Bản đồ lãnh thổ Việt Nam qua các thời kỳ là sự thay đổi không gian sinh tồn của người Việt Nam, trổ tài bởi các triều đại chính thống đã được thừa nhận trong lịch sử Việt Nam. Có đặc thù rất cầu kỳ, lúc thì bị mất lãnh thổ về các nước khác, lúc lại chinh phục được những vùng lãnh thổ mới.

Nhìn chung lại vùng lãnh thổ then chốt nơi phát chào đời người Việt hiện tại là vùng châu thổ sông Hồng, sau nhiều thế kỷ đi chinh phục, đồng hóa, khai khẩn mà lãnh thổ ngày nay đã trải dài đến tận đồng bằng sông Cửu Long.

Hồng Bàng:

Khoảng thế kỷ thứ III trước công nguyên một số sử liệu & thần thoại cho là vào đầu thời Hồng Bàng, bộ tộc người Việt có lãnh thổ mênh mông từ hướng phía nam sông Dương Tử (Trung Quốc) đến tận vùng Thanh Hóa. Thực chất các bộ tộc Việt phía Nam sông Trường Giang không có cùng sắc tộc, chủng tộc & từ ngữ. Tên gọi Bách Việt là chỉ chung cho các bộ tộc các nhà nước phía Nam của Trung Nguyên.

Nước Văn Lang

Nước Văn Lang thuộc bộ tộc Lạc Việt đã tạo ra trên vùng bình nguyên bao gồm đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Mã & đồng bằng Sông Lam.

Nước Âu Lạc

Sau khoảng thời gian giành được Văn Lang, Thục Phán đã sát nhập Văn Lang vào đất của mình, nước Âu Lạc có lãnh thổ từ hướng phía nam sông Tả Giang (Quảng Tây,Trung Quốc) kéo xuống tận dãy Hoành Sơn thuộc Hà Tĩnh ngày nay.

Bản đồ ÂU LẠC (208-179TCN) - Bản đồ Việt Nam xưaBản đồ ÂU LẠC (208-179TCN)

Thời Bắc Thuộc

Nếu coi nhà Triệu (từ 207 đến năm 111 trước công nguyên) là một phần của hệ thống phân tách lịch sử thời kỳ Bắc thuộc lần 1 thì lãnh thổ nước Việt Nam thuộc nước Nam Việt của 5 đời vua nhà Triệu.

Bản đồ Việt Nam thời Bắc Thuộc (179 – 111 TCN) - bản đồ lãnh thổ việt nam qua các thời kỳNam Việt xâm lược & đô hộ 179 – 111 TCN

Năm 111 trước công nguyên, nhà Triệu để mất nước về tay nhà Hán. Sau đó lãnh thổ nước Nam Việt cũ bị chia thành 6 quận, đồng thời xác lập thêm phần đất ở 3 quận mới là Nhật Nam, Chu Nhai, Đạm Nhĩ.

Lãnh thổ của dân tộc Việt Nam thời kỳ này, trong sự cai trị của chính quyền trung ương các triều đại Trung Hoa, tiến về hướng phía nam đến vùng Hà Tĩnh hiện tại, đôi lúc các quan thống trị Giao Chỉ (hoặc Giao Châu) tiến xuống hướng phía nam đánh Chiêm Thành & mang thêm mảnh đất từ đèo Ngang đến đèo Hải Vân vào thống trị nhưng không giữ được lâu vì sau đó Chiêm Thành thường lấy lại được.

Bản đồ Việt Nam thời Bắc Thuộc (111 TCN – 34 SCN) - bản đồ lãnh thổ việt nam qua các thời kỳNhà Hán xâm lược & đô hộ 111 TCN – 34 SCNBản đồ Giao Chỉ 40 TCN – 33 SCN. Bản đồ Việt Nam xưaLãnh thổ Giao Chỉ 40 TCN – 33 SCN

Nước Vạn Xuân

Vạn Xuân là quốc hiệu của Việt Nam trong một thời kỳ độc lập ngắn ngủi thoát khỏi chính quyền trung ương Trung Hoa, dưới thời nhà Tiền Lý & Triệu Việt Vương. Tháng 2 năm 544, sau thời điểm hạ gục quân nhà Lương (Trung Quốc), Lý Bí xưng là hoàng thượng & đặt tên nước là Vạn Xuân. Quốc hiệu này tồn tại từ năm 544 đến năm 602, khi nhà Tùy hạ gục Lý Phật Tử & đô hộ Việt Nam một lần nữa.

Bản đồ Nước Vạn Xuân 554 – 602. Bản đồ Việt Nam xưaNước Vạn Xuân 554 – 602

Lãnh thổ Việt Nam Thời phong kiến tự chủ

Sau khoảng thời gian Khúc Thừa Dụ tự xưng là Tiết độ sứ của Tĩnh Hải quân năm 905, Việt Nam khởi đầu thời kỳ độc lập tự chủ. lãnh thổ Tĩnh Hải quân gồm 12 châu.

  • Giao
  • Lục
  • Phúc Lộc
  • Phong
  • Thang
  • Trường
  • Chi
  • Vũ Nga
  • Vũ An
  • Ái
  • Hoan
  • Diễn

Tĩnh Hải Quân

Bản đồ Tĩnh Hải Quân 905 - Bản đồ Việt Nam xưaTĩnh Hải Quân 905Tĩnh Hải Quân 930 - Bản đồ Việt Nam xưaTĩnh Hải Quân 930Tĩnh Hải Quân 931 - Bản đồ Việt Nam xưaTĩnh Hải Quân 931Tĩnh Hải Quân 937 - Bản đồ Việt Nam xưaTĩnh Hải Quân 937

Việt Nam chính thức vào kỷ nguyên độc lập từ khi Ngô Quyền hạ gục nhà Nam Hán vào năm 938. Không những thế lãnh thổ bị co lại chỉ còn 8 châu: Giao, Lục, Phúc Lộc, Phong, Trường, Ái, Hoan, Diễn. 4 châu bị nhà Nam Hán chiếm là Thang, Chi, Vũ Nga & Vũ An.

Bản đồ Tĩnh Hải Quân 938 - Bản đồ Việt Nam xưaTĩnh Hải Quân 938Bản đồ Tĩnh Hải Quân 944 - Bản đồ Việt Nam xưaTĩnh Hải Quân 944Bản đồ Tĩnh Hải Quân 966 – 967. Bản đồ Việt Nam xưaTĩnh Hải Quân năm 966 – 967Bản đồ Tĩnh Hải Quân 967 - Bản đồ Việt Nam xưaTĩnh Hải Quân năm 967

Đại Cồ Việt

Năm 968, Đinh Tiên Hoàng đặt quốc hiệu trở lại sau hơn 400 năm, là Đại Cồ Việt.

Bản đồ Đại Cồ Việt 968 - Bản đồ VN xưaĐại Cồ Việt năm 968Bản đồ Đại Cồ Việt 980 - Bản đồ Việt Nam xưaĐại Cồ Việt năm 980Bản đồ Đại Cồ Việt năm 1010 - Bản đồ Việt Nam xưaĐại Cồ Việt năm 1010

Năm 1014, tướng nước Đại Lý là Đoàn Kính Chí đem quân vào chiếm đóng châu Vị Long & châu Đô Kim (nay thuộc Tuyên Quang), vua Lý Thái Tổ sai con là Dực Thánh Vương đi đánh dẹp, quân Đại Lý đại bại, nhân thời dịp đó nhà Lý sáp nhập luôn khu vực ngày nay là Hà Giang vào Đại Việt.

Bản đồ lãnh thổ Việt Nam thời Đại Cồ Việt 1014Lãnh thổ Việt Nam thời Đại Cồ Việt 1014Bản đồ lãnh thổ Việt Nam thời Đại Cồ Việt 1048
Lãnh Thổ Đại Cồ Việt 1048

Đại Việt

Sau đó Lý Thái Tổ đổi tên nước là Đại Việt năm 1054.

Vào Năm 1069, vua Lý Thánh Tông nam tiến đánh nước Chiêm Thành & bắt được vua Chiêm lúc bấy giờ là Chế Củ (Jaya Rudravarman), đem về kinh đô Thăng Long. Để được tha mạng vua Chiêm đã phải cắt các mảnh đất hướng phía bắc của Chiêm Thành gồm ba châu là: Bố Chính, Ma Linh, Địa Lý cho nước Đại Việt. Những châu ấy ngày nay ở địa bàn các huyện Quảng Ninh, Quảng Trạch, Bố Trạch, Tuyên Hoá, Lệ Thuỷ tỉnh Quảng Bình & huyện Bến Hải tỉnh Quảng Trị.

Lãnh thổ nước Đại Việt năm 1069Lãnh thổ nước Đại Việt năm 1069

Năm 1159, nhân khi nước Đại Lý suy yếu, vua Lý Anh Tông & Tô Hiến Thành đã tiến hành thu phục mảnh đất của các tù trưởng dân tộc thiểu số người Thái ở bắc Yên Bái, nam Lào Cai vào lãnh thổ Đại Việt.

Bản đồ lãnh thổ nước Đại Việt năm 1159Nước Đại Việt năm 1159Bản đồ lãnh thổ nước Đại Việt năm 1225Nước Đại Việt năm 1225

Việt Nam thời nhà Trần năm 1306 vua nước Chiêm Thành là Chế Mân (Jaya Simhavarman) đã cắt đất hai châu Ô & Rí cho vua Trần Anh Tông của Đại Việt để làm sính lễ cưới Huyền Trân công chúa, mảnh đất mà ngày nay là hướng phía nam Quảng Trị & Huế. Biên thuỳ hướng phía nam của Đại Việt hiện tại tiến đến đèo Hải Vân.

Bản đồ lãnh thổ Việt Nam thời nhà Trần năm 1306Lãnh thổ Việt Nam thời nhà Trần năm 1306

Đại Ngu

Đại Ngu là quốc hiệu Việt Nam thời nhà Hồ (1400 – 1407). Quốc hiệu Đại Việt được đổi thành Đại Ngu tháng 3 năm 1400 khi Hồ Quý Ly lên nắm quyền.

Bản đồ lãnh thổ nước Đại Ngu năm 1400 - Bản đồ Việt Nam xưaLãnh thổ nước Đại Ngu năm 1400Bản đồ lãnh thổ nước Đại Ngu năm 1402. Bản đồ VN xưa.Lãnh thổ nước Đại Ngu năm 1402

Bắc thuộc lần 4

Vào cuối thế kỉ 14 nhà Trần bấy giờ đã sa sút, Hồ Quý Ly dần dần nắm quyền kiểm tra cả triều đình, dùng những giải pháp thanh trừng những đại thần trung thành với triều Trần. Hồ Quý Ly lên ngôi vua vào năm 1400, đặt quốc hiệu Việt Nam là Đại Ngu, ông thực hiện rất là nhiều cải thiện trong hệ thống chính trị & xã hội lúc bấy giờ. Nhưng do thực hiện quá nhiều sự biến đổi trong thời gian ngắn, lại không được các cựu thần nhà Trần & dân chúng ủng hộ, thêm tình hình kinh tế xã hội hoàn toàn suy yếu vì nhiều lý do, nên quốc gia rơi vào khủng hoảng trầm trọng.

Xem Thêm  [Chuẩn] Top 10 người sống lâu nhất thế giới | Sự thật ít ai biết | người sống lâu nhất thế giới - Xác minh

Nhân thời dịp đó, năm 1406 nhà Minh ở Trung Quốc dùng chiêu bài phù Trần diệt Hồ, nhà Minh đưa quân sang xâm lược Đại Ngu. Nhà Hồ lập tức tsụp đổ hoàn toàn vào khoảng giữa năm 1407. Nước Đại Ngu hiện tại bị hủy diệt hoàn toàn & bị sát nhập lãnh thổ vào Trung Quốc. Việt Nam bị Trung Quốc đô hộ trở lại sau 500 năm độc lập tự chủ.

Bản đồ nước Đại Ngu năm 1407 sau khi bị Đại Minh (Trung Quốc) tiêu diệt và sát nhập.Nâm 1407 nước Đại Ngu bị hủy diệt & sát nhập vào lãnh thổ Đại Minh (Trung Quốc)

Khởi Nghĩa Lam Sơn

Vào năm 1418 Lê Lợi & các hào kiệt phất cờ cuộc khởi nghĩa Lam Sơn tại vùng miền núi Thanh Hóa, ông tự xưng là Bình Định Vương, mời gọi người dân Việt Nam đồng lòng đứng lên đánh đuổi quân xâm lược nhà Minh cứu nước. Bây giờ lãnh thổ đất Việt chỉ còn Lam Sơn nay thuộc huyện Thọ Xuân tỉnh Thanh Hóa.

Năm 1418 cuộc khởi nghĩa Lam Sơn dành lại được vùng lãnh thổ nay thuộc Huyện Thọ Xuân tỉnh Thanh HóaNăm 1418 cuộc khởi nghĩa Lam Sơn dành lại được vùng lãnh thổ nay thuộc Huyện Thọ Xuân tỉnh Thanh Hóa

Vào năm 1424 cuộc khởi nghĩa Lam Sơn khởi đầu tiến vào phía Nam & dành được những thắng cuộc trọng yếu. Đến cuối năm 1425, Lê Lợi đã kiểm soát toàn thể đất đai từ Thanh Hóa trở vào.

Bản đồ Việt Nam xưa. Năm 1425 Lê Lợi đã làm chủ toàn bộ đất đai từ Thanh Hóa trở vào.Năm 1425 Lê Lợi đã kiểm soát toàn thể đất đai từ Thanh Hóa trở vào

Nhà Hậu Lê

Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn dành thắng cuộc đã hợp nhất được toàn thể lãnh thổ Việt Nam. Lê Lợi lên ngôi vào năm 1428, tức là vua Lê Thái Tổ, chính thức dựng lên nhà Hậu Lê. Do chiến công hiển hách hạ gục quân Minh dành lại quyền tử chủ cho người Việt, ông trở thành một vị người hùng dân tộc trong lịch sử Việt Nam, tên tuổi được lưu truyền đến ngàn đời sau.

Bản đồ Việt Nam thời Lê Sơ. Nước Đại Việt dành lại quyền tử chủ năm 1428.Nước Đại Việt dành lại quyền tử chủ năm 1428

Năm 1471 vua Lê Thánh Tông đưa 20 vạn quân nam tiến đánh vào kinh đô Vijaya ( đất Bình Định ngày nay) nước Chiêm Thành, kinh đô Vijaya của Chiêm Thành thất thủ. Vua Lê Thánh Tông đã sáp nhập mảnh đất bắc Chiêm Thành vào Đại Việt (ngày nay bao gồm ba tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định).

Năm 1471 vua Lê Thánh Tông sát nhập thêm vùng đất phía bắc của Chiêm ThànhNăm 1471 vua Lê Thánh Tông sát nhập thêm mảnh đất hướng phía bắc của Chiêm Thành

Năm 1478, sau thời điểm thu phục tiểu vương quốc Bồn Man, vua Lê Thánh Tông đã sát nhập vùng Sơn La, các huyện hướng tây của Thanh Hóa, hướng tây Nghệ An & tỉnh Hủa Phăn của Lào ngày nay vào đất Đại Đại Việt.

