Bạn đang xem: chú khỉ buồn 43

print

Các Bài Suy niệm Chúa Nhật 4 Phục Sinh – Năm ¢

CHÚA NHẬT CHÚA CHIÊN LÀNH

Lời Chúa: Cv 13,14.43-52; Kh 7,9.14b-17; Ga 10,27-30

MỤC LỤC

1.Chúng theo Tôi

(Trích trong ‘Manna’)

Suy Niệm

“Hỡi các thiên thần trên trời, các thiên thần của Chúa, các thiên thần của bình an và hoan lạc, xin hãy ném cho nhau những bông hồng, bông súng, những bài hát du dương và những nốt nhạc ngát hương; và xin hãy đổ tràn nhân đức, can đảm và hạnh phúc trên những nữ tì của Chúa”

Này là cấu kết của một bài văn viết bằng tiếng Pháp, thấy nằm trong túi áo của Hàn Mạc Tử lúc ông tử vong. Ông đã viết bài này gần ba tuần trước khi mất để ngợi ca lòng tận tụy của các nữ tu Phan sinh đã chăm sóc ông trong những ngày cuối đời ở Quy Hòa.

Màu áo dòng trắng, sự tươi tắn và những lời ca êm dịu đã làm nhẹ nỗi đau của chàng thi sĩ mắc bệnh phong.

Toàn cầu ngày hôm nay vẫn cần ai mang đến cho nó chút mừi hương của Tuyệt Đối, chút ngọt ngào của Vô Cùng, để thiên đàng chẳng phải là chuyện xa xôi, huyễn hoặc, Thiên Chúa chẳng phải là thần thoại vu vơ.

Hội Thánh ngày hôm nay vẫn cần đến những người của Chúa: cần bóng linh mục cho những họ lẻ, bị lãng quên, cần bước chân mạnh dạn ra đi loan báo Tin Mừng, cần sự trầm mặc của người đắm mình trong chiêm niệm cần bàn tay nhẹ nhõm xoa dịu mọi vết thương, và trên hết cần những trái tim không san sẻ, dám yêu hết mình, dám sống hết tình, hết mình cho Thiên Chúa, hết tình cho mọi người, đặc biệt cho những ai đã đánh mất mọi trông mong.

Cả nước ta có gần 2.000 linh mục và khoảng 7.000 tu sĩ, một con số khiêm tốn trong quốc gia gần 80 triệu dân. Trong Chúa Nhật đặc biệt cầu cho ơn thiên triệu, tất cả chúng ta nài xin Chúa hãy gọi nhiều tâm hồn và hãy giúp cho họ nghe được tiếng gọi ấy.

Chiên trong bài Tin Mừng ngày hôm nay để chỉ các Kitô hữu, nhưng cũng có thể hiểu về những người sống đời thánh hiến.

Họ là người được Chúa biết từ trong lòng mẹ, và họ cảm thu được cái biết đầy yêu thương đó.

Họ là người nghe tiếng của Chúa Giêsu, một giọng nói với toàn bộ nét đặc trưng thân thuộc.

Tiếng ấy đã nhiều lần vang lên, thân thương và hấp dẫn.

Tiếng ấy mời gọi họ lên đường để theo sát Ngài hết sức có thể, một Chúa Giêsu nghèo khó, vâng phục và khiết tịnh.

Họ vui lòng bỏ lại những gì họ quý yêu. Nhờ bỏ lại mà họ được tự do thanh thoát. Nhờ sống nghèo, họ được giải thoát khỏi cái tôi ưa cướp đoạt. Nhờ vâng phục, họ được ra khỏi cái tôi muốn bành trướng. Nhờ khiết tịnh, họ có thể yêu mọi người đến vô cùng. Như vậy ràng buộc của đời tu lại mang đến tự do.

Họ có thể được Chúa thân mật gọi là chiên của tôi, bởi lẽ họ thuộc về Ngài cách đặc biệt.

Ước gì không ai cướp được họ khỏi tay Chúa!

Gợi Ý Chia Sẻ

Hiện tại có ít bạn trẻ sống ở tp muốn dâng mình cho Chúa. Theo ý bạn, cuộc sống xô bồ của tp thời kinh tế thị trường có tác động gì trên việc chọn lựa này?

Theo ý bạn, làm sao nhận thấy Chúa mời chào mình sống đời thánh hiến? Bạn có quen nhiều nhà Dòng không?

Cầu Nguyện

Lạy Cha là người chủ ruộng tốt lành, đồng lúa đã chín vàng chờ ngày gặt hái.

Xin Cha sai những người thợ lành nghề và tận tụy đến làm việc trong cánh đồng bát ngát của Cha.

Xin Cha gieo vào lòng các bạn trẻ ngày hôm nay những ước mong to lớn, những lý tưởng cao thượng.

Xin cho họ biết quên hạnh phúc và tương lai của mình để yêu tha nhân bằng trái tim rộng mở.

Ước gì họ nghe được tiếng kêu của người bị áp bức, cảm được cơn đói khát Lời Chúa và tình thương, thấy được những mất mát của bao người thống khổ, và chạm đến sự trống vắng của tâm hồn lạc hướng.

Xin Cha sai Thánh Thần đến với các bạn trẻ để họ quảng đại đáp lại tiếng gọi của Chúa Giêsu, sống như Ngài đã sống và tiếp tục làm những gì Ngài đã làm trên trần gian.

Cũng xin Cha gìn giữ gia đình và giáo xứ chúng con, thanh lọc bầu khí của trường học và xã hội, để toàn bộ trở thành những môi trường tốt giúp các bạn trẻ đơn giản tìm gặp ý Cha. Amen.

 

2.      Chiên Tôi thì nghe tiếng Tôi – ViKiNi

(Trích trong ‘Xây Nhà Trên Đá’ của Lm. Giuse Vũ Khắc Nghiêm)

“Chiên tôi thì nghe tiếng tôi”. Bài Tin Mừng mở màn bằng câu nói có vẻ tầm thường, nhưng thật trọng yếu. Để biết trọng yếu như vậy nào tất cả chúng ta thử nghe một câu truyện lịch sử toàn cầu sau đây:

Đại Văn Hào Lêon Tolstoi nổi tiếng nhất nước Nga đã viết một tác phẩm tựa đề: Chiến Tranh và Hòa Bình, ông mô tả lại những chiến công hiển hách của Đại Đế Napolêon, một thiên tài xưa nay chưa từng có (1769-1821). Hầu như ông đã làm thống lĩnh Châu Âu, quân của ông bách chiến bách thắng. Chỉ còn chiếm thủ đô nước Nga là xong. Ông kéo năm trăm nghìn quân hùng tướng mạnh, chỉ trong vòng một tháng đã lấn chiếm thủ đô Moscow. Thế là xong. Sĩ quan, quân sĩ của ông reo hò ăn mừng như giành được thiên đàng trần gian. Thế là quan quân tha hồ hôi của, vơ vét, thành đoàn quân cướp phá, ăn chơi, hãm hiếp, đánh lộn nhau, làm rối loạn thủ đô huy hoàng của Nga Xô. Napolêon đại đế trước kia sai khiến như sấm sét, quan quân răm rắp nghe theo. Nay tại thủ đô thắng lợi này, ông sai khiến không còn ai nghe nữa. Binh hùng tướng giỏi của ông trở thành những con ngựa bất kham, chỉ lo ăn chơi, cướp của, hãm hiếp. Cuối cùng, ông đành bó tay rút khỏi Moscow (Mascova), lật đật chạy trốn về Pháp với hơn ba mươi nghìn quân thân tàn ma dại, chết đói, đến nỗi ngựa cũng không còn để giết mà ăn.

Hơn nửa triệu con chiên kiêu hùng tuân lệnh ông, đã bách chiến bách thắng khắp Châu Âu. Khi những con chiên đó lao đầu theo tiền của, ăn chơi, chúng không nghe lệnh ông nữa, chúng đã phải chết rữa xác rải rác trên đường chạy trốn. Nếu chúng biết nghe tiếng ông, thì vinh quang biết mấy!

Khi Đức Giêsu nói: “Chiên Tôi thì nghe tiếng Tôi”, chắc hẳn Người đã nhìn thấy hàng triệu, hàng tỷ những con chiên của Người đã biết lắng nghe tiếng Người, như Bài đọc II đã kể: “Tôi thấy một đoàn người thật đông không tài nào đếm nổi. Họ thuộc mọi nước, mọi dân mọi chi tộc và mọi ngôn ngữ, mình mặc áo trắng, tay cầm lá thiên tuế… họ đứng chầu trước ngai Thiên Chúa”. Còn tất cả chúng ta có muốn được vào số những con chiên vinh phúc đó không? Nếu muốn thì phải “chiên tôi thì nghe tiếng tôi”

Thế nào là chiên biết nghe tiếng Chúa Giêsu? Tất cả chúng ta có nhiều lần được thấy những lũ chiên trên những cánh đồng cỏ xanh tươi qua màn ảnh nhỏ. Nhưng đoàn chiên của Chúa không phải là những lũ chiên thụ động như vậy. Nếu tất cả chúng ta nghĩ thế, thì thật sai lầm chua chát!

Hình ảnh trong Kinh thánh trái với ý nghĩa sai lầm đó. Ba hành động được Đức Giêsu đề cao ở đoạn Phúc âm này về con chiên là ba tư cách đầy nhân bản, này là lắng nghe, biết chí tình và đi theo hết mình.

1- Lắng nghe: Là tư cách chuyên chú quan tâm đến người nói, tôn trọng người nói, tỏ ra mình có một mối tương quan thân tình, thân hữu với người nói. Lắng nghe là thiết yếu trong tương giao sống động giữa người với người. Lắng nghe để thông hiểu, thông cảm và hiệp thông với nhau. Người ta nói: Người thông minh là người có tai thông, mắt sáng. Thiên Chúa dựng nên nhân loại có hai tai, hai mắt, một miệng, như vậy là nói ít, nghe nhiều, nhìn cho kỹ. Trong thực tiễn, khi thảo luận, tất cả chúng ta lại “cãi nhau như mổ bò”; “ông nói gà, bà nói vịt”. Những tệ hại ấy xẩy ra từ thời xây tháp Babel đến giờ. Mỗi người nói một thứ tiếng, chẳng ai hiểu ai, họ chia rẽ nhau, chỉ vì kiêu ngạo đòi lên cao tới trời (St. 11). Do vậy các ngôn sứ không ngừng mời chào: “Hãy lắng nghe, hỡi Israel!” (Ds. 6, 4; Amos 3, 1; Giêrêmia 7, 2; Tv. 24, 3-9) và rất nhiều lần Đức Giêsu nói: “Ai có tai để nghe thì hãy nghe”. Lời Chúa thật nhẹ nhõm êm ái nhắc bảo tất cả chúng ta: “Chiên Tôi thì nghe tiếng Tôi”. Đức Chúa Cha cũng mời chào: “Đây là Con Ta rất yêu dấu. Hãy nghe lời Người” (Mt. 17, 5). Những lời đó đang rót vào tai tất cả chúng ta để tất cả chúng ta được đức tin như Thánh Phaolô nói: “Có đức tin là nhờ nghe giảng, mà nghe giảng là nghe công bố lời Đức Kitô” (Rm. 10, 17) hay: “Đức tin nhờ nghe: Fides ex auditu” (Ga. 3, 2)

2- Biết chí tình: “Chiên Tôi biết Tôi”. Biết về Đức Giêsu do học hỏi lời Chúa và giáo lý thì chưa đủ. Biết ở đây là biết bằng trái tim, bằng tình yêu mến chí thiết hài lòng ngưỡng mộ nồng nàn, bằng những cảm nhận trực giác sâu đậm, bằng những rung động bắt đúng tầng số của trái tim Chúa bốc lửa rực sáng vì yêu con chiên và chết đi vì con chiên. Trái tim con chiên cũng phải bốc lửa tưng bừng yêu mến Chúa chiên nhân lành như vậy, để cả hai nên một như “Tôi và Chúa Cha là một”. Sự biết chí tình chí thiết này thật sự đã được trổ tài với hai Thánh nữ Catarina và Têrêxa Hài đồng Giêsu. Catarina là người mù chữ chỉ học nơi Thánh Tâm Chúa Giêsu, và trở thành Thánh Tiến sĩ Hội Thánh. Têrêxa cũng chẳng học trường nào, chỉ học nơi tình yêu Chúa Giêsu Hài đồng, đã được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II phong làm Tiến sĩ Hột Thánh tháng 08/1997 trong Đại Hội thanh niên toàn cầu tại Paris.

3- Chúng theo Tôi: Theo Tôi như Phêrô bỏ chài lưới, vợ con, cha mẹ và mọi sự để theo Thầy, như Mathêu bỏ địa vị, tiền của để theo Chúa, như Madalena bỏ đường tội lỗi bước vào đời sống mới. Này là đổi đời, từ bỏ nếp sống cũ tiến theo nếp sống mới, một cuộc tái sinh vào đời sống mới, “Tôi ban cho chúng sự sống đời đời, không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay Tôi” … và chắc hơn nữa: “Không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha”. Như vậy, tất cả chúng ta được giữ gìn trong hai đôi tay: Một bên là Cha, một bên là mẹ: Được dẫn dắt trong bình an và đảm bảo tuyệt đối. Thật là một hình ảnh tuyệt vời!

Lạy Chúa, xin cho chúng con được sống trong lòng bàn tay Chúa, bàn tay đã giơ ra cứu chữa bao nhiêu người bệnh, bàn tay đã giơ ra cứu vớt Phêrô khỏi chìm trong lòng biển, bàn tay đã cầm lấy bánh, tạ ơn, bẻ ra trao cho các môn đệ và nói: “Này là Mình Thầy”, bàn tay đã giang ra cho quân dữ đóng đinh. Chính bàn tay đó đang gìn giữ chúng con thật chắc cú và không ai cướp được chúng con ra khỏi tay Chúa. Chúng con xin tạ ơn Chúa Giêsu và Chúa Cha muôn đời.

 

3.      Mục tử biết thương xót

(Suy niệm của Lm. Joshepus Quang Nguyễn)

Thường khi nói đến Chúa chiên lành tất cả chúng ta dễ thấy hình ảnh Chúa vác con chiên trên vai. Nhưng nhìn Logo năm Thánh Lòng Thương Xót Chúa 2016 thì khác, Chúa Giêsu không vác chiên mà vác nhân loại trên vai là Ađam, nhưng đôi mắt của Vị Mục Tử hoàn toàn giống như đôi mắt của nhân loại. Chúa Kitô nhìn với con mắt của Adam và Adam nhìn với con mắt của Chúa Kitô và như vậy, Chúa Giêsu biết con chiên và con chiên biết Chúa, “Mình với ta tuy hai mà một, ta với mình tuy một mà hai”.

Qủa thế, Chúa Giêsu nói “Ta là mục tử nhân lành, Ta biết các chiên tôi và chiên tôi biết tôi”. Nghe đến chữ “biết”, tất cả chúng ta nghĩ ngay đến cái biết do trí khôn, không chỉ có thế, mà “biết” ở đây đang là cái biết do chính nhân loại và cuộc sống của người mình biết. Ví dụ bác sỹ biết người bệnh khác với cái biết của người mẹ về người con đang đau ốm. Này là cái biết của lòng thương xót, của trái tim người mẹ rung cảm vì vậy sẵn sàng thức khuya dậy sớm, chịu đựng bao khó khăn để chăm sóc mong con mau lành bệnh. Vì vậy, cái biết của Chúa Giêsu không chỉ biết do tri thức mà cả tấm lòng và cả một tình yêu thương xót cao vời vì vậy ngày hôm nay Ngài nhất định: “Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi. Cha tôi, Đấng đã ban chúng cho tôi, thì lớn hơn tất cả, và không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha. Tôi và Chúa Cha là một”.

Thực vậy, Chúa Giêsu không chỉ biết mà còn thông cảm với mọi hoàn cảnh của ta. Ta buồn vì bị người yêu phụ bạc ư? Chúa Giêsu đến thông cảm với ta vì Ngài cũng từng biết thế nào là nỗi đau của người bị phản bội. Ta cay đắng với kiếp nghèo đeo đẳng ư? Chúa Giêsu đến sẻ chia với ta vì Ngài cũng từng sinh ra không nhà không cửa, sống ngoài đường và chết trần truồng trên thập giá không có chỗ chôn. Ta vô vọng vì cuộc sống bệnh tật thống khổ không lối thoát ư? Chúa Giêsu an ủi đỡ nâng ta vì Ngài đã trải qua những giờ phút đen tối và thống khổ thân xác tột cùng của kiếp người trong vườn Giếtsimani, trong đêm bị tóm gọn đánh đòn, vác thập giá và đóng đinh trên thập giá. Ta cô quạnh vì bị mọi người kì thị xa lánh vì nghèo, bệnh tật ư? Chúa Giêsu gắn bó với ta vì Ngài cũng từng bị mọi người chối bỏ, và Người cảm thấy như Đức Chúa Cha cũng từ bỏ Người. Ta bị sỉ nhục mất hết uy tín ư? Chúa Giêsu đến đồng lao cộng khổ với ta vì Ngà đã bị nhục nhã và mất hết uy tín khi phải chết như kẻ có tội. Tóm lại, Chúa Giêsu là mục tử tốt lành, hiểu biết mọi ngõ ngách u ẩn trong đáy lòng người, mọi nỗi khổ đau của kiếp nhân sinh nên Ngài hằng thương xót chăm sóc và an ủi từng người tất cả chúng ta trong mọi hoàn cảnh, nên Ngài quyết đoán rằng: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11,28).

Ngày hôm nay Hội Thánh nguyện cầu cho ơn thiên triệu làm mục tử, mà mục tử cho Chúa không chỉ là Giám mục, Linh mục, tu sĩ mà toàn bộ mọi người tất cả chúng ta. Mục tử đó đang là: cha mẹ, thầy cô, anh chị trong tình liên đới với Chúa, Giáo hội và nhân loại. Vì chưng, Sách giáo Lý Hội Thánh dạy rằng: “Ơn gọi của nhân loại là biểu lộ hình ảnh của Thiên Chúa và được biến đổi thành hình ảnh Con Một của Chúa Cha. Ơn gọi này mang một hình thức cá vị, bởi vì mỗi người đều kêu gọi tiến vào vinh phúc thần linh; ơn gọi này cũng liên quan đến tổng thể cộng đồng nhân loại” (số 1877).

Do vậy, ơn gọi mục tử trong mỗi bậc sống là hồng ân Chúa ban mà mình phải sống và gắn bó suốt đời để “sống với Chúa, và để Ngài sai đi” (Mc 3, 14). Sống với Chúa, là lắng nghe tiếng Ngài trong từng hoàn cảnh, biến cố của sống, để nên một với Ngài trong gian truân và hạnh phúc. Để Ngài sai đi và sẵn sàng đi theo đoạn đường Ngài đã đi, thực thi sứ mệnh Ngài trao, bỏ mặc những gì xảy ra vì Thiên Chúa thương xót nhân loại, Ngài muốn toàn bộ được cứu độ (1Tm 2, 4), và qua Chúa Giêsu, Thiên Chúa ban sự sống đời đời cho toàn bộ mọi người. Sự sống đời đời khởi đầu ngay ở đời này. Nếu nhân loại sống theo tiếng Chúa, Lời Chúa và giáo huấn của Giáo Hội, theo lương tâm, người ấy đúng là mục tử đích thực. Do vậy, Chúa mời gọi toàn bộ làm mục tử cho Chúa chứ không phải chỉ là những người đi tu tận hiến cho Chúa hay những người lành lặn, mạnh khỏe bình thường, còn người bệnh, kẻ khuyết tật thì miễn trừ. Vì chưng, khi chịu Phép Rửa Tội, Chúa trao cho mỗi người tất cả chúng ta sứ mệnh mục tử này là: ngôn sứ, tư tế và vương đế. Ngôn sứ là người nói Lời của Chúa, tư tế chẳng phải là người tế lễ cho Chúa đó sao và vương đế là mục tử của lòng thương xót, là biết thương xót như Chúa Giêsu là Vua thương xót biết từng người trong nhân loại và không để ai phải hư mất.

Để là mục tử tốt, chúng mình phải sống đúng Lời Chúa, sống đúng cung cách yêu thương, phục vụ của Chúa và thương xót mọi con chiên như Chúa thương xót tất cả chúng ta, như vậy tất cả chúng ta mới thực sự đang thi hành lệnh truyền Chúa đã tin tưởng ủy thác cho tất cả chúng ta trong bài đọc 1 rằng: “Ta sẽ đặt ngươi làm ánh sáng cho muôn dân, để ngươi đem ơn cứu độ đến tật cùng cõi đất” (Cv 13,47). Vậy, nếu mục tử là người lãnh đạo thì phải khiêm tốn phục vụ như Chúa, “Thầy là Chúa là Thầy mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau” (Ga 13,12-15). Mục tử là cha mẹ thì “đừng làm cho con cái tức giận, nhưng hãy giáo dục chúng thay mặt Chúa bằng cách khuyên răn và sửa dạy” (Ep 6,4). Là con cháu thì “hãy vâng lời cha mẹ theo tinh thần của Chúa, vì đó là điều phải đạo. Hãy tôn kính cha mẹ. Đó là điều răn thứ nhất có kèm theo lời hứa: để ngươi được hạnh phúc và hưởng thọ trên mặt đất này” (Ep 6,1-2). Và cuối cùng là mụt tử với nhau trong cuộc sống thì tất cả chúng ta hãy ăn ở thật khiêm tốn, hiền từ và nhẫn nại; hãy lấy tình nhân ái mà chịu đựng lẫn nhau. Tất cả chúng ta hãy thiết tha duy trì sự hiệp nhất mà Thần Khí mang lại, bằng cách ăn ở thuận hoà gắn bó với nhau (Ep 4,2-3).

Ước gì qua Lời Chúa ngày hôm nay, xin cho con biết Chúa, xin cho mỗi người tất cả chúng ta biết lắng nghe Lời Chúa và để cho Lời Chúa thấm sâu vào lòng và quyết tâm sống và noi theo gương Chúa trong mọi hoàn cảnh sống thường ngày của đời sống là: sống quảng đại. Biết phụng sự Chúa cho xứng đáng. Biết cho đi mà không cần tính toán. Biết tranh đấu mà không sợ thương tích. Biết tha thứ, thương xót và phục vụ mọi người không mong đợi một phần thưởng nào khác, ngoài việc biết làm rạng danh Thiên Chúa và mưu ích cho anh chị em. Allêluia.

 

4.      Mục tử biết thương xót

(Suy niệm của Lm. Joshepus Quang Nguyễn)

Logo năm Thánh lòng thương xót Chúa nêu bật sự việc Vị Mục Tử nhân lành đi sâu vào thân thể nhân loại, với tình thương yêu đến độ thay đổi cuộc sống của nhân loại. Vị Mục Tử Nhân Lành đó chính là Chúa Giêsu, với lòng thương xót tột độ, vác nhân loại trên vai là Ađam, nhưng đôi mắt của Vị Mục Tử hoàn toàn giống như đôi mắt của nhân loại. Chúa Kitô nhìn với con mắt của Adam và Adam nhìn với con mắt của Chúa Kitô và như vậy, Chúa Giêsu biết con chiên và con chiên biết Chúa, “Mình với ta tuy hai mà một, ta với mình tuy một mà hai”.

Quả thế, Chúa Giêsu nói “Ta là mục tử nhân lành, Ta biết các chiên tôi và chiên tôi biết tôi”. Nghe đến chữ “biết”, tất cả chúng ta nghĩ ngay đến cái biết do trí khôn, không chỉ có thế, mà “biết” ở đây đang là cái biết do chính nhân loại và cuộc sống của người mình biết. Ví dụ bác sỹ biết người bệnh khác với cái biết của người mẹ về người con đang đau ốm. Này là cái biết của lòng thương xót, của trái tim người mẹ rung cảm vì vậy sẵn sàng thức khuya dậy sớm, chịu đựng bao khó khăn để chăm sóc mong con mau lành bệnh. Vì vậy, cái biết của Chúa Giêsu không chỉ biết do tri thức mà cả tấm lòng và cả một tình yêu thương xót cao vời vì chưng ngày hôm nay Ngài nhất định: “Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi. Cha tôi, Đấng đã ban chúng cho tôi, thì lớn hơn tất cả, và không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha. Tôi và Chúa Cha là một”.

Thực vậy, Chúa Giêsu không chỉ biết mà còn thông cảm với mọi hoàn cảnh của ta. Ta buồn vì bị người yêu phụ bạc ư? Chúa Giêsu cũng từng biết thế nào là nỗi đau của người bị phản bội. Ta cay đắng với kiếp nghèo đeo đẳng ư? Chúa Giêsu cũng từng sinh ra không nhà không cửa, sống ngoài đường và chết trần truồng trên thập giá không có chỗ chôn. Ta vô vọng vì cuộc sống bệnh tật thống khổ không lối thoát ư? Chúa Giêsu đã trải qua những giờ phút đen tối và thống khổ thân xác tột cùng của kiếp người trong vườn Giếtsimani, trong đêm bị tóm gọn đánh đòn, vác thập giá và đóng đinh giang tay trên thập giá. Ta cô quạnh vì bị mọi người kị thị xa lánh vì nghèo, bệnh tật ư? Chúa Giêsu cũng từng bị mọi người chối bỏ, và Người cảm thấy như Đức Chúa Cha cũng từ bỏ Người. Ta bị sỉ nhục mất hết uy tín ư? Chúa Giêsu đã bị nhục nhã và mất hết uy tín khi phải chết như kẻ có tội. Tóm lại, Chúa Giêsu là mục tử tốt lành, hiểu biết mọi ngõ ngách u ẩn trong đáy lòng người, mọi nỗi khổ đau của kiếp nhân sinh nên Ngài hằng thương xót chăm sóc và an ủi từng người tất cả chúng ta trong mọi hoàn cảnh, vì Ngài quyết đoán rằng: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11,28).

Ngày hôm nay Hội Thánh nguyện cầu cho ơn thiên triệu làm mục tử, mà mục tử cho Chúa không chỉ là Giám mục, Linh mục, tu sĩ mà toàn bộ mọi người tất cả chúng ta. Mục tử đó đang là: cha mẹ, thầy cô, anh chị trong tình liên đới với Chúa, Giáo hội và nhân loại. Vì chưng, Sách giáo Lý Hội Thánh dạy rằng: “Ơn gọi của nhân loại là biểu lộ hình ảnh của Thiên Chúa và được biến đổi thành hình ảnh Con Một của Chúa Cha. Ơn gọi này mang một hình thức cá vị, bởi vì mỗi người đều kêu gọi tiến vào vinh phúc thần linh; ơn gọi này cũng liên quan đến tổng thể cộng đồng nhân loại” (số 1877).

Do vậy, ơn gọi mục tử trong mỗi bậc sống là hồng ân Chúa ban mà mình phải sống và gắn bó suốt đời để “sống với Chúa, và để Ngài sai đi” (Mc 3, 14). Sống với Chúa, là lắng nghe tiếng Ngài trong từng hoàn cảnh, biến cố của sống, để nên một với Ngài trong gian truân và hạnh phúc. Để Ngài sai đi và sẵn sàng đi theo đoạn đường Ngài đã đi, thực thi sứ mệnh Ngài trao bỏ mặc những gì xảy ra vì Thiên Chúa thương xót nhân loại, Ngài muốn toàn bộ được cứu độ (1Tm 2, 4), và qua Chúa Giêsu, Thiên Chúa ban sự sống đời đời cho toàn bộ mọi người. Sự sống đời đời khởi đầu ngay ở đời này. Nếu nhân loại sống theo tiếng Chúa, Lời Chúa và giáo huấn của Giáo Hội, theo lương tâm, người ấy đúng là mục tử đích thực. Do vậy, Chúa mời gọi toàn bộ làm mục tử cho Chúa chứ không phải chỉ là những người đi tu tận hiến cho Chúa hay những người lành lặn, mạnh khỏe bình thường, còn người bệnh, kẻ khuyết tật thì miễn trừ. Vì chưng, khi chịu Phép Rửa Tội, Chúa trao cho mỗi người tất cả chúng ta sứ mệnh mục tử này là: ngôn sứ, tư tế và vương đế. Ngôn sứ là người nói Lời của Chúa, tư tế chẳng phải là người tế lễ cho Chúa đó sao và vương đế là mục tử của lòng thương xót, là biết thương xót như Chúa Giêsu là Vua thương xót biết từng người trong nhân loại và không để ai phải hư mất.

Tin mừng ngày hôm nay mời gọi toàn bộ mọi người chia sẻ tính năng mục tử của Chúa Giêsu. Để là mục tử tốt, chúng mình phải sống đúng Lời Chúa, sống đúng cung cách yêu thương, phục vụ của Chúa và thương xót mọi con chiên như Chúa thương xót tất cả chúng ta, như vậy tất cả chúng ta mới thực sự đang thi hành lệnh truyền Chúa đã tin tưởng ủy thác cho tất cả chúng ta trong bài đọc 1 rằng: “Ta sẽ đặt ngươi làm ánh sáng cho muôn dân, để ngươi đem ơn cứu độ đến tật cùng cõi đất” (Cv 13,47). Vậy, nếu mục tử là người lãnh đạo thì phải khiêm tốn phục vụ như Chúa, “Thầy là Chúa là Thầy mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em” (Ga 13,12-15). Mục tử là cha mẹ thì “đừng làm cho con cái tức giận, nhưng hãy giáo dục chúng thay mặt Chúa bằng cách khuyên răn và sửa dạy” (Ep 6,4). Là con cháu thì “hãy vâng lời cha mẹ theo tinh thần của Chúa, vì đó là điều phải đạo. Hãy tôn kính cha mẹ. Đó là điều răn thứ nhất có kèm theo lời hứa: để ngươi được hạnh phúc và hưởng thọ trên mặt đất này” (Ep 6,1-2). Và cuối cùng là mụt tử với nhau trong cuộc sống thì tất cả chúng ta hãy ăn ở thật khiêm tốn, hiền từ và nhẫn nại; hãy lấy tình nhân ái mà chịu đựng lẫn nhau. Tất cả chúng ta hãy thiết tha duy trì sự hiệp nhất mà Thần Khí mang lại, bằng cách ăn ở thuận hoà gắn bó với nhau (Ep 4,2-3).

Ước gì qua Lời Chúa ngày hôm nay, xin cho con biết Chúa, xin cho mỗi người tất cả chúng ta biết lắng nghe Lời Chúa và để cho Lời Chúa thấm sâu vào lòng và quyết tâm sống và noi theo gương mục tử của Chúa trong mọi hoàn cảnh sống thường ngày của đời sống là: sống quảng đại. Biết phụng sự Chúa cho xứng đáng. Biết cho đi mà không cần tính toán. Biết tranh đấu mà không sợ thương tích. Biết tha thứ, thương xót và phục vụ mọi người không mong đợi một phần thưởng nào khác, ngoài việc biết làm rạng danh Thiên Chúa và mưu ích cho anh chị em. Allêluia.

 

5.      Chúa Chiên Lành

Quan đoạn Tin Mừng ngày hôm nay, Chúa Giêsu cho tất cả chúng ta thấy đặc tính của người mục tử tốt lành là biết các con chiên của mình. Và theo ngôn từ của Kinh Thánh, biết đồng nghĩa với yêu. Khi thực sự yêu thì người mục tử sống trọn một đặc tính khác cũng được Chúa Giêsu nêu lên, này là hiến mạng sống mình cho đoàn chiên.

Trải qua dòng thời gian, có biết bao nhiêu người đã quảng đại đền đáp tiếng gọi của Chúa là làm cho hình ảnh và sứ mệnh của người mục tử tốt lành được thực hiện qua chính cuộc sống dấn thân và phục vụ của họ.

Chẳng hạm một Vianney với thân hình còm cõi, đã dành trọn thời giờ để giao hoà các tội nhân với Chúa nơi toà giải tội. Một Maximilien Kolbe đã tự nguyện chết thay cho một bạn tù trong trại tập trung của Đức quốc xã thời đệ nhị thế chiến. Một cha Phêrô, người sáng lập ra cộng đoàn Emmau, nhằm hoạt động lặng thầm nhưng hữu hiệu để xoa dịu những vết thương đớn đau của những kẻ nghèo túng.

Ngày nay tại một vài giáo phận miền Bắc, chỉ còn vài ba linh mục già nua. Vì tình trạng thiếu hụt linh mục trầm trọng, các ngài chưa thể và chưa đành đi nghỉ hưu. Và vì không còn đủ sức để đi đứng, nên phải nằm trên cáng cho giáo dân khiêng đi cử hành các bí tích và dâng thánh lễ từ làng này sang làng kia, cách nhau mấy chục cây số.

Ở mọi nơi và trong mọi lúc vẫn có hàng ngàn những mẫu gương của biết bao nhiêu người đã dâng hiến toàn thân để sống cho lý tưởng hiến mạng sống mình vì đoàn chiên. Cũng chính vì thế trong thánh lễ ngày hôm nay, Giáo Hội kêu mời tất cả chúng ta hãy dâng lên Thiên Chúa những lời nguyện cầu tha thiết cùng với những hy sinh hãm mình để xin Thiên Chúa ban thêm sức mạnh cho các linh mục và tu sĩ, để họ trở thành những vị mục tử tốt lành theo mẫu gương của Đức Kitô.

Đồng thời tất cả chúng ta cũng được mời gọi nguyện cầu để nhiều thanh niên nam nữ quảng đại đền đáp lời Chúa mời gọi để bước vào cuộc sống dâng hiến. Và riêng mỗi người tất cả chúng ta hãy lắng nghe lời Chúa và bước theo Người, bằng cách thực thi những điều Người truyền dạy, để nhờ đó, tất cả chúng ta xứng đáng là những con chiên bước đi dưới sự dẫn dắt của vị mục tử tốt lành là chính Đức Kitô.

 

6.      Chúa Chiên Lành.

Vào năm 1943, xảy ra vụ năm người lính Đức bị phục kích và bị sát hại gần tp Chani, miền bắc nước Ý. Và thế là viên lãnh đạo Đức Quốc Xã liền sai khiến bắt 50 người thế giá nhất của tp lấy đi xử bắn để dạy cho dân thành một bài học.

Đức Cha chánh và Đức Cha phó đã nỗ lực can thiệp nhưng không hiệu quả gì. Toàn bộ 50 người đều bị trói, bị bịt mắt và xếp thành hàng dài. Thế rồi giây phút đen tối nhất đã tới. Tiếng còi hụ vang lên báo hiệu nhắm súng. Đức Cha chánh xin viên lãnh đạo một đặc ân cuối cùng là được ôm hôn từng người sắp bị hành quyết. Ngài tìm thời cơ cho các nạn nhân được xưng tội để giao hoà với Chúa. May mắn thay, lời thỉnh cầu này được chấp thuận.

Nhưng cũng thật lạ lùng, bởi vì sau đó hai vị giám mục đã không trở về chỗ cũ, trái lại các ngài đã đứng vào hàng ngũ những người bị xử bắn. Đức Cha chánh đã lên tiếng nói với viên lãnh đạo: Không phải chỉ có 50 người, nhưng toàn bộ là 52 người chúng tôi. Ông còn quyết định bắn chúng tôi, thì xin hãy sai khiến. Xin Thiên Chúa tha thứ cho ông.

Vừa dứt lời, bỗng từ bầu khí nặng nề của chết chóc vang lên tiếng reo hò, bởi vì các khẩu súng đang nhắm bắn đều hạ xuống. Thế là cả chủ chăn lẫn đoàn chiên đều thoát khỏi những viên đạn của tự thần. Hôm đó từ pháp trường ra về, mục tử cũng như đoàn chiên đều sung sướng hát lời thánh vịnh: Khi Chúa dẫn từ nhân Sion trở về, ta tưởng như giấc mơ…

Hình ảnh hai vị giám mục đứng giữa những người bị xử bắn làm cho tất cả chúng ta nhớ tới Đức Kitô, vị mục tử nhân lành của tất cả chúng ta. Thực vậy, Ngài là Đấng thánh thiện và quyền năng, Ngài đã xuống thế làm người để trở thành một Emmanuel, nghĩa là một Thiên Chúa ở cùng tất cả chúng ta. Hơn htế nữa, Ngài còn đồng hoá mình với tất cả chúng ta, là những kẻ tội lỗi. Không những thế, Ngài còn hy sinh mạng sống mình để cứu chuộc tất cả chúng ta khỏi án phạt của tội lỗi, như lời thánh Phaolô viết: Chúa đã yêu thương tôi và đã nộp mình chịu chết vì tôi. Ta là mục tử tốt lành. Mục tử tốt lành hiến mạng sống mình vì đoàn chiên. Còn tất cả chúng ta thì sao?

Là những con chiên trong đoàn chiên của Chúa, tất cả chúng ta cần phải lắng nghe và bước theo sự dẫn dắt của vị mục tử như lời Ngài đã phán: Chiên Ta thì nghe tiếng Ta, Ta biết chúng và chúng theo Ta.

Hãy thực thi những điều Chúa truyền dạy, để nhờ đó tất cả chúng ta thực sự là những con chiên trong đoàn chiên của vị mục tử nhân lành là chính Đức Kitô.

 

7.      Mục tử.

Toàn cầu ngày nay không ngừng thay đổi, làm cho tất cả chúng ta, những người già, hình như choáng váng, không theo nổi. Tất cả chúng ta thương tiếc cho một quá khứ vàng son, ở đó trật tự và tương lai được đảm bảo.

Thế nhưng, thương tiếc mà làm chi, vì cái quá khứ đâu còn tiếp. Không có gì là kiên cố vì cuộc sống không ngừng đổi thay. Cái ngày hôm nay tồn tại, thì ngay mãi sẽ bị thay thế, từ những kiểu thời trang cho đến những hiệp ước, từ những loại xe cộ cho đến những thữ vữ khí, từ những lập trường cho đến những phương thuốc trị liệu… Toàn cầu như quay cuồng, đầy những phân rẽ và bất đồng trong dư luận, trong đảng phái, cũng như trong chính tâm hồn mình.

Nhân loại như nghiêng ngả, ngả bên này, nghiêng bên kia. Nghe truyền thanh, xem truyền hình, đọc tạp chí, tất cả chúng ta cảm thấy như người đang nói với tất cả chúng ta là có lý. Nhưng cái có lý ấy chẳng kéo dài được bao lâu, bởi vì khi kẻ đối lập với ông ta lên tiếng, tất cả chúng ta lại cảm thấy phần có lý ấy lại chuyển sang phe đối lập. Vì vậy, tất cả chúng ta khó có thể tìm thấy đạo lý, khó có thể nhận thấy sự thật.

Giữa những cái trái ngược nhau như vậy, lời Chúa ngày hôm nay vang lên, như muốn xác nhận cho tất cả chúng ta một lập trường dứt khoát và chắc cú: Ta là mục tử nhân lành. Lời xác quyết này thắp lên trong tất cả chúng ta một tia sáng trông mong, đồng thời tỏ cho tất cả chúng ta thấy một khía cạnh mới về Thiên Chúa.

Ta biết các chiên Ta. Phải, Ngài biết tất cả chúng ta không như viên kỹ sư biết một chiếc máy. Ngài biết tất cả chúng ta không như thầy giáo viên biết những người học trò. Trái lại, Ngài biết tất cả chúng ta như một người bạn biết một người bạn, và sẵn sàng hy sinh cho nhau: Ta hiến mạng sống mình đàn chiên.

Hình ảnh người mục tử nhân lành phải là hình ảnh của một người chủ chăn luôn canh phòng chuồng chiên, để đoàn chiên được an toàn. Người mục tử ấy luôn sống giữa bày chiên và luôn chăm sóc đến các con chiên, sẵn sàng tranh đấu chống lại sói dữ, không quản ngại vất vả, để lên đường tìm kiếm những con chiên lạc.

Trái tim của nhân loại thời nay hình như đã trở nên chai đá và băng giá. Họ ít lưu tâm đến những người xung quanh. Trong vũ trụ bát ngát này, nhân loại chỉ là một số không. Chẳng ai thăm hỏi đến tất cả chúng ta và khi tất cả chúng ta lên tiêng nói, thì cũng chẳng ai buồn nghe. Chỉ mình Đức Ki tô, vị mục tử nhân lành, luôn tồn tại giữa những đổi thay. Ngài biết tất cả chúng ta và hằng chăm sóc cho tất cả chúng ta.

Vào những thế kỷ đầu, Giáo Hội đã trải qua những năm tháng dài bị tóm gọn bớ và cấm cách. Các tín hữu luôn bị đe doạ và gặp phải muôn vàn khó khăn, thế nhưng dưới những hang toại đạo, hình ảnh được vẽ nhiều nhất trên những hàng rào, này là hình ảnh người mục tử nhân lành. Chính hình ảnh này đã mang lại cho họ niềm ai ủi và khích lệ.

Nhân loại thời nay đặt niềm tin tưởng của mình vào những bài diễn văn của các chính khách, nhưng rồi đến một lúc nào đó, họ nhận thấy những trò bịp bợm trong lãnh vực chính trị và những mánh khoé trong phạm vi tuyên truyền, để mà bóp méo sự thật. Bấy giờ, họ cay đắng cảm thấy mình bị lừa gạt.

Còn tất cả chúng ta thì khác. Tất cả chúng ta đã đặt trót niềm tin tưởng vào Chúa Giêsu. Ngài là Đấng trung thành, không phải chỉ nói suông, không phải chỉ hứa cuội, mà Ngài còn thực hiện, còn hành động. Vì vậy, trải qua hơn hai ngàn năm, hình ảnh người mục tử nhân lành vẫn đang là một hình ảnh sống động và thời sự, bời vì Ngài đã mang lấy tội lỗi của tất cả chúng ta và đã chết thay cho tất cả chúng ta trên thập giá.

Hãy tin tưởng và yêu mến Chúa Giêsu, vị mục tử nhân lành, để rồi bản thân và cuộc sống tất cả chúng ta sẽ được bình an dưới sự dẫn dắt và chăm sóc của Ngài.

 

8.      Suy niệm của Lm. Carôlô Hồ Bặc Xái

Chủ Ðề: Mục tử nhân lành

  1. Dẫn vào Thánh lễ

Anh chị em thân mến

Lời Chúa ngày hôm nay trình bày Chúa Giêsu là người mục tử tốt lành: Ngài biết rõ từng người tất cả chúng ta, Ngài thí mạng sống vì tất cả chúng ta, và Ngài dẫn tất cả chúng ta tới sự sống thật. Trong Thánh lễ này, tất cả chúng ta hãy xin Chúa giúp tất cả chúng ta trở thành chiên của Ngài, không phải những con chiên ngang bướng mà là những con chiên biết chủ mình là ai, biết tiếng chủ và ngoan ngoãn bước theo sự dẫn dắt của chủ.

  1. Gợi ý sám hối

Chúa Giêsu muốn dẫn tất cả chúng ta tới sự sống thật, còn tất cả chúng ta nhiều khi từ chối không nghe theo sự hướng dẫn của Ngài.

Chúa Giêsu biết rất rõ từng người tất cả chúng ta và yêu thương tất cả chúng ta vô cùng, vậy mà lắm khi tất cả chúng ta hồ nghi tình thương của Chúa.

Chúa Giêsu đã chịu biết bao thống khổ vì tất cả chúng ta, còn tất cả chúng ta nhiều khi gặp thống khổ thì nản lòng như kẻ không có đức tin.

III. Lời Chúa

  1. Bài đọc Ι (Cv 13,14.43-52)

Việc truyền giáo của Phaolô và Barnaba tại Antiôkhia miền Pixiđia:

– Theo thói quen, Phaolô rao giảng Tin Mừng cho người Do Thái trước tiên.

– Nhưng vì họ từ chối, nên Phaolô quay sang rao giảng cho dân ngoại.

– Dân ngoại đã hân hoan đón nhận Tin Mừng và tôn vinh Thiên Chúa.

  1. Đáp ca (Tv 99)

Câu trọng yếu nhất trong Tv này, và cũng là câu được dùng làp câu đáp, là: “Chúng ta là dân Chúa, là đoàn chiên Người dẫn dắt”.

  1. Tin Mừng (Ga 10,27-30)

Chúa Giêsu mặc khải thêm một khía cạnh của mầu nhiệm bản thân Ngài: Ngài là mục tử: “Chiên tôi thì nghe tiếng tôi. Tôi biết chúng và chúng theo tôi. Tôi cho chúng được sự sống đời đời, chúng sẽ không bao giờ hư mất”

  1. Bài đọc II (Kh 7,9.14-17)

Thị kiến của Gioan tông đồ về dân thánh Chúa:

– Họ rất đông không tài nào đếm nổi, thuộc mọi dân tộc và mọi từ ngữ

– Họ đứng trước ngai Con Chiên

– Con Chiên sẽ dẫn mang họ tới nguồn nước trường sinh.

  1. Gợi ý giảng

* 1. Đồng cỏ xanh, dòng suối mát (Ga 10,27-30)

Dương Ân Điển là đứa trẻ bị bỏ rơi, người ta nhặt được nó ở một quầy bán thịt, trong cái chợ nghèo vùng núi miền Nam đảo Đài Loan. Mẩu truyện thương tâm này xảy ra năm 1974, ấy là lúc vừa lọt lòng, em đã không có hai cánh tay, chân phải thẳng đơ không thể co duỗi.

Vậy mà, 25 năm sau, đứa bé tàn tật xấu số ấy đã trở thành nhà danh họa tài ba, chuyên vẽ tranh bằng chân và miệng. Cô đã tổ chức nhiều cuộc triển lãm ở Mỹ vàø Nhật, và là thành viên của Hiệp Hội quốc tế những người vẽ tranh bằng chân và miệng.

Cuộc sống cô thay đổi nhanh chóng như vậy, thành công rực rỡ như vậy, cũng là nhờ mục sư Dương Húc và vợ ông là Lâm Phương Anh nhận nuôi. Nhất là ông Tưởng Kinh Quốc đã cho cô đi phẫu thuật chỉnh hình xương cột sống, nắn chân phải, sửa đường làm cầu cho cô đơn giản đi tới trường. Ông đã nói với cô: “Cháu không có tay, nhưng còn chân, và có thể làm được rất nhiều việc”. Chính tình thương, sự chăm sóc, và lời khuyến khích của ông Tưởng Kinh Quốc đã thay đổi số phận của một nhân loại.

“Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi, tôi biết chúng và chúng theo tôi” (Ga 10,27). Thiên Chúa là chủ chiên nhân lành, Người yêu thương mỗi người tất cả chúng ta bằng một tình yêu cá biệt, cho dù tất cả chúng ta có què quặt đui mù, có xấu xa đốn mạt đến đâu, mỗi người tất cả chúng ta đều có chỗ đứng độc nhất vô nhị trong tình yêu bao bọc của Chúa; mỗi người tất cả chúng ta đều có vị trí đặc biệt trong trát tim yêu thương của Người. Tấm lòng quảng đại yêu thương của ông Tưởng Kinh Quốc giành riêng cho cô bé tàn tật Dương Ân Điển chỉ là hình bóng tình yêu thương vô bờ của Thiên Chúa so với tất cả chúng ta, những con chiên của Người.

Vâng, chiên của Chúa thì nghe Chúa, biết Chúa và theo Chúa.

– Nghe Chúa chính là lắng nghe Lời Chúa qua Kinh thánh, nơi giáo huấn của Giáo hội, và những ơn soi sáng trong tâm hồn mình. Nghe Chúa chính là để có một mối tương giao thân tình với Người, và nhất là để tin vào Người. Thánh Phao lô viết: “Có đức tin là nhờ nghe giảng, mà nghe giảng là nghe công bố lời Đức Kitô” (Rm 10,17).

– Biết Chúa không chỉ là học hỏi và suy niệm theo nghĩa tri thức, mà chính là hiểu biết sâu xa, yêu mến thân tình, đến nỗi phối hợp cả thân xác lẫn tâm hồn. Chính tình yêu mới làm cho tất cả chúng ta nhận ra Chúa một cách đích thực đến nỗi đoán biết cả thánh ý Người.

– Theo Chúa chính là một thái độ hoàn toàn tự do, tự nguyện dấn thân, và trao phó thân phận cho duy một mình Người. Theo Chúa cũng chính là từ bỏ, từ bỏ nhân loại cũ, nếp sống cũ, đường lối cũ. Các môn đệ đã bỏ mọi sự, Mađalêna đã bỏ đường tội lỗi, Augúttinô đã bỏ đời trụy lạc, để đi theo Người.

Nghe Chúa, Biết Chúa và Theo Chúa để được những gì? Đức Ki tô đã trả lời: “Tôi ban cho chúng sự sống đời đời, không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi” (Ga 10,28). Đoàn chiên đi theo chủ chiên nhân lành thì đồng cỏ xanh với dòng suối mát chắc cú phải là đích đến của chúng, vì chủ chiên Giêsu chính là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống. Người không những ban cho tất cả chúng ta sự sống đời đời mà còn đảm bảo sự sống ấy chắc cú không thể mất được.

Không chỉ Chúa Con mà cả Chúa Cha cũng gìn giữ, bảo vệ tất cả chúng ta trong bàn tay yêu thương của Người: “Cha tôi, Đấng đã ban chúng cho tôi, thì lớn hơn tất cả, và không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha” (Ga 10,29). Chúa Cha đã trao ban đoàn chiên cho Chúa Con như quà tặng quí giá nhất, nên Chúa Con cũng gìn giữ và yêu mến đoàn chiên như Chúa Cha đã yêu mến và gìn giữ vậy. Như vậy, tất cả chúng ta được bảo vệ an toàn tuyệt đối trong cả hai bàn tay, của cả cha lẫn mẹ, còn hình ảnh nào đẹp không chỉ vậy!

***

Lạy Chúa, xin cho chúng con trở nên nhỏ xíu đơn sơ để chúng con được nằm gọn trong bàn tay yêu thương của Chúa.

Giữa một toàn cầu ồn ào vì tranh giành quyền lực, của cải, xin cho chúng con lắng nghe được tiếng Chúa.

Giữa một toàn cầu chỉ biết tôn thờ vật chất, xin cho chúng con hiểu biết Chúa thật sâu xa để yêu mến Người thiết tha.

Giữa một toàn cầu chỉ biết đuổi theo danh lợi thú, xin cho chúng con luôn đi theo Chúa là chủ chiên nhân lành của cuộc sống chúng con mà thôi. Amen. (Thiên Phúc)

* 2. Ngày nguyện cầu cho ơn gọi linh mục

Trong một quyển chuyện đề tựa “Quyền lực và vinh quang”, nhà văn Graham Greene kể lại mẩu chuyện sau đây xảy ra tại một nước ở Nam Mỹ: Khi ấy một chính phủ ghét đạo lên nắm quyền và sai khiến trục xuất toàn bộ các linh mục ra khỏi nước. Linh mục nào còn lén lút ở lại hoạt động thì bị tóm gọn đem xử tử. Đa số các linh mục đã phải tuân lệnh ra khỏi nước, một số nhỏ dũng cảm ở lại thì cũng bị xử. Nhưng không ai ngờ là vẫn còn sót lại một linh mục. Ông này ở lại được vì không ai thèm để ý tới ông, bởi vì ông là một linh mục tội lỗi bê bối đã hồi tục. Ông không coi sóc họ đạo nào cả, cũng không lưu ý tới sự thiếu thốn của các con chiên. Hằng ngày ông lang thang đây đó để kiếm tiền và nhậu nhẹt. Về phần giáo dân, trước đó họ vẫn khinh rẻ ông, nhưng trong lúc thiếu linh mục thì họ lại cần tới ông. Người ta xin ông rửa tội, giải tội, dâng thánh lễ và xức dầu. Ông cũng sẵn sàng nhận với một điều kiện là phải có tiền: rửa tội một em bé là mấy đồng, giải tội một người là mấy đồng, xức dầu một người là mấy đồng, mỗi người dự lễ là mấy đồng… toàn bộ đều có giá hẳn hoi. Tất nhiên, như ai trong tất cả chúng ta cũng biết, ông càng làm các bí tích thì càng thêm tội bởi vì ông đang sống trong tình trạng tội lỗi. Nhưng ai ngờ nhân loại tội lỗi ấy lại là phương tiện Chúa dùng để nuôi dưỡng đàn chiên Chúa trong lúc gian truân. Nhờ còn tồn tại ông mà giáo dân còn tiếp tục lãnh thu được các bí tích và duy trì được đức tin của mình. Thế rồi dần dần nhà cầm quyền khởi đầu để ý đến tới những hoạt động của ông và sai khiến truy nã ông. Ông cũng sợ bị xử tử nên lén vượt biên giới trốn sang xứ khác. Nhưng đang lúc ông sắp qua biên giới thì người ta đuổi theo năn nỉ ông trở lại để giúp cho một người hấp hối. Không nỡ để một người chết không có bí tích nên ông linh mục này đã trở lại, và đã bị tóm gọn, rồi bị đem ra pháp trường. Trước lúc bị bắn, ông đã ăn năn xin Chúa thứ tha hết mọi tội lỗi của ông và dâng linh hồn trong tay Chúa, rồi bình thản ngước đầu chờ đợi. Và ông đã trông thấy có một người lẫn trong đông người đang mang tay ban phép giải tội cho ông, này là một linh mục khác vừa trốn về để tiếp tục công việc của ông, công việc của một chủ chăn so với đàn chiên đang đói khát.

Mẩu truyện cảm động trên cho tất cả chúng ta thấy hai điều:

Thứ nhất: linh mục rất cần cho đời sống đạo của giáo dân. Tất nhiên tín đồ của tôn giáo nào cũng nên vị lãnh đạo trí não của mình, nhưng người thiên chúa giáo còn cần tới linh mục gấp nhiều lần. Có thể nói, cả cuộc sống người thiên chúa giáo được bàn tay linh mục dẫn dắt nuôi dưỡng: Khi ta vừa mới sinh ra, bàn tay ấy đã đổ nước rửa tội cho ta; lớn lên bàn tay ấy mang Mình Thánh Chúa cho ta rước lễ; khi ta sa ngã phạm tội, bàn tay ấy giơ lên thay quyền Chúa mà tha tội cho ta; khi ta lập gia đình, bàn tay ấy lại giơ lên chúc lành cho cuộc thành thân của ta; và trước lúc ta nhắm mắt lìa đời, cũng bàn tay ấy xức dầu thánh chuẩn bị cho cuộc hành trình của ta về nhà Chúa. Nếu thiếu bàn tay ấy thì ta sẽ ra sao? Những người giáo dân trong mẩu chuyện trên mặc dù khinh nhờn vị linh mục tội lỗi nọ nhưng họ vẫn phải cần tới ông, vẫn van xin năn nỉ ông, bởi vì trong lúc gian truân thiếu thôn ấy, chỉ có ông là có thể ban các bí tích cho họ.

Thứ hai: Linh mục là phương tiện cứu rỗi của Chúa. Tất cả chúng ta đã thấy ông linh mục trong chuyện trên đã mang ơn Chúa đến cho giáo dân nhiều như vậy nào. Mặc dù ông tội lỗi, bất xứng nhưng các bí tích ông cử hành vẫn thành sự. Ông đọc ” Này là Mình Ta” thì Chúa vẫn ngự vào chiếc bánh trắng; ông nói “Ta tha tội cho con” thì Chúa vẫn ban ơn tẩy sạch mọi tội lỗi trong tâm hồn người xưng tội. Linh mục thực là phương tiện Chúa dùng để ban ơn cho giáo dân..

Ngày hôm nay là ngày Giáo hội nguyện cầu cho ơn mời chào linh mục. Không cần nói thêm chi nhiều, tất cả chúng ta chắc cũng ý thức nhu cầu linh mục cấp bách đến thế nào cho Giáo Hội tất cả chúng ta: tất cả chúng ta đang thiếu linh mục. Rất nhiều họ đạo không có linh mục. Ngày xưa Chúa Giêsu đã chỉ cho các môn đệ thấy những đồng lúa chín vàng và bảo “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít. Chúng con hãy cầu nguyện xin chủ ruộng cho thêm thợ gặt đến đồng lúa của Ngài”. Chúa biết nhu cầu của tất cả chúng ta, nhưng Chúa muốn tất cả chúng ta phải cầu xin thì Chúa mới ban ơn. Xin gì?

Xin cho có nhiều thiếu niên, thanh niên quảng đại dâng mình cho Chúa để phục vụ các linh hồn.

Xin cho những người đang theo tiếng gọi của Chúa ngày hôm nay, tức là các chủng sinh, các em dự tư, được bền tâm vững chí. Dù hoàn cảnh có nhiều khó khăn, nhưng Chúa đã nói “Ai bền đỗ tới cùng thì sẽ được rỗi”.

Xin cho các linh mục của tất cả chúng ta được xứng đáng là những phương tiện tốt Chúa dùng để ban ơn cho giáo dân, nghĩa là xin cho các ngài được thánh thiện và bình an chăm sóc việc đạo đức cho giáo dân.

* 3. Bài giảng của Thánh Cyrillô thành Alexandria (+ 444)

Dấu hiệu phân biệt ai là con chiên của Đức Kitô, ấy là thái độ sẵn sàng lắng nghe và vâng phục, trong lúc dấu hiệu cho biết những con chiên lạ là sự cứng đầu.

“Lắng nghe” là chấp thuận điều được nói. Những người “lắng nghe” như vậy thì “được Thiên Chúa biết”, nghĩa là kết phù hợp với Thiên Chúa.

Thực ra chẳng ai mà Thiên Chúa không biết. Vì vậy khi Đức Kitô nói “Ta biết các chiên Ta” thì có nghĩa là “Ta sẽ đón nhận chúng và cho chúng kết hợp với Ta bằng một sự hợp nhất huyền nhiệm và trường tồn”.

Đức Kitô còn nói: “Các chiên của Ta thì đi theo Ta”. Thực vậy, nhờ ơn thánh, các tín hữu đi theo những bước chân của Đức Kitô. Họ không tuân giữ những quy định của Lề luật, vì thực ra đó chỉ là hình bóng. Đúng ra là họ đi theo những giới răn của Đức Kitô và nhờ đó vươn mình lên tới tầm cao của ơn gọi làm con Thiên Chúa. Khi Đức Kitô lên trời, họ cũng được lên theo.

“Ta ban cho chúng sự sống đời đời”: đừng hiểu sự sống này chỉ là chuỗi ngày tiếp nối nhau mà tất cả chúng ta dù là người tốt hay xấu cũng đều sở hữu sau thời điểm sống lại, nhưng phải hiểu đây là sống trong niềm vui. Ta cũng có thể hiểu “sự sống” này theo nghĩa bí tích Thánh Thể. Nhờ Bí tích Thánh Thể, Đức Kitô tháp nhập tất cả chúng ta vào chính sự sống của Ngài, các tín hữu được thông phần vào đúng đắn thịt Ngài, như lời Ngài nói: “Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì sẽ có sự sống đời đời” (Ga 6,54)

* 4. Thuộc về đàn chiên của Chúa

Cảm nhận được thuộc về Chúa Giêsu, được Ngài biết và yêu thương, này là một cảm nhận vô cùng an ủi. Ai mà không muốn thuộc về đàn chiên của Chúa! Thế nhưng thế nào là thuộc về đàn chiên Chúa? Muốn thuộc về đàn chiên Chúa thì phải làm sao?

Thứ nhất là phải tin vào Ngài: tất cả chúng ta tham gia đoàn chiên Chúa và trở thành tín hữu, nghĩa là người tin.

Nhưng tin chỉ mới là bước thứ nhất. Bước thứ hai là phải nghe tiếng Ngài: “Chiên của Ta thì nghe tiếng Ta”. Nghe tiếng Chúa Giêsu nghĩa là để mắt đến những lời Ngài dạy dỗ.

Thứ ba là đi theo Ngài: “Chiên của Ta đi theo Ta”. Theo Chúa là thực hành lời Ngài dạy.

Liên hệ giữa tất cả chúng ta với Chúa phải là hai chiều. Con chiên phải chọn thuộc về Chúa. Chúa Giêsu không muốn và cũng không thể cứu ta ngược với ý muốn của ta. Nhưng chỉ cần ta thực lòng muốn và nỗ lực thuộc về Ngài thì Ngài sẽ chăm sóc ta trong cuộc sống và trong chết chóc nữa. Ngài hứa ban cho ta sự sống đời đời: “Ta ban cho chúng sự sống đời đời, không bao giờ chúng phải diệt vong”.

Nhưng như vậy không có nghĩa là hễ thuộc về Chúa thì sẽ được Ngài đảm bảo cho có một cuộc sống thoải mái ở đời này đâu. Trái lại là đàng khác. Những kẻ thuộc về Chúa có thể bị bách hại, nhưng ai vẫn trung thành thì sẽ được chia phần vinh quang của Ngài trên trời (bài đọc 2). Gian truân và thử thách là những thời cơ để ta chứng tỏ đức tin và lòng vâng phục Chúa.

Đàn chiên là hình ảnh của nếp sống cộng đoàn. Ngay cả trên bình diện nhân loại thôi thì ai cũng phải có cộng đoàn. Này là nguyên nhân vì sao Chúa muốn những kẻ theo Ngài phải sống trong cộng đoàn. Trong cộng đoàn, tất cả chúng ta tìm được sự nâng đỡ, khuyến khích và tình thân. Tất cả chúng ta không thể thuộc về Chúa Giêsu mà không thuộc về đoàn chiên của Ngài. (FM)

* 5. “Ta biết chiên của Ta”

Khoảng giữa thế kỷ 19, Thánh Gioan Bosco khởi đầu hoạt động phục vụ những người trẻ nghèo nàn ở tp Turinô nước Ý. Họ đã sớm nhận thấy ngài thực sự là một người bạn của họ. Họ yêu quý ngài đến nỗi khi ngài lâm trọng bệnh thì họ tha thiết nguyện cầu tưởng như muốn xé rách khung trời, có người còn xin Chúa cho mình chết thay ngài. Nhờ những lời nguyện cầu ấy, Thánh Gioan Boscô đã khoẻ lại. Tình cảm trìu mến ấy không thể có được nếu Gioan Bosco và đám trẻ ấy đã không thân thiện nhau, biết nhau và yêu thương nhau.

Trong bài Tin Mừng ngày hôm nay Chúa Giêsu nói “Ta biết chiên của Ta”. Ngài biết chiên Ngài bởi vì Ngài là mục tử tốt lành. Có nhiều mức độ biết: có khi chỉ là biết mặt, biết tên; có khi biết như một người quen; có khi biết như một người bạn tri kỷ thiết.

Không biết người ta là một điều rất buồn thảm. Nhà văn Do Thái Elia Wiesel rất thương cha mình, nhưng người cha ấy đã chết trong trại tù Auschwitz năm 1944. Trong quyển tự thuật, nhà văn ấy tâm sự: “Tôi chưa bao giờ thực sự biết cha tôi. Thực đau lòng mà phải thú nhận như vậy. Tôi đã biết quá ít về người mà tôi yêu quý nhất đời ấy, người mà chỉ cần nhìn tôi một cái cũng đủ làm cho lòng tôi xao xuyến. Không hiểu những người con khác có gặp phải vấn đề như tôi không. Họ có biết cha họ không phải chỉ là một con người có nét mặt uy quyền, buổi sáng đi làm và buổi chiều trở về mang bánh đặt lên bàn ăn không?”

E rằng những lời buồn thảm trên đây cũng là tiếng than của rất nhiều đứa con khác. Ngày nay con cháu không biết cha mẹ và cha mẹ không biết con cháu. Muốn biết thì phải mất nhiều thời giờ và nhiều nỗ lực, nhưng nó sẽ mang lại nhiều hoa trái. Còn nếu như không biết thì sẽ phải gánh chịu nhiều mất mát. Đời sống trôi qua rất nhanh khiến tất cả chúng ta ít biết nhau. Mà không biết nhau thì không thể yêu thương nhau được.

“Biết” là điều rất trọng yếu so với những người-chăm-sóc (carers). Những người-chăm-sóc cần biết kẻ mà mình chăm sóc. Bước đầu là biết tên. Nhưng muốn biết thật thì phải biết cả lịch sử cuộc sống họ. Nếu không biết họ đến với ta từ một toàn cầu như vậy nào và sẽ trở về một toàn cầu như vậy nào thì ta chỉ coi họ như một chiếc bóng mà thôi.

Nhưng cái “biết” phải có hai chiều. Chúa Giêsu biết chiên của Ngài và chiên của Ngài cũng biết Ngài. Chúa Giêsu không sợ để cho người ta biết mình. Còn tất cả chúng ta đôi lúc lại sợ. Tất cả chúng ta không muốn người khác đi vào cuộc sống tất cả chúng ta, biết tất cả chúng ta nghĩ gì, cần gì, đang lo buồn về chuyện gì và đang trông mong những gì. Có vẻ vì tất cả chúng ta sợ người ta biết mình rõ quá rồi sẽ từ chối mình. Từ đó tất cả chúng ta chỉ muốn người ta biết tất cả chúng ta qua cái vẻ ngoại hình mà tất cả chúng ta cố tỏ ra. Thế nhưng làm sao tất cả chúng ta có thể tạo được một tình cảm trìu mến với người khác nếu tất cả chúng ta cứ giữ một khoảng cách với họ và không cho họ biết rõ tất cả chúng ta?

So với Chúa cũng vậy. Ngài là mục tử tốt lành. Ngài muốn ban cho tất cả chúng ta sự sống đời này và cả đời sau nữa. Nhưng phải có tương quan hai chiều. Tất cả chúng ta phải đáp lại tình thương của Ngài bằng cách lắng nghe tiếng Ngài và đi theo Ngài. (FM)

* 6. Chuyện minh họa

Trong một cuộc họp, có hai người được mời đọc Thánh Vịnh 22 “Chúa là mục tử của tôi”.

Người thứ nhất là một diễn viên nhà nghề nhưng không có đức tin. Anh phát âm rất chuẩn, giọng rõ ràng, ngắt câu vừa ý. Nghe anh đọc xong ai cũng vỗ tay.

Người thứ hai là một tín hữu xác tín về đức tin. Anh phát âm không chuẩn lắm, anh còn đọc hơi nhanh nữa. Nhưng giọng anh rất tình cảm. Ai nghe anh đọc cũng đều xúc động.

Khi hai người đọc xong, người diễn viên đến bắt tay người tín hữu và khen: “Xin chúc mừng. Anh đã đọc rất hay”. Người tín hữu đáp: “Không, anh mới là người đọc hay, còn tôi thì tệ quá.”

Người diễn viên phân tích: “Chắc chắn là anh đọc hay hơn tôi mà. Một điều rất hiển nhiên là: Tôi thì biết Thánh Vịnh 22, còn anh thì biết Người Mục Tử.”

Tất cả chúng ta hãy để ý: Tác giả Thánh vịnh 22 không nói “Chúa là một mục tử”, cũng không nói “Chúa là vị Mục tử”, nhưng nói “Chúa là Mục Tử của tôi”. Người tín hữu kia đã đọc Thánh vịnh 22 bằng cảm nghiệm sống của mình, vì vậy anh đã làm cho người khác xúc động.

* 7. Ơn gọi yêu thương

Vết thương sâu nhất là vết thương lòng:

này là cảm nhận rằng mình không được yêu,

rằng mình chẳng quý hiếm gì so với ai cả.

Ngày nay nhiều người bị thương trong lòng.

Mỗi người tất cả chúng ta đều có thể chữa lành vết thương cho họ.

Tất cả chúng ta có tay để làm

có trí để hiểu

và nhất là có tim để yêu thương.

Chúa nhật ngày hôm nay cũng là ngày ơn gọi.

Mà mọi ơn gọi đều là ơn gọi yêu thương (FM)

  1. Lời nguyện cho mọi người

Chủ tế: Anh chị em thân mến, Chúa Giêsu đã sống lại vinh hiển và lên trời ngự bên hữu Chúa Cha. Tất cả chúng ta cùng chúc tụng Người và dâng lời cầu xin:

  1. Chúa đã đón nhận niềm tin yêu của thánh Phêrô / và trao cho người nhiệm vụ dẫn dắt đoàn chiên Chúa / Tất cả chúng ta hiệp lời cầu xin cho Đức Thánh Cha đương kim / cũng được niềm tin yêu như vậy.

  2. Chúa Giêsu là Vị Mục tử nhân hậu / đã chết để cho đoàn chiên được sống dồi dào / Tất cả chúng ta hiệp lời cầu xin cho các vị mục tử của tất cả chúng ta / cũng sẵn lòng hy sinh toàn bộ cho đoàn chiên Chúa đã trao ban.

  3. Ngày hôm nay là ngày nguyện cầu cho ơn gọi linh mục và tu sĩ / Tất cả chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa / ban cho Giáo hội Việt nam có được nhiều ơn gọi linh mục và tu sĩ / để đoàn chiên Chúa không lúc nào thiếu người chăm sóc dưỡng nuôi.

  4. Việc huấn luyện linh mục tương lai cho các giáo phận / đòi hỏi phải đầu tư lâu dài và tốn kém / Tất cả chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ tất cả chúng ta / biết hết lòng hợp tác vào công việc cao quý này / bằng lời nguyện cầu và bằng việc quảng đại trợ giúp Chủng Viện.

Chủ tế: Lạy Chúa Giêsu, vì yêu thương, Chúa đã chết để cho chúng con được sống và sống dồi dào. Xin cho chúng con cũng biết đền đáp phần nào tình thương của Chúa bằng chính đời sống nhân ái yêu thương của chúng con. Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.

  1. Trong Thánh Lễ

– Kinh tiền tụng: nên dùng Kinh tiền tụng phục sinh số 2, vì có nói tới cuộc sống mới.

– Trước kinh Lạy Cha: Hiện giờ tất cả chúng ta rất giống với một đoàn chiên đang quy tụ quanh chủ chiên là Chúa Giêsu bên bàn tiệc Thánh thể. Tất cả chúng ta hãy vừa ý với Ngài dâng lên Thiên Chúa là Cha những tâm tình con thảo của tất cả chúng ta.

VII. Giải tán

Anh chị em đã biết Chúa Giêsu là mục tử dẫn dắt đời mình, cho dù có khi xem ra Ngài đang dẫn tất cả chúng ta qua thung lũng tối tăm, nhưng điếm tới cuối cùng sẽ là đồng cỏ xanh tươi, suối ngọt và bóng mát. Vậy anh chị em hãy ra về trong niềm vui mừng phó thác trọn vẹn cho Chúa Giêsu dẫn dắt.

 

9.      Suy niệm ghi chú của Lm. Inhaxiô Hồ Thông

Trong cả ba năm phụng vụ, Chúa Nhật IV Phục Sinh là Chúa Nhật “Chúa Chiên Lành”.

Cv 13: 14, 43-52

Khi thi hành công việc truyền giáo ở An-ti-ô-khi-a miền Pi-xi-đi-a, thánh Phao-lô và thánh Ba-na-ba, như những mục tử nhân lành, thông báo ơn cứu độ phổ quát cho muôn người.

Kh 7: 9, 14-17

Thị kiến mà sách Khải Huyền mô tả đúng đắn là thị kiến về đoàn người được tuyển chọn đông đảo khôn kể xiết đứng chầu quanh ngai Thiên Chúa. Con Chiên đang ngự ở giữa họ “sẽ chăn dắt và dẫn đưa họ tới nguồn nước trường sinh”.

Ga 10: 27-30

Đức Giê-su nhất định Ngài là vị Mục Tử Thiên Chúa, liên đới với đoàn chiên của Ngài. Chính Ngài cho họ được sống và sống dồi dào trong sự hiệp nhất mật thiết với Chúa Cha.

BÀI ĐỌC Ι (Cv 13: 14, 43-52)

Phần thứ nhất sách Công Vụ Tông đồ (ch. 1-12), mà tất cả chúng ta đã đọc nhiều đoạn trích dẫn trong nhiều Chúa Nhật trước, nêu bật dung mạo Tông Đồ Phê-rô. Trong phần này, thánh Phê-rô loan báo Tin Mừng hầu hết cho dân Ít-ra-en, ngoại trừ viên đại đội trưởng Rô-ma, ông Co-nê-li-ô và gia quyến của ông, những người Ki-tô hữu trước tiên được chấp thuận vào Giáo Hội qua phép Rửa chứ không qua phép cắt bì.

Phần thứ hai sách Công Vụ Tông Đồ (ch. 13-28) nêu bật dung mạo thánh Phao-lô, thánh nhân thực hiện sự đột phá to lớn trong công việc rao giảng Tin Mừng cho toàn cầu lương dân. Bản văn tất cả chúng ta đọc ngày hôm nay được trích dẫn từ bài trình thuật về cuộc hành trình truyền giáo thứ nhất của thánh Phao-lô. Bản văn này chứa đựng lời tuyên ngôn nổi tiếng của thánh Phao-lô: trước việc dân Ít-ra-en từ khước, thánh nhân quyết định quay về lương dân (13: 46-47).

  1. Thánh Ba-na-ba:

Trong những năm tháng khó khăn sau cuộc hoán cải của mình, thánh Phao-lô may mắn gặp được thánh Ba-na-ba. Thánh Ba-na-ba xuất thân từ đảo Síp, nhưng đã tới định cư lập nghiệp ở Giê-ru-sa-lem. Khi trở thành Ki-tô hữu, thánh nhân đã bán hết sản nghiệp của mình và đặt dưới chân các Tông Đồ. Tên thật của thánh nhân là Giô-xếp, nhưng người ta đặt cho thánh nhân tên hiệu Ba-na-ba, nghĩa là “con của sự an ủi”. Quả thật, thánh nhân xứng đáng với tên hiệu này trong cách hành xử của thánh nhân so với thánh Phao-lô. Khi thánh Phao-lô lần trước tiên đến Giê-ru-sa-lem sau biến cố trên đường Đa-mát, kẻ bách hại đạo trước đó được tiếp đón với thái độ dè dặt. Thánh Ba-na-ba biết nhận thấy cuộc hoán cải chân tình của thánh Phao-lô và đứng ra bảo lãnh cho thánh nhân trước các Tông Đồ.

Nhiều năm sau đó, thánh Ba-na-ba được cử đến An-ti-ô-khi-a, tp lớn chịu ràng buộc văn hóa Hy-lạp, ở đó nhiều người Do thái cũng như lương dân theo đạo càng lúc càng đông (An-ti-ô-khi-a là tp trước tiên có cộng đoàn Ki-tô hữu gốc lương dân). Trước công việc to lớn, thánh Ba-na-ba nảy sinh sáng tạo đi tìm thánh Phao-lô lúc này ở Tác-xô. Cả hai cùng làm việc ở An-ti-ô-khi-a trong vòng một năm, chắc cú vào năm 43-44. Đoạn, được Thánh Thần gợi ý, cộng đoàn An-ti-ô-khi-a cử thánh Ba-na-ba và thánh Phao-lô đi truyền giáo (Cv 13: 1-3).

Thánh Ba-na-ba dẫn thánh Phao-lô đến đảo Síp, quê quán của mình. Nhưng chẳng bao lâu sau vai trò của hai người đảo ngược. Thật là có ý nghĩa biết bao, sau cuộc truyền giáo ở đảo Síp, thánh Lu-ca không còn viết Sao-lô nhưng Phao-lô, và không còn đặt ngài ở hàng thứ hai; từ đây thánh Lu-ca viết “ông Phao-lô và ông Ba-na-ba”.

  1. Thành An-ti-ô-khi-a miền Pi-xi-đi-a:

Từ đảo Síp, hai ông đáp tàu đến miền duyên hãi phía nam thuộc miền Tiểu Á. Đoạn hai ông vượt đèo leo núi đến tp An-ti-ô-khi-a miền Pi-xi-đi-a ở độ cao 1200 mét. Để đến đó, hai ông phải đi qua đoạn đường 160 cây số, bằng cách vượt qua dảy núi Taurus, do bởi những đoạn đường quanh co hiểm trở có nhiều khe suối, trong một miền đầy sào huyệt của quân trộm cướp. Chắc nịch thánh Phao-lô ám chỉ đến cuộc hành trình khổ sở này trong thư thứ hai gởi cho các tín hữu Cô-rin-tô, trong đó thánh nhân gợi lên mọi nỗi gian truân mà ngài đã kinh qua (2Cr 11: 26).

  1. Cộng đồng Do thái:

Tp An-ti-ô-khi-a miền Pi-xi-đi-a là một trong những thủ phủ Rô-ma thuộc Á Châu và được hưởng quy chế tp tự do với những thiết kế đô thị theo kiểu Rô-ma. Nằm trên trục giao thông, tp An-ti-ô-khi-a miền Pi-xi-đi-a đã có một nền thương mại phát triển thịnh vượng. Ở đây có một cộng đồng Do thái định cư lập nghiệp và có tác động tôn giáo trên dân cư ở đây: có nhiều lương dân nhận thấy Thiên Chúa Ít-ra-en là Thiên Chúa độc nhất, tôn kính Ngài, nguyện cầu với Ngài và tham gia vào những công việc từ thiện của cộng đồng; những người này được gọi “những người kính sợ Thiên Chúa”. Những lương dân này sẽ là đám thính giả đông đảo của thánh Phao-lô ở hội đường An-ti-ô-khi-a miền Pi-xi-đi-a này.

  1. Sứ điệp mang tính lịch sử:

Vào một ngày sa-bát, trong hội đường, lời rao giảng trước tiên của thánh Phao-lô gây nên lòng mộ mến của nhiều người Do thái cũng như nhiều lương dân kính sợ Thiên Chúa. Vào ngày sa-bát sau đó, những lương dân kính sợ Thiên Chúa này kéo theo một phần lớn dân thành vào trong hội đường để nghe thánh Phao-lô và thánh Ba-na-ba thuyết giáo. Thấy thế, những người Do thái “sinh lòng ghen tức, họ nhục mạ và phản đối những lời của thánh Phao-lô”. Đây là lần trước tiên người Do thái chống đối thánh Phao-lô. Sẽ có những chống đối khác nữa. Từ lúc này, thánh Phao-lô nhận thấy dấu hiệu nghiêm trọng này. Đây là lần trước tiên thánh nhân nói đến sự từ khước của dân Do thái, mà hệ luận tất yếu là lương dân tham gia Ki-tô giáo.

Thánh Phao-lô thông báo chiều kích phổ quát của sứ điệp Tin Mừng khi nhắc nhớ giáo huấn của các ngôn sứ và ứng dụng cho chính mình ơn gọi của Người Tôi Trung: “Ta đã đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân, để ngươi đem ơn cứu độ đến tận cùng trái đất”. Khi nghe sứ điệp của thánh Phao-lô, “lương dân vui mừng suy tôn Lời Thiên Chúa và tất cả những ai đã được Thiên Chúa tiền định cho hưởng sự sống đời đời, đều tin theo”. Thánh Lu-ca sử dụng diễn ngữ xuất xứ từ văn chương kinh sư, theo đó người ta thường hay nói “được tiền định cho hưởng cuộc sống mai sau”. Diễn ngữ này không muốn nói đến số phận được tiền định, nhưng nhấn mạnh cuộc sống mai hậu này là ân ban của Thiên Chúa giành riêng cho những ai tin vào Chúa Giê-su.

  1. Thánh Phao-lô và thánh Ba-na-ba bị trục xuất:

Chắc nịch, thánh Phao-lô và thánh Ba-na-ba lưu lại ở An-ti-ô-khi-a nhiều tháng. Trong thuộc địa Rô-ma này, những người Do thái không có quyền điều hành; họ phải vận động những nhân vật trung gian: sách động những phụ nữ thượng lưu đã theo Do thái giáo, và những người có quyền thế trong thành, xúi dục họ trục xuất hai vị truyền giáo ra khỏi lãnh thổ của họ. Sau khoảng thời gian bị trục xuất, hai ông “liền giũ bụi chân”, cử chỉ nói lên đoạn tuyệt và quy trách nhiệm cho các đối thủ này. Thánh Lu-ca nhấn mạnh một lần nữa mối phúc của những người bị bách hại: “Còn các môn đệ được tràn đầy hoan lạc và ơn Thánh Thần”.

BÀI ĐỌC II (Kh 7: 9, 14-17)

Tất cả chúng ta tiếp tục đọc sách Khải Huyền của thánh Gioan. Đoạn trích dẫn ngày hôm nay rất phù phù hợp với Tin Mừng, trong đó Đức Giê-su thông báo Ngài là Mục Tử đích thật. Thị kiến mô tả Con Chiên là Đức Ki-tô ở giữa những người được tuyển chọn như Người Mục Tử đon đả trao ban sự sống đời đời cho đoàn chiên của mình.

Chương 7 sách Khải Huyền chứa đựng hai thị kiến liên tiếp nhau: thị kiến thứ nhất về Giáo Hội tranh đấu, trong đó các Ki-tô hữu được đóng ấn ơn cứu độ trước khi đương đầu với những nỗi gian truân; thị kiến thứ hai là đối tượng của bản văn tất cả chúng ta.

  1. Một đoàn người thật đông không tài nào đếm được:

Trong lúc xuất thần, thánh Gioan được mang lên trời ở đó diễn ra một phụng vụ vĩ đại tôn vinh Thiên Chúa và Con Chiên. Đoàn người được tuyển chọn thật đông không tài nào đếm được như dòng dõi mà Thiên Chúa đã hứa với tổ phụ Áp-ra-ham. Ơn cứu độ phổ quát được các ngôn sứ loan báo, được Con Chiên đạt được nhờ hiến dâng mạng sống mình “cho muôn người”, được đông người “thuộc mọi nước, mọi dân, mọi chi tộc và mọi ngôn ngữ” chứng thực. “Họ đứng trước ngai và trước Con Chiên, mình mặc áo trắng, tay cầm nhành lá thiên tuế”: “Họ đứng”: dấu chỉ của sự sống và sự sống lại, “mình mặc áo trắng”: dấu chỉ của sự vô tội, và “tay cầm nhành lá thiên tuế”: dấu chỉ của sự khải hoàn.

  1. Cơn thử thách to lớn:

Một trong các Kỳ Mục giải thích: “Họ là những người đã đến, sau khi trải qua cơn thử thách lớn lao”. Theo từ ngữ của các sách khải huyền, “cuộc thử thách lớn lao” chỉ những nỗi gian truân của thời cánh chung. Trước đó, Đức Giê-su đã gợi lên điều này khi Ngài nói với các môn đệ: “khi ấy sẽ có cơn gian nan khốn khổ đến mức từ thuở khai thiên lập địa cho đến bây giờ chưa khi nào xảy ra, và sẽ không bao giờ xảy ra như vậy nữa” (Mt 24: 21).

Viễn tượng của các sách khải huyền hầu hết là cánh chung, nhưng được “lồng vào nhau” giữa hiện tại và tương lai. Các ngôn sứ nói về kỷ nguyên thiên sai theo cùng những từ ngữ như vậy nào thì họ mô tả kỷ nguyên cánh chung theo cùng một phương thức như vậy. Sách Khải Huyền của thánh Gioan ngỏ lời với những người Ki-tô hữu bị bách hại đang đương đầu với chết chóc vì đạo. Như tất cả chúng ta đã nói, sách này là một tác phẩm “được mã hóa”, theo đó ngôn từ hàm chứa hai cách đọc. Cuộc thử thách to lớn ám chỉ đến chết chóc kinh khủng đang chờ đợi họ và những nhành lá thiên tuế mà họ đang cầm trong tay muốn nói cuộc khải hoàn của họ sắp tới gần: họ đã giặt sạch và tẩy trắng áo mình trong máu Con Chiên vì họ đã dự phần vào cuộc Tử Nạn của Ngài bằng cách chấp thuận đổ máu mình để làm chứng cho Ngài.

  1. Thờ phượng muôn đời:

“Họ đứng chầu trước ngai Thiên Chúa, đêm ngày thờ phượng trong Đền Thờ của Người”. Chương 7 sách Khải Huyền tham gia trước các chương 20-22, các chương này mô tả thành đô Giê-ru-sa-lem trên trời. Thế nên, trong thành đô Giê-ru-sa-lem mới, không còn tồn tại Đền Thờ “vì Đức Chúa, Thiên Chúa Toàn Năng, và Con Chiên là Đền Thờ của thành” (Kh 21: 22). Đây là một trong những phương thức của tác giả là dùng những biểu tượng Cựu Ước để diễn tả những thực tại mới: Đền Thờ là dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa ở giữa dân Ngài, dấu chỉ bất toàn này rồi sẽ biến mất. Từ đó, Thiên Chúa đích thân vĩnh viễn hiện diện giữa dân Ngài và họ chúc tụng Ngài luôn mãi.

  1. Thiên Chúa ở cùng tất cả chúng ta:

Kinh Thánh được ứng nghiệm theo từng lời: nhân loại được dự phần vào sự sống của Thiên Chúa, Người chấm hết mọi nỗi truân chuyên của họ: “Họ sẽ không còn phải đói, phải khát, không còn bị ánh nắng mặt trời thiêu đốt và khí nóng hành hạ nữa. Vì Con Chiên đang ngự giữa ngai sẽ chăn dắt và dẫn đưa họ tới nguồn nước trường sinh”. Câu này rõ ràng trích dẫn hầu hết nguyên văn của Is 49: 10, nhưng thật đáng cho tất cả chúng ta lưu ý, tác giả sách Khải Huyền đã thay thế “Đấng” quy chiếu đến Đức Chúa trong bản văn Is 49: 10 bằng “Con Chiên” chỉ Đức Ki-tô. Con Chiên là nguồn gốc niềm hoan lạc của họ và Con Chiên này “sẽ chăn dắt và dẫn đưa họ tới nguồn nước trường sinh”.

Bản văn Khải Huyền này cũng được đọc lại vào ngày lễ Chư Thánh để nhắc nhớ niềm trông mong to lớn của người Ki-tô hữu.

TIN MỪNG (Ga 10: 27-30)

Vào Phụng Vụ Năm ¢ này, tất cả chúng ta đọc phần thứ ba và phần sau cùng của dụ ngôn “Người Mục Tử Nhân Lành” theo Tin Mừng Gioan.

  1. Cục diện:

Phần sau cùng này rõ ràng được tách riêng ra khỏi những khai triển trước đó: hoàn cảnh, thời gian, nơi chốn không như trước nữa. Quả thật, những câu 22-24 định vị dụ ngôn này vào trong hoàn cảnh của cuộc tranh luận giữa Đức Giê-su và những người Pha-ri-sêu: “Khi ấy, ở Giê-ru-sa-lem, người ta đang mừng lễ Cung Hiến Đền Thờ. Bấy giờ là mùa đông. Đức Giê-su đi đi lại lại trong Đền Thờ, tại hành lang Sa-lô-mon. Người Do thái vây quanh Đức Giê-su và nói: ‘Ông còn để lòng trí chúng tôi phải thắc mắc cho đến bao giờ? Nếu ông là Đấng Ki-tô, thì xin nói công khai cho chúng tôi biết’”.

Ấy vậy, vào lúc cử hành lễ Cung Hiến Đền Thờ, trong phụng vụ người ta đọc chương 34 của ngôn sứ Ê-dê-ki-en. Trong chương 34 này, Thiên Chúa truyền lệnh cho vị ngôn sứ tuyên sấm hạch tội những mục tử chăn dắt Ít-ra-en, vì họ chỉ biết lo cho lợi nhuận của mình mà không quan tâm gì đến cảnh sống cùng khổ của đoàn chiên Người: “Sữa các ngươi uống, len các ngươi mặc, chiên béo tốt thì các ngươi giết, còn đoàn chiên còn lại không lo chăn dắt. Chiên đau yếu, các ngươi không làm cho mạnh; chiên bệnh tật, các ngươi không chữa cho lành; chiên bị thương, các ngươi không băng bó; chiên bị lạc, các ngươi không đưa về; chiên bị mất, các ngươi không chịu đi tìm. Các ngươi thống trị chúng một cách tàn bạo và hà khắc” (Ed 34: 1-6). Vì vậy, vị ngôn sứ loan báo rằng Thiên Chúa sẽ đích thân chăm sóc đoàn chiên của Người: “Đức Chúa phán thế này: ‘Đây chính Ta sẽ chăm sóc chiên của Ta…Ta sẽ chăn dắt chúng trong đồng cỏ tốt tươi…Con nào bị mất, Ta sẽ đi tìm; con nào đi lạc, Ta sẽ đưa về; con nào bị thương, Ta sẽ băng bó…” (Ed 34: 11-16).

Những người hội thoại với Đức Giê-su đã nghe nói lại sứ điệp của vị ngôn sứ. Để trả lời thắc mắc của họ: “Ông còn để lòng trí chúng tôi phải thắc mắc cho đến bao giờ? Nếu ông là Đấng Ki-tô, thì xin nói công khai cho chúng tôi biết”, Đức Giê-su tự đồng hóa mình với vị Mục Tử Thiên Chúa này mà ngôn sứ Ê-dê-ki-en đã hứa. Lời thông báo này khiến họ phẩn uất đến mức muốn ném đá Ngài như đoạn tiếp theo cho thấy.

  1. “Chiên tôi thì nghe tiếng tôi”:

“Chiên Tôi thì nghe tiếng tôi”: Đây là thái độ của các môn đệ Ngài. Đức Giê-su đối lập thái độ này với thái độ của những đối thủ Ngài. Trước đó, Ngài đã nói cho họ: “Ai thuộc về Thiên Chúa, thì nghe lời Thiên Chúa nói; còn các ông, các ông không chịu nghe, vì các ông không thuộc về Thiên Chúa” (8: 47). Qua lời này, Đức Giê-su thông báo một cách rõ ràng rằng Ngài chính là Lời Thiên Chúa hiện thân.

  1. “Tôi biết chúng và chúng theo tôi”:

Trước đó, Đức Giê-su đã khai triển sâu xa về sự hiểu biết hổ tương giữa người chăn chiên và đoàn chiên; động từ “biết” theo Kinh Thánh hàm chứa chuyển động của cả trí tuệ lẫn trái tim; sự hiểu biết này dẫn theo niềm tin tưởng phó thác: “Tôi biết chúng và chúng theo tôi”. Xuyên suốt Tin Mừng, động từ “theo” khái niệm thái độ cơ bản của người môn đệ, gắn bó với nhân loại Đức Ki-tô.

  1. “Tôi ban cho chúng sự sống đời đời”:

Ở đây tất cả chúng ta chạm đến cao điểm của dụ ngôn, vang dội biến cố Phục Sinh. Đức Giê-su có thể thông truyền cho nhân loại sự sống thần linh của Ngài vì Ngài sắp hiến dâng mạng sống mình cho đoàn chiên của Ngài: “Không bao giờ chúng phải diệt vong”. Không quyền lực nào có thể phân ly mối quan hệ hiệp nhất giữa người chăn chiên và đoàn chiên, vì mối giây link này được thiết lập trên sự hiệp nhất của Đức Giê-su với Cha Ngài: “Tôi và Chúa Cha là một”. Trong Tin Mừng Gioan, nhiều lần Đức Giê-su nhất định một lòng một dạ giữa Ngài và Cha Ngài. Đây là mặc khải trọng yếu và rõ ràng nhất về Thần Tính của Chúa Giê-su và mầu nhiệm sâu xa của Thiên Chúa. Đây cũng là câu trả lời cho bè 𝓐-ri-ô về việc chối bỏ Thần Tính của Đức Giê-su. Cũng dựa trên lời này, Công Đồng Ni-xê-a năm 325 tuyên tín: Chúa Cha và Chúa Con đồng bản tính.

Chiều kích Giáo Hội của dụ ngôn thì rõ ràng. Những người Ki-tô hữu là đoàn chiên, họ gặp thấy ở nơi Đức Ki-tô ơn cứu độ của mình và sự sống thần linh phong phú. Qua Ngài, họ hiệp nhất dứt khoát vĩnh viễn với Chúa Cha. Phải đọc lại từ từ dụ ngôn và để cho lòng mình thấm đẩm tâm tình trìu mến yêu thương của Thiên Chúa mà dụ ngôn này làm chứng.

 

10. Chúa chiên lành

Sự ồn hối hả, ồn ào, náo nhiệt… của toàn cầu ngày nay đã làm cho nhân loại khó nhận thấy tiếng nói của nhau. Người Kitô hữu tất cả chúng ta sẽ không dễ nhận thấy tiếng Chúa nếu tất cả chúng ta cứ mãi chìm sâu trong vòng xoáy của cuộc sống. Vậy làm thế nào để tất cả chúng ta nhận thấy tiếng Chúa nói với ta trong đời sống hằng ngày?

Nội dung Chúa nhật ngày hôm nay, Giáo hội dành đặc biệt để nguyện cầu cho ơn Thiên triệu, nguyện cầu cho có nhiều bạn trẻ luôn biết mở rộng lòng mình để lắng nghe và đáp lại tiếng Chúa gọi sống đời dâng hiến. Đồng thời, tất cả chúng ta cũng không quên nguyện cầu cho các vị mục tử trong Giáo hội luôn sống thánh thiện và nhiệt thành với sứ vụ của mình.

Trong bài Phúc Âm ngày hôm nay, Chúa Giêsu đã nói: “Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi…”. Vâng! Tất cả chúng ta được gọi là Kitô hữu, là đoàn chiên của Chúa khi tất cả chúng ta đã được lãnh nhận Bí tích Rửa tội. Nếu tất cả chúng ta xưng mình là Kitô hữu thì tất cả chúng ta phải lắng nghe lời dạy dỗ của Chúa Giêsu là Vị Mục Tử Nhân Lành. Tất cả chúng ta sẽ được nghe tiếng Chúa qua:

+ Thánh lễ: Trong Thánh lễ với các bài đọc Kinh Thánh và lời giảng huấn của linh mục, tất cả chúng ta sẽ đơn giản được nghe lời Chúa dạy.

+ Tha nhân: Chúa mời chào tất cả chúng ta sống nhân ái khi Chúa gởi những người nghèo khó, bệnh tật… đến với tất cả chúng ta; Chúa mời chào tất cả chúng ta hãy tha thứ, hãy yêu thương những người thường chống đối, chỉ trích, ghen ghét tất cả chúng ta; Chúa mời chào tất cả chúng ta hãy an ủi, mang niềm vui đến những người đang buồn chán, thất vọng…

+ Lương tâm: Chúa mời chào tất cả chúng ta hãy sống theo lương tâm ngay thẳng: đừng vì lợi lộc cá nhân mà gian dối trong mọi công việc mình đang làm để rồi nhiều người khác phảin chịu đớn đau do những việc xấu tất cả chúng ta đã gây ra.

* Mẩu truyện về 2 thanh niên thôn quê và thành thị…

Tổng kết

Tóm lại, qua bài Phúc Âm ngày hôm nay, Chúa mời gọi mọi người tất cả chúng ta hãy lắng đọng tâm hồn hướng về Chúa vì khi hướng về Chúa thì tất cả chúng ta mới có thể nghe được tiếng Chúa được.

Đặc biệt, tất cả chúng ta hãy nguyện cầu nhiều cho con em tất cả chúng ta và những người trẻ trong Giáo hội luôn biết mở rộng lòng mình đáp lại lời mời gọi của Chúa, làm môn đệ của Chúa trong đời sống tu trì.

Tất cả chúng ta cũng đừng quên nguyện cầu cho Cha sở tất cả chúng ta luôn được khỏe mạnh để chăm sóc cho họ đạo ngày một thăng tiến hơn. Amen.

 

11. Đồng cỏ xanh, dòng suối mát – Thiên Phúc

(Trích trong ‘Như Thầy Đã Yêu’)

Dương Ân Điển là đứa trẻ bị bỏ rơi, người ta nhặt được nó ở một quầy bán thịt, trong cái chợ nghèo vùng núi miền nam đảo Đài Loan. Mẩu truyện thương tâm này xảy ra năm 1974, ấy là lúc vừa lọt lòng, em đã không có hai cánh tay, chân phải thẳng đơ không thể co duỗi.

Vậy mà, 25 năm sau, đứa bé tàn tật xấu số ấy đã trở thành nhà danh họa tài ba, chuyên vẽ tranh bằng chân và miệng. Cô đã tổ chức nhiều cuộc triển lãm ở Mỹ và Nhật, và là thành viên của Hiệp Hội quốc tế những người vẽ tranh bằng chân và miệng.

Cuộc sống cô thay đổi nhanh chóng như vậy, thành công rực rỡ như vậy, cũng là nhờ mục sư Dương Húc và vợ ông là Lâm Phương Anh nhận nuôi. Nhất là ông Tưởng Kinh Quốc đã cho cô đi phẫu thuật chỉnh hình xương cột sống, nắn chân phải, sửa đường làm cầu cho cô đơn giản đi tới trường. Ông đã nói với cô: “Cháu không có tay, nhưng còn chân, và có thể làm được rất nhiều việc”. Chính tình thương, sự chăm sóc, và lời khuyến khích của ông Tưởng Kinh Quốc đã thay đổi số phận của một nhân loại.

***

“Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi, tôi biết chúng và chúng theo tôi” (Ga 10,27). Thiên Chúa là chủ chiên nhân lành, Người yêu thương mỗi người tất cả chúng ta bằng một tình yêu cá biệt, cho dù tất cả chúng ta có què quặt đui mù, có xấu xa đốn mạt đến đâu, mỗi người tất cả chúng ta đều có chỗ đứng độc nhất vô nhị trong tình yêu bao bọc của Chúa; mỗi người tất cả chúng ta đều có vị trí đặc biệt trong trái tim yêu thương của Người. Tấm lòng quảng đại yêu thương của ông Tưởng Kinh Quốc giành riêng cho cô bé tàn tật Dương Ân Điển chỉ là hình bóng tình yêu thương vô bờ của Thiên Chúa so với tất cả chúng ta, những con chiên của Người.

Vâng, chiên của Chúa thì nghe Chúa, biết Chúa và theo Chúa.

Nghe Chúa chính là lắng nghe Lời Chúa qua Kinh Thánh, nơi giáo huấn của Giáo Hội, và những ơn soi sáng trong tâm hồn mình. Nghe Chúa chính là để có một mối tương giao thân tình với Người, và nhất là để tin vào Người. Thánh Phaolô viết: “Có đức tin là nhờ nghe giảng, mà nghe giảng là nghe công bố lời Đức Kitô”.

Biết Chúa không chỉ là học hỏi và suy niệm theo nghĩa tri thức, mà chính là hiểu biết sâu xa, yêu mến thân tình, đến nỗi phối hợp cả thân xác lẫn tâm hồn. Chính tình yêu mới làm cho tất cả chúng ta nhận ra Chúa một cách đích thực đến nỗi đoán biết cả thánh ý Người.

Theo Chúa chính là một thái độ hoàn toàn tự do, tự nguyện dấn thân, và trao phó thân phận cho duy một mình Người. Theo Chúa cũng chính là từ bỏ, từ bỏ nhân loại cũ, nếp sống cũ, đường lối cũ. Các môn đệ đã bỏ mọi sự, Mađalêna đã bỏ đường tội lỗi, Augustinô đã bỏ đời trụy lạc, để đi theo Người.

Nghe Chúa, biết Chúa và theo Chúa để được những gì? Đức Kitô đã trả lời: “Tôi ban cho chúng sự sống đời đời, không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi”. Đoàn chiên đi theo chủ chiên nhân lành thì đồng cỏ xanh với dòng suối mát chắc cú phải là đích đến của chúng, vì chủ chiên Giêsu chính là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống. Người không những ban cho tất cả chúng ta sự sống đời đời mà còn đảm bảo sự sống ấy chắc cú không thể mất được.

Không chỉ Chúa Con mà cả Chúa Cha cũng gìn giữ, bảo vệ tất cả chúng ta trong bàn tay yêu thương của Người: “Cha Tôi, Đấng đã ban chúng cho Tôi, thì lớn hơn tất cả, và không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha”. Chúa Cha đã trao ban đoàn chiên cho Chúa Con như quà tặng quí giá nhất, nên Chúa Con cũng gìn giữ và yêu mến đoàn chiên như Chúa Cha đã yêu mến và gìn giữ vậy. Như vậy, tất cả chúng ta được bảo vệ an toàn tuyệt đối trong cả hai bàn tay, của cả cha lẫn mẹ, còn hình ảnh nào đẹp không chỉ vậy.

Lạy Chúa, xin cho chúng con trở nên nhỏ xíu đơn sơ, để chúng con được nằm gọn trong bàn tay yêu thương của Chúa.

Giữa một toàn cầu ồn ào vì tranh giành quyền lực, của cải, xin cho chúng con lắng nghe được tiếng Chúa.

Giữa một toàn cầu chỉ biết tôn thờ vật chất, xin cho chúng con hiểu biết Chúa thật sâu xa để yêu mến Người thiết tha.

Giữa một toàn cầu chỉ biết đuổi theo danh lợi thú, xin cho chúng con luôn đi theo Chúa là chủ chiên nhân lành của cuộc sống chúng con mà thôi. Amen.

 

12. Đấng Chăn Chiên Lành – Cố Lm Hồng Phúc

Trong cuộc viếng thăm lịch sử của Đức Gioan-Phaolô II giành riêng cho Hội đường Do-thái tại Lamã, Đức Thánh Cha đã gọi các thành viên Do-thái giáo là “những anh em cổ xưa của chúng tôi”.

Thật vậy, Đạo thánh tất cả chúng ta xuất thân từ Do-thái giáo như trong Bài đọc Ι, Sách Công vụ Tông đồ kể lại. Tại Hội đường Antiochia, Phaolô và Banabê tuyên bố: “Chúng tôi phải giảng lời Thiên Chúa cho qúi vị trước tiên, nhưng vì qúi vị từ chối lời Thiên Chúa và tự cho mình không xứng đáng sống đời đời, thì đây chúng tôi quay về phía dân ngoại”. Phía dân ngoại là đạo mới, là Giáo hội, là tất cả chúng ta hết thảy. Đạo mới thoạt xuất từ đạo cũ, đạo Do-thái, “những anh em cỗ xưa của chúng ta”.

Để ám chỉ Đạo mới, Chúa Giêsu dùng nhiều hình ảnh. Nào là hình ảnh chiếc lưới không rách. Nào là tòa nhà xây trên tảng đá vững chắc, mưa sa bão táp vẫn không lay chuyển. Nào là cánh đồng trong đó có lúa tốt mọc lên bên cạnh cỏ lùng (Mt 13, 24-30). Nào là một đoàn chiên dưới sự hướng dẫn của một chủ chiên (Gio 10, 1-10).

Đây là hình ảnh mà Chúa dùng rất nhiều lần.

Chúa phán: “Ta là Đấng chăn chiên nhân lành” (Gio 10, 11).

“Chiên Ta thì nghe tiếng Ta, Ta biết chúng và chúng theo Ta, Ta cho chúng sự sống đời đời”. Chúa nhất định và nhận lãnh hoàn toàn trách nhiệm trên cả Dân Chúa. Ngài cầm trong tay vận mệnh của mọi người và mang họ đến cùng đích. Từ đầu trong Giáo hội, hình ảnh Chúa Chiên lành là biểu tượng của Chúa được khắc ghi trên bờ tường hang Toại Đạo, được thông dụng trong kinh nguyện.

Chúa là Đấng Chăn Chiên thì tất cả chúng ta, đoàn chiên của Chúa phải làm gì? Bằng một câu vắn vỏi, Chúa mô tả bổn phận cốt yếu.

Chúa phán: “Chiên Ta thì nghe tiếng Ta. Ta biết chúng và chúng theo Ta”. BIẾT, NGHE và THEO là ba động từ nói lên ba việc thiết yếu để trở nên chiên của Chúa.

BIẾT là phải tiềm hiểu, học hỏi, suy niệm, vô tri bất mộ.

NGHE là lắng tai đón nhận lời Chúa qua Thánh Kinh, lời giảng dạy của Giáo hội, ơn soi sáng.

THEO là thực thi, là sống Đạo, là đem Đạo vào đời.

Tóm tắt, là phải có một cuộc “trở lại”.

Năm 496, tại Thành Reims, Thánh Giám mục Remi long trọng ban phép Thanh tẩy cho Vua Clovis. Thánh Giám mục tuyên bố: “Ngươi hãy cúi đầu xuống. Hãy thờ những gì xưa ngươi đã đốt và nay hãy đốt những gì ngươi đã thờ”, rồi ban phép Rửa tội cho nhà Vua, xức dầu theo hình Thánh Giá. 3000 quân sĩ của Clovis cũng được Thanh tẩy. Nước Pháp Thiên chúa giáo đã khai sinh.

Lạy Chúa, Chúa là Mục Tử, xin dẫn con lần theo chính lộ, con không sợ lạc hướng.

Có Chúa với con cùng tiến bước, đi giữa suối mát cỏ xanh, con không thiếu gì.

 

13. Chiên Ta thì nghe tiếng Ta.

Người ta kể lại mẩu chuyện sau đây: Có ba tín hữu nọ, một ông nhà nghèo, một ông nhà giàu và người thứ ba là kẻ vô lương đều chết trong một giờ và sau đó phải ra tòa Chúa phán xét. Thiên Chúa hỏi ông nhà nghèo: – Vì nguyên nhân gì mà ngươi không lo tìm hiểu và tuân giữ Lời Chúa ghi trong sách Koran.

Anh nhà nghèo gãi tai và thưa: – Dạ! Lạy Chúa, vì con nghèo quá, nên phải đầu tắt mặt tối lo kiếm gạo nuôi thân, không còn gì cả.

Chúa trả lời: – Ông Hellen đã nghèo hơn ngươi rất nhiều vậy mà có được chút tiền là ông để dành một nửa để học luật Chúa và khi nào không có tiền trả lệ phí thì ông nhịn đói, đứng ngoài trường học nghe lóm Rabbi Eliaza giảng giải Lời Chúa.

Và Thiên Chúa quay sang hỏi ông nhà giàu: – Còn ngươi. Vì sao con lại không tìm học hỏi và tuân giữ luật Chúa?

Ông nhà giàu thưa: – Dạ, tại vì con phải lo công việc quản trị của cải, tiền nong và các dịch vụ làm ăn. Bận rộn tíu tít, còn giờ đâu mà học hỏi sự gì?

Thiên Chúa phán: – Ngươi đâu có sung túc bằng thầy Rabbi Eliaza, ông ấy có một trăm chiếc tàu buôn bán đủ mọi thứ hàng hóa và rất bận rộn với công việc kinh doanh, nhưng Rabbi Eliaza vẫn tìm thấy giờ để học hỏi luật Chúa.

Sau cùng, Chúa hỏi tên vô lương: – Còn ngươi, kẻ tà đạo ác. Vì sao ngươi đã không học hỏi luật Chúa?

Tên vô lương tìm cách chữa lỗi: – Lạy Chúa, con bị các thích thú lôi cuốn quá, nên không còn nghĩ đến gì khác nữa.

Thiên Chúa bảo hắn: – Ngươi đâu có bị người ta cám dỗ và say mê như Giuse khi sống bên Ai Cập xưa kia. Ngày đêm bị vợ quan tổng quản Putipha níu kéo, rủ rê cám dỗ phạm tội với bà ta mà vẫn chống trả tới cùng.

Thế là cả ba người đều phải án phạt sống xa rời Thiên Chúa và chôn vùi trong nơi khổ ải của âm ty, âm phủ.

Là người Kitô hữu, ai trong tất cả chúng ta cũng đều có bổn phận học hỏi, lắng nghe và tuần giữ Lời Chúa. Đây là một bổn phận thiêng liêng vô cùng trọng yếu. Vì nó làm cho phần rỗi tất cả chúng ta được đảm bảo.

Trong suốt cuộc sống rao giảng Tin Mừng, Chúa Giêsu đã không đề xuất với nhân loại điều gì khác ngoài bổn phận lắng nghe Lời Chúa và đem ra thực hành trong cuộc sống hằng ngày. Này là điểm thần học nổi trội trong sứ điệp của bài Tin Mừng ngày hôm nay. Đây là chìa khóa thần học giúp tất cả chúng ta hiểu ý nghĩa của trình thuật Chúa Giêsu Kitô, Người Mục Tử nhân lành như thánh Gioan ghi lại trong bài Tin Mừng ngày hôm nay.

Trong từ ngữ Kinh Thánh, từ “hư mất” ám chỉ tội lỗi, nhân loại thất bại hoàn toàn trong cuộc sống ơn gọi làm người và làm con cháu Thiên Chúa của mình, phải chết đời đời và xa rời Thiên Chúa vĩnh viễn. Là thụ tạo được phát minh từ bàn tay nhân hiền của Thiên Chúa, nhân loại được đặt định trở về với bàn tay yêu thương ấy, nhưng nhân loại đã phá đổ chương trình ấy của Thiên Chúa khi phạm tội khước từ Thiên Chúa và tự tôn mình lên địa vị của Thiên Chúa. Vì vậy, Thiên Chúa mới phải sửa chữa lại bằng cách cho Đức Giêsu Kitô xuống thế làm người và giao cho Chúa Giêsu chương trình cứu độ cần phải hiện thực qua cuộc sống và lời giảng dạy của Ngài. Chúa Giêsu đến trần gian chính là để kiếm tìm những gì đã hư mất. Đôi bàn tay của Ngài cũng là đôi bàn tay của Thiên Chúa. Chương tình cứu độ của Ngài thực hiện qua Tin Mừng cứu độ. Nước Trời cũng chính là chương trình của Thiên Chúa.

Hình ảnh người mục tử nhân lành diễn tả sứ mệnh ấy của Chúa Giêsu so với nhân loại và không ai có thể giật mất đoàn chiên tín hữu khỏi bàn tay của Ngài.

Trình thuật Chúa Giêsu là vị mục tử nhân lành gồm một số động từ diễn tả các bổn phận của chủ chăn và bổn phận của tín hữu. Nếu viết chúng thành hai cột song song, tất cả chúng ta thấy có tới bốn động từ diễn tả bổn phận của chủ chăn. Này là nói, hiểu biết, hiến mạng sống và gìn giữ. Trong lúc đó chỉ có hai động từ diễn tả bổn phận của tín hữu là lắng nghe và đi theo.

Bổn phận trước tiên của vị chủ chăn là nói, nghĩa là giảng dạy, huấn luyện, huấn luyện, khuyên nhủ, kêu mời, đề xuất, phản hồi kiến. Đây là động từ bao gồm toàn bộ mọi sinh hoạt rao giảng của Chúa và giáo huấn của Giáo Hội. Từ việc tổ chức các khóa tĩnh tâm, huấn luyện, huấn luyện mọi thành phần nhân lực mục vụ của cộng đoàn địa phương cho tới việc dùng các phương tiện và kỹ thuật truyền thông xã hội, tạp chí, sách vở, tài liệu, phim ảnh, băng hình, truyền hình… để thông dụng, rao truyền Lời Chúa và phát triển sự tin tưởng của tín hữu.

“Nói” chứ không phải là nóng nảy, bẳn gắt, la hét và mắng chửi tín hữu. Trong nghĩa này, “nói” là cả một văn nghệ gồm nhiều tập luyện mỗi ngày, từ giọng điệu và kiểu cách cho tới các cử chỉ, từ ngữ và hình ảnh làm sao để giọng nói được ôn tồn, đầm ấm, và truyền cảm, hình ảnh được đơn sơ thanh tao, rõ ràng, xúc tích và thích hợp hầu có thể truyền đạt Tin Mừng của Chúa đến cho tín hữu một cách hữu hiệu, xác tín và sâu xa hơn. Làm thế nào để vị chủ chăn rao giảng luôn làm giàu cho người nghe, thắp sáng lên trong tâm hồn lòng họ ngọn lửa trí não, nung nấu đốt cháy trái tim họ và xúc tiến họ tiến gần Thiên Chúa.

Bổn phận thứ hai của vị chủ chăn, tức là các Giám Mục, nam nữ Tu Sĩ và Giáo Dân lãnh đạo cộng đoàn là hiểu biết. Trong từ ngữ Kinh Thánh, hiểu biết có nghĩa là bước vào trong tương quan hiệp thông với tha nhân. Hơn ai hết, vị chủ chăn phải là người có các liên hệ huynh đệ nhân bản với tín hữu, biết Note đến sự khác biệt, không lẫn lộn trí não hiệp nhất với sự đồng nhất máy móc một chiều, không lẫn lộn cuộc sống với cảnh chạy việc, không lẫn lộn trật tự với cảnh rộn ràng vô hồn. Nhưng để có thể hiểu biết tín hữu, vị chủ chăn cần phải tiếp xúc và nhất là biết lắng nghe họ nói, biết nỗ lực nhìn mọi người với trái tim của mình, sẵn sàng học hỏi nơi tín hữu của mình. Các tín hữu có thể cho các vị chủ chăn biết bao nhiêu là bài học quí giá trên mọi bình diện cuộc sống, từ các đức tính xã hội, nhân bản cho đến các nhân đức Kitô, sự tin tưởng, cậy, mến và sự thánh thiện.

Bổn phận thứ ba của chủ chăn là hiến mạng sống mình cho cộng đoàn tín hữu, chết cho họ và vì họ. Nói đúng ra, trừ các trường hợp bắt đạo bình thường thì chủ chăn ít khi phải chết vì tín hữu. Những điều mà Thiên Chúa và mọi tín hữu đều mong đợi là các chủ chăn sống hoàn toàn và trọn vẹn cho cộng đoàn, dành trọn khả năng, sức lực, thời giờ, của cải và toàn cuộc sống của mình cho tha nhân. Biết noi gương Chúa Giêsu kiên trì, quảng đại, sống sát với tín hữu.Chia sẻ mọi vui buồn âu lo của họ và trở thành anh em đại đồng của mọi người. Nghĩa là vị chủ chăn không sống cho mình mà sống cho Chúa và cho cộng đoàn.

Bổn phận thứ tư của chủ chăn là giữ gìn để tín hữu khỏi bị sói dữ cắn xé để họ không xa Chúa, rời bỏ Giáo Hội, và mất đức tin. Trong toàn cầu ngày nay, nhiều khi rất khó nhận diện ra sói dữ, nhưng muốn bảo vệ cộng đoàn, vị chủ chăn phải để lợi nhuận thiêng liêng mà các linh hồn và hạnh phúc của tín hữu lên trên hết trong mọi sinh hoạt thường ngày chứ không phải các lợi lộc riêng tư, danh dự của mình hay thứ gì khác.

Về phần các tín hữu bổn phận thứ nhất là biết lắng nghe để cho Lời Chúa thấm sâu vào lòng mình và quyết định sống theo những gì Chúa nói, thực hành mọi giáo huấn của Chúa trong mọi hoàn cảnh sống thường ngày. Thái độ vâng lời ấy phải trổ tài ra trong việc hợp tác, tham gia, đóng góp vào các sinh hoạt của cộng đoàn tùy các tài khéo và bằng khả năng vật chất cũng như trí não của mình làm sao để nâng cấp cộng đoàn, để biến nó thành một môi trường sinh động tươi vui, tràn ngập yêu thương, nhân ái tương trợ lẫn nhau như trong cộng đoàn Kitô tiên khởi thời các thánh tông đồ. Cộng đoàn tham gia và đóng góp chứ không phải đứng ngoài chỉ trích, phê bình chửi rủa hay phá đám. Bởi vì nếu nghe Lời Chúa mà không hoán cải và thay đổi nếp sống cá nhân, gia đình cộng đoàn và xã hội tức là khước từ Chúa; từ chối Lời Ngài là chối bỏ sự tin tưởng của mình.

Bổn phận thứ hai của tín hữu là đi theo, bước theo Chúa Kitô Phục Sinh để tiến về cuộc sống vĩnh cửu, để tiến về Đất Hứa. Do đó, hành trình của Kitô hữu phải là hành trình tươi vui, phấn khởi. Cuộc sống của Kitô hữu phải là cuộc sống sinh động, nhiều sáng tạo nhiều đóng góp. Khi đóng góp rõ ràng được mục đích của mình, Kitô hữu mới sẵn sàng hiến thân hy sinh và kiên trì trong những lúc gặp trở ngại, thử thách, khó khăn và cám dỗ. Với ý thức đó, vâng lời có nghĩa là hiểu biết trách nhiệm cao độ mình phải có so với các chủ chăn và các anh em khác trong cộng đoàn, thông cảm những khó khăn, những yếu đuối và khả năng hạn hẹp của họ và nỗ lực xây dựng bù đắp cho nhau.

 

14. Chúa Nhật 4 Phục Sinh

Thiên Chúa yêu thương dân Người. Bài phúc âm ngày hôm nay cho thấy điều đó. Tình thương của Thiên Chúa được trổ tài rõ ràng nơi Đức Giêsu. Ngài yêu thương và chăm sóc từng nhân loại như hình ảnh người chủ chiên chăm sóc từng con chiên. Để đón nhận tình thương của Ngài, tất cả chúng ta hãy biết nghe và bước theo Vị Mục Tử Giêsu.

Những trang trước tiên trong Thánh kinh cho thấy Thiên Chúa vì yêu thương nên đã dựng nên nhân loại. Vậy mà Nhân loại trước tiên đã phản bội lại tình thương ấy. Họ đã đi theo đoạn đường mình, đã quay lại với tiếng gọi yêu thương. Nhân loại thất bại hoàn toàn trong cuộc sống ơn gọi làm người và làm con cháu Chúa của mình, phải chết đời đời. Là thụ tạo phát sinh từ bàn tay tạo dựng của Thiên Chúa, nhân loại được đặt định trở về với đôi bàn tay yêu thương ấy, nhưng nhân loại đã phá đổ chương trình ấy khi phạm tội, khước từ Thiên Chúa. Tuy nhiên, Thiên Chúa không bỏ rơi nhân loại. Ngài yêu thương đến cùng, Ngài sửa chữa lại bằng cách cho Đức Giêsu Kitô xuống thế làm người và trao cho Đức Giêsu một sứ mệnh, một chương trình cứu độ cần phải hiện thực qua cuộc sống, lời giảng dạy, sự chăm sóc đon đả và cuối cùng của tình yêu là chịu chết trên thập giá “thí mạng sống” mình vì đàn chiên.

Vì vậy, Chúa Giêsu chính là vị mục tử tốt lành, yêu thương và tận tuỵ chăm sóc đàn chiên. Chính Ngài ban cho tất cả chúng ta sự sống đời đời (Ga 10, 28) và không ai có thể đánh cắp, giựt mất đàn chiên tín hữu khỏi bàn tay của Ngài. Do đó về phần mình, là những con chiên, là công dân của Chúa, tất cả chúng ta hãy “nghe tiếng Chúa” và “bước theo Chúa” vì “Chiên Ta thì nghe tiếng Ta”. Chiên con phải biết lắng nghe chủ chiên Giêsu. Nghe tiếng Giêsu là tin nhận Lời của Ngài và bước theo Ngài, dũng cảm dấn thân sống Lời Chúa một cách tự do và chủ động, sống gắn bó thiết thân với Chúa, để cho Lời Chúa thấm sâu vào lòng mình và quyết định sống theo những gì Ngài muốn, thực hành giáo huấn của Chúa trong hoàn cảnh sống hằng ngày. Thái độ vâng nghe lời ấy được trổ tài trong sự hợp tác, đóng góp vào các sinh hoạt của họ đạo, làm cho họ đạo trở thành một môi trường đầy yêu thương nhân ái, tương trợ lẫn nhau như trong cộng đoàn Kitô tiên khởi thời các thánh tông đồ. Như vậy, tiếng Chúa đang vang dội từng ngày, từng giờ. Nó thúc bách tất cả chúng ta hăng say, nhiệt tình, dấn thân theo Chúa trên mọi nẻo đường yêu thương, phục vụ, hy sinh. Yêu thương, phục vụ đến chỗ không còn tìm gì cho riêng mình, không giữ lấy gì cho riêng mà cho lợi nhuận người khác.

Do đó, làm con chiên nghe tiếng Chúa và bước theo Chúa là như vậy. Làm người có đạo ngày hôm nay dám sống đạo thật là như vậy. Nghe tiếng Chúa và dám bước theo Chúa trong xã hội tất cả chúng ta ngày hôm nay phải như vậy, và như vậy nhất định tất cả chúng ta sẽ được sống đời đời, không một sức lực nào có thể cướp giựt tất cả chúng ta khỏi tay Thiên Chúa.

Tuy nhiên, theo Chúa đòi người tất cả chúng ta phải gắn bó và ràng buộc cuộc sống mình vào Chúa. Điều này đòi tất cả chúng ta phải từ bỏ chính mình, phải có một trái tim yêu thương và một mối quan hệ mật thiết với Chúa để tất cả chúng ta đừng đi lạc xa khỏi đoàn chiên và vị chủ chăn tốt lành. Thỉnh thoảng cuộc sống xô bồ và những lời ngọt ngào của thế gian dễ làm tất cả chúng ta rời bỏ đàn chiên. Tất cả chúng ta muốn đi xa khỏi tầm nhìn của Chúa đến độ Người không nhìn ra tất cả chúng ta. Không còn muốn nghe lời của chủ chiên. Vì không còn thấy Chúa lắng nghe, không còn chăm sóc tất cả chúng ta nên tất cả chúng ta dễ cất bước theo tiếng gọi ngọt ngào của thế gian. Thế nhưng, Chúa Giêsu, vị mục tử nhân lành vẫn yêu thương và tìm kiếm cũng như tha thứ cho tất cả chúng ta. Ngài biết rõ từng tên, từng nhu cầu của mỗi người tất cả chúng ta. Không chỉ biết, người còn thông cảm với từng hoàn cảnh của tất cả chúng ta. Người biết tận đáy lòng tất cả chúng ta, nên Người có thể chăm sóc, ủi an từng người tất cả chúng ta.

Không chỉ vậy, Người còn cho tất cả chúng ta một món quà quí giá là sự sống đời đời, sự sống của chính bản thân Người. Người đã dùng chính sự sống mình mà chuộc lấy và bảo vệ đàn chiên là tất cả chúng ta. Vì vậy, tất cả chúng ta hãy sẵn sàng để cho Người chăm sóc, lo ngại cho tất cả chúng ta.

Chúa nhật IV Phục sinh ngày hôm nay, Giáo Hội mời gọi tất cả chúng ta nguyện cầu cho các giáo sĩ và tu sĩ. Tất cả chúng ta nguyện cầu cho toàn bộ những người hiến đời mình để phục vụ Thiên Chúa và đoàn chiên Chúa, Giáo Hội. Và nhất là nguyện cầu xin Chúa ban ơn khuyến khích những người trẻ, biết đáp lại một cách ngay lành và quảng đại ơn gọi của Chúa để phục vụ những anh chị em khác, giúp mọi người nghe và hiểu được lời mời gọi của vị chủ chăn duy nhất trên đoạn đường tiến đến sự sống đời đời. Giáo Hội đang thiếu các mục tử và nhất là các mục tử tốt lành, tất cả chúng ta hãy cầu xin cho thanh niên biết lắng nghe tiếng gọi của Chúa và nhất là có đủ dũng cảm để bước theo tiếng gọi đó bằng cuộc sống dâng hiến trọn vẹn cho Chúa để phục vụ tha nhân… Sự hy sinh hầu như tuổi trẻ có thừa, nhưng cần rất nhiều yếu tố xã hội góp phần để tuổi trẻ thực hiện quyết định hy sinh, quảng đại của mình: cha mẹ, gia đình, và họ đạo có đóng góp thêm phần huấn luyện ơn gọi thì ơn gọi mới nảy nở và mới được đảm bảo. Trong sứ điệp ngày toàn cầu nguyện cầu cho ơn thiên triệu, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã viết: “Tôi nói với bậc cha mẹ, dựa vào lòng tin, rằng họ có thể nếm hưởng niềm vui của ân sủng sẽ vào nhà họ, khi một con trai hay con gái của họ được Chúa gọi để phục vụ Ngài… Đặc biệt, tôi hướng về giới trẻ của ngày nay và tôi nói với họ: Hãy dể cho Đấng Vĩnh Cửu quyến rủ các bạn, và tôi lập lại lời ngôn sứ Giêrêmia (20,7): “Ngài đã làm cho tôi say mê, lạy Chúa…Ngài đã chinh phục tôi và Ngài đã mạnh hơn tôi”…”Hãy để Đức Kitô quyến rủ các bạn. Hãy để gương Ngài lôi cuốn các bạn. Hãy để tình yêu của Thánh Thần yêu mến các bạn…Hãy say mê Đức Kitô để sống cuộc sống của Ngài, hầu nhân loại có sự sống trong ánh sáng Tin Mừng…”. Ngài còn nhấn mạnh: “Thời đại chúng ta sẽ nghèo nàn đi biết bao, nếu sự hiện diện của những cuộc đời dâng hiến cho tình yêu trở nên khan hiếm. Xã hội chúng ta sẽ nghèo nàn đi biết bao, nếu không được thúc đẩy để ngước nhìn lên nơi có những niềm vui chân thật! Giáo Hội chúng ta cũng sẽ nghèo nàn đi biết bao, nếu thiếu những gì biểu lộ một cách cụ thể và mạnh mẽ tính thời sự vĩnh cửu của việc dâng hiến cuộc đời vì Nước Trời”. Cuối cùng, Ngài giao phó thanh niên cho Đức Trinh Nữ Maria, đặc biệt các thanh thiếu niên đã được gọi bước theo Chúa Giêsu. Mẹ biết rõ toàn bộ những khó khăn, tranh đấu và trở ngại các bạn trẻ phải trải qua. Xin Mẹ giúp các bạn trẻ biết nói lên câu: “Xin Vâng” đền đáp tiếng gọi của Chúa, như mẹ đã thưa khi được Sứ thần truyền tin.

Còn phần tất cả chúng ta, mỗi người nhất là giáo dân tất cả chúng ta phải biết quảng đại, hy sinh phục vụ dân Chúa trong cộng đoàn họ đạo tất cả chúng ta bằng những lời xây dựng yêu thương, bằng những đóng góp kẻ công người của để phục vụ cộng đoàn của mình. Tóm lại, mỗi người phải luôn ý thức rằng mọi việc trong họ đạo không phải chỉ là việc của linh mục, mà là của toàn bộ mọi người. Tất cả chúng ta hãy lắng nghe và bước theo chân Chúa Giêsu Kitô Phục sinh, để tiến về cuộc sống vĩnh cửu trong sự tươi vui phấn khởi, sẵn sàng dấn thân hy sinh và chia sẻ những khó khăn cho anh chị em đồng loại.

Lạy Chúa Giêsu là Mục tử tối cao, cám ơn Chúa đã yêu thương, tận tình chăm sóc chu đáo cho chúng con là đàn chiên Chúa, tận tình đến nỗi đã hy sinh mạng sống mình chết cho đàn chiên để chúng con được sống và sống dồi dào. Xin cho nhiều người dũng cảm bước theo Chúa để được nhận làm tông đồ truyền bá tình yêu và lòng thương xót của Chúa. Đồng thời, xin cho chúng con biết lắng nghe và bước theo Chúa một cách dứt khoát để không phụ tình Chúa đã yêu thương mà cứu chuộc chúng con. Amen.

 

15. Vị Chủ Chăn Nhân Lành – Ŕ. Veritas

(Trích trong ‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’)

Chúa Nhật thứ tư Phục Sinh là Chúa Nhật Chúa Chăn Chiên Lành, ngày nguyện cầu cho các ơn gọi linh mục, tu sĩ nam nữ. Bài Phúc Âm nhắc tất cả chúng ta nhớ lại mối tương quan giữa Chúa Giêsu và mỗi tín hữu. Chúa Giêsu là Đấng chăn chiên tốt lành, là Đấng bảo vệ đoàn chiên, là nền tảng, là mẫu mực cho mọi vị chủ chăn tương lai được Ngài trao quyền chăn dắt đoàn chiên.

Cuốn phim về cuộc sống ông Bach Adams, trình bày cho tất cả chúng ta thấy một phần tư cách phi thường, khác thường đến độ bị kẻ khác xét như một người điên. Này là tư cách của ông Bach Adams: ông tìm tòi ra chiều kích nhân bản tương quan giữa người với người trong việc chữa trị người bệnh. Người bệnh sẽ hồi phục mau chóng hơn khi mối tương quan giữa bác sỹ và đương sự được tốt đẹp. Thái độ của ông Bach Adams rất khác biệt với thái độ cứng nhắc, vô tâm, vô tình của bác sỹ tâm thần không màng nghe người bệnh. Thái độ của ông Bach Adams bị thử thách khi người mang ơn những trợ giúp nhân đạo của ông không những không tri ân mà còn hành động tàn bạo giết chết người yêu của ông. Adams cảm thấy sự hy sinh của mình bị xúc phạm, bị lợi dụng và muốn bỏ cuộc. Tác giả cuốn phim cho tất cả chúng ta thấy rằng chỉ khi nào Adams chấp thuận hy sinh, cho đi toàn bộ, thực sự cho đi toàn bộ, thì ông mới trung thành được với sứ mệnh. Đây có thể nói là một lối sống thí mạng cho kẻ khác, lối sống của vị chủ chăn chiên hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên.

Lòng quảng đại suông không bị thử thách, không quảng đại hy sinh, không phải thí mạng cho kẻ khác thì chưa phải là lòng quảng đại của vị chăn chiên nhân lành. Ngày ơn thiên triệu, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã từng mời gọi các bạn trẻ hãy quảng đại đáp lại lời mời gọi theo Chúa, đây không phải là thứ lòng quảng đại lãng mạn, quá lý tưởng, không được trổ tài ra bên ngoài bằng hành động hy sinh rõ ràng. Và do đó sẽ không kiên trung kéo dài lâu, gặp khó khăn sẽ đơn giản nản lòng. Hy sinh là định luật để được trưởng thành và vững mạnh.

Một ngày kia, Chúa Giêsu đã xuất hiện cho thánh Giêrônimô và hỏi: – Này Giêrônimô, ngày hôm nay con có gì để dâng cho Ta không?

Thánh Giêrônimô đáp: – Con dâng cho Chúa toàn bộ những bộ sách con đã viết và nhất là bộ Kinh Thánh con vừa mới dịch xong.

Chúa Giêsu mỉm cười chấp thuận nhưng chưa hoàn toàn thỏa mãn, Ngài hỏi thêm: – Con còn tồn tại gì nữa để dâng cho Ta không?

Thánh Giêrônimô không chút do dự trả lời: – Con dâng cho Chúa toàn bộ những hy sinh, khốn khó con gặp thường ngày từ trước tới giờ. Con dâng cho Chúa trọn cả cuộc sống tu trì của con đây.

Chúa Giêsu chấp thuận nhưng vẫn chưa mãn nguyện, Ngài lại hỏi lần thứ ba: – Con còn tồn tại gì để dâng cho Ta nữa không?

Lần này, thánh Giêrônimô tỏ vẻ phân vân và nhỏ nhẹ thưa cùng Chúa: – Thì con đã dâng cho Chúa toàn bộ rồi, còn gì tốt đẹp nữa đâu mà con có thể dâng cho Chúa được.

Chúa Giêsu nhìn Giêrônimô với đôi mắt nhân từ, tràn ngập yêu thương và phán: – Giêrônimô, vì sao con không dâng cho Ta những tội lỗi, những tật xấu của con? Con giữ nó làm gì? Ta đã xuống thế, chịu chết trên thập giá là để đền tội lỗi con mà.

Thánh Giêrônimô dâng cho Chúa toàn bộ, kể cả những tội lỗi của mình.

Mẩu truyện này phần nào diễn tả toàn bộ tâm hồn tràn ngập yêu thương của Chúa so với mỗi người tất cả chúng ta. Ngài biết rõ tất cả chúng ta như chủ chăn biết rõ từng con chiên. Ngài đến với mỗi người tất cả chúng ta và đưa ra cùng một thắc mắc: “Con có gì dâng cho Ta hôm nay không?”, ngoài những gì tốt đẹp nhất mà sức hèn nhân loại có thể thực hiện để dâng cho Chúa, tất cả chúng ta còn được Chúa thân mật mời gọi đừng sợ, hãy dâng cho Chúa cả những tội lỗi của mình. Chúa yêu thương tất cả chúng ta, thật khác với mọi lãnh tụ trần gian, chỉ muốn thuộc hạ dâng cho mình điều tốt. Chúa Giêsu, Đấng chăn chiên nhân lành, vì Chúa là Chúa, nên muốn tất cả chúng ta dâng cho Ngài những điều tốt lẫn những điều xấu, vì Ngài có đủ quyền năng để thay đổi những điều xấu, thanh tẩy những tội lỗi tất cả chúng ta nếu tất cả chúng ta muốn.

Hình ảnh vị chủ chăn nhân lành nhắc nhở tất cả chúng ta nhớ lại tình thương yêu, bảo vệ và hướng dẫn của Chúa. Hãy dâng cho Chúa toàn bộ, kể cả những tội lỗi của tất cả chúng ta. “Chiên Ta thì nghe tiếng Ta. Ta biết chúng và chúng theo Ta. Ta cho chúng được sống đời đời, chúng sẽ không bao giờ hư mất và không ai có thể cướp được chúng khỏi tay Ta”. Tất cả chúng ta hãy đến dâng cho Chúa toàn bộ cuộc sống của mình, toàn bộ những điều tốt đẹp, kể cả những điều xấu, những tội lỗi để cho ân sủng Chúa thanh tẩy mỗi người tất cả chúng ta mỗi ngày được nên tốt đẹp hơn.

 

16. Để khỏi bị diệt vong – Lm Ignatio Trần Ngà

Trong các loài thú thì chiên cừu là loài vật hiền từ nhất và cũng yếu đuối nhất. Những loài mãnh thú như sư tử, hổ báo… là những con vật hung tợn, có nanh, có vuốt lại có sức mạnh và sự lanh lẹ phi thường nên có thể đơn giản quật ngã những loài thú yếu đuối hơn và biến những con vật nầy thành mồi ngon cho chúng.

Có những loài thú khác tuy không mạnh mẽ, kiêu hùng bằng sư tử, hổ báo… nhưng ít ra cũng có nanh, có vuốt, có sừng, có quai hàm mạnh mẽ… để săn bắt, vồ xé những con vật khác, hay ít ra cũng để tự bảo vệ mình, như con trâu có sừng để báng; con ngựa, con bò có chân để đá, con dê có đầu cứng như đá để húc, để tự bảo vệ mình khỏi bị đối thủ tấn công.

Chỉ riêng có loài cừu, loài chiên là hiền từ yếu đuối, chẳng có sừng để báng, chẳng có móng vuốt để tấn công, chẳng có răng nanh để cắn xé, chẳng có sức mạnh hay sự lanh lẹ để đối lại địch thù. Đã vậy, khi bị tấn công, nó cũng không có cánh để cất cánh lên ngọn cây cao thoát thân như loài chim, không thể chui xuống hang ẩn trú như loài chuột, cũng chẳng có thể cao chạy xa cất cánh lánh thoát địch thù như loài hươu nai…

Ngoài ra, nó cũng không thể cậy dựa vào những bạn cừu khác, vì những con cừu kia cũng yếu đuối, cũng hiền từ, cũng vô phương tự bảo vệ mình như nó. Cả hàng trăm con cừu không hơn một con chó sói! Thế là nó dành đứng chịu trận cho kẻ thù vồ xé, sát hại, tàn sát… Thật tội nghiệp, thật đáng thương! May ra chỉ có người chăn chiên mới là người duy nhất có thể bảo vệ và cứu nguy cho nó, giúp nó sống còn.

* * *

Xét về một số phương diện, nhân loại tất cả chúng ta tuy cao thượng nhưng cũng rất yếu đuối, lại phải thường xuyên đương đầu với thù trong giặc ngoài rất độc hại, chẳng khác gì con chiên hiền từ đương đầu với cả lũ mãnh thú.

Kẻ thù bên trong tất cả chúng ta chính là những xu thế xấu nằm trong mạch máu mỗi người. Này là óc kiêu căng, là lòng tham vô đáy, là tính ích kỷ, là những ham muốn xấu xa, những khao khát tội lỗi… vẫn luôn nằm vùng, luôn ẩn trú trong ruột gan, trong tim óc nhân loại và có thể chỗi dậy bất kể lúc nào để xui khiến, xúc tiến người ta làm điều xằng bậy, xô đẩy nhân loại vào đoạn đường gian ác tội lỗi. Mấy ai dám nói rằng mình đủ sức thắng lợi những kẻ nội thù nầy. Napoléon là một vị tướng nổi danh trong lịch sử nhân loại, đã lập nên nhiều chiến công oanh liệt vang dội châu Âu… vẫn phải thú nhận rằng: “chiến thắng cả châu Âu không khó bằng chiến thắng chính bản thân mình”.

Còn kẻ thù bên ngoài tất cả chúng ta thì không kể xiết. Có vô vàn cạm bẫy rải rác khắp nơi có thể làm cho nhân loại sa đoạ bất kể lúc nào. Vô số phim ảnh khiêu dâm và bạo lực đang xô đẩy thanh thiếu niên vào đoạn đường sa đoạ. Đếm không xuể sách báo, văn hoá đồi truỵ dưới đủ mọi hình thức… đang huỷ diệt tâm hồn cao đẹp của nhân loại. Các tụ điểm ăn chơi đồi bại mọc lên như nấm khắp nơi. Rượu bia, ma tuý và rất nhiều hình thức kinh doanh xác thịt nhân loại rộ lên khắp chốn… Này là những chiêu thức rất hiểm độc được tung ra để huỷ diệt phẩm chất nhân loại, nô dịch nhân loại.

Đương đầu với thù trong giặc ngoài rất nguy hại như vậy, tất cả chúng ta là những nhân loại vốn mang xác thịt hư hèn yếu đuối, khác nào những chiên non… làm sao kháng cự nổi?

Trong mặt trận nầy, tất cả chúng ta không thể hoàn toàn trông cậy người khác, vì họ cũng yếu đuối như tất cả chúng ta, họ cũng là chiên hiền như tất cả chúng ta. Cả trăm con chiên cũng không thắng được một con sói. Người duy nhất có thể bảo vệ chiên là người chăn chiên. Còn Đấng duy nhất có thể bảo vệ tất cả chúng ta chính là Đấng chăn chiên lành, là Chúa Giêsu.

Hạnh phúc cho tất cả chúng ta vì có Chủ Chiên nhân lành bảo vệ.

Qua Tin Mừng ngày hôm nay, Chúa Giêsu cam kết bảo vệ tất cả chúng ta là chiên của Ngài: “Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi.”

Để được sống đời đời, để khỏi bị diệt vong, tất cả chúng ta phải tuân theo hai điều kiện do Ngài mang ra:

Một là vâng nghe Chúa Giêsu: “chiên Tôi thì nghe tiếng Tôi”.

Nghe tiếng Chúa Giêsu tức là để cho lời của Ngài soi dẫn, để khỏi sai đường lạc lối.

Hai là bước theo Chúa Giêsu: “Tôi biết chúng và chúng theo Tôi”.

Bước theo Chúa Giêsu là đi theo đoạn đường mà Ngài đã đi, hầu hết là vâng theo thánh ý Chúa Cha như Ngài đã nêu gương.

Nguyện xin Chúa Giêsu giúp tất cả chúng ta ý thức thân phận chiên non yếu đuối của mình để tất cả chúng ta đặt trọn vẹn niềm cậy trông nơi Ngài, vâng nghe tiếng Ngài và bước theo vết chân Ngài để khỏi bị diệt vong ở đời nầy và được hưởng sự sống đời đời do Ngài tặng ban.

 

17. Chúa Nhật Chúa Chiên Lành

(Suy niệm của Lm. Giuse Đỗ Văn Thụy)

Tin mừng Ga 10:27-30 Mục tử nhân lành thì «hy sinh mạng sống mình cho đàn chiên», «tôi biết chiên của tôi. Trong Thánh Kinh có rất nhiều câu mô tả những đức tính tốt của những mục tử nhân lành, mà chính Thiên Chúa là mô hình gương mẫu nhất.

SUY NIỆM TIN MỪNG

Ngày nay, tại Palestine, cũng có thể còn thấy cảnh chăn chiên mà Chúa Giêsu đã từng nhìn thấy cách đây hơn 2000 năm. Cảnh những người mục tử Bedouin mang những đàn chiên trở về nhà từ nhiều cánh đồng sau một ngày đi ăn cỏ. Thường vào lúc hoàng hôn, các đàn chiên cùng kéo về qui tụ ở một chỗ để uống nước. Chúng trà trộn lẫn lộn với nhau từ tám hay chín đàn nhỏ trở thành một lũ chiên lớn. Mặc dù lẫn lộn chung với nhau nhưng những chủ chăn không hề lo sợ chiên lạc lũ.

Đến giờ ra về, mỗi chủ chiên thổi lên một tiếng gọi tách biệt – một tiếng còi, tiếng tiêu, tiếng sáo, hay tù và – thì những con chiên trong đàn sẽ tự động rời khỏi đông người theo đàn của mình mà về chuồng. Chúng tự biết chúng thuộc về đàn nào, chúng nghe tiếng gọi của người chủ chăn và đi theo: “chiên của tôi thì nghe tiếng tôi, tôi biết chúng và chúng theo tôi”(Ga 10,27)

  1. Mục tử tốt và xấu trong trong Thánh Kinh

1.1.Mục tử nhân lành

Mục tử nhân lành thì «hy sinh mạng sống mình cho đàn chiên», «tôi biết chiên của tôi. Trong Thánh Kinh có rất nhiều câu mô tả những đức tính tốt của những mục tử nhân lành, mà chính Thiên Chúa là mô hình gương mẫu nhất:

– Yêu thương, trìu mến chiên với toàn bộ tâm hồn: «Chúa tập trung cả đàn chiên dưới cánh tay: lũ chiên con, Người ấp ủ vào lòng, lũ chiên mẹ, cũng tận tình dẫn dắt» (Is 40,11).

– Làm chiên sống no ấm, hạnh phúc: «Chúa chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì» (Tv 23,1); «Dầu qua lũng âm u con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng. Côn trượng Ngài bảo vệ, con vững dạ yên tâm» (23,4).

– Trí não trách nhiệm rất cao: «con nào bị mất, Ta sẽ đi tìm; con nào đi lạc, Ta sẽ mang về; con nào bị thương, Ta sẽ băng bó; con nào bệnh tật, Ta sẽ làm cho mạnh; con nào béo mập, con nào khoẻ mạnh, Ta sẽ coi chừng» (Ed 34,16).

Tóm lại, người mục tử tốt thật sự yêu thương đàn chiên, sẵn sàng hy sinh cho sự an toàn và hạnh phúc của đàn chiên. Thậm chí như Đức Giêsu, người mục tử tuyệt vời nhất, sẵn sàng hy sinh cả mạng sống mình: coi sự sống còn của đàn chiên quý hơn hết sự sống của mình.

1.2.Mục tử xấu

Kẻ chăn chiên thuê hay mục tử xấu thì «không thiết gì đến chiên», «khi thấy sói đến liền bỏ chiên mà chạy: sói vồ lấy chiên và làm cho chiên tán loạn». Thánh Kinh cũng có nhiều câu mô tả hạng mục tử này với những đặc tính:

– Vô trách nhiệm: «con chiên nào mất, nó chẳng quan tâm; con thất lạc, nó chẳng đi tìm; con bị thương, nó không chữa chạy; con mạnh khoẻ, nó chẳng dưỡng nuôi» (Dc 11,16a); «chiên đau yếu, các ngươi không làm cho mạnh; chiên bệnh tật, các ngươi không chữa cho lành; chiên bị thương, các ngươi không băng bó; chiên đi lạc, các ngươi không mang về; chiên bị mất, các ngươi không chịu đi tìm» (Ed 34,4)

– Chỉ nghĩ tới thưởng thức, sẵn sàng bóc lột: «sữa các ngươi uống, len các ngươi mặc, chiên béo tốt thì các ngươi giết, mà đàn chiên lại không lo chăn dắt» (Ed 34,3). Thậm chí bóc lột đến tận xương tủy: «con nào béo thì chúng ăn thịt, rồi lóc luôn cả móng» (Dc 11,16b)

– Tác hại vô cùng đến đàn chiên: «các ngươi đã làm cho đàn chiên của Ta phải tan tác» (Gr 23,2).

Tóm lại, mục tử xấu coi đàn chiên chỉ là phương tiện, bắt chúng phải hy sinh phục vụ cho lợi nhuận riêng tư của mình, không một tí tình thương so với chúng.

  1. Hãy trở nên những mục tử nhân lành

Trong Tin Mừng, Đức Giêsu tự xưng mình là «mục tử nhân lành», luôn yêu thương đàn chiên và sẵn sàng hy sinh mạng sống mình vì đàn chiên. Tất cả chúng ta thường hạn chế ý nghĩa của từ «mục tử», đến nỗi chỉ ứng dụng cho những người lãnh đạo tôn giáo. Thật ra, toàn bộ những ai đảm trách việc lãnh đạo, từ một gia đình đến một quốc gia, từ một xứ đạo, đến một giáo phận, hay Giáo Hội toàn thị trường quốc tế, một cách nào đó, đều có thể gọi là mục tử. Ước chi mọi mục tử đều biết thật sự yêu thương đàn chiên của mình. Ước chi mọi cha mẹ đều yêu thương con cháu, mọi cha xứ đều sẵn sàng hy sinh phục vụ giáo dân, mọi giám mục đều hết lòng chăm sóc các linh mục và giáo dân dưới quyền mình! Ước chi mọi vị lãnh đạo xã hội và quốc gia biết quên những quyền lợi riêng tư để nghĩ đến lợi nhuận chung của nhân dân.Amen.

NGÀY CẦU NGUYỆN CHO ƠN GỌI LINH MỤC VÀ TU SĨ

Ngày hôm nay là ngày Giáo Hội nguyện cầu cho ơn gọi linh mục và tu sĩ. Không cần nói thêm chi nhiều, tất cả chúng ta chắc cũng ý thức nhu cầu linh mục cấp bách đến thế nào cho Giáo Hội: tất cả chúng ta đang thiếu linh mục. Rất nhiều họ đạo không có linh mục.

Ngày xưa Chúa Giêsu đã chỉ cho các môn đệ thấy những đồng lúa chín vàng và bảo “lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít. Chúng con hãy xin chủ ruộng cho thêm thợ gặt đến đồng lúa của Ngài”. Chúa biết nhu cầu của tất cả chúng ta, nhưng Chúa muốn tất cả chúng ta phải cầu xin thì Chúa mới ban ơn. Xin gì?

Xin cho có nhiều thiếu niên, thanh niên quảng đại dâng mình cho Chúa để phục vụ các linh hồn. Và xin cho những người đang theo tiếng gọi của Chúa ngày hôm nay, tức là các chủng sinh, các tu sĩ nam nữ, các em dự tu, được bền tâm vững chí vì cuộc sống tu trì không phải lúc nào cũng thuận buồm xuôi gió, nhiều khi phải lâm vào những hoàn cảnh u tối. Rõ ràng và cụ thể ở đây xin chia sẻ bước đường ơn gọi của cha Gioan Maria Vianey

  1. Thời thơ ấu của Gioan Maria Vianey

Gioan Maria Vianey sinh 08/05/1786 tại Dardilly, cách Lyon khoảng mười cây số. Vianey là con thứ tư trong số bảy anh chị em. Vianey được sống trong bầu khí gia đình đạo đức. Theo cha Alfred Monnin, một người thân quen với gia đình, viết về cha mẹ của Vianey như sau: “Matteo Vianey và Marie Beluse, cha mẹ của thánh nhân, là những người giàu tình cảm và có đời sống Kitô giáo xác tín. Marie, rất dịu hiền, giàu tình cảm, nhẹ nhàng trong lời nói và rất đáng yêu. Người cha thì tính cách mạnh mẽ, cương quyết và trung thực”.

Khi lên mười ba tuổi, Vianey được cha mẹ gởi đến hai người dì ở Ecully (cách đó khoảng sáu cây số), để chuẩn bị giáo lý cho việc xưng tội và rước lễ lần đầu. Tại đây, các dì cũng dạy cậu viết và đọc tiếng Pháp, vì Vianey chỉ biết tiếng địa phương.

Vào mùa hè năm 1799, Vianey được rước lễ lần đầu cùng với mười lăm đứa trẻ khác. Thánh lễ được cha Groboz tổ chức kín đáo trong một căn phòng riêng ở Ecully. Trong thời gian này, ở nước Pháp xảy ra trào lưu chống đối Giáo Hội. Nhà thờ bị đóng cửa, các linh mục bị tóm gọn bớ, toàn bộ nghi thức Kitô giáo đều bị cấm đoán.

  1. Bước đường ơn gọi

Cha Balley, cha sở giáo xứ Ecully, nhận thấy nơi Vianey một tâm hồn đơn sơ và thánh thiện. Ngài tán thành nhận Vianey làm học trò và hứa giúp cậu hướng tới đời sống linh mục. Vào mùa thu năm 1806, Vianey đến ở với các dì của mình, để được học với cha Balley. Sau khoảng thời gian tiếp xúc và trò chuyện với Vianey, ngài nói: “tôi sẽ nhận cậu này, nếu cần phải hy sinh vì Vianey lúc này đã hai mươi tuổi.

Vianey học tiếng Pháp và La Tinh với cha Balley. Học lực của Vianey trung bình nhưng cậu rất chăm chỉ và chịu khó. Vì đã từng là giáo tập của dòng thánh Agustinô trong nhiều năm, nên cha Balley có nhiều kinh nghiệm hướng dẫn các ứng sinh. Ngài nhận thấy nơi Vianey có một đời sống thiêng liêng rất sâu lắng, mặc dù cậu học trò của mình không xuất sắc về trí tuệ.

  1. Việc học của Vianey bị gián đoạn vào năm 1809 vì cậu phải nhập ngũ

Vào thời này, đã xảy ra chiến tranh xảy ra giữa các nước ở Châu Âu. Nhất là giữa Pháp và Tòa Thánh. Napoleon xâm chiếm vương quốc của Đức Thánh Cha. Người trẻ được mời chào lên đường nhập ngũ để phục vụ cho chiến tranh. Nhiều người Công Giáo đứng trước sự bối rối của lương tâm: trung thành với Đức Thánh Cha hay hoàng đế Napoleon? Có rất nhiều lính đã đào ngũ.

Vừa mới nhập ngũ, Vianey ngã bệnh và trải qua mười lăm ngày ở bệnh xá Hôtel-Dieu của Lyon. Sau khoảng thời gian hồi phục, Vianey lên đường đi Roanne để nhập đoàn với những người lính khác. Nhưng tại đây, Vianey lại ngã bệnh và phải ở tại bệnh xá nhiều ngày. Trong thời gian này Vianey gặp một người bạn, tên là Guy quê ở Saint-Priest-la-Prugne. Người bạn này khuyên Vianey rời bỏ việc phục vụ quân ngũ để đến trú ngụ tại Noes. Tại đây, cậu được gia đình bà Claudia Fayot đón nhận và che giấu. Vianey giúp dạy học cho những người con trong nhà này.

Vào tháng 05 năm 1810, bà Claudia Fayot đi Dardilly để tìm hiểu tin tức về gia đình của Vianey. Bố của Vianey rất giận về việc đào ngũ của cậu, bởi ông phải đóng tiền phạt cho chính phủ. Bà Claudia Fayot cũng gặp cha Balley, ngài nói với bà: “Gioan Vianey không thể nào trở nên người lính mà phải là một linh mục”.

  1. Tiếp tục bước đường ơn gọi

Sau mười bốn tháng sống tại gia đình bà Claudia Fayot, vào tháng 03 năm 1811, Vianey trở vể thăm gia đình và rồi cậu đến sống với cha Balley. Ba tháng sau đó, cha Balley giới thiệu Vianey cho đức giám mục Lyon như ứng sinh linh mục. Ngày 01/11/1811, Vianey chính thức vào chủng viện.

  1. Bị loại khỏi chủng viện

Ở chủng viện, đời sống đạo đức, cũng như đức tính tốt lành của Vianey được các chủng sinh nghe đến. Ở đây, các môn học được dạy bằng tiếng La Tinh. Điều này vượt quá khả năng của Vianey. Khi Vianey trình diện để làm bài thi vào tháng hai năm 1814 bị điểm zêrô! Không những chỉ bị loại mà còn bị các ngài phê là không thể làm ứng viên linh mục. Việc đó như một sự suy sụp, thật tội nghiệp.

  1. Niềm vui trở lại

Cha Balley đến gặp các cha giáo chủng viện, ngài nói: xin anh em hãy nhận một cậu bé khởi đầu đi học muộn, anh em đừng yêu cầu nơi cậu ấy như yêu cầu nơi các bạn trẻ khác. Ngài dạy thần học cho Vianey bằng tiếng Pháp và tìm phương pháp phù phù hợp với khả năng của Vianey. Ngài đã thuyết phục được các vị ấy, nhất là cha tổng đại diện, cho làm thử một bài thi môn luân lý. Lần này cuộc thi diễn tiến khá tốt. Các ngài cho thầy nhận các chức nhỏ, và năm sau làm linh mục.

  1. Đoạn đường ơn gọi vẫn còn gian truân

Sau khoảng thời gian được thụ phong linh mục cũng chẳng mấy thanh tao. Một số vị trong Giáo Hội nói với cha Balley: cha đã làm cho Vianey được thụ phong linh mục, vậy cha hãy giữ lại trong giáo xứ Ecully của cha. Ô, cha Balley trả lời, thế thì tốt thôi. Và ngài đã nhận cha Vianey về xứ để làm cha phó của ngài trong ba năm. Là hai vị thánh, hai cha thi nhau làm việc hãm mình đền tội. Dân chúng thán phục và nói: ở giữa đây chúng tôi có những người quá giỏi!

  1. Nhận sứ vụ tại giáo xứ Ars

Rồi cha Balley, cha sở giáo xứ Ecully tử vong. Một ủy ban đại diện giáo dân trong xứ Ecully nhanh chóng lên gặp cha tổng đại diện: xin để cha Vianey ở lại với chúng con, xin để ngài lại cho chúng con, chúng con rất ưng ý, là một linh mục tuyệt vời. Một hồng ân chẳng lúc nào dám nghĩ tới nhưng Bề Trên lại đề xuất Vianey về giáo xứ Ars. Một giáo xứ với hai trăm năm mươi người, năm trăm phật lăng lợi tức hằng năm, thêm hai mươi lăm cho việc thờ phượng, không gì chắc cú, khí hậu xấu bởi vì nhiều ao hồ, chống giáo sĩ, không văn nghệ hay chỉ một phần nào đó thôi, không tôn giáo. Nhà thờ thuôn dài, hẹp, tối tăm. Tháp chuông đã bị quân cách mạng phá đổ: chỉ còn giàn giá với một quả chuông đã bị rạn nứt. Thật là một thảm họa! Nhưng là một vị thánh nên ngài đã vâng lời và lên đường thi hành sứ vụ.

  1. Đời sống tại giáo xứ Ars

Ngày 13/02/1818, cha Vianey đến nhận nhiệm sở mới. Cha sống rất đạm bạc. Lối sống đạo đức và giản dị của cha đã giành được lòng yêu mến của giáo dân. Ngài chia sẻ với người nghèo những gì mình có. Ngài dành nhiều giờ trong ngày để nguyện cầu, ngồi giải tội và thăm viếng giáo dân.

Một người trong giáo xứ đã làm chứng: “ngài cho họ tất cả những gì mình có”. Ngài bán nhiều đồ vật kỷ niệm để giúp người nghèo. Ngài nói: “người nghèo là những người bạn của Thiên Chúa” “Nếu các con có nhiều, thì hãy cho nhiều; nếu các con có ít, thì hãy cho ít; nhưng hãy cho đi với tấm lòng và niềm vui”.

Cha Vianey làm thay đổi đời sống của giáo xứ và giáo dân bằng đời sống nhân đức và yêu thương. Ngài thốt lên: “thật là hạnh phúc khi thấy một Kitô hữu yêu Chúa và yêu tha nhân!” Caterina Lasagne nói về cha Vianey: “đức bác ái của ngài không chỉ giới hạn ở những người đến xin ngài giúp đỡ; ngài còn mang tiền, bánh mì, lúa mì đến tận nhà của những ai túng thiếu”

Từ năm 1830 trở đi, rất nhiều người tuốn đến Ars để được lắng nghe cha Vianey giảng, bởi vì ngài giảng rất thực tiễn và đánh động tâm hồn người nghe. Nhất là, họ đến với ngài để được lãnh nhận bí tích hòa giải. Một làng Ars nhỏ xíu nay trở thành trung tâm đón nhận rất nhiều người đến. Các cửa tiệm buôn bán ở Ars in hình và tượng của cha Vianey để bán cho các khách hành hương. Mọi người khi tiếp xúc với cha Vianey, họ đều thừa nhận sự thánh thiện của vị linh mục. Nhiều người thu được ơn thay đổi trong đời sống thiêng liêng từ cha Vianey, nhưng ngài luôn khiêm tốn đáp lại: “Thiên Chúa nhân lành đã chọn tôi để trở nên một công cụ của ân sủng cho những hối nhân, bởi vì tôi là một linh mục đáng thương và dốt nát nhất trong số các linh mục”.

  1. Đồng ý thử thách, không ca thán

Vianey không lúc nào nghĩ: 𝓐, các ngài đã đuổi tôi ra khỏi chủng viện, cũng từng không trao cho tôi giáo xứ Ecully, lúc này tôi nổi tiếng, thì các ngài lại đến quanh tôi! Vianey luôn tỏ lòng kinh trọng so với ba giám mục của ngài: không lúc nào có ai nghe ngài than phiền về những chuyện này. Những chuyện nhỏ, nhưng anh em thấy đó, ngay cả so với cha phó kia… ngài luôn tế nhị! Nhân đức, sự thánh thiện của cha sở họ đạo Ars không nằm trong những việc ăn chay của cha, nhưng trong những việc nhỏ xíu: tòa giám mục không hiểu, tòa giám mục chống lại, đức giám mục nên tốt hơn chỉ vì lúc này ai cũng nói ngài là thánh; trước đó không ai nhận xét ngài như vậy. Từ những chuyện này mà ngài đã làm thánh.

  1. Cha Gioan Maria Vianey tạ thế và được phong thánh

Trong năm 1859, sức khỏe của cha Vianey yếu dần. Ngài lãnh nhận bí tích xức dầu và Thánh Thể trong nước mắt: “cha khóc khi nghĩ đến Thiên Chúa, Ngài quả là tốt lành khi đến viếng thăm chúng ta vào những giây phút cuối cùng”. Từ giường bệnh, ngài giơ tay chúc lành cho rất đông giáo dân đang tụ tập nguyện cầu bên trong và bên ngoài nhà thờ.

Ngày 04/08/1859, cha Vianey trở về nhà Cha trên trời. Caterina Lasagne viết lại giây phút cuối cùng của cha Vianey trong nhật ký: “cuộc đời hy sinh của người tôi tớ Chúa đã ra đi”.

Đức Thánh Cha Piô XI đã nâng cha Gioan Maria Vianey lên bậc hiển thánh vào ngày 31/05/1925.

 

18. Người chết vì yêu! – Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

Trong thiệp báo tin Maria Cristina Cella Mocellin tử vong không mang màu đen tang chế nhưng được viền màu xanh trông mong của cây cỏ tươi. Trung tâm nổi trội cánh hoa hồng, đọng những giọt sương mai lóng lánh. Bên trong là di ảnh của Cristina, tươi trẻ, duyên dáng và lộng lẫy trong chiếc áo ngày cưới. Bên dưới bức ảnh là lời nguyện trích từ nhật ký của Cristina lúc còn thiếu nữ: Lạy Cha, xin dâng Cha niềm vui của con như ca khúc chúc tụng Cha, trái tim con như căn nhà tiếp đón Cha và cuộc sống con để Cha thực hiện điều Cha muốn.

Và… cuộc sống Cristina kết thúc vào năm 26 tuổi. Chiếc bướu ung thư ác tính nơi tử cung mắc phải năm 18 tuổi, tưởng đã chữa lành, nào ngờ tái xuất hiện. Nàng đã có hai con một trai một gái. Cristina đang đợi đứa con thứ ba. Khi vị bác sỹ báo hung tin: “Cristina, tôi rất tiếc phải cho bà biết chứng ung thư quái ác tái xuất hiện”, Cristina lặng im một giây. Lấy lại điềm tĩnh nàng nhìn thẳng vào mắt vị bác sỹ và nói:

– Tôi đang có thai. Tôi đang mang thai, bác sỹ ạ!

Vị bác sỹ hiểu ngay. Ông không dám đề xuất với nàng lối trị liệu hóa học, vì như vậy có nghĩa là giết chết thai nhi!

Maria Cristina sinh hạ Riccardo vào tháng 8 năm 1994. Ngay sau đó, nàng khởi đầu các phương pháp trị liệu hóa học, nhưng quá trễ, bướu ung thư đã ăn sâu nơi nội tạng. Người mẹ trẻ dũng cảm êm ái trút hơi thở cuối cùng ngày 22-10-1995, để lại 3 con thơ.

Đây là một chết chóc đẹp. Chết cho con được sống. Chết để gìn giữ một sinh linh nhỏ nhắn đã được Thiên Chúa phú bẩm nơi cung lòng của người mẹ. Chắc nịch mai sau thời điểm lớn lên, đứa bé đã được mẹ chết thay đó, sẽ hết lòng cảm ơn mẹ. Nhờ mẹ đã hy sinh tính mạng mình, mà người con được bước vào cuộc sống.

Có thể nói sự kiện người mẹ trẻ Cristina dám chết cho con được sống, đã hoạ lại hình ảnh rất đẹp của Chúa Giêsu, vị mục tử nhân lành. Người mục tử biết từng con chiên, lo ngại cho từng con chiên, chăm sóc cho từng con chiên, sẵn sàng chết cho đàn chiên. Chính Chúa đã từng nói: “Tôi là mục tử nhân lành. Tôi biết chiên của tôi và chiên tôi biết tôi. Tôi ban cho chúng sự sống đời đời. Không bao giờ chúng phải diệt vong”. Thật là hạnh phúc cho cuộc sống tất cả chúng ta, vì Chúa biết từng người tất cả chúng ta. Chúa lưu tâm đến từng hoàn cảnh của tất cả chúng ta. Chúa còn bao bọc chở che tất cả chúng ta bằng biết bao ơn lành hồn xác. Sống dưới sự chăm sóc của Chúa, tất cả chúng ta không chỉ hạnh phúc ở đời này mà còn hạnh phúc cả đời sau, miễn là tất cả chúng ta biết nghe tiếng Chúa và bước đi trong đường lối của Chúa.

Tình thương của người mục tử không chỉ dừng lại ở việc chăm sóc dưỡng nuôi tất cả chúng ta, mà con dám thí mạng sống mình vì tất cả chúng ta. Tử vong trên thập tự giá là bằng cớ hùng hồn cho một tình yêu to lớn đến nỗi dám chết để đổi lại sự sống cho tất cả chúng ta. Ngài còn đi đến đỉnh cao của sự dâng hiến trọn vẹn là trở nên lương thực nuôi dưỡng tất cả chúng ta. Với tấm bánh đơn sơ nhỏ xíu, Chúa muốn hoà tan trong tất cả chúng ta để tất cả chúng ta được ở lại trong Chúa, và nên một trong Chúa. Qua đó, Chúa cũng muốn mượn lấy bản tính nhân loại của tất cả chúng ta, để Ngài lại có thể tiếp tục yêu thương và phục vụ cho đàn chiên được sống ấm no và hạnh phúc.

Toàn cầu ngày hôm nay rất cần những tấm lòng dám hy sinh cho nhau, dám vì lợi nhuận của tha nhân mà quên mình phục vụ, mà quảng đại trao ban. Toàn cầu sẽ cằn cỗi và hoang tàn nếu không còn những nhân loại dám hy sinh đời mình để phục vụ anh em. Nhưng rất mừng, vì cuộc sống vẫn còn đó biết bao tấm lòng luôn quên mình phục vụ một cách quảng đại và vô vị lợi như mẹ Têrêsa thành Calcutta. Cuộc sống vẫn còn đó, những nhân loại biết tôn trọng sự sống của con cháu mà quên đi tính mạng mình như người mẹ trẻ Cristina. Cuộc sống vẫn còn đó, những nhân loại đã từ khước niềm vui trong bậc sống vợ chồng, để dâng hiến phục vụ cho tin mừng Nước Trời trong bậc sống linh mục, tu sĩ. Vâng, có vẻ cuộc sống ngày hôm nay vẫn tươi đẹp vì biết bao người cha, người mẹ, chấp thuận một nắng hai sương, lặn lội nơi ruộng vườn và ngược xuôi nơi bến chợ để lo cho từng cuộc sống những người con. Và còn đó biết bao người, tuy không danh phận giữa đời, nhưng sẵn lòng làm bất kể điều gì, miễn là mang lại niềm vui cho anh em. Và còn rất nhiều những cuộc sống rất lặng thầm đang vẽ lại hình ảnh người mục tử nhân lành, khiêm tốn cúi mình băng bó những vết thương đau của đồng loại bằng tình thương và phục vụ một cách quảng đầy hy sinh.

Ngày hôm nay, ngày dành riêng để nguyện cầu cho ơn gọi làm linh mục và tu sĩ, tất cả chúng ta hãy xin Chúa ban thêm nhiều vị mục tử tốt lành để chăm sóc đàn chiên của Chúa. Những mục tử biết hoạ lại khuôn mẫu của vị mục tử nhân lành luôn sống hết mình vì đàn chiên, luôn tận tuỵ chăm sóc đàn chiên của Chúa. Tất cả chúng ta cũng xin Chúa cho những bậc làm cha, làm mẹ biết giáo dục và hướng dẫn con cháu sống trí não tin mừng để hiến dâng cho Giáo hội những mần giống ơn gọi tốt lành.

Nguyện xin Chúa Giêsu, mục tử nhân lành chúc lành cho hết thảy những ai đang khao khát dâng hiến cuộc sống để phục vụ cho lợi nhuận tha nhân và Nước Trời. Amen.

 

19. Khao khát sống đời đời – Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

Là người ai cũng khao khát được sống và sống đời đời. Không ai nghĩ rằng mình sinh ra – chết rồi hết một kiếp người. Nhân loại dù có niềm tin hay không cũng đều khao khát được sống lâu và sống trường sinh.

Nhưng xem ra nhân loại luôn bất lực trước chết chóc. Nhân loại phải nhắm mắt xuôi tay chiều theo số phận. Cho dù người có tiền, có quyền thế nhưng họ vẫn không lúc nào thỏa mãn nỗi khao khát sống trường sinh của mình. Nỗi khao khát đó được trổ tài qua nhiều thế hệ nhân loại ra đi tìm một thứ gọi là linh dược trường sinh.

Có vẻ, ai trong tất cả chúng ta cũng từng nghe đến Tần Thủy Hoàng nước Trung Hoa. Theo sử sách: vào Năm 221 trước công nguyên, Tần Doanh Chính diệt xong lục quốc, thống nhất toàn cõi Trung Hoa, xưng là Tần Thủy hoàng thượng, có ý muốn truyền ngôi đến vạn đời.

Tần Thủy Hoàng tin thần tiên, dùng bọn phương sĩ, muốn tìm thuốc trường sinh đặng sống lâu, vui hưởng hạnh phúc. Bấy giờ có một người nước Tề tên là Từ Phúc tâu rằng ở biển Đông có ba ngọn núi do thần tiên cai trị là Bồng Lai, Phương Trượng và Doanh Châu, ở đấy có thuốc trường sinh bất tử. Thủy Hoàng mừng lắm, bèn cấp nhiều thuyền lớn, một ngàn đồng nam đồng nữ và lương thực tiền nong dồi dào để Từ Phúc vượt biển tìm thuốc trường sinh.

Nhưng Từ Phúc đi đã lâu mà không thấy về, chẳng rõ đã chết chìm ngoài biển hay không tìm được thuốc nên không dám về. Ông và đoàn tùy tùng đã ra đi mang theo hoài bão khao khát trường sinh của Tần Thủy Hoàng và của nhân loại qua mọi thời kì.

Thực ra, ước muốn trường sinh bất lão không phải là một ước muốn xấu xa. Nhân loại khao khát được sống mãi để yêu, để làm việc, để trợ giúp người khác, để sáng tạo… Đây là ước muốn thật bình thường của nhân loại. Thế nên, nhân loại qua mọi thời kì đã không ngừng theo đuổi những phương cách khác nhau để thoát khỏi vòng quay “sinh lão bệnh tử”. Nhưng từ xưa đến nay, nhân loại mới chỉ kéo dài sự sống thêm vài chục tuổi mà không ngăn được sự chết.

Thực ra, có một Đấng đã thắng lợi thần chết. Một Đấng đã trỗi dạy từ cõi chết. Ngài đã sống từ đời đời và cho đến muôn đời. Ngài chính là Đức Ky-tô, Con Thiên Chúa hằng sống. Ngài đã sinh ra trong thân phận nhân loại. Ngài đã chia sẻ những thăng trầm của đời người. Ngài đã rao giảng về Nước Trời. Một vương quốc hằng sống. Ngài mời gọi nhân loại tham gia vào vương quốc đó trong tư cách con dân của Nước Trời. Chỉ mình Ngài mới có thể làm thoả mãn khao khát sống trường sinh nơi nhân loại mà thôi.

Cuộc sống trần gian là một hành trình tiến về Nước Trời. Ngày hôm nay, Ngài mời gọi nhân loại biết lắng nghe tiếng Người và đi theo Người như con chiên biết nghe tiếng chủ chiên. Khi nhân loại biết nghe tiếng Ngài và bước đi theo Ngài, Ngài sẽ cho họ được tham gia sự sống đời đời với Ngài. Ngài sẽ dẫn nhân loại đến bờ bến hạnh phúc nơi không con khổ đau, oan trái và hận thù, chết chóc. Nơi đó, nhân loại được sống sung mãn trong hạnh phúc với Chúa là Đấng hằng sống.

Tiếng của Ngài luôn mời gọi nhân loại làm điều lành tránh điều dữ. Tiếng của Ngài cũng mời gọi nhân loại sống trong tình nhân ái yêu thương. Sự nhân ái không chỉ dừng lại ở việc yêu người yêu mình mà còn yêu cả kẻ thù. Tình yêu thương không dừng lại việc không làm tổn thương đến ai mà còn biết trợ giúp, chia sẻ với nhau trong vui buồn cuộc sống. Có như vậy, tất cả chúng ta mới được tham gia sống sống đời đời với Chúa.

Ngày hôm nay, ngày dành riêng để nguyện cầu cho ơn gọi làm linh mục và tu sĩ, tất cả chúng ta hãy xin Chúa ban thêm nhiều vị mục tử tốt lành để chăm sóc đàn chiên của Chúa. Những mục tử biết hoạ lại khuôn mẫu của vị mục tử nhân lành luôn sống hết mình vì đàn chiên, luôn tận tuỵ chăm sóc đàn chiên của Chúa. Những mục tử biết say mê nói Lời Thiên Chúa để dẫn dắt dân Chúa đi trong đạo lý vẹn tuyền. Tất cả chúng ta cũng xin Chúa cho những bậc làm cha, làm mẹ biết giáo dục và hướng dẫn con cháu sống trí não tin mừng để hiến dâng cho Giáo hội những mần giống ơn gọi tốt lành.

Nguyện xin Chúa Giêsu, mục tử nhân lành chúc lành cho hết thảy những ai đang khao khát dâng hiến cuộc sống để phục vụ cho lợi nhuận tha nhân và Nước Trời. Amen.

 

20. Chiên Tôi thì nghe tiếng Tôi

(Suy niệm của Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền)

Ai cũng biết điếc là khổ. Người điếc bị người ta coi khinh và còn xem họ như những người chuyên làm phiền người khác. Điều đáng thương là người ta thường thiện cảm với người mù, người què, nhưng lại thường nổi xung và bực dọc với người điếc.

Có một lần tôi đi xức dầu người bệnh, sau thời điểm trò chuyện, tôi hỏi bà cụ có muốn xức dầu không? Bà liền nói: con đâu có đau đầu đâu! Hóa ra bà bị điếc tưởng tôi nói bà có đau đầu không?

Điều đáng thương là người điếc lại cho không biết mình bị điếc nên vẫn vô tư sống.

Có một người đàn ông đi gặp bác sỹ để kể về người vợ của mình. “Tôi cho rằng vợ tôi bị điếc, cô ấy chả nghe thấy tôi nói gì mà toàn khiến tôi phải nhắc lại”.

Người bác sỹ trả lời: “Được rồi, bây giờ anh cứ về nhà. Tối nay đứng cách vợ 6 m và nói một điều gì đó. Nếu bà nhà không trả lời, đứng lại gần 2 m nữa và nhắc lại. Cứ tiếp tục như thế để xem mức độ ngễnh ngãng của bà ấy nặng đến mức nào”.

Người chồng trở về nhà và thực hiện đúng theo hướng dẫn. Ông đứng cách vợ 6 ɱ khi bà đang thái thịt trong bếp và hỏi: “Cưng à, tối nay mình ăn gì vậy?”. Ông không nghe thấy câu trả lời. Ông đứng gần lại 2 ɱ nữa và hỏi lại. Vẫn không có câu trả lời. Ông đứng gần thêm 2 ɱ. Vẫn chẳng thấy gì. Cuối cùng, ông tiến sát lại sau vợ và hỏi: “Em yêu, tối nay mình ăn gì?”.

Cô vợ bực mình quát: “Đây là lần thứ 4 rồi nhá – thịt bò hầm!”.

Ai cũng biết điếc là khổ. Điếc là cách ly với toàn cầu bên ngoài. Điếc là khổ mình và phiền toái với người bên cạnh. Vậy mà, cuộc sống vẫn còn đó những kẻ giả điếc làm ngơ. Họ cố ý bịt tai để khỏi nghe tiếng đồng loại kể cả tiếng Thiên Chúa. Họ giả điếc để sống theo ý mình. Họ cố ý gạt ra ngoài tiếng nói của lương tâm, của sự thật và đạo lý. Họ bỏ mặc lề luật. Họ bỏ ngoài tai lời khuyên dạy của Thiên Chúa và tha nhân. Nhân loại của kẻ giả điếc là tự tách mình ra khỏi cộng đồng xã hội để sống theo ý riêng.

Ngày hôm nay, Chúa bảo “chiên Ta thì nghe tiếng Ta”. Chúa mời gọi tất cả chúng ta là con Chúa hãy sống theo giáo huấn của Chúa. Hãy bước đi theo đường lối của Ngài. Bước đi theo sự dẫn dắt của Ngài để được bảo vệ, chở che. Ngài sẽ bảo vệ tất cả chúng ta như mục tử bảo vệ đàn chiên khỏi sự tấn công của sói dữ. Ngài sẽ dẫn tất cả chúng ta đến đồng cỏ xanh tươi bên dòng suối mát là ân sủng của Ngài luôn đong đầy trên cuộc sống tất cả chúng ta. Bước đi theo Ngài thì sẽ không đói, không khát lúc nào.

Lời mời gọi: “chiên Ta thì nghe tiếng Ta” đang là tiếng mời gọi nhân loại làm điều lành tránh điều dữ. Ngài tha thiết kêu mời nhân loại sống trong tình nhân ái yêu thương. Sự nhân ái không chỉ dừng lại ở việc yêu người yêu mình mà còn yêu cả kẻ thù. Tình yêu thương không dừng lại việc không làm tổn thương đến ai mà còn biết trợ giúp, chia sẻ với nhau trong vui buồn cuộc sống.

Ngày hôm nay, ngày dành riêng để nguyện cầu cho ơn gọi làm linh mục và tu sĩ, tất cả chúng ta hãy xin cho thanh niên ngày hôm nay nghe được tiếng Chúa kêu mời giữa biết bao ồn ào của cuộc sống. Xin cho họ không chỉ lắng nghe được tiếng nói của sự thật, của đạo lý giữa xã hội đầy scam bon chen mà còn dấn thân bước đi theo tiếng Chúa kêu mời. Tất cả chúng ta cũng xin Chúa cho những bậc làm cha, làm mẹ biết giáo dục và hướng dẫn con cháu sống trí não tin mừng để hiến dâng cho Giáo hội những mần giống ơn gọi tốt lành.

Nguyện xin Chúa Giêsu, mục tử nhân lành chúc lành cho hết thảy những ai đang khao khát dâng hiến cuộc sống để phục vụ cho lợi nhuận tha nhân và Nước Trời. Amen.

 

21. Một đàn chiên duy nhất

(Suy niệm của Lm. Trịnh Ngọc Danh)

Khi ấy, ở Giêrusalem, người ta đang mừng lễ Cung Hiến Đền Thờ. Bấy giờ là mùa đông. Đưc Giêsu đi đi lại lại trong Đền Thờ, tại hang Salomon. Người Do thái vây quanh Đức Giêsu và nói: “ Ông còn để lòng trí chúng tôi phải thắc mắc đến bao giờ? Nếu ông là Đấng Kitô, thì xin nói công khai cho chúng tôi biết”. Chúa Giêsu đáp: “ Tôi đã nói với các ông rồi mà các ông không tin. Những việc tôi làm nhân danh Cha tôi, những việc đó làm chứng cho tôi. Nhưng các ông không tin vì các ông không thuộc đàn chiên của tôi. Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng và chúng theo tôi. Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp chúng khỏi tay tôi. Cha tôi, Đấng đã ban chúng cho tôi, thì lớn hơn tất cả, và không ai cướp chúng khỏi tay Chúa Cha. Tôi và Chúa Cha là một” ( Ga. 10: 27-30).

Chúa Giêsu tự xưng mình là “cửa cho chiên ra vào”; ai qua cửa ấy mà vào thì được cứu, sẽ gặp được đồng cỏ xanh tươi. Ngài cũng tự xưng mình là Mục Tử Nhân Lành“ hy sinh mạng sống mình vì đàn chiên”; Vị Mục Tử Nhân lành ấy đến thế gian để chiên được sống và sống dồi dào: “ Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp chúng khỏi tay tôi. Cha tôi, Đấng đã ban chúng cho tôi, thì lớn hơn tất cả, và không ai cướp chúng khỏi tay Chúa Cha. Tôi và Chúa Cha là một” ( Ga. 10: 27-30).

Ngài biết rõ từng con chiên một. Ngoài việc không để một con chiên nào thuộc đàn chiên của Ngài bị lạc mất, Ngài còn lo kiếm tìm những con chiên chưa thuộc về đàn chiên của mình để mang chúng về thành một đàn chiên duy nhất: “ Tôi còn có những chiên khác không thuộc ràn này. Tôi cũng phải đưa chúng về. Chúng sẽ nghe tiếng tôi. Và chỉ có một đoàn chiên và một mục tử” ( Ga. 10: 16)

Khác với người chăn chiên thuê phó mặc “ sống chết mặc bay” hay ba chân bốn cẳng vội vàng chạy trốn khi thấy sói rừng xuất hiện… người chăn chiên đích thực là một người mục tử nhân hậu, thương mến đàn chiên, tận tình chăm sóc, bảo vệ đàn chiên, thỏa mãn mọi nhu cầu thiết yếu, luôn sát cạnh với chúng hằng ngày, và sẵn sàng thí mạng sống mình vì đàn chiên.

Là Mục Tử nhân lành, Chúa Giêsu biết chiên của Ngài. Ngài biết thân phận nhân loại yếu đuối, biết nhân loại phải chịu tình trạng nô lệ tội lỗi và biết nhân loại cần tình thương, cần sự cứu thoát khỏi sự huỷ diệt…Ngài biết tất cả chúng ta rõ ràng hơn tất cả chúng ta tưởng, vì Ngài là Đấng tạo dựng nên tất cả chúng ta.

Thiên Chúa biết rõ những khó khăn vất vả, những yếu đuối vấp ngã, những bệnh tật khổ đau, những ê chề thất vọng của tất cả chúng ta… Và Người luôn ở bên tất cả chúng ta để an ủi vỗ về, để nuôi dưỡng bổ sức.

Tương quan giữa Thiên Chúa và nhân loại không phải là tương quan chủ- tớ, nhưng là tương quan giữa cha- con, giữa yêu thương và được yêu thương.

Chúa Giêsu Kitô mặc khải cho tất cả chúng ta một Thiên Chúa nhân hậu, đầy tình thương, luôn sát cạnh, gắn bó với tất cả chúng ta trong cuộc sống. Người luôn quan phòng và yêu thương con cháu của mình: “Tôi biết chúng và chúng theo tôi”.

“Tôi biết chúng.” Chuyện đó không thành vấn đề; bởi vì Ngài là Đấng tạo dựng nên tất cả chúng ta. Ngài biết rất rõ những tâm tư , nguyện vọng của tất cả chúng ta. Vấn đề là chiên biết người chăn của mình như vậy nào để nghe tiếng người chăn chiên mà đi theo; đồng thời chính con chiên cũng phải tự nghe đến thân phận của mình.

Nghe, thấy giúp nhân loại nhận ra sự việc đúng hay sai. Từ nhận thức qua việc nghe và thấy, mang đến niềm tin; và từ niềm tin dẫn theo việc chấp thuận đi theo.

Toàn bộ nhân loại là thuộc đàn chiên của Thiên Chúa; và những chiên thuộc đàn chiên của Thiên Chúa là những con chiên “nghe tiếng tôi; tôi biết chúng và chúng theo tôi”.

Có những người không thấy, không nghe, nên họ không biết không tin và không theo thì đã đành; nhưng có những người đã thấy, đã nghe, đã biết nhưng không phải biết bằng con mắt đức tin mà bằng lý luận nhân bản: làm sao một chàng thanh niên, con ông Giuse thợ mộc lại có thể tự xưng mình là Con Thiên Chúa, là Đấng Kitô! Vì vậy họ không tin và không đi theo.

Những người Do thái đã có một niềm tin vào một Đấng Tối Cao nào đó, nhưng họ lại không chấp thuận có một Đấng nào đó nhân danh Thiên Chúa đã tới với họ. Họ đã nghe, đã thấy những việc và những lời Chúa Giêsu giảng dạy đúng như lời các ngôn sứ đã loan báo; nhưng họ vẵn bán tín bán nghi; họ không tin: “ Ông còn để lòng trí chúng tôi phải thắc mắc đến bao giờ? Nếu ông là Đấng Kitô, thì xin nói công khai cho chúng tôi biết”. Và Chúa Giêsu đã lên án họ:“ Tôi đã nói với các ông rồi mà các ông không tin. Những việc tôi làm nhân danh Cha tôi, những việc đó làm chứng cho tôi. Nhưng các ông không tin vì các ông không thuộc đàn chiên của tôi.”

Hoặc cũng có những con chiên đã nghe, biết, theo, nhưng lại muốn giữ độc quyền cho mình việc hiểu biết, không muốn chia sẽ cho người chưa biết:“ Có nhiều người Do thái và tòng giáo theo các ngài, được các ngài khuyên bảo bền đỗ trong ơn nghĩa Chúa”; nhưng nghe, biết mà không theo hay theo ý riêng mình, hẹp hòi trong nhận thức, ghen tức với người khác, độc quyền tôn giáo: “ Đến ngày Sabbát sau, hầu hết cả thành đều đến nghe lời Thiên Chúa. Các người Do thái thấy đám đông dân chúng thì đâm ghen tương, nói lộng ngôn, chống lại các điều Phaolô giảng dạy”. Phaolô và Barnaba dũng cảm nói rằng: “ Phải giảng lời Thiên Chúa cho các ngươi trước tiên, nhưng vì các ngươi từ chối lời Thiên Chúa và tự cho mình không xứng đáng sống đời đời, thì đây chúng tôi quay về phía dân ngoại…..

Có những người chỉ nghe, nhưng biết người chăn chiên của mình bằng niềm tin và họ đã đi theo. Này là những người được Chúa chúc phúc: “ Phúc cho những ai đã không thấy mà tin”.

Khi lãnh nhận Bí Tích Thanh Tẩy, tất cả chúng ta đã trở thành con chiên của Thiên Chúa, tất cả chúng ta thuộc về một đàn chiên là Giáo Hội như Thánh Phêrô đã noi trong thư thứ 1 ( 1 Pr 2: 25): « Xưa kia, anh em như những con chiên lạc, nhưng giờ đây, anh em đã trở về cùng vị mục tử và Đấng canh phòng linh hồn anh em.» Lắng nghe, thực thi Lời Chúa, tuân giữ những điều Giáo Hội truyền dạy là tất cả chúng ta nghe biết tiếng của người chăn chiên, là đi theo sự hướng dẫn của đức tin, đức cậy và đức mến. Vì « Người dẫn tôi qua những đoạn đường đoan chính, vì danh dự của Người. Dù bước đi trong thung lũng tối, tôi không lo mắc nạn, vì Chúa ở cùng tôi. Cây roi và cây gậy của Người, này là điền an ủi lòng tôi.» ( Tv 22: 3-4)

Điểm tựa và niềm trông mong cho cuộc sống tất cả chúng ta là lời Chúa đã xác quyết: Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không lúc nào chúng phải diệt vong và không ai cướp chúng khỏi tay tôi. Cha tôi, Đấng đã ban chúng cho tôi, thì to hơn toàn bộ, và không ai cướp chúng khỏi tay Chúa Cha. Tôi và Chúa Cha là một” ( Ga. 10: 27-30)

Sống theo đàn, nghe biết tiếng người chăn chiên, theo sau người chăn chiên, tránh xa tiếng mời chào của người lạ là sống trong lòng Giáo Hội, sống theo Tin Mừng, là chết đi cho nhân loại tội lỗi để theo chân người chăn chiên đi vào Cửa Chuồng Chiên là Chúa Giêsu Kitô đã chết và đã sống lại.

Nỗi trằn trọc của Vi Mục tử Nhân lành là:“ Tôi còn có những chiên khác không thuộc ràn này. Tôi cũng phải đưa chúng về. Chúng sẽ nghe tiếng tôi. Và chỉ có một đoàn chiên và một mục tử” ( Ga. 10: 16).

Người chăn chiên biết từng con chiên và trái lại, từng con chiên biết người chăn chiên. Làm sao để biết chủ chăn của mình? Qua Kinh Thánh, nhất là Tin Mừng, tất cả chúng ta biết người chăn chiên ấy; và tất cả chúng ta sẽ biết rõ người chăn chiên ấy hơn khi tất cả chúng ta biết sống gần gủi và thân mật hơn với các chiên khác trong cùng đàn chiên.

“Tôi là Gioan đã xem thấy một đám đông không thể đếm được, họ thuộc mọi nòi giống, dòng họ, dân tộc và tiếng nói, đứng trước ngai vàng và trước Con Chiên, họ mặc áo trắng dài, tay cầm là vạn tuế, Họ là những người từ đau khổ lớn lao mà đến, họ giặt áo và tẩy nó trắng trong máu Con Chiên. Vì thế, họ ở trước ngai vàng Thiên Chúa, và ngày đêm phụng sự Người trong đền thánh Chúa, Đấng ngự trên ngai vàng đặt giữa họ. Họ sẽ không còn đói khát; mặt trời và nóng bức sẽ không làm khổ họ, vì Con Chiên đứng trước ngai vàng sẽ thống trị họ, sẽ dẫn họ đến nguồn nước ban sự sống, và Thiên Chúa sẽ lau hết mọi giọt lệ nơi mắt họ” ( Kh. 7:9,14-17)

Viễn tượng mà thánh Gioan đã nhìn thấy sẽ được thực hiện khi “ chỉ có một đoàn chiên và một mục tử”. Toàn bộ nên một!

Tin tưởng, phó thác vào tình thương của Chúa khiến tất cả chúng ta an lòng.

 

22. Mục Tử nhân lành hiến mạng vì chiên

(Suy niệm của Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)

Bước vào Chúa nhật thứ IV Phục Sinh, tất cả chúng ta có dịp đọc lại dụ ngôn “Vị Mục Tử nhân lành”. Phụng vụ mỗi năm trình bày cho tất cả chúng ta một khía cạnh. Năm nay, với vỏn vẹn 4 câu (Ga 10, 27-30), cũng đủ làm nổi trội Chúa Giêsu là Mục Tử tốt lành, thí mạng sống mình vì đàn chiên, Người đến để cho chiên được sống dồi dào (¢.28), qui tụ toàn bộ về một đàn chiên duy nhất, Người là Con Thiên Chúa, và cũng chính là Thiên Chúa (¢.30).

Chúa là Mục Tử

“Mục tử” là hình ảnh rất thân thuộc của nền văn minh nông nghiệp còn trong trạng thái thô sơ của dân du mục vùng Trung Đông, được Chúa Giêsu dùng để diễn tả tương quan “dễ thương” giữa Người và tất cả chúng ta. Dân Cựu Ước thường gọi Chúa là mục tử của mình (St 49, 24 – 31; Gr 31, 10; Mk 7,14 𝒱.𝒱 …), vì khởi đầu lịch sử thánh, dân được chọn là dân du mục trên hành trình về Đất Hứa, trước tiên là Abraham từ Ur đến Canđê, thứ đến là Môsê, kẻ chăn cừu, cho tới Đavít cậu bé chăn cừu ở Belem.

Chúa là mục tử đích thực của dân Israel kể từ khi Chúa chọn họ làm dân riêng và hứa không để dân bị phân tán như đàn chiên không người chăn dắt. Chính Chúa chăn dắt dân Chúa: “Này đây Ta chăm sóc chiên Ta” (Ҳ. Ed 34). Trách nhiệm mục tử này được trao cho các vị lãnh đạo dân Chúa.

Mục tử tốt lành thí mạng sống vì chiên

Chúa Giêsu tự xưng “là mục tử tốt lành” (Ga 10, 11). Trong hang toại đạo, người ta tìm thấy hình ảnh Chúa Giêsu với vẻ dịu dàng, trìu mến của người chăn chiên, vác chiên trên vai, tìm kiếm con chiên lạc, mang chiên về với đàn của chúng để cùng chia sẻ một đồng cỏ xanh tươi. Khi lấy lại hình ảnh người mục tử và tự ví mình như vậy, chứng tỏ Thiên Chúα không chỉ là Đấng dẫn dắt dân, không chỉ vậy còn sẵn sàng, “thí mạng sống vì chiên” (Ga 10, 11). Chúa biết chiên, nên hy sinh mạng sống:“Ta biết chúng và chúng theo Ta. Ta cho chúng được sống đời đời; chúng sẽ không bao giờ hư mất, và không ai có thể cướp được chúng khỏi tay Ta” (Ga 10, 27 – 28).

Trong lời nguyện hiến tế, Chúa Giêsu nguyện rằng: “Vì chúng, Con xin hiến thánh mình Con, ngõ hầu chúng được tác thánh cách chân thật” (Ga 17, 19). Khi tự do vâng phục ý muốn Chúa Cha, tự hiến tế mình trên Thập Giá, Người trở thành “Mục tử nhân lành hiến mạng sống vì đoàn chiên” (Ga 10,11). Đúng là Chiên con cứu chuộc đàn chiên mẹ (Ҳ. Ca tiếp liên lễ PS). Bằng tình yêu trao ban, hy sinh và tận hiến, Người hiến tế chính mình làm của ăn của uống cho tất cả chúng ta. Này là nguyên nhân ngày hôm nay tất cả chúng ta mừng kính Chúa Giêsu Mục Tử Nhân Lành vào Chúa nhật thứ IV sau Đại lễ Phục Sinh, nên Chúa nhật này được gọi là Chúa nhật Chúa chiên lành.

Mục tử tốt lành vác chiên trên vai, ôm chúng vào lòng như người mẹ bồng ẵm con thơ. Chúa Giêsu cũng làm như vậy: mỗi ngày, Người nuôi dưỡng tất cả chúng ta bằng những Lời Hằng Sống và các bí tích của Hội Thánh, giang cánh ta trên thập giá để thâu họp “con cái Thiên Chúa tản mác về lại làm một” (Ga 11,52), đón nhận tất cả chúng ta vào lòng nhân ái của Người. Thật là hình ảnh tuyệt đẹp và đầy cảm động về một Vì Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa đã làm so với tất cả chúng ta là những tạo vật, những con chiên của Ngài.

Ngày hôm nay, mỗi người tất cả chúng ta tự hỏi: tôi có phải là chiên của Chúa không? Nếu phải thì tôi có nghe tiếng Chúa không ? Chúa nói: “Chiên Ta thì nghe tiếng Ta” (Ga 10, 27). Tiếng ở đây chính là Lời Chúa. Tiếng để tất cả chúng ta nhận ra Chúa, như Maria Mađalêna đã nhận thấy Chúa khi đi viếng mộ Chúa.

Tất cả chúng ta có biết Chúa không và nếu biết thì biết thế nào ? “Biết” ở đây, không có nghĩa là “biết” nhờ đức tin, nhưng là “biết” nhờ đức mến. “Biết” được diễn tả qua việc làm, như thánh Gioan viết: “Ai nói mình biết Thiên Chúa mà không tuân giữ các điều răn của Người, đó là kẻ nói dối” (1 Ga 2, 4).

Vậy ai nghe, biết và chân tình đi theo Chúa Giêsu thì được nuôi dưỡng nơi đồng cỏ xanh tươi muôn đời. Đồng cỏ của đoàn chiên đây là gì nếu không phải là cảnh thiên đàng luôn xanh ngắt, khiến tâm hồn tràn ngập niềm vui, nơi có Thiên Chúa luôn hiện diện, nơi đây chiên theo Chúa và làm theo ý Chúa sẽ được hân hoan mừng lễ cùng với các công dân Nước Trời.

Cầu cho ơn mời chào

Trong Sứ điệp ngày toàn cầu cầu cho ơn gọi 2019, Đức Phanxicô viết: “Can đảm liều với lời hứa của Thiên”. Theo Đức Thánh Cha, “ơn gọi là sáng kiến yêu thương của Thiên Chúa, nên theo Chúa phải chấp nhận liều, cần liều với bản thân, nghĩa là để đón nhận tiếng Chúa gọi, cần liều chính bản thân, chấp nhận đương đầu với một thách đố mới; cần từ bỏ tất cả những gì cột chúng ta vào một con thuyền nhỏ, cản ngăn không để chúng ta thực hiện một sự chọn lựa chung kết; chúng ta được yêu cầu có thái độ táo bạo thúc đẩy chúng ta mạnh mẽ khám phá dự phóng của Thiên Chúa dành cho cuộc đời chúng ta” (Ҳ.Sứ điệp cầu cho ơn gọi 2019).

Ngài mời gọi các bạn trẻ đáp lại ơn Chúa gọi khi nói: “Không có niềm vui nào lớn hơn là chấp nhận liều mạng vì Chúa! Đặc biệt với các bạn là những người trẻ, tôi muốn nói: các bạn đừng điếc đối với tiếng Chúa gọi! Nếu Chúa gọi các bạn đi theo con đường này, các bạn đừng rút mái chèo lên thuyền, những hãy tín thác vào Chúa. Các bạn đừng để mình bị lây sự sợ hãi làm các bạn tê liệt đứng trước những đỉnh cao mà Chúa đề nghị với các bạn. Hãy luôn nhớ rằng, với những người bỏ lưới, bỏ thuyền để theo Chúa, Ngài hứa cho họ niềm vui của một cuộc sống mới, làm cho tâm hồn được đầy tràn và Chúa linh hoạt hành trình của họ” (Đức Phanxicô 8-3-2019).

Tất cả chúng ta cũng nguyện cầu cho Giáo hội có thêm nhiều người trẻ đáp lại tiếng Chúa mời gọi. Tất cả chúng ta cũng không quên nguyện cầu cho các mục tử thân yêu của tất cả chúng ta: nâng đỡ, cám ơn và khuyến khích các ngài!

Lạy Mẹ Maria, mẫu gương ơn gọi của chúng con, Mẹ đã không sợ hãi khi thưa tiếng “xin vâng” trước lời mời gọi của Thiên Chúa, xin dạy chúng con bước theo Con Mẹ. Amen.

 

23. Mục tử nhân lành

(Suy niệm của Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)

Chúa nhật thứ IV Phục Sinh theo truyền thống được gọi là Chúa nhật Chúa Chiên Lành vì Tin Mừng Chúa nhật này mời gọi tất cả chúng ta tư duy đặc biệt về hình ảnh của Vị Mục Tử Tối Cao đã hy sinh Mạng Sống Mình vì đoàn chiên. Đức Giêsu muốn không chỉ có các mục tử tiếp bước theo Ngài, mà ngay cả những người nam nữ dâng mình cho Chúa trong đời thánh hiến, đến lượt mình, cũng xả thân mình để bảo vệ đàn chiên, mang các con chiên lạc trở vể. Ngài mong ước các linh mục với Ơn Ngài trợ giúp sẽ hoàn thiện trách nhiệm dẫn dắt đoàn chiên Ngài giao cho đến đồng cỏ Nước Trời. Chúa nhật Chúa Chiên Lành cũng là một Chúa nhật đặc biệt so với các mục tử là những linh mục đặt mình vào vị trí của Đức Giêsu Mục Tử nhân lành duy nhất. Tất cả chúng ta hãy nguyện cầu cho các linh mục thân yêu: nâng đỡ, cám ơn và khuyến khích các ngài! Tất cả chúng ta cũng nguyện cầu cho Giáo hội Việt Nam có thêm nhiều linh mục lành thánh. Ý chỉ này cũng thật khẩn thiết cho Giáo hội hoàn vũ. Lời ca nhập lễ: Tình thương Chúa chan hòa mặt đất, Lời Chúa sáng tạo chín tầng trời. Allêluia.

* Bài đọc Phụng vụ năm 𝓐

– Tđcv 2, 14; 36-41: Phêrô mời chào dân Israel ăn năn sám hối

– Tv 23, 1: Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì

– 1 Pr 2, 20-25: Đức Kitô là Đấng canh phòng linh hồn tất cả chúng ta

– Ga 10, 1-10: Đức Giêsu là Mục Tử Nhân Lành và là cửa chuồng chiên

* Bài đọc Phụng vụ năm Ɓ

– Tđcv 4, 8-12: Ngoài Đức Kitô, không có Ơn Cứu Độ

– Tv 118, 1: Phiến đá bị thợ xây loại bỏ đã biến nên tảng đá góc tường

– 1 Ga 3, 1-2: Trong Tình Yêu của Người, Người làm cho tất cả chúng ta trở nên nghĩa tử của Người

– Ga 10, 11-18: Mục tử tốt lành thí mạng sống vì chiên

* Bài đọc Phụng vụ năm ¢

– Tđcv 13, 14; 43-52: Tin Mừng được loan báo cho dân ngoại

– Tv 100, 1: Ngài dẫn tất cả chúng ta đi trên đường ngay nẻo chính

– Kh 7, 9;14-17: Niềm vui muôn đời giành riêng cho những kẻ được cứu chuộc

– Ga 10, 27-30: Mục tử tốt lành thí mạng sống vì chiên

Cả một chương dài (Ga 10, 1-40) thánh sử Gioan trình lũ Đức Giêsu là Con Thiên Chúa và là Vị Mục Tử Nhân Lành. Phụng vụ năm- ¢ chỉ lấy có 4 câu (Ga 10, 27-30), cũng đủ làm nổi trội Đức Giêsu là Mục Tử Tốt Lành, Ngài là Con Thiên Chúa, và cũng chính là Thiên Chúa(¢.30), Ngài đến để thí mạng sống mình vì đàn chiền, cho chiên được sống dồi dào (¢.28), qui tụ toàn bộ về một đàn chiên duy nhất, Ngài cũng mời gọi tất cả chúng ta làm theo Ngài.

Đức Giêsu là Mục Tử Tốt Lành, Ngài là Con Thiên Chúa, và cũng chính là Thiên Chúa (¢.30).

Ngài tốt lành như Ngài nói: “Ta đến để cho chúng được sống và được sống dồi dào” (¢. 10). Chúa Giêsu Kitô phân biệt hai loại mục tử, một loại người chăn chiên tốt là người dũng cảm lấy thân mình đương đầu chống lại sói dữ để bảo vệ đàn chiên. Đây là điểm nhấn với lính đánh thuê. Kẻ chăn thuê chỉ quan tâm chút ít cho con chiên của mình, vì lợi nhuận riêng cá nhân mà quên đi đàn chiên. Loại mục tử này gây hại cho đàn chiên, vì họ tìm cách ăn trộm các con chiên để làm thịt, không đánh mất chính mình, không từ chối kẻ trộm và không quan tâm đến đàn chiên được giao, vì họ là người chăn thuê. Khi người Do Thái tìm cách giết Đức Giêsu, Ngài đã không ngừng rao giảng, không bỏ rơi các môn đệ, nhưng Ngài bảo vệ họ cách tuyệt đối, chịu chết cho họ. Đây là nguyên nhân vì sao Ngài nói: “Ta là mục tử tốt lành, Ta thí mạng sống Ta vì đàn chiên.” Chúa Giêsu lặp đi lặp lại câu trên để chứng tỏ mình không phải là một kẻ mạo danh. Ngài phán:”Chiên Tôi thì nghe tiếng Tôi, Tôi biết chúng và chúng theo Tôi “. Những gì Đức Giêsu nói, “Tôi biết chiên của Tôi và chiên của Tôi biết Tôi.” Các tông đồ cũng nói như vậy: “Thiên Chúa đã không từ bỏ dân của Ngài mà Ngài biết.” (…) Môi-se nói: “Chúa biết những người của mình.” (Ds 15, 5). Đức Giêsu biết từng con chiên một: “Như Cha biết Ta và Ta biết Cha ” (¢. 15).

Có những tri thức, tuyệt kỹ, Ngài và con chiên không bằng nhau. Cũng có thể có tri thức đồng đẳng chăng? Bởi vì Ngài nói: “Như Cha biết Ta, Ta biết Cha” (¢. 15). Thực tiễn, Chúa Cứu Thế đã muốn minh chứng rằng: “Như Cha biết Ta và Ta biết Cha”. Này là nguyên nhân vì sao Đức Giêsu nói: “Không ai biết Con trừ ra Cha, và những người Con muốn mạc khải cho”.

“Tôi nhận được lệnh này từ Cha của Tôi.” Tất cả chúng ta tự hỏi: Lệnh gì? Lệnh chết cho toàn cầu. “Đây là lý do tại sao Cha yêu Tôi”, điều này cho thấy một ý chí tự do, loại bỏ bất kỳ dấu hiệu của sự đối kháng, ngay cả khi Ngài nói rằng, Ngài đã thu được lệnh của Cha Ngài, nghĩa là không có gì khác Ngài làm đẹp lòng Chúa Cha hơn. Nên khi người Do Thái thách thức: “Nó đã cứu những ai khác, chứ vô phương cứu lấy mình! Nó là Vua Isarel! Hiện giờ hãy xuống khỏi thập giá, và ta sẽ tin vào nó! (Mt 27, 42). Nhưng cũng chính vì Ngài là Con Thiên Chúa, nên Ngài đã không xuống.

Trở lại câu: “Tôi đã nhận được lệnh này từ Cha Tôi”, có người nghĩ rằng công việc này không phải là tự nguyện, và rằng Chúa Giêsu đã bị buộc phải chết. Đức Giêsu nói trước đó: ” Không ai cất mạng sống Ta được; nhưng chính Ta tự mình thí mạng sống Ta; Ta có quyền thí mạng sống Ta. Và cũng có quyền lấy lại; này là lệnh truyền Ta đã lĩnh nơi Cha Ta”. (¢.18). Đức Giêsu chính là Thiên Chúa.

Ngài đến để thí mạng sống mình vì đàn chiên, cho chiên được sống dồi dào (¢.28), Trước đó, Chúa Giêsu cũng nói: “Ta là cửa, ai qua Ta mà vào, thì sẽ được cứu rỗi, người ấy sẽ ra vào và tìm gặp được đồng cỏ ” (Ga 10, 9). Người ấy sẽ vào từ đức tin và ra qua đức tin, và người ấy sẽ gặp được đồng cỏ xanh tươi dẫn mang đến dự tiệc vui muôn đời.

Đàn chiên của người chăn hiền từ nên tìm được một đồng cỏ xanh tươi, vì toàn bộ đàn chiên đi theo người chăn với lòng duy nhất là được dẫn theo ăn cỏ trong đồng cỏ xanh tươi. Còn người chăn chiên với niềm vui thiên đàng sâu thẳm là gì, há chẳng phải là đến được đồng cỏ xanh không lúc nào tàn úa đó hay sao? Người chăn chiên chính là Thiên Chúa, Ngài luôn hiện diện: người ta chiêm ngắm Ngài, khiến tâm hồn thỏa thuê như khách vừa dự tiệc…

Vậy, tất cả chúng ta hãy tìm đến vị mục tử này, tất cả chúng ta sẽ thấy niềm vui thiên quốc được cử hành ở trên trời. Niềm vui ấy mời gọi ta… Hãy thức tỉnh tâm hồn! Ước gì đức tin của tất cả chúng ta sưởi ấm điều tất cả chúng ta tin, và ước muốn của tất cả chúng ta nung đúc những điều cao thượng. Yêu chính là lên đường. Không để lại bất kể điều gì làm giảm đi niềm vui nội tâm. Không để mình rơi vào những quyến rũ bởi sự thành công tâng bốc. Ngu ngốc nhất là người du lịch, khi nhìn thấy những khung cảnh đẹp, quên ngay mục đích của chuyến du ngoạn của mình.

Xem Thêm  Những câu comment, rep cmt hài hước cười nghiêng ngả - bạn có tôi với đại diện

Ngài qui tụ toàn bộ về một đàn chiên duy nhất

Đây là nguyên nhân vì sao Đấng Cứu Thế đến nói: “Ta còn những chiên khác nữa, không thuộc đàn này; các con chiên ấy, Ta cũng cần phải chăn dắt, và chúng sẽ nghe tiếng Ta; và sẽ thành một đàn chiên, một chủ chiên. (16) “. “Cũng phải” Chúa Giêsu Kitô sử dụng thuật ngữ này, không để đánh dấu một vấn đề cần thiết, nhưng để minh chứng rằng điều Ngài nói sẽ xảy đến. Ngài được sai đến trước hết với nhà Israle. Nên theo lời Thánh Phaolô: “Cắt bì chẳng là gì cả, mà không cắt bì cũng chẳng là gì cả, (có là gì ấy là) giữ các lệnh truyền của Thiên Chúa. ” (Ι Cor VII., 19.) “Và Tôi cũng phải mang về đàn.” Chúa Giêsu Kitô muốn nói rằng, toàn bộ Do thái hay Hy lạp, nô lệ hay tự do trộn lẫn với nhau. Sau đó Ngài tuyên bố họ là toàn bộ đều thống nhất, “Và sẽ thành một đàn chiên, một chủ chiên”. Thánh Phaolô cũng nói: “ngõ hầu trong Ngài, Ngài tạo dựng hai loại người ấy nên một người mới; đem lại bình an” (Eph. II, 15.)

Hãy theo gương Chúa Kitô Mục Tử

Hướng tới ngày toàn cầu cầu cho ơn mời chào. Đức Nguyên Giáo hoàng Bênêđictô XVI viết rằng: “Ngày nay vẫn vậy, sống trong cộng đồng các môn đệ là Giáo Hội, Chúa Giêsu Kitô kêu gọi đi theo Người”. Ngài cũng đặc biệt mời thanh niên “hãy trau dồi nét hấp dẫn các giá trị, các mục tiêu nâng cao, các chọn lựa triệt để, để có thể phục vụ tha nhân theo chân Chúa Giêsu”. Chúa Giêsu không ngừng lặp đi lặp lại “Hãy đến! Hãy theo ta”. Theo Chúa Giêsu “có nghĩa là nhấn chìm ý muốn của chính mình vào thánh ý Chúa Giêsu, dành ưu tiên cho thánh ý Người và đặt Chúa Giêsu ở vị trí đầu so với tất cả những gì làm nên cuộc sống chúng ta: gia đình, công việc, những lợi ích ca nhân và bản thân”.

Xin cho thanh niên ngày hôm nay đang ở giữa biết bao những gợi ý nông cạn và phù phiếm, biết chuyên tâm trau dồi nét mê hoặc so với các giá trị, các mục tiêu cao thượng,những chọn lựa triệt để, hầu phục vụ tha nhân theo chân Chúa Giêsu. Hồi đáp quảng đại và nhanh lẹ tiếng Chúa Kitô mời chào đi theo Người sát sao hơn nữa, đặc biệt với các thế hệ mới.

 

24. Lắng nghe tiếng Chúa – Anmai

Mở lại sách Samuel tất cả chúng ta bắt gặp nói tới việc Chúa gọi Samuel đi làm ngôn sứ cho Chúa. Khi nhận thấy tiếng Chúa, Samuel đã mau mắn đáp lại: “Lạy Chúa xin hãy nói, con nghe đây!” (Sm 3, 3-10; 19).

Trải qua dòng chảy lịch sử cứu độ, Thiên Chúa thường gọi một số người để làm các công việc đặc biệt Chúa trao phó. Trong Cựu Ước, Chúa gọi Abraham, Môsê, Davit, các tiên tri 𝒱.𝒱… Trong Tân Ước, Chúa Giêsu đã gọi 12 tông đồ. Này là những ơn gọi đặc biệt, và việc Chúa gọi và chọn ai cũng là một việc nhiệm mầu của Chúa. Chúa gọi và chọn người Chúa muốn. Tuy nhiên, Chúa vẫn tôn trọng tự do của mỗi người; tùy thuộc mỗi người có quảng đại đáp lại tiếng Chúa gọi hay không (Mt 19,16…), Trong Gioan 1, 35-42 nói tới việc Chúa gọi hai anh em ông Anrê và Phêrô. Hai ông đã lắng nghe tiếng Chúa và bước theo Ngài.

Các thánh sử của Phúc Âm Nhất Lãm đều kể lại việc Chúa Giêsu mời chào thánh Matthêu xảy ra ngay sau thời điểm Chúa chữa người bất toại tại Capharnaum. Khoảng một ngày sau phép lạ ấy, Chúa Giêsu đi xuôi theo bờ biển, có đông người dân chúng đi theo Người. Chúa đến đó từ một tp cảng nhỏ nằm giáp miền đất Perea, trên bờ bên kia sông Giođan. Trên đường, Chúa đi qua bàn thu thuế của Matthêu.

Matthêu khi ấy đang làm việc trong nghề thuế vụ của vua Hêrôđê. Mặc dù không phải là một quan chức chính thức, nhưng ngài đã mua quyền được thu thuế. Chức vụ thu thuế không được người Do Thái kính nể, thậm chí còn bị nhiều người khinh bỉ. Tuy nhiên, này lại là một chức vụ rất mê hoặc, vì mang lại của cải giàu sang. Người thu thuế hình như có địa vị cao trong xã hội, vì khi Matthêu khoản đãi Chúa Giêsu trong nhà, có rất đông người thu thuế và những người khác đến đồng bàn.

Chúa mời chào Matthêu làm môn đệ khi Người đi qua bàn thu thuế của ông. Matthêu đã chỗi dậy và đi theo Người. Sự thỏa mãn của Matthêu rất mau mắn và quảng đại. Có vẻ ngài đã nhiều lần được gặp Thầy Chí Thánh, và chỉ chờ đợi thời cơ trọng yếu này mà thôi. Ngài đã không chần chừ trong việc từ bỏ mọi sự để theo Chúa Giêsu. Chỉ một mình Thiên Chúa biết vì sao Người lại tuyển chọn Matthêu, và cũng chỉ một mình thánh nhân mới có thể cho tất cả chúng ta biết ngài đã nhận thấy điểm gì nơi Chúa Giêsu đến nỗi đã nhanh chóng rời bàn thu thuế để đi theo Người. Thánh Gioan Kim Khẩu nói, Tất cả chúng ta thấy vì sự vâng phục mau mắn và trọn vẹn mà Matthêu đã tức khắc từ bỏ toàn bộ tài sản thế gian để đi theo Chúa khi được kêu mời đúng lúc.

Ngày ngày hôm nay, một lần nữa tất cả chúng ta được Chúa Giêsu mời gọi hãy nghe tiếng Chúa và đi theo tiếng Chúa gọi: “Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng và chúng theo tôi. Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi. Cha tôi, Đấng đã ban chúng cho tôi, thì lớn hơn tất cả, và không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha. Tôi và Chúa Cha là một”.

Tất cả chúng ta soi chiếu trang Tin Mừng ngày hôm nay vào mạch văn trong chương 10 của Thánh Sử Gioan: Chúa Giêsu mạc khải chính mình là “mục tử nhân lành“ cho đàn chiên cũng như Đức Giavê xưa so với Dân Ítrael. Chúa Giêsu lúc đó đang “đi đi lại lại“ trong Đền Thờ ở Giêrusalem, tại hành lang Salomôn, vào dịp lễ Cung Hiến Đền Thờ. Người Do Thái vây quanh Chúa Giêsu và chất vấn Ngài: “Ông còn để lòng trí chúng tôi phải thắc mắc cho đến lúc nào? Nếu Ông là Đấng Kitô, thì xin nói công khai cho chúng tôi biết“. (Ga 10, 24).

Đáp lại, Chúa Giêsu trả lời: “Tôi đã nói với các ông rồi mà các ông không tin. Những việc tôi làm nhân danh Cha tôi, những việc đó làm chứng cho tôi. Nhưng các ông không tin, vì các ông không thuộc về đoàn chiên của tôi“ (Ga 10, 25-26). Quả thực, những người Do Thái là Dân Chúa đã tuyển chọn, không chỉ đã không tin, mà họ còn “lấy đá ném Ngài“ vì cho rằng Chúa Giêsu nói phạm thượng: “Ông là người phàm mà lại tự cho mình là Thiên Chúa“ (Ga 10, 33).

Như vậy, tâm tình cốt lõi của mạc khải của trang Tin Mừng Chúa Nhật ngày hôm nay, chính là việc Chúa Giêsu muốn mạc khải Chúa Cha và tuyên xưng mình là Con Thiên Chúa. Chúa Cha là Đấng trao ban đoàn chiên cho Chúa Con. Hình ảnh mục tử hướng dẫn đoàn chiên bắt rễ sâu trong kinh nghiệm “dân du mục Aram“ trong Cự#u Ước: mục tử vừa là thủ lãnh vừa là bạn gắn bó của đoàn chiên. Đức Chúa Giavê bảo vệ đoàn chiên với quyền phép và tình thương để không ai có thể cướp chiên ra khỏi tay Ngài. Này là lịch sử cứu độ nhân loại của Thiên Chúa.

Chúa Giêsu cũng cho thấy mối liên hệ vô cùng mật thiết giữa Ngài và Chúa Cha: “Tôi và Chúa Cha là một“, hiệp nhất trong bản tính, trong uy quyền, trong hành động. Cũng vì lời mạc khải này mà Chúa Giêsu không những bị dân Do Thái ném đá, cho rằng “phạm thượng“, mà sau này còn đóng đinh Ngài trên thập giá.

Dần dần, qua mạc khải của Chúa Giêsu, tất cả chúng ta nhận ra Chúa Cha chính là nguồn mạch sự sống, nguồn mạch tình yêu… và Đức Kitô chính là Đấng Messia. Đức Chúa Giavê trao phó cho các tôi tớ ngài là các Tổ Phụ, các Quan Án, các Ngôn Sứ, các Vua Chúa… thay quyền Chúa chăn dắt Dân Chúa. Nhưng những chủ chăn Ítrael đã tỏ ra bất tài, bất trung với sứ mệnh của họ, bỏ bê đàn chiên, chỉ lo danh lợi dục cho mình, phản loạn không tuân giữ Giao Ước với Thiên Chúa. Nên, vào thời của Tân Ước, Đức Chúa Giavê trao phó đoàn chiên cho Đấng Messia, Đấng Cứu Thế muôn dân trông đợi.

Nhiều lần trong Tin Mừng, Đức Kitô đã mạc khải Ngài là vị Chủ Chăn nhân lành, Đấng Trung Gian độc nhất, là “cửa cho chiên ra vào“ (Ga 10, 7) và “gặp được đồng cỏ“ (Ga 10, 9). Đức Kitô trao ban chính mình cho đoàn chiên với tư cách là “Chúa chiên nhân lành“: Ngài không những biết từng con chiên, dẫn chiên đi vào “đồng cỏ xanh tươi“, luôn tiên phong đàn, sẵn sàng tranh đấu bảo vệ đoàn chiên khỏi nanh vuốt sói dữ, mà còn hy sinh mạng sống mình cho từng con chiên (Ga 10, 15. 17). Một cuộc sống mới và một mối liên hệ mới được vĩnh viễn thiết lập: “Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng và chúng theo tôi. Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không lúc nào chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi“.

Chúa Giêsu Kitô đến bên từng người tất cả chúng ta – cho dù tất cả chúng ta đang sống trong độ tuổi hoặc hoàn cảnh nào – và ánh nhìn của Chúa tiếp xúc với ánh nhìn tất cả chúng ta một cách cá biệt. Người mời gọi tất cả chúng ta bước theo. Trong hầu như các trường hợp, Chúa để tất cả chúng ta lại giữa trần gian, công việc, và gia đình. Hãy tư duy về điều Chúa Thánh Thần đã phán, và hãy để bạn biết sợ hãi và tri ân: ‘Elegit nos ante mundi constitutionem’ – Người đã tuyển chọn tất cả chúng ta trước khi tạo dựng thế gian, ‘ut essemus sancta, in conspectu eius!’ – để tất cả chúng ta nên thánh thiện trước mặt Người.

Thiên Chúa đã nói với tất cả chúng ta nhiều lần và bằng nhiều cách thế khác nhau. Ngài nói với tất cả chúng ta qua Kinh Thánh, Ngài cũng nói với tất cả chúng ta qua Giáo Hội, những lời giảng dạy của Đức Thánh Cha, các giám mục và linh mục, những người có bổn phận săn sóc và dạy dỗ tất cả chúng ta. Thiên Chúa cũng nói với tất cả chúng ta qua tha nhân và qua những dấu chỉ của thời kì cùng những sự vật và hiện tượng đang diễn tiến trong dòng lịch sử. Và Thiên Chúa cũng thực sự nói với tất cả chúng ta khi tất cả chúng ta nguyện cầu. Sống trong tương quan thân tình với Ngài, này là nguyên nhân tất cả chúng ta phải chuyên cần nguyện cầu trong hoàn cảnh, mọi nơi và mọi lúc để học hiểu rằng điều Thiên Chúa đã nói với mỗi người tất cả chúng ta

Chuyện trọng yếu là tất cả chúng ta có lắng nghe tiếng Chúa gọi hay không mà thôi.

Lắng nghe trước hết là đón thu được thánh ý Thiên Chúa, rồi trổ tài ra bằng cuộc sống thường nhật của tất cả chúng ta. Thánh ý Thiên Chúa khi đó sẽ điều khiển tư tưởng, ý nghĩ, tâm hồn, lời nói và hành động của tất cả chúng ta để tất cả chúng ta trở thành những người bạn tốt của anh chị em.

Lắng nghe tiếng Chúa là yêu thương. Toàn bộ những ai lắng nghe Chúa Giêsu đều là những người đã được đào luyện trong tình yêu. Lắng nghe là yêu thương. Tuy cũng từng cật vấn Chúa Giêsu khi Ngài thân thưa với Chúa Cha: “Làm sao con có thể cho đi chính mình con một cách quảng đại trong tình yêu nhờ đó ý Cha được hoàn trọn trong cuộc sống của con?”

Như vậy, lắng nghe cũng là một dạng thức của tình yêu nhân ái, tình yêu của Thiên Chúa. Tình yêu đó cũng chính là sự thánh thiện của Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã dạy tất cả chúng ta yêu. Yêu Chúa trọn vẹn và yêu như Chúa yêu, để trở nên món quà dễ thương so với Chúa và với mọi người. Thiên Chúa trao tặng cho tất cả chúng ta một lý tưởng cao đẹp như vậy nên toàn bộ những gì tất cả chúng ta phải làm là gì nếu không phải là tin tưởng vào Ngài, lắng nghe Ngài và tình yêu Ngài. Tất cả chúng ta cũng chẳng còn sợ điều chi bởi vì Chúa luôn yêu thương tất cả chúng ta. Tất cả chúng ta tin rằng chỉ có một đoạn đường dẫn theo tình yêu đích thực so với Thiên Chúa và với tạo vật là lắng nghe Thiên Chúa và mến yêu Ngài. Mong rằng lắng nghe tiếng Chúa là khát vọng nuôi dưỡng tất cả chúng ta trong cuộc lữ hành trần thế.

 

25. Chúa Nhật Chúa Chiên Lành

(Suy niệm của Lm. Alfonso)

Tin mừng Ga 10: 27-30:  Hình ảnh vị mục tử nhân lành ấy được Chúa Giêsu ví chính Người là mục tử nhân lành, rất yêu thương đàn chiên, dám chịu cực khổ, tận tụy hy sinh vì đàn chiên, bảo vệ cho đàn chiên được vẹn toàn.

Suy niệm:

Hiệp thông với toàn thể Giáo hội, ngày hôm nay tất cả chúng ta bước vào Chúa nhật thứ IV Phục sinh, còn được gọi là Chúa nhật Chúa Chiên Lành, cầu cho ơn Thiên Triệu Linh mục và tu sĩ nam nữ. Tất cả chúng ta cầu xin cho Giáo hội có được một số người đáp lại tiếng Chúa để sống đời sống tu trì, chăm sóc đoàn chiên Chúa, tận hiến cho Chúa và phục vụ các tâm hồn.

Chiên cừu là một trong những loài gia súc được nhân loại thuần hóa sớm nhất để chăn nuôi lấy thịt, sữa, mỡ, da. Lông chiên còn được dùng để làm ra những tấm khăn, chiếc áo ấm. Trong văn hóa phượng tự Do Thái, người ta dùng chiên cừu vào nghi lễ tạ ơn, hiến tế dâng lên cho Thiên Chúa. Và bởi vì quốc gia Do Thái khô cằn, người mục tử, mục đồng chăn dắt đàn vật chiên cừu trên những cánh đồng rày đây mai đó, gắn kết với chúng ngày cũng như đêm. Ban ngày mục tử kiếm những cánh đồng cỏ và nước suối trong cho chiên, ban tối canh phòng chiên khỏi sói rừng và những kẻ cắp. Nơi nào hết cỏ, mục tử di chuyển đàn chiên đến những cánh đồng khác. Và vì có nhiều mục tử chăn các đàn chiên mình gần nhau, nên chủ chiên cũng ra hiệu bằng một tiếng động đặc biệt để gọi các con chiên của mình. Chiên rất thính tai, chỉ nhận thấy tiếng chủ của mình mà đi theo. Nếu như nghề chăn trâu, chăn vịt phải lùa đàn gia súc gia cầm của mình đi, thì nghề chăn chiên có phần hơi khác, người mục tử đi đâu, đàn chiên sẽ theo đó.

Hình ảnh vị mục tử nhân lành ấy được Chúa Giêsu ví chính Người là mục tử nhân lành, rất yêu thương đàn chiên, dám chịu cực khổ, tận tụy hy sinh vì đàn chiên, bảo vệ cho đàn chiên được vẹn toàn. Người cũng cho biết: “Chiên Ta thì nghe tiếng Ta, Ta biết chúng và chúng theo Ta. Ta cho chúng được sống đời đời; chúng sẽ không bao giờ hư mất, và không ai có thể cướp được chúng khỏi tay Ta”.

Ngày hôm nay là ngày cầu cho Ơn Thiên Triệu, tất cả chúng ta cùng cầu xin Chúa cho có những người trẻ lắng nghe, đáp lại tiếng Chúa để dấn theo Chúa cách đặt biệt hơn. Muốn như vậy, tất cả chúng ta xin ơn cho có những người trẻ biết lắng nghe để nhận thấy tiếng Chúa mời chào “Chiên Ta thì nghe tiếng Ta”. Nghe là một tương quan hai chiều. Biết lắng nghe tiếng Chúa là điều trọng yếu nhất của việc bước theo Chúa. Nếu không nghe và nhận thấy được tiếng Chúa, chắc cú tất cả chúng ta không biết Người là ai, và Người muốn tất cả chúng ta làm gì. Cũng như trong tâm lý học, một đứa trẻ khi mở mắt ra đời, việc trước tiên là em nghe được tiếng mẹ để tìm được sự săn sóc, hơi ấm và bầu sữa thơm ngon của mẹ. Người Kitô hữu muốn tìm thấy Chúa Giêsu cũng phải tập nghe và nhận thấy tiếng Người. Sau khoảng thời gian đã nhận thấy tiếng mẹ, bước tiếp theo là dần biết mẹ cũng như mẹ đã biết em. “Biết” trong Kinh Thánh trước hết không mang một ý nghĩa tri thức nhưng chính tình yêu mới làm cho ta nhận ra một cách đích thực. Khi đã nghe, biết rồi mới có thể bước theo. Đây là một hành động diễn tả một thái độ tự do, gắn bó với lời Chúa Giêsu mời gọi: “Hãy theo Ta”.

Như trong Bài đọc Ι kể về việc thánh Phaolô và Barnaba loan báo Tin Mừng tại Antiôkhia miền Pixiđia. Ban đầu, Phaolô rao giảng Tin Mừng cho người Do Thái. Nhưng vì họ từ chối, nên hai ngài quay sang rao giảng cho dân ngoại. Dân ngoại đã hân hoan đón nhận Tin Mừng. Tin Mừng ấy là việc chỉ một mình Chúa Giêsu mới có thể mang lại cho nhân loại sự hiệp thông muôn đời, sự bảo vệ khỏi mọi sự dữ, và sự sống đời đời mà không một ai có thể cho kẻ khác điều Người hứa, dù có thương yêu kẻ ấy đến đâu đi nữa.

Hiện tại, nhiều nước trên toàn cầu đang thiếu hụt trầm trọng ơn gọi trở thành linh mục, tu sĩ. Nói đến ơn gọi tu trì thì hình như ngày nay nhiều bạn trẻ Thiên chúa giáo cảm thấy ngại vì họ có biết bao nhiêu dự tính cho tương lai, những hoạch định cho hướng đi riêng của mình. Vì vậy, Giáo hội mời gọi các tín hữu nguyện cầu cho ơn Thiên Triệu linh mục và tu sĩ, đây là một việc rất thiết thực và có ý nghĩa để có nhiều bạn trẻ luôn biết mở rộng lòng mình, lắng nghe và đáp lại tiếng Chúa gọi sống đời dâng hiến, dấn thân cho Chúa và cho các linh hồn. Đồng thời, tất cả chúng ta cũng không quên nguyện cầu cho các vị mục tử đang chăm sóc giáo xứ, chăm sóc cho đời sống thiêng liêng của tất cả chúng ta cũng như những nhà truyền giáo trong Giáo hội. Xin cho các mục tử luôn sống thánh thiện và nhiệt thành với sứ vụ của mình trên cánh đồng truyền giáo.

Lạy Chúa, ngày hôm nay là ngày cầu xin Ơn Thiên Triệu, chúng con nài xin Thiên Chúa ban cho có thêm các mục tử tốt lành “như lòng Chúa mong ước” (Gr 3,15), theo gương Thầy Giêsu Chí Thánh. Xin cho những người sống ơn gọi Dâng hiến luôn có một tình yêu đến cùng cho Thiên Chúa và cho nhân loại cách vô vị lợi giúp các mục tử không còn gì tiếc nuối vì đã hết mình cho sứ vụ. Bởi nếu không có tình yêu tận hiến ấy, mỗi ngày trong đời sống của người tu trì trôi qua sẽ nặng nề, buồn tẻ, mệt mỏi… nhất là khi phải đối mặt với những thách đố. Đồng thời xin Người ban cho đoàn chiên biết nghe và đáp lại tiếng của vị mục tử được Chúa giao coi sóc đoàn chiên để hợp tác với các ngài, giúp cho đời sống đạo đức của các tín hữu được dồi dào phong phú. Amen.

 

26. Người Mục Tử – Lm. Giuse Hoàng Kim Toan

(Trích trong ‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’ – Radio Veritas Asia)

Người chăn dắt Israel, là một thuật ngữ quen dùng trong văn hoá người Do Thái, biểu tượng là người gìn giữ hoà bình, người của cõi thiêng mà đến.

Trong từ ngữ biểu tượng người chăn dắt là người đã từng trải bằng những kinh nghiệm của mình, người trực giác nhìn thấy phía trước, phán đoán được tương lai gần những điều sắp tới. Người chăn dẫn cũng là người biết coi chừng, theo tính năng đó người chăn dắt luôn trau dồi thêm những tình huống cảnh giác. Người chăn dắt có nhiệm vụ đảm bảo an toàn cho đoàn chiên của mình, anh ta là người biết nhìn trời, phán đoán qua trăng sao, tai lắng nghe và phân biệt được tiếng thú dữ và tiếng chiên lạc đàn thuộc lũ của minh. Chính anh ta là người không có chỗ dừng chân, không có một nơi gối đầu định cư, số phận anh ta tuỳ thuộc vào số phận của đoàn chiên. So với đoàn chiên, anh ta là đôi mắt là sự hiểu rõ thay cho đàn chiên, biết từng con chiên và bảo vệ từng con chiên trong đàn.

Sứ vụ của người chăn chiên đòi hỏi phải là người khôn ngoan, hiền hậu, có trái tim nhân từ thương cảm. Con chiên nào đau bệnh, anh chữa trị, con nào lạc lối, anh tìm mang về, con nào bước đi yếu ớt, anh cõng trên vai. Những con chiên khoẻ mạnh anh ta vỗ về… Từ những hình ảnh nhân hậu đó, người chăn chiên đang là biểu tượng của sự bình an cho đàn chiên. Người ta muốn bắt chiên, trước hết phải sát hại người chủ chiên.

Theo truyền thống Do Thái Cain đại diện cho người theo văn hoá du mục, Abel đại diện cho nền văn hoá định cư. Người định cư rất quý mến người du mục, và thường đon đả tiếp đón họ. Theo khía cạnh nhìn của người định cư, người chăn chiên là người không thuộc về đất, người chăn chiên có một giá trị thiêng liêng và cao quý.

Nền văn minh Assyrie và Babylone, biểu tượng người chăn chiên nối liền với ý nghĩa vũ trụ. Danh hiệu người chăn chiên được gán cho thần mặt trăng Tammuz, là người chăn dắt các tinh tú, vị thần của thực vật, chết đi và sống lại. Theo chu kỳ mặt trăng tuần tự sinh ra và rồi mất đi, cũng một chu kỳ liên tiếp được làm đi lập lại mỗi khi chiều về, buổi tối ùa đến, người chăn cừu lại lùa đàn chiên vào nơi gìn giữ và sáng mai lại thả ra. Người chăn dắt trong đêm ngủ mê của đoàn chiên vẫn là người lắng nghe, người nguyện cầu cho sự an toàn của đàn chiên. Với hình ảnh đó, người chăn chiên là người trung gian giữa Đấng Tối Cao và thọ tạo.

Người mục tử ngày hôm nay là những nhà lãnh đạo, những nhà doanh nghiệp, những vị lãnh đạo công ty du học, xí nghiệp. Với đôi mắt tinh tường nhìn về phía trước, dự đoán được những gì trong tương lai, chuẩn bị cho những nhân loại dưới quyền đủ khả năng chống đỡ vượt qua thử thách. Những nhà lãnh đạo biết lo cho những người thuộc quyền cũng như cho dân được ấm no hạnh phúc. Bình an của đàn chiên là niềm vui cho người mục tử. Nhà lãnh đạo không những chỉ tỉnh táo mà đang là người chăm sóc hạnh phúc cho đàn chiên, là người quy tụ chứ không phải để gây chia rẽ chống đối, là người vì đàn chiên của mình mà hy sinh hạnh phúc cá nhân chứ không phải là người chỉ biết xen lông, giết thịt những con chiên béo, thu lợi nhuận từ đàn chiên để làm giàu cho cá nhân người mục tử. Người mục tử có những đức tính thiết yếu và cần phải có cả đời sống nguyện cầu, vì người mục tử là người nối trời với đất, người lãnh trách nhiệm trí não cho đàn chiên của mình, vừa thăng hoa đời sống bằng vật chất vừa làm no thoả đời sống trí não cho đoàn chiên, đảm bảo cho đoàn chiên một tương lai chắc cú. Người mục tử nếu là người không tín ngưỡng, không niềm tin tôn giáo là nhưng nhà lãnh đạo thiếu sót trong bổn phận của mình và có thể làm thiệt hại cho đoàn chiên.

Người mục tử cũng là các gia trưởng trong nhà, người quy tụ đoàn con của mình chứ không là người gây chia rẽ. Người đảm bảo cho mọi thành viên trong nhà có những nhu cầu thiết yếu để ăn học và trưởng thành về các đức tính cũng như niềm tin. Nhiệm vụ người gia trưởng xem ra khá nặng nề, cũng chính vì vậy, họ cũng phải có đời sống cấu nguyện để được thêm sức mạnh gánh vác việc đời và gia đình. Các thành viên trong nhà là những gì Thiên Chúa trao cho để thi hành sứ mệnh hướng dẫn của người mục tử.

Người mục tử là những người cai trị các cộng đoàn cần gắn bó với vị mục tử nhân lành là Chúa Giêsu, bởi vì sứ vụ lãnh nhận từ nơi Chúa Giêsu. Cộng đoàn được trao phó để người mục tử hướng cộng đoàn đó thực thi ý định yêu thương của Thiên Chúa. Người mục tử này đóng vai trò trọng yếu để xây dựng cộng đoàn mình lãnh thu được hiệp nhất, nơi chia sẻ tình thương, sống trong nhân ái và làm chứng về Tin Mừng Phục Sinh.

Xin ban cho chúng con những người mục tử như Ý Chúa.

 

27. Hạnh phúc là đây

“Tôi ban cho chúng sự sống đời đời, không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp chúng khỏi tay tôi”.

Một em bé chín tuổi nhận định về bà ngoại của mình như sau:

Bà ngoại là bà cụ không có em bé nên bà thích chăm sóc những em bé quán ăn xóm. Bà ngoại già nên không chơi “hết ga” được, bà chỉ loanh quanh con ngựa gỗ, nhưng bà có nhiều xu lẽ lắm.

Bà ngoại thường béo tròn, nhưng bà vẫn cột được giây giày cho trẻ con. Bà chẳng khôn lanh mấy…chỉ biết trả lời những thắc mắc như: Vì sao chó ghét mèo, hoặc vì sao khi Chúa đến thì không được làm đám cưới nữa. Bà ngoại nói rất sõi, không bị ngọng. Lúc đọc truyện cho tụi cháu, bà không bỏ chữ, và không đọc một câu truyện tới hai lần. Ai cũng nên nỗ lực có một bà ngoại, nhất là những người không có TV. Bởi vì bà ngoại là người lớn duy nhất dành hết thời giờ cho trẻ em.

Bà ngoại… tuyệt vời như vậy thôi chứ con đòi gì nữa?

Chúa nhật IV phục sinh là Chúa nhật dành để nguyện cầu cho ơn thiên triệu linh mục và tu sĩ. Phụng vụ lời Chúa trong ngày này thường trình bày một Đức Giêsu như mục tử tận tình chăm sóc đoàn chiên của mình. Ngài tìm cho chiên những đồng có tốt, những suối nước trong. Ngài bão vệ chiên khỏi những nguy hiểm của kẻ thù. Lũ chiên con Ngài ẩm trong lòng. Đàn chiên mẹ thì tận tình chăn dắt. Con nào bệnh thì ngài băng bó. Con nào lạc thì tìm kiếm mang về. Chiên của Ngài thì an toàn và không phải lo ngại vì đã có Ngài nâng đỡ và chăm sóc mọi sự.

Hình ảnh con chiên được chăm sóc nơi trần gian cho tất cả chúng ta một hy cọng về một đoàn chiên được hạnh phúc vĩnh cửu trên thiên đàng với chủ chăn của mình. Sách khải huyền đã minh xác nhận điều ấy. “Họ sẽ không còn phải đói, phải khát, không bị ánh nắng mặt trời thiêu đốt và khí nóng hành hạ nữa. Vì con Chiên ngự giữa ngai sẽ chăn dắt và dẫn đưa họ tới nguồn nước trường sinh” (Kh 7,16 -17). Này là hình ảnh của một đoàn người đã thắng lợi, đã vượt qua thống khổ, đã giặt áo mình trong máu con chiên.

Đức Giêsu không chỉ như mục tử trần gian chăm sóc phần thể xác nhưng đang là mộ Đức Chúa coi sóc cả phần linh hồn. Một Chủ Chăn hoàn hảo đến mức khi chiên của mình không may rơi vào chỗ khó khăn. Ngài đã ra tay cứu chữa và con không chỉ vậy Ngài đã hiến thân mình làm giá đền thay cho sai lầm của đoàn chiên, là tất cả chúng ta. Đức Giêsu đang là Con Chiên. Chính Ngài đã trở nên của ăn cho chính đàn chiên của mình. Ngài đã chết để tất cả chúng ta khỏi chết, Ngài đã phục sinh để chúng được sống. Và Ngài đã để lại vị trí chăn dắt đoàn chiên đó cho các tông đồ, các giám mục và linh mục.

Người lớn không cần bà ngoại. Chiên trưởng thành không cần chủ chăn. Thiếu người chăn dắt thì chiên vẫn sống, không có bà ngoại thì người lớn cũng lớn. Đúng rồi. Bà ngoại đâu có thể làm gì khác hơn là chơi với trẻ em, nhưng nếu một ngày không còn bà ngoại nữa thì không chỉ có trẻ em buồn. Một ngày không có chủ chăn thì chiên sẽ trơ trọi và đương đầu với nguy hiềm nhiều hơn. Bà ngoại vẫn ở đó, chủ chăn vẫn âm làm cái công việc chăm nom của mình, còn bạn có cần những người ấy không thì chỉ có bạn biết mà thôi.

Lạy Chúa, giữa thế sự nhiều tiến triển như ngày hôm nay chúng con vẫn cần những chủ chăn tốt để được ngài cho nghỉ ngơi và bổ sức. Giữa cuộc trần đầy tội lỗi, khó khăn như hiện tại đây chúng con vẫn cần chững chủ chăn thánh thiện để làm chứng nhân cho tình yêu Chúa và để kéo trần gian trở lại hoà bình, yêu thương. Xin Chúa cho có thêm nhiều người trẻ sẵn sàng hiến dâng tuổi thanh xuân cho đoàn chiên Chúa bằng một tình yêu trong sáng, thánh thiện.

 

28. Phục vụ – Ơn gọi của Mục Tử

(Suy niệm của Dã Quỳ)

Giữa một toàn cầu mà người ta đang tranh giành nhau những vị trí cao nhất ở mọi lãnh vực và nỗ lực bảo vệ vị trí của mình bằng mọi cách, liệu nói đến ơn gọi của người mục tử lãnh đạo là phục vụ, là tôi tớ như Lời Chúa Giêsu mời gọi phải chăng là lỗi thời, là khó thực hiện?

So với người Kitô hữu và đời sống trong Giáo hội, vai trò của người mục tử hay người lãnh đạo cộng đoàn đã được chính Chúa Giêsu đề ra đường lối như kim chỉ nam và là luật: “Ai lớn nhất trong anh em, thì phải nên như người nhỏ tuổi nhất, và kẻ làm đầu thì phải nên như người phục vụ.” (Lc 22, 26) Bài học này đã được Chúa dặn dò các môn đệ thân tín khi thấy các ông tranh cãi xem ai là người lớn nhất. Tất nhiên, với não trạng bình thường của nhân loại, chắc hẳn các môn đệ cũng nghĩ đến quyền lợi, đến chỗ ngồi và vị trí lớn nhỏ bên cạnh Chúa. Thế nhưng, lời dặn dò và gương của Thầy thật rõ “Thầy đây, Thầy sống giữa anh em như một người phục vụ” (Lc 22, 27c)

Nhìn vào đời sống của các giáo xứ và các cộng đoàn…Ta nhận thấy và cảm phục biết bao nhiêu mục tử, bề trên đã dấn thân, hiến thân và sống triệt để trí não mục tử của Thầy Giêsu. Những chức vị trong cộng đoàn mà các ngài nắm giữ như là một sứ mệnh phục vụ mà Chúa đặt để và là luân phiên để bổ túc cho nhau, giúp nhau thi hành theo ân sủng của Chúa Thánh Thần ban cho mỗi người. Các ngài cũng ý thức “Quan nhất thời, dân mới vạn đại” nên khiêm tốn phục vụ và sống hết mình với trí não trách nhiệm cũng như không phụ tình yêu thương của Chúa và lòng tin tưởng của tập thể. Do đó các ngài càng yêu mến đoàn chiên mình phục vụ và sống tự khiêm tự hạ triệt để “Càng làm lớn, con càng phải tự hạ, như thế con sẽ được đẹp lòng Chúa.” (Hc 3, 18) Nhiều lắm những mẫu gương phục vụ và trở nên tôi tớ của anh chị em mình. Rõ ràng và cụ thể hiện tại có nhiều Linh mục, Tu sĩ… hiến mình phục vụ anh em tại Irak hay vùng Trung Đông như lời ĐHY Thimothy ʍ.Dolan kể cho tất cả chúng ta về cha Bashar, đang thi hành nhiệm vụ chăm sóc trại tị nạn: “ban đầu cha ngủ trên một tấm nệm ngoài trời khi có gần 100.000 người đổ đến Erbil sau vụ tấn công…, vị linh mục đã để cho các tín hữu ngủ trong lều.” ĐHY nói, “Đó là mẫu gương cho đời linh mục, đó là Chúa Giêsu, ở lại với dân ta mọi lúc.” Và đây thực sự là những mục tử ở giữa đoàn chiên, mang lấy mọi thống khổ khó khăn của chiên. Không đặc quyền, đặc lợi, là người lãnh đạo nhưng mang trí não và bản chất là tôi tớ và đây là những nhà lãnh đạo hay mục tử mà tất cả chúng ta cần, Giáo hội muốn.

Chắc nịch mẫu gương cho những mục tử và những ơn gọi dấn thân phục vụ vẫn mãi mãi là Chúa Kitô, Đấng đã tới trần gian như người tôi tớ và không nhất quyết duy trì địa vị Thiên Chúa của mình (Ҳ. Pl 2,6- 8) Những gì Chúa Kitô sống, thánh Phaolô cũng khuyên tất cả chúng ta, có vẻ nhất là người mục tử cần phải có tâm tình như chính Chúa, quên lợi nhuận cá nhân, chỉ tìm lợi nhuận cho người khác(Ҳ. Pl 2, 4-5). Một khi người mục tử ý thức rõ ơn gọi và chức vụ của mình là ân huệ nhưng không, chỉ do Chúa thương ban, chắc hẳn người ấy sẽ cảm thấy quí trọng ân huệ này và tri ân Thiên Chúa cách sâu xa. Khi đã cảm nhận toàn bộ là hồng ân, người ta chỉ còn tìm cách đền đáp. Tình yêu đáp đền tình yêu, người ấy sẽ một lòng một dạ dấn thân phục vụ chỉ vì yêu thương và vì danh Đấng đã chọn gọi và ban cho mình ân huệ làm mục tử hay người đứng đầu cộng đoàn. Có vẻ không người mục tử nào lại quên hình ảnh Thầy và Chúa của mình cúi xuống rửa chân cho môn đệ và nhắn nhủ “Anh em gọi Thầy là ‘Thầy’ là ‘Chúa’, điều đó phải lắm, vì quả thật Thầy là Thầy là Chúa. Vậy nếu Thầy là Chúa là Thầy mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau…” (Ga 13, 13-15)

Thế nhưng, thực tiễn cuộc sống, tất cả chúng ta cũng nhìn thấy và đau lòng thấy đó đây còn nhiều mục tử hình như đã quên lời Đấng tuyển chọn mình. Vì cuộc sống, công việc hay vì bị hấp dẫn vào vòng xoáy của thế gian, nhiều lắm các mục tử đã đi theo lối sống mà như Ngôn sứ Êzêkiel đã hạch tội mục tử Israel: “Nào mục tử không phải chăn dắt đàn chiên sao? …Chiên đau yếu các ngươi lại không làm cho mạnh; chiên bệnh tật, các ngươi không chữa cho lành; chiên bị thương các ngươi không băng bó; chiên đi lạc, các ngươi không đưa về; chiên bị mất, các ngươi không chịu đi tìm. Các ngươi thống trị chúng một cách tàn bạo và hà khắc…” ( Ed 34, 2c- 6)

Có vẻ thuở ban đầu khi lãnh sứ vụ mục tử hay trách nhiệm cộng đoàn, người ta cũng mang trong mình cái lý tưởng là “phục vụ”. Nhưng thực tiễn, quyền bính của người lãnh đạo như chiếm trọn nhân loại. Họ viện đủ nguyên nhân để bảo vệ cho quyền và lợi nên ơn gọi phục vụ giờ lại giúp họ trở nên “được phục vụ”. Luật của Thầy Giêsu “Phục vụ anh em, làm đầy tớ mọi người” (Ҳ. Mc 10, 43-44) sao xa vời và khó quá khi các mục tử và những bề trên cộng đoàn đã chỉ còn ” lấy quyền mà cai trị dân”. Sẵn sàng áp đặt mọi luật lệ hay giờ giấc theo quyền lợi của mục tử mà bỏ mặc chiên vất vả khó nhọc với cuộc sống thế nào! Con chiên trong giáo xứ hay anh chị em trong cộng đoàn chắc gì dám đòi hỏi mục tử làm tôi tớ, huống chi là hiến mạng sống. Bởi với giáo dân hay bề dưới, dù sao vẫn luôn kính trọng và tuân phục lắm lắm với các mục tử và người lãnh đạo mình. Có chăng là họ rất cần lòng quan tâm, tình yêu thương trổ tài cách rõ ràng trong lắng nghe, mà điều này nơi các mục tử lại….quá thiếu! Bởi ‘Cha’ mà, nên lời cha phán là phán chứ sao góp lời phản hồi được, huống hồ có sự khó đến chia sẻ mà cha lắng nghe cho! Khi không lắng nghe, làm sao hiểu, thông cảm, thấu hiểu và sẻ chia, nâng đỡ, yêu thương cho được? Thiên Chúa của tất cả chúng ta giải thoát bần dân kêu khổ, bảo vệ nâng đỡ cô nhi quả phụ… Còn mục tử hiện thân của Người lúc này thì sao?

Người mục tử hay người lãnh đạo cộng đoàn nếu đem so sánh với người cha người mẹ trong nhà thì chắc hẳn người ta chỉ ước mong sao chủ chăn của họ là một người cha tốt lành hay bề trên của họ là một người mẹ tốt hết lòng yêu thương và hy sinh cho đàn em. Cha mẹ tốt trong nhà cũng sẽ sống như một tôi tớ, chỉ phục vụ vì yêu con cháu và dù con ngoan hay hư cũng hết mực yêu thương giáo dục, quan tâm chăm sóc. Không phụ thuộc vào tri thức hay tài năng, tuyệt kỹ mà là tâm lòng phục vụ. Cũng chính vì thế cha mẹ là chủ và là lãnh đạo mà con cháu sẽ hết lòng yêu mến cảm phục.

Nhìn thấy như vậy và ước mong là thế, nhưng quả thực với cuộc sống bị hấp dẫn bởi sự đối đầu ganh đua trong nhiều lãnh vực để đạt thành tựu hay đỉnh cao. Người ta chuộng quyền lực và vị trí hơn là phục vụ và trở nên tôi tớ. Và nhân đức khiêm nhường phục vụ cũng bị bỏ xa! Thế nên, có được những mục tử hết lòng yêu thương phục vụ đoàn chiên là điều mà Giáo hội và mỗi cộng đoàn cần và rất cần.

Xin cho toàn bộ tất cả chúng ta và cách riêng những ai đã, đang và sẽ lãnh nhận ân huệ là mục tử lãnh đạo giáo xứ hay cộng đoàn, thấm nhuần được bài học của Chúa Giêsu “Trở nên đầy tớ của môn đệ.” Vì ơn gọi của mục tử là để yêu thương, phục vụ và toàn bộ khả năng, chức vụ mà Thiên Chúa ban như là phương tiện để phục vụ phần rỗi và ơn cứu độ nhân loại.

Nguyện xin Chúa Giêsu Mục Tử trở nên mẫu gương cho mỗi chúng con ngày hôm nay, để rồi chúng con có thể dấn thân phục vụ trong mọi hoàn cảnh, mọi hành động như tôi tớ chỉ vì tình yêu.

 

29. Kim chỉ nam của Mục Tử và Chiên

(Suy niệm của Dã Quỳ)

Chúa Giêsu đã nhất định Người là Mục Tử và toàn bộ tất cả chúng ta, những người theo Chúa là đoàn chiên của Chúa. Đây không chỉ như một hình ảnh mà là một thực tại mà tất cả chúng ta cần sống và tôn kính. Chúa Giêsu Kitô mãi mãi là mục tử chăn dắt tất cả chúng ta. Người hiện diện cách thiết thực trong toàn cầu và rõ ràng ở trong Giáo hội. Cũng có thể nói Giáo hội là sự hiện diện của Chúa Kitô mục tử, bởi vì Giáo hội là thân thể của Chúa. Cũng chính vì thế, ở trong Giáo hội và qua Giáo hội mà Chúa Kitô mục tử trở nên hiện diện sống động. Với bài Tin Mừng theo thánh Gioan tất cả chúng ta nghe, những động từ mà Chúa nhấn mạnh “Nghe, Biết, Theo” sẽ là kim chỉ nam của mục tử và chiên mà chính Chúa Giêsu đã thực hiện và Người muốn nhắn nhủ với tất cả chúng ta ngày hôm nay.

– Nghe: “Chiên của Ta thì nghe tiếng Ta.” Chúa Giêsu là Lời đã trở nên người phàm. Người là Lời của Thiên Chúa, Lời Hằng Sống mang lại bình an và hạnh phúc cho nhân loại. Chúa luôn mời gọi tất cả chúng ta lắng nghe tiếng của Người được giãi bày trong Tin Mừng, qua những giáo huấn của Giáo hội, nơi tâm hồn tất cả chúng ta và trong những biến cố của cuộc sống ta. Cách rõ ràng ta được nghe Lời Chúa trong mỗi Thánh Lễ, nghe tiếng Chúa nói với ta trong kinh nguyện và trong nguyện cầu riêng. Chúa Giêsu, mục tử tốt lành luôn lên đường tìm kiếm chiên. Tiếng của Người hướng dẫn tất cả chúng ta và Lời của Người nuôi dưỡng tất cả chúng ta. Tất cả chúng ta không thể sống thiếu Lời Chúa, bởi vì “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra.” (Mt 4,4)

Là chiên của Chúa, tất cả chúng ta hãy luôn biết khát Lời của Chúa và biết để Lời Chúa trở thành lương thực hằng ngày của ta. Muốn nghe được Lời của Chúa, tất cả chúng ta cần phải có một tâm hồn mở rộng sẵn sàng đón nhận, có một đôi tai nhạy bén và một trái tim tha thiết mến yêu Lời Chúa. Có thể nói ta cần lắng nghe tiếng Chúa bằng trái tim, vì chỉ khi nối kết với trái tim của Chúa, ta mới có thể thấu hiểu được Lời Chúa giáo dục và đem ra thực hành trong cuộc sống rõ ràng của ta. Như vậy, Lời Chúa mới trở thành ánh sáng, là sức sống của ta, ta mới biết sống theo ý Chúa, sống đẹp lòng Chúa và Lời Chúa mới sinh hoa kết trái dồi dào trong đời ta.

– Biết: “Ta biết chúng.” Người ta nói “Vô tri bất mộ.” – không biết thì sẽ không thể yêu. Chúa Giêsu là mục tử nhân lành, Người biết rõ tất cả chúng ta từng người một. Biết không chỉ dáng vẻ bên ngoài mà là biết tận thâm sâu cõi lòng tất cả chúng ta. Người biết ta cách cá nhân bởi Người dựng nên tất cả chúng ta. Người đã mang vào mình mọi khốn cùng đớn đau của kiếp người tất cả chúng ta. Vì vậy, Người biết rõ thân phận của ta và hiểu thấu từng nỗi khó cảnh khổ của tất cả chúng ta. Từ cái biết, Người gắn kết tất cả chúng ta trong tình yêu của Người và như vậy, Chúa biết tất cả chúng ta cũng là Chúa yêu thương tất cả chúng ta. Không chỉ vậy, Mục tử Giêsu còn ban cho chiên sự sống đời đời và sự sống ấy là sự sống của chính Người, vì Người đã hy sinh mạng sống cho chiên khi nhất định “Tôi chính là Mục tử nhân lành. Mục tử nhân lành hy sinh mạng sống vì đoàn chiên.” (Ga 10,11) Điều ngạc nhiên là bình thường mục tử chết thì không thể bảo vệ chiên được nữa. Nhưng với Mục Tử Giêsu Phục Sinh thì qua chết chóc của Người, Người đã cứu sống chiên của Người.

Cũng chính vì thế, tất cả chúng ta hãy đặt trọn niềm tin tưởng tuyệt đối vào Chúa Giêsu, Mục Tử yêu thương luôn chăm sóc và hướng dẫn tất cả chúng ta trong mọi nơi chốn và hoàn cảnh. Dù ta có gặp bao sóng gió truân chuyên hay ngàn khó nguy khổ sở thì Chúa vẫn ở bên ta, ủi an nâng đỡ và ban sức sống trợ giúp tất cả chúng ta “Dù qua lũng âm u, con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng. Côn trượng Ngài bảo vệ, con vững dạ an tâm.” (Tv 22, 4)

– Theo: “và chúng theo Ta.” Một khi đã lắng nghe tiếng Chúa, ta sẽ hiểu được ý muốn của Chúa. Như những môn đệ trước tiên khi nghe Chúa cất lời “Các anh hãy theo tôi” (Mt 4,19), chắc cú các ông đã hiểu rõ điều Người muốn các ông là “Theo Người”. Theo là rời bỏ nơi chốn cũ của mình, lối sống riêng của mình để chia sẻ cuộc sống mới với Đấng gọi ta; là gắn bó, ràng buộc đời mình với đời của Đấng mà ta theo, yêu mến và thuộc trọn về Người cả hồn xác. Chúa Giêsu, Mục Tử đầy xót thương đã gọi tất cả chúng ta, yêu thương chở che từng người tất cả chúng ta. Chúa mong mỗi Kitô hữu theo Chúa cũng biết gắn kết đời mình với Chúa, thiết lập một tương giao mật thiết với Chúa và sống trong Chúa để cuộc sống của tất cả chúng ta thực sự thuộc về Người.

Chúa Giêsu Mục Tử nhân lành và là Chúa của tất cả chúng ta đã mời gọi ta theo Người và sống trong tình yêu của Người. Chúa ban cho ta Lời Chúa và Thánh Thể để nuôi dưỡng linh hồn, ban sức mạnh thể xác và ban cho ta sự sống đời đời vì Người nhất định “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống, ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời.” (Ga 6,51) Tất cả chúng ta không phải hư mất và không ai có thể cướp ta ra khỏi tay Người. Này là một đảm bảo của Chúa cho tất cả chúng ta. Liệu tất cả chúng ta có can trường theo Chúa và kiên trì thưa với Chúa như thánh Phêrô “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết theo ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời.” (Ga 6,68)

Ngày hôm nay, ngày cầu cho Ơn Thiên Triệu Linh mục và Tu sĩ. Mỗi Kitô hữu tất cả chúng ta là chiên, nhưng ta cũng được gọi trở nên mục tử trong chức vụ thừa tác hay trong bậc sống của mỗi người. Tất cả chúng ta hãy sống xứng đáng với ơn gọi của mình. Và ta hãy tha thiết nguyện cầu cho các bạn trẻ quảng đại lắng nghe và đáp lại tiếng Chúa gọi. Đồng thời xin Chúa Chiên Lành ban cho Giáo hội thêm nhiều mục tử, nhất là có những mục tử tỉnh táo để giúp cho đoàn chiên lắng nghe tiếng Chúa và hiểu Tin Mừng của Chúa. Cầu cho có những mục tử “Biết mang mùi chiên, mang lấy vào mình những khốn khổ của chiên”, dũng cảm thấy và dám nói, dám hiến thân cho đoàn chiên và cho Giáo Hội. Như vậy, Giáo hội sẽ mãi là hiện thân của Chúa Kitô Mục Tử Nhân Lành, biết chiên, yêu chiên và hiến mình vì chiên. Để rồi còn nhiều chiên lạc, chiên chưa thuộc đàn được lôi cuốn trở về sống hạnh phúc trong cùng một đoàn chiên của Chúa.

Lạy Chúa Giêsu Mục Tử Nhân Lành, xin thương xót chúng con! Amen.

 

30. Hoà hợp tiền định – Achille Degeest

(Trích trong ‘Lương Thực Ngày Chúa Nhật’)

Đang là mùa đông, người ta mừng lễ Cung hiến ở Giêrusalem. Đức Giêsu đi lại trong Đền Thờ. Một nhóm người Do Thái vây quanh, và yêu cầu Chúa nói trắng ra về thân thế Người. Người có đúng là Đấng Mêsia không? Thật vậy, Thày đã công nhiên nói xa xôi cho người ta hiểu Thày chính là Đấng Mêsia. Có những người đơn sơ, không rắc rối, có thiện chí, đã hiểu được về bí mật thân thế Chúa và tin vào Chúa, ví dụ người phụ nữ Samaria và kẻ mù bẩm sinh. Người ta cảm thấy những kẻ chất vấn Chúa nhiều phần thắc mắc khó chịu về Chúa, hơn là sẵn lòng nghe Chúa với một tâm hồn cởi mở. Chúa muốn cho những kẻ nặng óc thành kiến phải bỡ ngợ. Chúa không theo lối suy diễn của họ. Vì lẽ họ cho rằng hệ thống suy diễn của mình không thể sai lầm, ông Giêsu này nhất định sẽ lộ hình tích, chính ông mang ra một lời khai đúng cách, lúc đó họ sẽ có quyền ném đá ông. Đức Giêsu không do dự. Người mang ra câu đáp trên hai bình diện: tâm tình thích hợp để đơn giản tiếp nhận đạo lý và Kinh Thánh với một giá trị không thể bác bỏ (Lời Chúa viện dẫn Kinh Thánh tiếp ngay sau đoạn Phúc Âm ngày hôm nay). Hai thắc mắc được đưa ra;

1) Vì sao người Do Thái ngoan cố chối bỏ Đức Giêsu? Chúa khởi đầu bằng cách mời gọi họ thấy gì thì tin thế, bởi những việc Người làm nhân danh Cha Người đều làm chứng cho Ngài. Tuy nhiên Chúa nói tiếp ngay, nếu họ bác bỏ bằng cớ ấy, cũng chính vì cớ tâm hồn họ không phù phù hợp với sứ điệp của Chúa. Họ đã nhất quyết lối xét đoán sự việc của họ là tốt. Thế mới con mắt người ta nhìn thực tại theo thiên hướng của mình. Nếu thực tại không phù phù hợp với hệ thống suy diễn của mình, người ta cho rằng chính thực tại là sai. Nhận định này có giá trị sâu sắc đối hành vi tin. Để thực hiện một hành vi tin, trước hết nhân loại phải chấp thuận để cho ân huệ chuẩn bị tâm hồn cách bí nhiệm. Nhưng nhận định này cũng có giá trị so với phẩm chất của hành vi tin. Nhiều người tự nhận mình tin vào Đức Giêsu Kitô. Nhưng tin vào Đức Kitô nào? Dưới khía cạnh triết lý, xã hội, chính trị, 𝒱.𝒱… nào? Luôn luôn tất cả chúng ta có lý để do dự không biết con mắt tất cả chúng ta có đủ trong sáng không để nhìn Đức Giêsu Kitô?

2) Ý nghĩa câu: không ai giật chúng khỏi tay Ta được là gì? Câu đó có nghĩa: không một quyền năng ngoại giới nào có thể giật người Kitô hữu rời khỏi tay Đức Kitô. Sự trợ giúp của Chúa sẽ mạnh mẽ vô cùng để thắng những khó khăn ngoại giới. Tuy nhiên vì sao có những vụ bất trung bất nghĩa, có cả những vụ bỏ đạo chối Chúa nữa? Sở dĩ như vậy vì quyền năng vô biên của Chúa tuyệt đối tôn trọng tự do tư tưởng của nhân loại. Khi một Kitô hữu xa lìa Chúa, không phải vì Chúa bỏ kẻ ấy, mà cũng chính vì kẻ ấy bỏ Chúa. Cả trong trường hợp đó, Chúa Kitô không rút lại niềm thương yêu của Chúa. Tất cả chúng ta hạy nhớ dụ ngôn cho chiên lạc. Tới đây tất cả chúng ta đối mặt với một vực thẳm bí nhiệm thứ hai. Không những tâm hồn có thể từ chối phù phù hợp với hành vi tin, mà còn tồn tại thể huỷ diệt niềm tin của mình sau thời điểm đã dâng hiến. Tất cả chúng ta không được choáng váng trước bí nhiệm ấy, mà phải tăng cường cảnh giác trong niềm trung tín. Nói đơn giản hơn, tất cả chúng ta hãy tin chắc rằng, thỏa mãn thiện chí hằng ngày của tất cả chúng ta, Chúa nắm vững tất cả chúng ta trong tình yêu của Người.

 

31. Suy niệm Chúa Nhật 4 Phục Sinh

(Suy niệm của Lm. Anthony Trung Thành)

Hằng năm vào Chúa Nhật IV, Giáo Hội dành riêng để nguyện cầu cho ơn thiên triệu linh mục và tu sỹ. Đây là dịp thuận tiện để tất cả chúng ta suy niệm về gương Mục Tử Nhân Lành Giêsu. Đồng thời, tất cả chúng ta hãy xét lại bổn phận của tất cả chúng ta là đàn chiên so với vị Mục Tử của mình và một cách nào đó tất cả chúng ta cũng là mục tử so với những người khác.

  1. Chúa Giêsu là mục tử nhân lành

Tại quốc gia Do Thái, chủ chiên và đàn chiên luôn gắn bó mật thiết với nhau. Chủ chiên đi trước, đàn chiên theo sau. Đàn chiên lúc nào cũng nghe theo tiếng của chủ chiên. Chủ chiên biết từng con chiên: Chiên nào mạnh khoẻ, chiên nào đau yếu. Chiên càng đau yếu thì chủ chiên càng quan tâm chăm sóc. Hình ảnh người mục tử bỏ chín mươi chín con khác để đi tìm con chiên lạc nói lên điều đó (Ҳ. Lc 15, 4-7).

Bài Tin mừng ngày hôm nay, Chúa Giêsu tự nhận mình là chủ chiên. Ngài biết rõ từng con chiên là mỗi người tất cả chúng ta “Ta biết chúng và chúng theo Ta”. Cách biết của Ngài khác với cách biết bình thường của nhân loại. Cách biết của Ngài giống như Thánh vịnh 139 diễn tả: “Lạy Chúa, Ngài dò xét con và Ngài biết rõ, biết cả khi con đứng con ngồi. Con nghĩ tưởng gì, Ngài thấu suốt từ xa, đi lại hay nghỉ ngơi, Chúa đều xem xét, mọi nẻo đường con đi, Ngài quen thuộc cả” (Tv 139, 1-2). Ngài biết tất cả chúng ta như biết Na-tha-na-en trước khi ông đến trình diện với Ngài: “Ông Na-tha-na-en hỏi Người: “Làm sao Ngài lại biết tôi? ” Đức Giê-su trả lời: “Trước khi Phi-líp-phê gọi anh, lúc anh đang ở dưới cây vả, tôi đã thấy anh rồi” (Ga 1, 48). Ngài biết tất cả chúng ta, như Ngài biết người đàn bà bị bệnh loạn huyết 12 năm khi bà đụng vào gấu áo của Ngài (Ҳ. Mc 5, 24-35). Ngài biết tất cả chúng ta, như Ngài biết ông Giakêu khi ông đang ngồi trên cây sung (Ҳ. Lc 19, 1-10). Ngài biết cả những tư duy của tất cả chúng ta dù tất cả chúng ta chưa nói ra, như Ngài biết những tư tưởng của các kinh sư (Ҳ. Mc 2, 1-12).

Ngài biết để tha thứ, biết để cứu chữa, biết để chỉ dạy và thậm chí Ngài biết để quở trách những khi cần. Thật vậy, Ngài đã tha thứ tội lỗi cho Giakêu, Mathêu. Ngài cứu chữa cho người đàn bà bị bệnh loạn huyết 12 năm. Ngài quở trách những người kinh sư để giúp họ trở về nẻo chính đường ngay. Ngài chỉ dạy cho ông Na-tha-na-en làm thế nào để được cứu rỗi. Ngài đã quan tâm nhân loại cả phần hồn lẫn phần xác. Hình ảnh Con Chiên mà sách Khải Huyền đề cập đến, chính là hình ảnh của chính Ngài. Ngài chăn dắt và dẫn mang tất cả chúng ta tới nguồn nước trường sinh (Ҳ. Kh 7,17). Ngài hứa ban cho tất cả chúng ta sự sống đời đời (Ҳ. Ga 10,28). Ngài chính là Vị Mục Tử Nhân Lành. Ngài biết tất cả chúng ta và Ngài quan tâm săn sóc tất cả chúng ta.

  1. Tất cả chúng ta là đàn chiên của Chúa

Mỗi người tất cả chúng ta chính thức trở thành chiên của Chúa khi lãnh nhận Bí tích Rửa Tội. Chiên của Chúa thì phải đi theo Chúa. Chiên của Chúa thì phải lắng nghe tiếng Chúa. Chính Chúa Giêsu đã nói: “Chiên của Ta thì nghe tiếng Ta”. Tiếng của Ngài ở đâu? Tiếng của Ngài được trổ tài qua: Kinh Thánh; huấn quyền của Giáo Hội; đời sống nguyện cầu; qua việc thực thi những điều mình đã thề hứa khi lãnh nhận Bí tích Rửa Tội.

Tất cả chúng ta không nghe tiếng Chúa khi tất cả chúng ta phạm tội trọng, lỗi phạm lời thề hứa khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội. Tất cả chúng ta không nghe tiếng Chúa khi tất cả chúng ta không tuân phục Đức Giáo Hoàng và các huấn lệnh của Giáo Hội. Tất cả chúng ta không nghe tiếng Chúa khi tất cả chúng ta ghen ghét đố kỵ với anh chị em mình, không muốn cho anh chị em mình nên tốt hơn. Này là thái độ của những người Do thía mà tất cả chúng ta nghe sách Công Vụ Tông Đồ kể lại trong bài đọc Ι: khi có nhiều người theo và nghe lời giảng dạy của ông Baraba và ông Phaolô, thì những người Do thái ghen tức, họ phản đối và nhục mạ ông Phaolô. Thậm chí họ tìm cách ngược đại và trục xuất hai ông ra khỏi lãnh thổ của họ. Khi họ từ chối lời rao giảng của hai ông, thì hai ông đem Lời Chúa đến rao giảng cho dân ngoại. Thánh Phaolô nói: “Anh em phải là những người đầu tiên được nghe công bố lời Thiên Chúa, nhưng vì anh em khước từ lời ấy, và tự coi mình không xứng đáng hưởng sự sống đời đời, thì đây chúng tôi quay về phía dân ngoại. Vì Chúa truyền cho chúng tôi thế này: Ta sẽ đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân, để ngươi đem ơn cứu độ đến tận cùng cõi đất”.

Nếu tất cả chúng ta nghe tiếng Chúa thì thuộc về đàn chiên của Chúa, trái lại tất cả chúng ta sẽ không đang là đàn chiên của Chúa nữa mà chính là kẻ thù của Chúa. Trong ngày phán xét chung, Chúa Giêsu là vị thẩm phán sẽ tách biệt loài người thành hai: Bên phải là chiên, bên trái là dê. Chiên là những người lành. Dê là những kẻ dữ (Ҳ Mt 25, 31-46). Ngay lúc này tất cả chúng ta đang là chiên hay là dê ? Trông mong tất cả chúng ta là những con chiên ngoan hiền của Chúa.

  1. Mỗi tất cả chúng ta là mục tử so với những người khác

Chúa là mục tử của mỗi người tất cả chúng ta. Nhưng mỗi người tất cả chúng ta cũng là những mục tử của những người khác khi thông dự vào mục tử Giêsu: Đức Giáo Hoàng là mục tử của Giáo Hội; Đức Giám Mục chính toà là mục tử của các tín hữu trong Giáo Phận Ngài coi sóc; Cha xứ là mục tử của các tín hữu trong giáo xứ của mình; Thầy giáo viên lý viên là mục tử của học viên; Cha mẹ mà mục tử của con cháu…Hãy trở thành những mục tử nhân lành, mục tử như lòng Chúa muốn. Bậc làm cha làm mẹ hãy quan tâm nhiều hơn tới con cháu. Tôi đọc được mẩu chuyện sau đây trên mạng mạng internet. Nếu cha mẹ nào nghe được nội dung mẩu chuyện này, chắc cú cũng phải nghĩ lại thái độ của mình để quan tâm con cháu nhiều hơn. Mẩu truyện với tựa đề: “Con ước được làm một chiếc điện thoại di động!” Chuyện kể rằng: Sau bữa tối, một giáo viên tiểu học khởi đầu chấm bài cho học viên. Chồng cô ngồi bên cạnh, dán mắt vào màn hình smartphone di động, nỗ lực phá vỡ kỷ lục trò Candy Crush Saga anh đã dày công phân tích cả tháng trời. Đột nhiên, bầu không khí yên lặng bị phá vỡ bởi tiếng sụt sịt của người vợ. Thấy mắt cô đang rơm rớm, anh vội quay sang vợ hỏi nhỏ: “Này em, sao tự dưng lại khóc? Có chuyện gì à?”

Người vợ thổn thức trong nước mắt: “Hôm qua em giao bài tập làm văn cho tụi nhỏ lớp 1, viết về chủ đề “Điều ước của con”…”

“Anh hiểu rồi, nhưng vì sao em khóc?” – Người chồng tiếp tục gặng hỏi trong lúc mắt vẫn không rời khỏi trò chơi đang tới hồi kịch tính.

“Bài văn cuối cùng này đã làm em khóc”.

Không giấu nổi sự tò mò, anh chồng bèn ngẩng mặt lên hỏi đầy ái ngại: “Bài văn của một đứa trẻ con cũng khiến em khóc được sao?”

“Anh nghe này…” – Người vợ chậm rãi đọc, nước mắt vẫn không ngừng rơi.

“Ước mơ của con là trở thành một chiếc điện thoại di động. Bố mẹ con yêu điện thoại di động lắm. Đến mức con cảm thấy bố mẹ quan tâm đến điện thoại còn hơn quan tâm đến con. Khi bố đi làm về, dù rất mệt mỏi nhưng bố vẫn chỉ ngồi bấm điện thoại di động chứ chẳng nhớ gì đến con. Khi bận bịu việc gì quan trọng, nếu bất chợt có chuông điện thoại reo, bố mẹ sẽ ngay lập tức cầm máy nghe. Thế nhưng lúc con khóc thì bố mẹ lại chẳng sốt sắng đến thế. Bố mẹ thích chơi trò chơi trên điện thoại di động chứ chẳng muốn chơi cùng con. Khi nói chuyện với ai đó trên điện thoại, bố mẹ cũng chẳng bao giờ thèm nghe con nói gì, cho dù con có chuyện rất quan trọng muốn chia sẻ. Vì thế, con chỉ ước được làm một chiếc điện thoại di động”.

Sững lại vài giây khi nghe xong bài văn, người chồng rụt rè hỏi vợ: “Trò nào viết bài này vậy em?”

Ngước đôi mắt dâng đầy nước mắt lên nhìn chồng, cô nghẹn ngào: “Con trai của chúng ta”.

Không cần phân tích, tất cả chúng ta cũng hiểu được bài học mà mẩu chuyện muốn dạy tất cả chúng ta. Hãy giảm bớt hoặc gạt bỏ những thứ bên lề như smartphone, mạng internet hay trò chơi trực tuyến…Để dành thời gian quan tâm, chăm sóc những người thuộc về tất cả chúng ta nhiều hơn. Ngày hôm nay cũng là ngày nguyện cầu cho ơn thiên triệu linh mục và tu sỹ. Tất cả chúng ta không những xin Chúa cho Giáo Hội ngày càng có nhiều bạn trẻ biết quảng đại dâng hiến đời mình trong ơn gọi linh mục và tu sỹ, mà còn phải nguyện cầu cho Đức Giáo Hoàng, các Giám Mục, linh mục, tu sỹ biết toàn vẹn bổn phận của mình và noi gương vị Mục Tử Giêsu để trở nên những mục tử nhân lành, những thừa sai của Lòng Thương Xót.

Lạy Chúa Giêsu là mục tử nhân lành. Vì chúng con, Chúa đã phải hy sinh mạng sống. Xin cho mỗi người chúng con trở nên những con chiên ngoan hiền của Chúa. Khi phải đóng vai mục tử, xin cho cũng con cũng làm theo mục tử Giêsu để hy sinh, quan tâm và yêu thương những người khác như Chúa. Amen.

 

32. Chúa Nhật Chúa Chiên Lành

(Suy niệm của Lm. Gioan Lê Quang Tuyến)

Tin mừng Ga 10: 27-30 Chúa nhật thứ 4 Phục sinh hôm là, được gọi là Chúa Nhật Chúa Chiên Lành. Là Chúa nhật mà toàn thể giáo hội hương về việc nguyện cầu cho các linh mục, giám mục luôn biết sống theo gương Chúa Giêsu vị mục tử nhân lành so với đàn chiên được ủy thác cho mình.

Chúa nhật thứ 4 Phục sinh hôm là, được gọi là Chúa Nhật Chúa Chiên Lành. Là Chúa nhật mà toàn thể giáo hội hương về việc nguyện cầu cho các linh mục, giám mục luôn biết sống theo gương Chúa Giêsu vị mục tử nhân lành so với đàn chiên được ủy thác cho mình. Đồng thời Chúa nhật ngày hôm nay đang là ngày quốc tế ơn gọi lần thứ 56. Đức thánh cha Phanxicô mời gọi tất cả chúng ta nguyện cầu cho nhiều bạn trẻ biết dũng cảm đáp lại lời mời gọi của Chúa “khám phá kế hoạch yêu thương của Ngài dành cho cuộc sống của chúng ta; và xin Ngài ban cho chúng ta lòng can đảm bước đi trên con đường mà ngay từ đầu, Ngài đã chọn cho mỗi người chúng ta”. Nhân dịp nàu xin chia sẻ cùng quý bạ bà điều sau đây. Điều thứ nhất:Chúa vẫn muốn và cần tất cả chúng ta quảng đại đáp lại tiệng gọi mời của Chúa để được sống hạnh phúc. Điều thứ hai là: Mọi ơn gọi đều là một ân ban, cần phải biết trân quí và quảng đại đền đáp. Điều thứ ba: cần biết tin thác vào Chúa, để bảo vệ ơn gọi của mình.

Trước hết, tất cả chúng ta hãy luôn nhớ rằng “Chúa vẫn muốn và cần chúng ta quảng đại đáp lại tiệng gọi mời của Chúa để được sống hạnh phúc”. Đây chính là trọng tâm của Tin mừng ngày hôm nay: “Chiên Ta thì nghe tiếng Ta, Ta biết chúng và chúng theo Ta. Ta cho chúng được sống đời đời; chúng sẽ không bao giờ hư mất, và không ai có thể cướp được chúng khỏi tay Ta”. Chúa luôn gọi mời tất cả chúng ta, và muốn tất cả chúng ta lắng nghe và đến với Chúa. Thế nhưng, giữa cuộc sống hiện đại của thời 4G, tất cả chúng ta lại phải đón nhận ra bao tiếng gọi mời và thu hút khác nữa. có sự thu hút của thưởng thức vật chất. Có sự lội kéo của những sản phẩm thuộc đời mới hơn, nhiều chức cức năng hơn, kiến tất cả chúng ta mãi mế đuổi theo và rượt đuổi không ngừng. Có sự thu hút của hình ảnh quảng cáo, của thời trang của sách báo, khiến tất cả chúng ta chẳng quản lý được cái nhìn và đi đến chỗ phạm tội… Để chống lại những lô kéo bên ngoài này, tất cả chúng ta cần phải có một nội lực mạnh hơn ở bên trong. Đó chính là ơn Chúa. Nếu tất cả chúng ta biết lắng nghe và để cho Chúa kéo và không cưỡng lại thì chắc chăn Chúa sẽ kéo tất cả chúng ta về với Chúa. Tất cả chúng ta sẽ cảm nên được sự chăm sóc ngọt ngào của Vị mục tử nhân lành giành riêng cho tất cả chúng ta. Ta sẽ được sống và sống hạnh phúc dồi dào.

Điều thứ hai: Mọi ơn gọi đều là một ân ban, cần phải biết trân quí và quảng đại đền đáp. Tất cả chúng ta vẫn thương nghe nói về ơn thiên triệu, này là ơn gọi từ trời, này là tiếng gọi của Chúa từ trời cao gọi mời tất cả chúng ta. Ngài mời gọi tất cả chúng ta trở nên những tu sĩ, linh mục, giám mục ngang tử vong sống dâng hiến. Thế nhưng, ơn gọi đăc biệt này lại khởi đi và đặt nền trên ơn gợi cơ bản của đời sống Kitô hữu là ơn gọi làm con Chúa. Do đó, khi lãnh nhận bí tích rửa tội, toàn bộ tất cả chúng ta đều lãnh nhận một món quà cao quí. Món quà cao quí ấy là “tất cả chúng ta là những người con yêu dấu của Chúa, được tập hợp trong đại gia đình Giáo hội. Nơi đó, đời sống Kitô hữu được sinh ra và phát triển. Giáo hội, là mẹ của tất cả chúng ta, Giáo hội mang tất cả chúng ta đến cuộc sống mới và dẫn tất cả chúng ta đến với Chúa Kitô. Vì vậy, tất cả chúng ta phải yêu thương người Mẹ này, ngay cả khi ta nhìn thấy khuôn mặt của Giáo hội bị tàn phá bởi những yếu đuối, tội lỗi của nhân loại, và tất cả chúng ta phải giúp Giáo hội trở nên xinh tươi và rạng rỡ hơn để Giáo hội có thể làm chứng cho tình yêu của Chúa trong toàn cầu này. Vì vậy, Thiên Chúa muốn cuộc sống của tất cả chúng ta không trở nên vô vị và có thể đoán trước. Ngài không muốn cuộc sống của ta bị giam giữ trong những thói quen mỗi ngày, hoặc không phản ứng trước những quyết định ý nghĩa. Chúa không muốn tất cả chúng ta sống ngày này qua ngày khác, mà cứ nghĩ rằng mình chẳng có gì đáng để phấn đấu. Rồi dần dà, tất cả chúng ta đánh mất ước muốn đi trên những đoạn đường mới mẻ và thú vị. Mỗi ơn gọi là một lời gọi không được đứng trên bờ với mảnh lưới trong tay, nhưng là đi theo Chúa Giêsu trên đoạn đường mà Ngài vạch ra cho tất cả chúng ta, vì hạnh phúc của ta và vì lợi nhuận của những người xung quanh.

Điều thứ ba: cần biết tín thác vào Chúa, để bảo vệ ơn gọi của mình.

Tất cả chúng ta thường biết rằng, mọi ơn gọi trong đời sống dâng hiến đều khỏi sự trong niềm vui, trong sự mê hoặc thu hút của Chúa ngang qua cuộc sống của các linh mục, tu sĩ nam nữ khi họ về tạ ơn trong ngày chịu chức hay khân dòng, hoặc vì những lối sống quả cảm của họ…. Thế nhưng, khi bước vào cuộc sống ơn gọi, tất cả chúng ta mới thấy những thách thức, những khó khăn phải đối điện, phải vượt qua. Chúa muốn tất cả chúng ta phải quyết định dứt khoát khi đi theo Chúa là để làm công việc của Chúa hơn là làm công việc theo ý riêng ta. Một quyết định như vậy đòi hỏi phải để lại mọi thứ ở phía sau để theo Chúa, để dâng hiến mình cho Thiên Chúa và chia sẻ sứ mệnh của Ngài. Nhiều loại giằng co nội tâm có thể cản trở ta mang ra quyết định này, nhất là trong hoàn cảnh tục hóa lan tràn; nơi đó hình như không còn chỗ cho Thiên Chúa và Tin Mừng. Những nơi ấy dễ phát sinh ra chán nản và người ta thường rơi vào tình trạng “hy vọng èo uột”. Tuy nhiên, không có niềm vui nào to hơn niềm vui của người dâng hiến đời mình cho Chúa! Đừng điếc lác trước tiếng gọi của Chúa! Nếu Ngài gọi chúng con đi vào đoạn đường này, xin đừng buông xuôi mái chèo, nhưng hãy tín thác nơi Chúa. Đừng ngục ngã trước sợ hãi, vốn là điều làm tất cả chúng ta tê liệt trước những tầm cao to lớn mà Chúa chỉ cho tất cả chúng ta. Chúng con hãy luôn nhớ rằng với những ai bỏ thuyền lưới lại đằng sau mà đi theo Giêsu, Thiên Chúa hứa ban niềm vui về một cuộc sống mới có thể lấp đầy tâm hồn tất cả chúng ta, và làm cho hành trình của của ta thêm sống động.

Vào Ngày Toàn cầu Nguyện cầu cho Ơn gọi này, tất cả chúng ta hãy tham gia nguyện cầu và cầu xin Thiên Chúa giúp tất cả chúng ta tìm tòi plan yêu thương của Ngài giành riêng cho cuộc sống của tất cả chúng ta; và xin Ngài ban cho tất cả chúng ta lòng dũng cảm bước đi trên đoạn đường mà ngay từ đầu, Ngài đã chọn cho mỗi người tất cả chúng ta. Amen.

 

33. Không lúc nào chúng phải diệt vong

(Suy niệm của Lm. Trầm Phúc)

“Ta là Mục Tử nhân lành”

Đoạn Tin Mừng thánh Gioan ngày hôm nay là phần cuối của chương 10 nói về Đấng Chăn Chiên Nhân Lành. Phần đầu đã được trích để suy niệm vào năm 𝓐 và năm Ɓ.

Trước khi là Mục Tử nhân lành, Chúa Giêsu là “Con Chiên Thiên Chúa, Đấng gánh tội trần gian”. Gioan Tẩy Giả đã giới thiệu như vậy với các môn đệ của ông. Ngài gánh tội trần gian vì vậy Ngài phải tan xương nát thịt vì tất cả chúng ta. Nhưng Ngài đã sống lại. Thánh Gioan Tông đồ đã nhìn thấy Ngài như “Con Chiên đã bị giết, nhưng đã sống lại, nay xứng đáng lãnh nhận phú quí và uy quyền, khôn ngoan cùng sức mạnh, danh dự với vinh quang và muôn lời cung chúc”.

Là Con Chiên Thiên Chúa, gánh tội trần gian, Ngài xứng đáng là Mục Tử nhân lành, vì đã cứu vớt tất cả chúng ta và biến tất cả chúng ta thành “một dân thánh”. Ngài đã nói với thánh Gioan: “Đừng sợ! Ta là Đầu và là Cuối. Ta là Đấng Hằng Sống, Ta đã chết và nay Ta sống đến muôn thuở muôn đời”.

Tất cả chúng ta là đàn chiên Ngài chăn dắt, “Ngài dẫn chúng ta vào những đồng cỏ xanh tươi”… Ngài nuôi tất cả chúng ta bằng lúa mì tinh hảo, bằng rượu mới dầu tươi”. Tất cả chúng ta chỉ cần “nghe tiếng Ngài, theo Ngài” vì Ngài biết tất cả chúng ta, Ngài gọi tất cả chúng ta từng người một và hướng dẫn tất cả chúng ta.

“Nghe tiếng Ngài” . Nghe ở đây phải hiểu là “nghe và tuân hành”:“Ai yêu mến Ta, người ấy giữ lời của Ta”.

Nghe theo Ngài, tất cả chúng ta không còn lo sợ. Ngài là “Đường, là Sự Thật và là Sự Sống”. Chỉ cần vững tin.

Tất cả chúng ta có một Mục Tử toàn năng, tất cả chúng ta sẽ không nghiêng ngả, dù xung quanh tất cả chúng ta chỉ là đe dọa, bão tố và gian ác.

Tất cả chúng ta đang sống trong một toàn cầu đang sụp đổ, không còn biết hướng đi, không còn gì vững chắc. Chân trời của toàn cầu càng ngày càng âm u thê lương. Nhân loại ngày hôm nay với những tiến bộ khoa học đáng tán dương, càng trở nên nô lệ của những phát minh tân kỳ của mình. Nhân loại ngày hôm nay muốn tự quản lý vận mạng của mình, để đi về đâu? Đi đến tận diệt. Vì họ không có mục tử. Thảm họa của nhân loại ngày hôm nay là không biết mình đi về đâu. Vật chất, khoa học, được biến thành thần tượng, thì nhân loại chỉ là một tên nô lệ bị gắn vào cổ máy của khoa học để rồi bị nghiền nát tan tành.

Càng hiểu toàn cầu ngày hôm nay, tất cả chúng ta càng phải tạ ơn Chúa vì tất cả chúng ta không bị bán làm nô lệ cho vật chất, cho khoa học, vì tất cả chúng ta có một mục tử nhân lành đã cứu thoát chúng và đang chăm sóc đàn chiên của Ngài. Mục tử của tất cả chúng ta là Sự Sống. Ngài đã nói: “Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi, tôi biết chúng và chúng theo tôi. Tôi ban cho chúng sự sống đời đời”. Này là đảm bảo, là tương lai của tất cả chúng ta. Dù toàn cầu này có đảo điên, tất cả chúng ta vẫn không sợ sệt: “Dù qua thung lũng tối, tôi không lo mắc nạn”.

Ngài biết tất cả chúng ta từng người một.

Từ “biết” ở đây phải hiểu theo nghĩa Do Thái: biết là yêu, biết theo nghĩa vợ chồng yêu nhau.

Chúa Giêsu biết chiên của mình, nghĩa là yêu thương chiên của Ngài “và yêu thương đến tận cùng”.

Ngài biết rõ “khi tôi ngồi và khi tôi đứng”, vì vậy tất cả chúng ta tuyệt đối có thể tin vào quyền năng của Ngài, phó thác cuộc sống tất cả chúng ta trong tay Ngài. Theo Ngài, tất cả chúng ta được đảm bảo về mọi mặt, mặc dù tất cả chúng ta phải đương đầu với cuộc sống đầy khổ sở. Những người yếu tin mới sợ sệt lo âu, than phiền, và bất mãn. Một người tin vững vẫn lạc quan, vì họ sẽ “không bao giờ bị diệt vong, sẽ không bị cướp mất khỏi tay Ngài”.

Tất cả chúng ta đã tin chưa? Này là vấn đề.

Cảm tạ Chúa đã ban cho Giáo hội những mục tử hết sức tuyệt vời, đầy niềm tin, tỉnh táo để lèo lái Giáo hội trong thời gian lao khăn ngày hôm nay.

Đức Gioan 23, vừa nhận nhiệm vụ chăn dắt đoàn chiên Giáo hội gần ba tháng, đã dũng cảm triệu tập Công đồng Vatican II, một việc vượt xa khả năng của một người lớn tuổi 78 tuổi. Ngài vui tươi lạc quan. Ngài biết rõ tình hình Giáo hội và toàn cầu lúc bấy giờ. Toàn cầu thời bấy giờ (1962) đang trong thời chiến tranh lạnh. Hai khối lớn trên toàn cầu đang đối đầu với nhau: Tư bản và Cộng sản. Ngài vẫn vui tươi tiến bước.

Điều đó chứng tỏ một niềm tin vững mạnh không gì lay chuyển. Ngài đã mở một đoạn đường mới cho Giáo hội đi vào toàn cầu đang đố kỵ kịch liệt với Giáo hội.

Đức Phaolô VI tiếp tục công trình đang dang dở: Công đồng Vatican II, và đã mang Công Đồng đến hoàn thiện và đi vào thực hành. Củng cố và canh tân Giáo hội theo đường lối của Vatican II. Ngài đã tỉnh táo hướng dẫn Giáo hội hậu Công Đồng với một sự khôn ngoan lạ thường, với một sự cương nghị đáng phục. Ngài đã hỗ trợ Giáo hội vượt qua bao nhiêu khó khăn, qua bao nhiêu khủng hoảng sau Công đồng.

Đức chân phước Gioan-Phaolô II, với hơn hai mươi lăm năm trong cương vị giáo hoàng đã mang Giáo hội vào đoạn đường canh tân sâu rộng. Ngài sẵn sàng đương đầu với mọi vấn đề xã hội, chính trị, tôn giáo…

Lời nói trước tiên của Ngài sau thời điểm lãnh trọng trách Mục Tử đàn chiên Giáo hội là: “Đừng sợ!”

Ngài chứng tỏ là một nhân loại có niềm tin sắt đá, và tỉnh táo. Cuộc sống của Ngài là một dấn thân trọn vẹn cho Giáo hội và cho nhân loại. Có thể nói, Ngài đã canh tân sâu rộng và làm cho khuôn mặt Giáo hội trong sáng hơn trong cuối thế kỷ hai mươi.

Đức Bênêđictô XVI gặp rất nhiều khó khăn trong nội bộ Giáo hội: các linh mục suy đồi, và nhiều chống đối trọng yếu khác. Ngài đã củng cố niềm tin của Giáo hội trong suốt thời gian làm Giáo Hoàng.

Đức tân Giáo Hoàng Phanxicô của tất cả chúng ta nhận trách vụ Mục Tử trong một hoàn cảnh gay cấn. Ngài vẫn mỉm cười với mọi khó khăn đang chờ đợi Ngài. Ngài tỏ ra lạc quan nhìn toàn cầu hỗn độn này với niềm tin thanh thản. Ngài biết rõ hơn ai hết tình trạng bi đát của toàn cầu ngày hôm nay. Ngài chứng tỏ niềm tin dũng cảm của Ngài bằng một nếp sống đơn thường, giản dị, đầy thân ái.

Tất cả chúng ta hãy vui mừng tạ ơn Chúa vì Chúa đã dẫn dắt Giáo hội qua mọi thử thách trần gian nhờ những Mục Tử đầy niềm tin trong sáng và dũng cảm.

Tất cả chúng ta vững tin vì Chúa Giêsu đã nhất định: “Không ai cướp được chúng khỏi tay Tôi… Không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha”. Tất cả chúng ta được đảm bảo như vậy, hãy hiên ngang tiến bước giữa trần gian không tin tưởng và lắm khi là nghịch thù, loan truyền tình thương của Chúa với sự thanh thản vui tươi của những Kitô hữu trước tiên, những anh em gương mẫu của tất cả chúng ta.

Tất cả chúng ta hiên ngang vì Chúa của tất cả chúng ta đã sống lại và là Thiên Chúa toàn năng: “Tôi với Chúa Cha là một”.

Mục tử nhân lành của tất cả chúng ta vẫn “ở với chúng ta mọi ngày cho đến tận thế” và hằng ngày vẫn lấy Thịt mình nuôi tất cả chúng ta, củng cố niềm tin của tất cả chúng ta.

Còn gì hạnh phúc bằng khi biết rằng Ngài là Thiên Chúa Tình Yêu và Ngài là của tất cả chúng ta và trọn vẹn là của tất cả chúng ta!

 

34. Suy niệm của Lm. Đaminh Hương Quất

KITÔ HỮU THAM DỰ SỨ VỤ MỤC TỬ CỦA CHÚA GIÊSU NHỜ CHỨC NĂNG VƯƠNG GIẢ

Chúa Nhật IV PS Giáo hội dành kính đặc biệt Chúa Giêsu Mục tử nhân lành, đồng thời là Ngày toàn cầu nguyện cầu cho ơn Thiên triệu Lm và Tu sĩ.

Đức Giêsu mặc khải thêm một khía cạnh của mầu nhiệm bản thân Ngài: Ngài là Mục tử: “Chiên tôi thì nghe tiếng tôi. Tôi biết chúng và chúng theo tôi. Tôi cho chúng được sự sống đời đời, chúng sẽ không bao giờ hư mất”

Chúa Giêsu nhất định chính Người là Mục tử nhân lành, qua các các đặc tính tốt rõ ràng:

  1. Thí mạng sống vì chiên;

  2. Biết các con chiên và được các con chiên biết;

iii. Muốn quy tụ những con chiên khác ở ngoài vào đàn chiên mình, để rồi sẽ chỉ có một đàn chiên và một chủ chiên.

Giêsu Mục tử Nhân lành, hằng ngày cho đến tận thế vẫn lấy chính Thịt và Máu Mình- là Bí tích Thánh Thể để nuôi dưỡng đàn chiên là giáo hội là tất cả chúng ta.

Quả thế, Biến cố Tử nạn- Phục sinh vừa qua minh chứng hùng hồn, rõ nhất, Chúa Giêsu Chúa Giêsu Mục tử nhân từ. Người hy sinh mạng sống vì đàn chiên; và đàn chiên đã tan tác sau các chết thảm khốc của Người thì khi Phục sinh, Người quy tụ mọi người về chung đàn duy nhất trong bình an, hiệp nhất yêu thương. Đàn chiên hiệp nhất ấy, Người chính thức trao cho các Tông đồ, đứng đầu thánh Phêrô thay mặt Người dẫn dắt. Giáo hội Tông truyền của tất cả chúng ta, Đức Giáo hoàng, các Đức Giám mục tiếp tục kế vị thánh Phêrô và các Tông đồ, tiếp tục trở nên các Mục tử nhân từ theo Chúa Giêsu dẫn dắt Giáo hội cho đến ngày tận thế.

Chúa Giêsu là Mục Tử duy nhất, tối cao và gương mẫu. Các Giám mục- Linh mục nhờ Bí tích Truyền chức thánh, được Thánh Thần thánh hiến là Đầu và là Mục tử, ‘được mời gọi nối dài sự hiện diện của Chúa Giêsu’ (Ҳ. Tông huấn PDV s.15). Các ngài Mục vụ nhân danh Chúa Giêsu, theo gương Chúa Giêsu.

Chúa Giêsu Mục tử nhân lành, Người yêu chiên, hy sinh mạng sống vì đàn chiên, Người biết rõ từng chiên, yêu thương chăm sóc từng chiên. Người thao thức và kêu mời tất cả chúng ta hợp tác sứ vụ Mục tử của Người: “Tôi còn có những chiên khác không thuộc đàn này. Tôi cũng phải đưa chúng về. Chúng sẽ nghe tiếng tôi. Và sẽ chỉ có một đoàn chiên và một mục tử”.

Quả thật nhờ Bí tích Rửa Tội, Chúa Thánh Thần đã thánh hiến tất cả chúng ta thuộc về Chúa, được tham gia vào 3 sứ vụ Cứu Thế rõ ràng của Chúa Giêsu: Sứ vụ Tư tế- Ngôn sứ và vương giả. Sứ vụ vương giả của người Kitô hữu cho thấy rõ hơn việc tham gia vào vai trò Chúa Giêsu Mục tử.

Tham gia vào sứ vụ Mục tử của Chúa Giêsu, qua tính năng Vương giả, mỗi tất cả chúng ta nhờ ơn Chúa thắng lợi ách thống trị tội lỗi nơi ta bằng một đời sống từ bỏ và thánh thiện, quản lý chính mình, chủ vật chất. Hợp tác với ơn Chúa, tích cực “góp sức làm cho các thể chế và cảnh sống gây nên dịp tội trở nên lành mạnh” là đang thực thi quyền vương giả (Ҳ.GH 36).

Gia đình được gọi là Giáo hội tại gia. Mỗi người đều có gia đình, có con cháu. Tham gia vai trò Mục tử, ông bà cha mẹ có trách nhiệm nêu gương và hướng dẫn chúng nên thánh, góp phân xây dựng gia đình nên thánh.

Và tất cả chúng ta chỉ làm tốt vai trò vương giả; đời sống Đức tin tăng triển chỉ khi tất cả chúng ta biết nghe theo Lời Chúa. Tất cả chúng ta thuộc hàng chiên tốt, đích thực là chiên của Chúa Giêsu cũng hệ tại ở việc ta nghe theo tiếng Chúa.

Tin Mừng ngày hôm nay, Chúa tuyên bố: ‘Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi, tôi biết chúng và chúng theo tôi’

Như vậy, chiên tốt thì biết nghe tiếng Chúa và chỉ nghe theo tiếng Chúa.

Thánh Gioan tông đồ nói: người biết Chúa Giêsu thì phải tuân giữ điều răn của Người, nói biết Chúa mà không sống theo điều Người dạy là kẻ nói láo (Ҳ 1Ga 2, 4-5).

Mà kẻ nói dối, gây chia rẽ thì không phải con Chúa, không phải là chiên, chỉ đội lốt chiên (chiên giả).

Thuộc hàng Chiên tốt, ta không thể không quan tâm đến các nhu cầu của Giáo hội, thăng tiến Giáo xứ, cách riêng biết nguyện cầu và tích cực chia sẻ cho ơn gọi tận hiến của Giáo hội ngày càng tiến triển.

Trong Tông huấn ‘Amoris laetitia”- Niềm vui Yêu thương của Đức Thánh Cha Phanxico (Tông huấn hậu Thượng HĐGM toàn cầu, thông báo 8.4.2016) nói về đời sống gia đình. Tông huấn cho thấy rõ những giá trị tốt đẹp- cao quý của Tình yêu Hôn phối, nhất là Hôn phối Bí tích mà Thiên Chúa đã thiết định để đảm bảo gia đình Hạnh phúc dẫu gia đình đang trực diện nhiều thách đố thời cuộc.

Đức Thánh Cha lưu ý cách riêng việc củng cố giáo dục con cháu. Cha mẹ không chỉ nêu gương sống, kiên trì mà trong giáo dục cần tôn trọng con cháu, tránh áp đặt…

Có một đoạn vô cùng ý nghĩa,có tính chất sư phạm cơ bản trong đó, theo ĐGH Phanxicô ‘Thái độ bị ám ảnh không có tính chất giáo dục và không thể có một sự kiểm tra toàn bộ những hoàn cảnh trong đó một người con có thể trải qua (…). Nếu một người làm cha mẹ bị ám ảnh muốn biết con mình đang ở đâu và kiểm tra mọi sự di chuyển của con, thì chỉ tìm cách thống trị không gian của đứa con mà thôi. Làm như vậy họ không giáo dục con, không làm cho nó vững mạnh, không chuẩn bị con đương đầu với những thách đố. Điều trọng yếu cốt yếu là tạo thành nơi con cháu, một cách yêu thương, những tiến trình trưởng thành tự do, chuẩn bị, tăng trưởng toàn diện, vun trồng sự tự lập đích thực” (s.260)

Lạy Chúa Chúa Giêsu Mục tử nhân hiền, nhờ ơn Chúa và trong Giáo hội Tông truyền xin giúp chúng con mỗi ngày mỗi sống xứng đáng là con Thiên Chúa, tích cực tham gia tác vụ ‘Mục tử’ của Chúa qua việc nêu gương sống Thánh thiện, quan tâm đến giáo dục con cháu.

 

35. Con chiên của Chúa Giêsu

(Trích trong ‘Niềm Vui Chia Sẻ’)

Anh chị em thân mến, tất cả chúng ta vẫn quen gọi các giám mục, các linh mục là các mục tử hay chủ chăn, và anh chị em giáo dân cũng vẫn quen nhận mình là “con chiên”. Kiểu nói nầy bắt nguồn từ trong Kinh Thánh. Ngay từ thời Cựu Ước, tiên tri Êzêkiel đã dùng hình ảnh đàn chiên và chủ chiên để báo trước rằng: chính Chúa sẽ đến chăn dắt dân Israel như mục tử chăn dắt đàn chiên, thay thế hết các người lãnh đạo dân từ trước đến nay. Khi Chúa Giêsu đến, Ngài đã xưng mình là mục tử và là mục tử tốt lành, đích thực, khác với những kẻ chăn thuê, những mục tử giả.

Tin Mừng ngày hôm nay vắn tắt có bốn câu nói về “con chiên” nhiều hơn là chủ chiên, tức là nói về “người giáo dân” hơn là hàng giáo sĩ. Người giáo dân là con chiên của Chúa Giêsu, là người biết “nghe tiếng Chúa”, dám “bước theo Chúa” để không lúc nào phải hư mất, nhưng “được sống đời đời”.

Trước đó, anh chị em có nghe nói mình là “con chiên của các cha” thì lấy làm thường tình, chẳng thắc mắc gì. Nhưng ngày nay, hình ảnh con chiên dễ làm cho người ta hiểu nhầm và tự ti cho rằng hạ phẩm giá nhân loại giáo dân – người ta là nhân loại mà coi như loài vật – coi giáo dân còn ấu trĩ và thụ động trong Giáo Hội.

Cách đây mấy chục năm, Đức Hồng У Gasquet trong một quyển sách nói về người giáo dân, có kể mẩu chuyện như sau: Một người sắp theo đạo hỏi linh mục về vai trò của giáo dân trong Giáo Hội như vậy nào? Linh mục trả lời: “Giáo dân có hai vai trò: một là quỳ gối trước bàn thờ, hai là ngồi quay mặt về tòa giảng”. Và Đức Hồng У Gasquet hóm hỉnh viết thêm: “Người ta quên mất một vai trò thứ ba, đó là móc ví tiền ra”.

Mẩu truyện trên phản ảnh một tư tưởng lệch lạc về địa vị giáo dân. Vai trò của người giáo dân bị giản lược vào mấy việc: xem lễ, nghe giảng và góp tiền vào nhà thờ! Ngày nay, Công Đồng Vatican II đã tư tưởng Giáo Hội trước tiên là “Cộng đồng Dân Chúa”. Giáo Hội trước hết là giáo dân chứ không phải Giáo hoàng, Giám mục hay Linh mục. Ngày nay, giáo dân phải đứng hàng đầu trong Giáo Hội. Nói như vậy không có nghĩa là giáo dân điều khiển toàn bộ, nhưng có nghĩa là giáo dân phải lãnh phần trách nhiệm sống đạo chủ động của mình, như những người trưởng thành giữa xã hội ngày nay.

Sống đạo trong xã hội “dân chủ tập thể” ngày hôm nay đương nhiên giáo dân vẫn phải là những “con chiên” của Chúa, hiền từ yêu thương, đừng hung bạo ác ôn, nhưng cũng phải từ bỏ thái độ ấu trĩ, vô trách nhiệm và thụ động. Tất cả chúng ta muốn làm những nhân loại tín hữu đứng hàng đầu, những nhân loại có trí não trách nhiệm, dám nhận lãnh sứ mệnh, dám sống bổn phận của mình cách chủ động. Với điều kiện đó, tất cả chúng ta mới “nghe tiếng Chúa” và “bước theo Chúa” cách đúng đắn và phù phù hợp với những đòi hỏi của xã hội ngày nay. “Chiên Ta thì nghe tiếng Ta. Chúng theo Ta, và Ta ban cho chúng sự sống đời đời. Không ai giựt chúng khỏi tay Ta được”. Nghe tiếng Chúa là tin nhận Lời của Chúa và bước theo Chúa là dấn thân sống Lời Chúa một cách tự do và chủ động. Nghe và theo Chúa là sống gắn bó thiết thân với Chúa. Bởi vậy, nghe và theo Chúa Kitô tức là bước vào cuộc sống bất tử ngay từ đời nầy.

Tiếng Chúa ngày hôm nay đang vang lên từ quả tim của từng nhân loại nghèo khổ, bị áp bức, bị bóc lột. Tiếng Chúa ngày hôm nay là tiếng kêu của đồng bào, của cả quốc gia, của cả xã hội loài người đang cần nhau để sống, để có cơm ăn áo mặc đầy đủ, để tạo được hạnh phúc chung. Tiếng Chúa đang vang dội từng ngày, từng giờ mời gọi thúc bách tất cả chúng ta xung phong tiên phong, dấn thân theo Chúa trên mọi nẻo đường yêu thương, phục vụ, hy sinh. Yêu thương, phục vụ đến chỗ không còn tìm kiếm gì cho riêng mình, không giữ lấy gì cho riêng mình và đến chỗ dám liều chết cho anh em được sống, như chủ chiên dám liều mạng sống vì đàn chiên.

Làm con chiên nghe tiếng Chúa và bước theo Chúa là như vậy. Làm người có đạo ngày hôm nay dám sống đạo thật là như vậy. Nghe tiếng Chúa và dám bước theo Chúa trong xã hội tất cả chúng ta ngày hôm nay phải như vậy, và như vậy nhất định tất cả chúng ta sẽ được sống đời đời, không một sức lực nào có thể cướp giựt tất cả chúng ta khỏi tay Thiên Chúa.

Anh chị em thân mến,

Chúa nhật ngày hôm nay với đề tài mục tử và đàn chiên được Giáo Hội chọn làm Ngày Thế Giới nguyện cầu cho ơn gọi Giáo sĩ và Tu sĩ. Giáo Hội đang thiếu các mục tử và nhất là các mục tử tốt lành. Tiếng báo động nầy đang vang đến tai tất cả chúng ta ngày hôm nay ở nơi nầy, trên quốc gia tất cả chúng ta. Hiệp ý với toàn thể Giáo Hội hoàn cầu, tất cả chúng ta hãy cầu xin cho thanh niên biết lắng nghe tiếng gọi của Chúa và nhất là có đủ dũng cảm để bước theo tiếng gọi đó bằng cuộc sống dâng hiến trọn vẹn cho Chúa để phục vụ tha nhân, nhất là những người nghèo khổ, ốm đau, bệnh tật, cô quạnh, già yếu…

Sự hy sinh hầu như tuổi trẻ có thừa, nhưng cần rất nhiều yếu tố xã hội góp phần để tuổi trẻ thực hiện quyết định hy sinh quảng đại của mình: cha mẹ, gia đình, và giáo xứ có đóng góp thêm phần huấn luyện ơn gọi thì ơn gọi mới nẩy nở và mới được đảm bảo. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, trong sứ điệp ngày toàn cầu nguyện cầu cho ơn thiên triệu đã viết: “Tôi nói với bậc cha mẹ, dựa vào lòng tin, rằng họ có thể nếm hưởng niềm vui của ân sủng sẽ vào nhà họ, khi một con trai hay con gái của họ được Chúa gọi để phục vụ Ngài… Đặc biệt, tôi hướng về giới trẻ của thời nay và tôi nói với họ: Hãy để cho Đấng Vĩnh Cửu quyến rũ các bạn, và tôi lập lại lời Ngôn sứ Giêrêmia (20,7): “Ngài đã làm cho tôi say mê, lạy Chúa… Ngài đã chinh phục tôi và Ngài đã mạnh hơn tôi”… “Hãy để Đức Kitô quyến rũ bạn. Hãy để gương Ngài lôi cuốn các bạn. Hãy để tình yêu của Thánh Thần yêu mến các bạn… Hãy say mê Đức Kitô để sống cuộc đời của Ngài, hầu nhân loại có sự sống trong ánh sáng Tin Mừng…”. Đức Thánh Cha còn nhấn mạnh: “Thời đại chúng ta sẽ nghèo nàn đi biết bao, nếu sự hiện diện của những cuộc đời dâng hiến cho tình yêu trở nên khan hiếm. Xã hội chúng ta sẽ nghèo nàn đi biết bao, nếu không được thúc đẩy để ngước nhìn lên nơi có những niềm vui chân thật! Giáo Hội chúng ta cũng sẽ nghèo nàn đi biết bao, nếu thiếu những gì biểu lộ một cách cụ thể và mạnh mẽ tính thời sự vĩnh cửu của việc dâng hiến cuộc đời vì Nước Trời”.

Cuối cùng, Đức Thánh Cha giao phó thanh niên cho Đức Trinh Nữ Maria, đặc biệt các thanh thiếu niên đã được gọi bước theo Chúa Giêsu. Mẹ biết rõ toàn bộ những khó khăn, tranh đấu và trở ngại các bạn trẻ phải trải qua. Xin Mẹ giúp các bạn trẻ biết nói lên câu: “Xin Vâng” đền đáp tiếng gọi của Chúa, như Mẹ đã thưa khi được Sứ thần truyền tin.

 

36. Bản sắc của một cộng đoàn Kitô giáo

(Suy niệm của Lm. Nguyễn Hữu Thy)

Mỗi thời kì và mỗi sắc dân có những hình ảnh tượng trưng riêng. Mỗi nhà văn hay mỗi vị giảng thuyết là đứa con của thời kì và của dân tộc mình đang sống, vì vậy trong văn chương và trong ngôn từ của họ, họ xử dụng chính hình ảnh đó. Do đó, để hiểu được ngôn từ và các bản văn của họ, tất cả chúng ta cần phải tìm hiểu các hình ảnh tượng trưng đó: Các hình ảnh đó muốn nói lên ý nghĩa gì? Những gì được dấu ẩn phía sau những hình ảnh đó?

Bởi vậy, nếu trong bài Tin Mừng ngày hôm nay, Ðức Giêsu đã nói đến hình ảnh người mục tử và đoàn chiên, Người đã xử dụng chính những hình ảnh thân thuộc và thân thương so với những khán thính giả của Người lúc bấy giờ ở các miền quê Pa-lét-ti-na, tương tự như cánh đồng lúa, con trâu hay chiếc cày so với người Việt nam tất cả chúng ta. Ðây là những hình ảnh hoàn toàn tùy thuộc vào thời gian và không gian lúc bấy giờ. Nhưng nội dung các ý nghĩa mà Ðức Giêsu muốn trình bày qua các hình ảnh đó thì lại có giá trị vượt mọi biên giới của thời gian và không gian. Qua những hình ảnh đó thánh sử Gioan muốn nói lên bản sắc đích thực của cộng đoàn Kitô giao, tức sự hiệp nhất giữa Ðức Giêsu và cộng đoàn các tín hữu.

Thật vậy, trong lúc đối chất với những người phê bình và những đối thủ của Người, Ðức Giêsu đã dùng tới hình ảnh người mục tử và đoàn vật, để nói lên tính chất gắn bó mật thiết giữa Người và các tín hữu, những “con chiên” thuộc về “đàn chiên” của Người và do Người chăn sóc. Một thắc mắc đã từng làm bận tâm vị thánh sử và cộng đoàn Kitô hữu là: Vì sao nhiều người Do-thái từ chối Ðức Giêsu và không tin nhận giáo lý của Người, mặc dù Người đã ngày đêm đi khắp mọi miền quốc gia của họ để rao giảng Tin Mừng Cứu Ðộ cho họ, thương yêu và chữa lành mọi bệnh tật cho họ, cũng như Người đã không ngần ngại làm phép lạ cho bánh hóa nhiều để nuôi sống họ? Thánh sử Gioan chỉ tìm thấy một câu trả lời duy nhất, là: Bởi vì họ không muốn! Bởi vì họ không chịu thoát ra khỏi cái bóng đen của chính mình và không chịu tin vào lời rao giảng và các việc làm của Người, những việc làm đã mặc khải cho họ biết Người là Ðấng nào.

Ðối với những người Do-thái đã từ chối không muốn tin nhận Người, Ðức Giêsu đã trình bày cho họ thấy được thái độ của các con chiên của Người: Chúng luôn biết nghe và đón nhận tiếng Người, nghĩa là chúng tin vào Người. Tất nhiên đức tin chân chính và sâu xa không dừng lại nơi sự tuyên xưng bằng môi miệng suông mà thôi, nhưng nó được chứng mình qua thái độ sống rõ ràng: Luôn sẵn sàng cùng Ðức Kitô gắn bó trên đoạn đường của Người!

Nhưng đức tin đó không hề là đoạn đường một chiều thuộc về phía người tin, nhưng nó kiến tạo một tương quan hoàn toàn mới mẻ giữa Ðức Giêsu và các tín hữu của Người: Người lo ngại chăm sóc họ, Người biết rõ họ, Người tin tưởng họ và gắn bó mật thiết với họ. Người ban cho họ cuộc sống hạnh phúc trên nơi vĩnh cửu. Và những gì Người ban, Người cũng chở che bảo vệ như thể một kho tàng vậy!

Ở đây, Ðức Giêsu hoàn toàn phó thác mọi sự nơi Cha Người, Ðấng ở trên Trời. Người và Chúa Cha là một! Do đó, toàn bộ những gì Ðức Giêsu nói và hành động, Người đều nói và hành động với uy quyền của Thiên Chúa Cha! Ðiều đó càng làm cho những lời rao giảng của Ðức Giêsu mang một giá trị tuyệt đối. Vì vậy ai tin nhận Người, thì có thể chắc cú được rằng mình cũng được chính Thiên Chúa thừa nhận và chấp thuận. Trái lại, ai từ chối Ðức Giêsu, thì đương nhiên cũng “nói không” cùng chính Thiên Chúa. Như vậy, vấn đề được đưa ra ở đây là sự cứu rỗi hay sự xấu số, sự sống hay sự tiêu diệt. Ðó là ý kiến của thánh sử Gioan về cộng đoàn Kitô giáo.

Vậy, ngày nay dựa trên ý kiến đó tất cả chúng ta có nhận thấy mình là cộng đoàn Kitô hữu nữa hay không?

Ðức tin không phải là đoạn đường một chiều. Ðức tin tạo thành sự thông hiệp với Ðức Kitô và với nhau. Phải chăng điều đó cũng là một thực tại trong cộng đoàn Ðức Kitô nơi tất cả chúng ta đang sống? Phải chăng trong giáo xứ tất cả chúng ta thường đã mong đợi quá nhiều nơi những người khác, như nơi: Cha Quản Xứ, công bố giáo xứ, các hội đoàn, các giáo lý viên, 𝒱.𝒱…, nói tắt: nơi “những người có trách nhiệm”? Còn đâu là sự đóng góp và sự dấn thân của mỗi người trong tất cả chúng ta cho cộng đoàn? Tất cả chúng ta có sống đức tin của mình một cách đầy xác tín, hầu có thể trở nên nhân chứng cho Ðức Kitô giữa lòng đời hay không? Tất cả chúng ta có sống đức tin của mình sao cho người khác phải lưu ý và tìm hiểu vì sao tất cả chúng ta tin và tất cả chúng ta tin ai không?

Qua Phép Rửa và nhờ đức tin toàn bộ tất cả chúng ta thuộc về một đại gia đình, gia đình Ðức Kitô. Nhưng gia đình này chỉ có thể tồn tại được nhờ vào sự cùng đồng trách nhiệm, sự tha thứ và lòng yêu thương trọn vẹn. Vì như Chúa đã phán: “qua đó thế gian sẽ nhận biết rằng, các con là môn đệ của Thầy” (Ga 13,35). Amen.

 

37. Chúa Nhật 4 Phục Sinh

Chúa nhật thứ IV Phục Sinh ngày hôm nay được gọi là Chúa nhật Đấng Chăn Chiên nhân lành. Vì vậy, Lời Chúa ngày hôm nay đều xoay quanh đề tài chính là mục tử và đoàn chiên. Mục tử, tức là người chăn chiên, là hình ảnh rất thân thuộc so với người Do Thái. Vì vậy, suốt thời Cựu ước, hình ảnh người chăn chiên trở thành một biểu tượng phong phú và sống động nhất, được dùng để diễn tả tương quan giữa Thiên Chúa và dân Do Thái. Họ như một đoàn chiên riêng của Thiên Chúa, được Người nuôi nấng, chăn dắt, săn sóc một cách đặc biệt. Và lúc này, Chúa Giêsu ứng dụng hình ảnh đó cho chính Ngài và đoàn chiên của Ngài là tất cả chúng ta. Tất cả chúng ta thấy Chúa dùng hai hình ảnh: người chăn chiên mướn và người chăn chiên tốt lành, để so sánh và diễn tả cho mọi người biết Ngài là người chăn chiên thật, là một mục tử tốt lành.

Thế nào là một mục tử tốt lành? Tất cả chúng ta có thể tóm tắt trong hai điều: này là người mục tử biết các con chiên của mình và đon đả săn sóc chúng. Chúa Giêsu là một chủ chăn tốt lành vì Ngài có đầy đủ hai yếu tố đó. Chúa Giêsu là chủ chăn tốt lành của tất cả chúng ta vì Ngài biết tất cả chúng ta. Một người chăn chiên chuyên nghiệp biết số chiên trong lũ có bao nhiêu con. Biết từng con một, biết ngày sinh tháng đẻ, biết con nào tới đợt xén lông hay gây giống. Họ có tên gọi cho từng con, biết bệnh tật từng con để chữa trị: con nào hay bị lạnh, con nào làm lười ăn, con nào hay đi tách ra khỏi lũ, con nào khó tính,… hơn nữa, có khi họ còn chụp hình, còn ghi sổ từng con mỗi năm và cân ký hàng tháng để coi con nào lên ký, con nào xuống ký. Chúa Giêsu đã dùng hình ảnh đó ứng dụng cho Ngài như Ngài đã tuyên bố: ” Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi, tôi biết chúng và chúng theo tôi” (Ga 10, 27). Thực vậy, Ngài biết từng con chiên, Ngài biết tất cả chúng ta là những nhân loại, là những tín hữu, là những người có tính tình thế nào, tình trạng ra sao. Ngài biết tất cả chúng ta còn hơn tất cả chúng ta biết mình nữa. Ngài thấu suốt tư tưởng, ước mong, lời nói, việc làm, dự tính, thiên hướng tốt xấu của tất cả chúng ta. Ngài biết rõ từng người: ai là con chiên tốt, trung thành, ngoan đạo, ai là con chiên ghẻ, lười biếng, khô khan, phản bội. Tóm lại, không ai có thể lẩn trốn khỏi mắt Chúa, bất kể sự gì, dù thầm kín hay bí mật đến đâu, Chúa cũng biết hết. Để rồi từ đó, Chúa Giêsu trở nên một chủ chăn tốt lành đích thực của tất cả chúng ta, Ngài đon đả săn sóc cho tất cả chúng ta, Ngài hằng ở bên để săn sóc từng người tất cả chúng ta nữa, và Ngài còn basự sống đời đời cho tất cả chúng ta nữa.

Chúa Giêsu nói mình là Mục Tử tốt lành và Chúa đã hành động xứng đáng với tước vị đó, thì đoàn chiên cũng phải biết đối xử sao cho xứng đáng. Một loài vật như con chiên không có lý trí còn biết bổn phận mình với chủ chăn, thì tất cả chúng ta, tất cả chúng ta có linh tính, thì tất cả chúng ta càng phải đền đáp sao cho xứng với tình ưu ái của Chúa chiên vô cùng nhân hậu ấy. Vậy bổn phận của tất cả chúng ta là gì? Tất cả chúng ta phải suy tôn Chúa là chủ chăn tất cả chúng ta hài lòng tin tưởng và yêu mến. Nhưng suy tôn không phải chỉ ngoài miệng mà phải suy tôn Chúa trong đời sống, trong công ăn việc làm, trong sự đối xử với người xung quanh, trong việc làm chứng nhân cho Chúa. Rồi tất cả chúng ta phải tin tưởng vào Ngài, như con cháu tin tưởng cha mẹ, như đồng bọn tin tưởng nhau, như người công nhân tin tưởng vào nơi chổ mình lao động, thì tất cả chúng ta càng phải biết tin tưởng vào Chúa nhiều hơn. Sau cùng, tất cả chúng ta phải biết lắng nghe Lời Chúa và sống theo Lời Chúa, này là điều chắc cú vị Chủ chiên sẽ ưng ý, bởi vì ai mà chẳng vui khi thấy người thuộc quyền mình biết vâng nghe theo lời của mình.

Toàn bộ những điều trên đây tất cả chúng ta đều biết cả, nhưng biết mà không đem ra thực hành thì thực là uổng công vô ích. Nhiều khi trong cuộc sống, tất cả chúng ta không chối Chúa, nhưng nhiều khi tất cả chúng ta hay quên Ngài. Giữ đạo Chúa, nhưng nhiều khi tất cả chúng ta quá lo ngại đến tiền nong, đến vật chất, đến nỗi tất cả chúng ta xao lãng các bổn phận thiêng liêng: không đi lễ, làm biếng rước lễ, không chịu đọc kinh hôm kinh mai nguyện cầu với Chúa; rồi cũng bao lần trong đời sống, do cách ăn ở, do cách ứng xử của tất cả chúng ta thiếu công bình, thiếu nhân ái, thiếu yêu thương, không làm chứng cho Chúa trước những người xung quanh…. Tất cả chúng ta xin Chúa cho tất cả chúng ta dũng cảm sửa chữa những khuyết điểm, này là cốt yếu của Lời Chúa dạy ngày hôm nay, là sống tốt trong đoàn chiên của Chúa, cầu xin Chúa cho tất cả chúng ta cũng trở nên những con chiên ngoan, biết lắng nghe, vâng phục và hợp tác với Hội Thánh mà rõ ràng là những vị chủ chăn của mình một cách tích cực, đầy tình thân ái trong Chúa Kitô.

Mặt khác, năm nay là Năm Thánh nguyện cầu cho các linh mục, là con chiên, tất cả chúng ta hãy cầu xin Chúa cho các vị Mục Tử của Chúa, sống hết mình vì đoàn chiên, toàn vẹn trách nhiệm trong tình yêu và lòng thành tín của Chúa Giêsu; Ngoài ra, ngày hôm nay cũng là ngày Hội Thánh dành để nguyện cầu cho ơn Thiên Triệu linh mục và tu sĩ. Ngày nay, có nhiều tâm hồn trẻ muốn dâng mình cho Chúa. Tất cả chúng ta hãy cầu xin Chúa ban cho Hội Thánh nhiều người trẻ quảng đại đền đáp lời mời gọi bước theo Chúa, dâng mình cho Chúa, hiến thân phụng sự Chúa và phục vụ dân thánh Chúa. Là Cha mẹ trong nhà, tất cả chúng ta hãy quảng đại dâng con cho Chúa, khuyên bảo và nhắc nhở cho con cháu mạnh dạn đi tu để làm Tông Đồ, làm sáng danh Chúa… Xin Chúa cho chúng con có những vị Mục Tử như lòng Chúa muốn.

Lạy Chúa, xin làm cho chúng con trở nên những con chiên ngoan tốt lành của Chúa. Amen.

 

38. Chúa Chiên Lành – McCarthy

(Trích trong ‘Phụng Vụ Chúa Nhật và Lễ Trọng’)

Suy Niệm 1. CHÚA CHIÊN LÀNH NHẬN BIẾT CHIÊN CỦA NGƯỜI

Khoảng giữa thế kỷ 19, Thánh Gioan Bossco khởi đầu làm việc cho thanh niên nghèo khổ và bị lâm nguy tại tp Turin ở Ý. Chẳng bao lâu, các thanh niên nhận thấy rằng nơi ngài, đến nỗi một lần kia, khi ngài lâm bệnh trở nặng, họ đã hết lòng cùng nhau nguyện cầu sốt sắng, và một số người còn muốn được thay thế vào chỗ của ngài, bằng cách tận hiến cả cuộc sống mình cho Thiên Chúa. Sau sự kiện đó Thánh Gioan Bosco đã được hồi phục. Mối tương quan này không thể tồn tại được, trừ phi có sự thân thiện, và sự thân thiện thu hút theo sự nhận ra và được nhận ra.

Đức Giêsu, Chúa Chiên Lành nói “Tôi biết các chiên của tôi”. Người biết các chiên của Người một cách đúng đắn, bởi vì Người là Chúa Chiên Lành. Có nhiều mức độ nhận ra khác nhau. Tất cả chúng ta quen biết một số người chỉ qua khuôn mặt hoặc danh tính. Còn so với những người khác, tất cả chúng ta chỉ mới quen biết sơ giao mà thôi. Và có người tất cả chúng ta quen biết với tư cách là đồng bọn.

Có một điều đáng thương trong việc không nhận ra nhân loại. Elie Wiesel, một văn sĩ người Do Thái, rất gắn bó với cha của ông, người đã bị chết tại Aushwitz vào năm 1944. Tuy nhiên, khi viết cuốn tự thuật, ông nói:

“Tôi chưa biết bao giờ thực sự nhận biết cha tôi. Thật đau lòng khi phải thừa nhận rằng tôi biết rất ít về con người mà tôi yêu thương nhất trên đời, một con người mà chỉ cần một tia nhìn, cũng có thể lay động tâm hồn tôi. Tôi thắc mắc không biết những người con trai khác có cùng một vấn đề giống như tôi không. Liệu họ có nhận biết cha họ như là một con người nào khác với một khuôn mặt đầy uy quyền, cứ mỗi buổi sáng đều rời khỏi nhà, và trở về nhà vào buổi tối, để nuôi sống cả gia đình chăng?”.

Tôi e rằng này là một tiếng than thông dụng. Con cháu không biết gì về cha mẹ của họ; cha mẹ không biết gì về con cháu. Để nhận ra về nhau, cần phải dành ra thì giờ và công sức, những điều này sẽ mang lại thành tích vĩ đại. Khi thiếu mất sự nhận ra này, thì sẽ để lại hậu quả là sự mất mát to lớn. Cuộc sống trôi qua vô cùng nhanh chóng. Tất cả chúng ta biết về nhau một cách nghèo nàn. Bạn không thể yêu thương một người nào này mà bạn không hề quen biết.

Sự nhận ra vô cùng quan trọng so với những người làm công việc săn sóc người khác. Người săn sóc cần phải nhận ra những người làm công việc săn sóc người khác. Người săn sóc cần phải nhận ra những người mà họ săn sóc. Biết tên của những người này là một bước khởi đầu tốt. Nhưng để thực sự biết về họ, thì phải biết về lịch sử cuộc sống của họ. Những người được săn sóc sẽ không hơn gì những chiếc bóng so với người săn sóc, trừ phi người săn sóc hiểu rằng một số điều về toàn cầu mà từ đó người được săn sóc xuất phát.

Lối nhận ra mà tất cả chúng ta đang nói đến đòi hỏi phải có thì giờ, sự kiên trì và hy sinh. Nhưng sự nhận ra này được bù đắp bằng phần thưởng to lớn. Mặc kệ tất cả chúng ta không ưa một cá nhân nào đó như vậy nào, nhưng một khi đã biết về lịch sử cuộc sống của người đó, thì thái độ của tất cả chúng ta so với họ sẽ mềm mỏng hơn.

Tuy nhiên, sự nhận ra này phải là một công việc có hai đường lối. Đức Giêsu, Chúa Chiên Lành, biết những con chiên của Người một cách thiết thân. Nhưng họ cũng biết Người: “Những kẻ thuộc về tôi thì biết tôi”. Đức Giêsu không ngại ngùng trong việc để cho mình được nhận ra. Nhưng đôi lúc, tất cả chúng ta lại có cảm nhận đó. Tất cả chúng ta không muốn để người khác đi vào cuộc sống của mình. Sẽ không có ai hiểu rằng những cảm nhận, nhu cầu, nỗi đau và niềm trông mong thực sự của tất cả chúng ta là gì.

Có vẻ nỗi sợ hãi bị khước từ làm cho tất cả chúng ta tự co rút mình lại. Tất cả chúng ta sợ rằng nếu người ta thực sự hiểu rằng nhân loại bất toàn của mình, thì họ sẽ khước từ tất cả chúng ta. Hậu quả là người khác sẽ nhận ra về tất cả chúng ta theo như hình ảnh mà tất cả chúng ta có ý tưởng về mình, hơn là đúng với nhân loại của tất cả chúng ta. Sẽ thật là điều đáng thương, khi tất cả chúng ta phải sống và chết đi, mà chưa lúc nào được người khác nghe đến một cách sâu xa, chưa lúc nào được kể ra mẩu chuyện cuộc sống mình.

Làm sao tất cả chúng ta có thể tạo thành một mối quan hệ với người khác được, nếu tất cả chúng ta cứ giữ một khoảng cách so với họ, do đó, tất cả chúng ta đã ngăn cản không để cho họ nhận ra mình? Nếu họ cũng giữ một khoảng cách so với tất cả chúng ta, và nếu điều đó để lại hậu quả là họ không tin tưởng hoặc sợ hãi tất cả chúng ta, thì liệu tất cả chúng ta có trách cứ họ không?

Đức Giêsu chính là Chúa Chiên Lành so với tất cả chúng ta. Người muốn tất cả chúng ta có được sự sống ở nơi đây và có sự sống đời đời sau này. Nhưng đây phải là một công việc hai chiều. Tất cả chúng ta phải đáp lại tình yêu của Người. Con Chiên trung thành thì phải biết lắng nghe tiếng nói của chủ chiên và đi theo họ. Tất cả chúng ta phải nhận ra Chúa, lắng nghe và thực hành lời của Người.

Suy Niệm 2. TẬN HIẾN CHO ĐÀN CHIÊN.

Đức Giêsu nói “Sẽ không ai cướp được đàn chiên khỏi tay tôi được”. Bằng phương pháp này, Người đang nhấn mạnh rằng so với Người, đàn chiên quý hiếm đến thế nào. Nếu có Người trợ giúp, thì không lúc nào có một điều xấu xa nào có thể xảy ra cho bất kể người nào trong số họ.

Khi kẻ làm thuê trông coi đàn chiên, thì lũ chó sói không gặp rắc rối nào trong việc rình bắt đàn chiên. Ngay khi kẻ làm thuê nhìn thấy một con chó sói đang tiến lại gần, thì hắn ta liền bỏ rơi đàn chiên. Hắn chỉ nghĩ đến một điều duy nhất là cứu thoát người thân của mình mà thôi. Người chủ tốt lành của đàn chiên thì không như vậy. Họ bảo vệ đàn chiên chống lại sự tấn công của lũ sói, thậm chí họ còn sẵn sàng liều mất mạng sống của mình nữa.

Thật không may, tất cả chúng ta đang sống trong một toàn cầu mà đàn chiên, nhất là những con cừu, thường bị vồ chụp và vật cho chết. Nhưng đây chính là một toàn cầu mà trong đó, hơn lúc nào hết, người ta càng cần đến người chủ chiên tốt lành. Ngày nay, toàn bộ mọi sự đều có thiên hướng to lớn ra và được tập trung hoá, làm cho việc nhận ra và săn sóc trở nên không đơn giản gì, bởi vì toàn bộ mọi sự đều mất đi tính chất nhân loại. Trong hệ thống này, nhân loại được thuê mướn và củng cố vì hiệu quả công việc, chứ không vì tình yêu và sự quan tâm săn sóc, mà họ có khả năng giãi bày ra.

Ngày nay, người chủ chiên tốt lành không chắc hẳn phải đương đầu với một đàn chó sói. Nhưng họ có thể phải đương đầu với một điều gì đó còn tệ hại hơn – một bè lũ tội phạm. Philip Lawrence là một hiệu trưởng tại trường Công Giáo Thánh George ở Luân Đôn. Vào một ngày trong tháng 12 năm 1995, ông đã bị đâm nay bên ngoài trường học của ông, trong lúc đang nỗ lực bảo vệ một trong số các học viên đang bị một tên côn đồ tấn công, và ông đã chết vì những vết thương quá nặng. Ông đã được các thính giả cảu chương trình Thời Đại Ngày Nay ở đài phát thanh BBC bình bầu là Nhân Vật Ấn Tượng nhất trong Năm. Ông thu được 23.130 phiếu bầu, trên cả ông John Major, người sau này làm Thủ tướng (18.260 phiếu).

Vợ ông đã nói rằng chồng bà “chắc chắn sẽ cực kỳ bối rối về tất cả điều này. Ông ấy rất khiêm tốn tới mức độ không tán thành chính bản thân mình”. Thật là một điều hay, khi biết rằng người ta vẫn còn nhận thấy sự vĩ đại nơi một hành động giống như vậy. Và thật là một điều hay, khi biết rằng có người nào đó có thể làm được một hành động như vậy, và nhìn vào hành động này như là một điều gì đó bình thường và tự nhiên.

Philip Lawrence là một người chủ chiên nhân hậu so với các học viên của ông. Ông đã nỗ lực tạo ra được một môi trường an toàn trong đó các học viên có thể được học hỏi và phát triển, để có thể tự hào về bản thân mình. So với ông, ông không thể chấp thuận nổi sự việc cứ để mặc cho một trong số các học viên của ông bị một tên côn đồ đánh, mà không ra tay ngăn cản.

Philip Lawrence nhắc nhở cho toàn bộ tất cả chúng ta rằng tình yêu đích thực có nghĩa là gì, và tình yêu đó có thể mang giá trị gì. Nếu chỉ yêu thương thanh niên mà thôi thì chưa đủ, mà chúng con phải được biết rằng chúng được yêu thương. Điều này không chỉ ứng dụng nơi học đường mà còn trong nhà nữa.

Lawrence đã lấy được sức mạnh và trí não nơi đức tin Kitô hữu của ông. Ông đang mô phỏng theo tình yêu của Đức Giêsu, Chúa chiên lành, Đấng đã hiến mạng sống cho đàn chiên. Mạng sống của Người không bị lấy đi, cũng không phải theo lệnh của Chúa Cha. Chính Người đã tự ý trao ban, và trao ban một cách vui lòng. Người tự hiến cho đàn chiên, để mang chúng về đồng cỏ của sự sống đời đời.

Mỗi Kitô hữu được gọi là người mang tình yêu thương và sự chăm sóc. Chúa Nhật ngày hôm nay là lễ của những người biết quan tâm đến kẻ khác. Lễ này khuyến khích và nâng đỡ những ai đang nỗ lực noi guơng Chúa Chiên Lành, và khêu gợi lương tâm của kẻ chăn thuê.

Những người bước theo đường tình yêu thì tự mở ra khả năng sẽ hạnh phúc hơn những người khác, và cũng thống khổ hơn. Nhưng, như Carlo Carretto nói: “Không có gì là khủng khiếp trên trái đất này nếu điều đó dạy cho chúng ta biết yêu thương”.

 

39. Chúa Nhật 4 Phục Sinh

Anh chị em thân mến.

Nếu có dịp xem xét những trẻ nhỏ, tất cả chúng ta sẽ đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Những trẻ của thời kì, hình như càng ngày chúng càng thông minh hơn những thế hệ trước. Từ việc học tập, cách ứng xử, và khả năng biến báo. Này là những trẻ mà khả năng trí tuệ đã được phát triển. Còn những trẻ rất nhỏ thì sao?

Tất cả chúng ta sẽ càng ngạc nhiên hơn khi quang sát. Chúng chưa biết gì, chưa nhìn thấy được nhiều, cũng chưa phân biệt được rõ ràng về bất kể điều gì. Vậy mà khi chúng khó chịu và dùng vũ khí tối hậu của mình là tiếng khóc, thì không ai có thể ngăng được. Chỉ có người mẹ của chúng, khi bà xuất hiện, cho dù không lên tiếng, bà chỉ cần chạm đến, đứa bé sẽ có phản ứng khác ngay, cái phản ứng mà không ai có thể tạo ra cho nó được.

Đứa bé luôn nhận thấy người mẹ của mình. Nó cảm nhận rằng: đây là nơi nó được an toàn, được thương yêu, được sống và được bảo vệ. Nó vui mừng khi được ở trong vòng tay của người mẹ. Nó vui mừng khi nhận thấy mẹ. Nó cũng có phản ứng khi phải rời xa mẹ, nhất là khi xa vắng người mẹ lâu giờ, nó càng có phản ứng mạnh hơn. Này là một tâm tình thiêng liêng không ai có thể giải thích được, cái tâm tình nối liền với nhân loại không thể tách rời được.

“Chiên của Tôi thì nghe tiếng Tôi, Tôi biết chúng theo Tôi.”

Chúa Giêsu dùng hình ảnh Chủ Chăn và đàn chiên để diển tả tâm tình của Ngài với nhân loại. Ngài yêu thương và bảo vệ cho đàn chiên. Ngài chăm sóc, gìn giữ cho đàn chiên được an toàn. Ngài lo cho đàn chiên được sống, không những bằng của ăn mà còn cả tình yêu thương bát ngát. Ngài dùng cả mạng sống mình để bảo vệ cho đàn chiên. Ngài không ngần ngại bất kể một việc gì khi thấy đàn chiên có lợi. Tình yêu thương của Ngài so với đàn chiên không thể hiểu được. Ngài muốn những con chiên trong đàn nghe tiếng Ngài gọi để được sống. Ngài muốn những con chiên ở trong sự bảo vệ của Ngài để được an toàn.

Đàn chiên của ngài có những con chiên ngoan, luôn biết lắng nghe để được bảo vệ, thương yêu chăm sóc và có cuộc sống tốt đẹp. Nhưng cũng có những con chiên, đang ở trong đàn, đang được bảo vệ bằng tình yêu thương, đang được nuôi sống, nhưng nó không còn khả năng lắng nghe. Những con chiên đó đang muốn tìm một cuộc sống đặt biệt hơn những con chiên khác. Nó cũng đang lắng nghe, nhưng không phải tiếng của chủ mà tiếng nói tự nơi đâu. Nó đang sống trong đàn mà hình như không thể hòa phù hợp với đàn.

Nó gây phiền toái, chèn lấn và tiêu diệt những con chiên bên cạnh mà vẫn nghĩ rằng mình đang trợ giúp. Vì nó không còn khả năng lắng nghe, nó chỉ biết làm, không phải theo ý chủ, nhưng theo một tiếng nói nào đó. Nó không còn vui mừng khi nhận thấy chủ nữa, vì nó không còn nhận thấy được tình yêu thương của chủ, nên nó không còn thấy được an toàn trong tay chủ. Nó tìm sự an toàn nơi một người nào khác, nơi một tiếng nói nào khác, ở ngoài người chủ đã từng thương yêu chăm sóc nó.

Mỗi người trong tất cả chúng ta là một con chiên trong đàn của Chúa. Tất cả chúng ta có là một con chiên ngoan, như đứa trẻ vui mừng khi nhận thấy mẹ. Tất cả chúng ta có nhận thấy và lắng nghe tiếng Chúa nói với tất cả chúng ta trong từng trường hợp của cuộc sống? Tất cả chúng ta có cảm thấy được an toàn trong lòng bàn tay Chúa? Hay giờ đây tất cả chúng ta đang di chuyển tìm sự an toàn ở một nơi nào đó? Mỗi người để ra một phút suy tư để xem tất cả chúng ta đang là chiên ngoan biết lắng nghe, hay là tất cả chúng ta không còn khả năng lắng nghe tiếng Chúa mà chỉ lắng nghe một tiếng nói nào đó.

Trong đời sống hằng ngày, nếu có Chúa bên cạnh, tất cả chúng ta có dám nói những lời mà mình đã từng nói hay không? Tất cả chúng ta có dám làm những việc mà mình đã từng làm hay không? Tất cả chúng ta đang sống theo tiếng của Vị Chủ Chăn hay đang theo tiếng nói nào, tiếng nói của riêng mình hay của một ai khác? Trả lời được những câu trên tất cả chúng ta sẽ hiểu rằng mình là một con chiên như vậy nào.

Tất cả chúng ta cùng nhau cầu xin Chúa, cho mỗi người luôn là một chiên ngoan trong đàn, để tất cả chúng ta xứng đáng là một người con được ấp ủ trong tay mẹ hiền.

 

40. Chúa Nhật Chúa Chiên Lành

(Suy niệm của Lm. Anphong Trần Ðức Phương)

NGÀY CẦU NGUYỆN ĐẶC BIỆT CHO CÁC CHỦ CHĂN TRONG GIÁO HỘI.

NGÀY CẦU NGUYỆN CHO ƠN GỌI (World Day of Prayer for Vocation).

Chúa Nhật IV Mùa Phục Sinh, thường được gọi là Chúa Nhật Chúa Chiên Lành. Câu xướng trước Phúc Âm cuả các năm 𝓐, Ɓ và ¢ đều trích trong Phúc Âm Thánh Gioan (10,14): “Ta là Mục tử nhân lành, Ta biết chiên của Ta, và chiên của Ta biết Ta!” Các bài Phúc Âm năm 𝓐, Ɓ và ¢ đều trích trong Phúc Âm của Thánh Gioan:10, 1-10 (Năm 𝓐); 10,11-18 (Năm Ɓ); 10, 27-30 (Năm ¢).

Trong các bài Tin Mừng trên đây, Chúa Giêsu xác nhận Ngừoi chính là cửa của đoàn chiên, và cũng chính là người chăn chiên nhân lành. Chỉ những chủ chiên nào đi theo cửa của Ngừơi (theo đường lối của Người) mới là chủ chiên thật (Gioan 10,2).

Tư duy về Chúa Nhật Chúa Chiên Lành, Cha ʍ. 𝓓. Phillippe, Σ.ᴘ. viết những lời suy niệm sau đây:

“Mọi công việc trong cuộc đời truyền giáo của Chúa Kitô, vị Chủ Chăn Nhân Lành, đều đơn giản là những công việc của tình thương xót đối với đoàn chiên, đối với mọi người. Tuy nhiên, chính nơi cơn “hấp hối” tại vườn “Cây Dầu” và trên Thánh Giá mà tất cả chúng ta cảm nghiệm được trọn vẹn Lòng Thương Xót của Chúa.

“Mọi khổ đau của những người tội lỗi, mọi hậu quả của tội lỗi, Chúa Kitô đều vui lòng mang lấy vào mình. Không một khổ đau nào của nhân loại xa lạ với Chúa Kitô. Người thấu suốt toàn bộ và mang lấy toàn bộ vào trong thâm sâu của trái tim Người. Người đã sống những giây phút thật mệt mỏi mà không ai có thể cảm nghiệm được. Người mang lấy toàn bộ vì tình yêu vô biên so với mọi người tất cả chúng ta. Tình thương xót của Chúa thật huyền diệu và đi đến tuyệt đỉnh!

“Là vị Mục Tử nhân lành, Chúa Kitô biết những điều Người phải làm. Người biết từng con chiên với những yếu đuối và những nhu cầu của từng con chiên. Người biết rằng để trở nên một Mục Tử nhân lành theo đúng ý nghĩa, người chủ chăn phải yêu mạng sống của con chiên hơn mạng sống của mình; phải muốn đặt mình vào hạng những người tội lỗi, vào hạng những người bị ruồng bỏ để có thể cứu vớt mọi người; phải dám ‘tự hủy ra không’ để có thể chấp thuận mọi xấu số, khinh chê, và bị coi như tầm thường hơn hết mọi người!

Khổ hình Thập Giá với ý nghĩa đặc biệt trọn vẹn của khổ đau để cứu chuộc, đã tỏ cho tất cả chúng ta thấy rõ tình thương xót vô biên của Chúa. Không từ chối gì cả, Người đã chấp thuận mọi khổ đau, mọi nhục nhã, mọi gánh nặng tới mức không còn tồn tại thể chịu đựng hơn được nữa. Như vậy, lòng Thương Xót của Chúa không phải chỉ ở chỗ tìm đến để trợ giúp những người yếu đuối , mà còn ở chỗ, như một người mẹ, cúi mình xuống tận những kẻ đã sa ngã và cúi xuống sâu hơn họ để cứu vớt họ và nâng họ lên (chứ không phải kéo họ lên; Người đã vác con chiên lạc lên vai và mang về đoàn, mang về lại cuộc sống).

Tự hạ mình xuống sâu thẳm, Chúa Kitô đã muốn bị coi như kẻ đáng tội hơn hết Babara (Mat-theu 27,16…), như một kẻ tội phạm công khai, như một kẻ nói phạm thượng, như một kẻ thù của lề luật Moise, kẻ không chịu giữ ngày Sabat, một kẻ nguy hiểm quấy phá dân chúng. Hơn nữa, Chúa Kitô còn muốn trở nên như một đồ vật mà người ta che mắt không dám nhìn, đến nỗi khi đã chết rồi còn bị người ta đâm vào cạnh sườn thấu tới trái tim.

“Như vậy, Tình thương xót của Chúa là một thực thể bao quát toàn bộ nhân loại , không một chi thể nào trong thân thể của Người không bị thương tích, và linh hồn Người cảm thấy buồn sầu đến chết đi trong cơn hấp hối (Mat-thêu 26,38).

Hy lễ thập giá thật là một sự tôn thờ tuyệt đỉnh và cũng biểu lộ tình Chúa thương xót đến tuyệt đỉnh. Nơi trái tim của Chúa Giêsu chịu treo trên thập giá vừa mang sự Thờ Phượng (Chúa Cha), vừa mang tình thương xót nhân loại như anh em để trợ giúp họ, an ủi họ, chuộc lấy mọi tội lỗi của họ và mang lại cho họ nguồn sống mới.” (Dịch theo bản tiếng Anh, trong Magnificat, April 2005, Fourth Sunday of Easter; những chữ ở ngoặc đơn là chú thích của người dịch).

Ðọc những dòng trên đây, tất cả chúng ta càng hiểu biết sâu xa hơn tình thương xót cuả Chúa Giêsu, Ðấng Chăn chiên nhân lành, so với đoàn chiên như vậy nào, đến nỗi đã chấp thuận mọi khổ đau tới cùng cực và đổ đến giọt máu cuối cùng cho đoàn chiên của Chúa! Và khi không còn sống ở trần gian nữa, Người vẫn tiếp tục “nuôi sống đoàn con” bằng chính Mình và Máu Thánh Người hiện diện thật sự trong Hình Bánh và Hình Rượu (Bí tích Thánh Thể), và thánh hóa đoàn chiên bằng các “phép Bí tích nhiệm mầu.”

Thực sự, qua hoạt động của Chúa Thánh Thần, Chúa Giêsu vẫn ở với Giáo Hội “ mọi ngày cho đến tận thế!” ( Mattheu 28,20) Chúa Giêsu vẫn là vị Chủ Chăn chính điều hành Giáo Hội và qua các thời kì Chúa luôn luôn dẫn dắt đoàn chiên Chúa nhờ sự lãnh đạo của các vị chủ chăn Chúa chọn. Chúa đã chọn Thánh Phêrô và các Thánh Tông đồ và thành lập Giáo Hội Chúa kể từ ngày Chúa Thánh Thần hiện xuống trên các Ngài và thánh hóa các Ngài. Từ đó, qua từng thế kỷ, Chúa vẫn tiếp tục gọi và chọn một số người để làm Chủ chiên chăn dắt Ðoàn chiên Chúa.

Chúa chọn ai?

“Chúa chọn những người mà Chúa muốn (Matco 3,13 ) và trao cho những nhiệm vụ theo Thánh ý Chúa: Người thì làm Tông đồ, người thì làm Ngôn sứ, người thì chuyên rao giảng Tin mừng, người chuyên lo việc quản trị và giảng dạy… (Thơ Epheso 4,11). Không ai có quyền đặt mình vào địa vị trong Giáo Hội, nhưng toàn bộ đều do Chúa chọn và cắt đặt .

“Nhưng tại sao Chúa chọn con?”

Vào những ngày sắp chịu chức Linh Mục, theo sự hướng dẫn của Cha Linh hướng và Cha Giảng Phòng (giảng tĩnh tâm để chuẩn bị chịu chức Linh mục) tôi thường nguyện cầu và nói thầm với Chúa: “Tại sao Chúa chọn con?”… Rồi vào ngày Lễ Truyền Chức cũng như dịp Lễ “Mở Tay” (Lễ Tạ Ơn) tôi thật cảm động khi nghe ca đoàn hát: “Không phải vì con Chúa chọn con! Nhưng vì bí nhiệm tình yêu Chúa!.

Vâng, “không phải vì con Chúa chọn con” nhưng Chúa chọn “những ai mà Chúa muốn” (Matcô 3,13), sau thời điểm Chúa đã lên núi một mình để nguyện cầu suốt đêm ( Luca 6,12 ). Ðó thật là một sự kỳ diệu của Ơn Gọi theo Thánh Ý Chúa. Chúa gọi Phêrô dù Ông đã “chối Chúa tới ba lần dù Chúa đã cảnh cáo Ông trước!” và lại còn đặt Ông làm Giáo Hoàng trước tiên của Giáo Hội. Chúa đã chọn Phaolô ngay trên đoạn đường Ông đi tìm bắt và bách hại đoàn chiên non trẻ của Chúa! Và suốt đời Ông vẫn phải mang những “yếu đuối” của mình ‘Ai yếu đuối mà tôi không yếu đuối!’… (2 Cor. 11,29 ) Mọi người được Chúa gọi và chọn đều cảm thấy mình bất xứng và thật lo ngại trước trách nhiệm được trao phó” như Ðức Ðương Kim Giáo Hoàng Benedicto XVI, khi được bình chọn lên ngôi Giáo Hoàng, trong “Lời Tâm Tình Ðầu Tiên của Ngài” cũng chia sẻ kinh nghiệm đó: “Tôi cảm thấy bất xứng và… thật lo lắng trước trách nhiệm được trao phó…” nhưng “Ơn Chúa đủ cho tôi!” (2Cor. 12,9…); nên Ðức Giáo Hoàng cũng nói tiếp: “Tôi cảm thấy như bàn tay quyền năng của Thiên Chúa nắm chặt lấy tay tôi. Tôi như nhìn thấy ánh mắt tươi cười của Chúa và lắng nghe Chúa nói với tôi đặc biệt vào lúc này: “Con đừng sợ!”. Với tâm tình đó, những người được chọn đều khiêm tốn như Mẹ Maria để thưa lời “Xin Vâng!”.

Như vậy, tất cả chúng ta mới hiểu vì sao Chúa Giêsu đã “lên núi thức suốt đêm để cầu nguyện” (Luca 6,12) trước khi chọn các Tông đồ. Hơn nữa trong đêm trước khi tự trao mình để chịu cuộc khổ nạn để cứu chuộc nhân loại, trong Bữa Tiệc Ly, Chúa đã cúi mình xuống để rửa chân cho các Tông đồ để dạy cho các Ông bài hoc phục vụ trong khiêm tốn và Chúa đã tâm tình và dặn dò các tông đồ nhiều điều mà Phúc Âm theo Thánh Gioan đã ghi lại suốt các đoạn 13, 14, 15; còn toàn đoạn 17 ghi lại những lời Chúa Giêsu nguyện cầu thiết tha với Ðức Chúa Cha cho các Tông đồ đang hiện diện, cũng như cho các Chủ chăn qua mọi thời kì; đặc biệt trong câu “Con không xin Cha cất họ ra khỏi thế gian; nhưng xin gìn giữ họ khỏi mọi sự dữ!” (Gioan, 17,15).

Trong thời gian giúp các giáo xứ Hoa Kỳ, khi gặp mặt Giáo dân, thường có những người sau thời điểm chào hỏi đã nói với tôi một cách thân tình “Thank you Father for being a priest!” (Cám ơn Cha đã là một Linh Mục!”. Tất cả chúng ta thường có lòng yêu mến và hằng nguyện cầu cho các chủ chăn trong Giáo hội; nhưng đặc biệt trong ngày Chúa Nhật Chúa Chiên Lành, tất cả chúng ta hãy dâng nhiều hy sinh và lời nguyện cầu cho Ðức Giáo Hoàng cũng như cho các chủ chăn trong toàn thể Giáo Hội, cách riêng các chủ chăn Chúa sai đến làm việc giữa tất cả chúng ta.

Chúa Nhật IV Mùa Phục Sinh cũng là Ngày Thế Giới đặc biệt nguyện cầu cho Ơn Gọi (World Day of Prayer for Vocations): Trong Thánh lễ cũng như trong các kinh nguyện, tất cả chúng ta hãy dâng lời nguyện cầu cho có nhiều người được Chúa gọi và chọn để trở nên các nhà Truyền giáo và Chủ Chăn để rao giảng và chăn dắt Ðoàn chiên Chúa.Tất cả chúng ta cũng cầu xin với Mẹ Maria, Mẹ Hàng Gíao Sĩ, chuyển cầu cho tất cả chúng ta.

 

41. Bắt nguồn từ tình yêu

“Chiên của Ta thì nghe tiếng Ta; Ta biết chúng và chúng theo Ta” (Ga 21, 17)

Một buổi sáng đẹp trời, người ta bỗng thấy một đàn cừu đang ăn cỏ phía công viên; rồi chúng tiến lại phía trại lính. Từ xa mấy trăm mét, anh lính gác đã phát hiện…Lát sau, Chỉ còn mấy chục mét nữa là tới bờ rào, bên trong là bãi mìn, nơi cấm xâm nhập. Anh quát lên lớn tiếng. Không ăn thua gì! Đàn cừu cứ ung dung tiến tới. Anh lấy đất đá chọi tới; không được…lại không thấy ai là người chăn đàn cừu cả. Anh đánh kẻng báo động. Sĩ quan trực nhanh chóng chạy ra. Anh hỏi: có nên nổ súng để đe dọa? Ông này cũng phân vân, cuối cùng không tán thành: vì sẽ có hại nhiều hơn… Làm sao đây? Mấy chục quân lính đã thành hàng phía trước đàn cừu. Chúng vẫn ung dung tiến tới, đi qua họ, đi theo con đầu đàn…15 phút, rồi 20 phút trôi qua! Bất thần có tiếng sáo nổi lên. Tự dưng con đầu đàn ngẩng lên nghe tiếng sáo và đi ngược về phía đó. Cả lũ cừu nhanh chóng đổi hướng đi theo con đầu đàn, theo tiếng sáo… Thì ra chú bé chăn cừu vì mê chơi đã để lũ cừu đi lạc. Chỉ cần nghe tiếng sáo thân thuộc của chú, cả lũ đi theo ngay…Đàn cừu đã nghe tiếng chủ nó…

  1. * chiên: thường hay gọi là cừu, trừu, là loại gia súc hiền từ nhất và có lợi cho người nuôi nhất. Người ta nuôi chiên để xén lông, làm len dệt vải, lấy sữa, mỡ và thịt. Người Do thái không ngạc nhiên khi thấy Chúa dùng hình ảnh này, vì nghề chăn chiên là nghề chính, rất thân thuộc với họ.

* động từ biết: không chỉ đơn thuần là biết, phân biệt với người, với vật khác. Biết đang là tin, đặt niềm tin nơi người đó. Chiên biết chủ chăn, vì chiên tin nơi chủ của mình.

  1. Dựa vào kinh nghiệm của mục tử ở Trung Đông, người ta thấy Chúa muốn trình bày mối tương quan đặc biệt giữa mục tử và đàn chiên như sau:

– Chiên luôn đi theo chủ chăn: Người chăn chiên luôn đi trước đàn chiên, vì chúng muốn được hướng dẫn và chở che. Việc chăn bò, hay loài vật khác, người chăn đi đàng sau để lùa chúng đi tới…. Chúa Giêsu dùng hình ảnh: “mục tử chăn chiên” để chỉ về mình. Chúa là mục tử, là chủ chăn tốt lành, sẵn sàng hi sinh mạng sống mình để lo cho đàn chiên.

– Chiên nghe tiếng chủ chăn: Ngày ngày hôm nay bên nước Do thái, người ta vẫn còn thấy hình ảnh đàn chiên như Chúa diễn tả. Vào lúc chiều xuống, khi đàn chiên chuẩn bị về chuồng, các chủ chăn mang chiên đến uống nước ở một dòng suối nào đó. Nhiều lũ chiên khác nhau của nhiều chủ chăn, có thể trà trộn nhau tại nơi uống nước. Chủ chiên không sợ chiên lạc. Khi ra về, chỉ cần một hồi còi, một tiếng sáo…con chiên tự động biết đàn của mình mà tách ra theo đàn mình để về chuồng: Chiên của Ta thì nghe tiếng Ta, Ta biết chúng và chúng theo Ta. (Gn 10, 27)

Chiên rất thân thiện với chủ chăn: người ta nói rằng khi chiên đang nằm ngủ trong đàn, chủ chăn có thể đi lại hoặc bước qua mình con chiên, chúng vẫn không thức giấc. Trái lại một người lạ mặt mà làm như vậy, con chiên sẽ hốt hoảng và gây kinh hoàng cho chúng. Điều này muốn nói, chủ chăn và đàn chiên phải rất gần gủi, thân thiện với nhau. Chủ chăn và đàn chiên của mình thân thiện đến mức có thể phân biệt và hiểu tiếng kêu của từng con chiên: vui mừng hoặc đau thương. Chủ chăn còn biết tên gọi và tính tình từng con chiên: Chiên của Ta thì nghe tiếng Ta, Ta biết chúng và chúng theo Ta. Ta ban cho chúng sự sống đời đời… (Gn 10, 27-28)

  1. Gợi ý sống và chia sẻ: là người Kitô hữu, là con chiên của Chúa Kitô, đương nhiên Thiên Chúa Người Mục Tử Nhân Lành biết tất cả chúng ta rất rõ. Còn tất cả chúng ta là con chiên thì tất cả chúng ta đã hiểu rằng Chủ Chăn mình như vậy nào và đến mức độ nào? Hay là ta chưa biết gì cả?

 

42. Chúa Chiên Lành – Lm Phêrô Bùi Quang Tuấn

“Chiên của Ta thì nghe tiếng Ta; Ta biết chúng và chúng theo Ta” (Ga 10:27).

Bao biến cố trọng yếu đã liên tiếp diễn ra trong lòng Giáo hội suốt cả Năm Đại Thánh 2000. Từ việc phong chân phước cho Thầy giảng Anrê Phú Yên, vị tử đạo tiên khởi của Việt Nam, đến phong hiển thánh cho 120 người hùng tử đạo Trung hoa; từ sự kiện Đức Thánh Cha công khai sám hối những sai lầm của Giáo hội trong quá khứ tới việc hành hương thánh địa Palestine; từ đại hội Thanh niên, qui tụ trên 2 triệu thanh niên thiếu nữ từ khắp nơi đổ về Rôma, tới việc tiết lộ bí mật thứ ba Fatima… Nhưng biến cố đáng ghi nhận hơn hết phải là việc Đức Thánh Cha chuẩn y bản tuyên ngôn Dominus Iesus (Chúa Giêsu) vào ngày 16.06.2000, và sau đó được Toà Thánh thông báo ngày 05.09.2000.

Bản Tuyên ngôn Dominus Iesus là lời xác tín “Không có ơn cứu độ ngoài Chúa Giêsu”. Đây cũng là lời nhất định tầm mức trọng yếu của Giáo hội Thiên chúa giáo trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa.

Bản tuyên ngôn cảnh giác người tín hữu trước những tư tưởng muốn tương đối hoá các tôn giáo, cho rằng mọi tôn giáo đều có giá trị ngang nhau, đều chứa đựng một số yếu tố cứu độ nào đó dù không tôn giáo nào mạc khải trọn vẹn thánh ý của Thiên Chúa cho nhân loại.

Bản tuyên ngôn phủ nhận có sự đối kháng giữa “não trạng thiên về luận lý của phương tây” và “não trạng thiên về biểu tượng của phương đông”. Bởi vì hệ luận tất yếu của nó là sự khước từ Thiên chúa giáo như đoạn đường cứu độ tốt nhất cho dân tộc châu Á.

Đang khi đó, Giáo hội tự nhất định là “cần thiết cho ơn cứu rỗi của nhân loại.” Điều này không có hàm ý “người không có đạo sẽ không được cứu độ”. Đúng hơn, ơn cứu độ của Chúa Giêsu, dưới thúc đẩy của Chúa Thánh Thần, đã link cách nhiệm mầu những người ngoài Thiên chúa giáo với Giáo hội của Ngài.

Sau khoảng thời gian bản Tuyên ngôn được chính thức thông báo, một số phản ứng tiêu cực đã xuất hiện. Có người cho rằng lời lẽ của Dominus Iesus quá trịch thượng với câu “Chỉ nơi Đức Giêsu mới có ơn cứu độ”. Có người nhận xét: bản Tuyên ngôn như vậy sẽ làm cản trở đoạn đường đại kết. Thậm chí, có người dám nghĩ Đức Thánh Cha đã không tỉnh táo nhận định tình hình trước khi thông báo Dominus Iesus. Đây chẳng khác chi thái độ của một số người Do thái sau thời điểm Chúa Giêsu nói về vai trò chủ chiên của mình. Họ tuyên bố: “Hắn bị quỉ ám, và ra điên sảng. Tại sao các ngươi cứ nghe hắn?” (Gn 10:20)

Nhưng rồi, trong ngày tôn phong hiển thánh các người hùng tử đạo Trung Hoa, Đức Thánh Cha đã tái nhất định tính chất độc nhất và ơn cứu độ phổ quát của Chúa Giêsu và Giáo hội qua bài giảng như sau:

“Bằng việc công bố Tuyên ngôn “Chúa Giêsu” mà Ta đã đặc biệt chuẩn y vào thời cao điểm của Năm Thánh, Ta muốn mời gọi toàn bộ các Kitô hữu hãy cùng canh tân sự tín trung của mình vào Chúa Giêsu trong niềm hân hoan của sự tin tưởng, đồng thời cùng nhau làm nhân chứng cho Đấng, ngày hôm nay cũng như ngày hôm qua, ‘là đường, là sự thật, và là sự sống’ (Ga 14:6).”

“Lời tuyên xưng Đức Kitô là Con duy nhất của Thiên Chúa, Đấng đã tỏ cho chúng ta thấy nhan Cha (x. Gn 14:8) không phải là một sự trịch thượng đối với các tôn giáo khác, nhưng là niềm cảm mến tri ân vì Đức Kitô đã tỏ mình cho chúng ta, dù không phải vì công trạng của chúng ta. Nhưng đồng thời Ngài cũng đòi buộc chúng ta tiếp tục trao tặng những gì đã nhận lãnh và thông truyền cho người khác những gì được tặng ban. Trong ý nghĩa đó, Chân Lý và Tình Yêu chính là Thiên Chúa đã được ban tặng cho mọi người và thuộc về mọi người.”

“Cùng với Thánh Tông đồ Phêrô, chúng ta tuyên xưng “Không có ơn cứu độ nơi một người nào khác” (Cv 4:12). Bản Tuyên ngôn Chúa Giêsu, dưới sự hướng dẫn của Công đồng Vaticanô II, nhận định rằng sự tuyên xưng này không có ý ngoại trừ ơn cứu độ khỏi những ai không phải Kitô hữu, nhưng là nêu ra cội nguồn ơn ấy nơi Đức Kitô, trong Ngài, nhân loại và Thiên Chúa được hiệp nhất. Thiên Chúa soi sáng cho người ta theo cách thế phù phù hợp với tình trạng tâm linh và thể chất của họ, giải cứu họ bằng những đường lối mà chỉ có Ngài biết.”

“Bản tuyên ngôn phân định rõ ràng những điểm quan yếu của Kitô giáo. Điều này không cản trở sự đối thoại [đại kết] nhưng chỉ ra nền tảng của nó. Bởi vì đối thoại mà không có nền tảng căn bản thì sẽ thoái hoá thành những ngôn từ trống rỗng…”

“Nguyện xin Mẹ Maria, Đấng mà Chúa Giêsu trên Thánh giá đã ký thác làm Mẹ nhân loại, trở giúp chúng ta cùng nhau lớn lên trong niềm tin vào Đức Kitô, Đấng Cứu Chuộc loài người, trong niềm hy vọng tất cả sẽ nhận được ơn cứu độ nơi Ngài, và trong tình yêu thương như dấu chỉ của con cái Thiên Chúa.”

Ngày hôm nay xem lại một vài văn kiện và những biến cố sảy ra trong Năm Thánh, tôi cảm thấy thấm thía lời nói của Đức Giêsu: “Chiên của Ta thì nghe tiếng Ta. Ta biết chúng và chúng theo Ta. Và Ta ban cho chúng sự sống đời đời” (Ga 10:27-28).

Có những con chiên không quen nghe tiếng chủ mình. Không tha thiết tìm hiểu, học hỏi và suy tư. Nó khó chịu khi phải theo chủ. Thích phóng khoáng và tương đối hoá mọi sự. Cứ tưởng không cần theo Chúa, chỉ “ăn ngay ở lành” là tự giải thoát mình. Nhưng có ăn ngay ở lành nào mà không do tình yêu và lẽ phải thúc đẩy. Thế nên, nói cho cùng thì cũng chính nhờ Thiên Chúa, Đấng là Tình Yêu và Chân Lý soi chiếu, mà người ta tìm thấy được “sự sống đời đời.”

Hiệp cùng với Đức Thánh Cha, vị mục tử đại diện Chúa Giêsu ở trần gian, xin dâng lên Thiên Chúa lời cầu xin tha thiết cho bao con chiên đang lầm đường lạc lối, không biết lắng nghe và không chịu bước theo tiếng nói của Giáo hội. Xin cầu cho bao con chiên khác chưa thuộc cùng một ràn, được nên chung một đàn, với một chủ chiên duy nhất là Đức Kitô (Ga 10:16). Xin cho Tin mừng Tình yêu Cứu độ của Ngài được mọi dân nước tin nhận. Để nhờ đó hoa quả hạnh phúc thiên đàng sẽ nở tươi ngay trên trần gian.

 

43. Chiên Ta thì nghe tiếng Ta

(Suy niệm của Lm. Nguyễn Hùng)

Tại Ấn Độ người ta bắt khỉ bằng cách làm một hộp gỗ chắc cú, cắt một lỗ nhỏ vừa đủ cho con khỉ thò tay vào, nhưng nếu nó nắm trong tay hột “nut” đựng trong hộp, nó không thể lấy tay ra được. Do đó con khỉ có thể chọn một trong hai việc: nó có thể buông hạt “nut” ra và ra đi tự do, hoặc chịu bị tóm gọn. Nhưng con khỉ thường nắm chặt lấy hạt “nut”. Khả năng lựa chọn nói lên quyền tự do, tuy nhiên con khỉ không có trí khôn nên không hiểu biết và quí trọng tự do.

Trong tình yêu thương Thiên Chúa đã lựa chọn nhân loại để cho họ được chia sẻ sự sống đời đời. Cục diện của đoạn Phúc âm ngắn ngày hôm nay là Chúa đang trò chuyện với người Do Thái trong lúc đi dạo tại đền thờ Giêrusalem. Họ trách Chúa Giêsu sao lại để họ nghi nan, thắc mắc Chúa có phải là Đấng Thiên Sai không. Chúa không trả lời trực tiếp cho họ, nhưng nói rằng: “Chiên của ta thì nghe tiếng ta” ta biết chúng và chúng theo ta. Ta ban cho chúng sự sống đời đời” không lúc nào chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay ta. Cha ta, Đấng đã ban chúng cho ta, thì to hơn toàn bộ, và không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha. Ta và Chúa Cha là một.”

Chúa Giêsu muốn nói cho người Do Thái biết đức tin vào Ngài là dấu hiệu của người được Chúa tuyển chọn, là chiên của Ngài. Đức tin ban cho nhân loại khả năng nhận thấy tiếng Chúa để bước theo. Loài chiên có đôi mắt rất kém, cận thị nặng, nếu có kính chắc phải dày hơn đế chai. Vì vậy nó phải theo nhau thành đoàn, và lắng nghe tiếng người chăn chiên mà theo, không theo tiếng người lạ. Ngày nay đức tin nơi nhiều người Kitô hữu đang bị phai nhạt, giảm sút. Sống trong xã hội thưởng thức vật chất, ưa tìm nhàn hạ, vui sướng, người ta muốn loại bỏ Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống để thoải mái đuổi theo những ước muốn phi nghĩa tự nhiên của nhân loại. Người ta dùng nhiều nguyên nhân để bào chữa cho tội lỗi mình, để khỏi phải thống hối và dứt bỏ cảm nhận thoải mái do cuộc sống phi nghĩa mang lại. Nhân loại đang dùng tự do của mình để chối bỏ Thiên Chúa, không muốn lắng nghe tiếng Ngài là Đấng Chăn Chiên tốt lành.

Hậu quả của việc chối bỏ Thiên Chúa dẫn mang nhân loại đến đâu? Nhìn vào xã hội ngày nay, nhân loại ai cũng tham sống, muốn sống lâu, sống đảm bảo về vật chất, về trí não. Thế nhưng chết chóc vẫn có thể chụp bắt tất cả những ai, từ em bé sơ sinh, nàng thiếu nữ, chàng thanh niên tuổi xuân phơi phới, cho đến người lớn tuổi râu tóc bạc phơ. Biết bao nhiêu thay đổi biến chuyển trong cuộc sống khiến nhân loại điên đảo, hụt hẫng, thất vọng đến lao đầu vào chết chóc” chỉ trong một lúc, người giầu có với vợ đẹp con khôn có thể mất đi toàn bộ những điều đó. Khi chối bỏ Thiên Chúa nhân loại chỉ đi đến chỗ diệt vong, vì chỉ một mình Ngài có đủ bản lãnh ban cho tất cả chúng ta cuộc sống đời đời, cuộc sống đảm bảo không bị ai cướp đi mất.

Mùa Phục Sinh là thời gian đón mừng sự sống thần linh, vĩnh cửu mà Chúa Kitô đã mang lại cho nhân loại. Sự sống đó chỉ giành riêng cho những ai lựa chọn nghe theo tiếng Chúa, sống theo sự hướng dẫn của Tin Mừng, của Chúa Kitô chịu tử giá và phục sinh. Tiếng Chúa đang kêu mời tất cả chúng ta bỏ đi lối sống gian dối, scam để được mối lợi vật chất, bỏ đi mối tình ngang trái, vụng trộm chỉ mang đến xấu số, tan nát gia đình, bỏ đi gói thuốc, chai rượu, những đêm thâu bên canh bạc, bỏ đi hận thù, ganh ghét, nói xấu, chửi bới, đánh đập nhau… và còn biết bao điều xấu số khác mà tất cả chúng ta có thể đang mắc phải. Bỏ đi được những điều đó tất cả chúng ta mới có thể bước theo Chúa Kitô và tìm thấy cuộc sống đời đời và đảm bảo không bị mất.

 

44. Tôi có thuộc đoàn chiên Chúa không?

(Suy niệm của Lm Fx Nguyễn Hùng Oánh)

Chúa mang ra tiêu chuẩn: Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi (xem Gioan 10,27-30).

Những người sống nghề chăn nuôi và ruộng vườn như dân Do thái, họ hiểu ngay lời Chúa vừa nói. Người chăn lũ chiên mấy trăm con, chỉ cần lên tiếng kêu, các con chiên đang ăn cỏ lẫn lộn với bao nhiêu con khác thuộc nhiều lũ khác liền ngoan ngoãn chạy tới người chăn. Ai nuôi chó giữ nhà cũng có kinh nghiệm này: chủ lên tiếng kêu, chó nhảy tới hoặc đang sủa, chủ đe, chó im ngay.

Chiên nghe tiếng chủ vì chiên phân biệt được tiếng của chủ với tiếng người khác, vì chiên quen tiếng chủ, vì chiên thuộc về chủ. Nếu không phải chiên của chủ thì không nghe tiếng chủ. Người thuộc về Chúa thì nghe tiếng Chúa, không thuộc về Chúa thì không nghe tiếng Chúa.

Người Do Thái hỏi Chúa: Mãi đến lúc này chúng tôi còn phân vân về ông, ông là ai xin nói ngay cho chúng tôi biết. Hỏi như vậy tỏ ra họ chưa thuộc đoàn chiên Chúa vì “Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi”, nhận thấy Chúa ngay, đâu cần phải hỏi. Hỏi như vậy, н? tỏ ra là kẻ xa lạ, người xa lạ đến để tìm hiểu. Nhiều lần, người Do thái hỏi Chúa là ai và Chúa dd? ngh? họ cứ nhìn vào việc làm, lời nói của Chúa mà biết. Lần này, Chúa trả lời mạnh hơn: Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi, tức là nghe tôi nói, thấy việc tôi làm thì nhận thấy tôi rồi, không phải để tôi nói tôi là ai.

Trong đời sống, có lúc gặp nguy nan, ta kêu cầu Chúa mà không được, thấy Chúa cứ yên lặng, ta đâm ra nghi ngờ Chúa, hỏi Chúa là ai? Một thắc mắc tố cáo ta, hình như ta muốn bước khỏi đàn chiên, hình như Chúa không phải là chủ chăn của ta.

Theo Chúa vì đời sống sung túc, vì gặp nhiều may mắn xem như là ơn của Chúa ban riêng cho mình thật chẳng có gì đảm bảo, vì Chúa chỉ đảm bảo: Tôi cho chúng được sống đời đời và không ai có thể cướp chúng khỏi tay tôi. Hai đảm bảo săn sóc và ban sự sống đời đời thuộc lãnh vực tâm linh, còn những điều ta lo ngại, do dự trong đời sống trần gian, Cha 𝒱?и gip nhung ta phải tự khắc phục lấy. Lời Chúa soi sáng hướng dẫn, ơn Chúa phù giúp ta để ta khắc phục, lo lấy, làm sao cho thích hợp Thánh ý Chúa. Chúa phù trợ mà ta không cảm thấy nhưng chắc cú là Chúa luôn nhìn thấy ta, theo dõi ta từng bước.

Để đảm bảo cho lời nói “ban cho đàn chiên sự sống đời đời”, cũng phải hiểu phải có đời sống trần gian chứ, Chúa Kitô nại tới Chúa Cha: đoàn chiên của Chúa Cha và Chúa Cha trao cho Chúa Kitô. Chắc nịch không có một quyền nào lấy đoàn chiên khỏi tay Chúa Cha, nhưng khi đoàn chiên trao cho Chúa Kitô, đoàn chiên có thể mất không? – Không thế mất vì Chúa Kitô có quyền như Chúa Cha, vì vậy Chúa Kitô tuyên bố: Tôi và Cha tôi là một.

Tất cả chúng ta cảm tạ Chúa khi nghe bài Phúc âm này vì tất cả chúng ta thuộc đoàn chiên Chúa, tức là tất cả chúng ta đã nghe tiếng Chúa và nhận thấy Chúa là chủ chăn của tất cả chúng ta. Bao lâu còn nghe tiếng Chúa thì tất cả chúng ta đang là chiên của Chúa. Nếu không nghe tiếng Chúa từc là không sống theo lời Chúa nữa, thì lúc đó tất cả chúng ta tự ý tách mình khỏi đoàn chiên của Chúa, ta sẽ “đánh mất sự sống đời đời” và cả ý nghĩa đời sống trần gian nữa. Bài Phúc âm vừa làm ta vui vừa bắt ta phải sống theo tiếng Chúa dạy.

 

45. Chúa Chiên Lành – ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt

Hình ảnh chiên cừu dễ gây ngộ nhận vì người ta cho rằng chiên cừu chẳng biết làm gì hơn là ngoan ngoãn vâng lời. Nhưng con chiên trong bài Tin Mừng ta vừa nghe hoàn toàn không có tính cách thụ động như vậy. Trái lại phải tích cực, chủ động. Sự tích cực chủ động của đoàn chiên được Chúa Giêsu diễn tả bằng những từ “nghe” và “theo”: “Con chiên Ta thì nghe tiếng Ta, Ta biết chúng và chúng theo Ta”.

Nghe. Chúa Giêsu chính là Lời của Thiên Chúa, nên ta phải nghe Người. Nhưng nghe được Lời của Thiên Chúa không phải dễ.

Không dễ, vì Lời Thiên Chúa nhẹ nhõm như lời thì thầm của mây gió, sâu thẳm như tiếng nói của đáy đại dương, lặng im và bí hiểm như tiếng vỗ của một bàn tay. Trong lúc đó lời của trần gian, của ma quỷ lại ồn ào như một ngày hội, gào thét như cuồng phong và điên loạn như chiến tranh.

Không dễ, vì Lời Thiên Chúa mời gọi người ta vào đoạn đường chật hẹp của từ bỏ mình, dẫn ta lên một ngọn đồi sần sùi của thập giá hy sinh và thách thức ta phục vụ đến hy sinh cả mạng sống. Trong lúc đó lời của trần gian, của ma quỷ mở ra đại lộ thênh thang của danh vọng, dẫn ta đến dìm mình trong đại dương thưởng thức và hứa ban tặng cho ta toàn bộ vinh hoa phú quý trên đời.

Vì vậy, để nghe được Lời Chúa, ta phải có một đôi tai thật bén nhạy, được hướng dẫn bởi trí phán đoán tỉnh táo và một trái tim yêu mến nồng nàn. Nghe Lời Chúa với một thái độ như vậy sẽ dẫn ta đến chỗ theo Chúa.

Theo. Theo ai là quyến luyến, gắn bó và ràng buộc đời mình vào đời người đó. Như vậy theo ai là từ bỏ chính mình, cuộc sống mình để chia sẻ cuộc sống với người khác.

Theo tâm lý học, trong tình yêu có ba mức độ. Mức độ thứ nhất: Thích nhìn, nghe người mình yêu. Mức độ thứ hai: Trong mọi chương trình, tính toán của đời mình đều có bóng hình của người yêu. Mức độ cuối cùng: Chia sẻ toàn bộ những gì mình có, kể cả cuộc sống vì người yêu.

Như vậy, theo tức là yêu thương ở cao độ. Con chiên đi theo Chúa như vậy phải hoàn toàn chủ động và nhất là thiết lập một quan hệ mật thiết với Chúa là Chủ đoàn chiên. Hành động của Chúa chiên tốt lành được Chúa Giêsu tóm gọn trong hai động từ: “biết” và “cho”.

Biết. Người chăn chiên tốt lành biết rõ từng con chiên. Ông biết tên từng con. Ông biết tình trạng sức khoẻ cũng như nhu cầu của từng con chiên. Tương tự như vậy, Chúa Giêsu biết rõ mỗi người tất cả chúng ta. Người không chỉ biết mà còn thông cảm với mọi hoàn cảnh của ta. Ta buồn vì bị người yêu phụ bạc ư? Người cũng từng biết thế nào là nỗi đau của người bị phản bội. Ta cay đắng với kiếp nghèo đeo đẳng ư? Chúa Giêsu cũng từng sinh ra không nhà, sống ngoài đường và chết trần truồng trên thập giá. Ta vô vọng vì cuộc sống không lối thoát ư? Chúa Giêsu đã trải qua những giờ phút đen tối trong vườn Giếtsimani và trên thập giá. Ta cô quạnh vì bị mọi người xa lánh ư? Chúa Giêsu cũng từng bị mọi người chối bỏ, và Người cảm thấy như Đức Chúa Cha cũng từ bỏ Người. Ta bị sỉ nhục mất hết uy tín ư? Chúa Giêsu đã bị nhục nhã và mất hết uy tín khi phải chết như kẻ tội đồ nô lệ.

Chúa Giêsu là người chăn chiên tốt lành, hiểu biết mọi ngõ ngách u ẩn trong đáy lòng người, nên có thể chăm sóc an ủi từng người tất cả chúng ta.

Cho. Chúa Giêsu là mục tử tốt lành vì đã tặng ban cho toàn bộ đoàn chiên món quà quý hiếm nhất là sự sống đời đời, sự sống của Ba Ngôi Thiên Chúa, sự sống của chính bản thân Ngài. Sống sự sống của Thiên Chúa rồi, đoàn chiên sẽ kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa. Không ai cướp được đoàn chiên khỏi tay Người, vì Người dùng chính mạng sống mình mà bảo vệ. Người ràng buộc đời mình vào sinh mạng của đoàn chiên. Từ nay đoàn chiên và chủ chiên trở thành một cộng đồng sinh mệnh, sống chết có nhau, kết phù hợp với nhau trong một tình yêu thương không có gì có thể tách lìa được.

Tất cả chúng ta đang sống trong một thời kì đầy thay đổi. Cuộc sống đang mở ra những chân trời mới đầy quyến rũ nhưng cũng đầy nguy hiểm cho đời sống tâm linh tất cả chúng ta. Những giá trị bị xáo trộn. Những con chiên đang bị thu hút rời xa đoàn chiên. Nhu cầu cuộc sống xô đẩy tất cả chúng ta ra khỏi cộng đoàn khiến nhiều người trở thành những con chiên trơ trọi không người chăn dắt. Trong một hoàn cảnh mới mẻ như vậy, tất cả chúng ta rất cần phải có những vị mục tử thực sự hiểu rõ nhu cầu của đoàn chiên và thực sự hiến mình phục vụ đoàn chiên. Tất cả chúng ta hãy nguyện cầu cho có nhiều người trẻ biết đáp lời Chúa mời gọi, hiến mình cho Chúa để phục vụ anh chị em trong nhiệm vụ mục tử. Tất cả chúng ta nguyện cầu cho các linh mục của tất cả chúng ta trở thành những mục tử tốt lành noi guơn Vị Mục Tử duy nhất là Chúa Giêsu Kitô, Chúa tất cả chúng ta.

Lạy Chúa là là Mục Tử chăn giữ đời con, xin cho con biết lắng nghe tiếng Chúa và bước theo Chúa. Amen.

KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG

  1. Đã lúc nào bạn nghe được tiếng Chúa nói trong sâu thẳm tâm hồn bạn chưa?

  2. Có lần nào bạn cảm nghiệm được sự ngọt ngào được sống thân mật với Chúa chưa?

  3. Bạn cũng là Mục Tử của gia đình bạn, xóm bạn ở, sở nơi bạn làm việc. Bạn có là Mục Tử tốt lành không?

 

46. Chúa Nhật 4 Phục Sinh – JK

  1. Người mục tử phải thật sự yêu thương đàn chiên

Đọc bài Tin Mừng, ta thấy ngay sự quan hệ tốt đẹp, đầy yêu thương, và gắn bó đến mức sống chết với nhau giữa mục tử và đàn chiên. Quan hệ ấy quả là gương mẫu tuyệt vời cho mọi quan hệ ở trần gian này giữa các vị mục tử và những giáo hữu mà các ngài có trách nhiệm chăm sóc. Quan hệ giữa mục tử và giáo hữu có tốt đẹp hay không tùy thuộc vào cả hai phía, nhưng bình thường thì hầu hết và tiên khởi vẫn thuộc về phía mục tử.

Đức Giêsu nói: “Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng và chúng theo tôi. Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong, và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi”. Vì sao chiên lại nghe và theo người mục tử, mà không nghe và theo người lạ hay kẻ trộm? Cũng chính vì đàn chiên đã cảm thu được tình yêu thương đậm đà mà người mục tử giành riêng cho chúng. Để là mục tử đúng nghĩa, điều trọng yếu là phải có tình yêu so với những người mà Thiên Chúa trao trách nhiệm cho mình chăm sóc. Điều này đòi hỏi người mục tử phải yêu mến Thiên Chúa hay Đức Giêsu thật sự và nồng nàn.

Chắc nịch không phải là vô nghĩa việc Đức Giêsu, trước khi giao cho Phê-rô trách nhiệm coi sóc đàn chiên của Ngài, đã phải hỏi ông tới ba lần: “Này anh Si-mon, con ông Gio-an, anh có mến Thày hơn các anh em này không?”. Thật vậy, có yêu Thiên Chúa là nguồn mạch tình yêu, có yêu Đức Giêsu nồng nàn thì mới có đủ tình yêu thiết yếu để hy sinh cho đàn chiên như nhu cầu thực tiễn của đàn chiên đòi buộc. Người mục tử có thật sự yêu thương đàn chiên, thì đàn chiên mới cảm thu được tình yêu người mục tử giành riêng cho họ, để dựa vào đó họ tin tưởng và nghe theo người mục tử. Người mục tử sẽ chẳng làm được gì ích lợi cho đàn chiên nếu đàn chiên không tin tưởng và không vâng nghe lời người mục tử.

Tóm lại, muốn đàn chiên tin tưởng và nghe theo mình, người mục tử phải thật sự yêu thương đàn chiên.

  1. Tình yêu của người mục tử phải được biểu lộ bằng hành động.

Làm sao bổn đạo có thể cảm thu được tình yêu của mục tử so với mình, nếu người mục tử không có những hành động rõ ràng biểu lộ tình yêu ấy? Đức Giêsu đã mang ra những hành động rõ ràng của Ngài, với tư cách là Mục Tử tốt lành như sau:

– Trước hết là “tôi biết chúng” (Ga 10,27), và có thể “gọi tên từng con” (10,3). Nếu người mục tử yêu thương chiên của mình thật sự, thì sẽ phải Note đến nhu cầu của từng con chiên một, để chăm sóc chúng, để thỏa mãn đúng nhu cầu của từng con. Tôi biết có những linh mục thường xuyên đi thăm các gia đình trong họ đạo, và biết rõ tên của từng người trong từng gia đình, cùng với hoàn cảnh và nhu cầu của từng người, từng gia đình một. Người bổn đạo sẽ cảm thu được tình thương của người mục tử ngay khi thấy ông gọi trúng tên mình, biết rõ hoàn cảnh của mình, và thỏa mãn kịp thời đúng nhu cầu của mình.

– “Tôi đến để chiên được sống và sống dồi dào” (10,10), “Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi” (10,28). Người mục tử tốt lành luôn quan tâm đến sự sống, hạnh phúc và sự an nguy của đàn chiên, nhất là đời sống tâm linh. Nhưng ông không chỉ quan tâm đến đời sống tâm linh, mà còn quan tâm đến cả đời sống thực tiễn của đàn chiên. Đức Giêsu luôn luôn quan tâm đến nhu cầu vật chất của dân chúng: ví dụ trong phép lạ hóa bánh ra nhiều: “Ta mua đâu ra bánh cho họ ăn đây?” (Ga 6,5), hay sau thời điểm làm cho đứa con gái ông Gia-ia (trưởng hội đường) chết sống lại, thì Ngài “bảo họ cho con bé ăn” (Mc 5,43).

– “Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đàn chiên” (Ga 10,11). Không người mục tử nào ngu dại đến nỗi coi sự sống của đàn chiên quí hơn mạng sống mình, trừ trường hợp đàn chiên ở đây không phải là thú vật, mà là những nhân loại, là hình ảnh Thiên Chúa hay con cháu Thiên Chúa, hay nói cách khác là hiện thân của Thiên Chúa. Chính Thiên Chúa cũng từng yêu thương nhân loại đến nỗi đã sẵn sàng hy sinh Con Độc Nhất của mình cho nhân loại (Ҳ. Ga 3,16). Người bổn đạo so với người mục tử không phải chỉ là những con chiên mà là những linh hồn hết sức quí giá, đáng cho người mục tử hy sinh mạng sống mình vì họ. Thái độ này khác hoàn toàn với thái độ của người làm thuê, hay mục tử giải được biểu lộ bằng hành động hiệu, là “khi thấy sói đến thì bỏ chiên mà chạy (…) không thiết gì đến chiên” (Ga 10,12-13).

  1. Những mục tử xấu, giả hiệu

Thánh Kinh không chỉ nói đến những mục tử tốt lành, nhưng còn nói đến những mục tử giả hiệu – mà Đức Giêsu ví như bọn chăn chiên thuê – chỉ biết nghĩ đến mình, nghĩ đến sự an nguy, quyền lợi hay hạnh phúc của mình, chỉ biết rút ra những lợi lộc từ đàn chiên, mà không nghĩ gì đến quyền lợi hay hạnh phúc của đàn chiên. Ngôn sứ Giê-rê-mi-a viết: “Khốn thay những mục tử làm cho đàn chiên Ta thất lạc và tan tác (…) các ngươi đã xua đuổi và chẳng lưu tâm đến chúng” (Gr 23,1-2). Ngôn sứ Ê-dê-ki-en viết: “Khốn cho các mục tử Ít-ra-en, những kẻ chỉ biết lo cho mình! (…) Sữa chiên thì các ngươi uống, len của chúng thì các ngươi mặc, con nào béo tốt thì các ngươi giết, và chẳng thèm lo chăn dắt đàn chiên. Chiên đau yếu các ngươi không làm cho mạnh; chiên bệnh tật các ngươi không chữa cho lành; chiên bị thương các ngươi không băng bó; chiên bị lạc các ngươi không đưa về; chiên bị mất các ngươi không chịu đi tìm. Các ngươi thống trị chúng một cách tàn bạo và hà khắc. Chiên của Ta tán loạn vì thiếu mục tử và biến thành mồi cho mọi dã thú, khiến chúng bị tán loạn. Chiên của Ta tản mác trên các ngọn núi, trên mọi đỉnh đồi, trên khắp mặt đất, thế mà chẳng ai chăm sóc, chẳng ai kiếm tìm” (Ed 34,2-6). Thiên Chúa đã dùng miệng ngôn sứ Ê-dê-ki-en để nguyền rủa loại mục tử này: “Bởi các mục tử chỉ biết lo cho mình mà không chăn dắt đàn chiên của Ta, nên hỡi các mục tử! Đây Ta chống lại các ngươi. Ta sẽ đòi lại chiên của Ta, Ta sẽ không để các ngươi chăn dắt chiên Ta nữa (…) để chiên của Ta không còn làm mồi cho chúng nữa” (Ed 34,8b-10).

Thời nào cũng có những mục tử nhân lành, vị tha, nhưng chẳng có thời nào lại vắng bóng những mục tử xấu, ích kỷ. Điều đáng tiếc là trong một số giáo hội địa phương, đời sống thoải mái với vật chất đầy đủ và mặc nhiên được trọng vọng của các linh mục, giáo sĩ đã làm cho khá nhiều người phấn đấu để trở nên linh mục, giáo sĩ vì những động cơ thấp kém. Vì vậy, trong những giáo hội ấy, những mục tử nhân lành dám sống chết vì đàn chiên, dám hy sinh cho đàn chiên không nhiều như trong những giáo hội mà người ta được xúc tiến làm linh mục và giáo sĩ vì những động cơ siêu nhiên hơn. Do đó, những linh mục và giáo sĩ tương lai cần phải luôn luôn quan tâm thanh lọc động cơ xúc tiến mình theo đuổi đời sống tu trì. Động cơ tốt nhất phải là tình yêu đích thực và nồng nàn so với Thiên Chúa và tha nhân, muốn cho toàn bộ mọi người đều được hạnh phúc cả đời này lẫn đời sau.

Nguyện cầu

Lạy Chúa, trong Giáo Hội của chúng con, chắc cú không thiếu những mục tử thánh thiện, luôn yêu thương và sẵn sàng hy sinh toàn bộ cho đàn chiên. Nhưng chắc cú cũng có những mục tử chưa yêu thương và hy sinh cho đàn chiên như lòng Chúa mong ước, như nhu cầu của đàn chiên đòi hỏi. Chúa là Mục Tử Gương Mẫu, xin hãy tăng trưởng số mục tử nhân lành lên, xin hãy làm cho ngọn lửa yêu thương bùng cháy lên trong tâm hồn các mục tử, để Giáo Hội càng ngày càng trở nên tốt đẹp, có khả năng biến cải toàn cầu và xã hội thành nhân bản hơn, chan hòa tình Chúa tình người hơn. Amen.

 

47. Mục tử nhân lành

Đọc đoạn Tin Mừng ngày hôm nay Ga 10, 27-30 cùng với việc ngày hôm nay mừng lễ Chúa Chiên Lành làm cho tôi nhớ lại hình ảnh Chúa Chiên Lành được các nhà tạc tượng dựng nên ở đây đó. Này là một hình ảnh Đức Kitô mục tử, tay cầm gậy, tay nâng đỡ con chiên được Ngài vác trên vai. Một hình ảnh mục tử thật đẹp. Tay cầm gậy để bảo vệ đàn chiên khỏi lang sói, khỏi bị thú dữ tấn công cũng như có thể mang đàn chiên của mình đi đến những đồng cỏ xanh tươi, đến những dòng nước mát trong lành cho dù xa xôi. Tay sót lại nâng đỡ con chiên, nâng đỡ chứ không kiềm chặt, đã đặt chiên trên vai lại còn nâng đỡ ưu ái yêu thương chiên của mình “Ta là mục tử nhân lành, mục tử nhân lành hy sinh mạng sống vì đoàn chiên” (Ga10, 11). Có thể con chiên được vác trên vai là con chiên lạc. Đáng lý theo thường tình thì con chiên lạc sẽ bị rượt đuổi, thúc ép để mau trở về đàn. Nhưng với mục tử Giêsu thì tìm gặp con chiên lạc thì đon đả vác chiên trên vai, nâng đỡ mang về đàn. Không ép buộc nhưng nâng đỡ để chiên tự do cảm thu được tình yêu mà trở về đàn.

Trở lại đoạn Tin Mừng ngày hôm nay, chỉ trong một câu Chúa Giêsu đã làm nổi trội quan hệ của Ngài với chiên của Ngài “Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi, tôi biết chúng và chúng theo tôi”. Chúa Giêsu chính là vị mục tử thật và chiên của Ngài chính là mỗi người tất cả chúng ta. Trong câu nói của Chúa Giêsu có ba động từ được mang ra làm nổi trội mối liên hệ giữa mục tử và đàn chiên

Biết: theo Kinh Thánh chữ biết có ý nghĩa sâu xa rộng lớn. Biết có nghĩa là yêu mến, là thuộc trọn về đối tượng, là gắn bó nên một với đối tượng. Chúa Giêsu biết chiên của mình nghĩa là Ngài yêu thương, nên một với mọi Kitô hữu. Ngài trao hiến trọn vẹn cuộc sống mình cho đoàn chiên.

Phía đoàn chiên thì nghe và đi theo. Nghe là biết chấp thuận, tin tưởng hoàn toàn và thật lòng yêu mến.

Đi theo: Là thái độ dứt khoát chọn lựa Thiên Chúa, dứt khoát là chiên của mục tử Giêsu, dứt khoát sống theo lời người. Mối tương quan của Chúa Giêsu mục tử và đoàn chiên hệ tại duy nhất trong tình yêu. Một tình yêu xuất phát từ chính Thiên Chúa. Nghe và đi theo là đòi hỏi của Chúa Giêsu giành riêng cho những ai muốn là chiên của Ngài. Cái “biết?” của Chúa Giêsu so với mỗi người tất cả chúng ta là cái biết cá vị, không phải biết cách chung chung hay biết như những con số, nhưng là một cái biết từng người một trong mối liên hệ với Ngài.

Ở Châu Phi, có một bộ lạc khá kỳ lạ. Họ không lúc nào đếm, không ai biết tí gì về toán học. Có một người hỏi người dân địa phương có bao nhiêu con cừu. Anh đáp không biết. Vậy nếu lỡ mất một hai con thì làm sao anh hiểu rằng? Câu trả lời rất ý nhị “Không phải tôi mất một con số mà là tôi mất một bộ mặt…” phải có tình yêu thương nồng nàn gắn bó lắm với đoàn chiên mới cảm thu được từng khuôn mặt của từng con một. Chúa Giêsu mục tử Ngài không xem tất cả chúng ta như những con số nhưng là từng nhân loại một.

Ngày hôm nay mừng lễ Chúa Chiên Lành, tất cả chúng ta hãy cầu xin cho các vị mục tử là những người đại diện cho Chúa Giêsu mục tử biết nêu gương Thầy mình là vị Mục Tử Nhân Lành hy sinh cho đoàn chiên. Xin Chúa cho các ngài luôn để tâm học hỏi, suy niệm để luôn gắn bó, để múc được nguồn sống nơi Chúa Giêsu mục tử mà trao lại sự sống ấy cho đoàn chiên mà các ngài có nhiệm vụ dẫn dắt. Xin cho các Ngài cũng biết yêu thương đoàn chiên mà các ngài được trao phó để trổ tài được khuôn mặt Đức Giêsu mục tử nơi đoàn chiên mình.

Còn mọi người Kitô hữu tất cả chúng ta được mời gọi để trở nên con chiên của Chúa. Tất cả chúng ta cũng phải biết nghe và đi theo Ngài. Nghe và đi theo với một sự tin tưởng tưởng sâu xa. Tin rằng Chúa luôn yêu thương và dẫn dắt tất cả chúng ta đến đồng cỏ xanh tươi mang lại sự sống đời đời. Hơn nữa mỗi người Kitô hữu tất cả chúng ta còn tồn tại nhiệm vụ nguyện cầu để cho có nhiều người dám chấp thuận từ bỏ, chấp thuận hy sinh để trở nên người đại diện cho Chúa Giêsu mục tử đích thực.

Hãy gắn bó với Chúa Giêsu mục tử qua Giáo hội của Ngài để mỗi ngày tất cả chúng ta càng trở nên những người Kitô hữu đích thực.

 

48. Mục Tử Nhân lành – ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt

Dân Do Thái là dân du mục. Cuộc sống họ nối liền với đoàn vật và những đồng cỏ. Nên khi Đức Giêsu mang ra hình ảnh người mục tử và đoàn chiên, người Do Thái hiểu ngay tức khắc. Đức Giêsu đã dùng hình ảnh thân thuộc ấy để nói lên mối liên hệ của ta với Người và của Người với ta. Người là Mục tử nhân lành. Ta là đoàn chiên của Người. Người lãnh đạo đoàn chiên không phải bằng uy quyền áp chế, bằng kỷ luật khắc nghiệt, nhưng bằng tình yêu tha thiết. Tình yêu của Người được biểu lộ qua ba khía cạnh: hiểu biết, quan tâm chăm sóc và hy sinh cho đoàn chiên.

Tình yêu của Đức Giêsu là tình yêu hiểu biết. Sự hiểu biết này không phát xuất từ lý trí, do học hỏi, nhưng phát xuất từ trái tim, do tình yêu. Khi yêu, trái tim trở nên vô cùng nhậy bén đến độ hiểu được hết những tiếng động của tâm hồn và tai người thường không nghe thấy, nhìn thấy hết những gì ẩn kín trong tâm hồn mà mắt thường không nhìn thấy, cảm thu được hết những chiều sâu thăm thẳm của tâm hồn mà không một nhà tâm lý học nào có thể cảm được. Khi Đức Giêsu nói: “Ta biết chiên Ta” có nghĩa là Người hiểu biết từng người trong tất cả chúng ta. Người không chỉ hiểu rõ hoàn cảnh sinh sống của tất cả chúng ta, mà còn thấu rõ tâm tư tình cảm của ta. Người biết những gánh nặng mà ta đang phải gánh. Người thông cảm với những đớn đau mà ta đang phải chịu. Người đau những nỗi đau trong tâm hồn ta. Người khổ những nỗi khổ đang dày vò ta. Người nhức nhối trong vết thương của tâm hồn ta.

Tình yêu của Đức Giêsu là tình yêu quan tâm chăm sóc. Sự hiểu biết sâu xa tới từ sự quan tâm chăm sóc. Sự quan tâm chăm sóc cũng phát xuất từ tình yêu. Có yêu mới quan tâm. Có quan tâm mới hiểu biết nhu cầu. Có hiểu biết nhu cầu mới biết đường chăm sóc. Đức Giêsu yêu thương ta nên Người quan tâm đến ta. Người biết rõ những nhu cầu của ta. Người chăm sóc ta. Có những tình yêu muốn chiếm hữu. Này là thứ tình yêu ích kỷ. Có những chăm sóc khiến ta trở nên ấu trĩ, yếu ớt, không lớn lên được. Này là thứ chăm sóc độc đoán ràng buộc. Đức Giêsu chăm sóc không phải để ràng buộc ta nhưng để giúp ta sống trong tự do. Người chăm sóc ta không phải để ta trở nên ấu trĩ, nhưng là để giúp ta trưởng thành. Người chăm sóc ta không phải để ta trở nên yếu ớt rụt rè, nhưng là để giúp ta mạnh mẽ, tự tin. Vì vậy, Người phân phối cho ta những lương thực lành mạnh. Người mang ta đến những đồng cỏ non, đến những giòng suối trong. Lương thực Người mang đến, này là Lời Chúa, là Mình Máu Thánh Chúa, là Thánh ý Chúa Cha. Những lương thực ấy sẽ cho ta được sống và sống dồi dào.

Tình yêu của Đức Giêsu là tình yêu hy sinh. Đây chính là dấu chỉ chắc cú nhất của một tình yêu. Càng yêu mến nhiều càng sẵn sàng hy sinh nhiều. Yêu đến sẵn sàng hy sinh mạng sống là một tình yêu cao thượng không có gì sánh được. Đức Giêsu đã xác nhận điều ấy khi Người nói: “Không có tình yêu nào lớn lao hơn tình yêu của người dám hy sinh mạng sống mình cho bạn hữu” (Ga 15,13). Chính Người đã thực hiện điều ấy. Người là Mục tử nhân lành sẵn sàng liều mạng, một mình chống lại sói dữ để bảo vệ đoàn chiên. Người đã tự hiến mạng sống vì ta. Người đã chấp thuận chết đi để ta được sống.

Hạnh phúc cho ta được là đoàn chiên của Người. Ta được an ủi vì Người hiểu ta. Ta yên tâm vì Người hằng quan tâm chăm sóc ta. Ta sung sướng vì Người yêu thương đến nỗi chết vì ta.

Người muốn ta chia sẻ hạnh phúc ấy cho mọi người. Người muốn ta tiến triển để đến lượt ta, chính ta trở thành mục tử nhân lành theo gương Người. Cha mẹ là mục tử của con cháu. Thày giáo viên là mục tử của học viên. Giám đốc là mục tử của công nhân. У bác sỹ là mục tử của người bệnh. Anh chị lớn là mục tử của các em nhỏ.

Nhưng đặc biệt hơn hết, Người muốn có những người tiếp tục công việc của Người, chăm sóc đời sống tâm linh nhân loại. Cũng chính vì thế, Giáo Hội dành ngày ngày hôm nay để nguyện cầu cho ơn mời chào làm linh mục. Nhìn tình hình chung trên toàn toàn cầu, còn thiếu rất nhiều linh mục. Giáo dân cần linh mục như người bệnh cần bác sỹ. Giáo dân cần linh mục như học viên cần thầy giáo viên. Giáo dân cần linh mục như một người bạn sẵn sàng thông cảm, chia sẻ vui buồn trong đời sống và như một người bạn gắn bó trợ giúp trong cuộc hành trình tiến về đời sau.

Hãy nguyện cầu cho có nhiều thanh niên sẵn sàng hiến thân làm linh mục. Hãy khuyến khích con cháu dâng mình cho Chúa, làm linh mục để phục vụ anh em. Nhất là hãy nguyện cầu cho các linh mục được trở nên những mục tử như Đức Giêsu, vị Mục Tử nhân lành, biết yêu thương phục vụ đoàn chiên, hiểu biết tâm tư tình cảm của từng người, quan tâm chăm sóc từng con chiên và sẵn sàng hy sinh bản thân vì lợi nhuận của đoàn chiên.

Nguyện cầu:

Lạy Đức Giêsu, Mục Tử nhân lành, xin hãy ban cho chúng con nhiều mục tử tốt lành theo gương Chúa. Xin biến chúng con thành những mục tử tốt lành trong nhà, trong khu phố, trong xã hội. Amen.

 

49. Mục tử tốt lành

Hình ảnh vị mục tử nhân lành được tiên tri Edêkiel mô tả trong Thánh Kinh như sau: “Ta sẽ tìm kiếm chiên của Ta và sẽ chăm nom đến chúng. Ta sẽ tìm kiếm con chiên lạc mất; băng bó vết thương cuả con chiên bị thương tích, săn sóc những con chiên đau yếu… Ta sẽ cho chỗi dậy một mục tử duy nhất. Đó là Đavít tôi tớ Ta. Chính Ngài sẽ chăn dắt chúng, sẽ là mục tử của chúng” (Ed 34, 2-23).

Những điều Edêkiel mô tả trên đây được ứng nghiệm nơi Chúa Giêsu, vị Mục Tử tối cao. Chúa Giêsu thuộc dòng dõi Vua Đavít, người xuất hiện để mang lại bình an hạnh phúc cho nhân loại, trong ngày Người sinh ra các thiên thần đã ca hát “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, Bình an dưới thế cho loài người Chúa thương”; khi sống lại và xuất hiện với các môn đệ Chuá luôn ban “bình an” cho các ông. Trong những năm giảng dạy, Chúa Giêsu giới thiệu: “Ta là mục tử tốt lành, Ta biết các chiên Ta và các chiên Ta biết Ta”.

Quả thực, Chúa không chỉ giảng dạy, mời chào người Do thái “công chính” mà còn đến với dân ngoại, đến với người tội lỗi. Chúa đến với người phụ nữ Samari bên bờ giếng Giacóp (Ga 4, 7-30) để hướng chị đến Nước Hằng Sống, uống vào sẽ không còn khát nữa. Người Do thái tỏ thái độ khinh bỉ và thù nghịch so với người Samari, coi họ là một dân hỗn tạp về chủng tộc, rối đạo và ly giáo, còn Chúa Giêsu thì đến với họ để quy tụ họ lại trong đàn chiên của Chúa.

Chúa đến nhà dùng bữa và mời chào Matthêu (Mt 9, 10-13) và Giakêu (Lc 19, 1-10), người Do thái không tiếp xúc với người thu thuế tội lỗi như Matthêu và Giakêu, vì sợ mắc ô uế và bị giới lãnh đạo khiển trách. Chúa Giêsu đến với họ, vì Ngài đến để “tìm kiếm và cứu những gì đã mất”. (Lc 19, 10)

Chúa Giêsu không chỉ trị bệnh và cứu sống những người Do thái mà còn cho người ngoại nữa. Chúa Giêsu đã từng trị bệnh và cứu sống người tôi tớ thân tín của viên đại đội trưởng người Rôma (Lc 7, 1-10), Chúa Giêsu còn chữa lành cho đứa con gái bị quỷ ám của người đàn bà ngoại giáo người Canaan (Mt 15, 21-28).

Là Mục Tử tốt lành Chúa Giêsu đã rảo qua mọi nẻo đường, để tìm kiếm con chiên đã mất, để băng bó và chữa lành những con chiên bị thương, đau yếu như lời mô tả của tiên tri Edêkiel. Tương quan giữa mục tử và con chiên là tương quan vô cùng thân thiết Ta biết chúng và chúng nghe tiếng Ta; tiếng nói, âm giọng của mỗi người mỗi khác, nhưng so với những người thân quen, ta chỉ nghe tiếng nói thôi, không cần thấy ngươì, thì ta đã biết là ai rồi. Các bạn trẻ và những người yêu nhạc, chỉ cần nghe tiếng hát thôi, không cần thấy người, thì đã biết là ca sĩ nào hát rồi. Này là do mối thân quen, hay một sự quan tâm đặc biệt, hoặc tiếp xúc thường xuyên mà ta có được, để đơn giản nhận thấy tiếng nói của họ.

Chúa Giêsu là mục tử tốt lành, không những có một tương quan vô cùng thân thiết với con chiên mà còn “thí mạng sống vì đoàn chiên”, để bảo vệ đoàn chiên khỏi nguy hiểm. Mạng sống của người mục tử thì cao quý hơn mạng sống của con chiên, vậy mà người mục tử phải thí mạng sống quý hiếm của mình để đoàn chiên được an lành; chỉ có một tình yêu mạnh mẽ mới có thể làm được như vậy, chỉ có một lòng yêu mến chân tình mới có thể làm được như vậy! Lòng thương xót của Chúa quá bát ngát, Ngài không để hư mất những gì Ngài đã làm ra, cho dù nó nhỏ nhoi bé mọn thế nào. Điều đó được diễn tả trong mẩu chuyện mà Chúa Giêsu nói với người Do thái: “người nào trong các ông có một trăm con chiên mà bị mất một con, lại không để chín mươi chín con kia lại ngoài đồng hoang, để đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất? Tìm được rồi, người ấy mừng rở vác chiên lên vai. Về đến nhà, người ấy mời bạn bè, hàng xóm lại và nói: ‘Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được con chiên của tôi, con chiên bị mất đó” (Lc 15, 4-6). Hoặc “người đàn bà nào có mười đồng quan, mà chẳng may đánh mất một đồng, lại không thắp đèn, rồi quét nhà, moi móc tìm cho kỳ được? Tìm được rồi bà ấy mời bạn bè, hàng xóm lại và nói: ‘Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được đồng quan tôi đã mất”. (Lc 15, 8-9)

Xem Thêm  Cách nấu xôi trắng - xôi trắng

Thật vô lý so với tất cả chúng ta phải không? bỏ chín mươi chín để tìm một, vất vả tìm được một đồng, sau này lại tổ chức tiệc mừng, (chắc cũng phải mất mấy đồng!) Đúng là chẳng biết tính toán gì cả? Nhưng nỗi lòng của Chúa là thế đó: Ngài luôn động lòng trắc ẩn, tiếc xót, Ngài không đành lòng để trượt mất một linh hồn nào cả, không hề tính toán thiệt hơn, miễn sao tìm lại được vì “giữa triều thần Thiên Chúa, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối” (Lc 15, 10). Nỗi của Chúa là thế đó, Mục tử nhân lành là thế đó!

Chúa Giêsu là vị mục tử tối cao, Ngài cũng cho xuất hiện trong Hội Thánh nhiều vị mục tử để chăm sóc đoàn chiên của Chúa. Đức Giáo Hoàng, các Đức Giám mục, các Linh mục được gọi là các mục tử có nhiệm vụ chăm sóc đoàn chiên được giao phó cho mình. Nhìn rộng hơn một tí những ai được trao phó cho một nhiệm vụ nào đó, để chăm sóc cho một nhóm người nào đó cũng được xem là mục tử. Như vậy mọi người tất cả chúng ta đều được tham gia vào sứ vụ mục tử của Chúa Giêsu. Người cha, người mẹ trong nhà, những thầy giáo viên cũng có nhiệm vụ chăm sóc, dạy dỗ và trở nên mục tử cho những người mình có nhiệm vụ phục vụ.

Chúa Giêsu là Mục tử duy nhất tối cao và gương mẫu. Các mục tử khác chỉ là phụ tá, giúp chăn dắt đoàn chiên của Ngài. Những ai đã được trao nhiệm vụ hãy tận tâm, tận lực toàn vẹn theo gương vị mục tử tối cao, dám thí mạng sống để đoàn chiên được an lành và tăng trưởng mọi mặt. Ngày nay, Chúa Giêsu vẫn cần các bạn trẻ dấn thân để trở thành mục tử chăm sóc đoàn chiên trong Hội Thánh.

Tất cả chúng ta hãy nguyện cầu cho các mục tử trong Hội Thánh và cho toàn bộ những người làm cha mẹ trong nhà, cho các thầy giáo viên, để mọi người toàn vẹn tốt nhiệm vụ của mình. Đồng thời tất cả chúng ta cũng cầu xin Chúa cho có thêm nhiều vị mục tử tốt lành, biết tận tụy chăm sóc cho đoàn chiên của Chúa cách vô vị lợi theo gương Chúa Giêsu, vị mục tử tốt lành. Amen.

 

50. Người mục tử.

Hình ảnh người mục tử là một hình ảnh rất thân thuộc so với dân Do Thái và đã được Kinh Thánh sử dụng nhiều lần.

Thực vậy, tiên tri Egiêkien đã mô tả Đấng Thiên Sai với vóc dáng của một người mục tử. Còn Chúa Giêsu, khi nhìn thấy đông người đi theo, Ngài đã thực sự xúc động và nói:

– Ta thương đám dân này, vì họ trơ trọi tất tưởi như đàn chiên không người chăn dắt.

Nhất là qua đoạn tin mừng ngày hôm nay, Ngài đã nhấn mạnh chính Ngài là người mục tử nhân lành.

Theo thói quen lúc bấy giờ, thì khi chiều xuống, những người mục tử lùa đàn chiên của mình tới một nơi chung để nghỉ qua đêm. Nơi này thường có hàng rào bao bọc và một cửa ra vào, để người ta có thể kiểm tra một cách đơn giản.

Ban tối, người ta thay phiên nhau canh phòng đàn chiên. Ban sáng, các mục tử đến tìm đàn chiên của mình. Họ đứng ở cửa và lên tiếng kêu. Đàn chiên nghe tiếng họ và bước theo họ. Các mục tử khác cũng lần lượt làm như vậy và dẫn đàn chiên tới đồng cỏ.

Hình ảnh so sánh thật rõ ràng và trong sáng. Chúa Giêsu là người mục tử nhân lành. Ngài vừa tiên phong, vừa chỉ đường, để dẫn đàn chiên tới đồng cỏ xanh, cũng như tới nguồn suối mát.

Là người tín hữu, tất cả chúng ta phải bước theo Ngài, cũng như phải noi gương làm theo Ngài. Ngài nhận ra mỗi người tất cả chúng ta, nhưng đồng thời mỗi người tất cả chúng ta cũng phải nhận ra Ngài. Đây không phải chỉ là một sự nhận ra xuất phát từ trí khôn, mà còn phải xuất phát từ trái tim, từ cõi lòng, hay nói cách khác từ tình yêu. Chúa Giêsu đã yêu thương tất cả chúng ta, thì lúc này đến lượt tất cả chúng ta, tất cả chúng ta cũng phải yêu thương Ngài.

Tuy nhiên, trong sự so sánh này có một vài điểm khác thường, được Chúa Giêsu sử dụng để làm nổi trội tình thương của Ngài so với tất cả chúng ta.

Điểm thứ nhất, này là người mục tử sẵn sàng tranh đấu để bảo vệ đàn chiên trước sự tấn công của sói rừng. Nhưng chết để bảo vệ đàn chiên thì quả thật là hơi hiếm. Người mục tử trong phúc âm không phải chỉ bảo vệ sự sống của đàn chiên, mà còn hiến mạng sống mình vì đàn chiên. Chính nhờ sự hiến mạng sống này, mà tất cả chúng ta có được kho tàng ơn cứu độ.

Điểm thứ hai này là người mục tử gọi tên từng con chiên. Về điểm này, chính Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ:

– Không phải các con đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn các con và sai các con đi để các con sinh nhiều hoa trái và để hoa trái các con tồn tại muôn đời.

Là người tín hữu, tất cả chúng ta phải ý thức về ơn gọi của mình. Thực vậy, Chúa Giêsu luôn nói với mỗi người tất cả chúng ta:

– Hãy theo Ta.

Nhưng đồng thời, Ngài cũng tôn trọng sự tự do của mỗi người. Nếu ngày xưa, Ngài đã mời gọi người phụ nữ Samaria, cũng như đã mời gọi ông Giakêu ra khỏi quãng đời u tối và tội lỗi, thì ngày hôm nay, Ngài cũng vẫn lặng thầm mời gọi tất cả chúng ta sám hối và hoán cải cuộc sống.

Thế nhưng, không phải tất cả chúng ta chỉ trả lời Ngài một lần thay cho toàn bộ. Lời mời gọi của Ngài không ngừng vang vọng suốt dọc cuộc sống tất cả chúng ta. Bởi đó, cuộc sống chính là một cuộc hội thoại liên tục, chính là một sự đền đáp không ngừng trước lời mời gọi ân tình của Chúa.

Điểm thứ ba, này là người mục tử đi trước và đàn chiên theo sau. Người mục tử không đẩy đàn chiên đi trước, nhưng chính ngài là người đi trước để chỉ đường dẫn lối cho đàn chiên.

Với tất cả chúng ta cũng vậy. Điều trọng yếu của người Kitô hữu là bước theo Chúa. Mặc dù ngày hôm nay tất cả chúng ta không nhìn thấy Chúa nhãn tiền, nhưng tin mừng phúc âm của Ngài chính là những hướng dẫn thiết yếu và bí tích Thánh thể chính là lương thực bổ sức cho tất cả chúng ta suốt cuộc hành trình trần gian.

Chúa Giêsu là người mục tử nhân lành. Còn tất cả chúng ta, tất cả chúng ta có thực sự là những con chiên trong đàn chiên đang sống dưới sự chăn dắt của Ngài hay không?

 

51. Chúa là mục tử

  1. Đức Giêsu dùng hình ảnh rất thân thuộc so với người Do thái thời đó – chủ chiên và đàn chiên – để nói lên mối tương quan mật thiết giữa Thiên Chúa, Đức Giêsu so với dân Người. Chủ chiên đích thực luôn yêu thương, lo ngại cho chiên, nhưng từng con chiên cũng như đàn chiên muốn phát triển tốt thì phải lắng nghe và đáp lại sự hướng dẫn của chủ. Chiên cho dù có khôn như vậy nào đi nữa, nhưng cũng chỉ là một loài vật, vậy mà còn biết nghe theo tiếng chủ, còn tất cả chúng ta là con chiên, đàn chiên của Chúa thì sao?

  2. Thiên Chúa vì yêu thương nên Ngài không những tạo dựng mà còn luôn yêu thương chăm sóc các loài mà Ngài đã dựng nên, nhất là loài người.

Thời Cựu Ước, Thiên Chúa dùng các tổ phụ, các ngôn sứ để giáo dục, dẫn dắt dân của Ngài. Chắc hẳn tất cả chúng ta còn nhớ hình ảnh Môsê, như một tiên biểu, thay Thiên Chúa hướng dẫn dân Do thái thoát khỏi cảnh nô lệ Ai Cập tiến về Đất Hứa. Hình ảnh của Môsê như một chủ chiên hướng dẫn một đàn chiên đi một quảng đường khá dài đến nơi an toàn. Thiên Chúa luôn thỏa mãn nhu cầu chính đáng của dân Do thái, khi họ đói Ngài ban cho có manna, khát có nước uống… Vì vậy Thánh Vịnh 23 thật là hữu lý khi cất lên

“Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu tốn gì, Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ…” (TV 23, 1-2)

Thời Tân Ước, Đức Giêsu quả thật là Mục tử nhân lành, cả cuộc sống của Người đã nhằm phục vụ cho đàn chiên: giảng dạy, chữa mọi bệnh tật xác-hồn. Cuối cùng đã hiến cả mạng sống mình cho đàn chiên (Ga 10,11-15), Người hy sinh tính mạng để cho đàn chiên được sống và sống dồi dào. Xưa, Môsê lãnh đạo dân riêng của Thiên Chúa tiến về Đất Hứa, nhưng đất nầy vẫn còn thuộc phương diện trần thế, còn Đức Giêsu, Môsê mới, dẫn mang dân mới, là Hội Thánh, qua Hội Thánh, muôn dân nước được mời gọi tiến về quê hương đích thực là Nước Trời.

Vì Đức Giêsu biết mình phải trở về cùng Thiên Chúa Cha, nên Ngài đã uỷ thác sứ mệnh của mình cho các tông đồ, các môn đệ và những người kế vị các ngài. Để việc chăn đắt đàn chiên Chúa được tiếp tục thực hiện cho đến tận thế (Lc 22,19). Như vậy, cũng như thời đã qua, ngày hôm nay và mãi cho đến ngày tận thế Hội Thánh vẫn rất cần đến những người dấn thân trong ơn gọi linh mục, tu sĩ để phục vụ Chúa, Giáo hội và tha nhân. Vì vậy, Chúa Nhật ngày hôm nay, Giáo Hội dành đặc biệt để nguyện cầu cho ơn gọi linh mục, tu sĩ.

  1. “Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi, tôi biết chúng và chúng theo tôi”. Chiên muốn được an toàn, được phát triển tốt thì không những phải lắng nghe tiếng chủ mà còn phải thực hiện theo sự hướng dẫn của chủ. Lời Chúa dạy là lời chân thực dẫn mang từng người trong tất cả chúng ta, chiên của Chúa, đến hạnh phúc thật:”Phúc cho ai biết lắng nghe và tuân giữ Lời Thiên Chúa” (Lc 11,28). Thế nhưng có khi tất cả chúng ta nghe nhưng không giữ lời Chúa, có khi nghe cách thụ động, có khi không muốn nghe… mà Chúa đã dùng “Dụ ngôn Người Gieo Giống” (Ҳ. Mt 13, 1-23 và song song) để nói lên điều đó. Chủ chiên đích thực nào cũng thương từng con chiên, cũng vậy Chúa không lúc nào muốn tách tất cả chúng ta ra khỏi tình thương của Người, thế nhưng khi tất cả chúng ta không lắng nghe và thực thi lời Chúa, tức là tất cả chúng ta tự tách mình ra khỏi đàn chiên của Người.

Có những kẻ xấu, giả điệu bộ, giọng nói rất khéo giống như chủ chiên để thu hút chiên đi theo không phải để chăm sóc mà hại chiên. Điều nầy làm cho tất cả chúng ta tư duy đến những cạm bẫy mà người Kitô hữu dễ mắc phải trước những bã vinh hoa phú quý tạm bợ làm cho tất cả chúng ta mất sự sống đời đời. Rất có thể chính ta đang bước theo chủ chiên giả này mà tất cả chúng ta không hay, này là quyến rủ của thế gian, ma quỷ, xác thịt.

  1. Làm sao hiểu rằng ý của chủ chiên thật là Thiên Chúa, Đức Giêsu để thực thi và tránh được những lời ngọt ngào, nhưng mang lại chết chóc, của những chủ chiên giả hiệu? Mặc dù tất cả chúng ta không được nghe cách trực tiếp tiếng nói của Thiên Chúa, của Đức Giêsu như dân Do thái hay các tông đồ, các môn đệ xưa. Nhưng vị Mục Tử nhân lành, vẫn không ngừng hướng dẫn để cho đàn chiên được sống và sống dồi dào. Tiếng Chúa vẫn được nói với tất cả chúng ta qua tiếng lương tâm ngay lành, qua Muời Điều Răn, qua Lời Chúa trong Tin Mừng, qua những vị có trách nhiệm trong Hội Thánh, qua lời nhắc nhở của anh chị em…

Mỗi người tất cả chúng ta không chỉ nghe tiếng Chúa suông, mà hãy quyết tâm tuân giữ, thực thi để trở thành con chiên ngoan của Chúa; gia đình tất cả chúng ta, tập thể tất cả chúng ta nỗ lực là đàn chiên tốt của Chúa; có như vậy đàn chiên rộng to hơn của Chúa là Họ Đạo, là Giáo Hội mới có thể tốt được.

Tất cả chúng ta cũng đừng quên nguyện cầu ngày càng có nhiều linh mục, tu sĩ theo gương Đức Giêsu vị Mục Tử nhân lành, để góp phần phục vụ đàn chiên của Chúa. Amen.

 

52. Nghe Ta

Toàn bộ các bài đọc Phụng vụ của Chúa nhật IV Phục sinh ngày hôm nay, hay thường hay gọi là Chúa nhật lễ “Chúa Chiên Lành” giới thiệu với tất cả chúng ta ơn cứu độ mà Thiên Chúa trao ban cho nhân loại qua Chúa Kitô, vị mục tử nhân lành đã hiến mạng sống mình cho đoàn chiên. Ơn cứu rỗi và Tin Mừng giải phóng mà Thiên Chúa hiến dâng cho nhân loại qua Chúa Kitô là ơn cứu rỗi vẹn toàn, nó có sức mạnh cứu rỗi nhân loại cả hồn lẫn xác, nghĩa là chữa lành mọi bệnh tật hay khổ đau. Các bệnh tật của nhân loại không chỉ là các sự dữ mà chúng phải xuất trên bình diện sâu thẳm hơn, này là sự không thỏa mãn được những khát vọng sâu thẳm của nhân loại.

Ơn cứu rỗi Thiên Chúa ban cho nhân loại không phải là thứ giải phóng giả tạo hời hợt bên ngoài. Qua Chúa Kitô, Thiên Chúa nhập thể làm người, Thiên Chúa gieo vào trong nhân loại một mầm sống sự sống mới, một hình ảnh mới về sự sống nhân loại. Khi nhập thể làm người, Chúa Giêsu cho thấy ơn gọi về phẩm giá vô cùng cao quí của nhân loại với những quyền bất khả xâm phạm, như quyền tự do và quyền được kính trọng.

Khi mặc lấy hình hài của nhân loại, Chúa Giêsu dạy tất cả chúng ta biết rằng, mỗi một người dù có nhỏ xíu yếu đuối, dù có bệnh hoạn tàn tật, dù có già nua tuổi tác đến đâu đi nữa cũng đều có giá trị cao trọng trước mặt Thiên Chúa. Vì mỗi người đều là hình ảnh của Thiên Chúa, được tạo thành giống hình ảnh của Ngài và mang trong mình hơi thở sự sống Thần linh của Thiên Chúa. Chúa Kitô đã khai sinh một toàn cầu có giá trị, trong đó tình yêu thương, sự quí trọng so với mọi tạo vật, và tình yêu thương quí trọng so với mỗi người là tạo vật cao vời nhất kéo theo những hậu quả vô cùng trọng yếu và rõ ràng trong cuộc sống xã hội như trên bình diện chính trị, kinh tế và văn hóa. Cũng chính vì thế nên cảnh nhân loại quen thói bóc lột nhân loại là một thực tại phản nghịch trí não yêu thương của Chúa Kitô.

Tin vào Chúa Kitô Phục sinh là nhân loại lãnh thu được toàn thể và trọn vẹn ơn cứu độ qua thay đổi cuộc sống trong tâm hồn cũng như trên thể xác. Bởi vì cuộc sống mới mà Chúa Kitô ban cho nhân loại trí não vẹn toàn là cuộc sống làm con cháu Thiên Chúa.

Thánh Gioan nhất định rõ sự thật này, tin nhận Cháu Kitô và Tin Mừng yêu thương của Ngài là tất cả chúng ta trở thành con cháu Thiên Chúa, được giống Ngài và bước vào cuộc sống hiệp thông với Ngài. Phẩm giá làm con cháu Thiên Chúa ấy đã được Chúa Giêsu trao ban cho tất cả chúng ta qua Bí tích Thánh tẩy, mầm sống mới thần thiêng ấy đã được săn sóc vun xới lớn mãi trong tâm hồn và giữa cuộc sống thường ngày của tất cả chúng ta.

Ơn gọi Kitô như vậy là trở thành giống Chúa mỗi ngày một hơn cho tới khi tất cả chúng ta sẽ được thay đổi và hoàn toàn giống Ngài trong cuộc sống hạnh phúc mai sau bên Chúa, trong cuộc sống của những người được ơn cứu chuộc.

 

53. Tiếng kêu đứt đoạn

(Suy niệm của Lm. Vũ Đình Tường)

Đức Kitô vừa là Đấng tạo dựng vũ trụ vừa là Chúa Chiên Lành. Đấng tạo dựng có quyền trên tạo vật và quyền ban sự sống. Mục tử nhân lành lắng nghe, chăm sóc, yêu mến đàn chiên và sẵn sàng bảo vệ chiên. Không con nào bị ngược đãi hay bị hại.

Lắng nghe

Chúa Chiên Lành luôn lắng nghe tiếng chiên kêu cầu. Biết chúng bằng cách nhận ra tiếng chiên kêu. Nhờ lắng nghe mà rõ nhu cầu từng của chiên. Không phải một lần mà nghe đi nghe lại cho đến khi nhớ được giọng từng con. Chính Chúa Chiên Lành xác nhận với các tông đồ như vậy.

Chiên của Tôi thì nghe tiếng Tôi;

Tôi biết chúng và chúng theo Tôi.

Tôi ban cho chúng sự sống đời đời,

không lúc nào chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay Tôi. Gioan 10,27

Chúa Chiên lắng nghe tiếng chiên qua lời cầu của cộng đoàn dân Chúa, nghe rõ tiếng kêu cầu của từng chiên con. Nhận ra nhu cầu từng cá nhân. Chiên con dâng Chủ chiên lời tạ ơn lúc vui mạnh, thành công cũng như khi tràn trề trông mong.

Chiên con phát tiếng kêu cứu nghẹn ngào. Dâng lời van nài đứt đoạn, nức nở nói không nên lời. Tiếng uất nghẹn, rên xiết khi đương đầu với hoạn nạn, buồn tủi, cô quạnh. Lúc ngồi lặng câm mắt nhìn thập tự, tưởng niệm thống khổ Chúa chịu, liên tưởng thống khổ, bệnh tật đời mình, phó thác nỗi lòng, tâm sự, niềm đau người thân quen. Lời cầu dâng lên Chúa liên lỉ ngày đêm, hết ngày này đến tháng nọ, đời này qua thế hệ kia, liên tục. Chúa Nhân Lành là Đấng đêm ngày lắng nghe đoàn con kêu cứu, nài van.

Chúa chăn nuôi tôi

Tất cả chúng ta nghe tiếng Chúa nhiều ít, bao nhiêu, tự mình mình biết. Tự mình mình hay. Điều chắc cú là tiếng chiên con gọi Chúa Chiên lắng nghe, đáp lại theo nhu cầu từng con. Chúa Chiên nghe biết, nhận thấy tiếng kêu cứu. Không mệt mỏi nghe tiếng chiên kêu cầu và còn dậy cách cầu xin.

Khi nguyện cầu các con đừng nhiều lời Mat 6,5

Thần khí trợ giúp tất cả chúng ta là những kẻ yếu hèn, vì tất cả chúng ta không biết nguyện cầu thế nào cho phải, nhưng chính thần khí cầu thay nguyện giúp tất cả chúng ta, bằng những tiếng rên siết khôn tả Roma 8,26.

Tiếng nấc

Gần đây màng lưới truyền thông khắp nơi lên tiếng dùm tiếng nấc nghẹn ngào của chiên con. Nạn nhân của chủ chiên chọn thái độ lặng im.

Kêu, chủ chiên không cứu.

Than, chủ chiên không nghe.

Gọi, chủ chiên không đáp.

Kêu oan, bảo ráng nhịn.

Nỉ non khóc than, bảo ích chi

Nhờ dóng tiếng, ngoảnh mặt làm ngơ.

Chủ chiên chọn thái độ lặng im mong yên thân.

Lầm tưởng

Vô số mục tử địa phương học từ Chúa Chiên trở thành những kẻ lắng nghe tuyệt vời, tận tình trợ giúp, chăm sóc chiên con ốm đau, bệnh hoạn, vỗ về con cô quạnh, thông cảm chiên sầu khổ. Các vị này noi gương các thánh tông đồ xưa, vui mừng được chịu thống khổ, tù đầy vì Đức Kitô Phục Sinh. Các ông nói với thủ lãnh Do Thái

Phải vâng lời Thiên Chúa hơn là vâng lời người phàm. Cv 5,29.

Mục tử lặng thinh, chọn thái độ lặng im được truyền thông ca tụng. Đừng quên truyền thông sống nhờ quần chúng. Ngày hôm nay lặng im là khôn ngoan. Khi được tự do ăn nói, truyền thông sẵn sàng miệt thị thái độ câm nín. Không phải họ thay đổi lập trường. Nhiệm vụ chính của truyền thông là mang tin. Quần chúng nguyền rủa lặng im. Báo mang tin. Đa số chỉ trích, khích bác lặng im. TV loan tin. Đừng lầm tưởng chọn lặng im hưởng an yên. Đúng, hưởng bình an trong chốc lát. Tương lai về đâu chưa xác quyết. Cứ nhìn Giáo Hội hoàn vũ đủ biết. Thập niên 60 chọn lặng im. Thập niên 90 khởi đầu chống đỡ, tiếng sấm vang làm sống lại sự việc 30 năm trước. Vuốt mặt không kịp. Chủ chiên lặng im ngày hôm nay, hãy chuẩn bị nhận hậu quả phê bình, chỉ trích, vác chiếu hầu toà trong tương lai. Người ta sẵn sàng kiện từ mồ mả kiện lên.

Nạn nhân

Hỡi những nạn nhân thống khổ vì tiếng kêu cứu bị lãng quên. Nên nhớ Chúa Chiên Lành không lúc nào quên ai. Ngài có quyền ban sự sống trường sinh. Ngài không nhẹ tay hay tha thứ cho kẻ làm hại, gây thống khổ hay ngược đãi chiên con. Chiên con van nài chủ chiên lên tiếng. Họ chọn thái độ lặng câm. Xin đừng quên nguyện cầu cho họ. Xin cho họ ơn dũng cảm, kiên trì vì Danh Chúa như các tông đồ xưa.

Lòng hân hoan bởi được xem là là xứng đáng chịu khổ nhục vì Danh Đức Giêsu. Cv. 5,41

Phaolô nhiều phen ra tù, vào khám, đòn vọt, đói khát, bị ném đá, đắm tầu, bị cướp, dân ngoại vu cáo và kẻ giả danh làm khốn. 2 cor 11,25

Đức Kitô Phục Sinh thắng lợi khải hoàn. Một ngày nào đó những câm nín ngày hôm nay sẽ bùng phát.

Anh em đừng sợ người ta. Thật ra, không có gì che dấu mà sẽ không được tỏ lộ. Không có gì bí mật, mà người ta sẽ không biết. Điều Thầy nói với anh em lúc đêm hôm, thì hãy nói ra giữa ban ngày và điều anh em nghe rỉ tai, thì hãy lên mái nhà rao giảng Mt. 10,26-27

 

54. Đàn chiên

Mục tử và đàn chiên là một đề tài Đức Giêsu ưa thích, vì vậy Ngài không bỏ lỡ thời cơ nào để diễn tả thật rõ ràng, thật đậm màu những đặc tính hầu hết của đề tài đó. Đặc biệt trong trang Tin Mừng ngày hôm nay, Đức Giêsu đã nêu rõ đặc tính tốt lành của vị mục tử và đàn chiên của Ngài thì “biết nghe tiếng Chúa” dám “bước theo Ngài” để không lúc nào bị diệt vong nhưng được sống đời đời.

Mỗi ngày, tất cả chúng ta được nghe biết bao tiếng ồn ào được phát xuất từ gia đình, từ quán xá và từ những người xung quanh. Những làn sóng này có lúc nghe thật êm dịu, nhưng không thiếu những lúc tất cả chúng ta có thể điên lên được; một khi hàng xóm mỗi lúc một “tăng volume” gây náo nhiệt cả hàng xóm. Nếu tất cả chúng ta cũng như họ, nếu tất cả chúng ta không hài lòng với họ, tôi hỏi thử chuyện gì sẽ xảy ra? Nhưng một khi tất cả chúng ta nghe tiếng: “Hãy yêu thương nhau như Thầy” thì cách xử lý của ta sẽ trở nên tốt hơn. Như vậy, giữa những tiếng động cao độ của thế gian, vẫn còn tồn tại tiếng thì thầm của Đấng tràn ngập tình thương đã và đang lan tỏa trong suốt cuộc sống của tất cả chúng ta.

Tiếng của Chúa chính là tình yêu. Ngài yêu thương ta không phải ta đáng được yêu, nhưng Ngài yêu vì tất cả chúng ta cần được yêu. Sống giữa xã hội còn phân biệt sang hèn, tiếng của Chúa được vang lên từ những trái tim của những người nghèo khổ, bị áp bức. Tiếng Chúa ngày hôm nay đang là tiếng kêu của đồng bào, của xã hội loài người đang cần đến nhau để sống, để có cơm ăn, áo mặc, để tạo được hạnh phúc cho nhau. Và tiếng Chúa vẫn còn vang dội từng ngày từng giờ thúc bách mỗi người tất cả chúng ta dấn thân theo Chúa trên khắp nẻo đường, yêu thương và phục vụ; yêu thương phục vụ và hy sinh đến chỗ không còn tìm kiếm gì cho riêng mình. Hơn nữa, dám liều mình vì anh em, như mục tử dám liều mình vì đàn chiên.

Giờ đây, nếu tất cả chúng ta nghe tiếng Chúa mời gọi, tất cả chúng ta sẽ đáp lại lời mời gọi làm sao?

“Chiên tôi thì nghe tiếng tôi, tôi biết chúng và chúng theo tôi”. Nghe tiếng Chúa là tin nhận lời của Ngài, bước theo Ngài là dấn thân sống lời Chúa một cách tự do và chủ động. Bước theo Ngài không phải là phó thác hoàn toàn cho Chúa, không phải là trao hết trách nhiệm cho Chúa, và cũng không phải bám víu vào một mớ giáo lý; nhưng là phải thực hành những điều ta lĩnh hội, là thực hành như Ngài đã sống. Sống thực hành là mang lại tình yêu thương dẫn dắt ta trong mọi quan hệ với tha nhân, là mở rộng tâm hồn để tiếp nhận sự thật tới từ Thiên Chúa.

Trước mọi xu thế tư tưởng mới, và trước mọi cám dỗ tấn công, tất cả chúng ta hãy đứng vững vì tất cả chúng ta đã được nếm thử cùng nghiệm được rằng Đức Giêsu là đường là sự thật và là sự sống. Như vậy, tất cả chúng ta sẽ cảm thấy thực sự mình là người người tín hữu Kitô dám bước theo Ngài và có khả năng làm chứng cho Ngài trước thế gian. Lúc đó, hình ảnh mục tử và đàn chiên đạt đến mối tương quan sống động và thân thương giữa Thiên Chúa và nhân loại, giữa Đức Kitô và những kẻ theo Ngài. Chiên tốt lại gặp được mục tử lòng lành tốt bụng thì thật là tuyệt vời và còn tuyệt vời hơn khi mục tử hứa cho đoàn chiên “được sự sống đời đời”.

Chiên tôi…. Tôi cho chúng được sống đời đời, chúng sẽ không lúc nào hư mất. Với hình ảnh đó, lời dạy đó, tất cả chúng ta quen gọi Đức Giêsu là Đấng chăn chiên lành, Ngài hướng dẫn đoàn chiên của Ngài, Ngài để tâm chăm sóc từng con chiên trong đàn, Ngài không hướng dẫn dắt đàn chiên đến đồng cỏ xanh nước mát, mà còn dẫn chúng đến đích điểm là sự sống đời đời với Thiên Chúa là Cha trên trời.

Ngay ở trần gian, Ngài là Đấng chăn chiên lành dám thí mạng vì đàn chiên, Ngài dám chịu mục nát đi như hạt giống gieo vào lòng đất. Như vậy, sự sống đời đời Ngài ban cho ta ngay tại thế này chính là cuộc sống yêu thương vô điều kiện. Và từ biến cố Phục sinh, nhân loại đã nên mới so với nhân loại cũ, nhân loại sống sót không còn bị đóng khung sau quyền lợi và giá trị riêng tư của mình, nhưng là một cuộc sống đầy yêu thương và luôn mở rộng ra với mọi người.

Nếu mục tử Giêsu biết chiên của Ngài, nghĩa là yêu thương đến nỗi nên một với nó và hiến mạng vì nó, thì mỗi người Kitô hữu cũng phải có trách nhiệm liên đới với anh chị em mình trong mọi nỗi niềm và tình cảnh của cuộc sống để cùng mang nhau về nơi sự sống vĩnh cửu mà mục tử Giêsu đã dọn sẵn cho tất cả chúng ta.

Ngày hôm nay, cũng là ngày toàn cầu nguyện cầu cho ơn gọi linh mục, tu sĩ, tất cả chúng ta cũng được mời gọi sống trọn ơn gọi (tiên tri – tư tế – vương đế) của mình bằng cách lắng nghe và bước theo Thầy Chí Thánh để trở nên những mục tử tốt cho nhau. Nhất là tất cả chúng ta cầu xin Chúa ban cho Giáo Hội có nhiều mục tử biết sống kết hiệp mật thiết với Đức Kitô, trung thành với ơn gọi của mình để diễn tả đúng khuôn mặt của Đức Kitô, bằng việc nỗ lực thi hành từng ngày từng phút sống phù phù hợp với tiếng của Ngài không ngừng vang vọng trong thâm tâm ta: “Chiên Tôi thì nghe tiếng Tôi, Tôi biết chúng và chúng theo Tôi”.

 

55. ”Không ai có thể cướp…”

(Suy niệm của Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng)

Linh mục Mike Judge, tên thật là Robert Emmet Judge, là một trong số đông lính cứu hỏa đã hy sinh trong lúc đang làm nhiệm vụ ngày 11.9.2001, lúc tòa nhà tháp đôi Trung tâm Thương mại New York bị những chiếc máy cất cánh của những kẻ khủng bố tấn công.

Là tu sĩ dòng Phanxicô, kể từ sau thời điểm chịu chức linh mục ngày 25.2.1961 lúc 28 tuổi, linh mục Mike Judge đã được mời gọi trong nhiều trọng trách khác nhau ở New York. Dù trọng trách nào, dù khó khăn cách mấy, cha đều ra sức toàn vẹn nhiệm vụ cách hoàn hảo. Người ta thấy cha thường xuyên trợ giúp những người khốn khó, những người thiếu nơi ăn chốn ở, những di dân, những người bệnh tật, những người gặp nạn… Cả những người nghiện ngập cũng được cha yêu thương đón nhận…

Tuy phải bận rộn với bao việc nhân ái hằng ngày, cha vẫn không quên nguyện cầu, hăng say thực hành toàn bộ các nghĩa vụ thiêng liêng của một linh mục để thánh hóa bản thân. Cha gắn bó với Chúa bằng một tấm lòng tận tụy, chu đáo tuân giữ luật dòng, và tận hiến mình hoàn toàn trong sự vâng phục Bề trên. Những ai đã từng tiếp xúc, nói chuyện với cha, đều cảm nhận cha là người khiêm tốn, dễ thân thiện. Người ta cũng nhận thấy, nơi cha toát ra một sự thánh thiện và lòng yêu mến Chúa mà không phải ai cũng có thể có…

Năm 1992, cha được chỉ định làm tuyên úy cho lính cứu hỏa New York. Cha đã dành nhiều thời giờ đến với từng người lính cứu hỏa và gia đình họ, không phải chỉ như một vị tuyên úy; nhưng còn như người bạn và ân nhân của họ; trợ giúp họ bất kể lúc nào khi họ cần đến cha với toàn bộ tình yêu thương.

Sáng ngày 11.9.2001, ngay khi những chiếc máy cất cánh đâm vào tòa Tháp Đôi, cha đã cùng hàng trăm lính cứu hỏa chạy vào tòa nhà đang cháy và sắp sụp đổ, để cứu các nạn nhân, để giải tội, để ban bí tích xức dầu và các nghi thức cuối cùng cho lính cứu hỏa và những người Công Giáo đang hấp hối. Nhưng khi cha đang thi hành trách vụ, thì tòa nhà sụp đổ, gạch đá đập xuống đầu cha. Cha đã hy sinh trong lúc thi hành nhiệm vụ Thánh Chức của mình.

Dù biết rằng, việc xông vào tòa nhà đang bị cháy là nguy hiểm vô cùng, nhưng vì trên ba ngàn nhân loại còn kẹt lại trong tòa nhà, đã khiến cha và nhiều lính cứu hỏa bỏ mặc mạng sống mình, đặt nhiệm vụ cứu người bị nạn lên hàng ưu tiên. Thế nên mấy trăm lính cứu hoả và linh mục Judge vẫn dũng cảm lao vào bên trong toà Tháp Đôi…

Như Chúa Giêsu nhất định: “Chiên Ta thì nghe tiếng Ta… Không ai có thể cướp được chúng khỏi tay Ta…”. Và để bảo vệ đàn chiên mà Chúa Cha trao cho mình, Chúa Giêsu quyết bảo vệ đến cùng. Người đã chọn lựa: thà hy sinh chính mình, hy sinh cả mạng sống, miễn sao đàn chiên không lúc nào hư mất, không lúc nào rời khỏi tay mình. Tình yêu tuyệt đối giành riêng cho trần thế, đã mang Chúa Giêsu đi đến hiến dâng cuộc sống, hiến dâng mạng sống. Chính trong sự hiến dâng như của lễ đền tội thay cho cả trần thế, hiến lễ của Chúa Giêsu đã được Chúa Cha đón nhận. Chúa Cha đã làm cho cuộc hiến dâng của Chúa Giêsu nên hiệu lực cứu độ, mang lại kết quả cứu độ mãnh liệt, đời đời, cho từng nhân loại trong trần thế không trừ ai. Hiệu lực cứu độ ấy đã được Chúa Cha làm cho dồi dào và trào tràn đến nỗi không có bất kể điều gì có thể sánh bằng. Nhờ hiệu lực cứu độ này, Chúa Cha đã tha thứ và luôn ban ơn để bảo vệ và gìn giữ toàn bộ tất cả chúng ta là đoàn chiên mà Chúa Giêsu luôn yêu quý. Cũng chính trong hiệu lực cứu độ do chính mình gây nên và được Chúa Cha đón nhận, Chúa Giêsu hoàn tất và hiện thực hóa điều mà Người đã từng tuyên bố, này là bảo vệ tất cả chúng ta trọn vẹn đến nỗi: “Không ai có thể cướp được chúng khỏi tay Ta…”.

Tình yêu mà Chúa Kitô yêu nhân loại luôn hiện hữu trong cha Mike Judge. “Không ai có thể cướp được chúng khỏi tay Ta…”. Dù chủ nghĩa khủng bố và tội ác khủng bố, dù ngọn lửa hiễm độc, dù tòa nhà cao ngất kia có thể nhẫn tâm chôn vùi hàng ngàn nhân loại, nhưng cha quyết không để người bị nạn trong căn nhà kia chết mà thiếu vắng ơn Chúa, thiếu vắng hình bóng của linh mục. Vì vậy, giữa những đớn đau tàn khốc, cha quyết xông vào để cứu sống linh hồn nhân loại. Cha đã thực hiện chính hành động cứu sống ơn cứu độ của nhân loại như Chúa Giêsu, để dù các nạn nhân có chết thân xác, linh hồn họ vẫn lãnh nhận trọn vẹn ơn cứu độ. Chính cha, trong giờ phút lâm nguy, đã noi gương Chúa Kitô, quyết không để bất kể thế lực nào “có thể cướp được” linh hồn nhân loại…

Tình yêu giành riêng cho Chúa Giêsu và tình yêu so với nhân loại biến cha trở thành người hành động. Tình yêu ấy lôi cuốn cha đến nỗi cha không còn nghĩ cho mình mà chỉ nghĩ đến những nhân loại mắc nạn và những nhân loại đang thi hành nhiệm vụ trong tòa nhà ngùn ngụt lửa. Tình yêu ấy dẫn cha đến trước vực thẳm nguy hiểm nhưng vẫn băng mình cho sứ vụ tròn đầy. Tình yêu ấy chính là sức mạnh giúp cha hiểu rằng Chúa Giêsu đang chờ đợi cha nơi những nhân loại thống khổ đang trên bờ sự chết. Tình yêu ấy thúc bách cha xả thân cứu người như chính Chúa Giêsu hy sinh cho trần thế.

Tử vong trong nhiệm vụ và cho Thánh Chức của cha đã nói cho tất cả chúng ta: Linh mục Mike Judge là mục tử tốt lành. Tấm gương bình an đón nhận hiểm nguy và sự chết của cha đáng để các mục tử noi theo. Cha chết, nhưng gương hy sinh ấy sống mãi trong lòng dân Mỹ và nhiều người thiện chí trên khắp toàn cầu…

Trong ngày nguyện cầu cho ơn thiên triệu, tất cả chúng ta nguyện cầu cho toàn bộ những ai sống đời ơn gọi nói chung, và nguyện cầu cho các linh mục nói riêng, phải là người khôn ngoan, hiền hậu, có trái tim nhân từ, biết thương cảm, biết hy sinh quên mình, nhất là biết lao mình trong mọi nơi, mọi lúc, bỏ mặc bản thân để hy sinh vì ơn cứu độ của mọi người.

Tất cả chúng ta cũng luôn cầu xin cho các mục tử hết lòng thao thức và sống chết cho sứ mệnh, để nếu có ai kém cõi trong đức tin, ngài biết nâng đỡ, nhũ khuyên; ai khổ đau gặp được nơi ngài sự thông cảm chia sớt; ai đau bệnh, yếu đuối, ngài đon đả thăm hỏi; ai lạc lối, hay xa rời đức tin, ngài tìm cách mang về sống hiệp thông cùng Hội Thánh; ai sai lầm, ngài bao dung tha thứ; ai đã chuyên chăm trong đời sống đạo đức, ngài tiếp tục nâng đỡ để đức tin của họ ngày càng mạnh mẽ hơn…

Qua toàn bộ những nhiệm vụ vừa cao trọng, vừa vất vả bên trên mà người mục tử không lúc nào được phép lơ là, nhưng luôn nỗ lực thực hiện, người mục tử sẽ xứng đáng là biểu tượng của sự bình an cho đoàn chiên mà Chúa trao cho mình.

Người ta muốn bắt chiên, trước hết phải sát hại người chủ của đoàn chiên. Bình an của đoàn chiên là niềm vui cho người mục tử. Vì vậy, trên hết mọi sự, tất cả chúng ta nguyện cầu cho các mục tử không chỉ luôn biết nguyện cầu, mà họ còn biết đặt trọn tâm đời mình trên đời sống gắn bó với Chúa Giêsu. Có như vậy, người mục tử mới có thể vui hy sinh, vui chấp thuận nghịch cảnh, vui bền đổ phục vụ, vui xả thân, nhất là vui xả thân trong mọi hoàn cảnh, dù có thể bị mất mạng sống mình…

Tất cả chúng ta nguyện cầu cho các mục tử, nhờ gắn kết với Chúa Giêsu, xứng đáng trở thành người nối trời với đất, nối thiên đàng với trần thế, nối Thiên Chúa với lòng nhân loại… Có như vậy, các mục tử mới có thể và thực sự là mục tử mang hình ảnh và là họa ảnh của Chúa Giêsu Mục Tử…

Tấm gương tốt lành của linh mục Mike Judge, hay của nhiều linh mục tương tự như vậy, phải là bài học nằm lòng cho các mục tử của Chúa. Tất cả chúng ta nguyện cầu nhiều hơn nữa, để nhờ ơn Chúa, các linh mục không tìm an thân cho bản thân, nhưng luôn vì uy danh Chúa Giêsu, vì lợi nhuận của Hội Thánh, vì lợi nhuận của linh hồn nhân loại, vì lợi nhuận chung của toàn xã hội mà hiến thân phụng sự Chúa, phục vụ nhân loại.

Xin cho các mục tử trong Hội Thánh luôn kiên tâm, để họ có thể tuyên bố bằng chính lời của Chúa Giêsu: “Chiên Ta thì nghe tiếng Ta… Không ai có thể cướp được chúng khỏi tay Ta…”.

 

56. Chúa chiên lành – Mùa Xuân Hội Thánh

(Suy niệm của Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng)

Đã thành thông lệ từ nhiều năm, mỗi dịp mùa Chay đến, Ban Mục vụ Thanh niên giáo phận chúng tôi bao gồm một số linh mục đang coi xứ và linh mục dòng, và nhiều tu sĩ nam nữ, dành toàn bộ các ngày thứ bảy và Chúa nhật trong mùa Chay, lên đường đến các giáo hạt trong giáo phận quy tụ các bạn trẻ, giúp các bạn tĩnh tâm, học hỏi Sứ điệp mùa Chay…

Còn nhớ năm 2010, Ban Mục vụ còn làm các bạn tìm hiểu năm Thánh 2010. Ngoài ra, nhằm định hướng cho các bạn về đời sống luân lý theo ý Hội Thánh, nhiều đề tài “thời sự” được trình bày như: “Có được phép sống thử?”, “Sống thử: Lợi hay hại?”, “Tình dục: quà tặng hay nguy cơ?”…

Nhìn các linh mục bộn bề công tác, nhất là bao nhiêu việc phải sắp xếp, phải toàn vẹn trong những ngày Đầu tuần (theo Thánh Kinh, Chúa nhật là ngày Đầu tuần), các ngài phải làm sao hoàn thiện bổn phận với giáo dân trong giáo xứ, nhưng cũng không bỏ thời cơ giúp các bạn trẻ tĩnh tâm để dọn tâm hồn mừng mầu nhiệm Vượt qua. Đa số các bạn trẻ phải đi làm suốt ngày, các buổi tĩnh tâm đều phải diễn ra từ xế chiều đến đêm. Vì vậy, có hôm kết thúc buổi tĩnh tâm, vì địa phận giáo phận quá rộng, các linh mục chia tay các bạn trẻ, về đến nhà, đồng hồ đã điểm một, hai giờ đêm…

Có lần đến nơi quy định để tổ chức tĩnh tâm, nhìn qua nhìn lại chỉ thấy có 25 bạn trẻ của cả giáo hạt đi dự tĩnh tâm (số những người trong ban tổ chức đông hơn số người tham gia tĩnh tâm), chúng tôi tưởng chừng thất bại, tưởng chừng các linh mục sẽ chán nản, bỏ cuộc. Nhưng không, ai đó đã lên tiếng khuyến khích: “Dù chỉ có hai người đi tĩnh tâm, cũng sẽ giảng như giảng cho 200 người. Dù chỉ có 200 người, cũng sẽ giảng như giảng cho 2.000 người”. Thế rồi toàn bộ lại bắt tay vào việc với 25 người dự tĩnh tâm cũng bằng ấy “quy mô” y như… đang có 2.500 người vậy… Đúng thôi, một tâm hồn tội lỗi trở về với Chúa còn quý, huống hồ 25 nhân loại đang khao khát yêu mến Chúa!

Theo chân Ban Mục vụ Thanh niên trong nhiều năm, tôi càng thấy yêu các bạn trẻ, càng kính phục sự hy sinh tận tụy của các linh mục trong Ban. Để đánh thức đức tin, đánh thức niềm yêu mến Chúa, yêu mến Hội Thánh, và để mời chào lòng ăn năn tội, để gọi về tâm hồn thánh thiện nhằm chuẩn bị lễ Vượt qua của Chúa, Ban Mục vụ Thanh niên Phú Cường đã không mời chào suông, nhưng đã hành động thiết thực.

Không dám coi những việc làm bên trên là toàn bộ nghĩa cử của người mục tử, bởi làm mục tử thật sự như Chúa muốn còn khác hơn nhiều, còn được đòi hỏi to hơn nhiều. Nhưng ít ra, đó cũng là một phấn đấu đẹp gợi hứng cho mỗi tất cả chúng ta có thể ý thức, có thể tự nhủ mình phải phấn đấu, nỗ lực vươn lên từng ngày, từng ngày một.

Ngày hôm nay, lễ Chúa Chiên Lành, ngày nguyện cầu cho ơn gọi tu trì, tất cả chúng ta cùng nhìn lại hình ảnh đẹp của Ban Mục vụ Thanh niên mà nung đúc cho bản thân trí não nguyện cầu: Xin cho Hội Thánh Chúa ngày càng có nhiều người ham thích dấn thân cho ơn gọi tu trì không phải để thưởng thức, nhưng là biết xả thân vì cơ đồ của Chúa Kitô và vì mọi nhân loại trần thế.

Hơn hết, tất cả chúng ta nguyện xin cho các linh mục, biết thăng tiến và làm đẹp ơn gọi quý báu mà Chúa ban cho mình bằng toàn bộ mọi nỗ lực dù phải chấp thuận hy sinh, chấp thuận thử thách.

Bởi tình yêu của Chúa Giêsu là tình yêu hy sinh. Tất cả chúng ta nguyện cầu cho các linh mục, một khi mang trong mình chính tình yêu hy sinh của Chúa Giêsu, và ấp ủ trong đời mục tử của mình hình ảnh Chúa Giêsu, người linh mục cũng phải biết yêu, phải biết hy sinh như Chúa, để không chỉ khắc họa lại hình ảnh Chúa Giêsu Mục Tử trong đời hiến dâng của mình, mà chính qua sự hiến dâng, linh mục còn cho thấy, linh mục chính là hiện thân của Chúa Giêsu nơi trần thế.

Tất cả chúng ta nguyện cầu cho các linh mục luôn có một tình yêu tận hiến đến cùng cho Thiên Chúa và cho nhân loại. Một tình yêu tận hiến đến cùng sẽ giúp linh mục không còn gì tiếc nuối vì đã không hết mình cho sứ vụ. Tình yêu tận hiến đến cùng phải là nhân đức hàng đầu của người linh mục. Bởi nếu không có tình yêu tận hiến ấy, mỗi ngày trong đời sống của linh mục trôi qua sẽ nặng nề, buồn tẻ, mệt mỏi… Nhất là khi phải đối mặt với những thách đố, nếu không sẵn sàng tận hiến đến cùng bằng một tình yêu trong sứ vụ, vì sứ vụ, người linh mục dễ chán nản, buông xuôi. Nếu đời sống của linh mục mà không còn ham thích tranh đấu, không còn vươn lên cho lý tưởng, không còn tha thiết với sứ mệnh Chúa trao, đồng nghĩa với việc, linh mục sẽ là gánh nặng cho giáo dân, gây thiện hại cho Hội Thánh Chúa, và xúc phạm đến chính hồng ân mà Chúa trao ban cho người linh mục.

Tất cả chúng ta nguyện cầu cho các linh mục, để các ngài chỉ biết tìm niềm vui trong sự hiến dâng, trong mọi công tác thánh hóa các linh hồn, trong sự say mê phục vụ người nghèo, phục vụ người xấu số. Bởi nếu các linh mục mà không tìm niềm vui trong sứ mệnh của mình, không thấy mình hạnh phúc trong vai trò phục vụ, thì không còn gì nguy hiểm bằng. Bởi như sự bù trừ, nếu một người không tìm thấy hạnh phúc ở chỗ này, anh ta sẽ tìm hạnh phúc ở chỗ khác. Nếu linh mục không nhận thấy sứ vụ của mình là đạo lý để đạt tới hạnh phúc thật, cám dỗ về một lý tưởng khác, một thích thú khác, một hình ảnh khác, một đoạn đường khác… sẽ có thời cơ len lỏi vào đời sống các linh mục. Như vậy, sự tan vỡ tấn công các ngài chỉ đang là yếu tố thời gian. Như vậy, đời linh mục sẽ không còn đớn đau nào bằng, Hội Thánh sẽ không còn nỗi buồn nào bằng, cộng đoàn nơi linh mục đang sống sẽ không còn ê chề nào bằng… Vì vậy, tất cả chúng ta nguyện xin Chúa giúp các linh mục chỉ yêu Chúa và yêu hình ảnh của Chúa nơi nhân loại mà Chúa ban cho họ trong một trái tim không lúc nào san sẻ…

Cách riêng với giáo phận của tôi, tôi thấy các linh mục trong Ban Mục vụ Thanh niên, tuy chưa nhiều, tuy chưa lớn, nhưng việc làm của các ngài phục vụ đời sống tâm linh của chúng ta trẻ, cách nào đó, đã có thể có tiếng vang. Ước mong các ngài sẽ kiên trì tiếp tục công việc của mình không ngại khó, không ngại khổ, ngày càng phát huy hơn, tiến triển hơn, sáng tạo hơn để thu hút các bạn trẻ về với Chúa, yêu mến Chúa. Biết đâu nhờ tấm gương hy sinh của các ngài, nhiều bạn trẻ sẽ dũng cảm dấn thân cho Chúa, sống đời ơn gọi.

Ngắm nhìn từng linh mục trong linh mục đoàn của giáo phận tôi, với mọi hăng say, mọi lao tác mà các ngài trổ tài, tôi tin rằng, ơn Chúa đang tuôn đổ dồi dào cho giáo phận. Bởi đó, tôi cũng tin rằng, nhờ từng anh em linh mục chúng tôi nỗ lực sống từng ngày trong thánh chức mộc cách thiết thực, và luôn không hài lòng, không thỏa mãn với sự dâng hiến mà mình đã trao đi để xây dựng Nước Chúa tại giáo phận nhà, sự phát triển về đời sống thánh thiện sẽ còn tiến xa hơn, tiến mạnh hơn cho chính bản thân người linh mục, và cho toàn bộ mọi anh chị em mà linh mục có trách nhiệm phục vụ…

Tôi vẫn thấy, mùa xuân, hoa vẫn nở rực rở, khoe đủ màu, đủ loại trong cánh rừng, trong những vườn ươm trồng, trong từng ngỏ, trong từng nhà… trên quê hương tôi. Tôi vẫn thầm so sánh, trông mong và ước mong: ơn Chúa qua tay anh em linh mục chúng tôi, thực sự nở rực trên khắp cùng mọi nơi trong Hội Thánh nói chung và trong chính giáo phận này. Tôi vẫn tin, với ơn Chúa thắm tươi đậm đà trên khắp Hội Thánh, mùa xuân Hội Thánh mãi mãi không lúc nào tàn phai, dẫu tiết trời có thể sang đông, sang hạ!…

Để mùa xuân nở rộ trong Hội Thánh, không thể thiếu vắng hồng ân linh mục. Vì vậy, linh mục không nỗ lực hợp tác để hồng ân của Chúa lớn lên từng ngày, đồng nghĩa với việc linh mục giết chết mùa xuân Hội Thánh…!

 

57. Theo Chúa

Chúa Giêsu là mục tử tốt lành và Chúa đã hành động xứng tước vị đó thì đoàn chiên cũng phải biết đối xử sao cho xứng đáng. Vật không có lý trí còn biết bổn phận mình với chủ chăn, thì tất cả chúng ta, vật có linh tính, càng phải đền đáp sao cho xứng tình ưu ái của Chúa chiên vô cùng nhân hậu ấy.

Đâu là bổn phận của con chiên so với chủ chăn của mình? Qua bài Tin Mừng, Chúa Giêsu đã trả lời thắc mắc ấy và tất cả chúng ta ghi thu được hai bổn phận cốt yếu, này là lắng nghe và bước theo.

Lắng nghe: mỗi buổi sáng, chủ chăn mở cửa chuồng gọi tên từng con chiên và dẫn chúng tới đồng cỏ xanh và tới dòng suối mát. Ban chiều, chủ chăn mang chiên về chuồng và thay phiên nhau canh phòng chúng qua đêm. Vì vậy, con chiên muốn được nuôi sống, muốn được đảm bảo an toàn, thì không những phải biết nghe tiếng chủ chăn mà còn phải có dũng cảm bước theo sự dẫn dắt của chủ chăn nữa.

Tất cả chúng ta cũng vậy, là những con chiên trong đoàn chiên của Chúa, việc thứ nhất tất cả chúng ta cần phải làm là hãy lắng nghe tiếng Chúa. Chúa đã nói: “Chiên của Tôi thì nghe tiếng Tôi, Tôi biết chúng và chúng theo Tôi”. NHư vậy, dấu hiệu và cũng là điều kiện để trở thành con chiên tốt lành của Chúa là nghe tiếng Ngài.

Mặc dù ngày hôm nay Chúa không phán dạy tất cả chúng ta cách tỏ tường như ngày xưa Ngài đã phán dạy dân Do thái và các môn đệ. Thế nhưng Ngài vẫn tiếp tục nói với tất cả chúng ta. Phải, Ngài nói với tất cả chúng ta qua tiếng lương tâm, bởi vì lương tâm chính là tiếng nói lặng thầm của Chúa, phát xuất từ thẳm sâu cõi lòng, thôi thúc tất cả chúng ta làm lành tránh dữ. Hơn nữa, Ngài còn nói với tất cả chúng ta qua Tin Mừng, bởi vì với Tin Mừng, tất cả chúng ta sẽ tìm thấy những tiêu chuẩn hướng dẫn cho cuộc sống, cũng như những phương thức giúp tất cả chúng ta khắc phục những tình huống gặp phải.

Bước theo: lắng nghe tiếng Chúa là điều tương đối dễ, nhưng điều trọng yếu là phải dám bước theo Chúa. Người Do thái ngày xưa đã từng được nghe chúa giảng dạy và họ cũng từng từng cảm phục sự khôn ngoan của Chúa, nhưng lại chẳng lúc nào thực hành, để rồi cuối cùng họ đã quay lưng chống lại Chúa. Họ giống như những người ngồi xem xiếc. Đúng thế, người xem xiếc cảm phục kẻ đi trên dây, nhưng nếu bảo họ tiến lên để cùng đi trên dây thì họ lại không dám. Cũng như chàng thanh niên sung túc, cảm phục Chúa và đã tới hỏi Chúa về đoạn đường trọn lành. Thế nhưng khi nghe Chúa bảo: “Con hãy về, bán hết của cải và chia sẻ cho người nghèo, rồi đến theo Ta”, thì chàng đã buồn rầu cúi mặt vì chàng không có đủ dũng cảm dứt bỏ những níu kéo của tiền nong, chàng không dám liều, không dám dấn thân để bước theo Chúa.

Như vậy, “nghe tiếng” Chúa không phải là chỉ nhận thấy tiếng nói, tiếng gọi của Chúa, mà hầu hết là tuân theo, là giữ lời Ngài truyền dạy, nhất là giữ các điều răn của Ngài, nhất là điều răn mới, tức là điều răn yêu thương: “Cứ dấu này người ta biết các con là môn đệ Thầy”, là các con thương yêu nhau. Càng yêu thương nhau tất cả chúng ta càng chứng tỏ tất cả chúng ta là những con chiên tốt lành của Chúa.

Nói rõ hơn, so với tất cả chúng ta, bước theo Chúa có nghĩa là phải nỗ lực thực thi những điều ngài truyền dạy, nhất là thực thi giới luật yêu thương, bởi vì giới luật yêu thương chính là cốt lõi của Tin Mừng. Ngày kia, có một linh mục đứng giảng ở ngã ba đường, mời chào mọi người đóng góp cho việc từ thiện. Rất nhiều người đã hưởng ứng. Tuy nhiên, có một thanh niên, khoảng 30 tuổi, tiến đến và quì dưới chân vị linh mục, rồi đặt một hòn đá và mấy đồng bạc. Anh nói: “Thưa cha, xin cha hãy nhận lấy của lễ con dâng và xin cha tha tội cho con. Bởi vì lúc đầu con đến đây với ý định dùng hòn đá này để đập bể đầu cha. Nhưng lời Chúa qua sự giảng dạy của cha đã thực sự làm con xúc động và con đã từ bỏ hành vi ám muội của con”.

Tất cả chúng ta gọi những người lãnh đạo trong Giáo Hội là mục tử hay chủ chăn. Tất cả chúng ta đang sống dưới sự hướng dẫn của các ngài, tất cả chúng ta hãy tin tưởng các ngài, vì đức tin bảo cho tất cả chúng ta biết: chính Chúa Giêsu, mục tử tốt lành đích thực, đang trực tiếp chăn dắt tất cả chúng ta qua những người lãnh đạo trong Giáo Hội, là Đức Giáo Hoàng, giám mục, linh mục. Vì vậy, tất cả chúng ta có bổn phận nghe theo sự hướng dẫn của các ngài, hợp tác với các ngài, tùy thuộc hoàn cảnh và điều kiện của tất cả chúng ta, để duy trì và xây dựng đoàn chiên nhỏ xíu là gia đình mình, tập thể mình đang sống, đang làm việc và đoàn chiên rộng to hơn là Giáo Hội.

Sau hết, ngày hôm nay là ngày Giáo Hội toàn thị trường quốc tế dành để nguyện cầu cho ơn thiên triệu. Tất cả chúng ta phải nguyện cầu vì chính Chúa đã dạy: “Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt thì ít. Các con hãy xin chủ ruộng sai thợ đi gặt lúa”. Nếu muốn có nhiều người xung phong vào cánh đồng phì nhiêu, tất cả chúng ta phải nguyện cầu, nghĩa là tất cả chúng ta luôn cầu xin Chúa gửi tới cho tất cả chúng ta nhiều thợ gặt, và nhiều thợ gặt lành nghề, nghĩa là ban ơn soi sáng cho thanh niên biết nghe tiếng Chúa và các linh hồn mời chào họ dấn thân tận hiến cuộc sống cho sứ mệnh Chúa Giêsu. Những lời nguyện cầu của tất cả chúng ta sẽ cất cánh lên trước tôn nhan Chúa, Chúa sẽ nhận lời cầu xin của tất cả chúng ta, như Chúa đã nói: Ai xin sẽ được, quê hương nào xin nơi ấy được.

Tất cả chúng ta tuyên xưng Chúa Giêsu là mục tử tốt lành. Xin Chúa cho tất cả chúng ta cũng là con chiên tốt lành của Chúa, tức là luôn biết lắng nghe tiếng Chúa và sống theo lời Chúa. Xin Chúa ban cho tất cả chúng ta nhiều mục tử khôn ngoan, thánh thiện và tài giỏi để tập họp mọi người và dẫn dắt mọi người biết yêu thương nhau để toàn bộ trở nên một đoàn chiên duy nhất của Chúa.

 

58. Nhân loại vẫn cần…

(Suy niệm của Lm. Vũ Xuân Hạnh)

Ngày ấy, khi lớp chúng tôi có gần một nửa lớp chịu chức linh mục, linh mục Nguyễn Duy, (lúc đó cũng đang là chủng sinh, dù thuộc lớp đàn anh, nhưng được phân bổ vào lớp chúng tôi để hợp thức hóa và bổ túc chương trình học), đã cảm tác bài hát “Nhân loại vẫn cần” để tặng cả lớp.

Bài hát ấy, tôi vẫn nhớ, vẫn hát. Mỗi lúc nhớ thầy, nhớ trường, nhớ bạn, hoặc mệt mỏi vì rong ruổi trong suốt dọc dài đoạn đường phục vụ, tôi đã nhiều lần hát đi hát lại, để vừa nguyện cầu cho mình, cho thầy, cho anh em, cho sứ vụ của từng người trong lớp chúng tôi, cho cả những gương mặt thân yêu của cộng đoàn mà mình sống và làm việc ngày hôm nay, vừa tìm cách củng cố sức lực do năm tháng đã không ít hao mòn.

So với riêng tôi, bài hát ấy hay, nó gợi lại trong tôi cả khung trời kỷ niệm, đồng thời giúp tôi hiên ngang nhìn về phía trước mà thực hiện chính sứ mệnh của Chúa Kitô, được Chúa Kitô trao cho mình… Cứ thế, mà tôi hát: “Nhân loại vẫn cần người biết sống ơn gọi của Chúa. Nhân loại vẫn cần người làm chứng tình Chúa yêu thương. Nhân loại vẫn cần người mục tử dẫn đường chỉ lối, cùng đoàn chiên đêm ngày đi tới, về nhà Cha mến yêu muôn đời… Nhân loại vẫn cần người đi tiếp con đường của Chúa. Nhân loại vẫn cần người dám sống cuộc sống Giêsu. Nhân loại vẫn cần người nhiệt tâm trong đời ngôn sứ, chỉ truyền rao những lời của Chúa để trần gian sống trong sự thật… Nên Chúa đã sai từng người chúng con, những linh mục bước đến cùng thế giới. để đáp ứng những khát vọng khắp nơi. Để tô thắm những ước mơ con người. Nghe tiếng Chúa nay từng người chúng con quyết lên đường loan Tin Mừng Cứu Rỗi. Xin Chúa giúp cho mỗi người chúng con được nên thánh trong cuộc đời chứng nhân…”

Trong những ngày này, chuẩn bị mừng lễ Chúa Chiên lành, ngày Hội Thánh nguyện cầu và cổ võ cách đặt biệt so với ơn gọi tận hiến, tôi càng ý thức hơn vai trò và trách nhiệm mục tử của mình. Sau mỗi thánh lễ sáng xong, tôi đóng cửa phòng rồi cứ vậy mà cất lên cung điệu Nhân loại vẫn cần… để nguyện cầu, để tạ ơn Chúa, để đánh thức mình hãy nên mục tử nhân lành.

Sau bài hát, tôi lại đọc đi đọc lại bài Tin Mừng theo thánh Gioan để nguyện gẫm: “Chúa Giêsu nói với người Dothái rằng: Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng và chúng theo tôi. Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp chúng khỏi tay tôi. Cha tôi, Đấng đã ban chúng cho tôi, thì lớn hơn tất cả, và không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha. Tôi và Chúa Cha là một” (Ga 10, 27-30). Ước mong một điều chính đáng rằng, ngày nào tôi còn thi hành chức vụ mục tử, và Hội Thánh còn tiếp tục tin tưởng trao cho tôi sứ mệnh mục tử, ngày ấy, tôi vẫn cứ xông vào trận chiến với thế gian, với tội lỗi và với mọi cơn cám dỗ trong đời một cách không mệt mỏi để làm cho từng con chiên của Chúa Kitô thực sự yêu mến Chúa Kitô, nghe Lời Chúa Kitô. Nhờ đó họ không bị diệt vong, không bị bất kể thế lực nào của sự dữ cướp khỏi ơn cứu chuộc của Chúa Kitô và lãnh nhận sự sống đời đời mà Chúa Kitô ban cho họ.

Để hoàn thiện xuất sắc vai trò mục tử như Mục Tử Giêsu, một hình ảnh mục tử mà mãi mãi nhân loại vẫn cần, vẫn tha thiết trông chờ, vẫn hoài trông mong, tôi nghiệm ra rằng, trước hết mình phải là chiên xuất sắc của Mục Tử Giêsu. Một khi đã là chiên tốt, chắc cú, tôi cũng sẽ là mục tử tốt như Chúa Giêsu.

  1. Cùng anh chị em, linh mục là thành phần của đoàn chiên Chúa

Trước khi là mục tử, người linh mục đã thuộc về đàn chiên. Biết mình là chiên, cũng mang thân phận nhân loại đầy khiếm khuyết, có khi đã nhiều lần, do chủ quan, do mải ngụp lặn trong biển đời nhiều sóng dữ, đã để xảy ra nhiều thương tật cho đời sống tâm linh của bản thân mình.

Biết mình là chiên như mọi con chiên trong đoàn chiên của Chúa, người linh mục luôn luôn học lấy lòng khiêm nhường, hiền từ như Mục Tử Giêsu. Cùng là người như mọi anh chị em của mình, người linh mục không lúc nào được phép khinh nhờn những điều kiện cơ bản để vươn lên trong ơn thánh Chúa như: nguyện cầu, nguyện gẫm, xét mình, đọc Lời Chúa, viếng Thánh Thể, thường xuyên lãnh bí tích hòa giải…

Người linh mục càng phải ra sức hợp tác với ơn Chúa để sống một đời sống gương mẫu, mực thước, tự chủ, biết sống lành mạnh, không xa hoa, không tìm danh lợi, không mưu cầu cách ích kỷ sự sung túc cho bản thân… nhưng luôn biết từ chối toàn bộ mọi nguy hiểm có thể đánh đổi ơn gọi của mình là thứ quý hiếm trên hết mọi thứ quý hiếm.

Ngoài ra, dù là mục tử, người linh mục sẽ không ít lần bắt gặp những mẫu gương rất tốt nơi anh chị em mà mình có thể học lấy. Ví dụ, nhiều anh chị em quyết không bước vào đoạn đường gian tham, tội lỗi, dù rất nghèo. Hoặc nhiều người thống khổ đến cùng cực, nhưng đức tin vẫn lung linh cháy sáng. Nhiều anh chị em tham gia phục vụ người nghèo, phụ vụ nhà thờ, phục vụ cộng đoàn hết sức miệt mài, nhiệt tâm y như việc họ làm là làm cho chính gia đình, cho chính bản thân của họ vậy… Toàn bộ những hình ảnh ấy, càng làm cho người linh mục tìm tòi ra một đạo lý rất bình thường, nhưng rất đỗi quang trọng: Dù là mục tử, người linh mục vẫn là thành phần của đoàn chiên Chúa. Nhận thấy mình cũng là chiên như anh chị em, người linh mục sẽ không lúc nào dám coi chức linh mục của mình là quan chức, là hướng nhắm của sự thành công, để khi đạt được rồi, sẽ thưởng thức, tệ hơn, vơ vét mọi thứ cho cá nhân mình…

Tắt một lời, khi biết rèn giũa cho hình ảnh “chiên” nơi mình càng đẹp, càng sáng, thì khi làm mục tử, người linh mục cũng sẽ là mục tử tốt lành mang lấy và phản chiếu hình ảnh tốt lành của Mục Tử Giêsu.

  1. Là mục tử của đoàn chiên Chúa

Rất nhiều lần, và ngay chính lúc này, tôi cảm nhận rõ ràng, thánh chức linh mục mà Chúa ban cho mình quý hiếm vô cùng. Bởi nó là danh dự, là sự điểm tô lộng lẫy cho chính người linh mục đã vậy, trọng yếu hơn, nó chính là sự thiết yếu của đời sống tâm linh nhân loại. Chức linh mục vẽ thêm vào cuộc sống, vốn vàng thao lẫn lộn, những nét tươi mới của tin yêu, của niềm an úi, của trông mong. Bởi không có ai khác nhưng linh mục, đã gắn bó với từng anh chị em mà Hội Thánh trao cho mình, gắn bó suốt đời mình để phục vụ, để hiến thân.

Chính linh mục mới là người biết rõ, biết nhiều về tâm tư nhân loại. Cả trong tòa giải tội, lẫn ngoài đời thường, không biết bao nhiêu lần người linh mục chia sẻ những tâm tư, những giận dữ, những bí mật rất thật về chính bản thân của anh chị em. Hình như chỉ có linh mục mới có thể giải tỏa nhiều chông chênh, ngang trái mà anh chị em gặp phải trong một lòng thương mến thật, thông cảm thật. Anh chị em đến với linh mục bằng một niềm tin tưởng thật, vì vậy họ cũng sẽ thu được từ người linh mục một trái tim rung cảm thật, nhằm tiếp thêm ngọn lửa của sức mạnh chịu đựng, tiếp thêm sức nóng xóa tan băng giá của cả một đời đầy dông bão.

Vì trót cả cuộc sống của những người mang lấy đức tin, là cả cuộc sống mang dấu ấn của thánh chức linh mục. Bởi không ai khác, nhưng là chính bàn tay linh mục, trong bí tích rửa tội, đã mang một nhân loại từ thưở bé thơ vào cộng đoàn Hội Thánh để làm Con Thiên Chúa. Dù trong anh chị em, có người không nhìn nhận, thậm chí chống đối cá nhân linh mục này, linh mục khác, thì anh chị em cũng không thể từ chối tác động của thánh chức linh mục trên cuộc sống mình. Chỉ nhờ linh mục, anh chị em được lãnh nhận ân sủng từ kho tàng bí tích mà Chúa trao cho Hội Thánh. Những khi anh chị em muốn tìm lại bình an nội tâm sau những lần ngã quỵ vì cám dỗ, vì tội lỗi, cũng chính linh mục nhân danh Chúa ban ơn Thánh Thần tha thứ cho anh chị em. Đến tuổi trưởng thành, cũng nhờ chính bàn tay linh mục, mà mỗi một người chính thức bước vào đời sống gia đình cách hợp pháp. Có thể nói, trong bí tích thành thân, người linh mục đã liên tục sinh ra các gia đình mới cho Hội Thánh. Hay suốt cả một đời làm Kitô hữu của mình, từng anh chi em đã không thể đếm hết bao nhiêu lần đã cậy nhờ thánh chức linh mục, và chính bản thân người linh mục mà lãnh nhận hết hồng ân này đến hồng ân khác, hết hy tế thánh lễ này đến hy tế thánh lễ khác, hết lời giảng dạy này đến lời giảng dạy khác… Và giây phút trọng yếu nhất, nhưng cũng kinh hoàng nhất, đáng sợ nhất của đời người là giây phút sắp lìa đời, thì sự hiện diện lần cuối cùng của linh mục lại ấm áp, thiêng liêng, ý nghĩa vô cùng. Nó mang lại niềm an ủi, mang lại sự xoa dịu nỗi sợ hãi, xoa dịu cơn đớn đau không thể tả để anh chị em thanh thản lìa đời. Và cuối cùng, cũng chính bàn tay linh mục mang lên ban phép lành lần cuối thay lời từ biệt trao gởi anh chị em về với Đấng Hằng Hữu, Đấng mà từ đó, đã làm phát sinh sự sống của không biết bao nhiêu sinh linh trong cõi đời này.

Như vậy, linh mục rất cần vai trò làm chiên cùng với đoàn chiên của Chúa. Làm con chiên như anh chị em, người linh mục sẽ hiểu nhiều hơn, sẽ dễ thông cảm hơn với từng mảnh đời, từng hoàn cảnh của anh chị em. Là chiên của Chúa, thấu hiểu nỗi lòng của đoàn chiên, để khi đứng trong vai trò mục tử, người linh mục sẽ dẫn mang anh chị em của mình đến sự sống, một sự sống hoàn thiện, sự sống dồi dào…

Đúng là nhân loại vẫn cần, mãi mãi cần những mục tử của Chúa, những mục tử thay thế Chúa săng sóc đoàn chiên Chúa. Nhân loại vẫn cần những nhân loại dám hiến thân vì người khác giữa cuộc sống mênh mông và biến động. Nhân loại cần lắm những bàn tay nâng đỡ lòng người, cần lắm những nhân loại luôn luôn thao thức vì hạnh phúc của loài người, cần lắm những bóng mát làm dịu cơn khát tình yêu, xua đi nỗi buồn chán, lấp đầy những khoảng trống cô quạnh của nhân loại. Nhân loại vẫn cần vô cùng những tấm lòng từ ái, những nhân loại của ơn hòa bình, những dấu chỉ của niềm trông mong, những hiện thân của hạnh phúc trường cửu, mà chính người mục tử ghi dấu, để mỗi anh chị em luôn cảm nhận tình yêu, luôn tìm thấy một chỗ tựa mỗi khi cần, luôn thấy mình được an ủi vỗ về khi đớn đau…

Nhân loại vẫn cần, cần lắm những linh mục thánh thiện, những linh mục nhân lành. Bởi họ chính là những mục tử như lòng mong ước…

 

59. Các mục tử hãy nên giống Chúa Kitô

(Suy niệm của Lm. Vũ Xuân Hạnh)

Tất cả chúng ta, những người dấn thân trong ơn gọi tu trì của Hội Thánh Chúa Kitô. Vì vậy, toàn bộ tất cả chúng ta hãy luôn để lòng mình thấm thía lời Chúa Giêsu: “Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng và chúng theo tôi. Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi”. Nhất là những ai đang mang trọng trách lãnh đạo đoàn chiên của Chúa trong vai trò của một mục tử, tất cả chúng ta càng phải nguyện cầu để các chính mình luôn luôn ý thức như Chúa Giêsu đã ý thức: “Cha tôi, Đấng đã ban chúng cho tôi, thì lớn hơn tất cả, và không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha”.

Đó chính là những lời tâm sự của Chúa Giêsu. Một khi các mục tử nơi trần thế, được Chúa Giêsu ủy quyền để lãnh đạo đoàn chiên của Người, các mục tử phải là những người trước tiên cưu mang, uống lấy, luôn tâm niệm, luôn say trong lời của Chúa Giêsu. Nhờ đó, khi các ngài hành động trong vai trò một người lãnh đạo nơi đoàn chiên của Chúa, các ngài sẽ thực sự hành động trong tư thế của Chúa Giêsu. Để chính khi thừa lệnh Chúa, theo ý Hội Thánh, cử hành bí tích, cử hành thánh lễ, cử hành quyền giảng dạy, các mục tử cử hành cách hết sức sốt sắng, đầy trí não trách nhiệm, nhằm mang lại nhiều hiệu quả nhất cho đời sống tâm linh cũng như đời sống vật chất, linh hồn cũng như thể xác của toàn bộ nhưng ai mà các ngài dấn thân phục vụ.

Tất cả chúng ta luôn ý thức và xin Chúa cho mình được trở thành những nhà lãnh đạo kiên trung trong đức tin, bền chắc trong đức cậy, mạnh mẽ trong đức mến. Nêu cao tấm gương tận tụy hy sinh, phục vụ quên mình, sống thánh thiện, thực hành đức nhân ái mục tử…

Các mục tử của Chúa hãy là những người rập khuôn cuộc sống Chúa Giêsu. Các ngài hoàn toàn đi theo dấu chân Chúa Giêsu không lúc nào ngơi nghỉ. Các ngài ý thức từng giây phút rằng, chính các ngài chứ không phải ai khác, là họa ảnh của Chúa Giêsu ngày hôm nay, nơi trần thế này, để làm sao, mọi người khi nhìn thấy mục tử của họ là chính lúc họ yên tâm rằng, Chúa Giêsu đang hiện diện nơi vị mục tử ấy. Tắt một lời, các mục tử hãy sống suốt đời của mình như Chúa Giêsu đã sống.

Phải sống như Chúa Giêsu, các mục tử của Chúa mới có thể tự hào mà nói rằng, đàn chiên Chúa trao cho tôi đã lắng nghe tiếng tôi, đã theo tôi.

Sống như Chúa Giêsu, các mục tử mới có thể biết chiên của mình, biết từng nỗi ưu tư, khắc khoải của họ; biết họ đang là người bị ngoại trừ hay đón nhận mà nâng đỡ họ; biết họ lâm cơn thử thách hay bình an mà trao cho họ lời khuyến khích khích lệ; biết từng lối sống nguội lạnh hay sốt sắng mà hướng dẫn họ…

Sống như Chúa Giêsu, các mục tử là người mang tay chỉ đường về trời cho đàn chiên không lạc lối. Khi đó, các mục tử mới thật sự là những người ban cho đàn chiên sự sống đời đời.

Sống như Chúa Giêsu, các mục tử ra sức bảo vệ đàn chiên và bảo vệ tới cùng, để đàn chiên không lúc nào phải diệt vong, để không ai, không quyền lực tội lỗi, quyền lực sự xấu nào có thể cướp được đàn chiên khỏi tay mình.

Sống như Chúa Giêsu, các mục tử sẽ phải ghi khắc không lúc nào quên rằng, tôi có làm gì, có lãnh đạo như vậy nào, thì sự thật vẫn là: đàn chiên không phải của riêng tôi. Tôi không sở hữu theo ý mình để rồi muốn làm gì thì làm, nhưng là “Cha tôi, Đấng đã ban chúng cho tôi”. Người “lớn hơn tất cả”. Tôi chỉ là tôi tớ của Người, chỉ làm theo ý Người mà thôi. “Cha tôi” mới là Đấng có quyền. Người thi hành quyền của Người trong tình yêu tuyệt đối.

Sống như Chúa Giêsu, các mục tử sẽ hết sức khiêm nhường phó thác trọng trách của mình, phó thác đàn chiên Chúa trao cho mình trong sự nguyện cầu đắm chìm không lúc nào được phép quên sót. Các mục tử phải luôn luôn thi hành quyền mục tử trong niềm tin tưởng to lớn rằng, đàn chiên ấy là của “Cha tôi”. Các ngài phải thi hành quyền làm mục tử đến cùng, dù có phải mỏi mòn, bạc nhược, bị hiểu nhầm, đuối sức… Phải thi hành đến lúc không còn tồn tại thể thi hành được nữa mới thôi. Các mục tử hãy biết rằng, mình chỉ là nhân loại. “Cha tôi” mới là Đấng làm ra toàn bộ, điều khiển toàn bộ. Các mục tử hãy tin vững vàng rằng, “Cha tôi” sẽ ban ơn cho tôi, sẽ ban ơn cho đàn chiên mà tôi nhận trách nhiệm coi sóc để không lúc nào có ai có thể cướp được đàn chiên khỏi tay Cha tôi.

Ngoài tâm tình nguyện cầu giành riêng cho các mục tử đang đại diện Chúa nơi trần thế, ta không quên nguyện cầu cho thanh niên biết lắng nghe tiếng Chúa gọi, nhất là có đủ dũng cảm để theo tiếng gọi đó bằng một đời dâng hiến trọn vẹn cho Chúa để phục vụ tha nhân, phụ vụ người nghèo khổ, ốm đau, bệnh tật, cô quạnh, già yếu… Tất cả chúng ta nguyện cầu cho các bạn trẻ khắc ghi lời Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II mà nung đốt lòng mình niềm mong ước sống đời tận hiến: “Thời đại chúng ta sẽ nghèo nàn đi biết bao, nếu sự hiện diện của những cuộc đời dâng hiến cho tình yêu trở nên khan hiếm. Xã hội chúng ta sẽ nghèo nàn đi biết bao, nếu không được thúc đẩy để ngước nhìn lên nơi có những niềm vui chân thật! Giáo Hội chúng ta cũng sẽ nghèo nàn đi biết bao, nếu thiếu những gì biểu lộ một cách cụ thể và mạnh mẽ tính thời sự vĩnh cửu của việc dâng hiến cuộc đời vì Nước Trời” (Sứ điệp ngày Quốc tế Ơn gọi năm 2000).

Lạy Chúa, xin gìn giữ các linh mục, các tu sĩ là những người Chúa đã gọi và tuyển chọn, để họ luôn yêu mến Chúa và yêu mến nhân loại, nhờ đó hành động, tư duy, đời sống của họ ngày càng nên giống Chúa Giêsu Con Chúa, là Mục Tử Nhân Lành của chúng con.

Xin Chúa sai Thánh Thần đến với các bạn trẻ, để các bạn quản đại đáp lại tiếng gọi của Chúa, yêu mến đời sống của Chúa Giêsu và hiến thân như Người. Nhờ đó, họ có thể tiếp tục làm toàn bộ những gì Người đã làm nơi trần gian. Amen.

 

60. Linh mục

Trong một quyển chuyện đề tựa “Quyền lực và vinh quang”, nhà văn Graham Greene kể lại mẩu chuyện sau đây xảy ra tại một nước ở nam Mỹ: Khi ấy một chính phủ ghét đạo lên nắm quyền và sai khiến trục xuất toàn bộ các linh mục ra khỏi nước. Linh mục nào còn lén lút ở lại hoạt động thì bị tóm gọn đem xử tử. Đa số các linh mục đã phải tuân lệnh ra khỏi nước, một số nhỏ dũng cảm ở lại cũng bị xử. Nhưng không ai ngờ là vẫn còn sót lại một linh mục. Ông này ở lại được vì không ai thèm để ý tới ông, bởi vì ông là một linh mục tội lỗi bê bối đã hồi tục. Ông không coi sóc họ đạo nào cả, cũng không lưu ý tới sự thiếu thốn của các con chiên. Hằng ngày ông lang thang đây đó để kiếm tiền và nhậu nhẹt. Về phần giáo dân, trước đó họ vẫn khinh rẻ ông, nhưng trong lúc thiếu linh mục thì họ lại cần đến ông. Người ta xin ông rửa tội, giải tội, dâng thánh lễ và xức dầu. Ông cũng sẵn sàng nhận với một điều kiện là phải có tiền: rửa tội một em bé là mấy đồng, giải tội một người lớn là mấy đồng, xức dầu một người là mấy đồng, mỗi người dự lễ là mấy đồng… toàn bộ đều có giá hẳn hoi. Tất nhiên, như ai trong tất cả chúng ta cũng biết, ông càng làm các bí tích thì càng thêm tội bởi vì ông đang sống trong tình trạng tội lỗi. Nhưng ai ngờ nhân loại tội lỗi ấy lại là phương tiện Chúa dùng để nuôi dưỡng đàn chiên Chúa trong lúc gian truân. Nhờ còn tồn tại ông mà giáo dân còn tiếp tục lãnh thu được các bí tích và duy trì được đức tin của mình. Thế rồi dần dần nhà cầm quyền khởi đầu để ý đến tới những hoạt động của ông và sai khiến truy nã ông. Ông cũng sợ bị xử tử nên lén vượt biên giới trốn sang xứ khác. Nhưng đang lúc ông sắp qua biên giới thì người ta đuổi theo năn nỉ ông trở lại để giúp cho một người hấp hối. Không nỡ để một người chết không có bí tích nên ông linh mục này đã trở lại, và đã bị tóm gọn, rồi bị đem ra pháp trường. Trước lúc bị tóm gọn, ông đã ăn năn xin Chúa thứ tha hết mọi tội lỗi của ông và dâng linh hồn trong tay Chúa, rồi bình thản ngước đầu chờ đợi. Và ông đã trông thấy có một người lẫn trong đông người đang mang bàn tay ban phép giải tội cho ông, này là một linh mục khác vừa trốn về để tiếp tục công việc của ông, công việc của một chủ chăn so với đàn chiên đang đói khát.

Mẩu truyện cảm động trên cho tất cả chúng ta thấy hai điều:

Thứ nhất: Linh mục rất cần cho đời sống đạo của giáo dân. Tất nhiên tín đồ của tôn giáo nào cũng nên vị lãnh đạo trí não của mình, nhưng người thiên chúa giáo còn cần tới linh mục gấp nhiều lần. Có thể nói, cả cuộc sống người thiên chúa giáo được bàn tay linh mục dẫn dắt nuôi dưỡng: Khi ta vừa mới sinh ra, bàn tay ấy đã đổ nước rửa tội cho ta; lớn lên bàn tay ấy mang Mình thánh Chúa cho ta rước lễ; khi ta sa ngã phạm tội, bàn tay ấy giơ lên thay quyền Chúa mà tha tội cho ta; khi ta lập gia đình, bàn tay ấy lại giơ lên chúc lành cho cuộc thành thân của ta; và trước lúc ta nhắm mắt lìa đời, cũng bàn tay ấy xức dầu thánh chuẩn bị cho cuộc hành trình của ta về nhà Chúa. Nếu thiếu bàn tay ấy thì ta sẽ ra sao? Những người giáo dân trong mẩu chuyện trên mặc dù khinh nhờn vị linh mục tội lỗi nọ nhưng họ vẫn phải cần tới ông, vẫn van xin năn nỉ ông, bởi vì trong lúc gian truân thiếu thốn ấy, chỉ có ông là có thể ban các bí tích cho họ.

Thứ hai: Linh mục là phương tiện cứu rỗi của Chúa. Tất cả chúng ta đã thấy ông linh mục trong mẩu chuyện trên đã mang ơn Chúa đến cho giáo dân nhiều như vậy nào. Mặc dù ông tội lỗi, bất xứng nhưng các bí tích ông cử hành vẫn thành sự. Ông đọc “Này là Mình ta” thì Chúa vẫn ngự vào chiếc bánh trắng; ông nói “Ta tha tội cho con” thì Chúa vẫn ban ơn tẩy sạch mọi tội lỗi trong tâm hồn người xưng tội. Linh mục thực sự là phương tiện Chúa dùng để ban ơn cho giáo dân.

Ngày hôm nay là ngày Giáo Hội nguyện cầu cho ơn mời chào linh mục. Không cần nói thêm chi nhiều, tất cả chúng ta cũng chắc ý thức nhu cầu linh mục cấp bách đến thế nào cho Giáo Hội tất cả chúng ta: tất cả chúng ta đang thiếu linh mục. Rất nhiều họ đạo không có linh mục. Ngày xưa Chúa Giêsu đã chỉ cho các môn đệ thấy những đồng lúa chín vàng và bảo “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít. Chúng con hãy cầu nguyện xin chủ ruộng cho thêm thợ gặt đến đồng lúa của Ngài”. Chúa biết nhu cầu của tất cả chúng ta, nhưng Chúa muốn tất cả chúng ta phải cầu xin thì Chúa mới ban ơn.

Xin cho có nhiều thiếu niên, thanh niên quảng đại dâng mình cho Chúa để phục vụ các linh hồn.

 

61. Đàn chiên

Cảm nhận được thuộc về Chúa Giêsu, được Ngài biết và yêu thương, này là một cảm nhận vô cùng an ủi. Ai mà không muốn thuộc về đàn chiên của Chúa! Thế nhưng thế nào là thuộc về đàn chiên Chúa? Muốn thuộc về đàn chiên Chúa thì phải làm sao?

– Thứ nhất là phải tin vào Ngài: Tất cả chúng ta tham gia đoàn chiên Chúa và trở thành tín hữu, nghĩa là người tin.

– Nhưng tin chỉ mới là bước thứ nhất. Bước thứ hai là phải nghe tiếng Ngài: “Chiên của Ta thì nghe tiếng Ta”. Nghe tiếng Chúa Giêsu nghĩa là để mắt đến những lời Ngài dạy dỗ.

– Thứ ba là đi theo Ngài: “Chiên của Ta đi theo Ta”. Theo Chúa là thực hành lời Ngài dạy.

Liên hệ giữa tất cả chúng ta với Chúa phải là hai chiều. Con chiên phải chọn thuộc về Chúa. Chúa Giêsu không muốn và cũng không thể cứu ta ngược với ý muốn của ta. Nhưng chỉ cần ta thực lòng muốn và nỗ lực thuộc về Ngài thì Ngài sẽ chăm sóc ta trong cuộc sống và trong chết chóc nữa. Ngài hứa ban cho ta sự sống đời đời: “Ta ban cho chúng sự sống đời đời, không bao giờ chúng phải diệt vong”.

Nhưng như vậy không có nghĩa là hễ thuộc về Chúa thì sẽ được Ngài đảm bảo cho có một cuộc sống thoải mái ở đời này đâu. Trái lại là đàng khác. Những kẻ thuộc về Chúa có thể bị bách hại, nhưng ai vẫn trung thành thì sẽ được chia phần vinh quang của Ngài trên trời (bài đọc 2). Gian truân và thử thách là những thời cơ để ta chứng tỏ đức tin và lòng vâng phục Chúa.

Đàn chiên là hình ảnh của nếp sống cộng đoàn. Ngay cả trên bình diện nhân loại thôi thì ai cũng phải có cộng đoàn. Này là nguyên nhân vì sao Chúa muốn những kẻ theo Ngài phải sống trong cộng đoàn. Trong cộng đoàn, tất cả chúng ta tìm được sự nâng đỡ, khuyến khích và tình thân. Tất cả chúng ta không thể thuộc về Chúa Giêsu mà không thuộc về đoàn chiên của Ngài.

 

62. Ơn gọi – Hồng ân và Chọn lựa

(Suy niệm của Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hương)

Chúa Nhật Cầu Cho Ơn Thiên Triệu

Trong đời sống hằng ngày, tất cả chúng ta thường nghe nói nhiều về ơn gọi. Nhiều lúc tất cả chúng ta thắc mắc vì không hiểu được vì sao có người đi tu; vì sao Chúa lại chọn những nhân loại này. Vì ơn gọi rất huyền nhiệm, nên nhiều bạn trẻ muốn đi tu hay tìm hiểu ơn gọi nhưng không chắc cú rằng mình có ơn gọi hay được Chúa gọi không? Nhân dịp Ngày Quốc Tế Cầu Nguyện cho Ơn Thiên Triệu, tất cả chúng ta tìm hiểu về đề tài này.

  1. Ơn thiên triệu là gì?

Trước hết tất cả chúng ta thử hỏi: ơn thiên triệu hay ơn gọi là gì?

Thông thường khi nói tới ơn thiên triệu, ta nghĩ ngay tới ơn Chúa gọi ai đó đi tu làm linh mục, thầy dòng, hoặc nữ tu, còn giáo dân không đi tu, họ ở giữa thế gian, nên không có ơn thiên triệu. Tất cả chúng ta cần phải xét lại các hiểu đó.

Từ ngữ “Thiên Triệu” dịch từ tiếng Vocatio trong tiếng Latinh do động từ vocare có nghĩa là mời chào, mời gọi.

Khi dùng trong lãnh vực tôn giáo, vocatio thường dùng để chỉ lời mời chào của Thiên Chúa gọi người này, kẻ kia làm việc gì theo ý Ngài, nên ta dịch từ ngữ Vocatio là ơn thiên triệu.

Jacque Guillet khái niệm: “Ơn gọi là tiếng Thiên Chúa mời gọi kẻ Ngài đã chọn ủy thác làm một công việc đặc biệt trong kế hoạch cứu rỗi loài người và trong vận mệnh của dân Ngài” (trong Vocabulaire de theologie biblique, 1970). Khái niệm này thu hẹp “lời Thiên Chúa kêu gọi” trong những trường hợp tách biệt để tiếp nhận công việc đặc biệt trong dân Chúa.

Công Đồng Vaticano II hiểu ơn thiên triệu theo nghĩa rộng: Có nghĩa là toàn bộ mọi người đều được Thiên Chúa mời gọi, đều có ơn thiên triệu: làm người và làm Con Chúa, toàn bộ đều được mời gọi nên thánh. Công Đồng xác nhận đây là ơn gọi phổ quát, một ơn gọi mà toàn bộ mọi kitô hữu đều được mời gọi hướng tới. Trong văn kiện Lumen Gentium số 40 Công Đồng nói rằng: “Tất cả mọi người tín hữu dù ở cấp bậc đều được mời gọi đạt tới sự thánh thiện”. Cũng chính vì vậy, không chỉ có giám mục, linh mục và tu sỹ, cả giáo dân, toàn bộ đều được mời gọi đạt tới sự hoàn thiện (LG 39). Cũng theo Công Đồng này, trong Giáo Hội có nhiều hình thức của đời sống: ơn gọi linh mục, tu sĩ, giáo dân. Đây là những hình thức đời sống để nên thánh hay để đạt tới sự hoàn thiện kitô giáo.

Nhưng hiểu theo nghĩa nào, cuối cùng ta phải nhìn nhận: Ơn thiên triệu luôn có hai phía hay hai yếu tố đi liền với nhau: Thiên Chúa gọi và nhân loại đền đáp tiếng gọi của Thiên Chúa. Theo cái nhìn đó, ơn gọi là sáng tạo của Thiên Chúa: Thiên Chúa dự tính, Thiên Chúa chuẩn bị, Thiên Chúa ban ơn, Thiên Chúa xúc tiến. Nhân loại đền đáp cách tự do, chọn lựa, từ bỏ và bước theo Chúa, sống cho Chúa, hiến thân cho Chúa.

  1. Ơn gọi vừa là hồng ân vừa là chọn lựa dứt khoát

Ơn gọi hay đi tu là một hồng ân mầu nhiệm của Thiên Chúa, vừa là một sự chọn lựa riêng của mỗi người. Tất cả chúng ta tìm hiểu những mẩu chuyện ơn gọi nỗi bật trong Cựu Ước và Tân Ước.

Mẩu truyện ơn gọi của Abraham là một điển hình. Chúa gọi Abraham để ông trở thành tổ phụ của một Dân riêng và “Cha của những kẻ tin”. Thiên Chúa chọn Abraham trong dòng dõi Sem, người ‘sinh ra từ Ur’ (St 11,10-31) và dẫn mang ông bằng những đoạn đường đến vùng đất mà ông không hề biết (Dt 11,8). Ông đã ra đi theo tiếng gọi đó, dù không biết đi về đâu, nhưng ông biết chắc một điều là có Chúa dẫn đường. Ông đã phó thác cho Chúa hướng dẫn.

Ơn gọi của Giêrêmia cũng rất huyền nhiệm: Chúa nói: “Trước khi ngươi trong lòng mẹ, Ta đã biết ngươi và trước khi ngươi ra khỏi lòng mẹ, Ta đã thánh hiến ngươi, Ta đã đặt ngươi làm tiên tri cho các dân tộc”. Giêrêmia đáp lại: 𝓐, α, α lạy Thiên Chúa là Thiên Chúa, tôi đâu có biết ăn nói, vì tôi đang là trẻ em”. Chúa lại phán: ngươi đừng nói ngươi là trẻ em… ngươi đừng sợ họ, vì ta sẽ ở với ngươi để bảo vệ ngươi” (Ҳ. Gr 1,4-10).

Tin Mừng tường thuật về việc Chúa chọn các tông đồ cách lạ lùng:

Chúa Giêsu chọn và mời gọi các môn đệ trước tiên như Phêrô, Gioan và Giacôbê: “Hãy theo Ta. Ta sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá” (Mc 3,20). Họ từ bỏ và mau mắn đền đáp theo Chúa. Họ là ai? Họ là những người đánh cá, dân dã, quê mùa, không có học vấn cao, bằng cấp, có địa vị… nhưng họ đã đền đáp lời mời gọi đó một cách hăng say và từ bỏ toàn bộ để theo Chúa. Họ đã được Chúa thay đổi và làm cho trở thành những “kẻ lưới người như lưới cá”.

Trường hợp ơn gọi của Matthêu cũng gây nhiều ngạc nhiên: ông là một người thu thuế, nhưng khi nghe tiếng Chúa gọi: “Hãy theo ta! Ông trả lời tức thì và quảng đại, bỏ toàn bộ, ông đứng dậy, đi theo Người (Lc 5,28). Toàn bộ đều được Chúa mời gọi và toàn bộ đã đền đáp và từ bỏ để theo Chúa.

Như vậy, ơn gọi vừa rất huyền nhiệm vì Thiên Chúa gọi ai Ngài muốn, gọi vào thời điểm nào và ở nơi nào đều tùy ý Ngài (Ҳ. Mc 3,13). Nhưng ơn gọi cũng là một chọn lựa liên lĩ, đòi hỏi nhiều hy sinh và từ bỏ của những ai mà Thiên Chúa muốn gọi. Vì vậy, nếu nhìn ơn gọi như là một hồng ân của Thiên Chúa, việc đi tu hay theo Chúa không phải hệ tại nơi khả năng và tài cán của nhân loại, nhưng hệ tại nơi lòng muốn và ân sủng của Thiên Chúa. Nếu nhìn ơn gọi như là chọn lựa, đi tu bao gồm sự hy sinh, từ bỏ để dấn thân cho Thiên Chúa và cho tha nhân.

  1. Những dấu chỉ của ơn gọi

Rất khó trả lời một cách chắc cú rằng bạn có ơn gọi tu trì hay không. Nhưng dựa trên những dấu chỉ mà mình có để phân định ơn gọi và để vững tin tiến bước.

Nếu Thiên Chúa đang kêu mời bạn đi tu, chắc cú ngài sẽ ban cho bạn những phẩm chất thiết yếu để trở thành linh mục hoặc tu sỹ.

Có hai dấu hiệu cho thấy một người có ơn gọi tiến tới đời sống linh mục: này là có ý hướng ngay lành và những phẩm chất sự thích hợp.

Ý hướng ngay lành:

Ý hướng ngay lành liên quan tới ơn gọi linh mục hoặc thánh hiến bao gồm những nội dung sau đây: Khát khao phụng sự Chúa Kitô vì tình yêu mến chính Ngài và có lòng yêu mến Giáo Hội, yêu mến giáo huấn Giáo Hội, yêu mến đời sống đạo đức, có trí não hy sinh chịu khó; khát khao đi tu để phục vụ người khác và muốn dẫn mang các linh hồn về cho Chúa. Này là dấu hiệu cho thấy ý hướng ngay lành. Trái với ý hướng ngay là ý hướng lệch lạc: đi tu vì những động cơ nhân loại như để mưu cầu danh dự, tìm đặc ân đặc quyền, thích được trọng vọng và để thoát đời…

Những phẩm chất thích hợp:

Dấu hiệu thứ hai của ơn gọi tu trì là có những phẩm chất thích hợp này là phẩm chất đạo đức, trí thức, thể lý, tâm sinh lý và hoàn cảnh gia đình.

Trước hết là khả năng về đạo đức: ai muốn đi tu trước hết phải là người có khả năng sống đời sống nội tâm hay tâm linh. Phẩm chất này bao hàm không chỉ khả năng sống khiết tịnh suốt đời mà còn bao hàm các nhân đức khác nữa như khiêm tốn, vâng phục, tự chủ, nhân hậu, quảng đại, vị tha, thận trọng, yêu mến sự thật, thẳng thắn, có lòng đạo hạnh, có đời sống luân lý tốt… Tóm lại: là người có lòng yêu mến Chúa và tha nhân.

Khả năng tri thức: đi tu phải có những phẩm chất trí năng thiết yếu để thi hành sứ vụ tông đồ.

Phẩm chất về thể lý và tâm sinh lý: đi tu phải là người khỏe mạnh và bình thường về thể lý và tâm lý. Đây là phẩm chất thiết yếu để hoàn thiện các bổn phận của người theo Chúa. Ứng sinh phải không bị vướng mắc những bệnh nan ý, rối loạn thần kinh và rối loạn tính năng vốn là dấu hiệu của một tình trạng “lệch lạc” hoặc bệnh hoạn về tâm lý trong phán đoán, thái độ và hành động.

Sự thích hợp về gia đình – Ứng viên phải xuất phát từ một gia đình có cha mẹ nghiêm chỉnh, có tiếng tốt. Khi xem xét để trao tác vụ linh mục, yếu tố danh thơm tiếng tốt của ứng viên trong cộng đồng cần phải được xem xét như giáo luật đòi hỏi. Một ứng viên xuất thân từ một hoàn cảnh gia đình thích hợp thì sẽ là sự thuận lời cho đời sống và sứ vụ linh mục sau này.

Vì vậy, trong quá trình tìm hiểu ơn gọi, ứng sinh cần phân định kỹ lưỡng về ơn gọi và những khả năng của mình để chọn lựa và sống ơn gọi tu trì. Cùng với nguyện cầu, biện phân ơn gọi là một công việc trọng yếu trong quá trình tìm hiểu và huấn luyện.

  1. Những đòi hỏi của Giáo Hội so với ứng sinh linh mục

Mọi ơn gọi Kitô hữu đều tới từ Thiên Chúa, này là ơn huệ của Thiên Chúa. Tuy nhiên ơn gọi ấy không lúc nào được ban bên ngoài và tách biệt khỏi Giáo Hội, nhưng luôn luôn ở trong Giáo Hội và qua Giáo Hội. Giáo Hội được Chúa giao phó cho nhiệm vụ tuyển chọn và huấn luyện ơn gọi.

Giáo Hội – “người sinh ra và giáo dục các ơn gọi” – có nhiệm vụ phân định ơn gọi và sự thích hợp của các ứng sinh vào tác vụ linh mục. Thật vậy, tiếng gọi bên trong của Thánh Thần cần được Giám mục giáo phận và những người có trách nhiệm nhìn nhận xem có phải là tiếng gọi chân thực không.

Cũng chính vì vậy, Giáo Luật 1983 đòi hỏi: Điều 241,1: “Giám mục giáo phận chỉ nên thâu nhận vào Đại Chủng Viện những người nào, xét theo các đức tính nhân bản và luân lý, đạo hạnh và trí tuệ, sức khỏe thể lý và tâm lý cùng ý muốn ngay thẳng của họ, được coi là có đủ khả năng hiến trọn đời cho các tác vụ thánh”.

Ngoài ra, Giáo luật còn yêu cầu cả những đức tính nhân bản, thể lý tâm lý phù phù hợp với đòi hỏi của thiên chức linh mục:

Điều 1029: “Dựa theo sự phán đoán khôn ngoan của Giám mục riêng hoặc Bề Trên cao cấp có thẩm quyền và sau mọi cân nhắc kỹ lưỡng, chỉ nên cho tiến chức những người có đức tin tinh tuyền, chí hướng ngay thẳng, kiến thức đầy đủ, danh thơm tiếng tốt, tác phong đoan chính, nhân đức đã được thử luyện và những đức tính khác về thể lý và tâm lý tương ứng với chức thánh sẽ lãnh nhận”.

Tổng kết:

Giáo Hội hoàn vũ đang đối mặt với cơn khủng khoảng về ơn gọi tu trì. Nếu nhìn ơn gọi tu trì là quà tặng của Thiên Chúa, thì mỗi người kitô hữu cần phải cầu xin Thiên Chúa ban cho Giáo Hội có nhiều ơn gọi như lời Chúa Giêsu dạy: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít, các con hãy xin chủ ruộng sai thợ gặt đến” (Lc 10,2).

Nếu hiểu ơn gọi đồng thời là sự đền đáp của nhân loại, thì mỗi người tất cả chúng ta cần phải có ý thức và hợp tác để vun trồng các mầm ơn gọi trong nhà và trong giáo xứ. Mỗi người cần biết cổ võ ơn gọi và nâng đỡ các chương trình mục vụ ơn gọi trong Giáo Hội để càng ngày Giáo Hội có nhiều người trẻ dám quảng đại dấn thân cho sứ vụ loan báo Tin Mừng.

 

63. Nghe và bước theo Mục Tử Giêsu

Bài Tin Mừng ngày hôm nay chỉ có 4 câu nhưng cũng đủ nói lên những đặc tính của vị Mục Tử Giêsu. Đồng thời cũng đề cập những bổn phận cơ bản của we là đàn chiên của Người.

Chúa GiêSu ví mình là chủ chiên, Người là Mục Tử nhân lành – không những biết từng tên, mà còn biết từng nhu cầu của con chiên. Người thấu hiểu, thông cảm với từng hoàn cảnh vất vả, thống khổ của nhân loại nên Người trợ giúp kịp thời, ủi an, chăm sóc bằng toàn bộ trái tim yêu thương, chứa chan tình người của người Mục Tử nhân lành. Người yêu thương mỗi và từng người bởi vì mỗi người we đều có 1 vị trí đặc biệt trong trái tim yêu thương của Người. Do đó, là chiên của Chúa thì tất cả chúng ta có bổn phận nghe Chúa, biết Chúa và theo Chúa.

Chúa Giêsu nói: “Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi, tôi biết chúng và chúng theo tôi”.

Nghe Chúa chính là lắng nghe Lời Chúa qua Kinh Thánh, nơi giáo huấn của Giáo Hội, và những ơn soi sáng trong lương tâm mình.

Biết Chúa ko chỉ là học hỏi, suy niệm bằng trí mà đang là hiểu biết sâu xa, yêu mến tận tình bằng tim, tâm. Chính Tình yêu mới làm cho we nhận ra Chúa một cách đích thực đến nỗi đoán biết cả thánh ý Người.

Theo Chúa chính là một thái độ hoàn toàn tự do, tự nguyện dấn thân, và gắn bó cuộc sống mình vào Mục Tử GiêSu. Theo Chúa đòi hỏi tất cả chúng ta từ bỏ – nhân loại cũ, nếp sống cũ, để sống nhân loại mới, đi theo, làm theo ý Người.

Quả vậy, ngày nay, cuộc sống tất cả chúng ta quá nhiều tiếng ồn ào, đầy dẫy mê hoặc lôi cuốn nhưng người Kitô hữu phải phân biệt đâu là tiếng Chúa để bước theo và làm theo ý Chúa.

Kinh nghiệm cho thấy: tất cả chúng ta nhận thấy tiếng Chúa trong cuộc sống là một điều không dễ! không dễ vì Lời Chúa thì nhẹ nhõm và êm ái, Lời Chúa mời gọi tất cả chúng ta đi theo Chúa, vào đoạn đường hẹp, đoạn đường của từ bỏ, khó khăn thập giá, của lời mời gọi Phục vụ và hy sinh….nhưng đoạn đường này dẫn theo sự sống vì có Mục Tử GiêSu dẫn đường, nuôi dưỡng, bảo vệ.

Trái lại, lời của trần gian, của ma quỉ thì ồn òa, náo nhiệt, mê hoặc lôi cuốn lấn át lời nhẹ nhõm của Chúa và không chỉ vậy lời của trần gian, của ma quỉ còn mở ra một đại lộ thênh thang của tham vọng, thưởng thức, ích kỷ, địa vị, vinh hoa phú quý,…

Tiền tài, danh vọng, lạc thú thế gian là những mục tử giả sẽ dẫn tất cả chúng ta đến những cánh đồng hoang có nhiều thú dữ này là cuộc sống buông thả, thưởng thức, tội lỗi và cuối cùng dẫn theo chỗ chết.

Người Kitô hữu nghe Chúa, Biết Chúa và Theo Chúa để được những gì? Chúa GiêSu đã trả lời: “Tôi ban cho chúng sự sống đời đời, không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi” (Ga 10,28). Đàn chiên đi theo chủ chiên nhân lành thì được tới đồng cỏ xanh, dòng suối mát. Tất cả chúng ta theo Mục Tử GiêSu được bảo vệ, chăm sóc, nuôi dưỡng để lớn lên bằng Lời Chúa, ân sủng và các bí tích của Người. Mục Tử GiêSu là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống. Người cứu chuộc tất cả chúng ta bằng giá máu của Người, ban cho tất cả chúng ta sự sống đời đời, Người đảm bảo hạnh phúc vĩnh cửu cho những ai một lòng theo Người. Giám mục, Linh mục là những người được tham gia vào chức vụ chăm sóc đàn chiên của Chúa.

Phần tất cả chúng ta, ai trong tất cả chúng ta cũng muốn vị chủ chăn của mình thánh thiện đạo đức, biết quan tâm yêu thương chăm sóc từng người trong họ đạo của mình. Ai trong tất cả chúng ta cũng muốn cha sở của mình biết từng hoàn cảnh từng con chiên trong họ đạo để thông cảm, nâng đỡ, chia sẻ; dốc hết sức lực để toàn tâm lo những nhu cầu trí não, bí tích cho cộng đoàn của mình…Vậy tất cả chúng ta hãy nguyện cầu cho các vị chủ chăn biết noi gương làm theo Mục Tử GiêSu nhân lành, khôn ngoan, thánh thiện, cần mẫn và sẵn sàng hy sinh, phục vụ cho đàn chiên, họ đạo tất cả chúng ta…

Chúa nhật ngày hôm nay là ngày Giáo Hội nguyện cầu cho ơn thiên triệu lm, tu sĩ. Theo thống kê năm 2010 cả nước có gần 4.000 linh mục và khoảng 12.500 tu sĩ, một con số khiêm tốn trong quốc gia trên 80 triệu. Không cần nói nhiều, tất cả chúng ta ý thức nhu cầu cấp bách là Giáo Hội đang thiếu linh mục. Rất nhiều họ đạo không có linh mục. Ngày xưa Chúa Giêsu bảo các môn đệ: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít. Các con hãy xin chủ ruộng sai thợ gặt đến đồng lúa”.

Tất cả chúng ta xin cho có nhiều người trẻ, trong đó những thiếu niên, thanh niên quảng đại dâng mình cho Chúa, đi tu làm linh mục, tu sĩ, thầy, dì phước,… để Phục vụ Thiên Chúa và các linh hồn. Còn quý Phụ huynh thuộc họ đạo Bình Minh quý mến! xin quý Cha mẹ, hãy quảng đại dâng con cho Chúa để nó đi tu giúp Chúa, giúp đời, giúp phần rỗi các linh hồn. Nếu thấy con mình muốn đi tu, xin quý Phụ huynh hãy bảo vệ ơn gọi đi tu, rồi dẫn nó đến gặp cha sở để cha tìm cách giúp nó đi tu. Tất cả chúng ta xác tín một điều: “Chúa không chịu thua lòng quảng đại của Phụ huynh hy sinh dâng con cho Chúa đâu.”

Để tổng kết, là con chiên của Mục Tử Giêsu, tất cả chúng ta biết Chúa Giêsu yêu thương tất cả chúng ta, hãy cảm tạ Chúa, nghe tiếng, bước theo và gắn bó cuộc sống của mình với Mục Tử GiêSu, để được Chúa chăm sóc, dưỡng nuôi & bảo vệ. Đồng thời, nguyện cầu cho Giáo Hội có nhiều Mục Tử giống Mục Tử Giêsu.

 

64. Chiên Ta

Khoảng giữa thế kỷ 19, thánh Gioan Bosco khởi đầu hoạt động phục vụ những người trẻ nghèo nàn ở tp Turinô nước Ý. Họ đã sớm nhận thấy ngài thực sự là một người bạn của họ. Họ yêu quí ngài đến nỗi khi ngài lâm trọng bệnh thì họ tha thiết nguyện cầu tưởng như muốn xé rách khung trời, có người còn xin Chúa cho mình chết thay ngài. Nhờ những lời nguyện cầu ấy, thánh Gioan Boscô đã khỏe lại. Tình cảm trìu mến ấy không thể có được nếu Gioan Bosco và đám trẻ ấy đã không thân thiện nhau, biết nhau và yêu thương nhau.

Trong bài Tin Mừng ngày hôm nay Chúa Giêsu nói “Ta biết chiên của Ta”. Ngài biết chiên Ngài bởi vì Ngài là mục tử tốt lành. Có nhiều mức độ biết: có khi chỉ là biết mặt, biết tên; có khi biết như một người quen; có khi biết như một người bạn tri kỷ thiết.

Không biết người ta là một điều rất buồn thảm. Nhà văn Do thái Elia Wiesel rất thương cha mình, nhưng người cha ấy đã chết trong trại tù Auschwitz năm 1944. Trong quyển tự thuật, nhà văn ấy tâm sự: “Tôi chưa bao giờ thực sự biết cha tôi. Thực đau lòng mà phải thú nhận như vậy. Tôi đã biết qúa ít về người mà tôi yêu quí nhất đời ấy, người mà chỉ cần nhìn tôi một cái cũng đủ làm cho lòng tôi xao xuyến. Không hiểu những người con khác có gặp phải vấn đề như tôi không. Họ có biết cha họ không phải chỉ là một con người có nét mặt uy quyền, buổi sáng đi làm và buổi chiều trở về mang bánh đặt lên bàn ăn không?”

E rằng những lời buồn thảm trên đây cũng là tiếng than của rất nhiều đứa con khác. Ngày nay con cháu không biết cha mẹ và cha mẹ không biết con cháu. Muốn biết thì phải mất nhiều thời giờ và nhiều nỗ lực, nhưng nó sẽ mang lại nhiều hoa trái. Còn nếu như không biết thì sẽ phải gánh chịu nhiều mất mát. Đời sống trôi qua rất nhanh khiến tất cả chúng ta ít biết nhau. Mà không biết nhau thì không thể yêu thương nhau được.

“Biết” là điều rất trọng yếu so với những người chăm sóc (carers). Những người chăm sóc cần biết kẻ mà mình chăm sóc. Bước đầu là biết tên. Nhưng muốn biết thật thì phải biết cả lịch sử cuộc sống họ. Nếu không biết họ đến với ta từ một toàn cầu như vậy nào và sẽ trở về một toàn cầu như vậy nào thì ta chỉ coi họ như một chiếc bóng mà thôi.

Nhưng cái “biết” phải có hai chiều. Chúa Giêsu biết chiên của Ngài và chiên của Ngài cũng biết Ngài. Chúa Giêsu không sợ để cho người ta biết mình. Còn tất cả chúng ta đôi lúc lại sợ. Tất cả chúng ta không muốn người khác đi vào cuộc sống tất cả chúng ta, biết tất cả chúng ta nghĩ gì, cần gì, đang lo buồn về chuyện gì và đang trông mong những gì. Có vẻ vì tất cả chúng ta sợ người ta biết mình rõ quá rồi sẽ từ chối mình. Từ đó tất cả chúng ta chỉ muốn người ta biết tất cả chúng ta qua cái vẻ ngoại hình mà tất cả chúng ta cố tỏ ra. Thế nhưng làm sao tất cả chúng ta có thể tạo được một tình cảm trìu mến với người khác nếu tất cả chúng ta cứ giữ một khoảng cách với họ và không cho họ biết rõ tất cả chúng ta?

So với Chúa cũng vậy. Ngài là mục tử tốt lành. Ngài muốn ban cho tất cả chúng ta sự sống đời này và cả đời sau nữa. Nhưng phải có tương quan hai chiều. Tất cả chúng ta phải đáp lại tình thương của Ngài bằng cách lắng nghe tiếng Ngài và đi theo Ngài.

 

65. Mục tử nhân lành

Ông bà, cô bác, anh chị em và toàn thể các bạn trẻ rất thân mến! Ngày hôm nay là Chúa Nhật thứ IV Phục Sinh cũng gọi là Chúa Nhật Chúa chiên lành. Giáo Hội muốn trình bày cho tất cả chúng ta Chúa Giêsu là vị mục tử, vị chủ chăn tốt lành, vì Ngài luôn tận tình, tận tụy chăm sóc đoàn chiên Chúa.Chúa Giêsu luôn yêu thương, nâng đỡ mọi người nhất là những người nghèo khó, bệnh tật,đau yếu,tội lỗi.

Nhân đây con xin nói vài cụ thể về nghề mục tử, nghề chủ chăn trong hoàn cảnh nước Do Thái thời đó. Phần lớn người Do Thái sống bằng nghề chăn nuôi, du mục. Nghề chăn nuôi phải di chuyển theo đàn gia súc đến những đồng cỏ, những suối nước. Người chủ chăn tốt lành bảo vệnhững con chiên, con dê của mình trên các sườn đồi, sườn núi.Vì nhiều người chăn nuôi như vậy, nên các chủ chăn thường có một tiếng động đặc biệt, một tiếng gọi riêng để tựu tập chiên dê của mình. Tất cả chúng ta cũng có thể tưởng tượng hình ảnh của người chăn vịt ở quê hương tất cả chúng ta. Vì lẽ này,Chúa Giêsu muốn dùng hình ảnh rõ ràng để cho mọi người dễ hiểu: “Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng và chúng theo tôi”. Tất cả chúng ta cũng biết đó, trong cảnh hoang vu của núi rừng, người mục tử chăn giữ đàn chiên thường phải chống đuổi những thú dữ để bảo vệ đàn chiên của mình.Người mục tử nhân lành rất yêu thương đàn chiên, dám chịu cực khổ, tận tụy hy sinh vì đàn chiên, bảo vệ cho đàn chiên được vẹn toàn.

Tất cả chúng ta hãy nhìn vào Chúa Giêsu, Ngài quả là vị chủ chăn, vị mục tử tốt lành, Ngài quả thật là Thiên Chúa giàu lòng thương xót. Chúa Giêsu vốn là Ngôi Hai Thiên Chúa, mà đã yêu thương nhân loại. Ngài xuống trần gian để thông phần sự thống khổ của nhân loại, chuộc tội cho nhân loại, chịu chết để cứu chuộc nhân loại. Nhìn vào sự tận tụy, sự hy sinh của Chúa Giêsu, tất cả chúng ta thấy được Ngài đúng là vị Mục Tử Nhân Lành, dám hy sinh, dám chết cho đoàn chiên là nhân loại tội lỗi của tất cả chúng ta.

Sau cuộc khổ nạn và Phục Sinh, Người còn muốn cho nhân loại được thông phần với sự sống vĩnh cửu của Thiên Chúa trên nước thiên đàng. Tất cả chúng ta rất vui mừng và hạnh phúc vì biết rằng Thiên Chúa yêu thương ta như vậy. Tất cả chúng ta hãy là những con chiên ngoan hiền,bằng đời sống đức tin vững vàng, bằng đời sống tốt lành của tất cả chúng ta với những người trong nhà, trong hàng xóm của tất cả chúng ta.

Hội Thánh mời gọi tất cả chúng ta ý thức vai trò và sứ vụ của người mục tử,người môn đệ của Chúa Kitô. Ngày ngày hôm nay, tất cả chúng ta cũng nhận thấy hình ảnh của vị mục tử đang dõi bước theo thầy Chí Thánh Giêsu qua các vị linh mục, vị tu sĩ hiền từ, đạo đức và biết tận tụy yêu thương và chăm sóc về trí não và vật chất cho mọi người tất cả chúng ta. Thiên Chúa muốn cho Hội Thánh luôn có nhiều vị mục tử tốt lành để tiếp tục công trình cứu chuộc của Chúa Giêsu. Thiên Chúa luôn kêu mời những bậc ông bà, cha mẹ biết hy sinh dâng con cháu của mình, nếu nhận thấy chúng có ơn thiên triệu, để làm tu sĩ, làm linh mục cho Chúa. Các bạn trẻ cũng hãy nguyện cầu với Chúa, xem Chúa có gọi mình trong ơn gọi tu trì hay không? Bởi vì đời sống nhân loại chỉ trọn hảo khi thực thi đúng thánh ý Chúa.Rõ ràng và cụ thể hơn, nếu bạn nào sau thời điểm nguyện cầu với Chúa, mà cảm thu được tiếng gọi của Chúa thì hãy trình với quý Cha, quý Dì hướng dẫn ơn gọi mình để các bạn có thể bước theo Chúa Giêsu trong đời sống tận hiến,hầu thông phần với Chúa Giêsu là vị Mục Tử Nhân Lành. Amen.

 

66. Bài giảng của Lm. GB. Nguyễn Văn Hiếu

Giáo Hội đã được Chúa Kitô thiết lập như một nhiệm thể. Người là Đầu, còn tín hữu là thân mình. Nhiệm thể Giáo Hội Chúa cũng nên sống động và phát triển, để sứ vụ cứu thế của Chúa Kitô được hoàn tất ngày cánh chung. Nguyện cầu cho ơn gọi làm linh mục, tu sĩ là một hoạt động thiết yếu để Giáo Hội có những cán bộ nhiệt tâm, tiếp tay Chúa hoàn thiện sứ vụ.

— Lạy Chúa, Chúa đã truyền dạy các Tông Đồ phải thông báo Lời Chúa và trở thành ánh sáng, đem ơn cứu độ đến tận cùng trái đất. (Xin Chúa thương xót chúng con).

— Lạy Chúa, nhờ Máu Thánh Chúa đổ ra, đã cứu chúng con khỏi cơn thử thách to lớn và đã giặt sạch chúng con trong chính Máu Thánh của Chúa. (Xin Chúa Kitô thương xót chúng con).

— Lạy Chúa, Chúa hiểu biết chúng con và sẵn sàng ban cho chúng con sự sống đời đời. (Xin Chúa thương xót chúng con).

* Xin Thiên Chúa toàn năng…

GIẢNG

Ở đời, tất cả chúng ta ủng hộ thuận theo hay phản kháng bỏ rơi ai, là do tâm tình tất cả chúng ta thiện cảm hay ác cảm với người đó. Bởi vậy, có những khi cùng sự việc, nhưng người thì chống đối, người thì thuận theo. Hai Thánh Phaolô và Banaba tập hợp dân chúng, giảng dạy Lời Chúa, khuyên bảo họ kiên trì kiên cố trong ơn nghĩa Chúa, thì được nhiều người mộ mến, nhưng cũng không thiếu những người Do thái ganh tỵ phản kháng, xách động người khác chống đối.

Vì sao người thuận theo, người phản kháng khi cùng được nghe Lời Chúa? Phải chăng những người thuận theo là những người cảm nhận Lời Chúa mà các Tông Đồ rao giảng thích hợp lòng mình; còn những người chống đối là vì khó chấp thuận những điều các Tông Đồ đã nói? Vậy những điều các Tông Đồ rao giảng có thích hợp đạo lý hay không? Sách Công Vụ Tông Đồ đã ghi lại lời hai Thánh Phaolô và Banaba nói với những người chống đối: “Chúa đã truyền dạy cho chúng tôi thế này: Ta đặt ngươi làm ánh sáng nuôn dân, để ngươi đem ơn cứu độ đến tận cùng trái đất” (Cv 13,47). Như vậy các lời hai Thánh Tông Đồ rao giảng là nhằm mục đích hướng dẫn người ta đến sự thật và ơn nghĩa của Thiên Chúa. Các ngài đã được Chúa đặt để làm Tông Đồ, làm cán bộ hợp tác với Chúa Giêsu đem ơn cứu độ đến cho người khác. Những người chưa từng nhận ra Thiên Chúa, nay được nghe và hiểu biết về Tình Thương của Người thì lòng tràn ngập niềm vui, hân hoan đón nhận -nghĩa là những nhân loại biết để hoặc khiêm tốn nhận ra lòng mình trống rỗng, hân hoan đón nhận món quà tặng của Thiên Chúa qua các Tông Đồ. Còn những ai tự phụ mình đã nắm vững đạo lý của Thiên Chúa, thì cảm thấy lòng mình đã no đầy, không muốn đón nhận thêm; họ cảm thấy dị ứng với ơn của Thiên Chúa và họ đã không ngần ngại từ chối Người.

Qua bí tích truyền chức, qua lời mời gọi sống trí não Phúc Âm, Chúa Giêsu muốn mời chào những người sẵn sàng dấn thân phục vụ, hợp tác với Người trao ban Tình Thương và ơn cứu độ của Chúa cho những người khác. Họ không hoạt động một mình vì có Chúa hằng ở cùng họ, như lời Chúa đã hứa: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20b). Không chỉ vậy, Người còn đồng hoá Người với những người hoạt động cho Người: “Ai đón tiếp anh em là đón tiếp Thầy, và ai đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy” (10,40). Bởi vậy nghe các Tông Đồ, nghe những người hoạt động cho Chúa, là nghe chính Chúa: “Chiên của Tôi thì nghe tiếng Tôi; Tôi biết chúng và chúng theo Tôi” (Ga 10,27). Theo Chúa thì Chúa cho hưởng “sự sống đời đời”, “không bao giờ phải diệt vong” (10,28).

Như Chúa Giêsu, như các Tông Đồ ngày xưa đã từng bị tóm gọn bớ, giết chết, thì ngày nay, bất kỳ thời kì nào và ở đâu, những người hoạt động cho Chúa cũng dễ gặp những chống đối, nghi kỵ và ngược đãi. Nhiều người sợ hãi không dám dấn thân theo Chúa, hoặc đang theo Chúa, nhưng gặp chống đối, ngược đãi, đã vội ẩn mình hay muốn rút lui. Tất cả chúng ta nguyện cầu cho có nhiều người cảm nhận sâu xa Tình Thương của Chúa và cảm thấy ơn cứu độ của Chúa thật quý hiếm, để dù cho có bị ngược đãi, họ vẫn thu được “tràn đầy hoan lạc và ơn Chúa Thánh Thần” (Cv 13,52), hầu dũng cảm tiếp tục dấn thân phục vụ cho Tình Thương và ơn cứu độ của Chúa; đồng thời, tất cả chúng ta cũng không quên nguyện cầu cho nhiều người sớm biết để lòng mình trống rỗng hầu đơn giản đón nhận Tình Thương và ơn cứu độ của Chúa đổ xuống cho.

 

67. Hãy là mục tử cho nhau

(Suy niệm của Lm. Nguyễn Nguyên)

Hằng năm, cứ vào Chúa nhật 4 Mùa Phục sinh, Giáo hội mời gọi con cháu mình chiêm ngắm Chúa Giêsu trong vai trò Người Mục tử chăn dắt đoàn chiên. Ngày hôm nay, hình ảnh Người mục tử biết từng con chiên, lo ngại và chăm sóc cho từng con chiên được khắc hoạ sắc nét qua chính lời Chúa nói trong tin mừng tất cả chúng ta vừa nghe: “Tôi là mục tử nhân lành. Tôi biết chiên của tôi và chiên tôi biết tôi”. Thật là hạnh phúc cho cuộc sống tất cả chúng ta, vì Chúa biết từng người tất cả chúng ta. Chúa lưu tâm đến từng hoàn cảnh của tất cả chúng ta. Chúa còn bao bọc chở che tất cả chúng ta bằng biết bao ơn lành hồn xác. Sống dưới sự chăm sóc của Chúa, tất cả chúng ta không chỉ hạnh phúc ở đời này mà còn hạnh phúc cả đời sau: “Tôi ban cho chúng sự sống đời đời. Không bao giờ chúng phải diệt vong”.

Nếu mục tử Giêsu biết chiên của Ngài, yêu thương chiên đến nỗi nên một với nó và hiến mạng vì nó, thì mỗi người Kitô hữu cũng phải có trách nhiệm liên đới với anh chị em mình trong mọi nỗi niềm và tình cảnh của cuộc sống. Bởi mỗi người tất cả chúng ta qua bí tích rửa tội, đều lãnh nhận sứ mệnh mục tử của Chúa trong nhiệm vụ chăm sóc, bảo vệ anh em mình.

Vì vậy, lời Chúa ngày hôm nay mời gọi tất cả chúng ta:

Là cha mẹ, tất cả chúng ta hãy quyết tâm trở nên mục tử Giêsu cho con cháu. Hãy nghe đến con cháu bằng trái tim để thông cảm và yêu thương. Tất cả chúng ta sẵn sàng đổ bao mồ hôi nước mắt để nuôi con lớn lên trong thân xác, trong tri thức, nhưng mấy cha mẹ thực sự dám hiến cả đời sống để con cháu lớn lên trong tình mến Chúa yêu người. Tất cả chúng ta hãy nhớ điều này: Đức tin và tình mến Chúa yêu người không thể đến với con cháu chỉ bằng lời nói, nhưng bằng chính cuộc sống của cha mẹ từng ngày dám sống theo Lời Chúa, dám hiến mình vì hạnh phúc của gia đình, dám đặt nỗi khao khát tìm Chúa trên mọi giá trị khác như tiền nong, thú vui thì cha mẹ mới có thể làm cho con cháu thấm nhuần sự tin tưởng yêu Chúa và tình mến tha nhân. Lối sống ấy không chỉ làm ra nét đẹp của đời những đứa con mà còn làm rạng ngời cuộc sống của chính cha mẹ và còn tồn tại khả năng khơi dậy ơn gọi dâng hiến nơi tâm hồn con cháu. Này là lúc cha mẹ đang giành riêng cho con cháu tình yêu của Mục tử Giêsu.

Là thầy cô, tất cả chúng ta hãy trở nên những mục tử của học trò khi biết yêu thương và hết lòng truyền đạt cho học trò không chỉ những tri thức, mà còn làm các em sống thực như những nhân loại lương thiện, tử tế, nhân ái bằng chính gương quên mình phục vụ, yêu thương chăm sóc từng học trò trong tình yêu của mục tử Giêsu. Có vẻ thật lý tưởng. Nhưng nếu tất cả chúng ta không nuôi một lý tưởng cao đẹp như vậy trong tâm hồn thì làm sao tất cả chúng ta có được một cuộc sống đẹp trong đời thường. Nếu tất cả chúng ta không nuôi một ước mong lớn trong trái tim của mình, làm sao tất cả chúng ta có được một tấm lòng vàng. Ước gì có nhiều thầy cô Thiên chúa giáo, quên đi cái bệnh thành tựu của xã hội ngày hôm nay, để ôm ấp khát vọng dẫn dắt các em đi vào đoạn đường lương thiện, xả kỷ và yêu thương.

Là các bạn trẻ, đặc biệt các công nhân, tất cả chúng ta hãy nâng đỡ bạn mình trong công việc, trong khó khăn, trong đơn côi vì xa gia đình. Hãy xúc tiến nhau sống đức tin, dẫn nhau đến với Chúa ngày Chúa nhật, tham gia những sinh hoạt của giáo xứ. Trong tình yêu, với nạn sống thử trước hôn phối, hãy dũng cảm gìn giữ nhau trong sáng theo luân lý Kitô, hãy giúp nhau vun đắp những đức tính thiết yếu cho gia đình tương lai của mình. Này là cách tất cả chúng ta trở thành những mục tử Giêsu của nhau.

Ước gì qua thánh lễ này, xin Chúa cho tất cả chúng ta biết noi gương làm theo Chúa để trở nên mục tử nhân lành trong nhà, trong xứ đạo, trong khu xóm, trong môi trường mà tất cả chúng ta đang làm việc và sinh sống, để cuối cùng toàn bộ được sống trong cùng một đàn chiên duy nhất của mục tử Giêsu.

Chúa nhật ngày hôm nay cũng được Giáo hội chọn làm Ngày Thế Giới nguyện cầu cho ơn gọi Linh mục và Tu sĩ. Hiệp ý với toàn thể Giáo hội, tất cả chúng ta hãy cầu xin cho Giáo hội có nhiều mục tử nhân lành hết lòng dấn thân phục vụ vì đoàn chiên. Tất cả chúng ta nhắm tới các bạn trẻ và nguyện cầu cho họ quảng đại đáp lại lời mời mọi của Chúa để dấn thân và phục vụ Chúa trên đoạn đường dâng hiến. Xin cho các bậc cha mẹ ý thức và biết xây dựng gia đình mình thành cộng đoàn nguyện cầu và yêu thương, để trở thành vườn ươm ơn gọi cho toàn cầu ngày hôm nay. Amen.

 

68. Chúa chiên lành.

Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi, tôi biết chúng và chúng theo tôi. Tôi cho chúng sự sống đời đời.

(Lấy từ dụ ngôn: mỗi sáng người mục tử cất tiếng gọi, chiên nghe tiếng, biết tiếng chủ chăn mình và đi theo để được dẩn tới đồng cỏ xanh và suối nước mát, được ăn uống no nê và được sự sống dồi dào).

Còn Chúa Giêsu thì không có chiên cũng không hề chăn chiên. Người được Chúa Cha sai làm Đấng cứu độ của cả loài người như là chăm sóc đoàn chiên (theo hình ảnh văn hoá do thái). Người đã phục vụ và hiến mạng sống để có ơn cứu dộ cho nhiều người. Người đã chịu chết để làm chứng cho sự thật, không thỏa hiệp với thế gian. Người đã nêu gương can trường không lui bước trước bất kể đe dọa nào.

Chúa Giêsu là Mục Tử tốt. Cũng phải có đoàn chiên tốt. Và đây là một trong những hạn chế của ơn cứu độ phổ quát mà theo nhiều người là ‘phổ quát’ thì phải cứu được hết không một ai bị ngoại trừ. Chiên tôi thì:

1/ Nghe tiếng tôi: Biết và vâng theo. Phải học Lời Chúa mới biết tiếng Chúa Giêsu và biết chính Chúa Giêsu và còn phải vâng theo nữa. Có người có học biết giỏi lắm, có bằng tiếng sỉ Kinh Thánh mà không vâng theo giống như người do thái xưa.

2/ Tôi biết chúng: ám chỉ người do thái xưa. Chúa Giêsu biết họ không có thiện ý, không tin, đeo theo xin dấu lạ. Chúa Giêsu biết rỏ ai là tín hữu ai không. Không phải cứ xưng nầy nọ là được.

3/ Theo tôi: điều kiện rỏ ràng, theo hay không theo. Theo thì được bảo vệ (không ai cướp chúng khỏi tay tôi vì tôi và Cha tôi là một mà Cha là to hơn hết.

4/ Theo thì ‘tôi ban cho chúng sự sống đời đời’ cũng có nghĩa là không theo thì không ban, không có, không được cứu độ.

Giáo Hội mời chào: dùng ngày ngày hôm nay để đặt biệt quan tâm tới giáo sĩ và tu sĩ.

1/ Nguyện cầu: Trước hết cậy nhờ vào ơn Chúa. Nhưng có một số việc tích cực đang chờ đợi tất cả chúng ta để công việc của Chúa Chiên Lành được kết quả.

2/ Hợp tác với các Mục tử đang công tác nhất là với các vị gặp nhiều khó khăn trong công tác mục vụ của mình, không nên để các ngài bị cô quạnh, giúp đở khi các ngài cần giúp đở, nếu tất cả chúng ta muốn có nhiều mục tử tốt như lòng Chúa Giêsu mong ước.

3/ Các cha mẹ biết hướng dẩn con mình và dám hy sinh cho con dù là con một dâng mình theo ơn Chúa gọi làm linh mục hay tu sỉ. Không phải Chúa ban ít ơn gọi mà là ít người chịu sẳn sàng hy sinh đáp lại ơn Chúa gọi và sự đợi mong của Chúa.

4/ Điều tích cực hơn hết là mọi người hãy ý thức mà ham học Lời Chúa vì đây là chìa khoá vạn năng khắc phục toàn bộ mọi vấn đề vì muốn biết tiếng Chúa để nghe và theo thì phải học. Không học thì không biết làm sao nghe và theo được.

Xu hướng thế tục hoá làm cho nhân loại hiện tại đuổi theo thưởng thức những cái mà toàn cầu văn minh cung cắp cho họ, không còn nhiều người thích đi tu nữa, có đi tu thì cũng muốn đem trí não thế tục thưởng thức vật chất vào nhà tu. Khủng hoảng cả về số và luợng tu sỉ và linh mục ngày càng trầm trọng. Tất cả chúng ta nguyện cầu nhưng cũng đừng quên tích cực góp phần của mỗi người tất cả chúng ta tùy thiện chí và khả năng của mỗi người thì mới trông mong có thêm nhiều mục tử tốt như lòng Chúa Giêsu mong ước.

Tất cả chúng ta cầu xin Chúa ban cho tất cả chúng ta nhiều mục tử NHÂN DŨNG.

 

69. Mục tử 3D

Chúa Giêsu nhất định: “Tôi là Mục Tử Tốt Lành. Tôi biết chiên của tôi và chiên của Tôi biết Tôi. Mục Tử Tốt Lành hy sinh mạng sống cho đàn chiên”. Chúa Giêsu là vị Mục Tử Tốt Lành, là Đấng bảo vệ đoàn chiên, yêu thương săn sóc và hy sinh mạng sống cho đàn chiên, là nền tảng, là mẫu mực cho mọi vị chủ chăn tương lai được Ngài trao quyền chăn dắt đoàn chiên, tiếp nối sứ mệnh Mục Tử của Ngài.

Chúa Giêsu là vị Mục Tử Tốt Lành với những nét đặc trưng sau đây:

– Vị Mục Tử Tốt Lành hết lòng yêu thương những người thuộc về mình. Vì yêu thương nên Ngài quan tâm đến mọi người và đến từng người. Càng quan tâm thì càng biết tường tận: biết họ muốn gì, họ cần gì, họ có thể gặp phải những rủi ro cạm bẫy hay thử thách nào.

– Vị Mục Tử Tốt Lành luôn tiên phong, đi trước, hướng dẫn, lãnh đạo đoàn chiên, đứng mũi chịu sào, gánh chịu mọi khốn khó cho người thuộc về mình. Mục Tử Tốt Lành đem chiên đến những miền an toàn, có suối mát có cỏ xanh, cho chiên được ăn uống no nê, được nghỉ ngơi thoải mái. Chiên sẽ tăng trưởng cả về chất lượng lẫn số lượng. Mục Tử Tốt Lành dám hy sinh mạng sống vì chiên.

– Chúa Giêsu được Chúa Cha sai đến để yêu thương, chăm sóc, quy tụ mọi con chiên. Ngài biết tên từng con chiên như Cha Ngài biết Ngài (Ga 10,14-15). Ngài gọi tên từng con chiên và dẫn đi (Ga 10,3). Mục Tử sẵn sàng hy sinh mạng sống vì chiên: “Không có tình yêu nào cao vời cho bằng tình yêu của người hiến mạng sống vì người mình yêu” (Ga 15, 13). Chúa Giêsu đã chứng tỏ Ngài là vị Mục Tử Tốt Lành, vị chủ chăn không lúc nào hèn nhát thấy sói tấn công chiên mà bỏ trốn, nhưng Ngài luôn cứu vớt, tập họp, chăn dắt (Ga 10,9.16).

Chúa Giêsu còn cho thấy tính tương phản của hai loại mục tử. Mục tử thật và mục tử giả. Mục tử thật luôn hết mình vì đàn chiên. Mục tử giả chỉ lo vun quén cho bản thân. Mục tử thật thì hy sinh cho đàn chiên. Mục tử giả chỉ đến để xén lông chiên. Mục tử thật luôn tìm kiếm nguồn nước và đồng cỏ xanh tươi cho đàn chiên no đầy. Mục tử giả chỉ tìm kiếm hạnh phúc cho chính bản thân mình, sống thưởng thức, lười biếng và thiếu trách nhiệm đến sự sống còn của đàn chiên.

Sứ Điệp Ngày Thế Giới Cầu Nguyện cho Ơn Gọi lần thứ 50 viết: “Các ơn gọi linh mục và tu sĩ được phát sinh từ kinh nghiệm gặp gỡ cá vị với Đức Kitô, và nhờ vào cuộc trao đổi chân thành riêng tư với Ngài, người ta đi đến chỗ đón nhận ý muốn của Ngài. Do đó, cần phải lớn lên trong kinh nghiệm đức tin, nghĩa là tăng trưởng sâu xa mối liên hệ mật thiết với Chúa Giêsu, bằng cách lắng nghe tiếng nói của Ngài được vọng lên trong nơi sâu thẳm của lòng mình. Tiến trình này giúp chúng ta đón nhận lời mời gọi của Chúa, có thể phát sinh nơi cộng đoàn Kitô hữu biết sống đức tin cách mãnh liệt, quảng đại làm chứng cho Tin Mừng, nhiệt thành truyền giáo đến độ quên mình vì Nước Thiên Chúa, siêng năng nhận lãnh các bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể và chuyên chăm cầu nguyện”.

Đức Hồng У Yvan Dias, Tổng trưởng Thánh bộ Phúc âm hóa các Dân tộc, đại diện Đức Thánh Cha đã chủ toạ bế mạc Năm Thánh 2010 tại Thánh địa Lavang.

Sau đại lễ, ĐHY Ivan Dias đã gặp mặt các Giám Mục Việt Nam trong một tiếng đồng hồ để chia sẻ về tình hình cũng như gởi gắm sứ điệp. Về sứ điệp, ngài mời gọi toàn bộ Giám mục chia sẻ lại cho các linh mục, chủng sinh của mình về 3 chữ 𝓓 rất thiết yếu trong đời sống của người thuộc về Giáo Hội. 3 Chữ 𝓓 là: Doctrine, Discipline, Dévotion.

  1. Doctrine, về giáo thuyết. Mỗi Linh mục ngày hôm nay được mời gọi nắm vững giáo lý Giáo hội Thiên chúa giáo, giáo huấn Giáo hội, thuyết lí xã hội của GHCG, bởi vì nếu không nắm vững những hướng đi trong đó, thì trong cách ứng xử một Linh mục ở tại giáo xứ nhiều khi có những cái chưa chuẩn mực và nếu như cả một Giáo hội mà lại không nắm vững về Doctrine này thì rất nguy hiểm, sẽ mang Giáo hội đến chỗ không cứu vãn được. Vì sao Tòa Thánh phải lên tiếng về Giáo hội Trung Quốc? Câu trả lời cho biết vì yếu về giáo thuyết. Nếu hiểu Giáo hội không thể tự lực tự cường được thì người ta sẽ có chọn lựa khác. Chẳng phải nói đâu xa, trường hợp của GHVN ngày nay cũng cho thấy thấp thoáng rủi ro. Hết rồi thời đối đầu, đã bước sang thời hội thoại. Nhưng hội thoại như vậy nào để mình vẫn là GHCG, này lại là cả một tuyến mở ra cho tư duy và vì vậy trọng yếu là nắm vững giáo thuyết để có những quyết định thích hợp.

  2. Discipline, về kỷ luật. Đây là một vấn đề thường gây khủng khoảng cho các Giáo hội phương Tây. Vấn đề Linh mục lạm dụng tình dục là do việc không tuân thủ kỷ luật của Giáo hội, để đến khi bùng phát ra thì không vớt vát được. Hiện tại ở nhiều địa phận của Hoa Kỳ đã phải bán hết nền tảng của mình đi để trang trải cho việc xao lãng kỷ luật của một thời. Đây là một vấn đề đau lòng. Do đó, tuân thủ kỷ luật đời sống Linh mục là một phương pháp để giúp Linh mục một đàng thánh hóa bản thân và đàng khác tránh toàn bộ những hậu quả tai hại. Thời mới bước chân vào Chủng viện, chắc cú các chủng sinh đều thuộc lòng câu: Ai sống theo kỷ luật là sống theo ý Chúa, và sau này trên bước đường to hơn, Linh mục vẫn thường được nghe nhắc nhở: hãy giữ luật thì luật sẽ giữ cho mình, sẽ bảo vệ mình. Do vậy chữ Discipline mời gọi mỗi người trong hướng đi đời Linh mục cũng gắn bó với luật lệ của Giáo hội cách khít khao.

  3. Dévotion, lòng đạo đức sốt sắng. Ở đây theo như lời ghi chú của ĐHY Dias, thì nó nối liền với những trào lưu đạo đức, có một thời tưởng như bị bỏ rơi vì đi liền với lòng đạo đức dân dã của đại chúng. Thí dụ: tràng hạt Mân Côi, có một thời người ta rẻ rúng cho rằng loại kinh giành riêng cho phụ nữ, người nhàn rỗi, người già… nhưng sau này người ta cảm nghiệm được sức mạnh của kinh Mân Côi, nhất là sức mạnh hoán cải, sức mạnh thánh thiêng giúp người ta tiến xa trên đường nên thánh. Những cái thuộc loại Dévotion thì thường nối liền với những hình thức văn hóa. Ví dụ: hành hương coi như chuyện đi chơi, nhưng ở đó cũng là một thứ Dévotion mời gọi Linh mục không nên xem thường. Tất nhiên không thể ngoại trừ những hình thức Dévotion truyền thống tôn sùng Thánh Tâm, Chầu Thánh Thể, hay là những hình thức khác nhau giành riêng cho các Thánh. Một Linh mục mà rẻ rúng những hình thức đạo đức dân dã thì coi chừng, tưởng là mình ở trên đỉnh cao trí thức, biết đâu lúc nào đó mình rớt xuống vực mà không hay. Lần hạt Mân Côi, này là một lời kinh tháp tùng Linh mục trên mọi bước đường, trong mọi hoàn cảnh, này là lời kinh sót lại duy nhất sau thời điểm đã quên đi toàn bộ. Gắn bó với một sự đạo đức như vậy cũng là một cách giúp cho đời Linh mục được vươn lên, được thăng tiến. (Ҳ. Huấn từ khai mạc Tĩnh tâm Linh Mục Giáo Phận Phan Thiết, ngày 10.1.2011, ĐGM Giuse Vũ Duy Thống).

Chúa nhật IV Phục sinh, ngày nguyện cầu cho ơn thiên triệu Linh mục và ơn gọi Tu sĩ nam nữ. Giáo Hội luôn cần đến những mục tử tốt lành. Hãy nguyện cầu cho Giáo Hội có nhiều mục tử đạo đức, thánh thiện như lòng Chúa mong ước.

Trở nên mục tử tốt lành nhờ biết trau dồi giáo thuyết Kinh Thánh (Doctrine), sốt sắng trong lời nguyện cầu gắn bó với Chúa Giêsu (Dévotion) và có trí não kỷ luật trong đời sống tu trì (Discipline).

Mục tử tốt lành là phải luôn sống phối hợp mật thiết với Chúa Giêsu, luôn khát khao và cầu xin ơn Chúa Thánh Thần. Nhờ đó, vị mục tử tốt lành biết rõ đàn chiên,yêu thương đàn chiên và sẵn sàng hiến mạng vì đàn chiên. Từ đó, vị mục tử tốt lành biết nuôi dưỡng đoàn chiên bằng những lương thực có chất lượng tốt nhất là cử hành Thánh Thể sốt sắng và nhiệt thành trong bí tích Hòa Giải.

Ơn gọi Linh mục Tu sĩ cốt yếu là để “sống với Chúa, và để Ngài sai đi” (Mc 3, 14). Sống với Chúa, là lắng nghe tiếng Ngài trong từng giây phút sống, để nên một với Chúa trong gian truân và hạnh phúc. Để Ngài sai đi, là sẵn sàng đi theo đoạn đường Ngài đã đi, thực thi sứ mệnh Ngài trao bỏ mặc những gì xảy ra.

Giáo dân cần Linh mục như người bệnh cần bác sỹ, như học viên cần thầy giáo viên, như một người bạn sẵn sàng thông cảm chia sẻ vui buồn trong đời sống và như người bạn gắn bó trợ giúp trong cuộc hành trình tiến về đời sau.

Hãy nguyện cầu cho các Linh mục được trở nên những mục tử như Chúa Giêsu, vị Mục Tử Tốt Lành, biết yêu thương phục vụ đoàn chiên, hiểu biết tâm tư tình cảm của từng người, quan tâm chăm sóc từng con chiên và sẵn sàng hy sinh bản thân vì lợi nhuận của đàn chiên.

Hãy nguyện cầu cho các Linh mục có những đức tính tốt của những Mục Tử tốt Lành mà Thánh Kinh đã mô tả:

– Yêu thương, trìu mến chiên với toàn bộ tâm hồn: “Chúa tập trung cả đàn chiên dưới cánh tay: lũ chiên con, Người ấp ủ vào lòng, bầy chiên mẹ, cũng tận tình dẫn dắt” (Is 40, 11).

– Yêu quý từng con chiên, một con cũng như cả trăm con: “Ai có một trăm con chiên mà có một con đi lạc, lại không để chín mươi chín con kia trên núi mà đi tìm con chiên lạc sao? Và nếu may mà tìm được, người ấy vui mừng vì con chiên đó, hơn là vì chín mươi chín con không bị lạc” (Mt 18, 12-13).

– Lo cho chiên, tạo những điều kiện tốt đẹp cho chiên: “Ta sẽ chăn dắt chúng trong đồng cỏ tốt tươi và chuồng của chúng sẽ ở trên các núi cao. Tại đó chúng sẽ nằm nghỉ trong chuồng êm ái, sẽ đi ăn trong những đồng cỏ mầu mỡ” (Ed 34, 14).

– Làm cho chiên được sống no ấm, hạnh phúc: “Chúa chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì” (Tv 23, 1); làm chiên luôn vững dạ vì được bảo vệ: “Dầu qua lũng âm u con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng. Côn trượng Ngài bảo vệ, con vững dạ an tâm” (23, 4).

– Trí não trách nhiệm so với đàn chiên rất cao: “Con nào bị mất, Ta sẽ đi tìm; con nào đi lạc, Ta sẽ đưa về; con nào bị thương, Ta sẽ băng bó; con nào bệnh tật, Ta sẽ làm cho mạnh; con nào béo mập, con nào khoẻ mạnh, Ta sẽ canh chừng” (Ed 34, 16).

– Cứu thoát, giải phóng đàn chiên: “Thiên Chúa sẽ cứu thoát dân Người, như mục tử cứu thoát đàn chiên” (Dc 9, 16).

Lạy Chúa Giêsu, Mục Tử Tốt Lành, xin ban cho chúng con nhiều mục tử tốt lành theo gương Chúa để góp phần vào quá trình Tân Phúc Âm hoá và thông truyền đức tin Kitô giáo trong thời kì ngày hôm nay Amen.

 

70. Chủ chăn đượm mùi chiên

(Suy niệm của Alphonse Marie Trần Bình An)

Sau năm 1954, noi theo gương vị Mục Tử Nhân Lành, cha già Phêrô Doãn Quang Ngọc (1902–1995) đã thốt lên: “Vì yêu giáo dân mà tôi ở lại miền Bắc.” Sau hiệp định Genève, các linh mục ở lại miền Bắc lúc đó, phải chấp thuận cảnh đấu tố, giam giữ. Cha bị giam mấy tháng ở chuồng trâu của một người lương dân xóm Hồng Sơn, xã Sơn Cương, huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ. Rồi bị đấu tố ở Chiêu Ứng, sau đó còn bị điệu đi Đồng Xa, Đại An, Trù Mật để cho chính những người đã được cha già cưu mang, vu oan cáo vạ! Thế nhưng sau vụ đấu tố đó, những giáo dân này vẫn được cha già yêu thương, tin dùng và nâng đỡ. Có người hỏi: “Sao cha vẫn dùng họ?” Ngài trả lời: “Họ nhẹ dạ, họ mắc mưu, chấp làm gì!”

Một số cha trẻ di cư vào Nam, một số cha già được Chúa gọi về dần, các chủng viện bị đóng cửa, các giáo xứ dần dần vắng bóng chủ chăn. Cha già Phêrô Doãn Quang Ngọc là cha xứ Chiêu Ứng, nhưng đồng thời phải coi sóc giáo dân tận Lào Cai, Sapa, cách xa ba bốn trăm cây số, trong lúc phương tiện đi lại chỉ là một chiếc xe đạp Super Globe. Vào những năm cuối đời, dù đã tám chín mươi tuổi, cha Phêrô vẫn còn phải coi sóc thêm những giáo xứ như Phi Đình, Trù Mật, Vân Thê,… trên mười ngàn giáo dân.

Coi sóc nhiều như vậy, cha già không những đến dâng lễ, ban các bí tích, mà còn lo xây dựng đức tin và nền tảng vật chất nữa. Toàn bộ những nơi cha già coi sóc đều được chính ngài đứng lớp, ôn thi kinh bổn, giáo lý, mỗi năm hai kỳ vào dịp Lễ Phục sinh và Lễ Các Thánh.

Các hội đoàn như Hội Nghĩa Binh Thánh Thể, Hội Mân Côi, Hội Thánh Phêrô, Hội Thánh Antôn,… do ngài thành lập vẫn sinh hoạt điều độ. Riêng nơi cha già trông coi, các cuộc rước hoa, rước Thánh Thể vẫn tổ chức rất long trọng. Các nơi thờ tự trong địa phận cha già coi sóc vẫn được sửa chữa, nâng cấp hoặc xây mới, trong lúc tại các xứ khác bị phá hủy, hoặc không được tu sửa.

Với trí não quảng đại, tha thứ và yêu thương phục vụ, cha già Phêrô còn tích cực trợ giúp nhiều nơi xây dựng trường sở rộng rãi cho con em học văn hóa, như trường phổ thông nền tảng Sơn Cương, trường Ninh Dân thuộc huyện Thanh Ba, trường Văn Lung thuộc thị xã Phú Thọ. Những gia đình nghèo khổ luôn được cha quan tâm: cha giúp họ tiền đong gạo, cha không nhận bổng lễ khi họ đến xin lễ. Suốt đời cha không sắm cho mình một vật gì tráng lệ; cha thường nói: “Chúa Giêsu sống nghèo, tôi cũng sống nghèo; Chúa Giêsu bênh vực người nghèo, tôi cũng đi với người nghèo.”

Nói đến trí não kỷ luật của cha già là phải nói tới việc giữ giờ giấc: giờ ăn, giờ nghỉ, giờ làm việc trí óc, giờ lao động chân tay, giờ dâng lễ, giờ nguyện cầu; sáng, trưa, tối, mùa hè oi bức cũng như mùa đông giá lạnh, không khi nào cha sai giờ. Điều đáng nể là khi ngài báo giờ lễ ở một nơi nào, dù xa xôi (như Đồng Xa, Trù Mật) mà không thể đi xe được vì thời tiết quá xấu, ngài quàng áo mưa, chống gậy đi bộ cho kịp giờ đã định. Và cũng có thể nói, trừ những tháng bị giam giữ năm 1954, ngài đã không bỏ một thánh lễ nào. Sáng ngày 28 tháng 11 năm 1995, ngài dâng thánh lễ cuối cùng, sau đó thấy mệt, tuy được các y bác sỹ điều trị, nhưng tối hôm đó ngài đã an nghỉ trong Chúa. (Gp Hưng Hoá)

Linh mục Phêrô Doãn Quang Ngọc thấm nhuần thiên chức, đã dũng cảm sống cho, sống vì và sống với đoàn chiên, để tận tuỵ chăn dắt và chăm sóc các bổn đạo. Tất cả chúng ta thật tâm tri ân và cảm tạ Thiên Chúa đã ban tặng một chủ chăn tốt lành. Đồng thời ngợi ca, tôn vinh Lòng Chúa Thương Xót, đã ưu ái dân Người.

Trong Tin Mừng Chúa Nhật thứ 4 Phục Sinh ngày hôm nay, Chúa Chiên Lành tha thiết mời gọi toàn bộ con chiên khắp nơi trung kiên đi theo. Người biết rõ từng khuôn mặt, tên tuổi, cũng như tính tốt lẫn thói hư tật xấu của từng con chiên. Dầu bạc nhược, bệnh hoạn, yếu đuối, toàn bộ cũng đều được Người đon đả an ủi, băng bó, vỗ về, phục hồi và ban sự sống, nếu biết nghe và theo Người.

Chiên nghe và theo

“Chiên Ta thì nghe tiếng Ta, Ta biết chúng và chúng theo Ta.” Nghe Lời Chúa là môt diễm phúc, một ơn phước, không phải ai cũng được hân hạnh được lãnh nhận, dẫu quyền cao chức trọng mấy đi nữa cũng chẳng được biệt đãi, như thói đời. “Vì chưng Ta bảo các ngươi, nhiều tiên tri và nhiều vua chúa đã muốn thấy điều các ngươi thấy, nghe điều các ngươi nghe, mà đã không được nghe.” (Lc 10, 24)

Hơn nữa, nghe lời Chúa đang là một đặc ân cứu rỗi.“Thật, tôi bảo thật các ông: ai nghe lời tôi và tin vào Ðấng đã sai tôi, thì có sự sống đời đời và khỏi bị xét xử, nhưng đã từ cõi chết bước vào cõi sống.” (Ga 5, 24) Bởi vì Lời Đức Giêsu bắt nguồn từ chính Thiên Chúa Cha. “Tôi còn có nhiều điều phải nói và xét đoán về các ông. Nhưng Ðấng đã sai tôi là Ðấng chân thật; còn tôi, tôi nói lại cho thế gian những điều tôi đã nghe Người nói.” (Ga 8, 26)

Nghe Lời Chúa và theo Chúa chính là thực hành những điều Người dạy, mới thuộc về Thiên Chúa, về đàn chiên Người chăn dắt và chăm sóc. “Ai thuộc về Thiên Chúa, thì nghe lời Thiên Chúa nói; còn các ông, các ông không chịu nghe, vì các ông không thuộc về Thiên Chúa.” (Ga 8, 47) Đức Giêsu còn tái nhất định một vĩnh phúc, một niềm trông mong vĩ đại cho nhân loại. “Thật, tôi bảo thật các ông: ai tuân giữ lời tôi, thì sẽ không bao giờ phải chết.” (Ga 8, 51)

Chủ Chăn nói và biết

“Chiên nghe tiếng của anh; anh gọi tên từng con, rồi dẫn chúng ra.” Lời Chúa luôn mời gọi từng người, từng ngày, từng phút giây trong đời. Phúc thay cho ai luôn biết tỉnh thức, lắng nghe và đáp lại Lời Chúa.

Không lúc nào đối đầu, chen lấn, học đòi, kèn cựa, trong cơn lốc truyền thông hiện đại, Lời Chúa thường chỉ lặng thầm, lặng lẽ văng vẳng trong thinh lặng, trong cõi cô tịch hiu quạnh, trong hoang mạc vắng vẻ, trong đêm thâu trầm lắng canh thức. Như thầm thì qua lương tâm, khuyên nhủ qua những vị chủ chăn nhân lành, nhắc bảo qua các đấng sinh thành đạo đức, tâm tình chia sẻ qua những thân bằng quyến thuộc khôn ngoan theo Chúa. Nhưng công khai, tỏ tường và trường cửu hơn hết, Lời Chúa rất sáng tỏ, rõ ràng, rạng ngời, sáng chói trong Kinh Thánh, Tông truyền và giáo huấn Hội Thánh. Lời Chúa vốn là sự thật, là đạo lý bất biến, bất tử, mãi hợp lý, hợp thời mọi lúc mọi nơi.“Trời đất sẽ qua đi, nhưng lời Ta nói sẽ không bao giờ qua đi!” (Mc 13, 31)

Qua suốt ba mươi ba năm nhập thể, Đức Giêsu đã trải qua hầu như gian truân, khốn khổ, cực nhọc của kiếp người. Nhất là qua cuộc khổ nạn và chịu chết tức tưởi trên thập giá, Người đã thông cảm, thấu hiểu được toàn bộ nỗi khổ đau của nhân loại, nỗi cùng cực của người công chính, đạo đức, nhân ái, tử tế. Người chẳng còn lạ gì thói giả hình, thói điêu ngoa, ngậm máu phun người, thói kiêu căng, hãnh tiến, háo danh, hống hách, thói trơ trẽn, háo lợi, bất nghĩa, bất tín, bất trung, vì chính Người từng là nạn nhân. Nên Người luôn mời gọi những tâm hồn khổ sở, đày đoạ, hãy đến với người an ủi, chở che và cứu rỗi: “Tất cả hãy đến với Ta, hỡi những ai khó nhọc và gồng gánh nặng nề. Ta sẽ nâng đỡ và bổ sức cho các ngươi. Hãy mang lấy ách của Ta và hãy học cùng Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng, và tâm hồn các con sẽ được bình an. Vì ách của Ta thì êm ái, và gánh của Ta thì nhẹ nhàng.” (Mt 11, 28-30)

Hơn nữa, Chủ Chăn Nhân Lành còn quan tâm, chăm sóc, còn hiểu thấu đáo đến từng con chiên. Dù lạc mất một con chiên, Người cũng đành bỏ lại chín mươi chín con ngoài đồng hoang, mà ráo riết, vội vàng, đi tìm về cho bằng được. Tìm được rồi, Chủ Chăn hoan hỷ, mừng rỡ mời láng giềng đến chung vui.“Cũng vậy, trên trời sẽ có vui mừng vì một người tội lỗi hối cải, hơn là vì chín mươi chín người công chính, những kẻ không cần phải ăn năn!” (Lc 15, 5-7)

Chủ Chăn bảo vệ và ban sự sống

“Tôi là cửa. Ai qua tôi mà vào thì sẽ được cứu. Người ấy sẽ ra vào và gặp được đồng cỏ.” Chủ Chăn đang là cửa ra vào, nẻo ngay, đường duy nhất dẫn theo ơn cứu độ. Con chiên vâng lời, nghe theo sẽ no thoả trong đồng cỏ xanh tươi. Người luôn chăm sóc, bảo vệ khỏi mãnh thú hung ác, bạo tàn, vì “Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho chiên.” Người đã thực hiện đúng như lời đã hứa: Chịu khổ nạn và chịu chết để chuộc tội nhân loại, cho nhân loại khỏi bị án phạt, mà được sống viên mãn.

“Kẻ trộm chỉ đến để ăn trộm, giết hại và phá hủy.” Những người chăn thuê, mạo danh chủ chiên, hay sói đội lốt chiên, lòng dạ hiểm độc, chẳng khác kẻ trộm cướp, chỉ vì lợi danh, đến lạm dụng, xén lông, làm thịt, chia rẽ, nghi kỵ, phân hoá, làm tan tác cả đàn chiên. “Người làm thuê, vì không phải là mục tử, và vì chiên không thuộc về anh, nên khi thấy sói đến, anh bỏ chiên mà chạy. Sói vồ lấy chiên và làm cho chiên tán loạn,vì anh ta là kẻ làm thuê và không thiết gì đến chiên.”

“Lãnh đạo phải trở nên mọi sự cho mọi người, trong bất cứ trường hợp nào, chấp nhận mọi thứ công việc, nhọc mệt, chống đối và khi cần phải hy sinh cả mạng sống con để mưu ích cho đoàn thể, nhưng đừng bao giờ làm giảm sút sự lo lắng cho chính linh hồn con.” (Đường Hy Vọng, số 881)

Lạy Chúa Giêsu, Vị Chủ Chăn Nhân Lành, xin luôn mãi gọi tên chúng con, luôn thức tỉnh chúng con khỏi sa chước cám dỗ hoang đàng, khỏi những phù phiếm lợi danh thế gian, khỏi thói vị kỷ, nâng niu, dễ dãi, σ bế thân xác yếu đuối. Xin dẫn dắt, trợ giúp, khích lệ chúng con dấn thân, vác thập giá hằng ngày, kiên trung theo Chúa trên đường trông mong đầy khó khăn thách thức.

Xin Mẹ Maria rất thánh thương ban cho chúng con những vị Chủ Chăn Nhân Lành, đến yêu thương dạy dỗ, hướng dẫn, chăm sóc, chở che chúng con được bình an và được sống viên mãn. Amen.

 

71. Chiên nghe theo chủ chăn

(Suy niệm của Alphonse Marie Trần Bình An)

Theo một tư liệu mới được tìm thấy, các nhà phân tích phát xuất hiện rằng, nhà soạn nhạc người Anh nổi tiếng Gustav Holst (1874-1934) thường chơi kèn trombone, khi từ London trở về nhà ở Cheltenham. Lúc đó Holst đang là sinh viên của Trường Âm nhạc Hoàng tộc Anh và do quá nghèo, không có tiền mua vé tàu hỏa, nên phải đi bộ về nhà. Ông thường tập kèn mỗi khi đi qua cánh đồng, vì nghĩ rằng nơi đó vắng vẻ, không làm phiền tới ai.

Có lần Holst mải mê “biểu diễn” trên một quả đồi ở Cotswold trong vài tiếng và bị một nông dân tìm tới mắng mỏ, rằng tiếng kèn “như còi tàu hỏa” đã làm con cừu của ông ta đẻ non. (Mạng internet)

Cừu, hay chiên (Ovis aries) là một trong những loài gia súc được nhân loại thuần hóa sớm nhất để lấy lông, thịt, sữa, mỡ và da. Đàn cừu trên toàn cầu hiện tại là trên 1 tỷ con. Cừu là loại dễ tính, có thể ăn các loại cỏ khô cằn, ưa khí hậu khô, không chịu ẩm ướt.

Bài Tin Mừng thánh Gioan ngày hôm nay chỉ gói gọn trong ba câu thật ngắn ngủi, súc tích, sâu sắc và thấm thía. Chúa Giêsu là Mục tử chăm sóc đàn chiên dân Chúa.

Vốn hiền từ, dịu dàng, nên chiên hay bị thú dữ đe dọa, nhất là chó sói hung bạo. Vì vậy, thính giác loài chiên rất phát triển để củng cố bản năng sinh tồn. Do đó, con chiên có thể nghe được nhiều cách khác nhau.

Con chiên nghe mùi

Mùi vị đặc trưng của đoàn chiên giúp con chiên dễ nhận thấy nhau. Đồng thời cũng đơn giản nhận thấy chủ chăn thân thương, thân thiện qua mùi cố hữu đó. Tất nhiên chủ chăn phải thực sự sống cùng, sống với và sống cho đoàn chiên, thì mới nồng nàn đượm mùi chiên. Huấn từ của Đức Giáo Hoàng Phanxicô với các linh mục tại Đền Thờ Thánh Phêrô, hôm Lễ Dầu, Thứ Năm Tuần Thánh 28/3/2013, cũng nhấn mạnh: “Cha mời gọi các con điều này: Các con hãy là những người chăn chiên có mùi của chiên!”

Mùi chiên của người mục tử nhân lành tỏa ra từ thái độ, lời nói, hành động chứa chan tình cảm trìu mến. Phong thái, suy tưởng, tình cảm và ý kiến của chủ chăn đều bộc lộ trực tiếp, hay gián tiếp mỗi khi thân thiện đàn chiên. Nếu là kẻ chăn thuê thì chỉ tanh tưởi mùi bạc, ngầy ngậy bơ sữa bổng lộc chức tước. Nếu là kẻ chăn giả mạo thì nồng nặc tà khí man trá, rét mướt, lưu manh. Con chiên tuy hiền từ, nhưng rất bén nhạy đánh hơi xem mùi thân thuộc, hay lạ, đơn giản tìm thấy chủ chăn chính đáng nhân lành hay kẻ chăn thuê, hoặc giả mạo.

Chúa Giêsu còn đon đả nhắc nhở, thông báo: “Người làm thuê, vì không phải là mục tử, vì chiên không thuộc về anh, nên khi thấy sói đến, anh bỏ chiên mà chạy. Sói vồ lấy chiên và làm cho chiên tán loạn, vì anh ta là kẻ làm thuê, không thiết gì đến chiên.” (Ga 10, 12-13)

Con chiên nghe thấy

Không chỉ nghe mùi, con chiên còn nghe thấy chủ chănâu yếm gọi tên từng con, rồi dẫn chúng ra. Khi đã cho chiên ra hết, anh ta đi trước và chiên theo sau, vì chúng đã nhận ra tiếng của anh. Chúng sẽ không theo người lạ, nhưng sẽ chạy trốn, vì chúng không nhận ra tiếng người lạ. (Ga 10, 3-5) Như vậy, con chiên còn nhận ra chủ chăn qua nếp ứng xử, qua sự chăm sóc tận tụy, vì chủ chăn biết rõ tên tuổi, cá tính, sức khỏe, nhu cầu và tâm trạng từng con chiên.

Nhìn thấy sự tận tâm, hy sinh, con chiên mới gắn bó, yêu thương chủ chăn. Mà không nỡ đi theo người lạ, kẻ tà đạo hay người làm thuê. Nếu con chiên lỡ ham vui, đi hoang lạc lũ, thì chủ chăn nhân lành cũng vẫn bỏ 99 con chiên ở lại, để đi tìm cho bằng được một con chiên bị lạc.

Vì thuộc về chủ chăn nhân lành, con chiên cảm thu được sự ưu ái rõ ràng, như xua đuổi sói dữ, băng bó, chữa lành thương tích, ôm ấp vác lên vai, dẫn dắt về tận chuồng trại nghỉ ngơi, dưỡng sức.

Con chiên nghe tiếng

Không chỉ ban ngày, mà ngay đêm khuya thanh vắng, con chiên vẫn văng vẳng nghe tiếng chủ chăn tâm tình, dỗ dành, vuốt ve, an ủi, dặn dò, dạy dỗ. Thậm chí còn hy sinh vì đoàn chiên.” Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Tôi biết chiên của tôi, và chiên của tôi biết tôi, như Chúa Cha biết tôi, và tôi biết Chúa Cha, và tôi hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên. (Ga 10, 14-15)

Đắm mình trong suy tư, nguyện cầu, con chiên có thể nghe tiếng Chủ Chăn nhân lành qua Lời Chúa, qua Thánh Kinh, và các dấu chỉ xung quanh. Đây chính là động tĩnh tích cực của con chiên để hiểu và nghe theo Chủ Chăn. Một sự hợp tác thiết yếu phải có, để con chiên nghe được tiếng chủ chăn bảo vệ, hướng dẫn theo dồng cỏ xanh non, suối mát dịu ngọt.

Con chiên luôn cần tỉnh thức đế lắng nghe Chủ Chăn gọi. Như xưa kia ngôn sứ Samuen đang ngủ, nghe tiếng gọi của Thiên Chúa ba lần, nhưng đã không nhận thấy, cho đến khi được thầy tư tế Êli hướng dẫn. (Ι Sm 3:1-10).

Chúa là Mục Tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì.

Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ.

Người mang tôi tời dòng nước trong lành và bổ sức cho tôi.

Người dẫn tôi trên đường ngay nẻo chính,

vì danh dự của Người. Lạy Chúa,

dầu qua lũng âm u, con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng.

Côn trượng Người bảo vệ, con vững dạ yên tâm.(Tv 23)

Lạy Chúa, chúng con xin Chúa chúc lành đặc biệt cho các vị lãnh đạo của Giáo Hội Chúa. Xin giúp chúng con bỏ qua những sai lầm của họ để nhận thấy nhân loại thực của họ: là các dấu chỉ sống động về sự hiện diện của Chúa giữa chúng con. (Lm. Mark Link, SJ)

Lạy Mẹ Maria, xin cho con luôn nhớ Mục Tử Nhân Lành đã hy sinh chịu chết vì đoàn chiên. Xin Mẹ cho con nhận thấy tình thương cao thượng và nhắc nhủ con luôn sống xứng đáng với tư cách con chiên của Người.

 

72. Cha mẹ trong vai trò mục tử

Thánh Gioan đã trình bày cho tất cả chúng ta thấy hình ảnh người mục tử, một người mục tử biết từng con chiên của mình, sẵn sàng hy sinh cho đoàn chiên và làm cho chiên không lúc nào phải diệt vong nhưng được sống dồi dào.

Khi dùng hình ảnh người mục tử sẵn sàng hy sinh đời mình cho đoàn chiên, Chúa Giêsu muốn nói cho tất cả chúng ta biết chính Ngài là mục tử nhân lành, hiến vĩnh viễn mình cho tất cả chúng ta là đoàn chiên của Ngài. Thông thường khi nghe nói tới hai chữ mục tử, tất cả chúng ta thường nghĩ đến nhiệm vụ của các Giám Mục và các Linh Mục. Nhưng ngày hôm nay, tôi muốn nói cho moi người biết thêm một thành phần khác cũng được chia sẻ sứ vụ mục tử nữa, này là những người tất cả chúng ta, là những bậc làm cha làm mẹ trong nhà, phải là mục tử nhân lành, hết tình thương yêu lo ngại chăm sóc cho đoàn chiên là những đứa con của mình.

Ở Việt Nam và nhất là ở đồng bằng sông Cửu Long hình ảnh người mục tử chăn chiên rất là xa lạ với tất cả chúng ta, nhưng có vẻ hình ảnh người chăn vịt lại thân thiện và thân thuộc với tất cả chúng ta hơn. Người chăn vịt thì lúc nào cũng tìm những nơi có mồi như là cá, tép, ốc, cua…. để mang vịt tới đó. Chưa hết đâu, người chăn vịt còn phải giữ làm sao không nên để cho vịt bị cáo chồn hay kẻ trộm bắt, rồi còn phải giữ làm sao không nên để cho vịt đi phá lúa hay là phá những ao của người ta. Khi có con vịt nào lạc lũ thì phải đi tìm, khi con nào phạm mồi, ăn phải mồi độc thì phải biết cứu chữa, làm thuốc để giã chất độc mà cứu con vịt đó.

Người chăn vịt là thế, còn tất cả chúng ta là những người được Chúa trao phó cho một đàn chiên, hay là một lũ vịt, này là những đứa con của tất cả chúng ta, tất cả chúng ta phải chăn giữ chúng như vậy nào để chúng có được một cuộc sống tốt đẹp? Hay tất cả chúng ta cho chúng ăn những gì để chúng có được một cuộc sống có ý nghĩa?

Hiện giờ câu “Trời sinh voi sinh cỏ” không còn thích hợp nữa mà người ta đã nhận thấy rằng: sinh con thì dễ, nuôi con thì khó, và dạy con nên người lại càng khó hơn.

Khi sinh con ra, chắc cú ai trong tất cả chúng ta cũng muốn cho con mình được ăn no mặc ấm, ai trong tất cả chúng ta lại không thao thức và lo ngại khi con mình bệnh hoạn, rồi khi chúng tới tuổi khôn, ai lại không muốn cho con mình đi học. Cũng chính vì thế, khi sinh ra một đứa con, tôi tin chắc rằng mỗi người đã ý thức việc nuôi dưỡng chúng về phần xác, nhưng còn việc giáo dục thì sao? Trong trí não đó, tôi xin nêu lên hai vấn đề cần thiết trong việc giáo dục con cháu, và đó như là hai món ăn không thể thiếu trong việc chăn giữ đoàn chiên mà Chúa trao phó cho các bậc cha mẹ.

Món ăn thứ nhất là món ăn nhân bản: là những bậc Cha Mẹ, tất cả chúng ta phải giáo dục cho con mình có một số nhân đức cơ bản của đạo làm người như: công bình, trung thực, lịch sự, biết tôn trọng người lớn…

Ca Dao nói rằng: “dạy con từ thuở còn thơ, dạy vợ từ thuở bơ vơ mới ve”à. Vì tâm trí của những đứa trẻ giống như một tờ giấy trắng, nếu tất cả chúng ta vẽ vào đó hình ảnh nào thì hình ảnh đó sẽ tồn tại mãi trong cuộc sống của chúng, vì vậy, nếu vẽ vào đó những đường thẳng, thì xã hội sẽ vẽ vào đó những đường cong, nếu tất cả chúng ta không vẽ vào đó những hình ảnh tốt đẹp, thì xã hội sẽ vẽ vào đó những hình ảnh xấu xa ghê sợ. Nếu không vẽ vào đó những đức tính của đạo làm người như lịch sự, công bình, yêu thương, thành thực… thì xã hội và đồng bọn sẽ vẽ vào đó những ích kỷ, những thói hư tật xấu. Vì vậy, ngay lúc con mình còn nhỏ mà lưu ý dạy cho chúng những điều này, thì khi chúng lớn lên, chúng sẽ trở thành một nhân loại thực sự, một nhân loại biết yêu thương, biết tôn trọng người khác.

Nhưng làm sao giáo dục con mình có những đức tính nhân bản này, trong lúc tất cả chúng ta lại không có, làm sao dạy chúng yêu thương người khác khi cha mẹ cứ cự cãi nhau hoài, làm sao dạy chúng trung thực khi cha mẹ lại là kẻ tà đạo lận, làm sao dạy chúng đừng chơi cờ bạc khi cha mẹ lại cờ bạc… vì vậy việc giáo dục con mình, đòi hỏi cha mẹ phải có một cuộc sống tốt để làm gương cho chúng.

Và món ăn thứ hai là món ăn đức tin: Khi nhìn thấy những cây kiểng với đủ dáng đủ kiểu, có cây cong bên này, có cây quẹo bên kia rất đẹp. Những cây đó không phải tự nhiên được như vậy, nó phải được cắt tỉa và uốn ngay lúc còn nhỏ. Khi mới đâm tược thì phải lấy dây chì uốn những tược đó theo những kiễu mà mình muốn, cho tới khi cái tược đó già đi thì mới mở dây chì ra, và lúc đó cái cây sẽ giữ nguyên cái dáng kiễu mà mình uốn nó.

Cũng vậy, khi sinh con ra, tất cả chúng ta phải định dạng cho chúng một cái dáng về đức tin, nghĩa là cha mẹ phải quyết định cho chúng ngã về bên nào, ngã về đức tin thiên chúa giáo hay ngã theo chủ nghĩa vô thần, ngã theo đạo thiên chúa giáo hay những đạo khác. Là những người cha người mẹ thiên chúa giáo, tất cả chúng ta phải cho con mình ngã về đức tin thiên chúa giáo, chứ không thể ngã theo chủ nghĩa vô thần hay một niềm tin nào khác được. Cũng chính vì thế, khi sinh con ra, cha mẹ phải liệu làm sao cho con mình được rửa tội tham gia vào đạo thiên chúa giáo, để chúng có được một đức tin thiên chúa giáo càng sớm càng tốt.

Như vậy, mỗi người tất cả chúng ta chính là người mục tử có bổn phận lo cho đoàn chiên là con cháu mình. Có muốn cho những đứa con của mình trở thành những người tốt hay không? Tất cả chúng ta là những bậc cha mẹ hãy nhớ lại những lời hứa khi lãnh nhận bí tích thành thân, khi đứng trước mặt Chúa và hội thánh, tất cả chúng ta đã hứa, là sẵn sàng yêu thương đón nhận con cháu và giáo dục chúng theo luật Chúa Kitô và hội thánh, nhưng tất cả chúng ta có thực hiện lời hứa đó không? Thực hiện tới mức độ nào?

Ước gì toàn bộ tất cả chúng ta là những bậc làm cha mẹ, tất cả chúng ta biết ý thức bổn phận và trách nhiệm của mình so với con cháu, để từ đó giáo dục con em mình trở nên một người tốt và trở nên một kitô hữu tốt, nhờ đó, chúng được hạnh phúc ngay ở đời này và ngày sau được hưởng hạnh phúc trên thiên đàng. Amen.

 

73. Chúa Giêsu – Vị Mục Tử Nhân Lành

(Suy niệm của Antôn Lương Văn Liêm)

“Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi, tôi biết chúng và chúng theo tôi” (Ga 10,27)

Thu được tin báo Thống soái sẽ ghé thăm nhà cung cấp và dân chúng trong vùng, người lãnh đạo đội vệ binh tức tốc triệu tập thuộc cấp chuẩn bị nghênh đón. Một trong những việc chuẩn bị là dọn đường và mở đường.

Thật không may cho đội vệ binh, khi xe của Thống soái gần tới, tự dưng một đàn cừu (chiên) độ khoảng vài trăm con đổ xô lên đường. Đoạn đường độc đạo giờ đây bị đàn cừu (chiên) chiếm lĩnh. Người lãnh đạo sai khiến cho thuộc cấp:

– Bằng mọi thủ đoạn anh em hãy lùa đàn cừu (chiên) rời khỏi mặt đường.

Đội vệ binh dùng đủ mọi cách, kể cả việc dùng súng bắn chỉ thiên để lùa đàn cừu rời khỏi mặt đường nhưng vô vọng!

Xe của Thống soái ngày càng tiến gần, người lãnh đạo đội vệ binh càng thúc dục thuộc cấp của mình, nhưng hình như đàn cừu không màng chi tới những lo ngại của người lãnh đạo và đội vệ binh, chúng vẫn nhởn nhơ vui đùa! Xe của Thống soái dừng lại trước đàn cừu. Người đội trưởng đội vệ binh lúng túng chưa biết xử sự ra sao.

Bỗng từ xa tiếng sáo du dương trầm bổng cất lên. Không cần đuổi, chẳng nhọc công, đàn cừu (chiên) hướng tầm nhìn và ùa chạy về phía tiếng sáo. Hân hoan và vui mừng, chúng quây quần bên người mục đồng nhỏ xíu đang đứng trên gò đất cao.

Đội trưởng đội vệ binh và thuộc cấp thở phào nhẹ nhõm, họ ngỡ ngàng, thán phục người mục đồng. Vị Thống soái mỉm cười và đoàn xe của ông ta từ từ tiến.

Qua mẩu chuyện trên, khi người mục đồng cất tiếng sáo du dương, trầm bổng để quy tụ đàn chiên về quanh mình đã làm cho những người trong đội vệ binh thán phục và ngỡ ngàng. Có thể nói, cho dẫu người mục đồng ấy có tài quy tụ đàn chiên bằng từ ngữ của sáo, nhưng chắc cú một điều, người mục đống không thể nào giúp cho đàn chiên thoát khỏi chết chóc bởi cái hạn chế của chúng, hoặc bảo vệ đàn chiên an toàn gặp phải hổ dữ hay kẻ trộm mạnh sức hơn mình. Giờ đây dưới sự soi dẫn của Chúa Thánh Thần ta chiêm ngắ, và noi gương Người Mục Đồng là chính Đức Giêsu Kitô Phục Sinh qua Kinh Thánh.

Như ta đã biết, chiên và nghề chăn chiên là hình ảnh thực tiễn và thân thiện so với người Do Thái. Vào thời Cựu Ước, chiên là loài vật được dùng vào nghi lễ tạ ơn, hiến tế dâng lên cho Đức Chúa, chiên cũng là thú nuôi mang lại lợi nhuận cho nhân loại, lông chiên được dùng để kiến tạo thành những tấm khăn, cái áo… Người chăn chiên thường được gọi là mục đồng. Họ là những người chăm sóc đàn chiên, họ thường ở với chiên dẫn đàn chiên đến đồng cỏ, suối nước và bảo vệ đàn chiên khỏi những sói dữ và kẻ trộm. Nghề chăn chiên rất cực và đôi lúc phải va chạm với những hiểm nguy để bảo vệ đàn chiên. Vì vậy, Kinh Thánh dùng hình ảnh người chăn chiên và đàn chiên để diễn tả mối tương quan giữa Thiên Chúa với nhân loại nhân loại.

Trước Chúa Giêsu sinh ra trên dưới 800 năm, Ngôn sứ Êdêkien đã tiên báo: “Quả thật, Đức Chúa là Chúa Thượng phán thế này: Đây, chính Ta sẽ chăm sóc chiên của Ta và thân hành kiểm điểm. Như mục tử kiểm điểm đàn vật của mình… Chính Ta sẽ chăn dắt chiên của Ta… Con nào bị mất, Ta sẽ đi tìm; con nào đi lạc, Ta sẽ đưa về; con nào bệnh tật, Ta sẽ làm cho mạnh; con nào béo mập, con nào khoẻ mạnh, Ta sẽ canh chừng. Ta sẽ theo lẽ chính trực mà chăn dắt chúng… Ta sẽ cho xuất hiện một mục tử để chăn dắt đàn chiên…” (Ed 34,11-23)

Trong thư gửi cho giáo đoàn Rôma, Thánh Phaolô đã viết: “Thiên Chúa là nguồn mạch bình an đã đưa Đức Giêsu, Chúa chúng ta ra khỏi cái chết. Đức Giêsu là vị Mục Tử cao cả của đoàn chiên, là Đấng đã đổ máu mình ra để thiết lập giao ước vĩnh cửu…” (Dt 13,20)

Trình thuật sách Khải Huyền giới thiệu Đức Giêsu là Con Chiên và cũng là thủ lãnh của đàn chiên (Ҳ. Kh 7,9-17). Tin Mừng theo Thánh sử Gioan đã trình thuật lời minh định của Đức Giêsu: “Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi, tôi biết chúng và chúng theo tôi. Tôi ban cho chúng sự sống đời đời, không bao giờ chúng phải diệt vong…” (Ga 10,27)

Vâng! Đức Giêsu chính là Mục Tử Nhân Lành. Nhiệm vụ cốt yếu Ngài: Chăn dắt, chăm sóc và vỗ về đàn chiên bằng lời nói, hành động; Ngài thân hành đi tìm những con chiên lạc, băng bó và chữa lành những con chiên bị ốm đau và thương tích. Không những thế, Ngài còn chấp thuận hy sinh, chấp thuận chết đi để cho đàn chiên được cứu và được sống muôn đời. Trước khi bước vào cuộc Tử Nạn Phục Sinh và về trời ngự bên hữu Chúa Cha. Đức Giêsu, Vị Mục Tử Nhân Lành đã hiến chính mình làm thần lương, thần dược nuôi sống và chữa lành đàn chiên, qua việc Ngài thiết lập Bí tích Thánh Thể vào chiều Thứ Năm trước Lễ Vượt Qua.

Hướng về Đức Giêsu, Mục Tử Nhân Lành, trước tiên, ta cảm tạ Thiên Chúa, vì Ngài đã đón nhận ta vào đàn chiên của Ngài, ta cảm tạ Thiên Chúa vì Ngài ban tặng cho ta Vị Mục Tử Nhân Lành luôn hướng dẫn, dưỡng nuôi ta trong từng phút giây của cuộc sống. Đặc biệt, Ngài hằng bảo vệ ta thoát khỏi nanh vuốt của sói dữ tham mồi, dẫn ta tới đồng cỏ xanh non; mang ta tới dòng suối mát trong. Không những thế, Vị Mục Tử Nhân Lành Giêsu ấy còn chấp thuận sống khó nghèo, chấp gian lao, khổ đau và cả chết chóc để chuộc những sai lầm của ta khi vì khờ dại mà ta rời bỏ đàn chiên đi tìm những đồng cỏ lạ, đồng cỏ mang ta tới sự tiêu diệt cả thân xác lẫn linh hồn. Qua chết chóc, Vị Mục Tử Nhân Lành Giêsu đã Phục Sinh khải hoàn. Nhờ sự Phục sinh của Ngài mà ta được thông phần vào đời sống bất tử của Thiên Chúa.

Trong ngày Lễ Chúa Chiên Lành, ta được Giáo Hội mời gọi nguyện cầu cho ơn thiên triệu, nguyện cầu cho hàng linh mục và tu sĩ. Đây là một công việc rất thiết thực và rất có ý nghĩa. Hiện tại, nhiều nước trên toàn cầu đang thiếu hụt trầm trọng ơn gọi trở thành linh mục, tu sĩ… nhiều nơi đang rất cần sự hiện diện của mục tử và tu sĩ để rao giảng Lời Chúa và cử hành các bí tích, nhất là những vùng sâu, vùng xa, những buôn sóc anh em dân tộc thiểu số… Cánh đồng truyền giáo còn bát ngát bát ngát, ta hiệp lời cùng với Giáo Hội cầu xin Chúa ban tặng nhiều thợ gặt lành nghề như lời mời gọi của Đức Giêsu: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít, anh em hãy xin Cha sai thợ gặt ra gặt lúa đem về.” (Mt 9,37-38)

Hoà cùng với Giáo Hội trong ngày Lễ Chúa Chiên Lành, ta đồng cất cao lời cảm tạ Thiên Chúa, trong tâm tình tạ ơn ấy, ta cũng được mời gọi hướng lòng về các vị mục tử, tu sĩ nam nữ và những tâm hồn thiện nguyện với tấm lòng trân quý và cám ơn vì các ngài đã và đang chăm sóc ta trong đời sống đức tin, đời sống nguyện cầu như lời mời gọi của Thánh Phaolô: “Thưa anh em, chúng tôi xin anh em hãy quý trọng những ai đang vất vả vì anh em, để lãnh đạo anh em nhân danh Chúa và khuyên bảo anh em.” (1 Tx 5,12)

Khi nói về hình ảnh và vai trò của người mục tử, ta thường liên tưởng và coi này là nhiệm vụ của hàng linh mục xa hơn nữa là của tu sĩ nam nữ. Theo từ ngữ của Thánh Phêrô, vai trò, nhiệm vụ mục tử được Chúa ân ban cho hết toàn bộ những ai thuộc dân thánh như lời ngài viết cho các giáo đoàn thời Giáo Hội sơ khai: “Anh em là giống nòi được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân thánh, dân riêng của Chúa, để loan truyền những kỳ công của Người, Đấng đã gọi an hem ra khỏi miền u tối, vào nơi đầy ánh sánh diệu huyền…” (1 Pr 2,9)

Có thể nói, qua Cuộc Tử nạn và Phục sinh vinh hiển của Đức Giêsu, ta được thông phần vào đời sống, công việc của Thiên Chúa. Vì vậy, Đức Giêsu là Mục Tử, Ngài cũng trao ban cho ta chức vụ mục tử sau thời điểm ta lãnh nhận Bí tích Rửa Tội, ta được dìm vào ân sủng của Chúa Thánh Thần. Qua ân sủng và chức vụ mục tử ấy, ta có bổn phận, trách nhiệm chăn dắt, chăm sóc và bảo vệ đàn chiên là gia đình, cộng đoàn… Không chỉ là toàn vẹn bổn phận, trách nhiệm của người mục tử, nhưng qua nhiệm vụ ta được mời gọi trở thành ánh sáng dọi chiếu Tin Mừng cho thế gian theo lệnh truyền Đức Giêsu: “Ta đã đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân, để ngươi nên ơn cứu độ cho đến tận cùng trái đất.” (Cv 13,47)

Thiên Chúa là Đấng giàu lòng Nhân Ái, nhưng cũng rất công minh. Vì vậy, khi có ân thưởng thì cũng có luận phạt, còn đó lời thông báo, lời hạch tội của Thiên Chúa, Đấng đã ưu ái trao ban cho ta chức vụ mục tử, qua miệng Ngôn sứ Êdêkien: “Đức Chúa là Chúa thượng phán thế này: Khốn cho các mục tử Israel, những kẻ chỉ biết lo cho mình! Nào mục tử không phải chăn dắt đàn chiên sao? Sữa các ngươi uống, len các ngươi mặc, chiên béo tốt thì các ngươi giết, còn đàn chiên lại không lo chăn dắt. Chiến đau yếu các ngươi không làm cho mạnh; chiên bệnh tật, các ngươi không chữa cho lành; chiên bị thương, các ngươi không băng bó; chiên đi lạc, các ngươi không đưa về; chiên bị mất, các ngươi không chịu đi tìm. Các ngươi thống trị chúng một cách tàn bạo và hà khắc. Chiên của ta tán loạn và biến thành mồi cho mọi dã thú. Vì thế hỡi các mục tử, hãy nghe lời Đức Chúa. Ta chống lại các mục tử. Ta sẽ đòi lại chiên của Ta, Ta sẽ không để chúng chăn dắt chiên của Ta. Ta sẽ giải thoát các chiên của Ta…” (Ed 34,1-10)

Để giúp ta trở thành người mục tử như lòng Chúa ước mong, người mục tử luôn biết quảng đại, hy sinh và hiến thân mình cho đàn chiên, thiết tưởng, không có đoạn đường nào khác ngoài đoạn đường ta chạy đến với Đức Giêsu, Vị Mục Tử Tối Cao, vì Ngài đã phán: “Hỡi những ai khó nhọc và gánh nặng, hãy đến đây Ta sẽ nâng đỡ, bổ sức cho các con. Các con hãy học cùng Ta, vì Ta có lòng hiền hậu và khiêm nhường.” (Mt 11,28)

Lạy Chúa Giêsu, Vị Mục Tử Nhân Lành! Con cảm tạ Chúa đã chăm sóc con và gia đình con, ngay cả khi con rời bỏ Chúa để đi tìm những đồng cỏ nơi thế gian, vậy mà Chúa vẫn yêu thương mang dẫn con trở về và trao ban cho con chức vụ mục tử.

Xin Chúa dạy và giúp con toàn vẹn bổn phận mục tử mà Chúa đã trao ban. Xin giúp đời con biến thành những tiếng sáo du dương, trầm bổng để quy tụ đàn chiên mà Chúa trao cho con là người dẫn dắt. Amen.

 

74. Sống tốt ơn gọi được lãnh nhận

Cùng với Giáo hội ngày hôm nay tất cả chúng ta bước vào Chúa nhật thứ 4 Phục sinh của năm Phụng vụ 2010. Như tất cả chúng ta đã biết, vào mỗi Chúa nhật thứ 4 Phục sinh hằng năm Giáo hội tôn vinh Chúa Giêsu với tên gọi: mục tử nhân lành. Chính Chúa Giêsu đã tự xưng mình là mục tử nhân lành – mục tử hiến mạng sống mình vì đoàn chiên. “Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng và chúng theo tôi. Tôi ban cho chúng sự sống đời đời” (Ga 10, 27 – 28a).

Chúa Giêsu đến trần gian này để hoàn tất chương trình cứu độ nhân loại. Ðó là ơn gọi đặc biệt mà Chúa Giêsu được đón nhận từ Thiên Chúa Cha. Và Người đã hoàn tất ơn gọi ấy thật tuyệt vời.

Chúa nhật ngày hôm nay cũng là ngày mà cả Giáo hội nguyện cầu cho có nhiều bạn trẻ dám đáp lại ơn mời chào của Chúa để sống đời sống tu trì. Sống ơn gọi tu trì hầu tận hiến trọn vẹn cho Chúa và cho anh chị em mình.

Nói đến ơn gọi tu trì thì hình như ngày nay nhiều bạn trẻ Thiên chúa giáo cảm thấy sợ. Có vẻ họ sợ là vì họ chưa dám sống tích cực ơn gọi chung. Ơn gọi chung ấy chính là ơn gọi làm người và ơn gọi làm người con Thiên Chúa. Khi ý thức để sống trọn vẹn được 2 ơn gọi cơ bản này, các bạn trẻ sẽ đơn giản đón nhận ơn gọi sống đời tu trì. Chính môi trường gia đình là những người trước tiên gieo mầm sống ơn gọi này.

Ðời sống chứng tá khơi dậy các ơn gọi. Ðây là đề tài của Sứ điệp ơn gọi năm nay của Ðức Thánh Cha Bênêđictô. Trong sứ điệp này ngài đề cập đến ba việc cần làm để trở thành chứng tá khơi dậy các ơn gọi nhất là ơn gọi tu trì.

Ðời sống nguyện cầu là chứng tá trước tiên. Ðó là một gia đình thường xuyên nhắc nhở nhau đi dâng Thánh lễ nhất là Thánh lễ Chúa nhật. Cũng vậy, trong nhà ấy mỗi người nhắc nhở nhau đọc kinh hôm kinh mai chung.

Một đời sống tin tưởng và phó thác trọn vẹn cho Thiên Chúa là khía cạnh thứ hai trong việc làm chứng tá khơi dậy các ơn gọi. Với toàn bộ biến cố vui buồn trong cuộc sống luôn biết tìm thấy và đón nhận thánh ý Thiên Chúa một cách vui vẻ.

Khía cạnh thứ ba không kém phần trọng yếu là biết sống hiệp thông với mọi người. Tự bản chất nhân loại được dựng nên để sống chung, sống cùng, sống với và sống cho người khác. Do vậy, người nào muốn trở thành người thật sự cần sống tốt những điều này.

Mặc dầu, trên đây là những điều cơ bản trong việc làm chứng tá khơi dậy các ơn gọi nhất là ơn gọi tu trì nhưng thiết nghĩ đây cũng là điều hết sức thiết yếu cho mỗi người tín hữu. Bởi vì, cho dù có đi tu hay không mỗi người tất cả chúng ta đều được kêu mời sống trọn vẹn ơn gọi làm người và làm con Thiên Chúa.

 

75. Ta và Cha là một

(Suy niệm của Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm, SJ.)

Trước khi Đức Yêsu Phục Sinh xuất hiện cho các chị phụ nữ, không ai dám tin Ngài sống lại kể cả các tông đồ. Các tông đồ chỉ tin Chúa Phục Sinh vào buổi chiều ngày thứ nhất ngày Ngài sống lại (Ga.20, 19-24), còn ông Thomas chỉ tin Đức Yêsu phục sinh sau thời điểm Chúa Phục Sinh xuất hiện cho ông tám ngày sau đó (Ga.20, 25-29).

Trước khi Ngài phục sinh, khi còn sống đời dương thế, người ta tưởng Ngài là một vị tiên tri, tối đa là Đấng Kitô Vua. Còn những lời Ngài mặc khải về chân tướng của Ngài thì chẳng ai hiểu, ví dụ “Ta và Cha là một” (Ga.10, 30). Khi nghe Ngài nói câu này, người Do Thái lấy đá ném Đức Yêsu: “chúng tôi ném đá ông không phải vì việc tốt ông làm, nhưng vì một lời phạm thượng, ông là người phàm mà dám cho mình là Thiên Chúa” (Ga.10, 33).

Sau biến cố Đức Yêsu Phục Sinh, các tông đồ nhớ lại những điều Đức Yêsu đã nói. Các ông nhận thấy Đức Yêsu còn hơn là một vị tiên tri, còn hơn là một Kitô Vua. Ngài là Đấng mà Ngài đã từng mặc khải: Ngài và Cha là một (Ga.10, 30), Ngài ngự bên hữu Thiên Chúa, ngang hàng với Thiên Chúa (Mc.14, 62), Ngài có trước Abraham (Ga.8, 57-58), Ngài có quyền tha tội (Mc.2, 5.7). Toàn bộ các Tin Mừng đều được viết sau biến cố Đức Yêsu chết phục sinh. Sau khoảng thời gian Đức Yêsu chết phục sinh, các tông đồ rao giảng Đức Yêsu Phục Sinh; các Kitô hữu tiên khởi tin vào Đức Yêsu, họ đã hỏi về Đức Yêsu nơi các tông đồ. Những chuyện kể về Đức Yêsu được truyền tụng, và những bản ghi lại chuyện về Đức Yêsu do các tông đồ kể được tạo dựng. Các sách Tin Mừng đã dùng vật liệu là những chuyện kể truyền khẩu và thành văn để viết sách Tin Mừng. Toàn thể Tân Ước đều được viết dưới ánh sáng biến cố tử nạn phục sinh. Những lời mặc khải của Đức Yêsu về chân tướng của Ngài, chỉ được hiểu và viết lại sau thời điểm Đức Yêsu đã chết và phục sinh, khi các tông đồ và các Kitô hữu tiên khởi nhận thấy Đức Yêsu còn hơn là một nhân loại.

Đức Yêsu là một nhân loại hoàn toàn, và còn hơn là một nhân loại. Ngài là một với Thiên Chúa, Ngài ngang hàng với Thiên Chúa cùng với Thánh Thần. “Làm phép rửa cho họ nhân danh Cha, Con, và Thánh Thần” (Mt.28, 19) là niềm tin của các Kitô hữu tiên khởi. Tin Mừng Gioan đã hiểu Đức Yêsu là Lời nhập thể (Ga.1, 14). Bài thánh ca trong thư của thánh Phaolô gởi tín hữu Philíp cho thấy niêm tin của Kitô hữu sơ khai: Đức Yêsu phận là phận Thiên Chúa nhưng đã tự hủy mình (Pl.2, 6).

Niềm tin vào Đức Yêsu Phục Sinh thay đổi cuộc sống của Phaolô. Tin vào Đức Yêsu Phục Sinh quả là tin mừng so với Phaolô và so với mọi người, nên Phaolô và Barnaba đã được thôi thúc để rong ruổi khắp nơi rao giảng Tin Mừng Phục Sinh. Cho dù gặp khó khăn, bị chống đối, vất vả gian truân, nguy hiểm đến tính mạng, Phaolô vẫn kiên trì rao giảng Tin Mừng. Khốn cho tôi, nếu tôi không rao giảng Tin Mừng. Nếu Đức Yêsu chỉ là một nhân loại, cho dù là tài trí và trổi vượt, thì cũng không đáng để Phaolô phải bôn ba và hy sinh tính mạng để rao giảng. Rao giảng tin mừng, là hành vi giúp nhân loại được cứu độ. Cũng chính vì thế Tin Mừng Đức Yêsu đã thúc bách Phaolô rao giảng. Kể từ khi biết Đức Yêsu, tôi coi mọi sự như thua lỗ bất lợi, trước cái lợi tuyệt vời là được biết Đức Yêsu Kitô Chúa tôi, vì Ngài tôi đành mất toàn bộ để được Yêsu.

Ngày hôm nay là Chúa Nhật thứ tư Phục Sinh, Giáo Hội theo truyền thống nguyện cầu cho ơn thiên triệu làm linh mục tu sĩ. Ngày nay, Thiên Chúa vẫn cần phải có nhiều người quảng đại xả thân để lo cho dân Chúa trên khắp toàn cầu. Ngài vẫn mời chào nhân loại hợp tác với Ngài, để giúp nhân loại nhận thấy Đức Yêsu là tình yêu của Thiên Chúa cho nhân loại, để họ có thể sống bình an hạnh phúc.

Những người thuộc về Đức Yêsu, và nhất là những người sống đời dâng hiến, là những người được Ngài yêu thương một cách đặc biệt. “Đức Yêsu biết đã đến giờ Ngài phải bỏ thế gian mà đến cùng Thiên Chúa Cha, đã yêu mến những kẻ thuộc về Người còn ở thế gian, thì Ngài yêu thương họ đến cùng”. Sau khoảng thời gian Phục Sinh, Đức Yêsu đã quan tâm săn sóc các tông đồ, đặc biệt khi họ đánh cá suốt đêm mà không bắt được gì, Ngài đã hiện diện bên bờ hồ để chuẩn bị bữa sáng cho họ. Lời Chúa ngày hôm nay cũng cho những người thuộc về Chúa rất được an ủi: “chiên của tôi thì nghe tiếng tôi, tôi biết chúng và chúng theo tôi. Tôi ban cho chúng sự sống đời đời, không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi. Cha tôi, Đấng ban chúng cho tôi, thì lớn hơn tất cả, và không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha” (Ga.10, 27-29).

Thánh Phaolô diễn tả cùng một thái độ xác tín mình được Thiên Chúa thương, đến độ Ngài nói: “cho dù sự sống sự chết, thiên thần thiên phủ, hiện tại tương lai, không có gì tách tôi ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa, trong Đức Kitô” (Rm.8, 38-39). Những người được Thiên Chúa yêu thương được đảm bảo sống trong tình yêu của Ngài. Không ai có thể làm gì được họ,ngay cả khi người ta giết họ, thì họ vẫn luôn được ở trong tình yêu của Thiên Chúa.

Đi theo Chúa, không có nghĩa rằng không có thập giá trên đường; tuy nhiên, những người sống đời dâng hiến là những người dõi bước theo sát Đức Yêsu, chấp thuận vác thập giá mình để đi theo Đức Yêsu. Họ được mời gọi để sống mầu nhiệm tử nạn và phục sinh. Mỗi ngày họ được mời gọi để chết cho mình, với những ý riêng và hy sinh từ bỏ, để họ cũng được hưởng niềm vui phục sinh của Chúa. Nếu họ chưa triển nở và hạnh phúc, e rằng họ đã quên chưa bước theo thầy chí thánh, bằng tự hủy từ bỏ mỗi ngày.

Những người được Thiên Chúa gọi, là để sống với Ngài và để được Ngài sai đi rao giảng. Sống với Đức Yêsu, học theo lối sống của Ngài, để rồi trở thành người mang tin vui bình an tới cho mọi người. Tất cả chúng ta nguyện cầu để những người được Thiên Chúa kêu mời quảng đại đền đáp lời Ngài, trở nên những nhà truyền giảng tin mừng, cũng như trở nên những mục tử lo phục vụ dân Chúa. Xin cho những người sống đời sống dâng hiến được sống triển nở và hạnh phúc, để đời sống của họ là lời chứng Thiên Chúa hiện diện và yêu thương.

Thắc mắc gợi ý chia sẻ

  1. Vì sao các tông đồ tin Đức Yêsu là Thiên Chúa nhập thể?

  2. Tin Đức Yêsu là Thiên Chúa, nhân loại được gì?

  3. Theo bạn, làm sao để có nhiều bạn trẻ đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa, trở nên mục tử nhân hậu như Ngài hằng mơ ước?

Xem Thêm  Thuốc Uống Trắng Da Của Mỹ Relumins Advance White 1650mg, giá tốt - thuốc ngựa trắng

 

76. Ơn gọi – Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm

Ngày hôm nay Hội Thánh nguyện cầu cho ơn thiên triệu linh mục và tu sĩ. Xin cho nhiều người trẻ quảng đại đền đáp lời kêu mời của Thiên Chúa, để mang ơn cứu độ của Thiên Chúa cho nhân loại thời kì.

Tôi ban cho chúng sự sống đời đời

“Con chiên tôi thì nghe tiếng tôi, tôi biết chúng và chúng theo tôi. Tôi ban cho chúng sự sống đời đời, và chúng sẽ không hư mất”.

Ơn gọi tu sĩ linh mục cốt yếu là để “sống với Chúa, và để Ngài sai đi” (Mc.3, 14). Sống với Chúa, là lắng nghe tiếng Ngài trong từng giây phút sống, để nên một với Ngài trong gian truân và hạnh phúc. Để Ngài sai đi, là sẵn sàng đi theo đoạn đường Ngài đã đi, thực thi sứ mệnh Ngài trao bỏ mặc những gì xảy ra.

Thiên Chúa yêu thương nhân loại, Ngài muốn toàn bộ được cứu độ (1Tm.2, 4). Ngài muốn ban sự sống đời đời cho toàn bộ mọi người. Sự sống đời đời khởi đầu ngay ở đời này. Nếu nhân loại sống theo tiếng Chúa, theo lương tâm, thì người ấy được bình an. Bình an là điều kiện nền tảng để hạnh phúc.

Không ai có thể giựt chúng khỏi tay Cha tôi

“Không ai có thể giựt chúng khỏi tay tôi, vì Cha tôi đã ban chúng cho tôi, và Ngài lớn hơn tất cả, và không ai có thể giựt chúng khỏi tay Cha tôi. Cha tôi và tôi là một”.

Ơn gọi rất mong manh, và tưởng chừng ai cũng có thể phá huỷ được; nhưng thực sự không như vậy. Không ai có thể huỷ ơn gọi của một người, nếu không phải chính người đó cố ý phá huỷ. Thiên Chúa luôn trung thành, Ngài gọi ai thì Ngài mãi mãi trung thành. Ngài không thay đổi, Ngài không chỉ gọi ai một thời gian rồi thôi không gọi nữa. Nếu Ngài gọi ai, Ngài mãi mãi trung thành. Ơn gọi cũng như tình yêu, như được nối kết ràng buộc bởi “tơ trời” có vẻ rất mong manh nhưng vô cùng chắc cú.

Ơn gọi không khởi đầu do nhân loại, nên cũng không thể tiếp tục nếu chỉ tự sức nhân loại. Thiên Chúa luôn ở với người Ngài chọn và gọi, để nâng đỡ và bảo vệ người Ngài tuyển chọn. Rõ ràng và cụ thể, Thiên Chúa vẫn hay dùng những phương tiện nhân loại, để gọi và bảo vệ những người được Ngài mời chào.

Dụng cụ ban ơn cứu độ

Thánh Phao-lô và Barnabas được tuyển chọn để sai đi. Hai ngài đã trở thành phương tiện Thiên Chúa dùng để mang ơn cứu độ cho những người sẵn sàng mở lòng đón nhận Tin Mừng. Cuộc sống của Phaolô rất gian truân, nhưng Phaolô vẫn vui và hạnh phúc. Phaolô đã từng bị ném đá, bị đắm tàu tưởng chết, nhưng Phaolô vẫn kiên vững trong sứ mệnh được trao.

Ơn cứu độ của nhân loại, là chính Thiên Chúa. Được Thiên Chúa, nghĩa là, được Thiên Chúa ở cùng, được chia sẻ sự sống với Thiên Chúa, là được ơn cứu độ.

Mỗi người có thể là dụng cụ Thiên Chúa dùng để mang ơn cứu độ cho những người sống xung quanh mình. Xin cho mỗi người nhận thấy ơn gọi của mình, để hạnh phúc và trở thành dụng cụ Thiên Chúa dùng để đến với nhân loại ngày hôm nay.

Thắc mắc gợi ý chia sẻ:

  1. Ơn gọi là gì? Làm sao biết một người có ơn gọi tu sĩ hoặc linh mục?

  2. Ơn gọi linh mục, tu sĩ và ơn gọi hôn phối, ơn gọi nào cao quý hơn? Vì sao?

  3. Làm sao để nuôi dưỡng và phát triển ơn gọi tu sĩ hoặc linh mục?

 

77. Chiên Ta thì nghe tiếng Ta – Lm. Thu Băng

Bên Ấn Độ, người ta bắt khỉ bằng cách làm một cái hộp gỗ, có một cái lỗ nhỏ vùa đủ để khỉ thọc tạy vào. Nhưng nếu nó nắm một hạt dẻ đựng trong hộp thì nó không thể lấy tay ra được. Do đó khỉ có thể chọn một trong hai việc: Buông hạt dẻ để có thể chạy thoát, hoặc nắm lấy hạt dẻ để bị tóm gọn. Nhưng khỉ thường nắm chắc hạt dẻ, vì nó không thể hiểu được mánh lới người ta gài bẫy để bắt nó.

Trong đoạn Tin Mừng ngày hôm nay Chúa Giêsu cũng mang ra một cuộc lựa chọn cho người Do Thái. Họ trách Chúa để họ nghi nan, để họ thắc mắc Chúa có phải là Đấng Thiên Sai không. Chúa không trả lời trực tiếp nhưng dùng thí dụ: “Chiên Ta thì nghe tiếng Ta. Ta biết chúng và chúng theo Ta. Ta và chiên Ta là một”.

Chúa Giêsu muốn nói cho người Do Thái biết rằng Đức Tin là dấu hiệu của người được Chúa tuyển chọn. Đức Tin ban cho nhân loại khả năng nhận thấy tiếng Chúa để mà bước theo. Chiên có đôi mắt nhìn kém, nhìn xa không rõ, nên nó phải đi theo nhau thành đàn và lắng nghe tiếng chủ chăn mà đi, không theo tiếng người lạ.

Ngày nay đức tin nơi nhân loại bị giảm sút, sống trong một xã hội thưởng thức vật chất, thích lịch lãm, ưa nhàn hạ, vui sướng, người ta muốn loại bỏ Thiên Chúa, cũng như con khỉ muốn thủ lợi, bám chặt lấy hạt dẻ mà không muốn buông ra để khỏi bị lụy vào thân. Cái mồi vinh hoa phú quý vẫn có thể chụp bắt tất cả những ai (từ trẻ thơ cho tới người râu tóc bạc phơ), lao mình vào chết chóc.

Mùa Phục Sinh là thời gian đón mừng sự sống thần linh, đón mừng người biết nhắm mắt nghe theo tiếng Chúa, biết lựa chọn, biết sống theo sự hướng dẫn của Tin Mừng, của Chúa Kitô tử giá. Tiếng Chúa đang kêu mời tất cả chúng ta bỏ đi lối sống lịch lãm, tham vọng, bỏ đi lối sống ngang trái, vụng trộm, lừa lọc….. và nhiều lối sống khác tất cả chúng ta đang có thể mắc phải. Bỏ đi được tất cả chúng ta mới có thể bước theo Chúa Kitô và tìm lại được sự sống đời đời và đảm bảo không mất.

Lạy Chúa là Cha chúng con, Cha đã dựng nên chúng con và ban cho ơn sự sống, ơn đức tin, để chúng con tìm hiểu và suy tư về ơn Chúa mà suy phục, mà nghe theo tiếng Chúa. Vậy xin Cha giúp chúng con biết lắng nghe tiếng Ngài. Xin giúp chúng con biết toàn vẹn plan mà Cha đã định, để chúng con được sống hạnh phúc bên Cha mãi mãi.

 

78. Chúa Giêsu, người chăn chiên nhân lành

(Suy niệm của Lm. Nguyễn Ngọc Long)

Hình ảnh Chúa Giêsu, người chăn chiên nhân lành, ăn rễ sâu trong đời sống đức tin đạo Thiên chúa giáo từ thời Giáo Hội sơ khai thuở ban đầu.

Hình ảnh này là kim chỉ nam cùng là mẫu gương cho đời sống Giáo hội Chúa Giêsu ở trần gian từ xưa nay.

Hình ảnh này không chỉ là một hình ảnh đẹp thơ mộng, đầy văn chương thi vị, nhưng là hình ảnh sống động chứa chan tình yêu thương trong tương quan liên đới người chăn chiên lo cho đàn chiên.

Đức giáo hoàng Benedictô 16. trong tác phẩm “Giêsu thành Nadarét”, mà ngài vừa mới viết xong, và cho xuất bản dịp mừng sinh nhật thứ tám mươi ngày 16.04.2007 vừa qua, đã diễn tả hình ảnh này vừa theo lối văn chương suy tư thần học, vừa tâm tình đức tin và vừa theo phương pháp phân tích khoa học.

“Chúng ta trở lại chương 10. Phúc âm Thánh Gioan nói về người Chăn chiên: “Thầy là người chăn chiên nhân lành”. Bài tường thuật lịch sử này vẽ lên sắc nét hình ảnh người chăn chiên, cùng chứa đựng bốn động lực cơ bản.

– Chúa Giêsu, người chăn chiên nhân lành hứa ban: sự sống đầy đủ dồi dào. Sự sống đầy đủ dồi dào như mỗi người mong đợi. Nhưng điều này là gì vậy? Đâu là nội dung của sự sống đó? Nơi nào ta có thể tìm kiếm được sự sống đó? Khi nào và như vậy nào tất cả chúng ta có “sự sống đầy đủ dồi dào”? Nếu tất cả chúng ta cứ sống như người con hoang đàng, tất cả chúng ta có bỏ lỡ món qùa tặng của Thiên Chúa không? Nếu tất cả chúng ta sống như kẻ ăn trộm, như kẻ cướp – toàn bộ chỉ cho mình, thì sao?

Chúa Giêsu hứa, Ngài sẽ hướng dẫn lối cho các con chiên tìm tới “đồng cỏ”, nơi đó có thức ăn, có nguồn nước cho đời sống. Thánh Vịnh 23 nói với tất cả chúng ta: “Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ.

Người mang tôi tới dòng nước trong lành…Chúa dọn sẵn cho con buổi tiệc…

Lòng nhân hậu và tình thương Chúa ấp ủ tôi suốt cả cuộc sống,” (Tv 23, 2.5f)

Tiên tri Edêkien cũng diễn tả: “Ta sẽ chăn dắt chúng trong đồng cỏ tốt tươi và chuồng của chúng sẽ ở trên các núi cao Ít-ra-en. Tại đó chúng sẽ nằm nghỉ trong chuồng êm ái, sẽ đi ăn trong đồng cỏ mầu mỡ trên núi non Ít-ra-en” (Ez 34,14)

Nhưng toàn bộ những điều đó có ý nghĩa gì? Tất cả chúng ta biết, những con chiên sống bằng gì; nhân loại sống bằng gì?

Các Tổ phụ cha ông ngày xưa đã dùng hình ảnh trong vùng cao nguyên núi đồi bên quốc gia Israel có những cánh đồng cỏ ở nơi cao, nơi đó có bóng râm che rợp, có nước, làm hình ảnh của Lời Thiên Chúa cho sự sống trong Kinh Thánh. Và nếu hình ảnh đó không phù hợp với ý nghĩa lịch sử, như trong bài diễn tả, các ngài cũng từng nhìn đúng, nhất là Chúa Giêsu đã tự hiểu về mình đúng như vậy. Nhân loại sống bằng sự chân thực, bằng được yêu thương, bằng được yêu thương trong sự chân thực. Nhân loại cần một Thiên Chúa thân thiện bên cạnh họ, một Thiên Chúa cho ý nghĩa đời sống, một Thiên Chúa hướng dẫn đường đời sống.

Tất nhiên, nhân loại cần cơm bánh, cần của ăn thức uống cho thân xác. Nhưng họ cần điều gì thâm sâu hơn, nhất là Lời, tình yêu và chính Thiên Chúa. Ai trao cho người nào điều đó, người đó trao tặng “sự sống dồi dào”. Như vậy mang đến sức mạnh, qua đó người làm cho đời sống trên mặt đất đầy đủ ý nghĩa.

– Động lực thứ hai của bài tường thuật về người chăn chiên nhân lành trổ tài qua biến chuyển mới: Người chăn chiên nhân lành hiến mạng sống mình cho đoàn chiên” (10,11). Thánh gía chiếm trung tâm điểm của đời sống người chăn chiên nhân lành không phải như hành động của sức mạnh ép buộc, nhưng là sự tự hy sinh hiến thân: “Ta hiến mạng sống mình để lấy lại. Mạng sống của Ta không ai lấy đi được, nhưng chính ta tự ý hy sinh mạng sống.” (10,17)

Trong Bí tich Thánh Thể, Chúa Giêsu đã thay đổi hành động sức mạnh ép buộc bị đóng đinh trên thánh gía thành cử chỉ tự hiến thân hy sinh cho người khác.

– Động lực thứ ba của bài tường thuật về người chăn chiên nhân lành dấu hiệu qua sự biết nhau giữa người chăn chiên và đàn chiên: “… người chăn chiên gọi các con chiên của mình, anh ta biết tên từng con chiên và dẫn chúng ra ngoài. Các con chiên theo anh ta, chúng quen biết tiếng của người chăn dắt chúng. (10,3).

Người chăn chiên biết các chiên mình thuộc về mình, và các con chiên biết mình thuộc về người chăn chiên. Người chăn chiên sở hữu các con chiên không phải như bất kể đồ vật cần dùng nào. Chúng thuộc về anh ta vì anh ta biết chúng. Điều này dấu hiệu mối liên quan mật thiết sâu thẳm hơn là sở hữu một món đồ vật.

Con cháu không là vật sở hữu của cha mẹ; vợ chồng không là sở hữu của một người khác. Nhưng họ thuộc về nhau theo chiều tâm linh sâu thẳm hơn là sở hữu quản lý một khúc gỗ, một miếng đất. Con cháu thuộc về cha mẹ, nhưng dẫu vậy chúng vẫn là thụ tạo tự do của Thiên Chúa tạo dựng. Đời sống mỗi người con có một sứ mệnh riêng, có một điều mới riêng, có một bản vị riêng trước mặt Thiên Chúa.

Con cháu cha mẹ thuộc về nhau không phải như vật sở hữu, nhưng có trách nhiệm với nhau. Họ thuộc về nhau trong tự do và trong tình yêu thương cho nhau.

– Động lực thứ tư của bài tường thuật về người chăn chiên nhân lành dấu hiệu qua sự hiệp nhất nên một “Ta còn tồn tại những chiên khác không thuộc về đàn này. Ta cũng phải mang chúng về. Chúng sẽ nghe tiếng ta. Và sẽ chỉ có một đàn chiên và một mục tử. (10,16).

Chúa Giêsu, sau thời điểm sống lại, sai các Tông đồ đi rao giảng không chỉ nghĩ đến những con chiên lạc đàn ở Israel, nhưng đến toàn bộ mọi người: “Anh em là nhân chứng cho Thầy ở Giêrusalem, toàn miền Giudea, Samaria và tới tận cùng biên cương trái đất” (Cv 1,8)

Nguyên nhân sâu thẳm của sứ mệnh sai đi rao giảng tập trung ở điểm: Chỉ có một đàn chiên.. Ngôi Lời (Logos) đã thành người qua Chúa Giêsu, là người chăn chiên của hết mọi người. Toàn bộ mọi người được tạo thành do Lời của Thiên Chúa. Cho dù họ có tản mát khắp nơi, nhưng vẫn là một phát xuất từ nơi Thiên Chúa và rồi lại quy tụ về nơi Ngài. Trong Ngôi Lời (Logos) loài người có thể quy tụ trở nên một, đấng là người chăn chiên đích thực, đấng đã làm người hy sinh hiến mạng sống, và đã trao tặng sự sống dồi dào.

Hình ảnh người chăn chiên từ thời xa xưa, vào thế kỷ thứ 3 đã ăn sâu đậm nét vào đời sống Kitô giáo. Hình ảnh này thân thương thân thuộc trong đời sống ở thành thị lẫn thôn quê. Kitô giáo đã tìm thấy hình ảnh này nơi Thánh vịnh 23: “Chúa là mục tử. Nơi Ngài tôi không còn thiếu gì. Người dẫn tôi ra đồng cỏ xanh tươi. Người dẫn tôi đi qua thung lũng tối tăm hiểm nguy…”.

Nơi Chúa Giêsu Kitô họ nhận thấy hình ảnh người chăn chiên nhân lành, người trong đời sống đã trải qua những thung lũng tối tăm. Người chăn chiên đó đã trải qua đêm đen tối sự chết, người chăn chiên biết đường đi qua đêm tối sự chết, không bỏ ai một mình đơn cô, nhưng dẫn mang đến đồng cỏ sự sống xanh tươi, nơi có ánh sáng bình an..

Người tín hữu Chúa Giêsu Kitô cũng không quên dụ ngôn người chăn chiên đi tìm con chiên lạc. Khi tìm thấy, anh ta vác bế nó trên vai mang trở về nhà. Với các Giáo phụ hai hình ảnh này đan bện vào nhau: người chăn chiên lên đường đi tìm con chiên lạc đàn là chính Ngôi Lời, và con chiên lạc bồng bế trên vai mang về nhà là loài người, mà Ngài đón nhận.

Qua nhập thể làm người và qua chết chóc trên thánh gía, Chúa Giêsu đã bồng ẵm con chiên lạc – là loài người, trở về nhà. Ngôi Lời đã thành người. Ngài là người chăn chiên và bồng bế con chiên, cùng là người theo sát cuộc sống nhân loại trần gian qua mạo gai và sa mạc đời sống. Nhờ được Ngài chấp thuận bồng ẵm tất cả chúng ta trở về nhà. Ngài đã hy sinh mạng sống cho tất cả chúng ta. Ngài chính là sự sống.” (Joseph Ratzinger- Benedickt XVI., Jesus von Nazareth, Ι., 2007 Verlag Herder, Freiburg im Bresgau, 8. Kapitel – Der Hirte, Ş. 317 – 331)

 

79. Chúa Nhật Chúa Chiên Lành

Các em vừa nghe đọc Tin Mừng của thánh Gioan, nhưng lúc này, thầy chỉ chọn một câu để chia sẻ với các em thôi. Và để các em nhớ và thuộc câu này, thầy mời gọi các em cùng đọc với thầy: “Con chiên ta thì nghe tiếng Ta, Ta biết chúng và chúng theo Ta”.

  1. Trong câu Lời Chúa các em vừa đọc, thánh Gioan có nhắc đến tên một loài vật, con này là con gì? TL: Chiên. Các em biết, ngày hôm nay là Chúa Nhật IV Phục sinh, còn tồn tại tên gọi là Chúa Nhật Chúa Chiên Lành. Chúa dùng hình ảnh thân thuộc của người Do Thái là con chiên và người chăn chiên để nói lên Chúa luôn yêu thương và quan tâm chăm sóc các em trong cuộc sống hằng ngày. Chúa thì thương lo cho mình, còn mình là thiếu nhi phải đáp lại thế nào đây?

Trong câu Lời Chúa các em vừa đọc, Chúa dạy mình đáp lại bằng cách nghe và theo Chúa, theo thầy, rõ ràng qua việc đến nhà thờ học giáo lý mỗi Chúa Nhật.

  1. Ở đây, các em học giáo lý lúc mấy giờ, thứ mấy? Học giáo lý chính là theo Chúa và nghe Chúa. Thế nhưng, đang lúc các em học giáo lý, có những bạn khác không nghe theo tiếng gọi của Chúa mà theo những tiếng khác để đi chơi game, đi đá banh, đi đám cưới với bố mẹ, đi siêu thị với người thân… Còn cũng có những em tốt hơn chút, cũng đi học giáo lý, nhưng lúc dì hay giáo lý viên cắt nghĩa giáo lý, em đánh cờ carô với bạn, em thọt léc bạn bên cạnh, em ngồi ngủ, hoặc lo ra nghĩ chuyện đâu nơi nào đó. Này là những hành động cho thấy em hỏng muốn nghe tiếng Chúa.

Các em thân mến! Nguyên nhân các em không muốn đi học giáo lý và chơi giỡn trong giờ giáo lý vì mình chưa thấy sự trọng yếu của việc học giáo lý. Thầy nói cho em biết học giáo lý trọng yếu thế nào qua bài cám ơn của một em rước lễ lần đầu ở họ đạo thầy: ” Sau khoảng thời gian rước lễ lần đầu xong, một em thiếu nhi đứng giữa nhà thờ đọc bài cám ơn, rất đông người trong nhà thờ đang lắng nghe, sau thời điểm cám ơn Cha sở, các giáo lý viên, em khởi đầu cám ơn cha mẹ em: Kính thưa cha mẹ, cha mẹ thương con nhiều, con không biết cha thương con đến mức nào nhưng con hiểu được tình thương bát ngát của mẹ qua những lần trời mưa to,mẹ vẫn mặc áo mưa, chạy xe đạp chở con đến nhà thờ để học giáo lý. Trong những bước tiên phong đời của con đến với Chúa, mẹ đã đon đả quan tâm mang đón, thì con tin rằng mẹ sẽ là chỗ tựa đức tin vững chắc cho cuộc sống của con sau này”. Và khi em đọc đến đó, người ta thấy nhiều giọt nước mắt đang lăn dài trên má của các bà mẹ tham gia lễ ngày hôm đó.

Các em thiếu nhi thân mến, không cần nói nhiều, trời mưa mà mẹ vẫn chở em đi học giáo lý cho thấy việc học giáo lý cần hơn, trọng yếu hơn việc chơi game, đi đá banh, đi siêu thị, đi học thêm. Vì học giáo lý làø nghe tiếng Chúa, là đi theo Chúa mà.

Kính thưa OBACE! Trời mưa, một bà mẹ nhà quê chở con đi học giáo lý, OBACE thấy có dại dột quá không? Dại hay không thì chưa biết nhưng bà hiểu được đúng đắn rằng dù con là do mình sinh ra nhưng thực sự nó là con cháu Thiên Chúa, nó phải cần được học giáo lý để biết cha nó là ai và học giáo lý để biết sống làm sao mai này về hưởng phước với cha nó. Đến giờ con học giáo lý, nó đòi đi học thêm, mình là cha là mẹ chiều nó, sợ nó học thua các bạn. Sau này, nó có thể thành tài đó, nhưng nó không biết cách làm con Chúa, không biết lối sống đạo cho tử tế, mất phần rỗi linh hồn, trách nhiệm nó, bậc làm cha làm mẹ phải trả lẽ trước mặt Chúa. Còn trái lại, nếu mình biết quan tâm cho con cháu đi học giáo lý nghiêm chỉnh, nó học biết mến Chúa yêu người, nó biết hiếu thảo với cha mẹ, người được hưởng nhờ trước tiên là OBACE. Do vậy, để đáp lại Lời Chúa ngày hôm nay giúp trẻ nghe và theo Chúa, Xin OBACE dù bận việc đến đâu cũng phải nỗ lực sắp xếp mang con mình đến nhà thờ học giáo lý. Rồi quan tâm xem nó có đi học hay trốn học đi chơi. Nó đi học về, hỏi xem nó học được những gì. Dặn nó học bài, kêu nó trả bài cho mình nghe. OBACE tưởng đâu chuyện mình lo cho con đầy đủ cái ăn, cái mặc, chuyện học ở trường là làm tròn bổn phận làm cha làm mẹ, chưa đâu, đó chỉ là làm cái chuyện phụ. Lo cho con cháu học giáo lý biết Chúa, để nó sau này sống tốt mới là bổn phận cốt yếu Chúa muốn các bậc cha mẹ hợp tác với Ngài.

Kính thưa OBACE! Ngày hôm nay là ngày Giáo Hội dành đặc biệt nguyện cầu cho ơn gọi linh mục, tu sĩ. OBACE mong ước cho con mình trở thành linh mục, tu sĩ thì xin từ lúc này, lúc con còn nhỏ, hãy nguyện cầu cho nó. Và hãy cố ý dâng cho Chúa mong ước này ngay lúc OBACE chở nó đi học giáo lý đó. Đang lúc tất cả chúng ta chở con đi học giáo lý cũng là lúc tất cả chúng ta đang ươm mầm ơn gọi cho con đó thưa OBACE. Amen.

 

80. Đức Giêsu, Vị Mục Tử sự sống

(Suy niệm của Lm. Jos. Nguyễn Minh Chánh)

Trong khuôn khổ trang Tin Mừng Chúa nhật ngày hôm nay, sẽ giúp tất cả chúng ta xác nhận rất rõ về sứ mệnh của Đức Giêsu tại trần gian, trong tư cách là Mục Tử. Vâng Chúa ở cùng tất cả chúng ta không gì khác hơn là ban cho tất cả chúng ta sự sống đời đời (Ҳ. Ga10,3-28).

Sự sống là nguyên nhân duy nhất để Đức Giêsu Mục Tử Nhân Lành đến với nhân loại. Đọc xuyên suốt toàn thể Tin Mừng, tất cả chúng ta rất dễ cảm nhận về vai trò Mục Tử của Đức Giêsu tại trần gian:

1/ Đức Giêsu, Vị Mục Tử phục vụ sự sống:

Tất cả chúng ta là đoàn chiên của Chúa, nên dù cuộc sống có lầm than vất vả, Chúa luôn nâng đỡ và chạnh lòng thương tất cả chúng ta, Ngài không bỏ tất cả chúng ta. Hai phép lạ Chúa hoá bánh ra nhiều này là bằng cớ nói lên tình thương của Đức Giêsu Mục Tử so với đoàn chiên của Ngài:

Lần thứ nhất, khi nhìn thấy đoàn người đông đảo theo mình, Đức Giêsu chạnh lòng thương họ. Và với năm cái bánh và hai con cá, Chúa Giêsu đã làm phép lạ hoá ra nhiều để nuôi hơn năm ngàn người đàn ông, không kể đàn bà và trẻ con ăn no nê và dư thừa mười hai giỏ đầy (Ҳ, Mt14,13-21).

Lần thứ hai, lại một đông người người theo Chúa không có gì ăn. Chúa đã chạnh lòng thương, vì đã ba ngày họ sống trong cảnh đói khát cũng vì theo Chúa. Rồi từ bảy chiếc bánh và vài con cá nhỏ, Chúa Giêsu đã hoá ra nhiều để phân phối cho khoảng bốn ngàn người ăn no nê và con dư thừa được bảy giỏ (Ҳ, Mc 8,1-10).

Như vậy, với hai phép lạ hoá bánh ra nhiều, thì đó cũng là nguyên nhân rất chính đáng để tất cả chúng ta cảm phục trái tim yêu thương của Đức Giêsu Mục Tử Nhân Lành. Ngài đến để yêu thương chăm sóc từng con chiên, để phục vụ sự sống cho đoàn chiên. Nhờ vậy đoàn chiên của Chúa sẽ được sống và tăng trưởng. Thế nhưng Đức Giêsu đang là Vị Mục Tử phục hồi sự sống cho đoàn chiên của mình

2/ Đức Giêsu Vị Mục Tử phục hồi sự sống cho đoàn chiên:

Trong đoàn chiên của Chúa không phải ai cũng khoẻ mạnh, không phải ai cũng dồi dào sức sống. Trái lại có những chiên đau yếu bệnh tật, Đức Giêsu Mục Tử rất thông cảm, nâng đỡ và quan tâm so với những hoàn cảnh tách biệt này, nhờ đó sự sống của những chiên này sẽ được phục hồi nguyên vẹn.

Trong thời gian công khai rao giảng Tin Mừng, thì cũng là thời gian Chúa Giêsu cứu chữa để phục hồi những chiên đau yếu: Ai câm điếc thì Chúa chữa cho nói và nghe được, ai mù loà thì Ngài cho sáng mắt, ai què quặt thì Chúa chữa để có những bước đi vững mạnh. Và bất kể chứng bệnh gì, nếu ai gặp được Chúa với toàn bộ sự tin tưởng, Ngài sẽ đặt tay chữa lành ngay tức khắc (Ҳ, Lc 4,40-41).

Đức Giêsu, Vị Mục Tử không những Ngài phục hồi sự sống nơi thân xác của từng con chiên, nhưng Ngài còn phục hồi sự sống tâm linh cho các chiên của mình: Đức Giêsu đã từng trục xuất ma quỷ ra khỏi những ai mà chúng đã ám hại. Ngài rất nhiều lần tha thứ tội lỗi cho những người mà cuộc sống quá khứ của họ đã bóp nghẹt sự tăng trưởng đời sống tâm linh, nhờ này mà họ sẽ có đời sống mới trong Ngài. Kinh nghiệm từ lần trước tiên gặp mặt Đức Giêsu Mục Tử của Matthêu, Giakêu, hay người phụ nữ tội lỗi đã xức dầu thơm cho Chúa khi Ngài dùng bữa tận nơi một người thuộc nhóm Pharisêu…, thì đó cũng là thời gian in đậm dấu ấn lòng nhân từ của Đức Giêsu nơi những nhân loại này. Dấu ấn nhân từ ấy đã thay đổi hoàn toàn cuộc sống quá khứ của họ, từ đây họ sẽ vươn lên một cuộc sống tương lai theo thánh ý Chúa, sau thời điểm đã được Chúa phục hồi sự sống bằng ơn tha thứ.

Khởi đầu từ hình ảnh Vị Mục Tử phục vụ sự sống, rồi Vị Mục Tử ấy đang là người phục hồi sự sống cho đoàn chiên. Bao nhiêu việc làm ấy, người Mục Tử mang tên là Giêsu vẫn chưa ưng ý với sứ vụ yêu thương phục vụ trong thế gian. Vì đỉnh cao sứ vụ Mục Tử của Đức Giêsu là khi Ngài tự trao ban sự sống của mình cho đoàn chiên.

3/ Đức Giêsu, Vị Mục Tử trao ban sự sống:

Đức Giêsu đã nói: “Tôi chính là mục tử nhân lành. Mục tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên” (Ga10,11). Như vậy, Đức Giêsu đến trần gian không phải tìm sự sống cho mình, nhưng Ngài tìm sự sống cho đoàn chiên. Sự sống Chúa Giêsu tìm cho đoàn chiên không phải là sự sống tầm thường hay tạm bợ, cũng không phải là sự sống giả tạo hay thiếu phẩm chất. Sự sống mà Chúa Giêsu tìm cho đoàn chiên này là sự sống muôn đời. Đó chính là nguyên nhân mà Chúa đến với tất cả chúng ta.

Vì vậy trong Bữa Tiệc Ly trước khi chịu chết, Đức Giêsu Mục Tử đã trao ban chính sự sống của Ngài cho tất cả chúng ta, dưới hình bánh và hình rượu. Khi Chúa cầm tấm bành và cầm chén rượu nho trên tay và nói: Này là mình Thầy… Này là chén máu Thầy…, thì đó chính là giây phút Ngài trao ban cho tất cả chúng ta chính sự sống của Ngài, Ngài đặt sự sống của tất cả chúng ta trên bản thân Ngài, Ngài đã trở nên người tôi tớ để phục vụ sự sống cho tất cả chúng ta, nhờ đó tất cả chúng ta sẽ được sống dồi dào. Sống dồi dào này là cuộc sống phải được nuôi dưỡng bằng chính Máu Thịt của chính Đức Giêsu Mục Tử hy sinh mạng sống vì đoàn chiên. Vì Chúa đã nói: “Ai ăn thịt và uống máu Tôi, thì được sống muôn đời, và Tôi sẽ cho người ấy sống laị vào ngày sau hết, vì thịt Tôi thật là của ăn và máu Tôi thật là của uống” (Ga 6,54-55).

Ngắm nhìn hình ảnh của Đức Giêsu Mục Tử, thì đó cũng là mời gọi tất cả chúng ta hãy sống những tâm tình như Ngài.

4/ Sống sứ vụ mục tử của Đức Giêsu:

Chúa Giêsu Mục Tử luôn đứng về sự sống, luôn bênh vực sự sống, luôn bảo vệ sự sống. Ngài mời gọi tất cả chúng ta là những người có Tôn giáo, những người có Đức tin cũng theo Ngài trên mọi nẻo đường để bênh vực sự sống. Vì Chúa không hề muốn thống khổ và sự chết, Chúa không lúc nào muốn gieo chết chóc ở khắp nơi: Như những ai lấy danh Thiên Chúa, danh Tôn giáo để khủng bố nổ bom tự sát làm chết 180 người vô tội, như tại Iraq vào trung tuần tháng tư vừa qua. Chúa cũng không lúc nào muốn vì sự kỳ thị Tôn giáo mà một số người Hồi giáo đã cắt cổ ba người làm việc ở một nhà in Kitô giáo tại Thổ Nhĩ Kỳ vào ngày 19/4/2007. hay tại Pakistan,hay quân Hồi giáo Hizbul đã chặt đầu anh Manzoor Ahmad Chad 33 tuổi, sau đó chúng đã để đầu anh trong một Đền thờ Hồi giáo vào ngày 14/4/2007 vừa qua…

Thiên Chúa là Tình Yêu. Chúa luôn mong ước nhân loại hãy lấy tình yêu mà đối sử với nhau. Chúa luôn mong ước nhân loại hãy noi gương Chúa gieo nền văn minh sự sống trên mọi nẻo đường của cuộc sống, Chúa luôn mong ước nhân loại hãy sống sứ vụ mục tử của Ngài là bảo vệ sự sống cho nhau.

Như vậy, khi tất cả chúng ta biết hy sinh chính mình để chạnh lòng thương nâng đỡ những người đói khát, những người đau yếu, biết thông cảm với những yếu hèn của người khác. Thì đó chính là lúc tất cả chúng ta đang sống sứ vụ mục tử của Đức Giêsu.

Và khi tất cả chúng ta biết bảo vệ và bênh vực Giáo Huấn về sự sống của Giáo Hội, biết thực hành nghiêm túc và tránh xa những gì làm tổn thương và nguy hại đến Giáo Huấn ấy, thì đó cũng là lúc tất cả chúng ta đang trở thành chứng nhân biết bảo vệ sự sống cho nhau. Vì sự sống nhân loại là do Chúa ban, chính Chúa quản lý sự sống ấy. Nhân loại không được phép dùng sự tự do của mình để huỷ diệt sự sống, để gieo rắc nền văn minh sự chết trong môi trường mình đang sống.

Lạy Đức Giêsu Mục Tử Nhân Lành, xin cho đời sống chúng con luôn chiếu toả hình ảnh Người Mục Tử của Chúa, luôn biết xây dựng và gieo rắc nền văn minh sự sống khởi sự từ chính cá nhân, trong nhà và trong cộng đồng nhân loại chúng con. Amen.

 

81. Mục tử nhân từ – Lm. Minh Vận

Trong các hang Toại Đạo tại Roma, ngày nay khách du lịch còn thấy nhiều bức tranh vẽ trên tường vách về Chúa Kitô và các hình ảnh trong Sách Thánh; nhưng có một hình ảnh thời danh và mê hoặc nhất, này là hình ảnh Chúa Kitô, vị mục tử hiền từ, thân mật khoác con chiên trên vai, với dung mạo nhân từ khả ái.

  1. CHÚNG TA LÀ ĐOÀN CHIÊN CHÚA

Trong Cựu Ước, Đức Giavê tự xưng là Mục Tử chăn dắt đoàn chiên Israel; trong Tân Ước, Chúa Kitô cũng tự xưng Ngài là Chúa Chiên Lành với dụ ngôn con chiên lạc. Ngài đã tỏ tình thương yêu đoàn chiên đến hiến mạng sống vì đoàn chiên. Bài Tin Mừng ngày hôm nay, Chúa còn tự xưng mình là cửa chuồng chiên.

Tất cả chúng ta là đoàn chiên Chúa, chính Thánh Phêrô Tông Đồ đã khuyên: “Xưa kia anh chị em như những con chiên lạc, giờ đây anh chị em đã trở về cùng vị Mục Tử và Đấng canh giữ linh hồn anh chị em. Chúa Kitô là cửa chuồng chiên, cửa duy nhất và cần thiết”. Còn tất cả chúng ta là đoàn chiên Chúa. Tất cả chúng ta muốn được cứu rỗi, tất cả chúng ta phải qua cửa là Chúa Kitô. Chuồng chiên chính là Giáo Hội Công Giáo Chúa Kitô đã thiết lập. Công Đồng Vaticanô II đã dạy: “Giáo Hội là chuồng chiên, mà Chúa Kitô là cửa vào duy nhất và cần thiết. Giáo Hội là Đoàn Chiên mà Chúa Kitô là Mục Tử. Tuy được các mục tử loài người chăn dắt, các chiên ấy luôn được chính Chúa Kitô, Mục Tử Nhân Từ và Thủ Lãnh các mục tử dẫn dắt và nuôi dưỡng, Ngài đã phó mình vì Đoàn Chiên” (₲. Н. # 5).

  1. CHÚA KITÔ, GƯƠNG MẪU ĐOÀN CHIÊN

Thánh Phêrô nhắn nhủ tất cả chúng ta: “Chúa Kitô chịu đau khổ vì chúng ta, lưu lại cho chúng ta tấm gương để chúng ta theo vết chân Người”. Ngài còn nhấn mạnh hơn: “Bị phỉ báng, Người không phỉ báng lại. Bị hành hạ, Người không ngăm đe. Chính người đã gánh lấy mọi tội lỗi của chúng ta. Để khi đã chết cho tội lỗi, chúng ta được sống cho sự công chính”.

Chúa Kitô là Thủ Lãnh, không như các biệt phái và thầy thông giáo xưa, cũng không như các vị lãnh tụ xã hội ngày nay, họ nói mà không làm; chồng chất những gánh nặng và lề luật khó tính trên người khác mà chính họ lại không tuân giữ, không thèm động tay vào. Trái lại, Chúa truyền dạy và Chúa đã làm, tự đặt mình như mẫu gương cho tất cả chúng ta noi theo làm theo khi mời chào tất cả chúng ta: “Thầy đã làm gương để các con bắt chước mà làm như Thầy đã làm”. Chúa Kitô, Mục Tử duy nhất của tất cả chúng ta muốn tất cả chúng ta tuân giữ các giáo huấn và mệnh lệnh của Ngài, như chính Ngài đã tuân giữ các giáo huấn và mệnh lệnh của Chúa Cha. Chúa Kitô với tấm lòng người con thảo hiếu, Ngài đã thưa lên với Chúa Cha khi đến trần gian: “Lạy Cha, này Con xin đến để thực thi thánh ý Cha” (Heb 10:7).

III. ĐÁP LẠI TIẾNG GỌI CHỦ CHĂN

Tất cả chúng ta là những con chiên trong Đoàn Chiên của Chúa Kitô, Chúa là Mục Tử, nhưng tất cả chúng ta đã biết lắng nghe và thực thi theo thánh ý Chúa, đúng với tư cách là những con chiên ngoan thảo nhận ra và vâng theo tiếng vị Mục Tử chưa? Vì, đã là những con chiên ngoan thảo luôn biết sẵn sàng lắng nghe và đi theo tiếng gọi của Chủ Chăn, như Chúa đã dạy: “Ta nhận biết các chiên của Ta và các chiên của Ta nhận biết Ta”.

Chiên phải nghe theo tiếng Chủ Chăn, không nghe theo tiếng người lạ. Nhưng trong thực tiễn, nhiều người trong tất cả chúng ta đã rất khó nghe tiếng Chúa; trái lại, thích nghe theo những luận điệu đường mật của kẻ khác, vì nó phù hợp với bản tính tự nhiên, mặc dầu trái với lương tâm chân chính của tất cả chúng ta, trái với luật Chúa và giáo huấn của Giáo Hội. Có những người còn phàn nàn kêu trách: “Thời buổi văn minh mà, Giáo Hội sao mà khắc khe quá!”

Chiên phải bước theo vết chân và đường lối Chủ Chăn, không đi theo người lạ; trái lại, còn phải trốn tránh chúng nữa. Nếu tất cả chúng ta không trốn tránh những người luôn tỏ ra những luận điệu đả kích, những lý thuyết chống đối trái nghịch với các giáo huấn và đường lối của Giáo Hội, bọn họ thường hay bới lông tìm vết, vạch lá tìm sâu, một ngày kia tất cả chúng ta cũng sẽ bị bọn họ quyến rũ và sẽ mắc mưu của họ. Tất cả chúng ta sẽ bị gục ngã theo họ, sẽ mất dần ý thức tội lỗi, để rồi cũng sẽ vùi dập lương tâm, theo đoạn đường trụy lạc như bọn họ.

Kết Luận

Là con cháu của Chúa trong Đoàn Chiên Chúa Kitô, tất cả chúng ta hãy tự vấn lương tâm: Tất cả chúng ta đã luôn biết lắng nghe và thực thi các giáo huấn và mệnh lệnh của Chúa chưa? Thánh ý Chúa luôn được tỏ ra nơi tiếng lương tâm chân chính, nơi chủ ý của các vị đại diện Chúa, nơi luật lệ và các giáo huấn của Giáo Hội, nơi Lời Chúa trong Thánh Kinh.

Lạy Mẹ, Mẹ là Đấng đã được Chúa khen ngợi: “Hạnh phúc hơn nữa cho Mẹ, vì Mẹ đã luôn lắng nghe và thực thi Lời Thiên Chúa”. Xin Mẹ giúp chúng con noi theo gương Mẹ, luôn suy niệm và sống Lời Chúa.

 

82. Chứng nhân mới – Trần Quang Huy Khanh

Nghe-Thấy-Theo. Này là 3 yếu tố trọng yếu trong đời sống chứng nhân của người Kitô hữu, đặc biệt, là những chứng nhân của thời kì tất cả chúng ta đang sống. Người tông đồ hay chứng nhân cho Chúa Giêsu ngày hôm nay nếu thiếu những yếu tố này sẽ trở thành kệch cỡm, giả hình và thiếu mê hoặc. Đức Gioan Phaolô II đã nhận xét về nhân loại chứng nhân của thời kì này, và theo Ngài, thì toàn cầu ngày hôm nay không thiếu những nhà giảng thuyết, nhưng thiếu những chứng nhân.

Nhận xét trên tới từ phản ảnh trung thực cuộc sống của Chúa Cứu Thế. Ngài đến trong trần gian, sống giữa đời, ẩn dật và suy niệm đúng 30 năm. Ba mươi năm nguyện cầu và lắng nghe tiếng Chúa Cha. Đó cũng là 30 năm Ngài nhìn thấy Chúa Cha, và Chúa Cha nhìn thấy Ngài: “ChaTa và Ta là một” (Gioan 10:30). Và sau thời điểm đã nghe tiếng Chúa Cha, hiểu được ý của Chúa Cha, Ngài đã lên đường hành đạo. Ba năm rao giảng Tin Mừng, để rồi kết thúc bằng thảm kịch trên Núi Sọ. Nhờ “nghe-thấy-theo”, Chúa Giêsu đã trở thành căn nguyên Ơn Cứu Độ của nhân loại.

Thật vậy, hình ảnh người chứng nhân của thế kỷ tất cả chúng ta đang sống ngày hôm nay cũng chính là hình ảnh mà Chúa Giêsu đã gợi ý, và đã được Thánh ký Gioan ghi lại bằng một hình ảnh thân thuộc: Những con chiên trong một đàn chiên. Những con chiên hiền từ đã nghe, thấy, và đi theo người chăn chiên.

Nghe tiếng Chúa. Điều trọng yếu nhất của người chứng nhân là phải nghe được tiếng Chúa. Nếu không nghe và nhận thấy được tiếng Ngài, chắc cú tất cả chúng ta không biết Ngài là ai, và điều gì Ngài muốn tất cả chúng ta làm. Trong tâm lý phát triển, đứa trẻ khi mở mắt ra đời việc trước tiên là em nghe được tiếng mẹ. Thính giác hoạt động trước giúp đem em lại gần với mẹ. Do nghe được tiếng mẹ, em tìm được sự săn sóc, tìm được hơi ấm và bầu sữa thơm ngon của mẹ. Người Kitô hữu muốn tìm thấy Chúa Giêsu cũng phải biết nghe và nhận thấy tiếng Ngài.

Nhưng làm thế nào để nghe và nhận thấy tiếng Chúa, một tiếng nói êm ái, dịu dàng và thân thương như tiếng đập của trái tim người mẹ hiền, như tiếng thì thầm của đôi tình nhân, và như tiếng gió thoảng của Thần Khí Thiên Chúa thổi qua trong cuộc sống của mỗi người. Đôi lúc tiếng ấy cũng vang vọng nơi nào đó trong những tiếng nổ long trời, lở đất của bom đạn, của chết chóc và máu lửa. Và cũng đôi lúc, tiếng ấy lại nghe thấy trong những lao đao, bệnh tật, nghèo túng, và những khắc nghiệt của kiếp người. Tóm lại, tiếng Chúa vang vọng khắp đó đây và trong rất nhiều tình cảnh của cuộc sống. Làm thế nào để nghe được những tiếng đó. Nguyện cầu, thinh lặng, và khiêm tốn. Chúa Giêsu cũng từng nghe được tiếng Cha của Ngài trong lặng thầm và nguyện cầu dưới mái nhà Nagiarét.

Sau khoảng thời gian đã nhận thấy tiếng mẹ, bước tiếp theo là em bé nhìn rõ mẹ, phân biệt được mẹ với người lạ. Từ đó, em chỉ hạnh phúc khi nhìn mẹ, ngược lai, em hoảng sợ và khiếp đảm khi nhìn những người khác không phải là mẹ. Người Kitô hữu, sau thời điểm nghe và thu được tiếng Chúa, họ còn phải nhận diện được Ngài, cũng như ở trong tầm nhìn của Ngài. Họ không được đi xa khỏi tầm nhìn Ngài đến độ Ngài không nhìn ra họ, vì làm như vậy họ sẽ bị lạc đường: “Ta biết chiên Ta và chúng theo Ta” (Gioan 10: 27).

Như hành động nghe tiếng Ngài, người Kitô hữu lúc này phải nhìn được Ngài qua từng nhân vật, từng cảnh vật, và từng biến cố cuộc sống. Họ phải có cái nhìn xuyên thấu bằng đôi mắt đức tin để tìm tòi ra dung nhan Ngài ẩn hiện xung quanh mình qua những người mình gặp mặt, để thương yêu, tha thứ và trợ giúp; cũng như qua những biến cố mà họ phải đối mặt trong cuộc sống để không thất đảm, hốt hoảng và mất niềm tin.

Trong vai trò chứng nhân, người Kitô hữu không những chỉ nói về Chúa Giêsu, mà còn phải biết tường tận Ngài là ai, kiểu dáng, và từ ngữ Ngài như vậy nào. Vì người chứng nhân của thời kì mới không chỉ nói về Chúa Giêsu, viết về Chúa Giêsu, mà còn sống đúng như những gì mình đã nghe và đã thấy nơi Ngài. Kết quả của đường lối chứng nhân này sẽ thu hút người nghe vì họ tin rằng họ đang nghe những gì mà người nói với họ đã xác tín và hành động như vậy.

“Chiên Ta thì nghe tiếng Ta. Ta biết chúng và chúng theo Ta” (Gioan 10: 27). Đặc tính trổi vượt nhất của người chứng nhân là sống và làm chứng cho những gì mình nói. Các Tông Đồ xưa là những người đã thấy, đã nghe, và đã sống những gì các Ngài rao giảng. Họ là những người không những thấy những vết đinh nơi tay chân và vết đâm nơi cạnh sườn Chúa. Không chỉ vậy, như Tôma, họ đã xỏ ngón tay vào những vết đinh, và thọc bàn tay vào cạnh sườn Chúa, để rồi thâm tín và thốt lên: “Lậy Chúa tôi. Lậy Thiên Chúa của tôi” (Gioan 20:28).

Nghe được tiếng Chúa, nhìn thấy Chúa, sống chứng nhân những gì mình đã nghe và đã thấy. Có vẻ trong đời sống Kitô hữu, đây là điều khó khăn nhất nhưng cũng trọng yếu nhất. Cũng như trong đời sống chứng nhân, đây là điều thực hành khó nhất nhưng mang lại hoa trái nhất. Vì khi nói về Chúa Giêsu, người nghe phần lớn sẽ không hiểu gì và cũng chẳng mường tượng ra Ngài là ai. Nhưng nếu người chứng nhân minh chứng cho họ thấy bằng hành động của mình Chúa Giêsu là ai, nhanh chóng những lời nói của người chứng nhân sẽ có tác động rất rõ ràng.

Chúa Giêsu biết Ngài sắp về cùng Chúa Cha. Ngài đã chuẩn bị cho các Tông Đồ, để các ông vào đời và làm chứng cho Tin Mừng Cứu Độ. Ngài biết sứ vụ này không đơn giản, vì các ông sẽ phải gặp nhiều thử thách tới từ việc cứng sự tin tưởng của nhân loại, nhất là từ những cám dỗ của ma quỉ. Cũng chính vì thế, Ngài đã xuất hiện với các ông, và như lần này, Ngài đã dậy các ông về một phương thức truyền giáo thiết thực với tâm lý nhân loại, này là “nghe-thấy-theo”. Ngài muốn các ông cũng như những ai sau này sẽ làm chứng nhân cho Ngài phải hiểu rằng chính họ là người trước hết phải nghe được tiếng Ngài, hiểu rằng Ngài, và nhất là sống với Ngài. Như vậy, từ ngày hôm nay, mỗi khi tôi gặp những khó khăn, những người làm cho tôi khó chịu, và nhất là những nguy hiểm trong cuộc sống, tôi phải dừng lại ít giây phút để hỏi mình: “Chúa Giêsu đó có phải không? Ngài đang muốn nói với tôi điều gì? Và Ngài muốn tôi làm gì trong vai trò chứng nhân cho Ngài giữa dòng đời hôm nay?”

 

83. Quên mình- Nguyễn Kim Thanh

Hình ảnh người sĩ quan hải quân trong trận chiến chống lại kẻ thù đến xâm chiếm lãnh hải của tổ quốc. Xin được kể lại để ngợi ca tấm gương một nhân loại thủ lãnh. Nó đang là gương sống động của người lãnh đạo đã dám hy sinh mạng sống mình vì các quân sĩ thuộc quyền, vì tổ quốc quê hương. Biết trước được rằng chiến hạm của ông sẽ bị chìm trong vài giờ vì trúng đạn pháo của địch. Vị sĩ quan lãnh đạo đã nhanh chóng điều động, phân tán quân sĩ xuống phao cứu nạn và thoát hiểm an toàn. Còn riêng mình, ông đã dũng cảm đứng trên boong tầu ở tư thế chào, mặt hướng về tổ quốc. Chiếc tầu chìm xuống lòng biển kéo theo cả vị lãnh đạo hào hùng, quật cường. Ông đã được chính phủ tri ân và ca tụng trên các phương tiện truyền thông. Cả tạp chí quốc tế cũng coi chết chóc của ông là một mẫu gương dũng cảm, hy sinh tuyệt vời.

Qua bí tích rửa tội, người tín hữu thật sự trở thành dân riêng của Thiên Chúa, thành những chiên con thuộc đàn chiên của Ngài. Ngài là chủ của đàn chiên. Ngài lo chăm sóc chiên của Ngài: lo tìm đồng cỏ, coi chừng thú dữ, tiên liệu thời tiết khí hậu cho chiên được khoẻ, để ý đến từng con một. Phân loại để chăm sóc đặc biệt những chiên bị thương, yếu bệnh, lười ăn…

Ta biết chiên Ta và chiên Ta biết Ta là một thông hiệp hai chiều so với đàn chiên hạnh phúc, an yên.

Nhìn lại lịch sử các tổ phụ, tất cả chúng ta cũng thấy được các tổ phụ có nhiều chiên, vì các ngài là dân du mục. Môi sê đã chăn chiên cho nhạc phụ suốt 40 năm trời. Tiên tri Amos là một người làm nghề chăn chiên. Ngay chính David cũng được chọn ngay sau đàn chiên của mình. Chính các vị vua Do thái cũng được xem như một mục tử, thống trị, cai trị dân như người chăn chiên. Nhà vua có quyền trên đàn chiên, cùng gắn bó với chiên và yêu thương chúng.

Sau thời gian ký thế ngắn ngủi, Chúa đã đặt cho Phêrô quản lý, lãnh đạo đàn chiên. Trong cuộc “sát hạch” cả thể với Phêrô: “Con có yêu mến Thầy không”. Chính lúc Phêrô xác quyết tình yêu, Chúa đã trao quyền mục tử cho Phêrô: “Hãy chăn dắt các chiên con của Ta, và hãy chăn dắt chiên mẹ của Ta”. Ngày nay, quyền đó được truyền lại cho các vị giáo hoàng kế vị và các giám mục. Các linh mục là thừa tác viên của các giám mục. Đó chính là việc huấn luyện chủ chiên cho đàn chiên Chúa.

Nhiều nơi trên toàn cầu hiện tại đang phải đương đầu với nhiều loại thú hoang dại đang có rủi ro bị diệt chủng. Chúng đang ở mức báo động đỏ bị xoá sổ bởi việc phá rừng, săn bắt. Do vậy cả toàn cầu đã lên tiếng và bắt tay vào việc bảo vệ các loài thú quý hiếm. Họ phân công trực rừng để bảo vệ chúng, từ việc phân phối lương thực tới việc chữa trị bệnh tật. Nhiều địa danh mới được gọi là Thảo cầm viên bảo vệ động vật quý hiếm.

Các tín hữu cũng vẫn luôn có nhiều kẻ thù rình rập. Tất cả chúng ta gọi chúng: thế gian, xác thịt, ma quỷ. Bảy mối tội đầu nằm sâu chìm trong mỗi nhân loại, chúng vùng lên bất kể lúc nào, mọi nơi, mọi lúc. Vũ khí bén nhậy mà ma quỷ dễ thắng lợi tất cả chúng ta là chính những: Vui, Giận, Hờn, Sợ, Yêu, Ghét, Muốn. Vậy để cho tâm hồn được bình an, để cho cuộc sống mỗi con chiên thiên chúa giáo được chủ chăn bảo vệ, không vào tầm nhắm của kẻ thù. Tất cả chúng ta cần phải có những điều thiết cần so với chủ chiên mình như sau: Tin tưởng, Lắng nghe, Gắn bó.

Người chăn chiên luôn nhận ra chiên của mình. Như vị y tá biết rõ người bệnh mà cô săn sóc. Họ trở nên cái bóng của nhau. Không quản ngại thời gian, sức khỏe, sẵn sàng hy sinh, nếu cần cả mạng sống mình nữa. Sự thân thiện, gắn bó, thân thiện cũng là chìa khoá cho sự trung thành giữa chủ và chiên. Không thể có quan hệ mật thiết với người khác được, một khi ta vẫn cứ một mực giữ khoảng cách xa lạ, thiếu thân thiện. Người chăn chiên luôn lấy khuôn mẫu của Đức Kitô để sống: Hiền từ, Nhân từ, Nhẫn nại, Hy sinh.

Để trở nên một chủ chiên đúng hiệu và đúng ý Chúa, đòi hỏi người chủ chiên ấy cần sống và hạ quyết tâm thực hành điều Chúa Giêsu đã nói và đã làm: “Sẽ không ai cướp được đàn chiên khỏi tay tôi được”. Câu nói này phải được khắc ghi đậm nét trong trái tim người mục tử. Hình ảnh hy sinh và xả thân vì thuộc quyền, vì tổ quốc của người sĩ quan hải quân kể trên đã cho tất cả chúng ta thấy rõ điều này.

Qua bài tin mừng lễ Chúa Chiên Lành ngày hôm nay, tất cả chúng ta thấy được cánh đồng truyền giáo đang thật thiết yếu. Đòi hỏi cả chủ lẫn chiên không thể ngồi không mà nhìn các linh hồn bị hư mất, sa chìm. Hãy cùng nhau cứu các linh hồn. Hãy hướng tâm hồn lên Chúa, hãy “uỷ lạo” vào kho thiêng trên trời bằng toàn bộ những gì có thể để viện trợ, tiếp viện cứu các linh hồn. Người mục tử cũng như chiên trong đàn luôn ứng dụng Lời Đức Kitô: “Chiên Ta thì nghe tiếng Ta, Ta biết chúng và chúng biết Ta”.

Xin Đức Trinh Nữ Maria là Mẹ Giáo hội, là Mẹ các chủ chiên, Mẹ của nhân loại ban cho hết mọi người tất cả chúng ta ơn bền đỗ, trung thành với nhiệm vụ được trao. Để xứng đáng lãnh nhận lời hứa của Con Mẹ vì chúng con biết Chúa, và Chúa biết chúng con.

 

84. Gợi ý để sống và chia sẻ Tin Mừng

Một hôm có người bố đến dự cuộc hội thảo dành riêng cho các bậc làm cha và các giáo viên tại một trường trung học ở tp Chicago của Hoa Kỳ. Khi trò chuyện với một giáo viên từng dạy con trai ông, người bố bỗng rưng rưng hai hàng lệ. Sau khoảng thời gian lấy lại điềm tĩnh, ông ngỏ lời xin lỗi và nói: “Con trai tôi hiện không còn chung sống với tôi nữa, nhưng tôi vẫn yêu quí nó và muốn biết nó hiện học hành ra sao.”

Vì sao bị vợ con bỏ.

Ông bố cắt nghĩa nguyên nhân vì sao vợ ông và bốn đứa con đã lìa bỏ ông. Ông là một nhà thầu lo việc xây dựng. Có thời gian ông bận rộn làm việc tới 16 tiếng đồng hồ một ngày. Trong hoàn cảnh đó ông ít khi có giờ gặp mặt vợ con. Và ông buồn bã nói tiếp:

“Tôi rất ao ước sắm sửa cho vợ con mọi thứ mà tôi từng mơ ước trao tặng cho họ. Nhưng vì mải mê công việc làm ăn, tôi không quan tâm tới điều mà các con tôi lấy làm cần thiết hơn cả: đó là chúng cần một người cha thường xuyên gần gũi để yêu thương và nâng đỡ chúng.”

Người bố trong mẩu chuyện nói trên đã rưng rưng hai hàng lệ vì chính ông nêu vấn đề đụng chạm tới bề sâu nơi nhân loại ông. Tình yêu đã là động lực khiến ông chọn thành thân với một người bạn nữ. Hai người đã chung sống đời vợ chồng và đã sinh được bốn người con. Nhưng chỉ vì mải mê công việc làm ăn nên ông đã không dành đủ phần quan tâm thiết yếu cho vợ con. Kết quả là vợ ông và bốn đứa con đã lìa bỏ ông. Họ không còn ở trong tầm tay ông nữa. Ông thống khổ trước sự mất mát quá lớn. Bởi lẽ những nhân loại ruột thịt của ông mà nay không còn thuộc về ông nữa.

Bài Tin Mừng ngày hôm nay cũng đề cập tới vấn đề nơi bề sâu của nhân loại Đức Giêsu. Người không những cho biết những ai thuộc về Người mà còn cho biết chính Người thuộc về ai?

Khởi sự tác giả Gioan đặt ta vào hoàn cảnh lễ Cung Hiến Đền Thờ của người Do Thái, trong đó Đức Giêsu cho thấy chính Người là Vị Cứu Tinh Mêsia (Ga 10, 22-31) và là Con Thiên Chúa (cc. 32-39).

Lễ cung hiến Đền Thờ là dịp để người Do Thái mừng thắng lợi vẻ vang do anh em dòng tộc Macabê mang lại. Này là cuộc thắng lợi để rửa nhục cho Israel. Suốt ba năm (167-164 trước CN) quân Syria đã xâm chiếm lãnh thổ dân Thiên Chúa. Họ đã làm cho Đền Thờ ra ô uế bằng cách dựng tượng thần Ba-an ngay trên bàn thờ nơi dân Israel thường dâng của lễ toàn thiêu cho Giavê Thiên Chúa (1Mcb 1, 54; 2Mcb 6, 1-7). Đầy lòng căm thù, tướng Giuđa Macabê đã nổi dậy đánh đuổi quân Syria và thiết lập một bàn thờ mới. Bàn thờ này cùng với Đền Thờ đã được tái cung hiến (1Mcb 4, 41-61) với lễ kỷ niệm được cử hành mỗi năm.

Hiến dâng bản thân làm bàn thờ

Điều mà tác giả Gioan ám chỉ là: chính Đức Giêsu hiến dâng bản thân Người làm bàn thờ. Điều đó Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo dạy rất rõ khi nói: Bàn thờ là nơi mà Giáo Hội được quy tụ lại; đó chính là “biểu tượng về Đức Kitô hiện diện giữa cuộc tập họp của những ai tin theo Người: Đức Kitô vừa là lễ vật hy sinh được dâng để ta được giao hoà, đồng thời Người còn là của ăn từ trời cao tự hiến để nuôi ta.” (số 1383).

Riêng đoạn Tin Mừng Ga 10, 22-29 cho thấy tột đỉnh của những cuộc tranh cãi giữa Đức Giêsu và người Do Thái. Đây là cuộc tranh cãi chót khiến giới hữu trách Do Thái quyết tâm bắt Đức Giêsu. Màn Tin Mừng này chia làm hai; ở giữa là biến cố người Do Thái toan tính ném đá Đức Giêsu.

  1. 22 đặt ta vào hoàn cảnh của lễ Cung Hiến Đền Thờ vào trung tuần tháng 12, kéo dài 8 ngày.

  2. 23 định vị cuộc tranh luận kịch tính diễn ra nơi hàng hiên hình thang khổng lồ bao quanh Đền Thờ Giêrusalem. Hàng hiên này ở phía thung lũng Khê-ron quen gọi là hàng hiên Salomon, có vẻ vì cổ kính nhất nên được kể như do chính vua Salomon xây dựng.

  3. 24 nối lại việc Đức Giêsu đã từng nhất định rằng Người là Đức Kitô và là Con Người. Những người như chị phụ nữ người Samari (Ga 4, 25-26) hay như anh mù từ thuở mới sinh (Ga 9, 36-37), đều là những cá nhân sẵn sàng đón nhận Đức Giêsu là vị Thiên Sai. Còn ở đây, trái lại, Đức Giêsu bị vây hãm và bị thách đố do những nhân loại đến với ý đồ để bắt bớ Người mà thôi.

  4. 25 Đức Giêsu vạch cho người Do Thái thấy nguồn gốc của mọi sự là CHA. Do đó Người đòi hỏi ai nấy phải giãi bày một niềm tin tuyệt đối bằng cách thuộc về Người để có thể qui về Cha là nguồn gốc của họ.

  5. 26 Khi Đức Giêsu của sách Tin Mừng Gioan nói với người Do Thái rằng “các ông không tin tôi vì các ông không thuộc về đoàn chiên của tôi,” Người ám chỉ về một cộng đoàn hết sức rõ ràng, này là cộng đoàn Kitô hữu dưới sự chăm sóc của Gioan. Cộng đoàn ấy gắn bó mật thiết với Đức Giêsu và được tách biệt khỏi những người không thuộc về Đức Giêsu. Cộng đoàn ấy biết mình sống dưới sự chở che của Đức Giêsu và của CHA Người, vì vậy mọi người trong cộng đoàn đều được yên tâm vững dạ.

Thuộc về ai

  1. 27-28 đối chiếu cách ăn ở trung tín của các chiên dưới sự lãnh đạo của Đức Giêsu Mục Tử, ngược hẳn lại với thái độ cứng tin của người Do Thái. Ở đây Đức Giêsu nói lại “tính cách thuộc về” của các chiên so với Người: chúng nghe tiếng Người (Ga 10, 3-16); chính Người biết rõ các chiên của Người (cc. 3, 14); chúng theo Người (cc. 10,4) và Người ban cho chúng sự sống đời đời (10, 9-10).

  2. 29-30 cho thấy các chiên được an toàn dưới sự chăm sóc của Đức Giêsu là vị mục tử nhân hậu như Người đã thưa với Cha “Con đã canh giữ, và không một ai trong họ phải hư mất” (Ga 17, 12). Cha là Đấng đã ban chúng cho Người. Vì Người và Chúa Cha là một nên không ai cướp được chúng khỏi Người, bởi lẽ Chúa Cha thì to hơn toàn bộ, nên không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha.

  3. 31-39 cho thấy giữa hoàn cảnh thù địch của người Do Thái, Đức Giêsu vẫn tiếp tục tự mạc khải và tự hiến mình cho họ và cho mọi người:

– Chính Chúa Cha thánh hiến Người và sai Người đến thế gian (¢.36). Thân Thể Đức Kitô phục sinh chính là nơi Thiên Chúa hiện diện và tỏ mình cho loài người (Ga 1, 14). Này là nơi loài người có thể thờ phượng Thiên Chúa trong Thần Khí và trong Sự Thật (Ga 4,23-24). Do vậy Đức Kitô mới thực sự là Đền Thờ được cung hiến cho Thiên Chúa một cách hoàn hảo và trọn vẹn.

– Đức Kitô đòi mọi người tin vào các việc Người làm (¢.38). Các việc ấy bao gồm toàn thể công trình cứu độ do Người thực hiện: Người đến là để mạc khải cho nhân loại biết Chúa Cha; nơi Người chính Chúa Cha cũng tự mạc khải (¢. 38).

Toàn bộ được nên một

Vậy bài Tin Mừng ngày hôm nay tuy chỉ là một đoạn văn ngắn nhưng đã là một bước chuẩn bị cho lời cầu xin nơi bữa Tiệc Ly, khi Đức Giêsu thưa với Chúa Cha: “Con xin thánh hiến chính mình con cho họ, để nhờ sự thật họ cũng được thánh hiến” (Ga 17, 19). Và trong bữa Tiệc Ly ấy, Đức Giêsu còn cho biết Người không chỉ cầu xin cho Mười Hai tông đồ mà thôi “nhưng còn cho những ai nhờ lời họ mà tin vào Con, để tất cả nên một, như, lạy CHA, Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta.” (¢. 20-21).

Trở lại với người bố rưng rưng hai hàng lệ trong mẩu chuyện nói trên. Người bố ấy thống khổ vì vợ ông và bốn con ông là những người ruột thịt của ông mà nay không còn thuộc về ông nữa! Bài Tin Mừng ngày hôm nay cũng nói tới mối tương quan thâm sâu là mối tương quan làm cho người này cảm thấy mình thuộc về người kia, nhưng với Đức Giêsu mối tương quan ấy có nền tảng thực là vững vàng:

– Trong Cựu Ước, ngôn sứ Êdêkien đã từng mô tả Giavê Thiên Chúa là vị Mục Tử lý tưởng: “Chính Ta sẽ chăn dắt chiên của Ta? Con nào bị mất, Ta sẽ đi tìm; con nào đi lạc, Ta sẽ đưa về; con nào bị thương, Ta sẽ băng bó; con nào bệnh tật, Ta sẽ bồi dưỡng; con nào mập béo, con nào khỏe mạnh, Ta sẽ canh chừng.” (Ed 34, 15-16). Trong Tin Mừng của Gioan, chính Đức Giêsu tự mô tả mình là vị Mục Tử lý tưởng đó với điều rực rỡ là: Người biết các chiên của Người để chăm sóc và yêu thương chúng vì chúng thuộc về Người; chính Người ban cho chiên của Người sự sống đời đời (¢. 28). Không ai cướp được chúng khỏi tay tôi.

Mối tương quan giữa Đức Kitô và các chiên của Người thực sự vững vàng đến nỗi Người nhất định rằng “không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi” (¢. 28). Nguyên nhân “vì Tôi và Chúa Cha là một” (¢. 30) mà Chúa Cha “lớn hơn tất cả” thì còn tồn tại ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha đâu!

Một số thắc mắc gợi ý

  1. Bạn nghĩ điều gì có thể thực sự an ủi người bố thống khổ trong mẩu chuyện nói trên: có phải việc ông được biết con ông học tập ra sao nơi học đường? Hay việc ông được chung sống trở lại với vợ con ông? Hay bạn cảm thấy chưa được phân phối đủ tin tức về người bố thống khổ nói trên? Nhưng dựa trên bài Tin Mừng ngày hôm nay, bạn có thể nói gì với người bố đó nếu bạn được yêu cầu và nếu bạn biết rõ người đó có chung một đức tin Kitô giáo với bạn?

  2. Bạn nghĩ gì về câu nói của Chúa Giêsu ứng dụng với trường hợp bạn khi Người nói “Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi, tôi biết chúng và chúng theo tôi. Tôi ban cho chúng sự sống đời đời”? (cc.27-28) Điều gì bạn thấy là tâm đắc nhất trong câu nói đó của Chúa Giêsu?

 

85. Tôi biết chiên của tôi và chiên tôi biết tôi

(Suy niệm của Jos.Vinc. Ngọc Biển)

Trong ngành nghề У học ngày nay, người ta phát hiện về khả năng nghe biết của thai nhi ngay từ khi còn nằm trong bụng mẹ.

Có những thực nghiệm gần đây cho thấy: một bà mẹ mang thai, hai vợ chồng đặt tên cho con của mình ngay từ khi siêu âm và biết nó là con trai hay con gái. Khi đã đặt tên cho con, ông bố hằng ngày xưa khi đi làm hoặc đi đâu về đều gọi tên của bé. Rồi một ngày nọ, họ cho rất nhiều người đàn ông đi qua và cất tiếng gọi. Bé vẫn nằm im trong dạ mẹ. Nhưng đến lượt bố của em, ông cất tiếng gọi, vừa dứt lời, em đã ọ ẹ và chân tay vẫy đạp trong bụng mẹ. Quả thật là một điều kỳ diệu. Thật vậy, cũng tương tự, ngày nay, người ta muốn cho con của mình sau này làm gì thì các bà mẹ gợi hứng cho chúng ngay từ khi bé còn trong bụng mình bằng những hình ảnh hay hành động hoặc thính giác của bà mẹ hằng ngày.

Hình ảnh Vị Mục Tử Nhân Lành được khởi đi từ thời Cựu Ước: “Đức Giavê là Mục Tử tôi. Tôi không còn thiếu gì. Dù phải đi qua thung lũng tối đem. Tôi cũng không hề lo sợ.” (Tv 23,1-4) Thiên Chúa trở thành Mục Tử của dân Israel. Người yêu thương và chăn dắt dân của Người. Hình ảnh người mục tử cũng được trao phó cho các vị lãnh đạo thời bấy giờ, nhưng thật đáng thương vì các vua chúa thời đó đã làm cho dân phải đớn đau vì họ không sống đúng vai trò mục tử của mình mà lại còn đi trái lại. Điều này đã được Tiên tri Ezekiel quở trách thật nặng nề: “Hỡi các mục tử của Israel, các ngươi đã bị băng hoại rồi! Các ngươi chỉ biết lo cho bản thân mình chứ chẳng hề nghĩ đến bầy chiên… Các ngươi chẳng chăm sóc những con yếu đuối, chữa lành những con bệnh hoạn, băng bó những con bị thương tích, dẫn về những con lệch đường, hoặc tìm kiếm những con bị lạc mất. Vậy hỡi các chủ chăn, hãy nghe đây, Ta, vị Chủ Tể tối cao, Ta tuyên bố rằng… Ta sẽ tách bầy chiên ra khỏi các ngươi… Ta sẽ giao chúng cho một vị vua giống như Đavít tôi tớ Ta để làm mục tử của chúng và Người ấy sẽ lo lắng chăm sóc chúng.” (Ez 34,2-4.9-10.23)

Sang thời Tân Ước, Chúa Giêsu đã nhất định: “Tôi là Mục Tử Nhân Lành. Tôi biết chiên của tôi và chiên của tôi thì nghe tiếng tôi, tôi biết chúng và chúng theo tôi.”

Vào thời Chúa Giêsu, người ta thường hay nuôi chiên. Mỗi đàn chiên thì đều có mục tử, tức người chăn chiên. Người chăn chiên thường dẫn chiên đi ăn trong hoang địa. Tối về, họ lùa chiên vào nơi quy định. Tuy nhiên, cũng có thể nhiều đàn chiên ở cùng một chỗ, vì vậy có sự lẫn lộn; nên chủ đàn chiên nào thì có ký hiệu riêng của mình, và khi họ cất tiếng thì toàn bộ các chiên của họ sẽ đi theo. Người mục tử tốt là người biết chiên của mình, biết rõ từng con một, để chăm sóc cho chúng. Người mục tử tốt cũng là người biết dẫn chiên của mình đến những vùng cỏ non, có nhiều nước, để cho chiên thoả thuê ăn uống hầu được to béo, khoẻ mạnh.

Chúa Giêsu đã tự nhận mình chính là Mục Tử Nhân Lành. “Ngài đến để cho chiên được sống và sống dồi dào”. Khác hoàn toàn với hình ảnh mục tử trong Cựu Ước nơi các vị vua.

Thật không có gì thống khổ cho bằng trong cuộc sống ta không được ai nghe đến. Và cũng thật xấu số khi trong các mối tương quan ta không được ai tôn trọng và tin tưởng nữa. Thấu hiểu được điều đó, Chúa Giêsu đã dùng động từ “biết” để diễn tả một mối tương quan thân mật giữa chủ chiên và đàn chiên. “Biết” theo nghĩa Kinh Thánh không chỉ là một sinh hoạt thuần tuý tri thức hay văn hoá, mà “biết ở đây còn là sự gắn bó và yêu thương”. Chúa Giêsu biết từng con chiên đồng nghĩa với việc Ngài yêu thương từng con chiên một. Ngài cũng biết tên của từng con và gọi chúng khi cần, ấy là Ngài đang di chuyển vào sự hiện hữu của từng con chiên, và trái lại. Với Ngài, từng con chiên là một hiện hữu duy nhất trước mặt Ngài. Vì vậy, Ngài luôn coi trọng từng con một, đến nỗi Ngài nói: “Cha tôi, Đấng đã ban chúng cho tôi thì lớn hơn tất cả, và không ai cướp chúng khỏi tay Chúa Cha; Tôi và Cha tôi là một.” Thật hạnh phúc cho tất cả chúng ta vì có được Vị Mục Tử tuyệt vời là chính Chúa Giêsu.

Giáo Hội dành riêng Chúa Nhật IV Phục Sinh để nguyện cầu cho ơn Thiên Triệu linh mục và tu sĩ.

Vì sao phải nguyện cầu cho mục tử? Thưa vì các ngài cũng chính là mục tử trong Giáo Hội, thay mặt Chúa để dẫn dắt dân của Người. Tất cả chúng ta nguyện cầu cho các ngài hoạ lại hình ảnh của Chúa Giêsu Mục Tử Nhân Lành, biết từng con chiên để: chăm sóc cho từng con chiên. Con chiên nào bị thương thì băng bó, con nào bị ốm thì lo thuốc thang, con nào đi lạc thì tìm về, con nào có rủi ro bị thú dữ ăn thịt thì bảo vệ, con nào bị tóm gọn thì liều mạng để cứu chúng. Được như vậy, các ngài quả là mục tử nhân lành, đến để cho chiên được sống và sống dồi dào. Các ngài là những mục tử như lòng Chúa và Giáo Hội mong ước.

Ngoài việc nguyện cầu cho các linh mục và tu sĩ, Giáo Hội đặc biệt hướng về các bạn trẻ. Các bạn là tương lai của xã hội và là niềm trông mong của Giáo Hội. Giáo Hội đang trông chờ ở nơi các bạn. Giáo Hội cũng trông mong các bạn sẽ trở thành những linh mục và tu sĩ tốt lành hoạ lại chân dung của Vị Mục Tử Tối cao là Chúa Giêsu.

Quả thật, hơn lúc nào hết, tất cả chúng ta đang sống trong một xã hội có biết bao lựa chọn, và đôi lúc có những hướng dẫn hay thông tin cũng như quyết đoán sai lầm. Hoặc nói theo từ ngữ hình tượng: “Chân lý nửa vời”. Trong một xã hội như vậy, Giáo Hội mời gọi tất cả chúng ta dấn thân cho một lý tưởng cao đẹp, một đạo lý tuyệt đối, để phục vụ nhân loại ngày ngày hôm nay, nhằm mang lại cho họ niềm trông mong. Nhưng điều trọng yếu là làm sao để các bạn nhận thấy được tiếng Chúa gọi và chọn các bạn vào trong vườn nho Giáo Hội để phục vụ trong vai trò là mục tử của Chúa? Thưa Sứ điệp của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI nhân Ngày Toàn cầu Nguyện cầu cho Ơn gọi 2013 đã vạch ra cho các bạn, ngài viết: “Ơn gọi linh mục và tu sĩ được nảy sinh từ kinh nghiệm gặp gỡ cá vị với Đức Kitô, từ một cuộc đối thoại chân thành và đầy tin tưởng với Ngài, nhờ đó đi vào trong ý muốn của Ngài. Do đó, điều cần thiết là phải lớn lên trong kinh nghiệm về đức tin, được hiểu như là một mối liên hệ sâu xa với Đức Giêsu, như là một sự lắng nghe nội tâm đối với tiếng nói của Ngài vốn âm vang trong sâu thẳm cõi lòng chúng ta.” Đúng vậy, muốn hiểu được ai thì phải biết và có kinh nghiệm về người đó. Có thế, ta mới dễ nhận thấy và đi theo ý của người mà mình yêu mến.

Trong toàn cầu đang sôi động về mọi mặt, nhưng lời mời gọi “hãy theo Thầy” vẫn được vang vọng nơi mỗi tất cả chúng ta ngay trong những cuồng nhiệt của cuộc sống. Lời bài hát, mà tất cả chúng ta vẫn thường nghe trong mỗi dịp lễ Chúa Chiên Lành hay trong các dịp lễ về Tận hiến của tác giả Nguyễn Duy Vi: “Chúa là Mục Tử, Người dẫn lối chỉ đường cho con đi, đi trong tay Chúa nào con thiếu chi con sợ chi. Cỏ tươi rợn đồng xanh, con no thoả không bao giờ khát nữa, cánh tay Người đưa, gậy người dẫn yên lòng”, gợi lại cho tất cả chúng ta hình ảnh của Vị Mục Tử Nhân Lành, cũng như giúp tất cả chúng ta thêm xác tín vào Vị Mục Tử Nhân Lành; đồng thời cũng mời gọi mỗi người tất cả chúng ta hãy nhạy bén, dũng cảm để phác hoạ chân dung Vị Mục Tử Nhân Lành, là chính Chúa Giêsu, ngay trong chính cuộc sống tất cả chúng ta.

Để kết thúc bài suy niệm này, tưởng cũng nên mượn lời của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI nhắn gửi các bạn trẻ:

“Các bạn trẻ thân mến, dẫu các con đang phải đối diện với biết bao nhiêu lựa chọn hời hợt và chóng qua, cha hy vọng các con vẫn có thể nuôi dưỡng khao khát về điều gì có giá trị đích thực với những mục đích cao cả, những lựa chọn triệt để trong việc phục vụ tha nhân và bắt chước Đức Kitô. Các con đừng sợ bước theo Đức Giêsu và bước đi trên những con đường có tính đòi hỏi, can đảm sống đức ái và quảng đại dấn thân. Trên hành trình này, các con sẽ hạnh phúc để phục vụ và làm chứng về một niềm vui mà thế giới không thể trao ban, các con sẽ là những ngọn lửa sống động về một tình yêu vô hạn và vĩnh cửu, và các con sẽ học để “sẵn sàng đưa ra câu trả lời cho niềm hy vọng nơi các con” (1 Pr 3,15).”

 

86. Đức Giêsu – Mục tử đầy lòng thương xót

(Suy niệm của Jos. Vinc. Ngọc Biển)

Tin mừng Ga 10: 27-30 Nơi cuộc sống và sứ vụ, Đức Giêsu đã phản ánh sắc nét Lòng Thương Xót của chính Thiên Chúa ngang qua lòng dạ nhân từ, bao dung và tha thứ của Ngài.

Nói đến mục tử và đàn chiên, hẳn người Công Giáo không còn cảm thấy xa lạ về khái niệm và cách gọi. Tuy nhiên, để hiểu và biết cách thấu đáo, có vẻ chưa được đúng đắn, thiết thực cả về vai trò mục tử lẫn bổn phận của con chiên! Vì vậy, Giáo Hội mỗi năm một lần, dành riêng Chúa Nhật thứ IV Phục Sinh, để mời gọi mọi thành phần ý thức về sứ vụ của mình trong vai trò và nhiệm vụ tách biệt, ngõ hầu làm toát lên những nét tiêu biểu của vai trò mục tử và đàn chiên.

Để làm sáng tỏ bản chất thiêng thánh, tất cả chúng ta cần khởi đi và bắt nguồn từ chính Thiên Chúa, vị Mục Tử Tối Cao, nhất là vai trò, sứ vụ Mục Tử nơi Thầy Giêsu.

  1. Thiên Chúa là Mục Tử của dân Người

Hình ảnh Vị Mục Tử Nhân Lành, đầy lòng thương xót được khởi đi từ thời Cựu Ước, qua việc Thiên Chúa luôn chăm sóc, giữ gìn và bảo vệ dân của Người. Thánh Vịnh 23 đã thốt lên niền vinh dự và yên tâm khi được Thiên Chúa bảo vệ: “Đức Giavê là Mục Tử tôi. Tôi không còn thiếu gì. Dù phải đi qua thung lũng tối đem. Tôi cũng không hề lo sợ” (Ҳ. Tv 23,1-6). Qua sự cảm nghiệm trên, tác giả Thánh Vịnh cho thấy: Giavê Thiên Chúa trở thành Mục Tử của dân Israel, Người yêu thương và chăn dắt dân của Người.

Hình ảnh và sứ mệnh của người mục tử cũng được trao phó cho các vị lãnh đạo thời bấy giờ, để họ thay quền Thiên Chúa, lo quản trị, nhắc nhở và nêu gương sáng cho dân.

Tuy nhiên, thật đáng thương vì các mục tử thời đó đã làm cho dân phải đớn đau vì họ không sống đúng vai trò của mình! Điều này đã được Tiên tri Ezekiel quở trách thật nặng nề: “Hỡi các mục tử của Israel, các ngươi đã bị băng hoại rồi! Các ngươi chỉ biết lo cho bản thân mình chứ chẳng hề nghĩ đến bầy chiên… Các ngươi chẳng chăm sóc những con yếu đuối, chữa lành những con bệnh hoạn, băng bó những con bị thương tích, dẫn về những con lệch đường, hoặc tìm kiếm những con bị lạc mất. Vậy hỡi các chủ chăn, hãy nghe đây, Ta, vị Chủ Tể tối cao, Ta tuyên bố rằng… Ta sẽ tách bầy chiên ra khỏi các ngươi… Ta sẽ giao chúng cho một vị vua giống như Đavít tôi tớ Ta để làm mục tử của chúng và Người ấy sẽ lo lắng chăm sóc chúng” (Ҳ. Ez 34,2-4.9-10.23).

Sang thời Tân Ước, Đức Giêsu đã trở thành hiện thân Mục Tử mà Cựu Ước đã tiên báo. Nhưng về cung cách thì hoàn toàn khác. Vì vậy, chính Ngài đã tuyên bố: “Tôi là Mục Tử Nhân Lành. Tôi biết chiên của tôi và chiên của tôi thì nghe tiếng tôi, tôi biết chúng và chúng theo tôi” (Ҳ. Ga 10, 27); “Tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào” (Ҳ. Ga 10, 10), chứ không như những mục tử chỉ biết lo cho mình mà không đoái hoài đến đàn chiên đã được trao phó.

Quả thật, suốt cuộc sống, Đức Giêsu luôn để mắt tới việc dạy dỗ, chữa lành, băng bó những con chiên đau ốm, ghẻ lở; dẫn về những con chiên đi lạc; phục hồi những con mất tư cách; và cuối cùng, hiến tế chính mình cho chiên, để chúng được sống trong niềm vui và hạnh phúc viên mãn. Qua sự hiến dâng như vậy, Đức Giêsu đã trao ban chính sự sống thần linh, tức là sự sống đời đời cho chiên của mình (Ҳ. Ga 10,28).

Như vậy, nơi cuộc sống và sứ vụ, Đức Giêsu đã phản ánh sắc nét Lòng Thương Xót của chính Thiên Chúa ngang qua lòng dạ nhân từ, bao dung và tha thứ của Ngài.

Kết thúc cuộc sống tại thế, Đức Giêsu đã trao phó vai trò mục tử cho các Tông đồ và những người kế vị. Để hành vi thương xót của Thiên Chúa ngang tử vong sống và cung cách của các vị trung gian được tiếp tục tiếp diễn cho đến ngày mọi người đều có một Chủ Chiên duy nhất là chính Thiên Chúa và toàn bộ đều là anh em trong một đàn chiên.

  1. Sứ vụ, vai trò của các mục tử trong Giáo Hội

Khi nói đến vai trò mục tử trong Giáo Hội, tất cả chúng ta nghĩ ngay đến các giám mục, linh mục, phó tế… Các ngài được lãnh nhận sứ vụ này ngang qua Giáo Hội, để ra đi thi hành bổn phận mà Thầy Giêsu đã làm khi xưa.

Sứ mệnh ấy chính là quyền lãnh đạo, giáo huấn và thánh hóa. Tuy nhiên, gương sáng và sự dấn thân sống hết mình vì đàn chiên là điều được đề cao đến nỗi nếu không có chiều kích này, thì việc lãnh đạo, giáo huấn và thánh hóa trở nên một thể chế thuần tục không hơn không kém!

Khi đề cập đến sứ vụ mục tử, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã nhấn mạnh: các mục tử ngày nay không chỉ lo ngại thuần túy về cơ cấu, nhưng còn phải “ngửi thấy mùi chiên”; và “phải mang mùi chiên đó vào mình”. Thật vậy, nếu không “ngửi” và mang “mùi” của chiên nơi mình, có vẻ ranh giới giữa mục tử và kẻ chăn thuê hay cướp bóc chỉ cách nhau gang tấc! Vì vậy, tất cả chúng ta không lạ gì khi vẫn còn đó những vị mục tử luôn nóng nảy, dọa nạt vô cớ; ứng xử phân loại; sống theo hiệu ứng đông người; hay chỉ biết chăm sóc mũ mão cân đai cho chính bản thân, lo củng cố địa vị và uy tín ngang qua những công trình tráng lệ hay những sự kiện hội… Khi lựa chọn như vậy, ấy là lúc những mục tử đang có xu thế “ngoại tình” với những “mục đích rẻ tiền” mà quên đi sứ vụ cao trọng!

Nguyên nhân dẫn theo thảm trạng đau buồn này chính là không tin phục và chẳng sống theo mẫu gương Thầy Giêsu; luôn để cho lòng tự nãm, kiêu căng, vụ lợi, ích kỷ, hèn nhát, thiếu tình thương chỉ đạo, nên chỉ biết lo cho bản thân mà không màng chi đến sứ vụ!

Nếu là mục tử thuộc về Thầy Giêsu, noi gương Đấng Giàu Lòng Thương Xót, thì lòng dạ các ngài sẽ không yên khi còn đó biết bao nhân loại khắc khoải, đói khát, bần hàn, tỗi lỗi… đang ngày đêm kêu van thống, để chỉ mong sao những bước chân của những mục tử dám đi ra “bên lề”, tiến vào những vùng “ngoại biên” để cứu giúp họ, ngõ hầu những con chiên xui xẻo, xấu số này được bàn tay nhân ái của những mục tử nhân lành chạm vào tâm hồn họ, để tâm hồn chiên lạc và khổ đau được nóng và sáng lên nhờ cảm nghiệm được sự an yên thư thái…

Làm được điều đó, các vị mục tử mới thực sự là người thay mặt Chúa để trả lời và mang lại cho nhân loại ngày hôm nay niềm trông mong mà xã hội trần thế không làm được.

  1. Kitô Hữu là con chiên trong đàn chiên của Chúa

Còn với tất cả chúng ta, trong ngày lễ ngày hôm nay, mỗi người hãy thực sự nhìn lại tư cách chiên của mình, để thấy được tình trạng tâm hồn trong tương quan với Vị Mục Tử Giêsu, Đấng mà tất cả chúng ta thật vinh dự khi được trở thành con chiên của Ngài ngày lãnh Bí tích Rửa Tội.

Vì vậy, với tư cách là thành phần trong đàn chiên của Chúa, điều kiện tiên quyết, này là phải tin tưởng và phó thác cuộc sống, vận mệnh, hiện tại và tương lai cho Vị Mục Tử Tối Cao, để được núp dưới cây gậy mục tử nhân lành của Ngai.

Thứ đến là: lắng nghe Lời của Ngài, để: “Chiên Ta thì nghe tiếng Ta” (Ga 10,27), ngõ hầu Lời Chúa trở thành nguồn suối mát, đồng cỏ xanh nuôi sống tâm hồn tất cả chúng ta.

Tiếp theo là đi theo, gắn bó mật thiết như hình với bóng, để trở nên đồng hình đồng dạng với Ngài trong tâm tư, hành động, lời nói.

Cuối cùng, sống chứng nhân lòng thương xót của Thiên Chúa cho anh chị em, nhất là ngang qua nghĩa cử, lòng nhân ái của tất cả chúng ta.

Lạy Chúa Giêsu, Mục Tử Nhân Lành, xin cho các chủ chăn trong Giáo Hội ngày hôm nay biết phản chiếu lòng thương xót của Chúa cách trung thực. Xin cho chúng con trở thành con chiên ngoan hiền để tận hưởng nguồn hoan lạc của đồng cỏ xanh tươi và dòng suối mắt dưới bóng cánh và cây gậy mục tử của Chúa. Amen.

 

87. Suy niệm của Jos. Vinc. Ngọc Biển

HÃY YÊU NHƯ LÒNG DẠ THƯƠNG XÓT CỦA THIÊN CHÚA

Đọc lại lịch sử Giáo Hội Công Giáo Việt Nam thủa ban đầu, tất cả chúng ta thấy cha ông mình đã sống hết lòng yêu thương và đoàn kết với nhau. Vì vậy, những người ngoài Công Giáo thời đó không biết tiền nhân của tất cả chúng ta theo đạo gì mà lại sống những giá trị cao đẹp như vậy, nên họ nói với nhau: những người này họ sống “Đạo Yêu Nhau”.

Vì sao các tín hữu lại có lối sống như vậy? Lối sống đó bắt nguồn từ đâu? Thưa! Các ngài đã lấy Chúa làm trung tâm, làm điểm tựa cho mọi hoạt động. Lấy trí não nhân ái, yêu thương làm ra bản chất của mình. Mọi giá trị và ưu phẩm đó khởi đi từ một Đấng đã sống và dạy cho nhân loại bài học “yêu thương”, Đấng đó chính là Đức Giêsu.

  1. Đức Giêsu là hiện thân của tình yêu

Khởi đi và bắt nguồn từ lòng dạ thương xót của Thiên Chúa Cha, vì vậy, người: “Yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16).

Đến lượt Đức Giêsu, Ngài cũng sống triệt để sứ mệnh đó khi yêu và yêu đến cùng. Ở điểm này, thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu Philipphê đã diễn tả hành vi thương xót của Đức Giêsu như sau:“Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế” (Pl 2,6-8).

Thế nên, cả cuộc sống của Đức Giêsu chỉ có một nỗi thao thức, này là “chạnh lòng thương” đến những người xấu số. Luôn thông cảm với người tội lỗi, nâng đỡ kẻ yếu đuối, vỗ về người thất vọng. Xót thương đến đàn chiên trơ trọi không người chăn dắt, nên đã nuôi sống họ bằng phép lạ hóa bánh ra nhiều. Ngài không đành lòng khi nhìn thấy những người ốm đau bênh tật, nên sẵn lòng ra tay chữa lành. Ngài còn cúi xuống rửa chân cho các môn đệ; làm ơn cho kẻ hại mình; yêu luôn cả kẻ thù và sẵn sàng tha thứ cho họ. Không những thế, Đức Giêsu còn trao ban chính mình Ngài cho tất cả chúng ta qua Bí tích Thánh Thể và ở lại mọi ngày với loài người cho đến tận thế. Đỉnh cao của mầu nhiệm thương xót này chính là chết chóc trên thập giá để hiến mạng vì người mình yêu: “Không có mối tình nào lớn lao cho bằng mối tình của kẻ chết vì người mình yêu” (Ga 15,13).

Đồng thời, do lòng xót thương xúc tiến, Đức Giêsu không ngừng lên tiếng phản đối những kẻ không chút thương xót và gây nên những hậu quả bi đát cho những người thấp cổ bé họng, khiến họ phải lao tâm khổ tứ, quằn quại trong khổ nhục đắng cay…

Như vậy, cả cuộc sống của Đức Giêsu đã sống và chết vì yêu. Qua đó, Ngài cũng dạy cho các môn đệ bài học về tình yêu: “Đây là Điều Răn của Thầy: Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15,12).

Lệnh truyền: “Hãy yêu thương nhau” là di chúc của Đức Giêsu giành riêng cho các môn đệ khi sắp lên đường chịu chết. Còn yêu “như Thầy đã yêu” là căn cốt của tình yêu, là một lối yêu mới, khác với lối yêu cũ của thời Cựu Ước.

  1. Điểm mới của giới luật yêu thương

Khi khuyên bảo các môn đệ: “Hãy yêu thương nhau”, Đức Giêsu không chỉ dừng lại ở khái niệm trừu tượng, chung chung, mà Ngài nói tiếp: “Yêu như Thầy đã yêu”. “Yêu Như Thầy”, chính là điều khác biệt với những kiểu yêu trước đó, và “Yêu như Thầy” đã làm ra điểm mới của giới luật yêu thương nơi người môn đệ Đức Giêsu.

Nếu thời Cựu Ước, người ta yêu nhau theo lẽ công bình, tức là được phép trả thù khi có người làm hại mình: “Mắt đền mắt, răng đền răng”, hay đi xa hơn một tí thì cũng chỉ là yêu mọi người như yêu chính mình.

Nhưng với lời mời gọi: “Yêu như Thầy”, Đức Giêsu muốn đột phá và đi đến tận căn của tình yêu.

Chữ “như” ở đây không phải là liên từ để so sánh hai vế, mà nó có một ý nghĩa rất đặc biệt, này là mở ra nguồn gốc của tình yêu. “Yêu như Thầy”, tức là lấy khuôn mẫu tình yêu giữa Đức Giêsu với Chúa Cha và giữa Ngài với các môn đệ, để các ông cũng yêu nhau và yêu mọi người như chính mình đã nhìn thấy và được yêu.

Vậy “yêu như Thầy đã yêu” là gì?

Thưa, này là hạ mình như một người tôi tớ. Tự hủy mình ra không và từ bỏ cái tôi ích kỷ. Yêu với một tình yêu phát xuất từ lòng dạ xót thương chứ không phải một thứ tình yêu vụ lợi, thực dụng, chụp giật. Yêu với một thái độ thông cảm, phục vụ chứ không phải bố thí, ban phát, thương hại. “Yêu như Thầy” là không cố chấp, coi người làm hại mình là bạn và sẵn lòng tha thứ toàn bộ. Đỉnh cao của tình yêu này chính là chết thay cho người khác, đây chính là một tình yêu cao thượng.

Với toàn bộ những nét đặc trưng trên đã làm ra điểm mới của luật yêu thương mà Đức Giêsu mời gọi các môn đệ trong bài Tin Mừng ngày hôm nay.

  1. Sống và thi hành giới luật yêu thương

Sứ điệp Lời Chúa ngày hôm nay dạy cho tất cả chúng ta bài học mới về tình yêu; đồng thời cũng nêu ra cho tất cả chúng ta thấy điểm khởi nguồn và phát xuất tình yêu, này là lòng thương xót.

Lời mời gọi: “Hãy yêu như Thầy” mà Đức Giêsu trăng trối cho các môn đệ thì cũng là tâm tư mà Ngài muốn gửi đến cho mỗi người tất cả chúng ta.

Vì vậy, ngày hôm nay, tất cả chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu và tập sống trí não yêu thương ấy ngang qua một nghĩa cử xót thương rõ ràng với những người mà tất cả chúng ta hay gọi là kẻ thù của mình. Bởi vì yêu được kẻ thù, ấy là tất cả chúng ta đang thực thi cốt lõi của tình yêu, là phản ảnh lòng dạ thương xót của Thiên Chúa cho anh chị em của mình cách sắc nét nhất.

Tuy nhiên, muốn thực hiện được điều đó, trước tiên, tất cả chúng ta phải thay đổi ý kiến và tên gọi cho phù phù hợp với trí não Tin Mừng. Khi dùng từ kẻ thù, ấy là lối nói có tính tiêu cực, và vô hình chung, ta coi đối phương là kẻ mà chắc cú phải tiêu diệt! Vì vậy, muốn yêu kẻ thù, tất cả chúng ta nhất định phải thay đổi cách gọi, ý kiến và lối nhìn.

Thứ đến, khi người anh chị em tất cả chúng ta xúc phạm đến ta, hãy coi nhẹ lỗi của họ, đừng thổi phồng như bong bóng. Nhiều khi cần phải đặt mình vào hoàn cảnh của người anh em để dễ thông cảm cho hành vi của họ hơn. Nhìn thấy lỗi của anh em gây ra cho mình, ngay nhanh chóng, thận trọng và hồi tâm tư duy: có lúc nào cũng cùng lỗi đó, mình đã gây ra cho người khác không? Thỉnh thoảng lỗi của mình nặng hơn chăng? Hay điều mà người anh em đang gây ra cho mình có vẻ đúng! Nếu đúng, vì sao không biết cám ơn, nếu sai, sao phải hận thù cho khổ tâm!

Tiếp theo, noi gương Đức Giêsu trên thập giá, không ngớt cầu xin Chúa Cha tha cho kẻ hại mình. Vì vậy, khi gặp phải những người hại ta, hãy nguyện cầu cho họ. Xin cho họ và ta được bình an. Hành vi này thật cao quý, vì hơn lúc nào hết, trong tận cùng của khổ đau, tất cả chúng ta lại thật hạnh phúc vì đang được diễm phúc tham gia vào quá trình cứu chuộc của Thiên Chúa cách rõ ràng.

Cuối cùng, khi bị hiểu nhầm, vu khống, phân biệt, thậm chí bách hại bằng tư tưởng, miệng lưỡi hay đòn vọt và chết chóc, ta hãy vui mừng, bởi lẽ, này là lúc ta được tôn vinh vì đang được hiệp thông với Đức Giêsu chịu đóng đinh.

Lạy Chúa Giêsu, Đấng hiện thân của lòng thương xót, xin Chúa ban cho chúng con được ở lại trong tình yêu của Chúa và luôn biết yêu thương nhau như Chúa đã yêu và thương xót chúng con. Amen.

 

88. Suy niệm các ngày trong tuần 5 PS.

Jos. Vinc. Ngọc Biển

THỨ HAI (Ga 14, 21-26)

Hãy làm mới lại tình yêu “Yêu sẽ giữ Lời”

Trong tình yêu, hẳn ai cũng hiểu rằng: “Yêu ai thì đều muốn cho người mình yêu được hạnh phúc và tìm mọi cách để cho người yêu của mình được hài lòng…”.

Đây là tình yêu tự nhiên của nhân loại giành riêng cho nhau. Nhưng tình yêu giữa ta và Chúa thì hoàn toàn khác. Khác ở chỗ: nếu ta nói mình yêu Chúa, thì Lời Chúa phải ở trong ta và sẽ chi phối mọi lời nói, hành động và việc làm của ta.

Vì vậy, Đức Giêsu nói: “Ai nghe các giới răn Thầy truyền và tuân giữ, người ấy là kẻ yêu mến Thầy”. Như vậy, yêu mến Chúa là giữ lời Chúa truyền, và người yêu mến Thiên Chúa thì sẽ được: “Cha của Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy, và sẽ tỏ mình ra cho người ấy”.

Khi yêu mến Thiên Chúa, tất cả chúng ta yêu Ngài bằng một tình yêu đơn sơ chân tình. Tình yêu của người con so với người cha. Tuy nhiên, để tình yêu được nên trọn, tất cả chúng ta còn phải có chiều kích thứ hai, này là yêu tha nhân như Chúa yêu. Tức là yêu hết mọi người không phân biệt. Yêu người thương mình và yêu cả người ghét mình. Chỉ có tình yêu như vậy, mới mang lại cho ta hạnh phúc thực sự. Trái lại, nếu chỉ yêu kẻ làm ơn cho mình, thì phải chăng là thứ tình yêu tự nhiên thuần túy.

Sứ điệp Lời Chúa ngày hôm nay mời gọi tất cả chúng ta hãy làm mới lại tình yêu của mình với Chúa. Tức là lấy Lời Chúa làm lẽ sống, làm định luật và tiêu chuẩn để ta yêu và yêu bằng tình yêu của chính Chúa. Sống và giữ Lời Chúa cách trung thành, không bóp méo và ngụy biện hay lấy Lời Chúa làm bình phong cho những hành động đen tối của mình.

Lạy Chúa Giêsu, Lời Chúa mang lại cho chúng con niềm vui và bình an đích thực. Xin Chúa ban cho chúng con luôn yêu mến và tuân giữ Lời Chúa, để Lời Chúa trở thành lẽ sống và lý tưởng vươn tới sự hoàn thiện của chúng con. Amen.

THỨ BA (Ga 14, 27-31a)

Bình an là ân ban của đức tin

Bình an là thứ mà nhân loại mọi thời, mọi nơi, từ già đến trẻ, từ người có quyền lẫn người dân dã, ai ai cũng muốn và khao khát chiếm hữu cho kỳ được.

Tuy nhiên, bình an mà nhân loại tìm kiếm ở đây, chính là thứ bình an trong trạng thái: không chiến tranh; không bị áp bức, bóc lột; không ốm đau bệnh tật; không tai nạn rủi ro…

Nhưng điều nhân loại ước mong đó chỉ là thứ bình an ngoại hình, nó không có chiều sâu và không chi phối hạnh phúc vĩnh cửu. Nó cũng không thể thiết thực và tồn tại với thời gian. Bởi vì, sự bất ổn trong xã hội cũng như tâm lý bất an của nhân loại luôn hiện diện và đeo bám tất cả chúng ta cách song song.

Vì vậy, chiến tranh vẫn còn đó từ thời Đức Giêsu cho tới ngày nay. Nhân loại vẫn phải chịu cảnh thống khổ, tai ương, đối xử bất công… Nhân loại cũng luôn phải đối mặt với những chứng bệnh thế kỷ mới của thời kì, gây nên sự chết chóc, tang thương…

Như vậy, nếu chỉ mong được bình an hòng tránh khỏi những điều nguy hiểm trên thì nó không đảm bảo hạnh phúc cho tất cả chúng ta. Còn bình an mà ngày hôm nay Đức Giêsu trao ban cho các môn đệ thì hoàn toàn khác. Khác ở chỗ:

Nếu muốn được bình an thực sự, trước tiên phải có đức tin. Chỉ có đức tin mới cảm nghiệm được sự bình an sâu xa trong tâm hồn. Bởi lẽ: bình an của Đức Giêsu chính là bình an ngay trong những khốn khó đau thương, bách hại, mất mát và ngay trong những hiểu nhầm oán ghét, bất công… Như vậy, ơn bình an này chính là ân huệ đức tin và hệ quả của bình an chính là mang lại ơn cứu chuộc cho nhân loại chứ không phải mang lại cho nhân loại sự yên tâm, đảm bảo phần xác.

Sự điệp Lời Chúa ngày hôm nay mời gọi tất cả chúng ta hãy sống tình trạng bình an của Chúa ngay trong những trái ngang của cuộc sống và xã hội. Tức là, cho dù cuộc sống có bất công, nhân loại có tàn nhẫn, đâu khổ có dồn dập, kẻ thù có lộng hành, sự ác có thắng lợi, thì với tất cả chúng ta, những người tin Chúa, tất cả chúng ta hãy nhìn toàn bộ chiều kích đó dưới con mắt đức tin và tâm niệm rằng: toàn bộ đều sinh ích cho người có lòng yêu mến Chúa, và với ân sủng của Chúa, thì Ngài có thể biến từ sự dữ trở nên sự lành.

Có được tâm tình đó, chắc cú tất cả chúng ta có được sự an yên thư thái, và bình an của Chúa sẽ ngự trị nơi tâm hồn tất cả chúng ta.

Lạy Chúa Giêsu, ơn ban bình an của Chúa là quà tặng vô giá Chúa ban cho các môn đệ và cũng cho mỗi người chúng con. Xin cho chúng con luôn được ở trong sự bình an đó ngày hôm nay và mãi mãi. Amen.

THỨ TƯ (Ga, 15,1-8)

Phối hợp để sinh hoa trái

Khi nói đến cây nho, tất cả chúng ta nghĩ ngay đến bà con nông dân khu vực duyên hải Miền Trung Việt Nam, bởi vì nơi đây, trào lưu trồng nho đã trở thành nghề chính của người dân. Khi trồng nho, người ta phải chăm bón, và nhất là cắt tỉa đúng quy cách mới mong một vụ mùa bội thu. Nếu không biết chăm bón đúng cách và không dám cắt tỉa, cây nho sẽ không sinh trái hay chỉ sinh ra những trái sâu xi, sần sùi, èo ọt…

Ngày hôm nay, Đức Giêsu dùng hình ảnh cây nho để nói lên mối tương quan giữa Ngài với dân và đồng thời cũng nói lên thực tại Nước Trời ngang qua hình ảnh cây nho và cành nho.

Cây nho là thứ thực vật hầu hết của người Palestina thời Đức Giêsu. Cây nho đang là biểu trưng của chính dân Iraenl. Vào thời Cựu Ước, các tiên tri đã lên tiếng cảnh tỉnh dân chúng khi mượn hình ảnh cây nho không trái hay cho ra những loại rượu đắng chát không đạt tiêu chuẩn để nói lên sự thờ ơ, bất trung, phản bội của dân với Thiên Chúa.

Ngày hôm nay, Đức Giêsu cũng dùng lại hình ảnh cây nho để nói lên sự gắn bó và hệ quả của nó trong tương quan giữa Ngài với ta. Vì vậy, Ngài đã ví mình là cây nho, tất cả chúng ta là cành nho. Đồng thời, Ngài cũng tiên báo, muốn được sinh hoa trái thiêng liêng, ắt phải cắt tỉa những cành ích kỷ, vụ lợi, giả hình, kiêu ngạo, gian dối, bất công…, để từ đó nảy thêm những mầm nho mới và sẽ sinh ra hoa trái của chân thực, nhân từ, bao dung, khiêm nhường, từ bi, nhân hậu…

Sứ điệp Lời Chúa ngày hôm nay mời gọi tất cả chúng ta: hãy kết phù hợp với Chúa như cành nho với thân nho, như hình với bóng, để sự sống của ta là của Chúa và hoa trái được sinh ra chính là hoa trái cùng dòng giống với Đức Giêsu.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa là cây nho, chúng con là cành. Xin cho chúng con mãi mãi được gắn bó với Chúa như cành liền cây, để chúng con được ơn cứu chuộc và chia sẻ hoa trái cứu chuộc đó cho anh chị em xung quanh. Amen.

THỨ NĂM (Ga, 15, 9-11)

Nếu… thì sẽ…!

Đau buồn, trằn trọc, xao xuyến và lưu luyến trước sự ra đi vĩnh viễn của người thân là lẽ thường tình. Nhất là sự ra đi ấy lại là chết chóc. Vì vậy, trước sự chia lìa đó, người ta thường trăn trối cho nhau những lời tâm huyết phát xuất từ đáy lòng. Người trăn trối thì thỏa lòng, người đón nhận thì trân trọng và coi đây như lời thiêng liêng nên tìm mọi phương pháp để thi hành.

Ngày hôm nay, Đức Giêsu biết mình sắp rời bỏ thế gian để về với Chúa Cha, nên trong tình nghĩa thầy trò và nhất là vì sứ vụ chuyển trao, nên Đức Giêsu đã có những lời trăn trối với các môn đệ: “Như Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến các con như vậy”. Tiếp theo, Ngài dặn dò các ông: “Nếu anh em giữ giới răn của Thầy, anh em sẽ ở lại trong tình thương của Thầy”.

Đến đây, tất cả chúng ta liên tưởng đến những lời truyền dạy của Đức Giêsu trong buổi tiệc ly: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”.

Như vậy, với văn mạch, tất cả chúng ta có thể hiểu rằng: lệnh truyền yêu thương là điều Đức Giêsu muốn nơi các môn đệ của mình… Ngài cũng muốn các ông trải dài lệnh truyền ấy không chỉ bằng lời nói, mà là hành động.

Tuy nhiên, suốt hơn hai ngàn năm qua đi, sự sung túc, quyền lực và thực dụng… đã làm cho nhân loại ngày càng xa rời nhau khi sự phân biệt giàu nghèo được thiết lập ngay tại tâm can của nhân loại. Vì vậy, người ta không ngừng củng cố uy tín bằng quyền lực mà quên đi tình thương. Sự liên đới trong trí não trách nhiệm phải chăng là điều xa xỉ, ý kiến chụp giật là đề tài được nhiều người lựa chọn! Bởi vì mục đích của họ là thỏa mãn cái bụng, củng cố cái ghế, chứ không phải sống và thi hành tâm tư lòng thương xót của Thiên Chúa.

Thế nên, xã hội và nhân loại ngày hôm nay nhiều khi không màng chi đến tín nghĩa, ân tình và lòng từ bi thương xót… Lời trăn trối của Đức Giêsu khi xưa phải chăng đã đi vào quên lãng?

Không! Nếu nhân loại và xã hội ngày hôm nay không chấp thuận đi vào mối tương quan với Thiên Chúa, thì tất cả chúng ta, những người Kitô hữu, mỗi người không thể thờ ơ trước lời trăn trối đầy yêu thương của Đức Giêsu được. Bởi lẽ đây là điều cơ bản trổ tài căn tính của người Công Giáo. Mất đi bản chất này, tất cả chúng ta không đang là Kitô hữu đúng nghĩa!

Lạy Chúa Giêsu, những lời trăn trối của Chúa ngày hôm nay đã làm cho mỗi người chúng con phải tự cật vấn lương tâm mình, để sống sao cho phù phù hợp với tư cách người môn sinh của Chúa trong toàn cầu ngày hôm nay. Amen.

THỨ SÁU (Ga 15, 12-17)

“Yêu như Thầy”

Yêu và muốn được yêu chính là nhu cầu của nhân loại. Nếu vắng bóng tình yêu, nhân loại chỉ còn tồn tại cách đối xử với nhau như loài vật. Họ sẽ cắn xé nhau chỉ để đảm bảo việc sinh tồn mà thôi.

Thấy được tầm trọng yếu của tình yêu giữa người với người, và cũng thấy được sự cao quý của tình yêu giữa Thiên Chúa và nhân loại. Không chỉ vậy, cần phải làm cho bản chất của Thiên Chúa được trổ tài trong cuộc sống của người môn đệ, nên Đức Giêsu đã truyền và dạy cho các ông bài học yêu thương khi nói: “Anh em hãy thương nhau như Thầy đã thương yêu anh em”.

Khi nói như vậy, Đức Giêsu muốn cho những ai tin và tiếp bước thì cũng được hòa vào và đi trong đường lối yêu thương của Thiên Chúa để được hạnh phúc. Đồng thời cũng nên sống và diễn tả tình yêu ấy cho người khác.

Sứ điệp Lời Chúa ngày hôm nay mời gọi mỗi người hãy yêu thương nhau bằng một tình yêu không phân biệt hay ngoại trừ. Yêu mà không mong đền đáp, nhưng yêu một cách vô vị lợi, luôn chia sẻ, thông cảm và tha thứ với mọi hoàn cảnh. Sẵn sàng phục vụ như một người tôi tớ… và cuối cùng, coi sự sống của mình là sự sống của người khác, nên nếu cần, chấp thuận hy sinh cho người khác như Đức Giêsu đã hiến mạng vì bằng hữu của mình.

Lạy Chúa Giêsu, lời mời gọi yêu như Chúa, chúng con hiểu cả! Nhưng sống điều mình hiểu thật là không dễ chút nào! Xin Chúa ban cho chúng con quả tim, đôi mắt, đôi tai, đôi tay và đôi chân của Chúa, để chúng con dũng cảm thực thi lệnh truyền yêu thương của Chúa trong niềm tin, lòng mến và sự phó thác. Amen.

THỨ BẢY (Ga 15,18-21)

Xin cho được xứng đáng

Người Công Giáo mọi thời, mọi nơi luôn gặp phải những thử thách, bắt bớ. Tình trạng này càng rõ rệt hơn nữa trong những năm gần đây: nhiều linh mục, tu sĩ và giáo dân bị tóm gọn, giết chết cách tàn nhẫn ác ôn…!

Vì sao vậy? Thưa, chỉ vì người Kitô hữu mãi mãi là khách lạ trên cuộc sống này khi không chịu khuất phục những điều gian dối, bất nhân trái với luân lý và giá trị Tin Mừng… Vì vậy, việc bắt bớ, ngoại trừ là điều mà những kẻ chống đối Giáo Hội luôn nhắm tới tất cả chúng ta.

Tin Mừng ngày hôm nay, Đức Giêsu cũng thông báo cho các môn đệ biết trước những thống khổ mà các ông sẽ phải chịu vì danh Ngài. Đồng thời, Ngài cũng mang ra một quy luật: “Tôi tớ không trọng hơn chủ được”; “Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước”; “Nếu họ bắt bớ Thầy, họ cũng bắt bớ anh em”.

Tuy nhiên, mỗi người tất cả chúng ta khi đứng trước thử thách, thống khổ, bách hại… cần phải có thái độ:

Thứ nhất: Thiên Chúa luôn thanh luyện nhân loại bằng thử thách để xứng với vinh quang mà Ngài sẽ ban cho sau những khổ đau ấy. Bởi vì: nếu ta cùng lao khổ với Người thì cũng được  vinh hiển với Người (Ҳ. Rm 8,17). Những xấu số, mất mát và thiệt thòi ở đời này không đáng là gì so với vinh quang sẽ tỏ hiện mai sau (Ҳ. Rm 8,18).

Thứ hai: chỉ những ai bền đỗ đến cùng trong thử thách mới được cứu độ (Ҳ. Mt 10,22). Triều thiên sự sống chỉ có thể trao ban ở cuối đường cho những ai trung thành (Ҳ. Kh 2,10).

Thứ ba: cần phải có thái độ như thánh Phaolô: mọi sự đều mưu ích cho con cháu Chúa (Ҳ. Rm 8,28) và Ngài không thử thách quá sức chịu đựng của nhân loại.

Lời Chúa ngày hôm nay mời gọi tất cả chúng ta ý thức sâu sắc về danh hiệu Kitô hữu của mình. Khi mang danh hiệu này, tất cả chúng ta thuộc về Đức Kitô, được thông phần thống khổ với Ngài và được vinh hạnh cùng Ngài cứu chuộc toàn cầu ngang qua những thống khổ mà tất cả chúng ta phải chịu vì danh Đức Giêsu. Vì vậy: những trái khuấy dồn dập tư bề; những thống khổ về trí não lẫn thể xác như: bị tóm gọn bớ, đánh đập và ngay cả chết chóc… tất cả chúng ta hãy vui mừng hân hoan, bởi lẽ, lúc đó, tất cả chúng ta được trở nên giống Đức Giêsu hơn lúc nào hết và thật vinh hạnh vì được thuộc về Ngài chứ không thuộc về thế gian.

Lạy Chúa Giêsu, vì danh Chúa, nhiều khi chúng con bị khốn khó đắng cay. Xin Chúa ban sức mạnh, để chúng con trung thành vác thập giá hằng ngày vì vậy. Amen.

 

89. Ghi chú của Noel Quesson

Tôi là…

Cần phải đặc biệt Note tới hai từ trên mà Đức Giêsu đã không ngần ngại sử dụng nhiều lần trong Tin Mừng theo thánh Gioan (Ga 4,26; 7,29; 8,58; 13,19; 14,20; 17,24; 18,5) Ta cũng biết rằng, hai từ đó gợi lên kiểu viết “bốn chữ cái không phát âm được là “Tên mầu nhiệm” mà chính Thiên Chúa đã tự mạc khải cho Môsê trong sa mạc Sinai.

YHVH được dịch chuyển thành YaHVeH và đọc là “Adonai”, “Đức Chúa”.

Hơn nữa, qua nhiều câu trích dẫn như dưới đây, Tin Mừng theo thánh Gioan đã sử dụng tới ba mươi lần hai từ trên “Tôi là…”, kèm theo một phẩm tính:

– “Tôi là Bánh hằng sống” (Ga 6,35-42,48-51).

– “Tôi là ánh sáng thế gian” (Ga 8.12-9,5).

– “Tôi là Sự sống lại và là sự Sống” (Ga 11,25).

-“Tôi là Cây nho thật” (Ga 15,l-5).

-“Tôi là Cửa cho chiên ra vào” (Ga 10,7-9).

-“Tôi là Mục tử nhân lành” (Ga 10,11-14).

Theo các nhà ghi chú Kinh Thánh đúng đắn, những kiểu nói trên muốn diễn tả hữu thể thần linh của Đức Giêsu. Thánh Gioan đã viết: “Ngôi Lời đã trở nên người phàm” (Ga ɭ,14).

Tôi là Mục tử nhân lành (người chăn chiên đích thực).

Ở đây, Đức Giêsu không chỉ sử dụng một hình ảnh đẹp dân gian và đồng quê, nhưng trước hết này là một kiểu nói Kinh Thánh vô cùng phong phú. Trong khắp vùng Đông Phương cổ, các vua chúa thường tự coi mình như mục tử chăn dắt dân nước. Chính Giavê cũng đóng vai trò đó khi giải thoát dân riêng khỏi Ai Cập: “Người lùa dân Người đi ví thể đàn chiên, Người dẫn dắt chúng như đàn cừu ngang qua sa mạc” (Tv 78,52). Đavit, một trong những nhà lãnh đạo chính trị trước tiên của Israel, là một cậu chăn chiên tại Bêlem (1 Ş 17,34-35). Ông Vua lý tưởng của tương lai, Đức Mêxia, Đavit mới, cũng được loan báo như một “Mục tử”: “Ta sẽ chỗi dậy một mục tử duy nhất, Ngài sẽ chăn dắt chúng. Đó là Đavit, tôi tớ của Ta” (Ed 34,23).

Mọi thính giả của Đức Giêsu, cũng như chính Người, đều hiểu rõ những trích dẫn Kinh Thánh trên, nhất là chương 34 nổi tiếng của ngôn sứ Êdêkien, diễn tả khá dài những mục tử xấu ác (các vua thời đó) không quan tâm chăm sóc đoàn chiên của họ trước khi quyết đoán rằng, Thiên Chúa Giavê phán thế này: Chính Ta sẽ tìm kiếm chiên của Ta, và Ta sẽ chăm nom chúng. Ta sẽ kéo chúng ra khỏi mọi nơi chúng tán loạn. Ta sẽ chăn nuôi chúng nơi bãi cỏ tốt. Chính Ta sẽ chăn nuôi chiên của Ta, sấm của Đức Chúa Giavê. Chiên thất lạc, Ta sẽ tìm kiếm” (Ed 34,1-31).

Như vậy, rõ ràng của Đức Giêsu cũng không thể lầm về địa vị đó. Họ rất hiểu ý định của Chúa: “Nhiều người trong nhóm họ nói: ông ấy điên khùng rồi? ‘Kẻ khác bảo: ông nói phạm thượng, ông là người phàm mà lại tự cho mình, là Thiên Chúa” (Ga 10,20-33). Cũng chính vì thế, họ lấy đá để ném Đức Giêsu.

Có vẻ tất cả chúng ta nên nguyện cầu lâu hơn dựa vào hình ảnh “Mục tử” biểu trưng này, ví dụ dùng Thánh Vịnh 22: “Chúa là Mục tử chắn dắt tôi, Tôi chẳng thiếu thốn gì. Trong đồng cỏ xanh tưới, Người cho tôi nằm nghỉ. Người đưa tôi đến dòng nước trong lành, và bổ sức cho tôi”.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đang dẫn con đi. Lạy Chúa Giêsu, Chúa đang chăm sóc. Lạy Chúa Giêsu, Chúa yêu mến con. Và nguyện cầu như vậy, không phải là một kiểu nguyện cầu chủ quan, nặng tình cảm và trống rỗng: Tất cả chúng ta sẽ nhận thấy, Đức Giêsu còn tiếp tục gọi lên cho ta nội dung nguyện cầu phong phú hơn.

Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi. Tôi biết chúng và chúng theo tôi.

Ngày nay, hình ảnh con cừu, hình ảnh đoàn vật dễ mang một nghĩa xấu: Đừng có u lì như lũ cừu? Đừng có trí não. đoàn vật? Thực sự, hình ảnh của Kinh Thánh mang ý nghĩa trái lại. Ở đây, ba động từ được Đức Giêsu nói lên, là những động từ thúc đẩy rất phù phù hợp với nhân loại: nghe, biết, theo.

“Nghe”: này là một trong những thái độ cốt yếu, trong tương quan giữa hai người. Biết lắng nghe, là dấu chỉ của tình yêu đích thực. Biết bao lần, ngay trong một nhóm người, ngay lúc tụ họp xung quanh một bàn tròn, ngay trong một cuộc trao đổi mệnh danh là hội thoại, vậy mà thực sự ta, chưa biết lắng nghe. Trong Kinh Thánh, các ngôn sứ không ngừng mời gọi Israel biết lắng nghe. “Hỡi Israel, hãy nghe đây?” (Đnl 6,4; Am 3,1; Tv 29,3-9). Lắng nghe, này là khởi sự của sự tin tưởng. Thánh Gioan đã giới thiệu Đức Giêsu như Ngôi Lời, Lời Thiên Chúa mà Chúa Cha muốn ngỏ cùng thế gian. “Đây là Con yêu dấu của Ta. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người” (Mt 17,5).

“Theo”: này là một hành động không có gì là thụ động cả, nhưng diễn tả một thái độ tự do: dính kết toàn thân một người nào đó vào thân phận một kẻ khác. Theo nghĩa là gắn bó với… Đức Giêsu mời gọi: “Hãy theo tôi” (Ga ɭ,42).

“Biết”: trong Kinh Thánh, từ này trước hết không mang một ý nghĩa tri thức. Chính tình yêu mới làm cho ta nhận ra người nào đó một cách đích thực, đến nỗi đoán được cả tâm tính họ. Sự tin tưởng, hiểu biết lẫn nhau, yêu mến sâu xa, hiệp thông tâm hồn, trí não, thân xác… là dấu chỉ của tình yêu vợ chồng (St 4,ɭ).

Tôi ban cho chúng sự sống đời đời, không lúc nào chúng phải diệt vong, và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi.

Đây đúng là một cộng đồng sinh mệnh giữa Mục tử và đoàn chiên, giữa Đức Giêsu và “những kẻ nghe tiếng Người và theo Người”. Đúng là một sự link vĩnh viễn.

Lạy Chúa, khi nguyện cầu, con cố tưởng tượng ra, thực sự con đang ở trong “bàn tay Chúa”. Bàn tay mà Chúa đã giơ ra cho người bệnh để cứu chữa họ. Bàn tay Chúa đã chìa ra cho Phêrô lúc ông chìm sâu dưới lòng biển. Bàn tay đã cầm Bánh hằng sống, vào chiều Thứ Năm Thánh. Bàn tay mà Chúa đã dang rộng trên thập giá tại đồi Gôngôtha. Bàn tay bị thương tích do đinh đâm thấu qua, mà Chúa đã minh chứng với Tôma. Trong bàn tay đó, Chúa đã nắm chặt lấy con và không ai có thể cướp được con! Lạy Chúa Giêsu xin tạ ơn Chúa.

Cha tôi, Đấng đã ban chúng cho tôi, thì to hơn toàn bộ, và không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha.

Như vậy, tất cả chúng ta được cả “hai bàn tay” giữ gìn.

Như một bé thơ được cả cha mẹ giữ gìn, và hướng dẫn trong an toàn tuyệt đối, hình ảnh đó đẹp biết bao!

Lạy Chúa, con muốn dùng hình ảnh trên để nguyện cầu cùng Chúa. ‘Lạy Chúa Giêsu và Chúa Cha, xin giữ gìn những người con thương mến trong bàn tay của Chúa.

Tuy nhiên, tất cả chúng ta cũng nhận thấy rằng, đó không phải là cảnh sắc màu mè diễn tả những “mục tử hiền lành” và các chú cừu con lông xoăn”. Người mục tử Đông phương là một người du mục đáng gườm, một thứ lính chiến, có khả năng bảo vệ đoàn vật mình khỏi thú dữ… gấu hay sư tử đến để cướp đoạt một con chiên khỏi đàn (1 Ş 17,34-35).

Đức Giêsu, khi Người nói những lời đó, đã nghĩ đến cuộc giao chiến kịch liệt mà Người sẽ phải đường đầu trong cuộc Thụ khổ để đối phương “không cướp được” một chiên nào khỏi tay Người. Khác với kẻ chăn thuê, thường chạy trốn trước sói dữ, Đức Giêsu sẽ phó nộp và đành mất mạng sống mình vì chiên của Người (Ga 10,12-15).

Cùng với Đức Giêsu, tôi có khả năng, tranh đấu để cứu sống anh em tôi không?

Không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha. Không ai cướp được chúng khỏi tay tôi.

Thế nhưng, lạy Chúa, làm sao giải thích được những hiện tượng bỏ hàng ngũ, bất trung thường thấy xung quanh chúng con, hay ngay trong đời sống chúng con?

Này là mầu nhiệm của tự do! Nhưng một điều tất cả chúng ta cần biết, này là không khi nào Chúa buông bỏ! Chỉ có nhân loại rời bỏ bàn tay Chúa. Và ngay khi nhân loại rời bỏ, Thiên Chúa vẫn tiếp tục tìm liên hệ lại. “Người nào trong các ông có một trăm con chiên mà bị mất một con, lại không để chín mươi chín con kia ngoài đồng, để đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất?” (Lc 15,4-7). Vậy tất cả chúng ta đã tự tạo hình ảnh sai lầm nào về Thiên Chúa, để nghĩ rằng Người có thể kết án những tội nhân? Chớ gì tất cả chúng ta cần nỗ lực ít phạm tội so với Thiên Chúa yêu thương!

Tôi và Chúa Cha là một.

Các chiên của Đức Giêsu, Người nói chúng đã được Chúa Cha, Thiên Chúa trao phó cho Người. Nhưng chúng vẫn luôn ở trong bàn tay của Thiên Chúa.

Những kiểu nói như trên đã dẫn tất cả chúng ta bước vào một vực thẳm choáng váng, khi đứng trước nhân loại Giêsu Nadarét: trong nhân loại thực sự đã được sinh ra từ một phụ nữ, đã lớn lên, sắp phải đổ máu và bị giết đi, lại chính là Thiên Chúa đã hiện diện, nói năng và hành động. Đức Giêsu, chính là Thiên Chúa tự mạc khải trong tình thân hữu với nhân loại. “Tôi và Chúa Cha là một”. Các Công đồng sẽ phải nỗ lực xác nhận và mang ra những tư tưởng, nhưng sẽ không khi nào có được một kiểu nói giúp ta hiểu được mầu nhiệm của nhân loại Giêsu. Toàn bộ những gì đã nói, trong công thức trên, chỉ có thể phải “lắng nghe” trong đức tin: “Chúa Cha và tôi, chúng tôi là một… Thiên Chúa và tôi, Giêsu, chúng tôi là một”

Này là nguyên nhân Đức Giêsu dám quyết đoán, Người “ban sự sống đời đời”.

Này là nguyên nhân, như chính Thiên Chúa, Người có thể tuyên bố: “Tôi là…”.

Này là nguyên nhân Người đã bị buộc tội là một kẻ phạm thượng, bị người đời đóng đinh, nhưng được Thiên Chúa “minh chính hóa”, bằng cách cho Người từ cõi chết sống lại.

 

90. An toàn trong tay Thiên Chúa

(Ghi chú và suy niệm của Lm. FX. Vũ Phan Long)

1.- Ngữ cảnh

Trong phân đoạn thứ ba (từ ch. 5) của phần Phần ι của TM Ga (“Sách các Dấu lạ” [ch. 2–15]), tác giả tiếp tục giới thiệu Đức Giêsu (các công việc, các dấu lạ và các cuộc tranh luận của Người) trong khung cảnh các đại lễ của Do Thái giáo: ngày sa-bát, lễ Vượt Qua, lễ Ngũ Tuần, lễ Lều. Với chương 10, tất cả chúng ta đến đại lễ cuối cùng là lễ Cung Hiến. Trong ch. 10 này, có hai thắc mắc cơ bản được nêu lên: Đức Giêsu có phải là Đấng Mêsia chăng (¢. 24)? Người có tự cho mình là Thiên Chúa không (¢. 33)? Mỗi thắc mắc thu được một câu trả lời dài hầu hết nhau (cc. 25-30; cc. 34-38) và đều kết thúc bằng đề tài nhất định Đức Giêsu với Thiên Chúa (Cha của Người) là một (¢. 30; ¢. 38).

Đoạn văn tất cả chúng ta đọc ngày hôm nay thuộc về câu trả lời thứ nhất.

2.- Bố cục

Bản văn có thể chia thành ba phần:

1) Đoàn chiên và Đức Giêsu (10,27-28);

2) Đoàn chiên và Chúa Cha (10,29);

3) Đức Giêsu và Chúa Cha là một (10,30).

3.- Vài điểm ghi chú

– chiên của tôi (27): Đức Giêsu có thể nói là các chiên thuộc về Người bởi vì Chúa Cha đã ban các nhân loại cho Người (Ҳ. Ga 6,37.44.65; 17,6-7).

– Tôi và Chúa Cha là một (30): Bản văn này đã gây ra nhiều tranh cãi. Đức Giêsu không nói: Tôi và Chúa Cha là “một người” (heis, ở nam tính) duy nhất, nhưng là “một điều/sự” (hen, ở trung tính) duy nhất. Người muốn nói rằng Người và Chúa Cha cùng một bản tính; cũng chính vì thế tay Người (¢. 28) cũng mạnh mẽ như tay Chúa Cha (¢. 29). Các nhà thần học không thuộc phái Ariô[1] đã coi ¢. 30 này là công thức Kinh Thánh nói về bản tính như nhau và ngôi vị khác nhau giữa Chúa Cha và Chúa Con.

4.- Ý nghĩa của bản văn

* Đoàn chiên và Đức Giêsu (27-28)

Điểm nhắc đến đoàn chiên ở cc. 26-27 gợi lại cc. 1-21 và như vậy đóng khung hai phần của ch. 10. Bằng cách quy chiếu về dụ ngôn Người mục tử tốt lành (10,1-18), Đức Giêsu mô tả tương quan giữa Người và những kẻ thuộc về Người. Nhưng cũng như ở cc. 7-10 và 11-16, cc. 27-28 không lưu ý nhiều đến đoàn chiên mà lưu ý đến người mục tử. Người Do Thái không nghe tiếng Người mục tử và không đi theo bởi vì họ không phải là chiên của đoàn. Thánh Gioan Kim Khẩu đã nói rằng nếu họ không đi theo Đức Giêsu, thì không phải là bởi vì Người không phải là mục tử, nhưng bởi vì họ không phải là chiên. Muốn nghe được tiếng Đức Giêsu, người ta phải thuộc về Thiên Chúa (Ҳ. 8,47), phải “đứng về phía sự thật” (18,37).

Câu 28 gợi đến ý tưởng của ¢. 12 là có những con sói đến để tàn sát đoàn chiên. Tuy nhiên, Đức Giêsu là Vị Mục tử kiểu mẫu sẽ bảo vệ đoàn chiên mà Chúa Cha đã ban cho Người.

* Đoàn chiên và Chúa Cha (29)

Tiếp đó, Đức Giêsu nói lại quyền tối tượng của Chúa Cha trên loài người. Câu 29 này gợi ý đến các tư tưởng của Cựu Ước nói rằng các linh hồn ở trong tay Thiên Chúa (Kn 3,1) và không ai có thể giựt họ khỏi tay Thiên Chúa (Is 43,13). Câu 28 và 29 nói về Đức Giêsu và về Chúa Cha theo cùng một cách: không một ai có thể cướp được các chiên khỏi tay hai Đấng. Điều này mang tất cả chúng ta tới chỗ hiểu được ¢. 30.

* Đức Giêsu và Chúa Cha là một (30)

Sự duy nhất giữa Đức Giêsu và Chúa Cha là một sự duy nhất về quyền lực và công việc. Tất cả chúng ta có ở đây như một tổng hợp của tác giả Gioan về quan hệ giữa Chúa Cha và Chúa Con: Con phát xuất từ Cha (8,42); tuy nhiên, Cha là Đấng sai phái Con, luôn ở với Con (8,29). Cha yêu thương Con (3,35); Con biết Cha thật thâm sâu (8,55; 10,15). Trong sứ mệnh trên trần gian, Con chỉ có thể làm những gì đã thấy Cha làm (5,19), chỉ có thể xét xử và phán quyết như đã nghe từ Cha (5,30). Con được Cha dạy dỗ (8,28) và đã thu được từ Cha mọi quyền xét xử (5,22) và có sự sống và ban sự sống (cc. 21.26; 6,57). Con làm theo ý của Cha (4,34; 6,38) và đã thu được một lệnh truyền từ Cha liên hệ đến chết chóc và sự sống lại của Người (10,18).

Nhưng tất cả chúng ta lưu ý là các quan hệ này giữa Chúa Cha và Chúa Con được mô tả theo hướng các tương giao của Chúa Con với loài người. Bởi vì như Chúa Cha và Chúa Con là một, hai Đấng nối kết loài người với nhau thành một (Ҳ. 17,11). Chính sự duy nhất này, đã được thông ban cho các tín hữu, khiến không một ai có thể cướp các tín hữu khỏi Chúa Cha hay Chúa Con.

+ Tổng kết

Đức Giêsu quả là Đấng Mêsia, nhưng không phải là một Mêsia trần thế, đầy vẻ huy hoàng và quyền lực, nhưng Người là Vị Mục tử đến ban một sự hiệp thông riêng tư kiên cố với Người. Nhưng sự hiệp thông của Người với các môn đệ phát xuất từ Chúa Cha và ở dưới sự chở che của Chúa Cha. Chính Chúa Cha đã ký thác các môn đệ cho Đức Giêsu; họ được an toàn trong tay Chúa Cha. Không một ai mạnh mẽ hơn Thiên Chúa Cha. Đức Giêsu, Mục tử tốt lành, được nâng đỡ bởi tình yêu của Chúa Cha. Sự thống nhất của Người với các môn đệ Người được bảo vệ bởi bàn tay mạnh mẽ của chính Người và bàn tay mạnh mẽ của Chúa Cha. Đức Giêsu và Chúa Cha là một trong các ý hướng và trong hành động.

5.- Gợi ý suy niệm

  1. Đức Giêsu là Mục tử tốt lành. Nhưng chính do điểm này, tất cả chúng ta hiểu là Người sẽ không làm gì cho các chiên theo cách ép buộc hoặc ngược ý muốn của họ. Đức Giêsu luôn trợ giúp hữu hiệu, nhưng người ta chỉ thu được sự trợ giúp đó nếu mở lòng ra với Người. Người cũng có thể đi tìm kẻ khép lại với Người, để mang kẻ ấy về với Người; này là cách Người ứng xử với các kẻ thù. Nhưng để có một sự thống nhất đích thực, hai bên phải hướng về nhau, nhìn nhận nhau và trân trọng nhau. Tất cả chúng ta đi vào hiệp thông với Vị mục tử tốt lành nếu tất cả chúng ta nghe tiếng Người và đi theo Người, nếu tất cả chúng ta tin tưởng vào sự hướng dẫn của Người và tin rằng Người chỉ cho tất cả chúng ta đoạn đường ngay thẳng và ban cho tất cả chúng ta sự sống viên mãn.

  2. Đức Giêsu nhất định rằng không ai có thể hứa cho kẻ khác điều Người hứa, dù có thương yêu kẻ ấy đến đâu: sự sống đời đời, sự bảo vệ khỏi mọi sự dữ, sự hiệp thông kiên cố muôn đời. Tất cả chúng ta chỉ có thể bảo vệ kẻ khác nếu người này còn sống; so với Đức Giêsu thì trái lại, Người không bị hạn chế bởi chết chóc. Mục tiêu và đỉnh cao của cuộc sống Đức Giêsu, Mục tử tốt lành, là ban cho tất cả chúng ta sự sống đời đời. Nếu Người chở che tất cả chúng ta, tất cả chúng ta không thể nào bị diệt vong; sự chở che của Người đảm bảo hơn mọi quyền lực trần gian. “Không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa, thể hiện nơi Đức Kitô Giêsu, Chúa chúng ta” (Rm 8,39).

  3. Ngày hôm nay là ngày cầu xin ơn thiên triệu, xin Thiên Chúa ban cho có những mục tử mới. Chắc nịch tất cả chúng ta nài xin Thiên Chúa ban cho có thêm các mục tử tốt lành “như lòng Chúa mong ước” (Gr 3,15), theo gương Đức Giêsu, Vị Mục tử tốt lành. Nhưng cũng phải nguyện cầu cho các mục tử đang làm việc trên khắp cánh đồng của Thiên Chúa cũng biết khép mình vào kiểu sống của Đức Giêsu; đồng thời cũng xin Người ban cho có các con chiên biết nghe và đi theo tiếng của Vị Mục tử tốt lành, mà các mục tử đang truyền đạt. Mục tử cần nhớ rằng đoàn chiên được Chúa Cha ký thác cho mình để mang họ đến sự sống đời đời; con chiên cần nhớ rằng mục tử được gửi đến để làm việc theo chương trình của Chúa Cha.

  4. Mục tử cũng như con chiên đều cần suy ngẫm về quan hệ giữa Đức Giêsu và Chúa Cha. Khi đó mục tử và con chiên sẽ hiểu rằng có một thứ độc lập trong nếp sống và trong lối suy tư mang tới diệt vong, và cũng có một mối quan hệ phụ thuộc, một sự thống nhất, mang tới sự phong phú và sự sống dồi dào.

——————————————–

[1] Ariô (256-336) là linh mục ở Alexandria. Ông cho rằng Đức Giêsu là thọ tạo cao thượng nhất, nhưng không phải là Thiên Chúa. Ông đã bị kết án tại Công đồng Nixê năm 325.

 

91. Suy niệm của nhóm Nha Trang

“Ta ban cho các chiên ta được sống đời đời”.

  1. Ý CHÍNH:

Bài Tin Mừng hômnay ghi lại lời tuyên bố trọng yếu của Chúa Giêsu về việc Người tự xưng đồng bản tính với Thiên Chúa Cha để trả lời cho những người Do Thái đến tranh luận với Người về chính nguồn gốc của Người.

  1. SUY NIỆM:

Chúa Giêsu đang ở Giêrusalem trong dịp lễ cung hiến đền thờ. Tại đây xảy ra cuộc tranh luận với người Do Thái về vấn đề người có phải là Đấng Thiên Sai không và cuối cùng Người đã tự xưng mình là Con Thiên Chúa (Lc 22,70) bằng cách tuyên bố rằng Cha Người ở trong Người và Người ở trong Cha trong sự hiệp thông trọn vẹn đời sống và việc làm (Lc 10,22-41).

Bài Tin Mừng ngày hôm nay là một phần trích trong cuộc tranh luận và ghi lại lời Chúa Giêsu quyết đoán Người đồng bản tính với Chúa Cha.

  1. “Chúa Giêsu nói rằng: chiên Tôi thì nghe tiếng Tôi”

Trước khi trả lời dứt khoát, Người đồng bản tính với Chúa Cha, Chúa Giêsu tuyên bố sự khác biệt nhau giữa người Do Thái và “Chiên của Người”, tức là những kẻ tin theo Người. So với những người Do Thái, những lời Người nói và những việc Người làm là các phép lạ, không đủ thuyết phục họ, vì xét cho cùng họ có dã tâm và không muốn tin. Trái lại, chiên của Người là những người biết ngoan ngoãn đón nhận. Vì họ không cần đến nhiều dấu lạ bên ngoài để làm điều kiện cho việc đi theo Người.

Động từ “nghe” ở đây bao hàm ý nghĩa tin tưởng và đón nhận. Nghe Chúa Giêsu là tin tưởng và đón nhận Ngài.

  1. “Tôi biết chúng và chúng theo Tôi”:

  2. α) Tiếng “biết” ở đây bao hàm ý nghĩa chủ động, tức là do sáng tạo từ Thiên Chúa.

  • Thiên Chúa biết Abraham (St 18,19) biểu lộ ý nghĩa Thiên Chúa tuyển chọn và chăm sóc Abraham.

  • Thiên Chúa biết dân Người “Trong các dân tộc trên hoàn cầu Ta chỉ biết duy một mình có ngươi thôi” (Am 3,2). Ở đây có ý nói Chúa Giêsu tuyển chọn và chăm sóc các chiên của Người.

  1. ɓ) Chúng theo Tôi: Tiếng “theo” ở đây bao hàm ý nghĩa liên đới trong sự phụ thuộc. Theo ai là dõi theo bước chân người này là bước theo sát bước chân người đó. Ở đây có ý nói các chiên dõi theo Chúa Giêsu để rập theo khuôn mẫu sống của Người. Hay nói cách khác theo Chúa là đền đáp lời mời gọi của Chúa.

  2. “Ta cho chúng được sống đời đời…”:

Con chiên đi theo chủ chăn thì sẽ được dẫn theo dẫn theo đồng cỏ xanh tươi đảm bảo cho sự sống. Cũng vậy, những ai thực sự đi theo Chúa, tức là để Chúa dẫn dắt, thì sẽ được đảm bảo mang đến sự sống đời đời.

Sự sống này, một đàng không thể mất được vì đã được chính Chúa Giêsu là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống đảm bảo, đàng khác cũng không bị ai cướp đi được, vì một khi đã được Chúa chăn dắt thì không còn sợ vấn đề Người không đủ khả năng chăm sóc và bảo vệ cho đàn chiên nữa.

Ở đây muốn nói khi đi theo Chúa Giêsu thì sẽ được Người ban sự sống đời đời và được Người đảm bảo sự sống ấy cách chắc cú không thể mất được.

  1. “Điều mà Chúa Cha ban cho Tôi”

Chúa Cha trao ban cho Chúa Giêsu những con chiên, chúng được xem như là những món quà tặng quý hiếm nhất. Vì tính cách quý hiếm như vậy nên Chúa Giêsu phải giữ gìn món quà tặng đó như Chúa Cha đã gìn giữ vậy. Ở đây cho tất cả chúng ta thấy Chúa Cha và Chúa Con cùng làm việc bảo vệ gìn giữ đàn chiên. Và như vậy Chúa Giêsu link Cha Người vào công trình của Người vì Cha Người là nguồn mạch mọi ơn huệ.

  1. “Tôi và Cha Tôi là một”

Lời tuyên bố này có ý nói đến sự hiệp thông thân mật của Chúa Giêsu với Chúa Cha, và đây là một mạc khải trọng yếu rõ ràng nhất về thần tính của Chúa Giêsu và mầu nhiệm sâu sa của Thiên Chúa.

Cũng nên lưu ý rằng các Thần học gia từ Tertulien đến Augustinô đã dùng lời tuyên bố này của Chúa Giêsu làm nền tảng cho việc minh chứng Chúa Cha và Chúa Con đồng bản tính nhưng khác ngôi vị, để chống lại lạc thuyết Ariô vốn phủ nhận thần tính của Chúa Giêsu.

III. ÁP DỤNG:

  1. Vận dụng theo Tin Mừng:

Giáo Hội muốn dùng bài Tin Mừng này trong mùa Phục sinh để nhắc nhở tất cả chúng ta rằng Chúa Giêsu sau thời điểm Phục Sinh, vẫn còn chăm sóc đàn chiên của Người và Giáo Hội, và vì vậy tất cả chúng ta phải xác tín vào vai trò hoạt động của Chúa Giêsu trong Giáo Hội và trong từng con chiên là các Kitô hữu.

  1. Vận dụng thực hành:

  2. Nhìn vào Chúa Giêsu:

  3. Xem việc người làm:

– Chúa Giêsu đã lấy hình ảnh con chiên để ví người Kitô hữu và mục tử là chính Người để dạy cho tất cả chúng ta về sự chăm sóc của Người so với mỗi người tất cả chúng ta. Noi gương Chúa Giêsu tất cả chúng ta phải chăm sóc nhau, nhất là những người có trách nhiệm liên đới tới tha nhân như người mục tử chăm sóc đàn chiên và lưu tâm từng con chiên.

– Chúa Giêsu đã mạc khải cho tất cả chúng ta về thiên tính của Người, để dạy cho tất cả chúng ta biết những công việc của Người làm là công việc của Thiên Chúa. Noi gương Chúa Giêsu tất cả chúng ta phải biểu lộ ý hướng ngay lành trong công việc tất cả chúng ta làm để gây nên niềm tin tưởng cho tha nhân.

  1. Nghe lời Chúa nói:

– Chiên Tôi nghe tiếng Tôi: là con chiên đích thực của Chúa thì phải biết nghe Chúa bằng cách tin và đón nhận lời Chúa vào cuộc sống của mình.

– “Tôi biết chúng…”: Chúa chăm sóc những ai sống theo Người. Những ai biết chăm chỉ dõi theo Chúa bằng sự suy niệm, nguyện cầu để sống mỗi ngày một hoàn thiện “như Cha của các con ở trên trời là Đấng hoàn thiện” thì sẽ được đảm bảo sự sống đời đời.

– “Không ai cướp được chúng khỏi tay Tôi”: Nhờ ân sủng của Chúa, tất cả chúng ta sẽ vượt thắng được mọi gian truân thử thách và không việc gì có thể tách rời ta ra khỏi Chúa được.

– “Cha Tôi và Tôi là một”: Chúa Giêsu mạc khải cho ta về sự hiệp thông của Chúa Cha và Chúa Con. Vì vậy ai hiệp thông với Chúa Giêsu qua các Bí tích nhất là Bí tích Thánh Thể thì cũng được hiệp thông với Thiên Chúa. Thật là diễm phúc cho những ai biết ý thức sự hiệp thông với Thiên Chúa mỗi khi nhận lãnh Bí tích, nhất là khi rước lễ.

 

92. Ghi chú của Fiches Dominicales

“TA LÀ ĐẤNG CHĂN CHIÊN LÀNH”

VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI

  1. Đức Giêsu, Đấng chăn chiên lành.

Bản văn Chúa nhật này quá ngắn, cần mang trở lại văn mạch tổng thể một tí. Vào dịp lễ Lều, sau thời điểm chữa một người mù bẩm sinh và anh ta bị trục xuất khỏi hội đường, Đức Giêsu tỏ ra là một “Đấng chăn chiên, hiến tặng đời mình cho đàn chiên” (Ga 10,11)

Giờ đây, tất cả chúng ta trở lại lễ Cung Hiến, lễ kỷ niệm hằng năm ngày cung hiến đền thờ và bàn thờ thời Giuđa Macabê. Đức Giêsu đi đi lại lại nơi hành lang Salômôn (nơi mà sau thời điểm Chúa về trời, các môn đệ thường tụ họp, Cv 5, 12). Những người Do Thái – từ ngữ chỉ chung các thù địch của Đức Giêsu, trong Tin Mừng Gioan – tụ tập quanh Đức Giêsu (đúng ra là “quanh Người”: 10,22). Tin Mừng ghi: “Lúc đó là mùa đông” (Ga 10,22); nói thế, để từ thời tiết, tất cả chúng ta dễ nghĩ tới “sự băng giá” của lòng người theo thánh Augustinô sẽ viết sau này. “Nếu ông là Đấng cứu thế, hãy nói huỵch toẹt cho chúng tôi biết đi”.

Những người vây quanh không nắm vững nội dung từ Cứu thế, nên Đức Giêsu không trực tiếp trả lời thắc mắc, Người mời chào thính giả tư duy về những công việc của một vị Cứu thế, nhất là việc chữa người mù bấm sinh mới đậy. 𝓐. Marchadour giải thích: “Các phép lạ được xem như nhũng dấu chỉ, nhờ này mà nhận thấy Đấng Cứu thế. Rồi, Người tiếp tục đề tài người chăn chiên, hình ảnh truyền thống của Đấng cứu thế dòng dõi Đavít; ở đây, Người nhấn mạnh đến những con chiên mà Chúa Cha trao phó cho Người.

  1. Làm một với Chúa Cha.

Và lúc này, một đề tài mới, cho tới lúc này, chưa đề cập tới lần nào: sự thân mật với Chúa Cha: “Cha tôi và tôi, chúng tôi là một”. Một nhất định xác lập cội nguồn sứ mệnh của Đức Giêsu. Tình yêu của Chúa Cha, một tình yêu toàn bích bao bọc các con chiên đến nỗi không ai có thể cướp được một con nào. “Cha tôi, Đấng đã ban chúng cho tôi, thì lớn hơn tất cả và không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha”

So với người Do Thái, nói thế là quá quắt rồi. Phạm thượng? Ai lại dám xưng mình là Cứu thế và lại còn thân mật quá thế với Thiên Chúa. Họ lượm đá để ném Người. Họ nói: “Ông chỉ là phàm nhân mà lại tự cho mình là Thiên Chúa”. Tác giả Tin Mừng kết thúc: “Nhưng Người đã thoát khỏi tay họ”. Tác giả như muốn mời tất cả chúng ta đọc đoạn này dưới ánh sáng của cuộc tử nạn trên thập giá và sự Phục sinh từ cõi chết. Với ánh sáng ấy, tất cả chúng ta sẽ tìm tòi ra Đức Giêsu, Con Thiên Chúa, đã hoàn tất tới cùng sứ mệnh của mình bởi tình yêu so với các con chiên thế nào; trên đoạn đường sự sống nào, Người muốn dẫn mang những ai nghe tiếng Người và đi theo người; Mối tình hiệp thông yêu thương nào với Chúa Cha mà Người muốn dẫn mang tất cả chúng ta tham gia vào?

BÀI ĐỌC THÊM

  1. Theo Đức Giêsu

(₲. Boucher, trong “Thiên đường tại thế”).

Lạy Chúa, chúng con không muốn mình bị đồng hóa với đàn súc vật. Con không thích là một chú chiên chỉ biết đi theo người chăn chiên..Con cũng không muốn kêu be be như con chiên. Con nói điều con nghĩ, đi nơi con thích. Con không muốn bị dắt đi.

Ngày nay, chúng con nhấn mạnh đến sự thức tỉnh của lương tâm: mỗi người sẽ chọn lấy hướng đì mà mình muốn. Mong sao có trong tay phương tiện thực hiện sự lựa chọn của mình. Ngày nay, chúng con thích phụ trách về số phận mình. Chúng con không muốn trao tấm bảng trắng đời mình cho các nhà lãnh đạo hoặc những người chúng con bầu ra để họ muốn làm gì thì làm. Trái lại, họ phải trả lời cho chúng con về những việc họ đã làm.

Nhưng, Chúa lại nói với con rằng: giữa con và Chúa là sự hiệp thông. Mong sao Chúa nói lời soi sáng và hướng dẫn đời con. Chúa thuộc một bình diện hoàn toàn khác.

Nghe Chúa và đi theo đoạn đường Chúa đã vạch ra, con sẽ sống cuộc sống tốt đẹp và trọn vẹn, cho tới nỗi cuộc sống ấy sẽ không ngừng lại khi sự hiện hữu trần thế chấm hết. Cuộc mạo hiểm mà Chúa dắt con đi sẽ dìm con vào sự sống vĩnh hằng.

Với Chúa, mọi sự sẽ đổi khác. Chúng con không còn rủi ro sẽ bị huỷ diệt nữa. Không ai tiêu diệt được chúng con. Không gì có thể xâm phạm đến chúng con.

Nghe lời Chúa và đi theo đoạn đường Chúa thiết lập là chúng con lên đường với Chúa. Con muốn nói: với Thiên Chúa. Với Thiên Chúa của sự sống và của sự vĩnh cửu. Với Thiên Chúa mà Chúa đã gọi là Cha.

  1. Ngày toàn cầu nguyện cầu cho ơn gọi

(Sứ điệp của Đức Gioan-Phaolô II).

Ngày nay, vẫn còn nhiều nguyên do cản ngăn thanh thiếu niên và các bạn trẻ sống sự thực của tuổi đời mình trong sự gắn bó quảng đại với Đức Kitô. Biết bao bạn trẻ đang đánh mất năng lực phát triển đích thực.

Vậy nên mong đợi gì? Trong thâm tâm mỗi thế hệ luôn ẩn tàng một ước muốn tạo lập một ý nghĩa cho đời mình. Trên

hành trình cuộc sống, các bạn trẻ luôn tìm một người biết thảo luận với họ, những vấn đề làm họ giận dữ và đồng thời đề ra được những phương án, những giá trị, những viễn tượng đầu tư được sự dũng cảm đương đầu với tương lai.

Điều người ta đòi hỏi ngày hôm nay là: một Giáo Hội biết trả lời cho sự kỳ vọng của tuổi trẻ. Đức Giêsu muốn thảo luận với họ qua thân thể người là Giáo Hội. Người muốn đề xuất với họ viễn tượng của một chọn lựa có tính quyết định cuộc sống Như Người đã gắn bó với hai môn đệ trên đường Emmaus, Giáo Hội ngày nay cũng phải lên đường gắn bó với các bạn trẻ đầy ưu tư, bất mãn và tranh chấp, để loan báo cho họ Tin Mừng kỳ diệu của Đức Kitô phục sinh.

Điều người ta đang cần là một Giáo Hội cho các bạn trẻ, một Giáo Hội trò chuyện được với lâm hồn họ, hâm nóng trái tim họ bằng niềm vui của Tin Mừng, bằng sức mạnh của

Thánh Thể, một Giáo Hội biết tiếp đón và mời gọi những ai

đang di chuyển tìm mục đích hấp dẫn toàn thể cuộc sống của họ; một Giáo Hội không sợ đòi hỏi nhiều sau thời điểm đã cho đi không ít; một Giáo Hội không sợ đòi hỏi nơi bạn trẻ sự nhọc mệt của một cuộc mạo hiểm cao thượng và chân chính, cuộc mạo hiểm bước “theo” Tin Mừng.

 

93. Ghi chú của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt

CHÚA GIÊSU BAN SỰ SỐNG ĐỜI ĐỜI

CHO CÁC CHIÊN CỦA NGÀI

  1. Khác với các phúc âm nhất lãm (Lc 22,66-71 và song song), Gioan không tường thuật vụ án Chúa Giêsu trước công nghị Do thái trong cuộc khổ nạn. Vì theo ông, vụ án thực sự đã diễn ra trước khi Chúa Giêsu bị tóm gọn, trong những lần tranh luận với người Do thái, đặc biệt trong cuộc tranh luận ngày hôm nay. Lúc này cũng như trong vụ án chính thức theo pháp luật về sau. Chúa Giêsu bị ép buộc trả lời rõ ràng Người có phải là Đấng Messia không (¢.24) và cuối cùng Ngài tự xưng mình là Con TC (Ҳ.Lc 22,70) bằng cách tuyên bố rằng Cha Ngài và Ngài ở trong Cha, trong sự hiệp thông trọn vẹn đời sống và việc làm.

Tuy nhiên trước khi tuyên bố dứt khoát điều đó, Chúa Giêsu cảm thấy phải cứ quyết đoán không ngừng cho những kẻ hội thoại với Ngài. Này là điều làm cho người Do thái và “chiên của Ngài” khác biệt nhau. So với người Do thái, những lời Ngài nói, phép lạ người làm không đủ thuyết phục họ, vì xét cho cùng họ có dã tâm và không muốn tin. Chính trong hoàn cảnh này mà Chúa Giêsu nói đến chiên của Ngài, đối nghịch với sự ngoan ngoãn và ngay thẳng của đàn chiên với tính hiểm ác của người Do thái. Tất nhiên Ngài không cần nhiều dấu hiệu bên ngoài như vậy, vì chúng nghe và đi theo chủ chiên. Phần mục tử, Ngài biết chiên mình và đảm bảo cho chúng sự sống đời đời. Trong tay Ngài, đàn chiên được an yên không bị ai đánh cướp.

  1. Về câu 29, bản Hy lạp không được chắc cú lắm. Các thủ bản ở đây chia làm nhiều nhóm. Ta có thể tóm gọn thành hai:

Nhóm thứ nhất chọn câu: ho pâtêr mou ho dedoken moi pântôn meizon estin, dịch từng chữ là “Cha Ta, điều Ngài ban cho Ta thì lớn lao hơn tất cả” (bản Vaticanus, Versions latines, Sinaiticus, Codex Freer và chung chung các giáo phụ Latinh). Câu này có thể hiểu được hai cách: điều mà Chúa Cha ban cho Chúa Con chính là bản tính của Người (Augustin, Thomas, Lnabenhauer…) hay quyền năng của Người (Schanz, Belser…) và này là điều cao trọng hơn toàn bộ. Nhưng ai mà dám nghĩ tới việc cất bản tính và quyền năng của Chúa Con khỏi tay Chúa Cha? Do vậy lối giải thích thứ nhất này khó chấp thuận xét theo văn mạch. Văn mạch nói tới việc ban tặng là ban tặng các chiên (ý kiến chung), vì vậy phải hiểu: “Điều mà Chúa Cha ban cho ta (các chiên) là quà tặng quí giá nhất”, như vậy ta hiểu này là nguyên nhân khiến Chúa Con phải giữ gìn quà tặng đó, và một khi đã ban cho Con, Chúa Cha cũng luôn lưu tâm đến tặng vật này.

Nhóm thủ bản thứ hai (nhóm ₭, Codex Coridethi, codex Bezae, và các giáo phụ Hy lạp) chọn câu: ho pâtêr mou hos dedôken moi pantôn meizôn estin, có thể dịch: “Cha Ta, đấng đã ban cho chúng ta, thì lớn hơn tất cả mọi sự”, nghĩa là: Cha Ta, Đấng đã ban cho Ta các chiên, là Đấng cao trọng hơn mọi loài và vì vậy…Ngài đặt chúng trong tay Ta mà không ngừng giữ chúng trong tay Ngài. Ở đây, tay có nghĩa là quyền năng, quyền năng chung của hai Đấng. Câu này xem ra thích hợp hơn với văn mạch và đã được số đông tác giả theo (Louis, Bultmann, Barret, BJ, TOB…). Tuy nhiên nó bị chỉ trích là đã được sửa đổi để thêm phần thanh tao. Nói rằng Chúa Cha to lớn hơn hết mọi sự là điều hiển nhiên, cần gì nêu lên ở đây. Dầu vậy, câu (ɓ) này ngày nay đã được hầu như chấp thuận.

Dù sao, điều làm tất cả chúng ta Note chính là tay của Chúa Con, được đặt ngang hàng với tay Chúa Cha, hay đúng hơn hết hai tay cùng bảo vệ giữ gìn đàn chiên. Chúa Giêsu xem ra tự gán cho mình quyền ban sự sống cho các tâm hồn và giữ gìn chúng trong tay. Nhưng rồi theo thói quen (5,19tt; 6,37;7,16; 8,49; 10,18), Chúa Giêsu vội vàng link Cha Ngài vào công trình của Ngài, vì Cha là nguồn mạch mọi ơn huệ: Chúa Cha giao cho Chúa Con một vật và gìn giữ bằng sức mạnh của mình, cũng như Chúa Con gìn giữ những gì thu được từ Cha.

  1. Lời tuyên bố trong câu 30 (“Cha và Ta là một”) về sự hiệp thông mật thiết của Chúa Giêsu với Cha Ngài là một mạc khải trọng yếu rõ ràng nhất về thần tính của Ngài và mầu nhiệm sâu xa của TC. Chính trên đỉnh sáng ngời này mà Chúa Giêsu chấm hết tranh luận với người Do thái: Ngài có thể mạc khải thêm cho họ điều gì nữa? Và này là nghĩa mà người Do thái hiểu khi nghe Chúa Giêsu tuyên bố như vậy, vì nhanh chóng sau đó họ ném đá Ngài “bởi lẽ ông là một người phàm mà dám cho mình là TC”.

Câu 30 này đã nổi tiếng trong lịch sử tranh luận với tà giáo Ariô. Chúa Giêsu không nói: “Ta và Cha Ta, chúng ta là một ngôi vị” (heis) nhưng bảo: “chúng ta là một sự (hen, chose), chúng ta đồng một bản tính và vì thế mà tay Ta (c.28) cũng quyền năng như tay Cha Ta” (¢.29). Toàn bộ thần học gia chống Ariô, từ tertullien đến Augustin đã dùng câu 30 làm công thức thánh kinh nói về việc Chúa Cha và Chúa Con đồng bản tính nhưng khác ngôi vị.

KẾT LUẬN

Ân sủng thần linh cho tất cả chúng ta sức mạnh để vượt thắng mọi khó khăn bên ngoài (Rm 8,31-39) bất kể từ đâu đến, nhưng ân sủng không ép buộc ai cả. Nhân loại có thể từ chối không muốn được cứu rỗi: “TC chỉ từ bỏ những ai xa tránh Ngài trước” (công đồng Triđentinô, DS 1537).

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

  1. “Người Do thái mới vây quanh Chúa Giêsu”. Họ muốn chất vấn Ngài lần nữa vì Ngài làm họ khó chịu. Họ đột nhiên nói với Ngài: “Cho đến bao giờ nữa, ông còn để lòng trí chúng tôi phân vân lưỡng lự? Nếu quả ông là Đức Kitô, xin nói trắng ra cho chúng tôi”. Chúa Giêsu hẳn làm cho họ bối rối nhiều và có vẻ làm cho họ nghi ngờ. Họ muốn biết thực hư. Ai trong tất cả chúng ta không một lần chất vấn Chúa như vậy: Ngài là ai so với tôi ngày hôm nay? Tìm Ngài nơi đâu? Trong mọi hỗn loạn thời kì, trong bao cuộc đặt lại vấn đề, Chúa ở đâu? Đâu là sự thật? Đúng hơn, khi một vấn đề đưa ra khiến phải chọn lựa tất cả chúng ta đã không từng muốn một câu trả lời rõ ràng đó sao? Thảm kịch chính là tất cả chúng ta không biết gì nữa; khiến tràn ngập đến độ làm tất cả chúng ta không còn hiểu gì nữa. Đây là một nghịch lý đáng sợ: tri thức càng tăng thì càng dẫn theo sự vô tri về đạo lý. Như những người Do thái, tất cả chúng ta muốn biết ai là người mời chào tất cả chúng ta qua phúc âm, ai là người xáo trộn cuộc hiện hữu của tất cả chúng ta và đặt lại vấn đề đời sống tất cả chúng ta.

Chúa Giêsu xem ra không trả lời gì cả. Chính công việc Ngài đã thực hiện làm chứng cho Ngài; và nếu người ta không tin Ngài, này là vì họ không thuộc đàn chiên Ngài, theo Ngài và thuộc về Ngài vì Chúa Cha đã ban họ cho Ngài. Và Ngài nói: “Cha ta và Ta là một”. Phải nói là câu trả lời của Chúa Giêsu làm tất cả chúng ta hoang mang và sợ hãi. Tất cả chúng ta vừa chấp thuận, vừa bất mãn, vừa nghi nan. Câu trả lời đó của Chúa Giêsu gợi lên những âm hưởng sâu xa, đánh động tâm hồn tất cả chúng ta. Tuy nhiên tất cả chúng ta không thỏa mãn vì câu ấy đưa ra nhiều vấn đề: làm sao trở thành chiên của Chúa. Đặt vấn nạn này là vì tất cả chúng ta không biết câu trả lời; vậy mà hình như Chúa Giêsu nói rằng thắc mắc chỉ đưa ra cho những kẻ không thể hiểu câu trả lời. Những phản ứng của tất cả chúng ta vừa biểu lộ sự thỏa mãn cũng như bất mãn; điều đó chứng tỏ tất cả chúng ta vừa là chiên vừa là người Do thái, và tất cả chúng ta vẫn đặt thắc mắc mặc dầu một cách nào đó đã biết câu trả lời.

  1. Nên lưu ý nghịch lý này là: những ai đặt thắc mắc thì không thể nghe được câu trả lời; còn những ai nghe được câu trả lời thì không cần đặt thắc mắc. Người Do thái đặt thắc mắc, tất cả chúng ta cũng vậy, một phần nào đó trong nhân loại tất cả chúng ta chưa thuộc về Chúa cũng muốn hạch hỏi Người. Nếu người Do thái đã có khả năng lắng nghe, thì họ đã gặp được câu trả lời, đã sống câu ấy và không hỏi gì nữa. Đặt vấn nạn như họ làm cho họ không nắm được câu đáp, vì họ chỉ chuẩn bị để phê bình, lượng giá câu trả lời theo các thành kiến và hiểu biết của họ. Họ chỉ chấp thuận đạo lý bao lâu họ thấy hòa phù hợp với những gì họ đã biết. Họ không thể chấp thuận Đức Kitô bởi không chịu được một trả lời khác với trả lời họ đã có sẵn.

  2. Trái lại, các chiên không đặt thắc mắc, không phải vì đã hiểu rằng trả lời, song vì điều đó không thiết yếu. Chúng có một não trạng khác. Chúa Giêsu diễn tả chúng bằng hai tiếng: “Chúng nghe và theo”; Ngài nói tiếp: “Ta biết chúng” và “chúng biết ta”. Đàn chiên không cần đặt vấn đề danh tánh Chúa Giêsu. Chúng thuộc về một giống đặc biệt. Cũng như tất cả chúng ta vừa thuộc não trạng người Do thái đang cật vấn Chúa, vừa thuộc dòng giống này. Chúa Giêsu diễn tả đàn chiên với vẻ thân mật: Ngài biết chúng, ban cho chúng sự sống, bảo vệ chúng khỏi những kẻ ám hại. Đàn chiên không thể cắt nghĩa vì sao Ngài làm như vậy, nhưng chúng biết Ngài nên “chúng nghe và đi theo Ngài”. Chúng sẵn sàng lắng nghe, đón nhận cái huyền bí, đi đến nơi mà Chúa dẫn tới và chấp thuận mọi nghịch cảnh có thể xảy tới.

  3. Ngày hôm nay, Chúa Giêsu mời gọi tất cả chúng ta đừng quá ham chất vấn, luôn tìm cách phân tích cái mới lạ, giản lược nó thành tầm thường – này là một cách tự đóng kín mình, làm mình mất khả năng tiến bộ, thay đổi. Hãy biết lắng nghe, biết mình ngu dốt, biết rằng đấng vô danh luôn luôn kỳ lạ, rằng một cách nào đó Chúa luôn là một đấng tất cả chúng ta không thể biết rõ, vì tất cả chúng ta không thể hiểu được cách tường tận bao lâu còn ở thế gian này. Nhưng để luôn luôn phối hợp mật thiết với Chúa, để sống hạnh phúc thật sự ở cõi tục này, chỉ có một đoạn đường: nghe và theo Chúa.

 

94. Đâu là mục tử đích thật?

(Suy niệm của Lm. Đan Vinh)

  1. LỜΙ CHÚ𝓐: “Tôi chính là Mục tử nhân lành. Tôi biết chiên của tôi và chiên của tôi biết tôi” (Ga 10,14).

  2. CÂU CHUYỆи: “Giai điệu hạnh phúc”

Trong một cuốи phim tựα đề là “Giai điệu hạnh phúc” (La mélodie du bonheur), cô ma-ry là một ngườι đang di chuyển tìɱ hiểu ơn gọι tạι một tu việи nữ. Một hôm bà bề trên sai cô đi làɱ gia sư trong một gia đình quí tộ¢. Ông đạι uý chủ nhà là ngườι giàu có, góα vợ và luôn tỏ ra nghiêm khắ¢ trong cách giáσ dụ¢ con cáι. Ông muốи chúng có tinh thầи kỷ luật giống như một ngườι lính trong quân độι. Khi mớι đếи nhậи việ¢, cô Ma-ry đã bị bọи trẻ cố tình trêu chọ¢. Nhưng nhờ tình thương củα một thầy giáσ, kèɱ theo sự hiểu biết tâm lý và cách ứng xử mềɱ dẻσ nhưng cương quyết, cùng những bàι hát vui tươi và vũ điệu lôi cuốи củα cô… Cuốι cùng cô đã hòan tòan chinh phụ¢ đượ¢ tình cảɱ củα lũ trẻ, biếи chúng trở nên những trẻ em ngoan ngoãи dễ dạy. Chúng luôn vâng lờι cô giáσ, không cầи cô phảι άᴘ dụng hình phạt nghiêm khắ¢ theo kiểu cha củα chúng. Cuốι cùng cô còи chinh phụ¢ đượ¢ tình cảɱ củα chính ông đạι uý chủ nhà. Câu chuyệи kết thú¢ bằng việ¢ cả gia đình ông đạι úy đã khôn ngoan thoát khỏι sự ruồng bắt củα chính quyềи phát xít Đứ¢ lú¢ đó. Họ cùng nhau vượt qua biên giớι an toàи để bướ¢ vàσ một cuộ¢ sống mớι đầy yêu thương và hạnh phú¢.

  1. SUY NIỆʍ:

1) Đâu là mục tử thực sự?

Mục tử thực sự là người chủ chiên, có tình yêu thương đòan chiên noi gương Chúa Giêsu Vị Mục Tử Tối Cao, trổ tài qua các hành động rõ ràng như sau:

– Hiểu biết và thông cảm: Đức Giêsu đã nói về tình thương của Người giành riêng cho đàn chiên như sau: “Tôi biết chúng” (Ga 10,27), “gọi tên từng con” (10,3). Ngày nay các mục tử cũng chỉ có thể chứng tỏ tình yêu so với đòan chiên qua việc đi thăm các gia đình trong giáo xứ, biết rõ hoàn cảnh và nhu cầu của từng người, từng gia đình. Người tín hữu sẽ cảm thu được tình thương của vị mục tử khi thấy ngài hiểu rõ gia cảnh của mình, và ra tay trợ giúp.

– Sẵn sàng thỏa mãn nhu cầu: Đức Gie-su phán: “Tôi đến để chiên được sống và sống dồi dào” (10,10), “Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi” (10,28). Các mục tử ngày hôm nay cũng phải quan tâm đến hòan cảnh sống và sự an nguy của đàn chiên cả về đức tin lẫn công việc làm ăn, noi gương Đức Giêsu đã nói với các môn đệ rằng: “Ta mua đâu ra bánh cho họ ăn đây?” (Ga 6,5), hay Người đã dặn người nhà: “Bảo họ cho con bé ăn” (Mc 5,43).

– Hiến thân phục vụ: Đức Giêsu phán: “Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên” (Ga 10,11); “Thiên Chúa yêu thế gian, đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16). So với mục tử, các tín hữu là những linh hồn quí giá, xứng đáng cho vị mục tử hy sinh mạng sống vì họ. Thái độ này khác xa thái độ của người làm thuê, hay mục tử giả hiệu: “Khi thấy sói đến, anh bỏ chiên mà chạy (…) không thiết gì đến chiên” (Ga 10,12-13).

2) Đâu là mục tử giả hiệu?

– Thánh Kinh không những nói đến những mục tử tốt lành, mà còn đề cập đến những mục tử giả hiệu, mà sau này Đức Giêsu đã gọi họ là bọn chăn thuê. Họ là những người chỉ biết nghĩ đến bản thân, nghĩ đến sự an nguy, quyền lợi hay hạnh phúc của riêng mình, chỉ biết bòn rút lợi lộc từ đàn chiên, mà không quan tâm đến quyền lợi và hạnh phúc của đàn chiên được trao cho mình chăm sóc:

– Ngôn sứ GIÊ-RÊ-MI-𝓐 viết: “Khốn thay những mục tử làm cho đàn chiên Ta thất lạc và tan tác (…) các ngươi đã xua đuổi và chẳng lưu tâm đến chúng” (Gr 23,1-2).

– Ngôn sứ Ê-DÊ-KI-EN thỉ viết: “Khốn cho các mục tử Ít-ra-en, những kẻ chỉ biết lo cho mình! (…) Sữa chiên thì các ngươi uống, len của chúng thì các ngươi mặc, con nào béo tốt thì các ngươi giết, và chẳng thèm lo chăn dắt đàn chiên. Chiên đau yếu các ngươi không làm cho mạnh; chiên bệnh tật các ngươi không chữa cho lành; chiên bị thương các ngươi không băng bó; chiên bị lạc các ngươi không đưa về; chiên bị mất các ngươi không chịu đi tìm. Các ngươi thống trị chúng một cách tàn bạo và hà khắc. Chiên của Ta tán loạn vì thiếu mục tử và biến thành mồi cho mọi dã thú, khiến chúng bị tán loạn. Chiên của Ta tản mác trên các ngọn núi, trên mọi đỉnh đồi, trên khắp mặt đất, thế mà chẳng ai chăm sóc, chẳng ai kiếm tìm” (Ed 34,2-6).

– Thiên Chúa đã dùng ngôn sứ Ê-DÊ-KI-EN để nguyền rủa loại mục tử bất xứng này như sau: “Bởi các mục tử chỉ biết lo cho mình mà không chăn dắt đàn chiên của Ta, nên hỡi các mục tử! Đây Ta chống lại các ngươi. Ta sẽ đòi lại chiên của Ta, Ta sẽ không để các ngươi chăn dắt chiên Ta nữa (…) để chiên của Ta sẽ không còn làm mồi cho chúng nữa” (Ed 34,8b-10).

3) Sứ vụ của các mục tử ngày hôm nay:

– Mục tử là người được Chúa Giêsu chọn để cho thông phần vào sứ vụ mục tử của Người: Chúa Giêsu phán: “Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em, và cắt cử anh em để anh em ra đi, sinh được hoa trái, và hoa trái của anh em tồn tại…” (Ga. 15,16). Mục tử chỉ có thể làm tốt nhiệm vụ nuôi dưỡng chăn dắt đòan chiên nếu biết hợp tác với Mục Tử Giêsu bằng sự chuyên cần nguyện cầu: “Vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15,5). Cần phải có lòng yêu mến Thầy hơn ai hết, để được thanh luyện tội lỗi và được trao quyền chăn dắt đòan chiên Hội Thánh (Ҳ Ga 21,15-17).

– Hai là phải được chính Chúa Giêsu trao sứ vụ chăm sóc nuôi dưỡng đòan chiên: Như Đức Giêsu đã được Thiên Chúa xức dầu thiêng liêng tại sống Gio-đan để tấn phong làm Đấng Mê-si-a thi hành ba sứ vụ là ngôn sứ, tư tế và vương đế, thì các mục tử ngày hôm nay cũng thu được tác vụ qua việc xức dầu và đặt tay của Giám Mục trong bí tích truyền chức thánh, cũng có bổn phận chu tòan sứ vụ chăn dắt nuôi dưỡng thánh hóa đoàn chiên Chúa trao bằng ba của ăn là Lời Chúa, Thánh Thể và Thánh Ý Thiên Chúa như lời Chúa Giêsu dạy: “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra” (Mt 4,4); “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời” (Ga 6,51); “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy” (Ga 4,34).

– Ba là thu được Thần Khí để chu tòan sứ vụ được sai đi: Tin mừng Gio-an thuật lại việc Chúa Phục Sinh trao ban Thần Khí và sứ vụ như sau: “Người lại nói với các ông: “Bình an cho anh em! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em”. Nói xong Người thổi hơi vào các ông và bảo: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần.Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha. Anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ” (Ga 20,21-23). Chúa Giêsu cũng trao sứ vụ cho các Tông đồ trước khi lên trời: “Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chua Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em” (Mt 28,19-20); “Anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giê-ru-sa-lem, trong khắp các miền Giu-đê, Sa-ma-ri và cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1,8).

4) Chúng tôi phải làm gì?:

Chúa Nhật Chúa Chiên Lành nhắc nhở các tín hữu tất cả chúng ta ý thức đoạn đường đức tin và Mục Tử dẫn đường là Đức Giêsu. Ngày hôm nay Đức Giêsu vẫn “ở với Hội Thánh mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20b) qua các mục tử được Chúa mời chào, huấn luyện và và trao sứ vụ chăm sóc đòan chiên.

Ngày hôm nay là dịp để các tín hữu ý thức nguyện cầu cho các mục tử của mình, nguyện cầu cho ơn gọi linh mục tu sĩ và quảng đại hợp tác với các mục tử cả về trí não lẫn vật chất. Đồng thời ngày hôm nay cũng là dịp để các mục tử ý thức về ơn gọi và sứ vụ của mình để duyệt xét lại về ý ngay lành và về cung cách phục vụ khiêm tốn, về cách ứng xử nhân ái so với đòan chiên được Chúa trao cho mình chăm sóc.

Tất cả chúng ta cùng nhau cầu xin cho ơn gọi ngày càng phát triển, cho các thanh thiếu niên biết quảng đại đáp lại tiếng Chúa mời chào, và xin cho các mục tử đang phục vụ đòan chiên được ơn trung thành với sứ vụ mục tử đã lãnh nhận.

Ngày nay, Hộι thánh rất cầи có thêm nhiều mụ¢ tử nhân lành noi gương Mục Tử Giêsu. Đó là những vị mục tử có lòng yêu mến Chúa thực sự, luôn nêu gương sáng khiêm nhường nhân ái và phục vụ tha tư cách vô vụ lợi, nhất là phục vụ những người nghèo hèn, bệnh tật và bị bỏ rơi.

Hộι thánh cũng cầи những tu sĩ biết kết hợᴘ giữα hai bổn phận chiêm niệɱ và họat động, cầи những bàи tay nhân άι của các nữ tu để xoa dịu cᢠvết thương thể xᢠcũng như tinh thầи, và nhất là cầи những tráι tim yêu Chúα hết mình, dáɱ hy sinh mọι sự để phụ¢ vụ, đặ¢ biệt ngườι đau khổ tội lỗi hoặc mang tâm trạng ngao ngán thất vọng. Hiệи nay cả nướ¢ chúng ta mớι có đượ¢ khỏang2000 linh mụ¢ và 7000 tu sĩ nam nữ, một con số nhỏ bé so vớι nhu cầu củα 82 triệu dân.

  1. THẢΣ LUẬи:

1) Thế nàσ là ơn kêu gọι? Bạи sẽ đáᴘ trả thế nàσ khi dượ¢ Chúα kêu gọι dâng mình phụ¢ vụ Chúα trong bậ¢ sống tu trì?

2) Những ai đang sống bậc hôn phối có thể đáᴘ lạι ơn gọι của Chúα thế nàσ?

  1. NGUYỆи CẦᑗ

– LẠУ CHA LÀ CHỦ RUỘNG. Đồng lúα đã tớι lú¢ chíи vàng cầи đượ¢ gặt háι. Xin Cha sai thêm những thợ gặt lành nghề đếи thu họach đồng lúα củα Cha. Xin Cha gieo vàσ lòng cᢠbạи trẻ ngày hôm nay những ướ¢ mơ và hoàι bãσ lớи lao cùng những lý tưởng cao cả. Xin cho họ biết yêu thương tha nhân bằng một trái tim rộng mở củα Chúα Giêsu. Ướ¢ gì họ nghe đượ¢ tiếng kêu củα những ngườι đang bị άᴘ bứ¢, cảɱ nghiệɱ đượ¢ cơn đóι Lờι Chúα và khát tình thương củα những kẻ bất hạnh, thấy đượ¢ những nỗι khó khăn củα biết bao ngườι đang bị đau khổ tinh thầи và đóι cơm bánh vật chất.. để sẵи sàng phụ¢ vụ họ vớι hết khả năng củα mình.

– LẠУ CHA. Ngay từ ngày hôm nay, xin cho mỗι chúng con biết đáᴘ lạι lờι mờι gọι củα Cha, bằng cách chuẩи bị sẵи hành trang là những kiếи thứ¢ vững chắ¢ về giáσ lý và Lờι Chúα, là sự nhiệt tình chia sẻ Tin mừng cho tha nhân. Nhờ đó chúng con có thể chu tòan sứ vụ Cha trao phó, và tích cự¢ góᴘ phầи làɱ cho Nướ¢ Cha mau trị đếи.

  1. Ҳ) Hiệᴘ cùng Mẹ Maria.- Đ) Xin Chúα nhậɱ lờι chúng con.

 

95. Chúa Nhật 4 Phục Sinh

(Suy niệm của Lm Augustine, Ş.Ĵ)

Một hôm có người bố đến dự cuộc hội thảo dành riêng cho các bậc làm cha và các giáo viên tại một trường trung học ở tp Chicago của Hoa Kỳ. Khi trò chuyện với một giáo viên từng dạy con trai ông, người bố bỗng rưng rưng hai hàng lệ. Sau khoảng thời gian lấy lại điềm tĩnh, ông ngỏ lời xin lỗi và nói: “Con trai tôi hiện không còn chung sống với tôi nữa, nhưng tôi vẫn yêu quí nó và muốn biết nó hiện học hành ra sao.”

Vì sao bị vợ con bỏ.

Ông bố cắt nghĩa nguyên nhân vì sao vợ ông và bốn đứa con đã lìa bỏ ông. Ông là một nhà thầu lo việc xây dựng. Có thời gian ông bận rộn làm việc tới 16 tiếng đồng hồ một ngày. Trong hoàn cảnh đó ông ít khi có giờ gặp mặt vợ con. Và ông buồn bã nói tiếp:

“Tôi rất ao ước sắm sửa cho vợ con mọi thứ mà tôi từng mơ ước trao tặng cho họ. