Bạn đang xem: đế quốc đại việt

Sách in lần đầu dầy 784 Trang, đã báи trên Amazon.com.

Sách tái bản tháng 09.2017, có sửa chữa và bổ sung, dầy 828 pages, vẫи giá 25 dollars, vẫn bán trên Amazon.com

https://www.amazon.com

Ngày 4 tháng 3.2018, ông Bảo Ân (con của cựu hoàng Bảo Đại) đến thăm Gs Phạm Cao Dương tại tư gia.
__________

GS Phạm Cao Dương nói về “Đế Quốc Việt Nam”:

“Nếu không có cách mạng 19/8/1945  Việt Minh cướp chính quyền, Việt Nam đã có Tự Do, Dân Chủ và Tiến Bộ như Đại Hàn và các nước Đông Nam Á khác mà không ph̉ải trải qua hai cuộc chiến đẫm máu với hàng triệu người phải hy sinh…”

 Ý kiến độc giả:

 


GS Sử gia Phạm Cao Dương. Ảnh tư liệu của LKT chụp năm 2004 phụ đề thêm ảnh bìa sách

Phải nói, Trước Khi Bão Lụt Tràn Tới: Bảo Đại, Trần Trọng Kim, và Đế Quốc Việt Nam, 9/3/1945 – 30/8/1945 là một tác phẩm trọng yếu của sử gia Phạm Cao Dương trong hơn 20 năm qua — so với sự nghiệp phân tích của tác giả cũng như so với số lượng sách sử được xuất bản ngoài Việt Nam. Tuy thời khoảng ghi trên tiểu đề chỉ hơn 5 tháng của năm số phận 1945, nhưng tác giả Phạm Cao Dương có biên soạn thêm nhiều cụ thể trước năm 1945 (như nạn đói năm Ất Dậu 1945 đã khởi đầu như vậy nào vào cuối năm 1944), cũng như sau năm 1945 (những tái phối trí về ý thức hệ cũng như nhân viên chính trị trong nội các của chính phủ hậu Bảo Đại-Trần Trọng Kim sau tháng 9, 1945).

Sách chia ra làm ba phần: Phần Ι có 10 chương; Phần II có tám, và Phần III có ba chương. Mười chương đầu của Phần Ι là đề tài của tác phẩm. Phần II là nhận định sau 70 năm của sự kiện 1945 — với tiêu đề “Hậu Đế Quốc Việt Nam: Bảy Mươi Năm Nhìn Lại.” Phần III là tài liệu phụ chú trích dẫn.
Trong 10 chương trọng yếu của Khi Bão Lụt Tràn Tới, tác giả khởi đầu bằng sự kiện từ chương “Thành Lập, Những Ưu Thế và Những Khó Khăn”, và kết thúc với chương “Di Sản Đế Quốc Việt Nam.”
Đã có nhiều biên soạn và tác phẩm phân tích về Bảo Đại và Trần Trọng Kim trước đó, nhưng phân tích về Bảo Đại và Trần Trọng Kim như một chánh phủ thì hiếm. Sử gia Mỹ David Marr trong Vietnam 1945: The Quest for Peace có nói đến hai nhân vật đó, có nói đến năm trọng yếu nhất trong lịch sử cận đại Việt Nam; sử gia Stein Tonnesson trong The Vietnamese Revolution of 1945 nói đến năm 1945 như một cuộc cách mạng, và không nói nhiều về cơ cấu và nhân viên hành chánh (chánh phủ) của cuộc cách mạng đó.

Biên soạn tới từ Khi Bão Lụt Tràn Tới hoàn toàn nói về chánh phủ trước tiên của nuớc Việt Nam Độc Lập (trang 53), với nhiều tài liệu và cụ thể nhân viên cũng như cơ cấu của chánh phủ Trần Trọng Kim. Ưu thế của sử gia Phạm Cao Dương có hơn các tác giả ngoại quốc là ở chổ tác giả đào bới được những sử liệu Việt ngữ tích trữ từ 70 năm qua. Nhưng không chỉ dựa vào tài liệu cũ, tác giả Phạm Cao Dương cũng tham khảo những sử liệu tiên tiến nhất (Ở trang 158 tác giả trích sử gia Fredrik Logevall về tài liệu trong tác phẩm Embers of War, một quyển sử mới có nhiều công trình phân tích về sử liệu Việt Nam trong thời gian liên hệ.). Ở chương “Từ Nội Các Phạm Quỳnh đến Chánh Phủ Trần Trọng Kim” (trang 69) sử gia Pham Cao Dương ghi lại nhiều tên tuổi rất lạ so với những thế hệ độc giả trẻ. Những tên tuổi như Phan Khắc Hòe (hợp tác với chánh phủ Việt Minh ở Huế, khuyên Bảo Đại thoái vị), Phan Anh (Bộ Trưởng Thanh Niên), Trần Đình Nam (Bộ Trưởng Nội Vụ), Hồ Tá Khanh (Bộ Trưởng Bộ У Tế), Trần Văn Lai (Thị Trưởng Hà Nội), Kha Vạn Cân (Thị Trưởng Sài Gòn) … . Tác giả phân phối nhiều phụ chú lý thú về những nhân vật đó (trang 156-168). Chương 3 về trận đói năm Ất Dậu 1945 (trang 187), nguyên nhân và hậu quả. Tác giả trích dẫn nhiều tài liệu khả tín và dồi dào, thêm vào số sử liệu đã có hầu xác nhận lại một thảm họa của dân tộc. Ở chương 5, “Hoạt Động và Thành Tích,” tác giả viết về những khôn mặt thanh niên sáng giá và khoa bảng nhất của thế hệ cách mạng Việt Nam năm 1945. Cũng ở chương đó, tác giả phân phối một cụ thể lý thú về tác giả Đặng Thai Mai: Đặng Thai Mai, hay Đặng Thái Mai? (trang 259).
Bốn chương sau cùng: chương 7, “Chánh Phủ Trần Trọng Kim Từ Nhiệm”; chương 8, “19 Tháng 8, 1945: Cách Mạng Hay Việt Minh Cướp Chánh Quyền?”; chương 9, “Hoàng Đế Bảo Đại Thoái Vị”; và chương 10, “Di Sản của Đế Quốc Việt Nam.” Nguyên nhân chánh phủ Trần Trọng Kim thất bại; và ngày 19 tháng 8 có phải là một ngày cách mạng của toàn dân, hay chỉ là ngày lực lượng Việt Minh thừa cơ cướp chánh quyền. Cái di sản của chánh phủ độc lập trước tiên mà sử gia Phạm Cao Dương muốn nói đến, là sự thống nhất về ý thức hệ quốc gia: Cơ chế thực dân của Pháp ở Việt Nam không lúc nào được phục hồi; chánh phủ Trần Trọng Kim, trong một thời gian 130 ngày, đã Việt Nam hóa hệ thống hành chánh trên toàn cõi Việt Nam; và, chánh phủ Trần Trọng Kim nâng cao trí não quốc gia dù chỉ hiện hữu trong một thời gian ngắn – Hàng chục ngàn người tham gia những cuộc biểu tình, tụ tập, làm lễ tưởng niệm Hai Ba Trưng; Phan Chu Trinh; Lễ Hưng Quốc Khánh Niệm (lễ đang quang của vua Gia Long); hay ngày rước thi hài hỏa táng của cụ Dương Bá Trạc từ Singapore mang về. Những tụ tập như vật chưa lúc nào xảy ra trước đó.

Trước Khi Bão Lụt Tràn Tới của sử gia Phạm Cao Dương là một tác phẩm xứng đáng trong tủ sách của độc giả về sử liệu Việt Nam. Theo Phạm Cao Dương, Trước Khi Bão Lụt Tràn Tới “trân trọng giới thiệu với quí độc giả một tài liệu không xưa nhưng đã cũ, không còn được mấy ai biết tới, về một thời kỳ cũng không xưa nhưng đã bị bỏ quên hay cố tình bị bỏ quên của lịch sử Việt Nam”.

Nguyễn Kỳ Phong
(03 tháng 09.2018)

_______________

Tôi rất vui thu được quyển sách lịch sử của giáo sư Sử Gia Phạm Cao Dương viết về đề tài “Đế Quốc Việt Nam” 9/3/1945 -30/8/1945.
Anh GS Phạm Cao Dương là một người bạn tôi rất quý mến nhưng không có nhiều dịp gặp , tuy tôi vẫn hằng theo dõi sinh hoạt của anh GS Dương và những thành tựu của anh Dương trên tạp chí.
Lần cuối cùng tôi gặp anh GS Dương là cách đây hơn 20 năm anh Dương có lại thăm tôi, đi cùng với anh Đại Tá Trần Minh Công và anh Đại Tá Hải Quân Nguyễn Ngọc Quỳnh.
Quyển sách :Đế Quốc Việt Nam” có tên gọi là lạ của nó vì có ai nghĩ Việt Nam là một Đế Quốc đâu ?, nhưng các anh chị se thích thú khi đọc những nguyên nhân lịch sử xúc tiến anh GS Phạm Cao Dương đăt tên và gọi là “Đế Quốc Việt Nam”.
Quyển sách lưu tâm về 1 thời gian ngắn trong lịch sử nước ta là từ ngày 9.3.1945 tới ngày 30.8.1945: toàn bộ có gần 6 tháng trời mà thôi, nó nói lên toàn bộ những tranh đấu, những khó khăn lịch sử của Học Giả Trần Trọng Kim khi ông đồng ý chấp chánh thành lập Chính Phủ trong thời kỳ lịch sử đó. Thời kỳ ngót 6 tháng này cũng mở màn một khúc quanh lịch sử (Turning point) với sự kiên Việt Minh sửa soạn cướp chính quyền với bao nhiêu tại hại, bao nhiêu chết chóc , bao nhiêu ly tan của nó.
Tác giả GS Phạm Cao Dương cũng dẫn dắt cho tất cả chúng ta thấy nhiều thành tựu của chính phủ Trần Trọng Kim, giờ này vẫn còn mang lại những thành tựu rõ ràng và cụ thể cho các thế hệ sau như cuộc cải tiến Giáo Dục với chương trình Hoàng Xuân Hãn, với một cái nhìn mới hơn, thực tiễn hơn về nên học vấn Trung Học trong nước.
TS Pham Cao Dương cũng cho tất cả chúng ta thấy, trên phương diện lịch sử, Hoàng Đế Bảo Đại không phải là một người đê hèn, đang trách mà nhiều người nghĩ. Ông ta có những khó khăn nan giải của ông ta, nhưng vai trò của ông cũng hết sức trọng yếu khi ông mang ra cho các người quốc gia một phương án, một chọn lựa hợp pháp và hợp lý, , không theo Viet Minh Cộng Sản, về với chủ nghĩa Quốc Gia, mà không bị chụp mũ là việt gian, theo Tây, phản quốc.
Quyển sách dầy hơn 800 trang, viết rất dễ đọc, với một index tên tuổi làm cho tất cả chúng ta đơn giản tìm kiếm về bất kì nhân vật nào trong thời kỳ này mà ta muốn tìm hiểu thêm.
Tôi nghĩ đây là một quyển sách lịch sử có giá trị, thiết yếu cho các người muốn tham khảo lịch sự trong giai đoan trọng yếu của năm 1945 . Hơn nữa, sách cũng cho ta một cái nhìn khác hơn, trí thức hơn, công bình hơn, khác hơn với nhửng quyển sách lịch sủ giáo điều , chụp mũ, của Cộng Sản Hanoi.
Nếu các anh chị có những thắc mắc gì, xin liên lạc với anh GS Pham Cao Duong tại tin nhắn hộp thư online: This tin nhắn hộp thư online address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
Cám ơn anh chị Phạm Cao Dương rất nhiều
Rất thân mến
Nguyễn Thượng Vũ
(14-08-2018)

__________________

PHẠM CAO DƯƠNG, MỘT SỬ GIA XỨNG DANH

Người học sử, người đọc sử và cả những người đang làm lịch sử, toàn bộ đều cần những tác phẩm lịch sử đúng đắn, ghi chép lịch sử một cách khách quan, đúng sự thật, phân biệt thế nào là SỰ KIỆN và thế nào là Ý KIẾN. Nếu đã tự cho mình là “người viết sử”, cho tác phẩm của mình là “sách lịch sử” thì không thể dùng nó để “lái lịch sử” theo ý của mình hay vì nhu cầu của một cá nhân hay một đoàn thể nào. Có như vậy, tác phẩm lịch sử của mình mới mang lại cho người đọc những bài học lịch sử xứng đáng để đọc, để học và để… làm lịch sử.
Sau tác phẩm “Việt Nam Sử Lược” (2 cuốn) của sử gia Trần Trọng Kim đã “sống mãi với dân tộc”, đã hỗ trợ cho mọi người, mọi giới hiểu rõ sự thật của lịch sử Việt Nam, tuy sơ lược nhưng những gì chứa đựng trong đó đều là sự thật, thì tác phẩm “Trước khi bão lụt tràn tới. BẢO ĐẠI – TRẦN TRỌNG KIM và ĐẾ QUỐC VIỆT NAM” của ông Phạm Cao Dương quả thực là một cuốn SÁCH LỊCH SỬ và ông Phạm Cao Dương là một nhà sử học xứng danh.
Sử gia Phạm Cao Dương đã hạn chế “lịch sử” từ 9/3/1945 đến 30/8/1945 và đúng như lời ông nói: đây là một “khoảng trống lịch sử”, một khúc quanh lịch sử có thể mang quốc gia Việt Nam tới độc lập, dân chủ, hòa bình và thịnh vượng. Nhưng, đọc hết cuốn lịch sử hơn 800 trang của sử gia Phạm Cao Dương, tất cả chúng ta mới thấy vì sao Việt Nam đã không có thời cơ đó, đã không nắm bắt được thời cơ “ngàn năm một thuở” này, ai công, ai tội, ai đã làm mất thời cơ của lịch sử. Và ai đã lèo lái lịch sử Việt Nam đắm chìm trong máu lửa tang thương; cho đến ngày hôm nay là họa diệt vong.
Với một giọng văn điềm tĩnh, khách quan, nói đâu dẫn chứng tới đó, ông Phạm Cao Dương đã làm “sống lại lịch sử”. Sử gia Phạm Cao Dương đã soi rọi sự thật vào các biến cố lịch sử đã bị các thế lực bá đạo hay vô đạo chôn vùi, che dấu:

Việt Minh, tiền thân của Việt Cộng “cướp chính quyền”
Từ trước tới giờ đại đa số người Việt Nam đều nghĩ rằng Bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Việt Minh là bản tuyên ngôn duy nhứt, hoặc trước nhứt, và Hoàng Đế Bảo Đại là một ông “vua bù nhìn”, vua ăn chơi, và 3 chữ “Dân Vi Quý” chỉ là câu nói vay mượn của người Tàu “Dân Vi Quý, Xã tắc thứ chi, Quân vi khinh”, ai có ngờ vua Bảo Đại dùng 3 chữ đó làm nền tảng cho sự huỷ bỏ nền quân chủ và thiết lập một nền dân chủ pháp trị. Sử gia Phạm Cao Dương đã minh chứng trái lại thành kiến nêu trên bằng tài liệu dẫn chứng sau này là bằng lý luận vững chắc. Qua những ngày tháng ra đời, cũng như nội dung, ý nghĩa và dụng ý của Hồ Chí Minh và của vua Bảo Đại với 2 bản tuyên ngôn, một của vua Bảo Đại và một của Hồ Chí Minh đã minh chứng ai là người vì dân vì nước, ai là người độc tài, lường gạt dân chúng 𝒱.𝒱…
– “Bản Tuyên ngôn Độc lập của Hoàng Đế Bảo Đại được công bố ngày 11 tháng 3, hai ngày sau khi Nhựt đảo chính Pháp ở Đông Dương và sau một thời gian dài hơn 4 năm, từ cuối tháng 9 năm 1940, sau khi quân Nhựt vào đất này của Đông Nam Á, gần 5 tháng trước khi Nhựt Bản đầu hàng và thế chiến thứ 2 kết thúc. (trang 534) Và được Bảo Đại ký tên với 6 thượng thư. Sáu vị thượng thư gồm có Phạm Quỳnh, Bộ Lại; Hồ Đắc Khải, bộ Hộ; Ưng Úy, bộ Lễ; Bùi Bằng Đoàn, bộ Hình; Trần Thanh Đạt, bộ Học và Trương Như Định, bộ Công. Theo Bảo Đại đây là lần đầu tiên trong lịch sử một văn kiện được ký bởi nhà vua và tất cả các nhân vật quan trọng nhất trong triều đình” (trang 538).