Bản đồ lãnh thổ Việt Nam vào năm 1479 - thời Lê Sơ.Lãnh thổ Việt Nam vào năm 1479

Công đoạn Nam – Bắc triều

Khoảng đầu kỷ 16, nhà Hậu Lê hiện tại đã khởi đầu suy yếu. Một võ tướng nhà Lê là Mạc Đăng Dung đứng ra trấn áp các cuộc nổi dậy, dần dần nắm lấy quyền hành triều Lê. Mạc Đăng Dung đánh dẹp các lực lượng chống đối nhà hậu Lê & đến 1527 thì phế truất Lê Cung Hoàng, lập ra nhà Mạc.

Bây giờ có một võ tướng cũ của nhà Lê, là Nguyễn Kim lập một người dòng dõi nhà Lê là Lê Duy Ninh mang lên ngôi trên đất Sầm Châu (Lào ngày nay), tức vua Lê Trang Tông. Sau nhiều lần tổ chức tấn công ngược về Đại Việt không thành công, mãi tới năm 1539, Nguyễn Kim mới giành được huyện Lôi Dương ở Thanh Hóa; sang năm sau tiến vào đất Nghệ An. Nhà Hậu Lê khởi đầu xác lập chỗ đứng trở lại trên lãnh thổ Đại Việt.

Bản đồ Đại Việt Năm 1540 thời Lê Sơ, Nguyễn Kim chiếm lại được huyện Lôi Dương ở Thanh HóaNăm 1540, Nguyễn Kim chiếm lại được huyện Lôi Dương ở Thanh Hóa

Năm 1545, Nguyễn Kim bị hàng tướng Dương Chấp Nhất đầu độc giết chết. Con rể Nguyễn Kim là Trịnh Kiểm lên thay cầm quyền lãnh đạo quân đội.

Năm 1554, Trịnh Kiểm lập hành dinh tại quê hương Biện Thượng, sau đó điều quân đánh Thuận Hóa. Khi quân Lê – Trịnh tiến vào hướng phía nam, các quan lại nhà Mạc & các hào trưởng bản địa phần đông đi theo. Tướng Mạc ở Thuận Hóa là Hoàng Bôi đưa quân ra đánh bị tử trận. Quân Mạc bị quấy tan, nhà Lê – Trịnh lấy lại được Thuận Hóa & Quảng Nam.

Toàn thể lãnh thổ Đại Việt chính thức chia làm 2 nửa: từ Ninh Bình trở ra trong tay nhà Mạc, từ Thanh Hóa trở vào trong tay nhà Lê – Trịnh.

Năm 1554 lãnh thổ Đại Việt bị chia làm 2 nửa nhà Mạc phía Bắc, nhà Lê – Trịnh phía NamNăm 1554 lãnh thổ Đại Việt bị chia làm 2 nửa nhà Mạc phía Bắc, nhà Lê – Trịnh phía Nam

Nguyễn Hoàng xây dựng cơ đồ mở đưa cương vực Đại Việt

Năm 1569, Nguyễn Hoàng là con trai của Nguyễn Kim & là em vợ của Trịnh Kiểm ra Thanh Hóa yết kiến vua Lê Anh Tông, nộp quân lương giúp Nam triều đánh nhà Mạc, rồi đến phủ Thái sư lạy mừng Trịnh Kiểm. Trịnh Kiểm rất bằng lòng, phong cho ông trấn thủ luôn đất Quảng Nam. Nguyễn Hoàng làm Tổng Trấn Tướng Quân kiêm quản cả Xứ Quảng Nam & Xứ Thuận Hóa. Lệ mỗi năm phải nộp thuế là 400 cân bạc, 500 tấm lụa.

Bản đồ Đại Việt Năm 1569, Nguyễn Hoàng làm Tổng Trấn Tướng Quân cai quản cả Xứ Quảng Nam và Xứ Thuận HóaNăm 1569 Nguyễn Hoàng làm Tổng Trấn Tướng Quân cai trị cả Xứ Quảng Nam & Xứ Thuận Hóa

Năm 1611, do quân Chăm Pa tiếp tục quấy nhiễu vùng biên cương Hoa Anh, Nguyễn Hoàng đã sai Văn Phong đi dẹp, quân Chăm Pa lập tức bị hạ gục trước lực lượng của chúa Nguyễn. Vua Po Nit của Chăm Pa phải rút quân xuống phía Nam đèo Cả. Sau đó mảnh đất Hoa Anh này được lập thành phủ Phú Yên gồm hai huyện Tuy Hòa vàĐồng Xuân, giao cho Lương Văn Chánh làm tham tướng, Văn Phong làm lưu thủ.

Cho tới khi ông mất, giang sơn họ Nguyễn trải dài từ đèo Ngang, Hoành Sơn (nam Hà Tĩnh) qua đèo Hải Vân tới núi Đá Bia (Thạch Bi Sơn), gần đèo Cả, lúc này là vùng cực nam Phú Yên, giáp tỉnh Khánh Hòa. Diện tích 2 xứ Thuận Quảng rộng khoảng 45000 km².

