mong muốn nói lên nỗi căm uất, ương ngạnh, ngang bướng. Thiên nhiên trong mắt Hồ Xuân Hương tiềm tàng một sức sống đang bị đè nén và đang vươn lên mạnh khỏe. “Rêu”, “đá” chỉ là những vật nhỏ xíu, hèn mọn nhưng chẳng hề yếu đuối bởi rêu xiên ngang mặt đất, đá đâm toạc chân trời. Điều đó càng chứng tỏ Hồ Xuân Hương mong muốn bộc phát chướng ngại vật để đi tìm hạnh phúc cho mình, mong muốn giải thoát số phận bối cảnh, trổ tài cá tính bạo gan của nữ sĩ. Tuy lòng đầy thấp thỏm nhưng bà vẫn nhìn cảnh vật với con mắt yêu đời. Yêu đời là thế, sức sống là vậy mà cuộc sống riêng thì vẫn “xuân đi xuân lại lại”. Cái vòng quẩn quanh đáng khinh của cuộc sống chẳng thể tránh khỏi tiếng thở than đau xót. Càng đau xót hơn khi giữa cái tuần hoàn thời gian ấy là một “mảnh tình” nhỏ vụn đã vỡ nhưng nay vẫn bị sẻ đi sẽ lại. So với con tim thiết tha yêu thương kia, điều đó như một vết thương cứa sâu đau nhức nhối, khao khát một tình yêu trọn vẹn.

Dù có vất vả, chua xót, chán chườm đến thế nào thì người phụ nữ Việt Nam xưa vẫn là những con người có phẩm chất đẹp đẽ. Không những vẻ ngoại hình mà còn cả bên trong. Này là lòng yêu thương, lòng nhân từ, một lòng một dạ vì chồng vì con. “Nuôi đủ năm con với một chồng”. “Nuôi đủ năm con” là việc đương nhiên của một người mẹ nhưng còn chồng, cớ sao lại phải đếm “một chồng”? Là vì chồng, bà Tú cũng cần phải nuôi và thỏa mãn đầy đủ nhu cầu thiết yếu cho ông Tú. Bà Tú phải thắt lưng buộc bụng nuôi dưỡng năm đứa trẻ vất vả, thế mà phải nuôi thêm một ông Tú trong gia đình nữa thì gánh nặng đè lên đôi vai nhỏ của bà tăng gấp đôi. Sự khéo léo, đảm đương của bà trổ tài ở việc lựa chọn ông Tú mà sống, khéo léo chiều sự khó chiều khó nết của ông để trong ấm ngoài êm. Bà Tú nhẫn nhục chịu đựng cái nợ đời như một sự tất yếu chẳng thể không chấp thuận. “Một duyên hai nợ âu đành phận”. Điều kì diệu là người mẹ, người vợ này chẳng hề ý thức rằng này là sự hi sinh. Sự vất vả “năm nắng mười mưa” càng trổ tài được đức tính chịu thương cần cù, hết lòng vì chồng vì con mà bà đâu “dám quản công” một lời. Bà tình nguyện đảm nhiệm nhiệm vụ chăm sóc cho gia đình. Dù vất vả trăm điều nhưng bà vẫn lặng thầm chịu đựng. Phải chăng đó chính là đức hi sinh – vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam?

Hai người phụ nữ đẹp đều tìm ra sức mạnh, ý chí để vượt lên bối cảnh. Nhưng trong cuộc thoát thân họ còn cô quạnh quá, chính vì vậy mà thất bại. Một người mong muốn bộc phát, thoát khỏi cuộc đời bí bách. Một người cam chịu, kiên trì để làm tròn bổn phận một người mẹ, một người vợ. Một người được thấu hiểu, sẻ chia. Một người cô quạnh một mình, đau buồn trước số phận hẩm hiu. Chỉ khi những người phụ nữ biết đoàn kết, biết đồng lòng dưới sự chỉ huy của Đảng họ mới có thể biến đổi được số phận, kiểm soát được cuộc sống mình.

Xem Thêm  [NEW] Súng máy 12,7mm KORD - Huyền thoại mới của những nhà sáng chế vũ khí Nga | súng máy phòng không 12 7mm - Xác minh

Người phụ nữ thời xưa phải chịu nhiều thiệt thòi, bất công, ngang trái và bị giới hạn bởi xã hội phong kiến. Còn người phụ nữ ngày nay được quyền đồng đẳng, quyền học hành, quyền lựa chọn tình yêu và quyền kiểm soát cuộc sống. Họ không còn bị đối xử như trước nữa. Tuy người phụ nữ ngày xưa có cuộc sống éo le nhưng hình ảnh sâu thẳm trong họ không lúc nào bị mất đi. Dù bối cảnh có ra sao thì tâm hồn cao đẹp của họ vẫn sáng lên. Và điều đó khiến ta luôn tự hào về người phụ nữ Việt Nam.

Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam thời xưa – Mẫu 3

Hồ Xuân Hương sáng tác nhiều bài thơ nổi tiếng về đề tài phụ nữ. Thơ bà là tiếng nói đòi quyền sống tự do và trổ tài khát khao hạnh phúc. Trần Tế Xương cũng có một số bài thơ nói về những vất vả gian nan mà người phụ nữ phải gánh chịu trong xã hội phong kiến trọng nam khinh nữ.

Mượn hình ảnh chiếc bánh trôi nước thân thuộc trong dân gian, Hổ Xuân Hương gửi gắm những suy ngẫm sâu sắc của mình về thân phận nhỏ xíu và phụ thuộc của người phụ nữ:

“Thân em vừa trắng lại vừa tròn,
Bảy nổi ba chìm với nước non.
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn,
Mà em vẫn giữ tấm lòng son”.

Chiếc bánh trôi nước làm bằng bột nếp trắng tinh, mịn màng, tròn trịa và xinh xắn khiến người ta liên tưởng tới vẻ đẹp hồn nhiên, đầy đặn của những cô gái đương xuân. Bánh luộc trong nồi nước sôi, mấy lần chìm xuống nổi lên mới chín. Bột bánh trắng trong nổi rõ màu nâu đỏ của nhân làm bằng đường thẻ. Với cặp mắt và con tim đa cảm, Hồ Xuân Hương đã nhận biết đằng sau những cụ thể rất thực ấy là cả một nỗi niềm thương thân trách phận của người phụ nữ. Tạo hóa chào đời họ là để duy trì và lớn mạnh sự sống của loài người, đồng thời chăm sóc sắc đẹp cho đời. Vai trò của họ là đặc biệt quan trọng, nhưng ý kiến thiên vị đến mức lệch lạc trong xã hội phong kiến đã cố tình phủ nhận điều đó. Nào là: “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”. Nào là: “Nữ nhân ngoại tộc”.

Rồi luật “Tam tòng” cột chặt người phụ nữ vào thân phận bị phụ thuộc trọn đời: “Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”. Những ý kiến hà khắc, cổ hủ ấy đã tước đoạt điều quý hiếm đặc biệt là được tự do sống đúng với con người mình và đáng sợ hơn là nó biến người phụ nữ thành cái bóng mờ nhạt trong suốt cuộc sống. Họ tồn tại chứ không phải là sống theo đúng nghĩa tích cực của từ đó. Chẳng khác gì những chiếc bánh trôi nước, rắn, nát, méo, tròn hoàn toàn do tay kẻ nặn.

Ở bài thơ “Tự tình II”, Hồ Xuân Hương đã bày tỏ tâm trạng giận dữ cao độ của chính bản thân mình, đồng thời cũng là tâm trạng chung của bao phụ nữ cùng tình cảnh trong xã hội phong kiến:

“Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn,
Trơ cái hồng nhan với nước non.
Chén rượu hương đưa say lại tỉnh,
Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn.
Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám,
Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.
Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại,
Mảnh tình san sẻ tí con con!”

Kể tới người phụ nữ là kể tới nét đẹp, tình yêu thương và đức hi sinh. Họ hiến dâng hết cho cuộc sống mà không đòi hỏi quyền lợi vật chất nào ngoài sự trân trọng, thông cảm và chia sẻ. Nhưng những cái đó hầu hết không được gia đình và xã hội quan tâm vì cho là thiên chức của phụ nữ là phục tùng vô điều kiện. Am hiểu điều bất công đó nên Hồ Xuân Hương đã viết nên những câu thơ thấm đẫm nỗi xót xa, chua chát như trên. Hồng nhan là cách gọi những phụ nữ đẹp, rộng hơn là để chỉ chung giới nữ. Nhưng gọi là cái hồng nhan có nghĩa là đã hạ nó xuống ngang hàng với những vật vô tri vô giác khác. Nỗi hờn tủi, bẽ bàng chất chứa trong câu thơ: Trơ cái hồng nhan với nước non in đậm dấu ấn phong thái diễn đạt mới mẻ của Xuân Hương.

Tâm sự trĩu nặng nỗi buồn thân phận và duyên phận của nữ sĩ không biết ngỏ cùng ai nên càng cuộn xoáy, day dứt trong lòng giữa đêm khuya thanh vắng. Nhưng dù bị phụ phàng hay quên lãng thì nhân vật trữ tình trong bài thơ vẫn không chán nản, vẫn khao khát sống mạnh khỏe, vẫn mong ước đến cháy lòng hạnh phúc tròn đầy, vẫn mong chờ được san sẻ và bù đắp những tình cảm chân tình nhất giữa người với người.

Bài “Thương vợ” của nhà thơ trào phúng nổi tiếng Trần Tế xương có thể coi là chân dung tương đối hoàn chỉnh của người phụ nữ trong xã hội phong kiến:

(*2*).

Ngày xưa, Nho giáo buộc phụ nữ cần có bổn phận thờ chồng, nuôi con. Thờ chồng so với bà Tú bao hàm cả việc nuôi chồng, thế là bất công vì lẽ ra, người phái mạnh phải giữ vai trò rường cột trong nhà về mọi mặt.

Bà Tú vốn con nhà gia giáo, khá giả. Lúc còn ở với cha mẹ, bà không phải chịu cảnh vất vả nắng sương. Làm vợ ông Tú lận đận về đường khoa cử, lại không ngành không nghiệp nên bà đành chấp thuận cảnh sống long đong, khổ cực. Quanh năm lo tảo tần bán buôn nơi mom sông, bến chợ để Nuôi đủ năm con với một chồng. Mà nuôi ông chồng đặc biệt tài hoa như ông Tú thì không phải chỉ lo miếng cơm, manh áo bình bình mà còn phải chuẩn bị sẵn cho ông ít rượu ít trà, ít tiền bỏ túi để có lúc ông vui bạn vui bè, chuẩn bị cho ông một hai bộ cánh tươm tất để nhỡ đi đâu ông khỏi tủi… Như thế là bà Tú phải lo rất là nhiều, phải làm rất là nhiều mà không dám kể lể, thở than: Một duyên hai nợ âu đành phận, Năm nắng mười mưa dám quản công. Bà lặng thầm coi này là số phận đã an bài. Nghĩ suy và tâm trạng của bà Tú cũng là nghĩ suy, tâm trạng chung của phụ nữ thời xưa.

Nhà thơ Trần Tế Xương từng tự nhận mình là ông chồng vô tích sự, để vợ phải lặn lội thân cò… chẳng khác chi những thân cò thân vạc đáng buồn trong ca dao – dân ca, tượng trưng cho thân phận vất vả, cực nhọc của người phụ nữ. Bên cạnh nỗi khổ vật chất, bà Tú còn nỗi khổ trí não. Bà hết lòng vì chồng, vì con nhưng chồng con nào có biết cho chăng? Thế nên mới có tiếng thở dài như một lời than não ruột: “Cha mẹ thói đời ăn ở bạc/Có chồng hờ hững cũng như không!”

Có vẻ ông Tú đã hóa thân vào vợ mình, để am hiểu và cảm thông với bà. Lấy chồng mà chẳng được nhờ vả, cậy dựa; lấy phải ông chồng lãnh đạm thì quả là có cũng như không mà thôi.