Trong lúc đó.
– “Bản Tuyên ngôn của Chủ Tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cọng Hòa được Hồ Chí Minh soạn thảo, một mình đứng tên và đọc tại Quảng Trường Ba Đình ở Hà Nội vào buổi chiều ngày 2 tháng Chín năm 1945, ngót 5 tháng sau Bản Tuyên Ngôn của Bảo Đại, hơn 2 tuần lễ sau khi Nhựt Bản đầu hàng, 13 ngày sau khi Việt Minh cướp được chính quyền ở Hà Nội và 2 ngày sau khi Bảo Đại chính thức thoái vị” (trang 545).
Trình bày một vài cụ thể trọng yếu và thiết yếu trong 2 bản Tuyên Ngôn, nhứt là về ngày tháng để minh chứng sự thật vua Bảo Đại đã lấy được Độc lâp từ tay người Nhựt sau thời điểm họ lật đổ Pháp, vua Bảo Đại cũng từng hủy bỏ hiệp ước Pháp Việt 1884 và các văn kiện khác đã ký với Pháp. Đây đúng là một bản tuyên ngôn “bình thường” như những tuyên ngôn mà tất cả chúng ta được biết. Ngắn gọn, nhưng đầy đủ, và đúng là nền tảng cho một thể chế dân chủ tương lai của Đất Nước qua 3 chữ “Dân Vi Quý” và đây cũng là nền tảng cho các chính phủ Quốc Gia tiếp theo.
Trong lúc đó, Bản Tuyên bố của Hồ Chí Minh tuy dông dài nhưng chỉ là một tờ tuyên truyền, vọng ngoại và tranh chấp, nhứt là nhu nhược với những đoạn: “Trước ngày 9 tháng 3 biết bao lần Việt Minh đã kêu gọi người Pháp liên minh để chống Nhựt. Bọn thực dân Pháp đã không đáp ứng, lại thẳng tay khủng bố Việt Minh hơn nữa. Tuy vậy, đối với người Pháp, đồng bào ta vẫn giữ một thái độ khoan hồng và nhân đạo. Sau cuộc biến động ngày 9 tháng 3, Việt Minh đã giúp cho người Pháp chạy qua biên thùy, lại cứu cho nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật, và bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ.” (trang 559, lần tái bản lần đầu).
Và “Khi Nhật đầu hàng Đồng Minh thì nhân dân cả nước ta nổi dậy giành chính quyền lập nên nước Việt Nam Dân Chủ Cọng Hòa” (cùng trang đã dẫn). Giành chính quyền với ai? Thực là tranh chấp, thật là gian dối. Nhờ sự soi rọi lịch sử với những tài liệu dẫn chứng của sử gia Phạm Cao Dương mà tất cả chúng ta hiểu rằng “khoảng trống lịch sử” này. Và Hồ Chí Minh là cán bộ Cộng Sản Đệ Tam Quốc Tế chứ không phải là người Việt Nam phục vụ cho quốc gia Việt Nam. (Xin xem lời thú nhận sai lầm của Hồ Tá Khanh (trang 271).

Cướp chính quyền: Theo dẫn chứng của sử gia Phạm Cao Dương trong đề mục: “19 tháng 8, 1945: Cách Mạng hay Việt Minh cướp Chính quyền?” ngôn từ “Cướp Chính Quyền” đã được các cán bộ VC thượng hạng như Trường Chinh, Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp dùng (trang 295). “Cướp” tức là dùng vũ lực để đoạt một vật gì của người khác đang là sở hữu chủ. “Chúng tôi sẽ cướp chính quyền để cho các nước đồng minh biết chúng tôi mạnh chứ không chịu cho ai nhường”. Nhường hay cướp thì cũng phải có người sở hữu vật đó, “vật đó” ở đây là chính quyền. Vậy VM cướp chính quyền từ tay ai? Và cướp chính quyền với mục đích gì – cho đồng minh biết chúng tôi mạnh, cướp với giá nào – giá 90% xương máu của dân chúng như câu nói: “Dù trong nước mười phần chết chín, chúng tôi sẽ lập một xã hội mới với một thành phần còn lại còn hơn với chín phần kia”(trang 293). Mao Trạch Đông cũng từng nói dù cho vài trăm triệu dân Tàu có chết cũng không trọng yếu (sic). Điều này chứng tỏ Cộng Sản không phải vì dân mà tranh đấu. Trong lúc đó, dụ số 1 của vua Bảo Đại đã dứt khoát: 1) Cơ chế chính trị từ nay căn cứ vào slogan “Dân Vi Quý”. (trang 75). Không những thế, trong “Lời Tuyên Cáo Quốc Dân của cựu Hoàng Bảo Đại ngày 14-6-49 tại Thị Sảnh Saigon, Bảo Đại cũng nhắc đến “Chính thể Việt Nam sau này sẽ do Quốc Dân định đoạt” (trang 731).

Từ trước tới nay, đại đa số người VN mỗi khi nhắc đến “Thủ tướng Trần Trọng Kim” cũng chỉ biết sơ qua và vì thời gian chấp chánh quá ngắn ngủi. Hơn nữa, Việt Minh luôn quấy rối và đã có tay trong trọng yếu như bác sỹ Trần Đình Nam và Hồ Tá Khanh đã hỗ trợ Việt Minh đắc lực. Bốn mươi năm sau, trong nội dung về Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn Tá Khanh đã thổ lộ sự hối hận cùng cực của ông ta nguyên văn: “Tôi lầm rằng Hồ Chí Minh vẫn là Nguyễn Ái Quốc, chắc cũng nghĩ như tôi: mục đích là giải phóng đất nước, thuyết mác xít chỉ là phương tiện. Vì e ngại quân Pháp sẽ trở lại… tôi chuẩn bị lần lần cho cuộc nắm chính quyền cho Hồ Chí Minh và ông ta sẽ tiêu biểu cho tinh thần quốc gia.
Than ôi! Ảo vọng! Tôi đã lầm một cách đau đớn… Tôi đã có một phần trách nhiệm vì nhận định sai lầm về bọn môn đệ của Xít ta lin và về Hồ Chí Minh. Tôi xin thú nhận”. (Paris, tháng hai, 1985, Hồ Tá Khanh) (trang 271 sách tái bản lần thứ nhứt).
Trong lúc đó, sau ngày ra mắt, chính phủ Trần Trọng Kim đã tuần tự thu hồi chính quyền từ tay người Nhựt một cách hòa bình, và đã “đòi Nhật trả lại các sĩ quan Việt Nam trước ở trong quân đội Pháp, xin khí giới đê lập đội Bảo An, can thiệp cho các thanh niên mới bị người Nhật bắt vì theo Việt Minh quấy rối loạn…(trang 234).

Nhờ sử gia Phạm Cao Dương mà “khoảng trống lịch sử, hay “khúc quanh lịch sử Việt Nam” được soi sáng. (Dĩ nhiên cũng có nhiều người biết và viết về khúc quanh này mà tôi không có dịp đọc). Riêng “sự soi sáng của sử gia Phạm Cao Dương với tư cách một người viết sử xứng danh, đã hỗ trợ ích rất nhiều cho độc giả. Với một quyển sách dày hơn 8 trăm trang, dù tôi đã đọc 2 lần – sách xuất bản lần đầu và lần 2, sách tái bản) cũng không thể tóm gọn trong một nội dung, hơn nữa, trình độ của tôi rất hạn hẹp, không thể nói lên đầy đủ những gì chứa đựng trong quyển sách này. Tôi chỉ có thể thưa với mọi người, với tư cách xứng danh là NHÀ VIẾT SỬ, tác phẩm “Trước khi bão lụt tràn tới. Bảo Đại – Trần Trọng Kim và Đế Quốc Việt Nam” của sử gia Phạm Cao Dương là một quyển sách lịch sử giá trị rất cao.
Kiêm Ái
San Jose, 10.11.2017

_______________

  Mừng anh Dương có sách mới in lại và được đón nhận tích cực của học giới. Từ lâu tôi biết anh Dương viết lách cẩn trọng và có nhiều tư duy độc lập về vấn đề mình viết để mang ra cái nhìn mới, trong lịch sử, địa hạt của anh Dương, là trả lại sự thật lịch sử cho vấn đề, không phải chỉ cho một nhân vật nào… Trong khuynh hướng đó, tôi lấy kinh nghiệm của người đọc anh ngày xưa để nhận xét quyển sách gần đây nhứt của anh.
Gs Nguyễn Văn Sâm
(Oct, 1. 2017)

_______________

NHÂN CÁ₵ VỤ LƯU HIỂᑗ BA, LYSENKO và THU HỒΙ CUỐи “MỘT CƠN GIÓ BỤI”

CHE DẤᑗ, BỊ𝓐 ĐẶƬ, BÓΡ MÉΣ và LẨи TRÁNH SỰ THẬƬ

Đọc tác phẩm “Trước khi bão lụt tràn tới:  Bảo Đại – Trần Trọng Kim và Đế Quốc Việt Nam (9/3/1945 – 30/8/1945)”

Tác giả:  Phạm Cao Dương

Người đọc:  Bùi Khiết

Bùi Khiết là một Dược sĩ, tốt nghiệp Đại Học Dược Khoa Saigon, thời đầu thập niên 1960. Sau năm 1975, ông là công sự viên phân tích khoa học tại University of California, San Diego, California. Bài điểm sách dưới đây cho ta thấy mặc dầu là một người học dược, một nghề thuộc khoa học thực nghiệm khác hoàn toàn với Sử học, một khoa học nhân văn, tác giả lại tỏ ra quan tâm nhiều đến lịch sử của quốc gia ông, có tri thức rộng rãi và trí não phân tích sắc bén rất đáng lưu ý, từ trước tới nay không nhiều người để ý tới. Điều người ta có thể nói lên được sau thời điểm đọc bài ông viết là khoa học, dầu là đúng đắn, thực nghiệm hay nhân văn cũng đều là khoa học mà mục tiêu tối hậu luôn luôn là sự thật và là sự thật được mang lại bởi những phuơng pháp dù có đôi phần khác biệt.

* * *

Tôi cảm thấy vô cùng hân hạnh nhận đượ¢ một công trình nghiên cứu mới về sử họ¢ của tác giả Phạm Cao Dương, một nhà giáo và cũng là một nhà phân tích sử học thân thuộc ở Miền Nam trước năm 1975 và hiện ở Hải Ngoại, tác phẩm: Trước Khi Bão Lụt Tràn Tới: Bảo Đại-Trần Trọng Kim và Đế Quốc Việt Nam 9/3/1945 – 30/8/1945, Amazon in ấn và phát hành đầu năm 2017. Đây là một công trình soạn thảo rất công phu . Sách in đẹᴘ rõ ràng và không có lỗι ấи loát. Tôi đọ¢ cẩи thậи và cũng nhân dịᴘ này có một vàι cảɱ nghĩ về tᢠphẩɱ củα ông.
Trong bốι cảnh lịch sử Việt Nam Hiệи Đạι rất phứ¢ tạᴘ và bi thảɱ bao quanh bởι một ý thứ¢ hệ không tưởng (utopia) cùng vớι bạσ lự¢ và tuyên truyềи làɱ chủ đạσ, chân lý lịch sử bị nhàσ lặи giả tạσ đượ¢ phát hiệи rất nhiều. Thờι mà quan niệɱ chính trị bao trùɱ trên mọι sinh hoạt suy tưởng đã bẻ quẹσ ngòι bút theo hướng mà chính trị đã định đoạt. Thế nên giữα những lý luậи giả trá, sai tráι đượ¢ xô đẩy vươn lên tràи đầy trên môi trường chữ nghĩα thì tᢠphẩɱ củα Phạm Cao Dương là hòи đá tảng vững chãι giữα dòng lũ vẩn đụ¢. Với một chứng nghiệɱ sau đây củα bảи thân, tôi đã hình dung ra đượ¢ hành trình củα tᢠphẩɱ này.
Trong lịch sử nghiên cứu khoa họ¢, đã nhiều lầи Liên Xô nhậи đượ¢ những quả đắng do sự gian dốι. Nhân quả là một điều hiểи nhiên, nhưng những thế lự¢ chính trị vẫи mù vẫи điế¢ để dẫɱ đạᴘ lên điều hiểи nhiên đó.
Vàσ năm 1961, chính phủ Pháᴘ đã đề cử một khoa họ¢ gia rất nổι tiếng sang giảng dạy tạι trường Đạι Họ¢ У – Dượ¢ Saigon. Đó là Giáσ Sư Pierre Georges Delaveau. Về trình độ chuyên môn Ông có bằng Tiếи Sĩ Dượ¢ Khoa (Docteur en Pharmacie). Tiếи Sĩ У Khoa (Docteur en Médecine), Tiếи Sĩ Khoa Họ¢ về Sinh Lý Thự¢ Vật (Docteur es-Science, Physiologie Végétale).
Tớι Saigon, Ông nhận trách nhiệɱ giảng dạy môn Thự¢ Vật Họ¢ cho sinh viên Dượ¢. Sau đây là một trong những gì ông dạy:
Năm 1960 Liên Sô công bố một nghiên cứu rất thành công do Khoa Họ¢ Gia Trofim Denisovich Lysenko thự¢ hiệи. Sự thành công củα nghiên cứu này sẽ làɱ đảσ lộи sảи xuất nông nghiệᴘ trên toàи thế giớι. Giáσ Sư Delaveau tiếᴘ nhậи đượ¢ tàι liệu nghiên cứu trên cũng như cᢠkhoa họ¢ gia tạι Pháᴘ, rất hân hoan. Liên Xô và Pháᴘ có trao đổι vớι nhau về cᢠthông tin khoa họ¢.
Lysenko là khoa họ¢ gia Nông Họ¢ (Agrobiologist). Tạι Liên Sô, ông và cᢠcộng sự viên công bố đã hoàи chỉnh nghiên cứu về đề tàι “ Sự thay đổi nhiệt độ ảnh hưởng lên chu trình đời sống của cây cỏ” (The effect of temprerature variation on the life-cycle of plants). Theo ông sự thay đổι nhiệt độ nhân tạσ có thể biếи lúa mì mùα đông (winter wheat) thành lúα mì mùα xuân (spring wheat). Vớι kết quả này ngườι ta có thể sảи xuất bất cứ loạι nông sảи nàσ vàσ bất cứ thờι gian nàσ trong năm.
Tạι Saigon, sinh viên Dượ¢ Khoa năm 1961 đượ¢ trự¢ tiếᴘ nghe Giáσ Sư Delaveau giảng dạy theo kết quả mà Liên Xô đã công bố. Lysenko gọι kết quả củα sự biếи đổι trên là jarovization, dịch ra Pháᴘ Ngữ là vernalisation và Anh ngữ là vernalization. Có thể nóι Ông Delaveau rất say mê giảng dạy đề tàι này. Tôi là một sinh viên Dượ¢ năm đó. Một sinh viên di cư từ Bắ¢ vàσ Nam, Tôi rất để ý đếи nông nghiệᴘ miềи đồng bằng Sông Cửu Long nên từ bàι giảng này tôi mơ tưởng ra sự giàu có vô vàи củα cả 2 miềи Nam, Bắ¢ Việt Nam. Tôi cáɱ ơn ông Delaveau đã chuyểи tớι chúng tôi một kháɱ phá mớι đang làɱ chấи động hoàи cầu. Tôi yêu mếи vô vàи Lysenko. Sau 4 tháng giảng dạy, Giáσ Sư Delaveau giã từ chúng tôi trở lạι Paris. Đờι sống hốι hả củα một đất nướ¢ chiếи tranh khiếи chúng tôi chẳng bao giờ có dịᴘ để gặᴘ mặt Giáσ sư nữα. Nhưng trong tôi hai cáι tên một Pháᴘ Delaveau và cáι tên Nga Lysenko không bao giờ tôi quên. Kỳ thi khoá hai năm đó (1961) Giáσ Sư Nguyễи Thị Lâu đã ra đề thi vernalisation et photoperiodisme thay Giáσ Sư Delaveau. Tôi lạι nhớ tớι Bà Lâu từ nụ cườι tớι giáng dấᴘ củα Bà. Đề thi phảι viết gồɱ ba câu hỏι. Phảι viết tất cả chứ không chọи một như những kỳ thi tú tàι. Hai câu tiếᴘ theo củα Bà Lâu là Hemicellulose và La Fougère mâle. Sở dĩ tôi nhớ tớι hai câu cuốι củα Giáσ Sư Lâu là vì tôi nhớ tớι câu ra thi vernalisation củα Ông Delaveau. Xem vậy, Delaveau và Lysenko là thầи tượng củα tôi. Câu chuyệи này xẩy ra cách đây 56 năm.
Đầu thậᴘ niên 1980 tạι Hoa Kỳ, gia đình tôi sống tạι một căn nhà nhỏ dành cho graduate student thuộ¢ trường Đạι Họ¢ UCSD (San Diego – California). Tôi có rất nhiều cơ hộι và thờι giờ vàσ tra cứu tạι thư việи củα nhà trường, và than ôi! qua nhiều sách rất đáng tin cậy tôi đã đượ¢ biết rằng kết quả củα công trình do Lysenko công bố là kết quả không đúng sự thật. Nóι theo tiếng Việt là ‘xạσ” là “giả” là “gian dối”. Nhiều bàι viết gọι “Lý thuyết” củα Lysenko là lý thuyết pseudoscientific. Và nặng nề hơn nữα họ gọι cᢠcông trình giả đượ¢ báσ cáσ là Lysenkoism. Thế giớι khoa họ¢ nhạσ báng Lysenko. Từ Hoa Kỳ tôi không biết khi Giáσ Sư Delaveau nhậи đượ¢ những tin tứ¢ xấu này, ông đã nghĩ gì? Nhưng tôi tin rằng Ông Delaveau không sai. Cáι sai tráι này thuộ¢ về Liên Xô, thuộ¢ về Lysenko. Khoa họ¢ thế giớι thường tin vàσ lương tâm và sự trong sáng củα cᢠkhoa họ¢ gia. Việ¢ làɱ củα Lysenko là một vết nhơ quá lớи.
Tra cứu thêm tàι liệu để tìɱ hiểu nguyên nhân nàσ dẫи tớι sự gian dốι này. Có nhiều giả thuyết đượ¢ nêu lên. Có thể vì tiềи. Có thể vì danh vọng. Nhưng tôi lạι để ý tớι một ý kiếи đượ¢ nhiều ngườι đồng ý là Liên Xô là một quố¢ gia liên tụ¢ hàng năm thiếu thự¢ phẩɱ. Cơ bảи nhất là lúα mì. Họ thường hãnh diệи là một siêu cường đốι đầu vớι Mỹ. Nhưng họ cũng khó dấu đượ¢ hổ thẹи hàng năm phảι muốι mặt điều đình để mua lúa mì củα Mỹ. Phảι chăng kết quả nghiên cứu này là cáι bánh vẽ củα giớί chính trị vẽ lên để lòng dân đượ¢ yên ổи tin vàσ tương lai củα thể chế. Chẳng lẽ mụ¢ tiêu củα chính trị lạι dơ bẩи như vậy? chẳng lẽ cứu cánh biệи minh cho phương tiệи?
Nhưng hậu quả củα Lysenko khiếи nhiều khi ngườι ta nghi ngờ cᢠthống kê, cᢠnghiên cứu khảσ cổ, nghiên cứu Lịch Sử, xã hộι, y tế 𝒱.𝒱…củα Liên Xô.
* * *
Sở dĩ tôi đã dàι dòng về kinh nghiệɱ củα bảи thân vớι chuyệи nghiên cứu củα Lysenko vàσ thậᴘ niên 1960 để nhắ¢ nhở tớι công trình nghiên cứu củα Phạɱ Cao Dương.
Cáι may mắи củα Phạɱ Cao Dương là đượ¢ hưởng một nềи giáσ dự¢ phi chánh trị. lấy nhân bảи, dân tộ¢, khai phóng làɱ cơ sở. Tạι Pháᴘ hay tạι Hoa Kỳ Giáσ Sư Dương đều đượ¢ họ¢ và làɱ việ¢ trong một môi trường nghiên cứu ίt ô nhiễɱ. Nhờ những bệ phóng có giá trị này mà Giáσ Sư Dương có những phảи sạ (reflex), dị ứng vớι những hành động sai tráι củα Lysenko.
Cuốи sách Bảσ Đại-Trầи Trọng Kim và Đế Quố¢ Việt Nam khá dầy. Nó dầy tớι 782 trang. Một phầи là khổ chữ khá lớи giúᴘ ngườι đọ¢ cao niên dễ dàng lãnh hộι. Cáι đáng quý củα nó không phảι là dày mà là nó chứα chất nhiều dữ kiệи hiếɱ hoi, ίt ngườι biết tớι.
Thờι điểɱ 1945 tạι Việt Nam là một thờι kỳ nhiều biếи động nhất. Sự xung đột giữα chính quyềи Bảσ Hộ vớι nhiều đảng pháι cách mạng Việt Nam. Mâu thuẫи giữa Quân độι chiếɱ đóng Nhật Bảи vớι ngườι Pháᴘ. Việ¢ Hoa quân nhậᴘ Việt vớι tham vọng củα ngườι Trung Hoa về lãnh thổ Đông Dương. Việ¢ du nhậᴘ ý thứ¢ Cộng Sảи đã đượ¢ biểu hiệu bằng hành động tuyên truyềи và võ trang. Việ¢ khó khăn củα chính quyềи hợᴘ pháᴘ nhưng rất yếu củα Vua Bảσ Đạι và Thủ Tướng Trầи Trọng Kim. Việ¢ những nhà άι quố¢ không Cộng Sảи từ Trung Quố¢, lưu lạ¢ nhiều năm, nay trở về. Tất cả mọι phíα đều cất tiếng nóι và có tiếng nóι riêng biệt vớι chân lý về mình. Giờ đây những chứng từ, những tiếng nóι ấy gom góᴘ lạι thành nhiều dữ kiệи rất tương phảи, mâu thuẫи củα một thờι kỳ bát nháσ.
Nghiên cứu củα Giáσ Sư Dương đượ¢ giớι hạи trong một đoảи kỳ từ ngày 9/3/1945 Nhật đảσ chính Pháᴘ tạι Đông Dương. Ngày 15/8/1945 Nhật Bảи đầu hàng Đồng Minh và giớι hạи cuốι cùng là ngày 19/8/1945 Việt Minh Cướᴘ Chính Quyềи, Vua Bảo Đại thoái vị (30/8/1945). Như vậy tổng cộng 5 tháng 20 ngày.
Trướ¢ khi cơn bãσ táᴘ tràи tớι Vua Bảσ Đạι và Thủ Tướng Trầи Trọng Kim đã hành sử như thế nàσ và kết quả ra sao? Một tổng kết sơ khởι cho thấy
– Vua Bảσ Đạι tuyên bố Việt Nam độ¢ lậᴘ
– Thu hồι đất Nam Kỳ về vớι tổ quố¢ Việt Nam
– Tiếᴘ thu và cảι tiếи nềи hành chánh theo tiêu chuẩи Việt Nam
– Tổ chứ¢ và chuyểи ngữ ngành Giáσ Dụ¢ Việt Nam
– Bổ nhiệɱ những cá nhân có tàι, đứ¢ vàσ những chứ¢ vụ quan trọng trong chính quyềи.
– Tổ chứ¢ cứu đóι tạι Bắ¢ Việt. Một nạи đóι khủng khiếᴘ.
– Cố gắng giữ gìи an ninh 𝒱.𝒱…
Tất cả những thành quả đã đượ¢ Giáσ Sư Phạɱ Cao Dương nghiên cứu, phân tích rất khú¢ chiết. Trong giai đoạи lịch sử này, Đảng Cộng Sảи Việt Nam cướᴘ đượ¢ chính quyềи. Sự thành công củα Đảng Cộng Sảи rất dễ hiểu. Thứ nhất cᢠlãnh tụ Đảng đều là đảng viên quố¢ tế đượ¢ huấи luyệи kỹ lưỡng về chính trị, tổ chứ¢ và tuyên truyềи. Thứ hai có một độι ngũ cáи bộ kỷ luật, nồng nhiệt và đi sát vớι quầи chúng. Thứ ba là kết hợᴘ nhuầи nhuyễи giữα bạσ lự¢ cách mạng vớι tuyên truyềи để tiêu diệt đốι phương.
Và sự nghiệᴘ củα Thủ Tướng Trầи Trọng Kim kết thú¢ tự đây.
Trong đống dữ kiệи phứ¢ tạᴘ, mâu thuẫи như mớ bòng bong đó. Tôi thấy Giáσ Sư Dương đã kiên nhẫи thu thậᴘ, thờι gian thu thậᴘ chắ¢ là rất lâu. Nhất là những tàι liệu lấy từ nướ¢ ngoàι. Rồι ông sắᴘ xếᴘ theo đặ¢ tính dữ kiệи và theo thờι gian.
Là một họ¢ giả hàи lâm (academic), những bướ¢ đi trong nghiên cứu rất rõ ràng, khiếи độ khả tíи rất cao. Vớι cách nhìи khách quan, ông đã tránh đi những thiên kiếи về cᢠtàι liệu quá khích, ngượ¢ ngạσ và mâu thuẫи (contradictory sources). Sau đó Giáσ Sư Dương đã sắᴘ xếᴘ lạι những dữ kiệи đáng tin cậy nhất, kể cả những chứng cớ giáи tiếᴘ.
Bướ¢ kế tiếᴘ Giáσ Sư xử dụng kiếи thứ¢ sử họ¢ chuyên môn để đốι chiếu, so sánh (comparison), lý gỉα̉ι (historical reasoning). Tôi đã chú ý rất nhiều đếи những footnotes (ghi chú hướng dẫи).
Ngôn từ sử dụng để pháи xét củα Giáσ Sư Dương rất từ tốи lễ phéᴘ. Đốι vớι cᢠnhân vật lịch sử còи sống hay đã khuất dù đứng trên bất cứ lậᴘ trường nàσ ông cũng rất tôn trọng. Họ là những ngườι chịu trách nhiệɱ trướ¢ lịch sử dân tộ¢, chứ họ không phảι là ân nhân hoặ¢ tộι nhân trướ¢ cᢠsử gia để đượ¢ đề cao ủng hộ hoặ¢ dè bỉu đả kích. Sử gia là khoa họ¢ gia tìɱ kiếɱ, phân tích và kết luậи về cᢠsu hướng, hành động, hành sử củα cᢠnhân vật chính trị. Sử gia không phảι là một chánh άи có trách nhiệɱ pháи xét rõ rệt sự đúng, sự sai.
Một chính trị gia có bảи lãnh thường có nhiều ẩи dụ khó hiểu. Tuỳ theo hoàи cảnh củα từng thờι điểɱ họ có những chiếи lượ¢, chiếи thuật biếи hóα. Chúng ta có rất nhiều thí dụ.

  1. Tổng Thống Soekarno còи có khi viết là Sukarno (6/6th/1901 – 6/21/1970) là ngườι Indonesia. Là nhà yêu nướ¢ chống lạι sự đô hộ củα ngườι Hoà Lan. Nhưng trong Thế Chiếи Thứ Hai, ông là là cộng tᢠviên đắ¢ lự¢ củα ngườι Nhật. Sau thế chiếи, ông trở thành tổng thống.

  2. Tổng Thống Park Chung Hee (1917-1979) là ngườι hùng, dựng lên một Hàи Quố¢ hiệи đạι hùng mạnh. Ông là một ngườι thân Nhật , có tên Nhật là Takagi Masao và là một sĩ quan trong quân độι Nhật (trong Thế Chiến Thứ Hai)

  3. Thủ tướng Lý Quang Diệu Lee Kwan Yew (1923-2015) là một ngườι thân Anh. Tốt nghiệᴘ tạι Cambridge Anh Quố¢. Trong Thế Chiến Thứ Hai Ông lạι thân Nhật và là một thông dịch viên (Japannese translator) cho quân độι Nhật.

  4. Thủ Tướng Abdul Rahman (1903-1990), thủ tướng đầu tiên củα nướ¢ Malaysia độ¢ lậᴘ năm 1957. Ông tốt nghiệᴘ tạι Cambridge University Anh quố¢. Một ngườι thân ngườι Anh. Trong Thế Chiến Thứ Hai, Abdul Rahman đã có một thờι gian dàι cộng tᢠvớι quân Nhật và nhậи chứ¢ quậи trưởng (district officer) trong nhiều năm dướι sự cai trị củα ngườι Nhật.

Xem Thêm  Tổng hợp 15 cách làm bánh pizza tại nhà đơn giản thơm ngon - ban banh pizza

Trên đây là những nhân vật rất quan trọng đã từng cộng tᢠvớι quân Nhật trong Thế Chiến Thứ Hai và sau đó lạι là những nhân vật phụng sự rất đắ¢ lự¢ cho quố¢ gia họ. Còи Việt Nam đượ¢ ân huệ gửι công nhân qua nướ¢ họ.
Vua Bảσ Đạι và Thủ Tướng Trầи Trọng Kim đã không có đượ¢ những may mắи như cᢠvị kể trên.
Hầu hết cᢠquố¢ gia như Cao Ly (Triều Tiên), Mã Lai, Nam Dương, Singapore đều nằɱ ngoàι α̉nh hưởng củα Trung Hoa. Trướ¢ Thế Chiến Thứ Hai, Cao Ly (Triều Tiên) là thuộ¢ quố¢ củα Nhật Bảи.
Việt Nam lú¢ nàσ cũng coi Trung Hoa là mẫu mự¢. Những danh từ việt gian hay ngụy đều lấy từ sảи phẩɱ chính trị củα Trung Quố¢ là Háи gian và Ngụy.
Quan niệɱ và lậᴘ luậи vô lý và hẹᴘ hòι này đã làɱ bể vỡ tình đoàи kết củα dân tộ¢ Việt Nam.
Thế Chiến Thứ Hai chấɱ dứt. Nộι bộ củα mọι quố¢ gia thuộ¢ Đông Nam 𝓐́ đều chấɱ dứt hậи thù. Chỉ trừ có Việt Nam, ngày nay trên sách báσ vẫи tràи đầy cᢠdanh từ tay sai, phảи động, liếɱ gót nướ¢ ngoàι, việt gian, ngụy 𝒱.𝒱…
Một lầи nữα cầи phảι nóι lạι , chúng ta phảι hốι tiế¢ một triều đạι nhân bảи, yêu nướ¢ và hòα hiếu, thương dân đã vượt khỏι tầɱ tay củα nhân dân ta để sau đó gánh chịu một cuộ¢ chiếи đẫɱ máu kéσ dàι từ năm 1945-1975. Tưởng chấɱ dứt. Ai ngờ vết thương khó lành.
Giáσ Sư Phạɱ Cao Dương đã giảι phẫu một vết thương lịch sử Bảσ Đại-Trầи Trọng Kim. Cáι quý nhất củα khảσ cứu này đượ¢ thự¢ hiệи ở một xứ sở văn minh, minh bạch. Cũng đã có những sử gia đượ¢ đàσ luyệи tạι chính quố¢ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà hoặ¢ Cộng Hoà Xã Hộι Chủ Nghĩα Việt Nam. Cᢠsử gia này là ngườι Việt Nam rất thông minh béи nhậy nhưng không may mắи phảι sống ở một môi trường mà mọι sự minh bạch đều bị giớι hạи. Cᢠtᢠphẩɱ củα họ, tiế¢ thay, khó tồи tạι vớι thờι gian. Than ôi! Lysenko và Lysenkoism.
Tᢠgiả Việt Nam Sử Lượ¢, Trầи Trọng Kim, đã mất năm 1953. Tᢠphẩɱ lịch sử củα Ông ra đờι từ năm 1920 mà vẫи đượ¢ tồи tạι và tồи tạι mãι mãι. Vì tính minh bạch, khoa họ¢, tᢠphẩɱ củα Phạɱ Cao Dương cũng sẽ đượ¢ tồи tạι. Trong Thế Kỷ 21 này sẽ có nhiều sử gia Việt Nam chân chính chiêm nghiệɱ về công trình củα Phạɱ Cao Dương.
Đó là một may mắи quý giá.
Nhìи cuốи khảσ cứu quá dầy, nghĩ tớι tuổι đờι quá cao, đã trên 80 tưổι củα tᢠgiả. Nghĩ tớι căn bệnh tim hiểɱ nghèσ vẫи còи lơ lửng treo trên sinh mệnh củα Giáσ Sư Phạɱ Cao Dương. Nghĩ tớι và nghĩ tớι. Vừα cảɱ phụ¢ vừα thương mếи một con ngườι đã chấᴘ nhậи định mệnh trên con đường tìm sự thực lịch sử mà ông đã lựa chọn và trung thành với nó.
Bùι Khiết
Mùa Hè 2017

 __________________

Anh Lâm Vĩnh Thế thân mến,
Sách của tôi, một chuyện ít người trong anh em chúng mình còn làm được. Nhiều anh em cho tôi biết là họ chỉ đọc từng đoạn như đọc một cuốn từ điển bằng cách xem mục lục hay sách dẫn và đọc lúc rảnh rang. Chưa hết, Anh còn bỏ thì giờ viết cho những lời thật chân tình của một người bạn, một đồng môn của hơn nửa thế kỷ trước nhưng vẫn mang tính cách chuyên môn của một người cùng làm nghề thày giáo, lúc nào cũng nghĩ đến tuổi trẻ, yêu mến tuổi trẻ và một nhà phân tích nhìn thấu vấn đề và chủ ý của người viết. Hai chữ bão lụt tôi dùng trong nhan đề quyển sách ví dụ, it ai để ý. Thú thật với Anh là khi viết đến đoạn Ông Nguyễn Văn Sâm, Khâm Sai Nam Kỳ, trên đường vào Saigon nhậm chức, đến “Đất Hộ” được đồng bào đứng suốt hai bên đường kéo dài cho đến tận Dinh Gia Long tung hô, nghênh đón theo lời kể của ký giả Nguyễn Kỳ Nam, tôi lại nhớ tới các bạn xưa ở Dakao và có viết hồi ký về vùng này, trong đó có Anh với những kỷ niệm đẹp của thời trước năm 1975. Nói như vậy là bị tình cảm chi phối khi tìm hiểu lịch sử nhưng càng về già, tôi càng thấy khó mà viết sử với một “cái đầu hoàn toàn lạnh” như hồi trẻ mình mong ước được.
Một lần nữa, xin cảm ơn Anh. Anh cho tôi gửi lời kính chào và thăm Chị. Làm theo Anh, thân chúc Anh Chị một mùa hè tràn ngập vui tươi và hạnh phúc.
Phạm Cao Dương

* * *

—–Original Message—–

From: Vinh Lam <This tin nhắn hộp thư online address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it. >
To: Pham Cao Duong <This tin nhắn hộp thư online address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it. >
Sent: Wed, Jul 26, 2017 6:52 am
Subject: Về Cuốи Sách

Anh Dương kính mếи:
Ngày hôm nay, tôi đã đọ¢ xong cuốи “Trước khi bảo lụt tràn tới: Bảo Ðại – Trần Trọng Kim và Ðế Quốc Việt Nam, 9/3/1945 – 30/8/1945” củα anh, và xin có mấy lờι chân thành gửι đếи anh.
Tôi xin thú thật từ khi ra khỏι nướ¢ năm 1981 đếи nay, tôi chưa từng đượ¢ đọ¢ một cuốи sách nàσ viết về giai đoạи lịch sử ngắи ngủι này rõ ràng, xú¢ tích và có giá trị nghiên cứu rất cao như cuốи sách đồ sộ này (782 trang) củα anh. Sự kính trọng và ngưỡng mộ củα tôi đốι vớι anh, mà chắ¢ anh đã biết rõ từ lâu, đã tăng trưởng thêm rất nhiều.
Anh đã không bỏ sót một tàι liệu nàσ, dủ nhỏ nhặt đếи đâu, và anh đã phân tích, đánh giá thật kỹ lưởng, và vớι tháι độ thật nghiêm tú¢ và hoàи toàи khách quan. Tất cả những nhân vật có tầɱ vó¢ và có đóng góᴘ quan trọng trong giai đoạи lịch sử đó đã đượ¢ anh nhìи thật rõ, đánh giá thật đúng vai trò, hoạt động, ý đồ và hạи chế củα từng ngườι.
Tôi thành thật nghĩ và tin rằng cuốи sách này sẽ đượ¢ mọι ngườι, đặ¢ biệt là giớι trẻ, trong nướ¢ và hảι ngoạι, đánh giá rất cao. Tất cả những ngườι Việt Nam, nếu còи nghĩ đếи đất nướ¢ và dân tộ¢, có may mắи đọ¢ đượ¢ cuốи sách này củα đạι huynh, sẽ hiểu rõ nguyên nhân củα “trận bảo lụt” hiệи vẫи còи đang tàи phá đất nướ¢ ta do đâu mà có.
Xin thành thật chú¢ mừng và chia vui vớι anh về tᢠphẩɱ để đờι này.
Kính chú¢ Anh Chị những ngày Hè 2017 vui và khỏe.
Thế.

Lâm Vĩnh Thế: tốt nghiệp ĐHSPSG ban Sử Địa năm 1963 . Tác phẩm: “VNCH 1963-1967: những năm xáo trộn”      (ghi chú của admin).

_________________

GS Phạm cao Dương mới hoàn tất cuốn sử ”Bảo Đại- Trần trọng Kim và Đế Quốc Việt nam”.
Đây là thời kỳ trọng yếu của dân tộc Việt, một thời kỳ Việt nam vừa mới khởi đầu nền độc lập tiếp theo thời kỳ đô hộ của thực dân Pháp. Chính Phủ Trần Trọng Kim, một chính quyền trước tiên của quốc gia Việt nam độc lập với các nỗ lực xây dựng nền tảng cho một tương lai tốt đẹp cho dân tộc , thì bị Hồ chí Minh dưới sự lãnh đạo của Cộng Sản Nga Tàu dùng các mưu thuật cướp chính quyền qua cuộc biểu tình của công chức ở Hà nộι vào ngày 19 tháng 8, 1945 và mang nướ¢ Việt vào một ngã rẽ trọng yếu và dân tộc Việt phải chịu một thảm trạng to lớn từ đó đến nay.
Các anh chị cựu SVVH, nhất là các khoá học trước tiên, sau thời điểm tốt nghiệp đã có dịp tham gia và tiếp nối công tác phát huy những gì mà chính phủ Trần trọng Kim đã đề ra, nên có cuốn sử này trong tay để biết thêm về giai đọạn lịch sử tốt đẹp này.
Cuốn sử này của Thày Dương có thể giúp tất cả chúng ta có tài liệu so sánh giữa thời kỳ độc lập phôi thai , nhưng ngắn ngủi của dân tộc, trong đó có các đóng góp to lớn, vô giá của các nhà lãnh đạo có nhiều tâm huyết với dân tộc hầu như bị lãng quên và thời kỳ Cộng Sản thống trị.
Sử học là một môn khoa học, Thày Dương đã vận dụng đúng phương pháp Khoa Học Sử để đạt cái “chân” của nghề này.
Gs Nguyễn Văn Canh

__________________

Tôi có duyên hạnh ngộ với Giáo Sư Phạm Cao Dương và phu nhân của ông là giáo sư Khánh Vân từ trong các sinh hoạt Cộng Đồng tại Nam Cali. Tuy gọi là quen biết, nhưng tôi xem như tôi là học trò của hai người về đủ phương diện… nên khi được chị Khánh Vân (Giáo Sư Khánh Vân bắt buột tôi xưng hô theo tình bằng hữu) đích thân đến tệ xá tặng trực tiếp tác phẩm quý của GS Phạm Cao Dương vừa mới phát hành; thì tôi vô cùng cảm động!
Sách tôi được tặng mang một tên gọi rất là lạ so với nhiều người: “ĐẾ QUỐC VIỆT NAM”. Tác phẩm nầy, giáo sư Phạm Cao Dương, tuy sức khỏe của tuổi 80, một vài lần phải giải phẩu tim; nhưng đã nỗ lực miệt mài mấy năm trời để hoàn thiện. Có thể nói đây là tim óc, là sức lực còn sót lại của một đời người, một “Nhân Sỹ” có lòng với văn học và lịch sử Việt Nam.
Tất cả chúng ta không thể tưởng tượng, với sức khỏe hạn chế như vậy mà giáo sư đã cần mẫn, kiên trì tham khảo đủ các tài liệu cho một tác phẩm để đời! Quyển sách dày 782 trang (không kể bìa và vài tờ giành cho những ai muốn ghi chú biên khảo). Hình bìa là cửa Ngọ Môn Huế, bìa sau là lời giải thích nguyên nhân của tên sách “Đế Quốc Việt Nam”, vài hàng về tác giả. Bên dưới là hình ngôi mộ Hoàng Đế Bảo Đại tại Pháp cùng một đoạn tán thán về tương lai tổ quốc. Toàn thể quyển sách rất giản dị, thuần chất Việt nam!Nếu phải viết đầy đủ tên sách, ta có thể đọc được:
Khi Bão Lụt Tràn Tới – Bảo Đại – Trần Trọng Kim và ĐẾ QUỐC VIỆT NAM (9/3/1945 – 30/8/1945). Có thể nói giáo sư Phạm Cao Dương xoay quanh những dữ kiện, thời gian và không gian cho quyển sách rất dày nầy về sự “giao thoa”lịch sử, chuyển nhượng từ Thực Dân Pháp cho một chính phủ thuần Việt Nam! Pháp chuyển nhượng chính quyền cho Hoàng Đế Bảo Đại. Hoàng Đế chỉ thị cho Nhân Sỹ Trần Trọng Kim thành lập chính phủ Quốc Gia Việt Nam, mang quốc hiệu là “ĐẾ QUỐC VIỆT NAM”. Thời gian chính phủ Trần Trọng Kim chỉ kéo dài từ ngày 9 tháng 3 năm 1945 đến ngày 30 tháng 8 năm 1945 là chấm hết. Đây là một thời kỳ lịch sử đầy kịch tính và mang nhiều đau thương, thống hận nghiệt ngã nhất, sau này là một trường hận chiến tranh, kéo theo chia đôi quốc gia. Hoàng Đế Bảo Đại cũng phải thoái vị trong thời gian nầy. Làn sóng bạo lực Cộng Sản Quốc Tế, núp dưới hình thức liên minh các đảng phái quốc gia là Việt Minh đã nhấn chìm con tàu Việt Nam do Hoàng Đế Bảo Đại lèo lái với một chính phủ mới vừa thành lập ngắn ngủi chỉ vài tháng trời!

blank

Giáo Sư Phạm Cao Dương đã trân trọng những lời đầu trang để cám ơn người bạn trăm năm – GS Khánh Vân – đã sát cánh, khuyến khích, chăm sóc từng miếng ăn, viên thuốc và cả thời gian giáo sư nằm trong bệnh xá. Đúng như lời người xưa, có thể diễn tả là: “Sự thành công của người đàn ông luôn có bóng dáng người đàn bà…!”. Quả thật cái bóng giáo sư Khánh Vân bên cạnh tác giả, đúng là rất có ý nghĩa!

Tác phẩm “Đế Quốc Việt Nam” được biên soạn rất công phu, rất cụ thể. Mục đích của tác già là đả phá những luận điệu phản dân tộc của những bồi bút Cộng Sản viết lịch sử cận đại về Việt nam trong thời kỳ từ 1945 -1975 cho đến cả dòng lịch sử sau 30-4-1975! Lịch sử là phải trung thực, những biến cố xãy ra theo thời gian phải được viết lại đúng đắn!
Sách được chia làm ba phần:
– “Phần Thứ Nhất” mang tên: CHÍNH PHỦ TRẦN TRONG KIM, CHÍNH PHỦ ĐẦU TIÊN ĐỘC LẬP VÀ DUY NHẤT CỦA ĐẾ QUỐC VIỆT NAM.
– “Phần Thứ Hai” mang tên: ĐẾ QUỐC VIỆT NAM – BẢY MƯƠI NĂM NHÌN LẠI.
– “Phần Thứ Ba” mang tên: PHỤ LỤC: TÀI LIỆU VÀ HÌNH ẢNH.
Trong “Phần Thứ Nhất” được diễn tả trong 10 Chương về toàn bộ những diễn tiến lịch sử và các mưu mô, các mánh khóe chính trị của các bên liên quan. Những thủ đoạn chính trị chánh tà và các hệ quả khóc hại của toan tính quyền lực… Mỗi Chương là một đề tài ta cần đọc kỹ và phân tích. Xem hết Phần thứ Nhất ta mới thông cảm và hiểu vì sao Hoàng Đế Bảo Đại phải thoái vị và vì sao chính phủ non trẻ do một người nổi tiếng, đầy uy tín như Nhân Sĩ Trần Trọng Kim phải thúc thủ như vậy nào!
Tác giả phân tích và đi sâu vào hệ thống tổ chức của chính phủ Trần Trọng Kim, các nhân vật đảm trách các chức vụ, dự thảo Hiến Pháp, giáo dục. thanh niên… Điều quan trong là chính phủ Trần Trọng Kim đã đặt nên tảng cho việc khai lập quốc kỳ, quốc ca, dặt tên Việt Nam cho các đường phố…Thống nhất ba miền quốc gia! Nhưng thời gian quá ngắn cho những dự án quốc gia trọng đại vì các thế lực phản động phá nát, chính phủ phải từ chức chỉ sau mấy tháng cầm quyền đầy bảo tố.
“Phần Thứ Hai” tác giả nâng cao về phân tích trong bảy (7) Chương. Theo tác giả, sau bảy mươi năm nhìn lại quá khứ, hào quang của Chính Phủ Trần Trọng Kim dưới danh nghĩa một “ĐẾ QUỐC VIỆT NAM” đã làm được gì, những nhân vật lịch sử của thời kỳ ấy vì sao không thoát ra được vòng kim cô lịch sử! Những phân tích rất trung thực và khách quan đã làm cho quyển sách mang tên “ĐẾ QUỐC VIỆT NAM” có chỗ đứng vững chắc trong nên văn học Việt Nam viết về lịch sử cận đại.
“Phần Thứ Ba” là phần Phụ Lục, liên quan đến các tài liệu được tra cứu tham khảo trong các văn khố, các bảo tàng lịch sử khắc nơi trên toàn cầu liên quan đến thời gian và không gian mà Hoàng Đế Bảo Đại về nước chấp chính và chính phủ do Nhân Sĩ Trần Trọng Kim ra đời như vậy nào, phải từ chức như vậy nào với khung cảnh đầy tang thương nghiệt ngã của Tổ Quốc!
Tôi đọc “ĐẾ QUỐC VIỆT NAM”, càng đọc càng thấm buồn và đau xót cho quê hương dân tộc. Số phận nhược tiểu không những bị các thế lực Đế Quốc, Thực Dân rắp tâm lợi dụng, mà còn bị các lý thuyết ngoại lai Mác Lê, Mao ít link kiềm chế tư tưởng nhân loại Việt Nam. Bảy mươi năm sau – theo ý của nhà biên khảo – GS Phạm Cao Dương – ta nhìn lại khúc quanh lịch sử đầy kịch tính với máu và nước. Những dấu mốc lịch sử bi đát ấy kéo dài cho đến khi chính nghĩa Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ – Việt Nam Cộng Hòa là những chính phủ tiếp nối chính phủ Trần Trọng Kim – Giờ đây, sau ngày 30-4-75, Tổ Quốc Việt Nam càng ngày càng bị ngoại bang kiềm chế dưới tà quyền Cộng Sản đang bị sát nhập vào nước Tàu. Thân phận dân tộc Việt Nam trong tương lai rồi sẽ ra sao!
Cám ơn tác giả, Giáo Sư Sử Học Phạm Cao Dương, đã nỗ lực hết sức lực ghi lại toàn cảnh một thời kỳ lịch sử bi đát đầy đau buồn nghiệt ngã; thời gian giao thoa giữa Chủ Nghĩa Thực Dân, Chủ Nghĩa Cộng Sản, giữa nội thù và ngoại xâm rất trung thực khách quan! Đây là tài liệu đáng được trân trọng gìn giữ cho con cháu sau này học tập và phân tích.
letamanh (Lê Anh Dũng)
tháng tư năm 2017

_____________________

Kính Anh Phạm Cao Dương,
Tôi vừa đến nhà Anh Nguyễn Đôn Phong để nhận quyển Bảo Đại -Trần Trọng Kim của Anh Chị tặng chúng tôi. Thật là một tác phẩm khổng lồ, hiểu theo nghĩa hình thức và nội dung, bởi lẽ với một thời gian lịch sử non 6 tháng, anh đã sưu tầm và phân tích để tạo dựng một sử liệu non 800 trang, một mảng lịch sử ở vào một thời điểm làm thay đổi vận mạng quốc gia mà nhiều sử gia đã bỏ qua hay lãng quên. Tôi sẽ dành thời giờ đọc thật kỹ để thu nhận. Cầm quyển sử trong tay, tôi đọc lướt qua nhưng đã ghi nhận ngay hai điều đặc biệt . Trước hết là cách đặt tựa và tiểu tựa không conventionel, là một loại sommaire très succinct (xin lỗi tôi dùng mấy chữ «tiếng Tây» vì Cựu Sorbonne hiểu rõ hơn ai hết cái nghĩa trọn vẹn của mấy danh từ nầy, nhưng cái index thì thật vô cùng công phu) và lời cám ơn của anh với chị tuy mộc mạc nhưng thực ân tình, thực là «nhà giáo». Hiểu rằng Anh vừa mổ tim, mà hoàn thiện một quyển sử như vậy, phải hiểu là tấm lòng của Anh với Sử học không sao đo lường được và sự trợ giúp của Chị , trong một hoàn cảnh như vậy, cũng không sao nói lên hết được. Thành thực cám ơn và càm phục Anh.
Gs Lâm Văn Bé (Lâm Vĩnh Bình)

__________________

Ngày 17 tháng 4/2017
Ông Dương thân
Tôi đã thu được quyển sách của ông rồi. Mở ra, thấy nó dầy suýt soát cuốn tự điển Merriam Webster. Mà phát ngán. Tuy rằng tôi là người thích sử. Nhờ lúc còn nhỏ được nghe những chuyện người hùng nước Nam: bà Trưng, bà Triệu, Trần bình Trọng, Bùi thị Xuân, cô Giang cô Bắc…Và nhờ hai ông thầy dậy sử địa trung học: giáo sư Bùi đình Tấn, “hắc” nổi tiếng trường Chu Văn An, và Lê Ngọc Huỳnh, người dậy sử theo tôi, hay nhất Chu Văn An. Ông Tấn, người gầy, trắng trẻo , mặt không lúc nào thấy có nụ cười, bài soạn khô khan ngắn ngủi. Ông Huỳnh người cao, mặt vuông, ăn nói dẽ dàng, những điều ông nói ra là vô cùng đặc biệt, mê hoặc, và thích thú (ít ra là so với tôi), nghe rồi không thể quên. Lúc thi lục cá nguyệt trong lớp, nếu có thuộc nguyên văn bài của giáo sư Tấn viết ra, đứng nhất lớp chỉ được chừng 11-12/20. Đa số là dưới trung bình 10/20. Thi lục cá nguyệt với giáo sư Huỳnh thì thoải mái, 16/20- 14/20 là thường. Tôi bực ông Tấn do vậy về nhà mò mẫm tra cứu bổ túc vào những điều ngắn ngủi của bài ông soạn, vì vậy lúc nào điểm thứ nhất của tôi cũng cách xa người thứ nhì 1 ½ hay 2. Tôi khoái ông Huỳnh do vậy thích xem thêm sử để lôi ra những điều mê hoặc khác ông nói chưa hết, và nghe chưa đã, vì hạn chế thời gian trong lớp.
Kể cho bạn như vậy để giải thích nguyên nhân vì sao nhìn quyển sử của các bạn mà tôi “ngán”, trong lúc sử và địa là hai môn tôi thích. Không phải vì nó dầy như quyển tự điển. Mà vì từ những năm gần đây tôi đã không đọc những quyển viết về sử cận đại và hiện đại nữa, Việt nam cũng như ngoại quốc. Bởi vì qua kinh nghiệm sống và suy nghiệm, tôi đã hiểu rằng nhiều điều là những chuyện tầm phào, tưởng tượng viết ra hay chép theo những sách vở và truyền thông ngoại quốc đầy thiên lệch vì nhiều nguyên nhân, mà một nguyên nhân là phục vụ nhu cầu tiêu khiển quần chúng để bán kiếm tiền và để tác động vào tư tưởng chính trị của quần chúng. Ngay cả những thứ gọi là tin “tình báo” hay “giải mật”. Tôi có đọc một số sách viết của các nhà chính trị và lãnh đạo Việt Nam Cộng hòa (hồi ký và sưu khảo) thì chí thấy rằng họ muốn cho thấy sự vô tội vô can của họ, (và ngay cả khoe khoang cái khả năng tư duy của họ) – trong những diễn tiến kéo theo sự sụp đổ của VNCH. Tôi cũng có đọc một số bài mới viết trong vài năm gần đây, nói về những sự kiện cách đây cả nửa thế kỷ với những cụ thể và hội thoại như thực, làm như là lấy ra từ các băng thu âm thu hình. Chỉ cần tư duy một tí là thấy giá trị của các nội dung này là như vậy nào. Tôi không nói đến những tác phẩm của các văn công VC như Huy Đức và cuốn Bên thắng cuộc, với những dụng ý tuyên truyền bằng lối viết học được từ kỹ thuật truyền thông Hoa kỳ. (Nhiều nhà chính trị và truyền thông hải ngoại đã quảng cáo cho quyển sách này một dạo!).
Tuy nhiên, cầm quyển sách ông cho tôi, khi nhìn giòng đề tặng ngắn ngủi, mà chữ còn thấy sắc nét chân phương với chữ ký không dấu nổi vẻ huê dạng, tôi không thể không nẩy ra cái ấn tượng “sợ và phục”.
“Sợ” vì ông còn giữ được sự miệt mài làm cái công việc mà tôi (và có thể nhiều người khác) đã không có mấy quan tâm, là đọc và sắp sếp các tài liệu lịch sử Việt nam thời kỳ 9/3/1945- 30/8/1945, bởi vì biểu kiến này là một thời kỳ giao thời ngắn ngủi không đáng để ý.
“Phục”, vì thấy ông có cái khả năng là ngồi còm cọm trước computer để ghi lại những điều ông gom góp cho người ta trình bọn đem in. Trong trường hợp ông không dùng computer mà vẫn ngồi viết tay thì cũng không thể không phục. Tôi biết nói thế này là thừa, nhưng vẫn phải nói, là ông có cái đặc tính của một thầy giáo, một nhà hàn lâm.
Tuy nhiên không phải vì sợ và phục mà tôi có thể kiên trì đọc quyển sách dầy cộm của ông. Tôi đọc vì cái câu ngắn ngủi đề tặng “để nhớ lại thời chúng mình còn 9, 10 tuổi”. Lúc đó, chúng mình không biết nhau, ông ở miền Bắc, tôi ở miền Trung, Tp Vinh. Tôi đã bị đánh thức dậy vì tiếng súng đảo chính Nhật kéo dài chừng hơn một tiếng đồng hồ, ngày mồng 9 tháng 3/1945. Để ngày sau, ra cửa thấy lính Nhật đứng gác loáng thoáng trên đường phố nhà tôi ở: phố Cửa Tả ngắn ngủi chừng nửa cây số từ ga xe lửa Vinh đến cửa Tả thành Vinh. Để một buổi chiều nào đó sau đó, thấy cả phố gọi nhau ra xem một cảnh tượng chưa từng xẩy ra, là có thằng Tây con mười mấy tuổi kéo chiếc xe nhà chạy trên phố. Có người biết chuyện nói rằng này là con thằng Công sứ Tây kéo xe cho mẹ và em nó vào thành thăm thằng Công sứ bị giam. Cũng thời gian đó, một hôm đi học về, tôi thấy có một người gầy guộc dơ xương nằm chết đói trên đường phố. Và một buổi sáng, khi mở cửa ra ngoài hè, tôi thấy ngay nhà bên cạnh một người nằm chết trong quần áo như là giẻ rách và xoay quang là chấy rận bò ra đen cả gạch. Trường tiểu học tôi học lúc đó đang tên là Cao Xuân Dục đổi thành Phạm hồng Thái. Rồi chỉ ít lâu sau, vào một buổi chiều nắng xiên khoai chiếu vào cửa sổ nhà tôi, thấy có tiếng lao xao ngoài đường, tôi chạy ra xem. Thì thấy hai thanh niên đi xe đạp cầm loa hô hào mời chào đại khái mời “đồng bào đến 3 giờ chiều ngày chủ nhật ra sân vận động biểu tình giành độc lập”. Này là lần trước tiên tôi nghe thấy mấy chữ độc lập, biểu tình… mà không hiểu là gì. Và chẳng mấy lâu sau thì một buổi sáng hai anh em tôi cùng dân hàng phố chạy ra chỗ bờ thành Vinh xem bắn hai tên Việt gian mà tôi còn nhớ tên là Trần Văn Cống và Tống gia Liêm đã bị xử tử vì tội tố giác Đội Cung cho Tây.
Toàn bộ thời kỳ mà ông viết trong quyển sách, tôi chỉ biết có thế. Vì vậy tôi quyết định bỏ thì giờ ra đọc để biết thêm. Sau này là cách mạng tháng tám, là Việt Minh, là kháng chiến chống Pháp, là vùng tề, là vùng quốc gia, là đấu tố, là Việt Cộng, là chính phủ quốc gia, là di cư, là Việt Nam Cộng hòa vân vân mà tôi thương và tôi ghét… mà tôi đã sống và trải qua với những tâm sự và tâm trạng khác nhau. Với các cảm tính dào dạt của từng thời kỳ.
Đọc quyển sách của ông, tôi lại càng phục vì ông không bị lôi bởi những cảm tính sôi nổi. Ông kiên trì đọc đủ mọi nguồn tài liệu đối nghịch. Để mà phân tích, nhận định. Ông trích dẫn quan niệm và hành động của nhóm Thanh Nghị, của những nhà trí thức thành danh, của những sinh viên có lòng, có tư duy, và của những nhà chính trị đủ xu thế. Của những trí thức nằm vùng theo Cộng sản lúc đó, và sau đó quy phục cơ chế, và qua những nội dung về sau này khi cơ chế toàn trị VC biến thái. Vân vân… Rồi mang ra quan niệm của ông, cũng một cách dè dặt chừng mực, không mang tính sôi nổi thuyết phục hay hàm ý chính trị. Tuy thế dù sao, có một điểm nổi trội là ông mang tính lạc quan: Nhìn thấy nét đẹp trong một toàn cảnh không có mấy điều như ý. Vì ông quyết định “giảm thiểu chuyện Việt gian, thân Nhật, bù nhìn của Nhật của hoàng đế Bảo Đại hay chính phủ Trần trọng Kim, một chuyện đã được các sách báo với các tác giả cả Việt nam lẫn ngoại quốc viết trước đây nói tới quá nhiều rồi” (trang 34). Và nhiều nguyên nhân khác tôi không kể ra đây vì muốn để giành cho những người đọc sách của ông.
Tôi sẽ hơi thất vọng về câu ông viết cho tôi “để nhớ lại thời chúng mình còn 9, 10 tuổi”, nếu trong quyển sách không nhắc đến những bài hát yêu nước và dân tộc, không sặc mùi Cộng sản, mà tôi say mê thời đó như Gò Đống Đa, Chi Lăng, Bạch đằng… ca tụng chiến tích của các người hùng dân tộc. Và cũng là đặc biệt cái lối khai thác sấm Trạng Trình thời này mà Phạm Khắc Hòe, ngự tiền tổng lý văn phòng của Bảo Đại theo Cộng sản nằm vùng, khai thác để quảng cáo cho Hồ chí Minh hòng lôi Bảo Đại thoái vị, với ba câu:
Đụn Sơn phân giải,
Bò Đái thất thanh
Nam Đàn sinh thánh.
Chuyện này nhỏ nhưng nó nhắc nhở lại cái thời đó, tôi nghe người lớn ca tụng Hồ chí Minh có hai con ngươi và là hậu thân của trạng Bùng Phùng Khắc Khoan.Tình trạng mê tín này còn kéo dài tới nay, nhưng này là chuyện khác.
Cám ơn ông nhiều.
Chỉ nói cám ơn ông mà không nói gì đến bà là một lỗi nặng. Bởi có món ăn ngon mà không có người nêu ra, hay đem tới cho mà ăn thì không thể nào có thời cơ thưởng thức. Bà đóng vai trọng yếu trong việc hoàn thiện quyển sách mà ông đã viết lời cám ơn. Ông viết sách mà nếu bà ấy không mất công ra nhà bưu điện gửi cho tôi thì kể là “có cũng như không”, nhất là như đã nói ở trên tôi không có cái thích đọc sử hiện đại nữa. Tôi biết chắc là bà gửi, vì ông lúc này thì chẳng còn đi đâu nữa. Vậy tôi xin long trọng cám ơn bà.
Bs Trần Xuân Ninh

Xem Thêm  Lan vợ tôi - lan toi

__________________

Đã lâu chúng tôi không thấy anh em thân hữu của mình ra mắt sách hay có những tác phẩm mới, lúc ấy mới chợt nghĩ rằng ở tuổi của mình sức viết có thể đã bị chậm lại. Một nỗi buồn se sắt thoáng qua nhớ lại câu nói của học giả Nguyễn Bá Học: “…Đến lúc tuổi càng cao, kinh lịch càng lắm, lúc bấy giờ mới biết sự đời là khó, tài mình là hèn. Chân đã mỏi, đường còn xa…”
Đấy thực sự chỉ là bản thân của chính mình và thấy chân đã mỏi thực sự. Nhưng khi nhìn thấy một công trình mới của sử gia giáo sư Tiến sĩ PHẠM CAO DƯƠNG chúng tôi lại như mới được chích một liều thuốc bổ, tâm hồn hưng phấn trở lại. Này là một công trình phân tích về
ĐẾ QUỐC VIỆT NAM
Bốn chữ này chúng tôi đã được nghe từ lâu lắm, cũng khoảng bẩy chục năm nay, hiện tại chúng tôi nghe vừa thấy lạ lẫm, thấy thấm thía, vừa thấy nuối tiếc. Cũng chỉ tai thời gian được mang quốc hiệu này của dất nước ta quá ngắn ngủi, 175 ngày không trọn, chưa được 6 tháng.
Không hiểu khi chọn đề tựa cho cuốn Sử này tác giả có mang một cảm tưởng u hoài như chúng tôi ngày ngày hôm nay không?
Chắc nịch là CÓ. Nhìn vào hai trang bìa với sự lựa chọn tỉ mỉ từ màu sắc, hình ảnh đến vị trí đặt từng tấm ảnh, mỗi hàng chữ tất cả chúng ta đều thấy có sự chăm sóc chu đáo, gói tròn một thời kỳ thương yêu hãnh diện của lịch sử nước ta vào thuở mới loạng choạng làm quen với Độc Lập với Tự Do với Nhân Quyền mà đã sớm bị cướp đi thì cái cảm tưởng u hoài kia chắc rằng là phải CÓ. Cái u hoài mà tác giả đã truyền lại cho chúng tôi cũng chỉ thu được một phần. Viết ra một câu thơ, thi sĩ chỉ gieo lên được 80% cảm súc của tâm hồn minh là nhiều, đến lượt người đọc như chúng tôi chỉ thu được vào khoảng 70%.
Với chiều dài 175 ngày lịch sử của một dân tộc quả thật là quá ngắn mà Sử gia đã biên khảo được 784 trang sách, là một công trình không nhỏ. 21 năm khảo cứu, bộ sách sẽ là một tài liệu quý hiếm cho các nhà khảo cứu sau này cũng như những người hằng quan tâm đến tổ quốc và dân tộc. Nhà Sử Học đã viết:
“Đây là một trong những trang sử đẹp của dân tộc Việt Nam, với những người đẹp, việc đẹp, ước nguyện đẹp,, tác giả xin được trang trọng gửi tới các bạn trẻ Việt Nam bây giờ, sau này và mãi mãi.” ( Giáo sư Tiến sĩ PHẠM CAO DƯƠNG)
Bộ sách này được in bằng giấy trắng dầy, khổ chữ lớn rất dễ đọc là nhu cầu thiết yếu cho những độc giả lớn tuổi như chúng tôi.
Bìa sách trắng sáng có màu tím nhẹ nhõm phớt qua. Tôi hiểu ý tác giả muốn đánh dấu màu tím gia truyền thân thương của xứ Huế. Nói về HUế mà vắng bóng tím cũng như thiếu đi một nửa mùa xuân.
Cửa Ngọ Môn sừng sững giũa trời, từng viên ngói mới được tô lại như thách thức với thời gian của cả triều Nguyễn
Nói đến ĐẾ QUỐC VIỆT NAM tất cả chúng ta không thể không nói đến vị vua cuối cùng của triều Nguyễn là Hoàng Đế Bảo Đại. Hoàng Đế Bảo Đại là một vị vua trẻ, thông minh, được huấn luyện bằng cả hai nền văn hóa Đông và Tây và cả hai cùng huấn luyện để Ngài làm vua. Cũng vì vậy, khi thời cơ đến, Hoàng Đế đã sẵn sang chấp chánh ngay và đồng thời cũng có ngay chương trình phục vụ quốc gia và nhất là chương trình phục vu cho thần dân của Ngài. Vì vậy ngay khi quyết định chấp chánh, trong Dụ số 1 Ngài đã viết:
“…Nay trẫm có trách nhiệm đối với lịch sử và thần dân, nên tự cầm lấy quyền để bảo vệ quyền lợi cho tổ quốc và giáng dụ rằng:
Chế độ chính trị từ nay căn cứ vào khẩu hiệu “DÂN VI QUÝ”….
Cũng vì thế cửa Ngọ Môn cũng còn có liên hệ đến những ngày đầu của Đế Quốc Việt Nam cho nên cửa Ngọ Môn vẫn có lý do đứng oai nghiêm trong trang đầu cuốn sách vì sự tự nguyện tham chính và vì lý tưởng quyết tâm phục vụ toàn dân của Hoàng Đế Bảo Đại với khẩu hiệu” Dân Vi Quý” mà Ngài đã chính thức chỉ thị cho Nội Các Trần Trọng Kim thực hiện ngay trong Đạo Dụ đầu tiên, Dụ số 1 và là điều số 1 của Đạo Dụ điều này nói lên bầu nhiệt huyết với mối quan tâm hàng đầu của Ngài.
Cũng là vận nước, song song với Đế Quốc Việt Nam non trẻ quyết tâm phục vụ Tổ quốc với khẩu hiệu Dân Vi Qúy lại xuất hiện thêm một thế lực khác có âm mưu cướp chính quyền và thề phanh thây uống máu.
Họ đã cướp và cướp được chính quyền. Họ thề phanh thây uống máu và họ đã phanh thây tất cả các đảng phái VN hồi đó và cuối cùng là phanh thây hằng triệu quân và dân miền Nam trong ý đồ cướp sống miền Nam, ấy là chưa kể hằng triệu thanh niên miền Bắc đã bắt buộc hy sinh cho những âm mưu đen tối của Đảng CS miền Bắc.
Chẳng có quân cướp nào đi cướp được lại đem của cải kiếm được dâng cho người khác. Cướp được chúng đem chia cho đảng của chúng với nhau. Dân nào hưởng chút gì!
Cuối cùng thì chỉ có dân là khổ vẫn hoàn khổ. “Dân Vi Quý” chưa được hưởng nhưng đã bị cướp mất hết.
Trang bìa sau là mộ phần của Hoàng Đế Bảo Đại nơi đất khách quê người. Thiện Chí của Ngài là “đem thân phục vụ quốc gia”, ước mơ của Ngài là “toàn bộ cho toàn dân”. Quân cướp đã làm tan nát mộng ước của Ngài để đến nỗi tác giả đã u uẩn ghi bên cạnh mộ phần của Ngài:
Trăm năm còn có gì đâu? (Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều)
Kẻ cướp được thì lầu các nguy nga, lăng nọ tẩm kia, rồi cuối cùng họ đã đem cả đất nước của tổ tiên ra bán, họ đang âm mưu với kẻ thù phương Bắc nhằm tiêu diệt cả dân tộc Việt Nam ta. Về điểm này Đức Đạt Lai lạt Ma đã nói về con người Cộng Sản như sau:
“Người cộng sản làm cách mạng không phải là để mang lại hạnh phúc cho người dân, mà họ làm cách mạng là để người dân mang lại hạnh phúc cho họ”.
Riêng tác giả vẫn mang một tinh thần lạc quan, Việt Nam ta sẽ là Minh Châu Trời Đông cho nên dù Đế Quốc Việt Nam đã không thành tựu được như mong ước nhưng tác giả vẫn để bản đồ “Việt Nam Minh Châu” tỏa sáng khắp vùng Đông Nam Á.
Trên đây chỉ là một vài nhận xét rất thô thiển và có tính cách cá biệt khi lướt qua mấy trang bìa của bộ sách quý giá. Những ý kiến trên đây nếu vì quá hâm mộ đề tài mới mẻ này mà có những điều không hợp ý với tác giả, chúng tôi xin được lãnh ý.
Trong tinh thân chân quý bộ sách gần như tuyệt đối, chúng tôi nhiệt liệt trân trọng giới thiệu bộ sách ĐẾ QUỐC VIỆT NAM với quý cụ tuổi hạc đã cao mà học giả Nguyễn Bá Học cho là “chân đã mỏi đường còn xa”, với những bạn trẻ, những bạn chưa có dịp đọc hoặc khảo cứu thời kỳ này của lịch sừ cận đại, và mọi tầng lớp người Việt Nam để biết thêm và yêu quý thêm dân tộc mình và quốc gia mình đồng thời cũng để tất cả chúng ta có một nhãn quan công bình trước lịch sử.
Gs Phạm Quang Chiểu

_____________________

Cả cuộc sống anh Dương là cuộc sống của một sĩ phu đúng nghĩa nhất nên anh đã để hết tâm lực và trí lực vào tác phẩm này. Đây là chuyển điểm và một khúc quanh lịch sử vô cùng trọng yếu khi Nhật trao trả độc lập. Ngày 17 tháng 4 chính phủ Trần Trọng Kim đã thành lập chính phủ. Ngày 8 tháng 5 Hoàng Đế Bảo Đại mang ra Hiến Pháp cho một nước VN độc lập và thống nhất. Hiến Pháp đã qui định quyền tự do chính trị,tự do tôn giáo và tự do thành lập nghiệt đoàn. Các cơ cấu khắp lãnh thổ đã được tổ chức từ thành thị đế thôn quê—với slogan “DÂN VI QUÝ”.
Khốn thay chính Hồ Chí Minh và bọn cộng sản đội lốt Việt Minh đã lừa Hoàng Đế Bảo Đại và cụ Trần Trọng Kim để cướp chính quyền. Trong lúc phôi thai ấy,bọn cộng sản chỉ khoảng hơn 5000 người mà thôi. Với sự trợ giúp của Nhất chính phủ Trần Trọng Kim có thể tiêu diệt và nhổ tận gôc rễ bọn cộng sản thì quốc gia VN đâu có chiến tranh VN và đâu có cái đại họa cộng sản.
Chị Vân ơi !Anh Dương đã nhìn thấy toàn bộ sự thật ấy. Là một người sĩ phu anh nuối tiêc thời kỳ lịch sử đó với hình ảnh của một vị Hoàng Để cực kỳ thông minh và nhân từ,bên cạnh ngài là những khuôn mặt sĩ phu ưu tú và khả kính của dân tộc. Tất cả chúng ta có thể xây dựng lại quốc gia dân chủ,tư do và độc lập. Quốc gia VN sẽ đẹp biết bao. Cuối cùng chỉ vì tính sai một nước cờ bí mà bao thảm họa dội trên dóng sử mệnh Việt cho đến ngày hôm nay.
Vì vậy những trang sử của anh Dương mang ra ngày hôm nay, không chỉ có tuổi trẻ phải học mà tất cả chúng ta toàn bộ dân tộc này phải học những bài học thực tiễn lịch sử đó để rút tỉa kinh nhiệm cho tương lai. Đúng là “nhất thất túc thành Thiên Cổ hận” là đây. Truyền thống sĩ phu khác truyền thống nho quan rất nhiều.
Người sĩ phu có thể làm quan nhưng nhiệm vụ chính của họ là làm ÁNH ĐUỐC SOI ĐƯỜNG CHO TOÀN DÂN.
Trước bào thống khổ và bao lầm lạc mà cả một dân tộc phải nhận bao tử vong đắng cay. Nhưng dân tộc này vẫn còn mê ngủ. Những người sĩ phu phải đánh thức họ dây để tìm kiếm một rạng đông.
Lịch sử càng tối tăm thì càng cần những người sĩ phu. Tất cả chúng ta trân trọng với người sĩ phu, bởi vì trước hết họ là những người trong ĐẠO LÝ và thường có TÂM ĐẠO nên thường quên thân mình để hy sinh cho dân cho nước. Cái gọi là “trí thức thời nay) (modern intellectual) không mấy ai biệt TRỌNG ĐẠO và thường không có TÂM ĐẠO chị ạ.
Cuối cùng chỉ có người si phu truyền thống mới làm ra lịch sử. Những người thí thức thời nay đánh mất truyền thống sĩ phu của Đất Việt rồi. Buồn thay.
Xin có lời cảm phục người sĩ phu Phạm Cao Dương.
Ts Nguyễn Anh Tuấn

_______________

Thưa anh chị,
Nhận đưọc tập phân tích lịch sử của anh, tôi để mấy ngày đọc những chương mà tôi cho rằng mê hoặc, trước khi để dành thì giờ đọc hết.
Cám ơn anh đã để công phân tích, đọc,và gom góp, cô dọng và viết thành hệ thống. Tôi tưởng mình cũng biết nhiều và đọc khá nhiều về lịch sử thời kỳ đó, nhưng thật ngạc nhiên, anh đã cho biết thêm nhiều điều rất thích thú, mà lần trước tiên tôi đọc được.
Những quyển sách như vậy nầy vô cùng giá trị, để mở mang trí óc, soi sáng cho các thế hệ đương thời, và cho cả các thế hệ mai sau, khi mà lịch sử đã bị CS nhào nặn, bóp méo, và làm sai lạc sự thật.
Cám ơn tấm lòng của anh so với lịch sử của quê hương Việt Nam.
Nhà Văn Tràm Cà Mau

_________________

Cầm quyển sách của GS Phạm Cao Dương trên tay, tôi muốn…nóng lạnh bởi độ dày và muôn vàn sự kiện lịch sử trong một thời kỳ thật ngắn: 9/3/1945 – 30/8/1945 , được “gói ghém” trong 792 trang (kể cả bìa trước và sau).
Để hoàn thiện tác phẩm này, tác giả với tấm lòng của một sử gia sĩ phu chân chính, đã miệt mài suốt hơn 21 năm (8/1995-đầu năm 2017).
Thật ngưỡng mộ công trình khảo cứu của GS Dương, ở tuổi bát tuần GS đã không ngại sức khỏe yếu vẫn muốn thông dụng “… một trong những trang sử đẹp của dân tộc Việt Nam, với những người đẹp, việc đẹp, ước nguyện đẹp, tác giả xin được trang trọng gửi tới các Bạn Trẻ Việt Nam, bây giờ, sau này và mãi mãi. ” (trang 9 trong tác phẩm ).
Thành thật tri ân GS Dương đã khổ công hoàn thiện tác phẩm Bảo Đại – Trần Trọng Kim và Đế Quốc Việt Nam.
Học trò của THÀY,
Lưu anh Dũng

Nhân đây cũng xin kính thông dụng tới toàn thể Thân Hữu, sách được bán trên Amazon.
Ngoài phần mở màn và phần giới thiệu tác giả và các tác phẩm, sách gồm BA phần :
1. Phần thứ nhất gồm 10 chương (chương 1-10 ; trang 43-512)
2. Phần thứ hai gồm 7 chương (chương 11-17 ; trang 513-664)
3. Phần thứ ba gồm 2 chương (chương 18-19 ; trang 665-777)

Đặc biệt, để thuận tiện cho người đọc và để đơn giản cho các bạn trẻ suy luận và phán đoán theo quan niệm riêng, sau mỗi chương tác giả ghi ngay những nguồn tài liệu và chứng cứ liên hệ.
Đây là một phép tắc không thể thiếu trong nghề sử học , là tính khách quan của phương pháp sử, tuỳ theo những nguồn sử liệu và nhận định riêng của từng người phân tích sử, các sự kiện lịch sử có thể được nhận định dưới nhiều lăng kính khác nhau.
Ngoài ra, tôi cũng tự nghĩ : ” phải chăng tác giả muốn người đọc nên …ung dung từ tốn đọc và suy ngẫm từng sự kiện lịch sử qua từng chương và nếu có thể, tìm tòi thêm những nguồn tư liệu để sáng tỏ hơn nữa, biết đâu sẽ góp phần cùng tác giả ngày càng hoàn thiện thêm một giai đoạn ĐẸP của lịch sử Việt Nam “. Không khác gì như khi ta thưởng thức một bình trà ngon, phải dùng chén hột mít chiêu từng ngụm từ từ ; chứ không thể… ngưu ẩm.
Lưu anh Dũng

Bảy mươi năm nhìn lại

Từ Bảo Đại đến Hồ Chí Minh: HAI BẢN TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP


Gs Phạm Cao Dương

Trong lich sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai vào ngày 2 tháng 9 năm 1945 bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh.
Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết hay chỉ được học bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết hay không được học bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3.
Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì vẹn toàn. Bài này nhằm bổ khuyết cho tình trạng thiếu sót đó, đồng thời phân tích nội dung và ý nghĩa của từng bản.

TUYÊN NGÔN CỦA HOÀNG ĐẾ BẢO ĐẠI
Hoàn cảnh được thông báo
Bản tuyên ngôn độc Lập của Hoàng Đế Bảo Đại được thông báo ngày 11 tháng 3 năm 1945, hai ngày sau thời điểm Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương và sau một thời gian dài hơn bốn năm, từ tháng 9 năm 1940, sau thời điểm quân Nhật vào phần đất này của Đông Nam Á, gần năm tháng trước khi Nhật Bản đầu hàng và Thế Chiến Thứ Hai kết thúc. Trong thời gian này Việt Nam bị sống dưới sự thống trị của cả người Pháp, từ sau thời điểm Hòa Ước 1884 được ký kết, lẫn người Nhật, từ ngày 22 tháng 9 năm 1940, với một hậu quả kinh khủng là Trận Đói Tháng Ba Năm Ất Dậu.
Hoàn cảnh này đã làm cho không chỉ riêng những người Cộng Sản, vốn chủ trương đánh đổ cơ chế quân chủ để cướp chính quyền (chữ của chính người Cộng Sản) để từ đó thực thi cách social chủa nghĩa vô sản mà luôn cả những người không những không có tình cảm với cơ chế quân chủ đương thời mà còn chủ trương lật đổ cơ chế này để thay thế bằng một cơ chế dân chủ, không nhìn nhận giá trị đích thực của của bản tuyên ngôn này. Nguyên nhân là vì Bảo Đại luôn luôn bị coi như một ông vua bù nhìn, trước kia trong tay người Pháp và lúc đó trong tay người Nhật.
Theo họ trước kia người Pháp bảo sao, ông làm vậy và sau đảo chính 9 tháng 3 năm 1945, người Nhật bảo ông tuyên bố độc lập thì ông tuyên bố độc lập, thế thôi. Người ta hiểu hay được học đơn giản như vậy. Nền độc lập mà Bảo Đại tuyên bố theo họ chỉ là do người Nhật ban cho và bản tuyên ngôn của ông chẳng có một giá trị gì trong lịch sử tranh đấu giành độc lập của người Việt. Thực chất của nó chỉ là “sự tuyên bố công khai việc thay thầy đổi chủ của triều đình Bảo Đại”[1] không hơn không kém. Sự thực không đơn giản như vậy. Người Nhật có nguyên nhân làm đảo chính lật đổ người Pháp và Bảo Đại có nguyên nhân phải đồng ý yêu cầu của người Nhật tuyên bố Việt Nam độc lập. Nguyên nhân của Bảo Đại đã được ông giải thích khi tiếp kiến Trần Trọng Kim và nỗ lực thuyết phục ông này đồng ý làm thủ tướng trước tiên của chính phủ Nam Triều độc lập. Nguyên văn câu nói được Trần Trọng Kim kể lại như sau:
– “Trước kia nước Pháp giữ quyền bảo hộ nước ta, nay đã không giữ được nước cho ta, để quân Nhật đánh đổ, vậy những điều trong hiệp ước năm 1884 không có hiệu quả nữa, nên Bộ thượng thư đã tuyên hủy hiệp ước ấy. Trẫm phải dứng vai chủ trương việc nước và lập chính phủ để đối phó mọi việc”. [2]
Người ta cần phải nhớ là hơn mười năm trước đó, sau thời điểm du học từ Pháp về tới Huế được hai ngày, ngày tháng 10 tháng 9 năm 1932, Bảo Đại đã ra Dụ số 1 tuyên bố chấp chính và nhất định cơ chế quân chủ của Nam Triều hủy bỏ Quy Ước 6 tháng 11 năm 1925 do Hội Đồng Phụ Chính, đứng đầu là Tôn Thất Hân, ký với Toàn Quyền Đông Dương thời nà vua còn nhỏ tuổi và đang du học bên Pháp, tước bỏ hầu như các quyền hành còn sót lại của nhà ông trừ các quyền có tính cách nghi lễ, ân xá, sắc phong, tế lễ…kèm theo nhiều dụ khác nhằm thực hiện những cải tiến qui mô trong nền hành chánh của chính phủ Nam Triều, nhưng đã bị người Pháp ngăn cản và bị thất bại.
Đảo chính 9 tháng 3 năm 1945 và lời yêu cầu tuyên bố độc lập của người Nhật dù gì đi chăng nữa cũng là điều vị hoàng đế còn trẻ tuổi từ lâu mong đợi. Ngoài ra theo nhận định và giải thích nhằm xúc tiến Trần Trọng Kim “chịu khó” lập chính phủ mới. Ông nói :
– “Trước kia người mình chưa độc lập. Nay có cơ hội, tuy chưa phải độc lập hẳn, nhưng mình cũng phải tỏ ra có đủ tư cách để độc lập. Nếu không có chính phủ thì người Nhật bảo mình bất lực, tất họ lập cách cai trị theo thể lệ nhà binh rất hại cho nước ta. Vậy ông nên vì nghĩa vụ cố lập thành một chính phủ để lo việc nước.”[3]
Hai tiếng “cơ hội” Bảo Đại dùng ở đây cho ta thấy ông từ lâu mong có dịp này. Đồng thời ông cũng hiểu rằng nền độc lập mà ông tuyên cáo chưa phải độc lập hẳn. Chưa hết, tuyên bố rồi ông còn tồn tại nhu cầu phải tỏ ra có đủ tư phương pháp để độc lập và nhất là để tránh không cho người Nhật “lập cách cai trị theo thể lệ nhà binh rất hại cho nước ta.” Một sự e ngại chỉ có những người có tri thức về lịch sử và chính trị học mói hiểu rằng.
Ngoài ra những tiếng “rất có hại cho nước ta” cũng cho người ta thấy đối tương của hành động tuyên cáo độc lập của ông không phải là ngôi vua mà là quốc gia Việt Nam và dân tộc Việt Nam, quốc gia của ông và thần dân của ông. Cái nhìn và quan niệm này cũng như sự hiểu biết của ông về tình hình toàn cầu và thế tất bại của người Nhật về sau đã được ông nói rõ trong hồi ký của ông.
Riêng so với người Nhật, ông đã không tin tưởng ở họ cũng như chiêu bài Đại Đông Á của họ. Nói cách khác Bảo Đại ở vị trí phải đồng ý nhập cuộc dù ông hiểu rõ sự phức tạp của vấn đề. Phần khác, như ông cũng nói tới trong hồi ký của ông: Độc lập là ước mong của toàn bộ mọi người Việt Nam thời đó.
Nội dung bản Tuyên ngôn
Đây là một bản văn tương đối ngắn so với những bản văn cùng loại, nhằm ba mục tiêu chủ đạo là hủy bỏ hòa ước Triều Đình Huế đã ký với nước Pháp, tuyên bố Việt Nam độc lập, đứng vào khối Đại Đông Á trong chương trình phát triển chung, đồng thời thổ lộ sự tin tưởng vào lòng thành của nước Nhật với nguyên văn như sau:
“Cứ tình hình chung trong thiên hạ, tình thế riêng cõi Đông Á, chính phủ Việt Nam tuyên bố từ ngày này điều ước bảo hộ với nước Pháp bãi bỏ và nước Nam khôi phục quyền độc lập.
Nước Việt Nam sẽ gắng sức tự tiến triển cho xứng đáng một quốc gia độc lập và theo như lời tuyên ngôn chung của Đại Đông Á, đem tài lực giúp cho cuộc thịnh vương chung.
Vậy Chính Phủ Việt Nam một lòng tin cậy lòng thành ở Nhật Bản đế quốc, quyết chí hợp tác với nước Nhật, đem hết tài sản trong nước để cho đạt được mục đích như trên.” [4]
Bản Tuyên Bố được đề ngày 11 tháng Ba năm 1945 tức ngày 27 tháng Giêng năm Bảo Đại thứ 20 được Bảo Đại ký tên với sáu thượng thư phó thự. Sáu vị thượng thư gồm có: Phạm Quỳnh, bộ Lại, Hồ Đắc Khải, bộ Hộ, Ưng Úy, bộ Lễ, Bùi Bằng Đoàn, bộ Hình, Trần Thanh Đạt, bộ Học, và Trương Như Định, bộ Công. Theo Bảo Đại đây là lần trước tiên trong lịch sử một văn kiện được ký bởi nhà vua và toàn bộ các nhân vật trọng yếu nhất trong triều đình.
Đọc bản Tuyên Ngôn Độc Lập này của Bảo Đại, người ta cần lưu ý tới những cụ thể sau đây:
Thứ nhất: Gọi là tuyên ngôn nhưng thực sự đây chỉ là một văn kiện hủy bỏ một điều ước đã được ký kết trước đó vì do tình hình biến chuyển một trong hai phía đã không tôn trọng những gì mình đã ký kết hay không thực thi được những gì mình đã ký kết trong một sinh hoạt quốc tế. Điều ước bị hủy bỏ ở đây là Hòa Ước Giáp Thân được ký kết giữa Triều Đình Huế và người Pháp ngày 6 tháng 6 năm 1884, đặc biệt hai điều khoản của hòa ước này là điều khoản thứ nhất, theo đó Việt Nam thừa nhận và đồng ý Quyền Bảo Hộ của nước Pháp và điều khoản thứ mười lăm, theo đó nước Pháp cam kết đảm bảo sự vẹn toàn lãnh thổ của các xứ do vua Việt Nam thống trị và bảo vệ nhà vua chống lại những sự xâm nhập từ bên ngoài và những cuộc nổi loạn từ bên trong…[5]
Sự hủy bỏ này phải được hiểu là do người Pháp bất lực không bảo vệ được Việt Nam trước sự bành trướng của quân đội Nhật và cuối cùng là chính người Pháp đã bị người Nhật lật đổ trong cuộc Đảo Chính ngày 9 tháng 3 năm 1945. Sự hủy bỏ này cũng có tính cách đơn phương từ phía Hoàng Đế Bảo Đại với tư cách là người kế vị chính thống của Triều Đình Nhà Nguyễn hay trực tiếp hơn từ Vua Tự Đức, căn cứ vào những gì đã xảy ra vào thời điểm này.
Điểm cần được lưu ý ở đây là từ ngữ hòa ước trong văn kiện này được dùng theo số ít, trong tiếng Việt, không có chữ “các” hay “những” đi kèm và trong tiếng Pháp không có chữ “s” theo sau. Điều này có nghĩa là bản tuyên cáo chỉ hủy bỏ hòa ước bảo lãnh tức Hòa Ước Giáp Thân 1884 mà thôi thay vì hủy bỏ toàn bộ các hòa ước đã được ký kết trước đó. Này là các Hòa Ước Nhâm Tuất 1862 và Hòa Ước Giáp Tuất 1874 liên hệ tới xứ Nam Kỳ theo đó xứ này đã bị nhường dứt cho người Pháp là và trở thành thuộc địa của họ, không còn thuộc quyền thống trị của Vua và Triều Đình Huế nữa.
Vấn đề thâu hồi xứ Nam Kỳ do đó chưa được khắc phục ngay nhưng đã trở thành mối bận tâm và một phần hành trọng yếu của chính Hoàng Đế Bảo Đại ngay từ buổi nhà vua tiếp kiến Đại Sứ nhật Yokoyama và của Chính Phủ Trần Trọng Kim trong gần suốt thời gian chính phủ này tồn tại. Xứ Nam Kỳ chỉ được người Nhật trao trả trong những ngày cuối của chính phủ này và chỉ chính thức trở về với lãnh thổ quốc gia Việt Nam ngót năm năm sau, vào giữa tháng 6 năm 1949, và do Bảo Đại với tư cách Quốc Trưởng tiếp nhận chứ không phải là do công lao của Chủ Tịch Hồ Chí Minh và Chính Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà.
Đây cũng là một sự kiện ít người biết tới hay chỉ biết một cách lơ mơ. Một cụ thể khác cũng phải được lưu ý ở đây là hai chữ “độc lập” đã được sử dụng tới hai lần: “nước Nam khôi phục quyền độc lập” và “Nước Việt Nam sẽ gắng sức tự tiến triển cho xứng đáng một quốc gia độc lập”, trong một bản văn ngắn. Sau này chính Bảo Đại đã dùng danh từ “tuyên ngôn độc lập – proclamation d’indépendance” khi nói tới văn kiện này trong hồi ký của ông
Thứ hai: ”Nước Việt Nam sẽ gắng sức tự tiến triển cho xứng đáng một quốc gia độc lập….giúp cho cuộc thịnh vượng chung.” Câu này xác nhận phương thức hoạt động nhằm thực hiện tư cách độc lập (tự phát triển như một quốc gia độc lập không phụ thuộc vào nước ngoài cho xứng đáng một quốc gia độc lập) và thế đứng của Việt Nam trên trường quốc tế (tự coi mình là một phần tử Đại Đông Á, đem tài lực giúp cho cuộc thịnh vượng chung).
Ta cũng nên để ý tới slogan Châu Á của Người Á do người Nhật mang ra trong thời gian này, một slogan hàm chứa sự độc lập của các nước Á Châu lúc đó đang là thuộc địa của các đế quốc Âu Châu. Đây cũng là một cách nói khéo léo nhằm ngăn chặn trước sự can thiệp vào nội tình Việt Nam của người Nhật, một điều cả nhà vua và Chính Phủ Trần Trọng Kim luôn luôn quan tâm phòng ngừa.
Thứ ba: “Chính phủ Việt Nam một lòng tin cậy lòng thành ở Nhật Bản đế quốc…”.”Câu này nhằm thắt chặt lời hứa của người Nhật bằng cách nhấn mạnh vào sự trung thành của người Nhật với những gì họ đã nói, với tư tưởng trung thành như một truyền thống chung của các dân tộc Á Đông.
Thứ tư: “”quyết chí hợp tác với nước Nhật đem hết tài sản trong nước để cho đạt được mục đích như trên.””Mục đích như trên là mục đích gì? Phải hiểu mục đích này bao gồm hai phần là “tự tiến triển cho xứng đáng một quốc gia độc lập” và “giúp cho cuộc thịnh vương chung” như là một phần tử của khối Đại Đông Á.”
Nói cách khác, đây là một bản văn tuy ngắn ngủi, lắng đọng nhưng rất trọng yếu vì nó vừa mang tính cách pháp lý, có liên hệ tới nhiều văn kiện ngoại giao khác đã được tạo dựng trước đó, vừa biểu lộ chủ trương của một quốc gia được trao trả độc lập trong một hoàn cảnh không nhận không được, vô cùng tế nhị và phức tạp vào lúc tình hình toàn cầu biến chuyển quá nhanh và hoàn toàn bất lợi cho quân đội và quốc gia phụ trách sự trao trả nền độc lập này. Mỗi điều nói ra, mỗi chữ được viết đều đòi hỏi người soạn thảo phải vô cùng thận trong và ước tính kỹ lưỡng.
Ai là tác giả của bản tuyên ngôn này?
Người được nói đến nhiều nhất là Phạm Quỳnh, lúc đó đang giữ chức thượng thư bộ lại. Điều này có nhiều phần đúng nếu người ta để ý tới khả năng nghị luận và viết văn, viết báo kèm theo sự hiểu biết và kinh nghiệm của một học giả, một người làm báo, và sau này là một ngự tiền văn phòng tổng lý của nhà vua cũng như thượng thư bộ lại trong nhiều năm trước đó. Nó cũng được Phạm Khắc Hòe, đương thời là ngự tiền văn phòng tổng lý của Bảo Đại, trong hồi ký của ông này xác nhận[6].

Xem Thêm  Rau Cải Xoong Nhật – Lựa Chọn Tuyệt Vời Cho Sức Khỏe – bTaskee - cải xoong nhật

TUYÊN NGÔN CỦA CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ LÂM THỜI VN DÂN CHỦ CỘNG HÒA HỒ CHÍ MINH
Hoàn cảnh được thông báo
Bản tuyên ngôn này đã được Hồ Chí Minh một mình soạn thảo, một mình đứng tên và đọc tại Quảng Trường Ba Đình ở Hà Nội vào buổi chiều ngày 2 tháng Chín năm 1945, ngót năm tháng sau bản tuyên ngôn của Bảo Đại, hơn hai tuần lễ sau thời điểm Nhật Bản đầu hàng, mười ba ngày sau thời điểm Việt Minh cướp được chính quyền ở Hà Nội và hai ngày sau thời điểm Bảo Đại chính thức thoái vị.
Vì được thông báo sau bản tuyên ngôn của Bảo Đại, sau thời điểm người Nhật đã đầu hàng cũng như cơ chế bảo lãnh của người Pháp đã bị người Nhật lật đổ trước đó, bản tuyên ngôn này đã bị nhiều người cho rằng thừa, không thiết yếu, chưa kể tới sự kiện là chính phủ mới do Hồ Chí Minh thành lập là kế vị chính phủ Nam Triều do Hoàng Đế Bảo Đại thoái vị nhường cho dựa vào chiếu thoái vị của Bảo Đại và đã được Hồ Chí Minh và chính phủ mới của ông đồng ý.
Chính Phủ Lâm Thời của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa trong những điều kiện này đương nhiên kế tục những gì Hoàng Đế Bảo Đại và Chính Phủ Trần Trọng Kim đã làm trước đó, trong đó có Bản Tuyên Ngôn Độc Lập ngày 11 tháng 3 năm 1945. Lập luận như vậy là hoàn toàn hợp lý đứng trên phương diện công pháp quốc tế. Một lập luận đơn giản và hoàn toàn dễ hiểu.
Thắc mắc được đề ra là Hồ Chí Minh, và những đồng nghiệp viên của ông, khi mang ra bản tuyên ngôn của mình có biết là trước đó Bảo Đại đã làm công việc này rồi hay không? và biết như vậy vì sao ông lại còn làm lại việc đó một lần nữa?
Cho thắc mắc thứ nhất, câu trả lời là chắc rằng có; Hồ Chí Minh chắn phải biết là Bảo Đại trước đó đã tuyên cáo hủy bỏ hòa ước bảo lãnh 1884 rồi. Nhưng ông vẫn làm lại công việc này vì ông có nhu cầu phải làm. Những nhu cầu này là những nhu cầu gì?
Thứ nhất là vì từ lâu toàn dân ai nấy đếu khao khát được thấy nước nhà độc lập, đúng như Bảo Đại đã viết trong hồi ký của ông, độc lập là ước mong của mọi người dân Việt[vii], cũng như nó được phản ảnh ở khắp nước ngay trước và sau ngày 2 tháng 9 năm 1945. Nói tới độc lập vào lúc này là gõ đúng tần số của bất kì một người dân Việt Nam nào từ đó mang lại công lao và thanh thế cho người chính thức thông báo ra điều đó.
Thứ hai là cho tới ngày 2 tháng 9 năm 1945, tên gọi Hồ Chí Minh hoàn toàn xa lạ ở trong nước cũng như ở ngoài nước. Võ Nguyên Giáp, một trong những đồng nghiệp viên thân cận nhất của Hồ Chí Minh trong thời gian này, đã viết trong hồi ký của ông này rằng: “Ba tiếng HỒ CHÍ MINH không bao lâu đã vang đi khắp thế giới với những truyền thuyết mà người ta thường dành cho các bậc vĩ nhân. Nhưng vào ngày hôm ấy, cái tên mới của Bác vẫn còn mới lạ với nhiều đồng bào. Số người biết Bác chính là đồng chí Nguyễn Ái Quốc khi đó không nhiều.” [8]
Ngay vua Bảo Đại ngày 23 tháng 8 năm 1945, khi thu được điện tín của của các ông Nguyễn Xiển, Nguyên Văn Huyên, Ngụy Như Kon-Tum và Hồ Hữu Tường nhân danh Ủy Ban Nhân Dân Cách mạng, yêu cầu nhà vua thoái vị nhường quyền lãnh đạo quốc gia cho Chính Phủ Nhân Dân Cách mạng với chủ tịch là “Cụ Hồ Chí Minh” đã không biết Hồ Chí Minh là ai.
Còn Phạm Khắc Hòe, người ở bên cạnh nhà vua và được Việt Minh móc nối cũng không biết nốt, phải chạy đi hỏi Tôn Quang Phiệt, một đảng viên Cộng Sản, rồi Đào Duy Anh nhưng Tôn Quang Phiệt đi vắng và Đào Duy Anh lục lọi, truy tìm các tài liệu, sách vở ông có nhưng cũng không ra tên này. Cuối cùng Vũ Văn Hiền, ở Bắc về mới xác nhận Hồ Chí Minh là Nguyễn Ái Quốc.[9]
Tuyên bố Việt Nam độc lập so với Hồ Chi Minh vào thời điểm này do này là cách tự giới thiệu mình tốt nhất và hữu hiệu nhất vói toàn thể đồng bào và để được nhìn và được đồng ý như là lãnh tụ trước tiên đã mang lại được độc lập cho tổ quốc và cho toàn dân Việt Nam, một nhu cầu tối thiết yếu, dầu rằng nền độc lập này hoàn toàn không phải do ông hay do Mặt Trận Việt Minh tạo ra mà là do những biến cố khác của lịch sử trước đó, trong đó trọng yếu nhất là Đảo Chính 9 tháng Ba năm 1945, trong đó người Nhật đã loại bỏ người Pháp, kèm theo là bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoàng Đế Bảo Đại nói trên, và cuối cùng là sự bại trận sau này của người Nhật.
Tất cả chúng ta cũng nên để ý là so với đa số người Việt Nam thời đó, ngày 2 tháng 9 là Ngày Độc Lập, đúng như Nguyễn Hữu Đang, người được Hồ Chí Minh chỉ định tổ chức ngày này, gọi, qua các văn thư chính thức ông đã gửi cho các đơn vị liên hệ, trong đó có thư gửi cho Thị Trưởng Hà Nội[x] và theo bìa in bản tuyên ngôn của bản trước tiên năm 1945, do Chủ Tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Hồ Chí Minh đọc trong Ngày Độc Lập”.[11]
Nhưng so với Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 còn tồn tại một ý nghĩa trọng yếu hơn nữa. Này là “ngày khép lại cuộc Cách mạng tháng Tám, và khai sinh nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa”, theo lời ông nói với Nguyễn Hữu Đang, “Chú phải nhớ…[12] Tại sao vậy?
Tại vì Hồ Chí Minh phải làm chuyện này trước khi quân Đồng Minh kéo vô Việt Nam, đặc biệt là thủ đô Hà Nội, nhằm đặt họ trước một sự đã rồi, không thể đảo ngược đươc. Sự kiện vua Bảo Đại thoái vị được nhắc tới và câu “Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng, kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp” là nhằm vào mục tiêu này.
Nội dung bản Tuyên Ngôn
Bản Tuyên Ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh, vì được thông dụng rộng rãi và hầu như được xem như là bàn tuyên ngôn duy nhất nối liền với ngày 2 tháng 9, ngày Quốc Khánh của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa rồi Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, nên đã được nhiều người đọc, phân tích và tìm hiểu. Trong phần này người viết chỉ nêu lên những gì ít được mọi người nhắc hay để ý đến.
Trong lúc Tuyên Cáo của Bảo Đại đơn giản chỉ là một bản văn thuần túy pháp lý nhằm hủy bỏ hòa ước bảo lãnh mà triều đình Huế đã ký trước đó, căn cứ vào sự bất lực của người Pháp không giữ được cam kết đã được ghi trong điều khoản thứ nhất và điều khoản thứ mười lăm của hòa ước này mà không nhằm vào một đối tượng quần chúng hay quốc tế, thì bản Tuyên Ngôn của Hồ Chí Minh nhằm vào toàn thể người Việt qua lời mở màn “Hỡi đồng bào cả nước…”.
Tuy nhiên ở những đoạn cuối tác giả lại nhắm vào các nước Đồng Minh. Điều này phải tinh ý người ta mới nhận thấy được. Về tư cách, Bảo Đại nhân danh Hoàng Đế Việt Nam, người đứng đầu của một quốc gia độc lập đã tồn tại từ trước khi người Pháp xâm lăng và là người kế thừa chính thống của các vua Nhà Nguyễn, thì Hồ Chí Minh đã nhân danh “Lâm Thời Chính Phủ của nước Việt Nam mới.”” Mới là vì đến ngày đó chính phủ này mới chính thức được ra mắt trước quốc dân. Lời văn do đó phản ảnh hai tư cách của hai bản chất nhân loại khác nhau. Một người là hoàng đế kế thừa chính thống của một triều đại đã trị vì một quốc gia từ hơn một trăm năm trước dù cho rằng chỉ còn hư vị; người kia là lãnh tụ của một trào lưu cách mạng vừa chủ trương chống Pháp, vừa chủ trương chống Nhật và lật đổ cơ chế quân chủ để giành chính quyền. Văn phong trong bản tuyên ngôn của Bảo Đại là văn phong bình thường của người cầm quyền; còn văn phong của Hồ Chí Minh mang tính cách mời chào và ở một mức độ nào đó có tính cách dân dã, kể lể dông dài kể công và nhất là xách động.
Mở màn cho bản tuyên ngôn, Hồ Chí Minh đã trích dẫn một số câu trong phần đầu của Bản Tuyên Ngôn Độc Lập của người Mỹ và một câu trong Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của Cách Mạng Pháp. Sự trích dẫn này, vào lúc mà sự hiểu biết của quần chúng Việt Nam còn thấp kém, nhất là về lịch sử Hoa Kỳ và toàn cầu chắc rằng không nhằm vào quần chúng người Việt mà nhằm vào người Mỹ và người Pháp.
Nguyên nhân là Hồ Chí Minh như là một đảng viên Cộng Sản Quốc Tế chắc rằng đă hiểu hơn ai hết là người Mỹ vào thời điểm này đã đóng một vai trò vô cùng trọng yếu trong chính tình ở Á Châu, trong đó có Việt Nam. Được nguời Mỹ thừa nhận là coi như quản lý được chính quyền.
Hiểu được như vậy, ngay từ khi còn ở chiến khu Hồ Chí Minh khi tiếp xúc với người Mỹ đã yêu cầu họ phân phối cho ông một bản Tuyên Ngôn Độc Lập của họ, đồng thời khi tiếp xúc với họ, Hồ Chí Minh cũng nhận thấy rằng nói về lịch sử nước Mỹ với họ là một phương pháp để chinh phục tình cảm của họ.
Cũng vậy, với những gì chứa đựng trong bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của người Pháp. Có điều sự trích dẫn nàychỉ nhằm mục tiêu lôi cuốn sự lưu ý và tình cảm của người Mỹ mà thôi. Hồ Chí Minh không cần đi xa hơn nữa và rất có thể ông cũng không hiểu rõ hơn hay cố ý không hiểu sự khác biệt trong quá trình giành độc lập của mười ba thuộc địa của người Mỹ vào cuối thế kỷ XVIII và của nước Việt Nam thời ông. Vì vậy ông đã vận dụng quan niệm của người Mỹ về quyền đồng đẳng, quyền được sống tự do và mưu cầu hạnh phúc của mọi – người – như-là-những-cá-nhân vào trường hợp Việt Nam như một – quốc – gia đòi quyền độc lập một cách gượng ép hay ít ra là suy luận theo quan niệm chủ quan của mình với dụng ý riêng của mình. Cũng vậy với những gì ông trích dẫn từ bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của Cách Mạng Pháp.
Phần tiếp theo, Hồ Chí Minh lên án người Pháp và người Nhật, đồng thời ông kể công cho Việt Minh: “Trước ngày mồng 9 tháng 3, đã bao lần Việt minh đã kêu gọi người Pháp liên minh để chống Nhật…”, sau đó “đã giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thùy, lại cứu nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật và bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ” và tổng kết rằng “Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt-nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp”.
Điều, như người viết đã nói ở trên, là không đúng sự thật. Sự thật là Chính Phủ Bảo Đại – Trần Trọng Kim đã lấy lại được toàn thể nước Việt Nam từ trước khi người Nhật đầu hàng kể cả lấy lại xứ Nam Kỳ và Việt Minh đã cướp chính quyền từ trong tay của chính phủ Bảo Đại -Trần Trọng Kim trong những ngày 17 và 19 tháng 8 năm 1945 sau đó.
Nguyên nhân là vì Việt Minh “đã có đường riêng của họ rồi”, nói theo Phan Anh, Bộ Trưởng Thanh Niên trong Chính Phủ Trần Trọng Kim và sau này là Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng trong Chính Phủ Liên Hiệp của Hồ Chí Minh. Trong những đoạn này Hồ Chí Minh đã dùng các từ ngữ ta hay “dân ta” hay “đất nước ta”, nhưng mục đích không nhằm vào người Việt Nam mà vào người Pháp.
Phần cuối cùng của bản văn, từ “Bởi thế cho nên…” cho đến hết, lời văn cho người ta thấy Hồ Chí Minh không hướng về người Việt mà về cả toàn cầu. Trong phần này ông xưng là “chúng tôi, Lâm thời Chính phủ, đại biểu cho toàn dân Việt -nam “ để tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ với Pháp, kêu gọi các nước Đồng Minh công nhận quyền độc lập của dân Việt-nam… Phần này Hồ Chí Minh thay vì quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc của mọi – người – như – những – cá – nhân do Tạo Hóa ban cho, những quyền phải hiểu là tự nhiên ai như là một lá nhân đều có, đã nói về quyền hưởng tự do và độc lập của – cả – nước – Việt – Nam.
Điều này hoàn toàn trái với tinh thần của bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Người Mỹ và nhất là của bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của Cách mạng Pháp mà danh xưng của nó đã nói lên một cách rõ ràng, không thể hiểu sai được vì độc lập không phải luôn luôn đồng nghĩa với tự do, dân quyền và nhân quyền.
Không những thế, thay vì coi những quyền này là do Tạo Hóa ban cho, Hồ Chí Minh lại lý luận là vì dân tộc Việt Nam là “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn tám mươi năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát-xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc ấy phải được độc lập!”.” Lý luận như vậy người ta phải hiểu, theo Hồ Chí Minh, rằng những dân tộc không gan góc chống lại những thế lực đè nén, áp bức mình và không gan góc đứng về phe Đồng Minh, chống phát-xít là không đáng được tự do, độc lập. Cũng vậy, với các quyền độc lập, tự do và mưu cầu hạnh phúc của nhân loại như là những cá nhân trong xã hội.
Cũng chính vì vậy Trần thanh Hiệp,khi được Đài Á Châu Tự Do phỏng vấn ngày 2 tháng 9 năm 2007, đã có lý khi ông gọi bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh này là một bản tuyên ngôn phi nhân quyền,[xiii] dù cho rằng nó đã được chính tác giả của nó trích dẫn và soạn thảo theo trí não của bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của Cách mạng Pháp. Nhưng dù nói thế này hay thế khác sự kiện này đã phản ảnh chủ trương cách mạng bạo lực của những người Cộng Sản mà Hồ Chí Minh ở đây là một trường hợp điển hình.
Người ta có thể giải thích sự thiếu rõ ràng trong bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hồ Chí Minh kể trên là do nó đã được soạn thảo trong một thời gian quá ngắn và trong tình trạng tác giả của nó còn phải bận rộn với nhiều vấn đề cấp bách khác. Điều này không đúng vì trước đó từ lâu, khi tiếp xúc với một sĩ quan người Mỹ, Hồ Chí Minh đã xin một bản tuyên ngôn nhân quyền của người Mỹ rồi. Nói cách khác, Hồ Chí Minh đã nghĩ tới và đã thai nghén bản tuyên ngôn của ông từ lâu chứ không phải chỉ ít ngày xưa ngày 2 tháng 9 năm 1945. Do đó những gì ông nói tới, những từ ngữ ông dùng đều được suy xét kỹ lưỡng và đều có dụng ý riêng với những mục tiêu riêng mà chỉ sau này phải phân tích kỹ, đối chiếu kỹ và có thể sau này khi mọi việc liên hệ đã xảy ra rồi, người ta mới có thể hiểu được.
Gs Phạm Cao Dương

[1] Dương Trung Quốc. Việt Nam : Những Sự Kiện Lịch Sử (1919-1945). HàNội: Nhà Xuất Bản Giáo Dục, 202.tr. 388.
[2] Lệ Thần Trần Trọng Kim. Một Cơn Gió Bụi (Kiến Văn Lục).Saigon, Nhà Xuất Bản Vĩnh Sơn, 1969. tr. 49.
[3] – nt – , tr. 51.
[4] Dương Trung Quốc, Việt Nam…, tr. 388; Nguyễn Vỹ. Tuấn, Chàng Trai Nước Việt (Chứng Tích Thời Đại Từ 1900 đến 1970, Quyển II. Saigon, ? , 1970. Fort Smith, AR tái bản ở Hoa Kỳ, ?. tr. 512.; Ş.ʍ. Bao Dai. Le Dragon {d}’Annam. Paris, Plon. 1990. Cameron, Allan 𝒲. Viet-Nam Crisis, 𝓐 Documentary History, Volume Ι: 1940-1956. Ithaca, и.У. Cornell University Press, 1971.. tr. 31-32. Hai bản tiếng Việt in trong tác phẩm của Dương Trung Quốc và tác phẩm của Nguyễn Vỹ hơi khác nhau về ngôn từ nhưng hoàn giống nhau về nội dung. David ₲. Marr trong Vietnam 1945, The quest for Power (Berkeley, University of California Press, 1995, tr. 71) có nói tới các bản tiéng Việt và tiếng Pháp ở văn khố Pháp và bản đăng trên tờ Dân Báo, ngày 12 tháng Ba. Vũ Ngự Chiêu cũng nói tới tờ Tin Mới, nhưng nhất thời người viết bài này chưa đến được các nơi cần đến để tìm kiếm.
[5] Taboulet, Georges. La Geste Francaise en Indochine,Histoire par les textes de la France en Indochine des origines à 1914, tome II, Paris, Adrien – Maisonneuve, 1956. tr. 809 – 812; Phan Khoang, Việt Nam Pháp Thuộc Sử, 1884 – 1945. Saigon,, ? ,1961. Tái bản ở Hoa Kỳ. tr. 322 – 328.
[6] Phạm Khắc Hòe, Từ Triều Đình Huế Đến Chiến Khu Việt Bắc. Huế, Thuận Hóa, 1987, tr. 16 -.
[7] Ş.ʍ.Bảo Đại, Le Dragon {d}’Annam, đã dẫn, tr. 103
[8] Võ Nguyên Giáp, “Những Năm Tháng Không Thể Nào Quên”, trong Tổng Tập Hồi Ký. Hà Nội, Nhà Xuất Bản Quân Đội Nhân Dân, 206, tr.. 255.
[9] Phạm Khắc Hòe, Từ Triều Dình Huế…, tr. 76.
[10] Phùng Quán, Ba Phút Sự Thật. TP.HCM, Nhà Xuất Bản Văn Nghệ, 2006, tr. 114 – 115.
[11] Hồ Chí Minh, Tuyên Ngôn Độc Lập Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Hà Nội, Nhà Xuất Bản Sự Thật, 1976, tr.13. Nguyễn Khánh Toàn và Lữ Huy Nguyên, Tổng Tập Văn Học Việt Nam, Tập 36. Hà Nội, 1980. tr. 812 – 823.
[12] – nt-, tr. 134.
[1] Trần Thanh Hiệp và Trương Giang, “Một Bản Tuyên Ngôn Phi Nhân Quyền”, trên Nhật Báo Người Việt, số 7940, ngày Thứ Hai, 3 tháng 9 năm 2007. Dương Trung Quốc. Việt Nam : Những Sự Kiện Lịch Sử (1919-1945). Hà Nội: Nhà Xuất Bản Giáo Dục, 202.tr. 388.Việt, số 7940, ngày Thứ Hai, 3 tháng 9 năm 2007.

(ngày 12 tháng 09.2015)

Nhân dịp Căm Bốt làm lễ quốc tang cho Cựu Hoàng Sihanouk, nhìn lại

NHỮNG NỖ LỰC CỦA CỰU HOÀNG ĐẾ BẢO ĐẠI

Trong trận đấu tranh giành Độc lập và Thống nhất cho quốc gia và dân tộc Việt Nam

Gs Phạm Cao Dương

Bài này được viết theo lời yêu cầu của một số người trẻ trong đó nhiều người là sinh viên đại học nhằm bổ khuyết cho sự hiểu biết của anh chị em này nói riêng và thanh niên Việt Nam nói chung về vị vua cuối cùng của Nhà Nguyễn nhân dịp 100 năm năm sinh của ông cũng như về một thời kỳ lịch sử có quá nhiều góc tối hay góc khuất, luôn cả oan khuất và cũng nhân dịp đầu Xuân Quý Tỵ 2013 sắp tới. Yêu cầu này cũng đến không lâu khi Cựu Hoàng Norodom Sihanouk của nước láng giềng thân cận nhất của Việt Nam, Vương Quốc Khmer hay thân thuộc hơn, Căm Bốt, vừa mới bỏ mạng và thi thể còn được quàn tại hoàng cung chờ ngày quốc táng. Khi liên lạc với tôi, như để chắc ăn, một trong những vị này đã dùng cả smartphone lẫn điện thư và để lại lời nhắn. Để đáp lễ, tôi cũng trả lời anh bằng điện thư trước rồi sau đó gọi smartphone cho anh. Hai chúng tôi thảo luận với nhau rất lâu, không dưới một giờ đồng hồ về đề tài không mấy đơn giản nhưng vô cùng thiết yếu này. Mẩu chuyện phải nói là vô cùng hứng thú giữa hai người không cùng thế hệ. Vì vậy thay vì viết một bài dưới hình thức khảo cứu, tìm hiểu hay bài học dùng trong lớp học như tôi thường làm, tôi xin được tóm tắt những gì chúng tôi đã chia sẻ với nhau cho nội dung bớt khô khan và nhẹ nhõm hơn hầu người bạn trẻ của tôi có thể đăng trên báo xuân của anh và các bạn của anh. Tôi cũng tránh không nêu tên anh và tổ chức của anh để nội dung có thể được đơn giản thông dụng rộng rãi hơn cho những anh chị em thuộc những nhóm khác.

Nhu cầu cần được xét lại
Cựu Hoàng Bảo Đại, như sau này người ta thường gọi ông kể từ ngày ông thoái vị, thường bị nhiều người, Việt Nam có, ngoại quốc có, tệ hơn trong đó có cả các sử gia, máy móc theo nhau gọi là vua bù nhìn, tay sai của hết Tây đến Nhật, một ông vua chỉ thèm ăn chơi đàng điếm, một thứ playboy do người Pháp nặn ra và đặt lên ngôi để dễ sai bảo. Ngay cả Sử Gia Trần Trọng Kim, khi được Học Giả Hoàng Xuân Hãn khuyên là nên gặp ông để tìm hiểu, lúc đầu cũng từng từ chối, gọi ông là “thằng ngốc”- “thằng ngốc, gặp nó làm gi?”- nhưng sau thời điểm đã gặp rồi, nhà học giả kiêm sử gia này đã phải thay đổi hoàn toàn nhận định mà ông đã có từ trước.
Ở đây tôi không bàn về chuyện này mà chỉ nói tới những gì Bảo Đại đã làm ngay từ khi vị cựu hoàng này đang là Đương Kim Hoàng Đế hay sau này là Cựu Hoàng và là Quốc Trưởng của Quốc Gia Việt Nam. Đây là những đóng góp tôi nghĩ là không nhỏ, nếu không nói là vô cùng to lớn so với những đóng góp của những lãnh tụ khác của Việt Nam, trong quá trình tranh đấu giành độc lập và thống nhất cho quốc gia và dân tộc của ông bằng đường lối hòa bình, phi bạo lực. Cho cá nhân ông, những nỗ lực của ông đã không mang lại được những thành tựu mà ông muốn. Ông đã không bảo vệ được di sản mà tổ tiên ông để lại, đã không xây dựng được một cơ chế quân chủ lập hiến cho quốc gia và thần dân của ông, điều ông muốn làm ngay từ đầu, không giữ được sự đoàn kết dân tộc mà ông trịnh trọng ghi trong chiếu thoái vị… Cuối cùng ông đã bị mọi người trách cứ, bỏ rơi và chết ở xứ người. Thần dân cũ của ông không mấy ai để ý tới sự tạ thế của ông, trái với tử vong của một quốc vương khác trẻ hơn ông nhưng đồng thời với ông và cũng phải ứng phó với vấn đề độc lập của quốc gia giống như ông sau này. Tôi muốn nói tới Cựu Hoàng Norodom Sihanouk của xứ Căm Bốt. Giống nhưng khác với Bảo Đại ở đường lối tranh đấu vì trong đời ông, Sihanouk đã có thời dùng bạo lực để đàn áp đối lập, đã hợp tác với Khmer Đỏ, tổ chức Cộng Sản Căm Bốt chịu ràng buộc của Trung Cộng của các lãnh tụ Pol Pot và Ieng Sary, một thời đã mang họa diệt chủng đến cho xứ Căm Bốt làm cho hàng triệu người dân của xứ này bị tàn sát bằng đủ mọi phương tiện với hàng núi xương được phát hiện, cho đến nay vẫn được bảo tồn coi như di tích của một thời đen tối nhất trong lịch sử của dân tộc Khmer. Còn Bảo Đại thì tuyệt đối không, kể cả việc ông đã từ chối không đồng ý cho người Nhật đứng ra bảo vệ lãnh thổ, hoàng cung và an ninh cho chính ngôi vị và bản thân ông, chống lại cuộc nổi dậy của Việt Minh và những người Cộng Sản hối Tháng Tám năm 1945 theo trách nhiệm giữ gìn trật tự mà quốc tế giao cho họ. Nguyên nhân đơn giản là vì Bảo Đại không muốn dùng ngưới ngoại quốc để chống lại người Việt Nam, đồng bào của ông và thần dân của ông. Sihanouk đã được chính quyền và người dân Căm Bốt thương tiếc bằng những giọt nước mắt nhỏ xuống bên lề đường hay ở trên công viên trước hoàng cung ở Nam Vang hay ở nhiều nơi ở Căm Bốt. Người ta đã long trọng đón thi hài của ông từ Bắc Kinh được mang về Nam Vang và long trọng làm quốc tang cho ông trong bốn ngày đầu tháng 2 năm 2013, vào lúc người Việt Nam ở trong nước cũng như ở Hải Ngoại sửa soạn mừng đón Xuân Quý Tỵ.


Xem thêm những thông tin liên quan đến đề tài đế quốc đại việt

Đế Chế Đạι Việt | Chương 1-2: Đi Thật Xa Để Trở Về – Đại Việt Đế Chế Hệ Thống

alt

  • Tác giả: Zin Zin Audio
  • Ngày đăng: 2021-10-22
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 7990 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: ► Đế Chế Đại Việt
    ►Tác giả: Hàm Ngư
    ►Thể Loại: Võng Du, Dị Giới, Huyền Huyễn, Quân Sự, Lịch Sử, Xuyên Không, Hệ Thống
    ►Edit: Zin Zin Audio
    ►Giọng đọc: Ngọc Huyền
    ►Nguồn truyện: https://vtruyen.com

ngọc hoàng nào lấy 4 vợ ngoại quốc, nhiều con làm vua nhất sử Việt?

  • Tác giả: kienthuc.net.vn
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 4364 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Ông là hoàng đế trước tiên trong lịch sử Việt Nam lấy vợ Hà Lan, có tới 4 người con làm vua.

Đế Chế Đại Việt

  • Tác giả: truyenfull.vn
  • Nhận xét: 3 ⭐ ( 1180 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Đọc truyện Đế Chế Đại Việt của tác giả Hàm Ngư, luôn update chương mới đầy đủ. Trợ giúp xem trên di động, Tablet.

Đinh Bộ Lĩnh – hoàng đế trước tiên của nước Đại Cồ Việt

  • Tác giả: vnexpress.net
  • Nhận xét: 5 ⭐ ( 2173 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Dẹp loạn 12 sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh khai mở triều đại nhà Đinh, nhất định nước Nam độc lập hoàn toàn với phương Bắc. – VnExpress

Độc lập giả hiệu của Đế quốc Việt Nam

  • Tác giả: www.voatiengviet.com
  • Nhận xét: 3 ⭐ ( 7836 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Với đạo dụ này, An Nam với tư cách vương quốc chịu sự bảo lãnh của Pháp với Trung kỳ là lãnh thổ chính thức chấm hết. Hai ngày sau, tạp chí cả ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ đều đăng tin “Đế Quốc Việt Nam tuyên bố độc lập”

Vì sao quân đội Ukraine vẫn sử dụng súng máy 100 năm tuổi?

  • Tác giả: vietnamnet.vn
  • Nhận xét: 3 ⭐ ( 5853 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Truyền thông Nga thu hút sự chú ý khi chế nhạo việc quân đội Ukraine đang sử dụng các loại súng máy có từ thời nước này còn thuộc đế chế Nga Sa hoàng để chống lại các lực lượng Moscow.

Fb

  • Tác giả: www.facebook.com
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 9224 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm:

Xem thêm các nội dung khác thuộc thể loại: Khám Phá Khoa Học

By ads_law