Xem Thêm  [Chuẩn] TỔNG HỢP 50+ loại cây trồng trong nhà không cần ánh sáng ở Việt Nam | cây thích hợp trồng trong nhà - Xác minh

Bản đồ Đại Việt năm 1611, đất họ Nguyễn đã trải dài đến vùng cực nam Phú Yên.Năm 1611 đất họ Nguyễn đã trải dài đến vùng cực nam Phú Yên

Trịnh – Nguyễn phân tranh

Năm 1653, chúa Nguyễn Phúc Tần tiến chiếm vùng Khánh Hòa của Chiêm Thành. Lấy sông Phan Rang làm ranh giới. Vùng phía Đông sông đến địa đầu Phú Yên (vùngKauthara) đặt dinh Thái Khang. Phần phía Tây sông (vùng Panduranga) vẫn thuộc về Chăm Pa.

Năm 1653 chúa Nguyễn Phúc Tần chiếm được vùng Khánh Hòa của Chiêm ThànhNăm 1653 chúa Nguyễn Phúc Tần giành được vùng Khánh Hòa của Chiêm Thành

Năm Mậu Tuất (1658) vua nước Chân Lạp mất rồi, chú cháu tranh nhau ngôi vị, sang cầu cứu bên chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn bấy giờ là chúa Hiền sai quan đem 3.000 quân sang đánh ở Mỗi-xuy (nay thuộc tỉnh Đồng Nai) bắt được vua nước ấy là Nặc-Ông-Chân đem về giam ở Quảng Bình một độ, rồi tha cho về nước, bắt phải triều-cống & phải bênh vực người Việt sang làm ăn ở bên ấy.

Bản đồ lãnh thổ Đại Việt năm 1658, người Việt đã xuất hiện ở vùng đất Đồng Nai ngày nay.Năm 1658 người Việt đã hiện ra ở mảnh đất Đồng Nai ngày nay

Năm Kỷ Tỵ (1679) có quan nhà Minh là tổng binh trấn thủ đất Long Môn (Quảng Tây) Dương Ngạn Địch, phó tướng Hoàng Tiến, tổng binh châu Cao, châu Lôi, & châu Liêm (thuộc Quảng Đông) là Trần Thượng Xuyên, phó-tướng Trần An Bình, không chịu làm tôi nhà Thanh, đem 3.000 quân cùng 50 chiếc thuyền sang xin ở làm dân Việt Nam. Chúa Hiền nhân mong muốn khai khẩn đất Chân Lạp, bèn cho vô ở đất Đông Phố (tức là đất Gia Định). Lũ Ngạn Địch chia nhau ở đất Lộc Đã (tức là đất Đồng Nai), ở Mỹ Tho (thuộc Tiền Giang), ở Ban Lân (thuộc Đồng Nai) rồi cày ruộng làm nhà lập ra phường phố.

Bây giờ nhà Mạc ở hướng phía bắc đã bị hủy diệt hoàn toàn.

Bản đồ lãnh thổ Đại Việt Năm 1679Lãnh thổ Đại Việt Năm 1679

Năm 1693, thời chúa Nguyễn Phúc Chu, tướng Nguyễn Hữu Cảnh tiến chiếm & chính thức sáp nhập phần còn sót lại của vương quốc Chiêm Thành lập trấn Thuận Thành nay là mảnh đất Bình Thuận, Ninh Thuận ngày nay, bên cạnh đó chính quyền Đàng Trong vẫn dành riêng cho người Chăm chính sách tự trị bước này cho đến năm 1832.

Bản đồ lãnh thổ Việt Nam năm 1693, chúa Nguyễn Phúc Chu chính thức sáp nhập phần còn lại của vương quốc Chiêm ThànhNăm 1693, chúa Nguyễn Phúc Chu chính thức sáp nhập phần còn sót lại của vương quốc Chiêm Thành

Năm 1698, Nguyễn Hữu Cảnh lấy đất Nông Nại đặt làm phủ Gia Định, lập đất Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng nên dinh Trấn Biên (lỵ sở nay là thôn Phước Lư), lập xứ Sài Côn làm huyện Tân Bình, lập dinh Phiên Trấn (quận sở nay gần Tân Đồn). Chính thức mang khu vực các tỉnh miền Đông Nam Bộ của Chân Lạp vào lãnh thổ Đàng Trong.

Năm 1699, Vũ Công Tuấn bị triều đình nhà Lê bắt & giết. Triều đình đặt chức Lưu thủ ở Tuyên Quang, từ đó dòng dõi “Chúa Bầu” chấm hết. Lãnh thổ chúa Bầu chính thức sáp nhập vào đất nhà Lê-Trịnh.

Năm 1708, Mạc Cửu (thương nhân người Hoa) người khai hoang mảnh đất Hà Tiên, Kiên Giang (của Chân Lạp) xin nội thuộc chúa Nguyễn, chúa Nguyễn phong chức Tổng binh cai trị.

Cùng với việc mở rộng lãnh thổ trên đất liền, chính quyền Đàng Trong lần lượt mang người ra khai thác & kiểm tra các quần đảo lớn & hòn đảo trên biển Đông & vịnh Thái Lan. Hòn đảo Hoàng Sa được khai thác & kiểm tra từ đầu thế kỷ 17, Côn Đảo từ năm 1704,Phú Quốc từ năm 1708 & hòn đảo Trường Sa từ năm 1711.

Bản đồ lãnh thổ Đại Việt năm 1708 khai phá đến vùng đất Hà Tiên – Kiên Giang ngày nayLãnh thổ Đại Việt năm 1708 khai hoang đến mảnh đất Hà Tiên – Kiên Giang ngày nay

Vào năm 1732, chúa Nguyễn Phúc Chú (Chúa Ninh) nhận đất dâng từ vua nước Chân Lạp là Satha (Nặc Tha), lãnh thổ Đại Việt được mở rộng thêm hai mảnh đất mới là Peam Mesar (Mỹ Tho) & Longhôr (Vĩnh Long).

Bản đồ lãnh thổ Việt Nam năm 1732 - thời nhà NguyễnBản đồ lãnh thổ Việt Nam năm 1732Từ 1736 – 1739 Lãnh thổ Việt Nam mở rộng đến tận mũi Cà Mau như ngày nayTừ 1736 – 1739 Lãnh thổ Việt Nam mở rộng đến tận mũi Cà Mau như ngày nay

Năm 1755, vua Chân Lạp là Nặc Nguyên (Ang Tong) sau thời điểm bị chúa Nguyễn Phúc Khoát tức Vũ Vương hạ gục đã dâng mảnh đất Tân An, Gò Công (Long An, Tiền Giang ngày nay) để cầu hòa.

Năm 1755 sát nhập thêm Long An và Tiền Giang vào Lãnh thổ Đại ViệtNăm 1755 sát nhập thêm Long An & Tiền Giang vào Lãnh thổ Đại Việt

Năm 1757, vua Nặc Nguyên chết, chú là Nặc Nhuận dâng 2 xứ Preah Trapeang & Basac (mảnh đất Trà Vinh & Sóc Trăng) để được chúa Nguyễn Phúc Khoát phong làm vua Chân Lạp. Sau khoảng thời gian Nặc Nhuận chết, chúa Nguyễn Phúc Khoát đã phụ trợ Nặc Tôn (Outey II) lên ngôi & bảo vệ trước sự tấn công của Xiêm La (Thái Lan), vua Nặc Tôn đã dâng mảnh đất ngày nay là Châu Đốc, Sa Đéc cho chúa Nguyễn.

Riêng Mạc Thiên Tứ, Nặc Tôn dâng năm phủ Hương Úc, Cần Bột, Trực Sâm, Sài Mạt & Lình Quỳnh để đền ơn trợ giúp. Mạc Thiên Tứ đem hết đất ấy dâng cho Chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn cho sảt nhập vào Hà Tiên trấn, giao cho họ Mạc cai trị.

bản đồ lãnh thổ Việt Nam vào năm 1757
Bản đồ lãnh thổ Việt Nam vào năm 1757

Khởi Nghĩa Tây Sơn

Sau công đoạn Trịnh Nguyễn phân tranh đât nước bị chia làm 2 thì vào năm 1771 cuộc khởi nghĩa Tây Sơn nở rộ khởi đầu từ mảnh đất Tây Sơn thuộc tỉnh Bình Định ngày nay.

Lãnh thổ Việt Nam vào năm 1771Lãnh thổ Việt Nam vào năm 1771Lãnh thổ Việt Nam bị chia làm 3 vào năm 1773Lãnh thổ Việt Nam bị chia làm 3 vào năm 1773

Cuối năm 1774 đầu năm 1775 quân Trịnh tiến vào Phú Xuân. Chúa Nguyễn hiện tại không chống nổi quân Trịnh phải bỏ chạy vào Quảng Nam. Quân Trịnh chiếm toàn thể Thuận Hóa.

Lãnh thổ Việt Nam vào năm 1774Lãnh thổ Việt Nam vào năm 1774

Quân Trịnh ở hướng phía bắc đánh vào. Chúa Nguyễn không địch nổi hai kẻ thù phải bỏ chạy vào Gia Định. Tây Sơn bèn đầu hàng Trịnh để đánh Nguyễn. Năm 1777, Nguyễn Huệ đem quân vào xâm chiếm Gia Định, quân Tây Sơn săn lùng gắt gao, cả Nguyễn Phúc Thuần & Nguyễn Phúc Dương cùng một số quan lại đã bị tóm gọn & bị giết. Vào năm này Chúa Nguyễn đã mất hoàn toàn quyền kiểm tra ở Đại Việt.

bản đồ lãnh thổ Việt Nam 1777bản đồ lãnh thổ Việt Nam 1777

Vào năm 1786 Do sự thuyết phục của Nguyễn Hữu Chỉnh, Nguyễn Huệ quyết định đem quân ra Bắc đánhThăng Long để diệt họ Trịnh dù chưa được lệnh của vua anh Nguyễn Nhạc.

Với danh nghĩa “Phù Lê diệt Trịnh”, Nguyễn Huệ sai Chỉnh làm đi đầu Bắc tiến. Quân Trịnh rệu rã lập tức chiến bại, các danh tướng phần đông nghe tin Phú Xuân thất thủ đã khiếp sợ, đến khi nghe quân Tây Sơn kéo ra, chủ yếu đã bỏ trốn. Chúa Trịnh không được lòng dân, bỏ thành Thăng Long chạy, bị dân bắt đem nộp Tây Sơn. Trên đường dẫn giải,Trịnh Tông tự sát. Bây giờ Tây Sơn đã kiếm soát được hầu hết toàn thể lãnh thổ Việt Nam.

Xem Thêm  Những điều kì diệu ở người thuận tay trái

Trong khi Nguyễn Huệ bận ứng phó với quân Thanh tại Bắc Hà (1788-1789), vùng Gia Định dưới quyền Tây Sơn cũng không ổn định, quân Tây Sơn bị cô lập trước dân chúng bản địa vốn có nhiều thiện cảm với Chúa Nguyễn nói chung & Nguyễn Ánh nói riêng, dần dần Nguyễn Ánh lấy lại được mảnh đất Nam Hà dẹp yên được mảnh đất Gia Định.

Lãnh thổ Việt Nam 1788Lãnh thổ Việt Nam 1788

Nhà Nguyễn

Vào năm 1802 sau thời điểm hủy diệt được nhà Tây Sơn Nguyễn Ánh lên ngôi vua, để tượng trưng sự hợp nhất Bắc Nam, lần trước nhất sau nhiều năm, Nguyễn Ánh chọn niên hiệu là Gia Long, Gia lấy từ Gia Định & Long lấy từ Thăng Long.

Năm 1802 Lãnh thổ Đại Việt được thống nhất sau nhiều năm bị chia cắt
Năm 1802 Lãnh thổ Đại Việt được hợp nhất sau nhiều năm bị chia cắt

Năm 1816, vua Gia Long chính thức cho cắm cờ, xác lập chủ quyền, giao đội Hoàng Sa & đội Bắc Hải thay mặt làm chủ hai hòn đảo Hoàng Sa & Trường Sa. Trước đây khoảng 200 năm các chúa Nguyễn cũng từng lập đội Hoàng Sa hằng năm đi ra các đảo tìm kiếm sản vật.

Năm 1830, vua Minh Mạng sáp nhập vùng Tây Nguyên vào lãnh thổ Việt Nam, bên cạnh đó các bộ tộc người Thượng vẫn được quyền tự trị của mình cho tới năm 1898 khi người Pháp trực tiếp tổ chức thống trị bước này.

Năm 1832 nhà Nguyễn bỏ chính sách tự trị của người Chăm ở trấn Thuận Thành (Bình Thuận, Ninh Thuận ngày nay) chính thức sát nhập mảnh đất này vào lãnh thổ Việt Nam.

Bản đồ lãnh thổ Việt Nam 1832Bản đồ lãnh thổ Việt Nam 1832

Vào năm 1835 Vua Minh Mạng cho thành lập Trấn Tây Thành (Campuchia ngày nay) thời kỳ này lãnh Thổ Việt Nam vươn tới cực đại tới tận Ai Lao, Chân Lạp.

Vào năm 1835 Lãnh thổ Việt Nam vươn tới cực đạiVào năm 1835 Lãnh thổ Việt Nam vươn tới cực đại

Việc đặt Trấn Tây Thành cùng với cơ chế thống trị mất lòng dân Chân Lạp của Vua Minh Mạng & quan lại đã gây hao binh tổn lương, tướng sĩ mệt nhọc.

Năm 1841, vua Minh Mạng mất, Vua Thiệu Trị vừa lên thay. Thấy tình hình Chân Lạp bất ổn mãi, nên nhân có lãi tâu của Tạ Quang Cự xin bỏ đất Chân Lạp, vua Thiệu Trị thuận ý, truyền cho quan quân Đại Nam rút quân về giữ An Giang.

Năm 1841 bỏ trấn Tây ThànhNăm 1841 bỏ trấn Tây Thành

Thời kỳ bị Pháp xâm chiếm & đô hộ

Năm 1859 thực dân Pháp đánh thành Gia Định.

Lãnh thổ Việt Nam năm 1859
Lãnh thổ Việt Nam năm 1859

Hòa ước Nhâm Tuất (1862) buộc triều đình nhà Nguyễn nhượng 3 tỉnh Nam Kỳ là Biên Hòa, Gia Định, Mỹ Tho cho Pháp. Tiếp sau đó tỉnh Hà Tiên, Châu Đốc, Vĩnh Long cũng bị sát nhập nốt vào lãnh thổ bảo lãnh của Pháp.

Lãnh thổ Việt Nam sau hòa ước Nhâm Tuất 1862Lãnh thổ Việt Nam sau hòa ước Nhâm Tuất 1862

Năm 1870, Pháp ký với Campuchia hiệp định phân định biên cương.

Bản đồ Đại Nam năm 1870Bản đồ Đại Nam năm 1870

Năm 1874, Pháp ký với Việt Nam Hòa ước Giáp Tuất (1874) thừa nhận sự cai trị của Pháp với toàn Nam Kỳ.

Hòa ước Quý Mùi, 1883 được ký, Việt Nam mất một phần Trung Kỳ & toàn thể Bắc Kỳ vào tay Pháp. Việt Nam cũng mất quyền tự quyết về đối ngoại vào tay Pháp.

Lãnh thổ Việt Nam sau hòa ước Quý Mùi, 1883Lãnh thổ Việt Nam sau hòa ước Quý Mùi, 1883

Năm 1884 Hòa ước Giáp Thân được ký, Việt Nam chính thức trở thành thuộc địa của Pháp.

Bản đồ lãnh thổ Việt Nam sau hòa ước Giáp Thân, 1884 Lãnh thổ Việt Nam sau hòa ước Giáp Thân, 1884

Năm 1887 người Pháp nhân danh nước Bảo lãnh triều đình Huế ký Hiệp ước Pháp-Thanh nhường một dải đất cho nhà Thanh. Sông Dương Hà (sông An Nam Giang) ngày xưa là đường biên cương nay lùi biên cương xuống hướng phía nam, lấy cửa sông Bắc Luân ở Hải Ninh (Móng Cái) làm địa giới.

Bản đồ lãnh thổ Việt Nam năm 1887Bản đồ lãnh thổ Việt Nam năm 1887

Liên Bang Đông Dương

Năm 1893, hiện tại Pháp đã thành lập liên bang Đông Dương, dựa trên địa hình đã cắt tỉnh Huaphanh (Hủa Phăn), Xiêng Khoảng giao về lãnh thổ Lào (Ai Lao).

Lãnh thổ Việt Nam 1893Lãnh thổ Việt Nam 1893

1895, từ công ước Pháp-Thanh 1895 đã mang về phần đông mảnh đất Lai Châu, Điện Biên & một phần Lào Cai ngày nay thuộc về xứ Bắc Kỳ còn một phần đất ở bắc sông Bắc Luân thuộc về nhà Thanh. Sâm Châu & Xiêng Khoảng bị cắt cho Lào.

Lãnh thổ Việt Nam 1895Lãnh thổ Việt Nam 1895

Năm 1893, hiệp ước Pháp-Xiêm (1893) theo đó nhượng toàn thể vùng lãnh thổ phía Đông sông Mê Kông cho Pháp, gạt bỏ lực lượng quân sự & những tác động của Xiêm tại vùng cao nguyên thượng sông Sêrêpôk. Mảnh đất nhượng lại này bao gồm cả tỉnh Stung Treng, năm 1899 địa khu Đắc Lắc được thành lập từ Stung Treng. Năm 1904, Đắc Lắc được sáp nhập vào Việt Nam.

Năm 1904 Pháp sát nhập Đak Lăk vào lãnh thổ Việt NamNăm 1904 Pháp sát nhập Đăk Lăk vào lãnh thổ Việt Nam

Đến 1905 thì sát nhập các tỉnh Tây Nguyên còn sót lại.

Bản đồ lãnh thổ Việt Nam qua các thời kỳ (từ sơ khởi đến nay)Bản đồ lãnh thổ Việt Nam 1905

Lãnh thổ Việt Nam sau năm 1945

Đế quốc Việt Nam là tên chính thức của một chính phủ tồn tại 5 tháng trong lịch sử Việt Nam.

Bản đồ Đế quốc Việt Nam năm 1945Bản đồ Đế quốc Việt Nam năm 1945

Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa được thành lập vào ngày 2/9/1945.

Bản đồ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa được thành lập vào ngày 2/9/1945Bản đồ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa được thành lập vào ngày 2/9/1945

Từ 1954 đến 1975, Việt Nam bị chia đôi tại vĩ tuyến 17 sau hiệp định Giơ-ne-vơ.

Bản đồ Việt Nam bị chia đôi tại vĩ tuyến 17 sau hiệp định Giơ-ne-vơ Bản đồ 2 miền Nam Bắc bị chia đôi tại vĩ tuyến 17 sau hiệp định Giơ-ne-vơ

30/4/1975 Lãnh Thổ Việt Nam hoàn toàn hợp nhất như ngày nay.

Bản đồ lãnh thổ Việt Nam ngày nayLãnh thổ Việt Nam ngày nay

Hòn đảo Hoàng Sa

Việt Nam phát ngôn chủ quyền so với Hòn đảo Hoàng Sa, nhưng Hoàng Sa nay đang bị Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa chiếm đóng từ sau Hải chiến Hoàng Sa, 1974.

Quần Đảo Trường Sa

Hiện Hòn đảo Trường Sa đang bị nhiều đất nước trong khu vực mâu thuẫn do có tiềm năng lớn về dầu khí & nguồn cá dồi dào. Việt Nam là đất nước nắm giữ nhiều đảo nhất. Các đất nước đang mâu thuẫn chủ quyền gồm: Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan, Philippines, Malaysia, Brunei.

Nguồn: Lịch sử Việt Nam.

5

/

5

(

1

bầu chọn

)

By ads_law

Trả lời