Ba bài thơ cùng một đề tài và cùng toát lên thân phận nhỏ xíu, phụ thuộc rất đáng buồn của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa kia. Nhà thơ Hồ Xuân Hương và nhà thơ Trần Tế Xương đã góp tiếng nói đáng kể vào tiếng nói chung bảo vệ quyền lợi chính đáng của một nửa loài người – những người đảm nhiệm trọng trách duy trì sự sống trên địa cầu này.

Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam thời xưa – Mẫu 4

Viết về người phụ nữ đã không đang là một điều xa lạ trong văn học Việt Nam từ xưa cho đến nay. Đến với mỗi Author khác nhau, người phụ nữ lại được khắc họa với những nét riêng. Nhưng mẫu số chung của họ này là cuộc sống chịu nhiều xấu số cũng như không được quyết định số phận của mình. Điều ấy đã được trổ tài qua những tác phẩm vô cùng nổi tiếng là bài thơ “Bánh trôi nước, Tự tình II” của Hồ Xuân Hương và “Thương vợ” của Tú Xương.

Trong xã hội phong kiến xưa, dân tộc Việt Nam đã chịu ảnh hưởng sâu sắc của quan niệm Nho giáo: “Trọng nam khinh nữ”. Người phụ nữ chẳng hề có tiếng nói trong xã hội. Họ phải sống một cuộc sống cam chịu và phụ thuộc vào người phái mạnh: “Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” (Ở nhà thì theo cha, lấy chồng theo chồng, chồng chết theo con). Không những cuộc sống xấu số, cuộc đời hôn phối của người phụ nữ cũng gặp nhiều trắc trở, thống khổ khi người phái mạnh trong xã hội phong kiến đều năm thê bảy thiếp…

Với nhân cách đại diện cho người phụ nữ trong xã hội ấy, Hồ Xuân Hương đã cất lên tiếng nói mạnh khỏe qua hai bài thơ Bánh trôi nước và Tự tình II. Những người phụ nữ hiện lên qua thơ của Bà chúa thơ Nôm đều vô cùng xinh tươi và tài năng. Nhưng họ lại phải chịu đựng một cuộc sống cập kênh, chìm nổi mà không nghe đến bờ bến của hạnh phúc ở đâu:

Xem Thêm  [Update] Siêu mẫu Khả Trang tung ảnh tố bị đánh đập bầm dập: Xử sao kẻ bạo hành? | hình ảnh ly sinh tố đẹp

“Thân em vừa trắng lại vừa tròn
Bảy nổi ba chìm với nước non”

Bước này, Hồ Xuân Hương đã mượn hình ảnh thật này là chiếc bánh trôi để nói về cuộc sống của người phụ nữ.
Đến “Tự tình”, ta lại bắt gặp lời oán thán được bộc lộ một cách trực tiếp:

“Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn,
Trơ cái hồng nhan với nước non.
Chén rượu hương đưa say lại tỉnh,
Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn”

Người phụ nữ tài sắc và thông minh là thế lẽ ra phải thu được sự chiều chuộng, tình cảm trân trọng. Nhưng họ lại phải chịu đựng nỗi cô quạnh trơ trọi đến khốn cùng. Thậm chỉ là tình cảm cũng cần phải chia sẻ cho người khác:

“Mảnh tình san sẻ tí con con!”

Nhưng dù cuộc sống có là vậy, những người phụ nữ trong thơ Hồ Xuân Hương vẫn không chịu khuất phục trước số phận:

“Xiên ngang mặt đất rêu từng đám
Đâm toạc chân mây đá mấy hòn”

Tuy có thể yếu đuối ở bên ngoài nhưng trong tâm hồn những người phụ nữ ấy vẫn luôn mạnh khỏe:

“Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm lòng son”.

Câu thơ như một lời cam đoan dù xã hội có bất công đến đâu, thì họ vẫn giữ được tấm chân tình chung thủy son sắc. Tâm hồn của họ vẫn khao khát có được hạnh phúc và tình yêu trọn vẹn. Bởi yêu và được yêu vốn dĩ là những khát vọng chính đáng của con người.

Đến với “Thương vợ” của Tú Xương, tất cả chúng ta lại thấy được hình ảnh một người phụ nữ tần tảo, nhẫn nhục và giàu đức hy sinh. Nhà thơ đã đứng ở góc cạnh của một người chồng – một người phái mạnh để bộc bạch niềm thông cảm với những người phụ nữ. Đây chính là điểm nổi bật trước tiên giữa thơ Hồ Xuân Hương và Tú Xương khi viết về người phụ nữ. Người vợ trong thơ Tú Xương không ai khác chính là bà Tú – một người bầy bà tần tảo.

“Quanh năm buôn bán ở mom sông
Nuôi đủ năm con với một chồng
Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đò đông”

Bốn câu thơ đầu đã giới thiệu về công việc của bà Tú – bán buôn vốn dĩ là công việc vô cùng vất vả, không khi nào được nghỉ ngơi. Nhưng bà vẫn tần tảo sớm hôm để “nuôi đủ năm con với một chồng” – việc tách riêng “một chồng” hình như trổ tài được một bối cảnh thật éo le. Người chồng lẽ ra phải là người lèo lái để nuôi cả gia đình. Thế mà ở giai đoạn này, người vợ phải một mình mưu sinh nuôi chồng nuôi con. Họ chịu đựng những ràng buộc phong kiến nên chẳng thể kêu ca, than thở mà chỉ biết lặng im chấp thuận, chịu đựng qua từng ngày: “Năm nắng mười mưa chẳng quản công”. Hai câu thơ cuối cùng giống như là một lời tự vấn của chính nhà thơ:

“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc
Có chồng hờ hững cũng như không”.

Tiếng “cha mẹ” vang lên sao mà đau xót, giống như một lời tự trách bản thân vô ích để rồi khiến vợ phải chịu đựng khó khăn. Qua bài thơ này, Tú Xương đã khắc họa hình ảnh bà Tú cũng chính là hình ảnh tiêu biểu của người phụ nữ Việt Nam trong xã hội xưa: những con người tần tảo, cần cù và giàu đức hy sinh.

Mỗi nhà thơ là một tiếng nói riêng, nhưng đều là lời trân trọng giành riêng cho những người phụ nữ trong xã hội. Ba bài thơ đã để lại cho người đọc nhiều ấn tượng sâu sắc.

Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam thời xưa – Mẫu 5

Khi nhắc đến đề tài người phụ nữ trong xã hội xưa, tất cả chúng ta chẳng thể không nhắc đến ba bài thơ rất nổi tiếng này là “Bánh trôi nước, Tự tình II” của Hồ Xuân Hương và “Thương vợ” của Tú Xương. Mỗi nhà thơ đều đã khắc họa nên những vẻ đẹp của người phụ nữ.

Đến với thơ của Hồ Xuân Hương, những người phụ nữ hiện lên chẳng những qua vẻ đẹp cách thức mà còn ở vẻ đẹp tâm hồn. Bài thơ “Bánh trôi nước” đã trổ tài được điều đó:

“Thân em vừa trắng lại vừa tròn
Bảy nổi ba chìm với nước non
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm lòng son”.

Mượn hình ảnh chiếc bánh trôi, nhà thơ đã khắc họa nên cái đẹp của người phụ nữ. Bề ngoài của người phụ nữ trong bài thơ được diễn đạt: “vừa trắng lại vừa tròn” gợi ra một thân hình khá đầy đặn, nước da trắng hồng. Này là chuẩn mực của người phụ nữ đẹp trong xã hội xưa. Xinh tươi là vậy, nhưng cuộc sống lại nhiều xấu số. Thành ngữ “bảy nổi ba chìm” gợi ra một cuộc sống vất vả, gặp nhiều gian nan. Câu thơ “rắn nát mặc dầu tay kẻ nạn” đã nói lên số phận phải phụ thuộc vào người khác, không được tự mình quyết định. Nhưng dù có chịu nhiều xấu số, người phụ nữ trong thơ Hồ Xuân Hương vẫn bảo quản được tâm hồn cao quý, tấm chân tình chung thủy son sắc: “Mà em vẫn giữ tấm lòng son”.

Nếu “Bánh trôi nước” là một lời cam đoan về tấm chân tình chung thủy đầy niềm lạc quan. Thì “Tự tình II” lại là lời thổ lộ đầy chua xót trước tình cảnh của chính nhà thơ. Trong không gian mênh mang mà thật vắng lặng của đêm khuya, tiếng trống canh vang lên dồn dập khiến con người hình như cảm thấy bất an. Hình ảnh người phụ nữ hiện lên sao thật cô quạnh:

“Chén rượu hương đưa say lại tỉnh,
Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn”

Cụm từ “ say lại tỉnh” tạo thành một vòng luẩn quẩn cho câu thơ cũng là vòng luẩn quẩn của thân phận người phụ nữ trong xã hội xưa. Họ mượn rượu để quên đi thực tại mà men rượu cũng chẳng xua tan đi được. Bởi tuổi xuân sắp qua đi mà hạnh phúc vẫn thật xa vời. Càng khao khát được yêu thương, người phụ nữ càng xót xa cho số phận của mình. Đớn đau, căm uất khiến họ phải vùng lên chống cự:

“Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám
Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.”

Nhưng dù có vậy, thân phận nhỏ xíu ấy nào có biến đổi được. Khát vọng được sống, được tự do, được yêu thương vốn dĩ là nhu cầu chính đáng của con người. Nhưng xã hội phong kiến đã khước từ chấp thuận những khát vọng ấy. Để rồi càng chống cự bao nhiêu, lại càng nhận thêm buồn đau từng ấy:

“Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại
Mối tình san sẻ tí con con.”

Câu thơ cuối trổ tài sự chán ngán, chán chường khi tuổi xuân đã qua đi không thể trở lại. Và ngay cả tình cảm – thứ không thể chia sẻ nay cũng cần phải sẻ chia.

Khác với Hồ Xuân Hương, người phụ nữ trong bài thơ “Thương vợ” của Tú Xương lại hiện lên chính yếu với vẻ đẹp về tính cách. Nhà thơ với nhân cách là người chồng – một người phái mạnh để bộc bạch niềm thông cảm với những người phụ nữ. Đây chính là điểm nổi bật trước tiên giữa thơ Hồ Xuân Hương và Tú Xương khi viết về người phụ nữ. Người vợ trong thơ Tú Xương không ai khác chính là bà Tú – một người bầy bà tần tảo.

“Quanh năm buôn bán ở mom sông
Nuôi đủ năm con với một chồng
Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đò đông”

Bốn câu thơ đầu đã giới thiệu về công việc của bà Tú – bán buôn vốn dĩ là công việc vô cùng vất vả, không khi nào được nghỉ ngơi. Nhưng bà vẫn tần tảo sớm hôm để “nuôi đủ năm con với một chồng” – việc tách riêng “một chồng” hình như trổ tài được một bối cảnh thật éo le. Người chồng lẽ ra phải là người lèo lái để nuôi cả gia đình. Thế mà ở giai đoạn này, người vợ phải một mình mưu sinh nuôi chồng nuôi con. Họ chịu đựng những ràng buộc phong kiến nên chẳng thể kêu ca, than thở mà chỉ biết lặng im chấp thuận, chịu đựng qua từng ngày và coi này là số phận của chính bản thân mình: “Một duyên hai nợ âu đành phận/Năm nắng mười mưa chẳng quản công”. Hai câu thơ cuối cùng giống như là một lời tự vấn của chính nhà thơ:

“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc
Có chồng hờ hững cũng như không”

Tiếng “cha mẹ” vang lên sao mà đau xót, giống như một lời tự trách bản thân vô ích để rồi khiến vợ phải chịu đựng khó khăn.

Tóm lại, qua ba bài thơ “Bánh trôi nước”, “Tự tình II” và “Thương vợ”, Hồ Xuân Hương và Tú Xương đều đã khắc họa được hình ảnh người phụ nữ trong xã hội với với những vẻ đẹp thật tiêu biểu. Đồng thời qua đó cả hai nhà thơ đều bộc lộ được tình cảm trân trọng giành riêng cho những người phụ nữ.

By ads_law

Trả lời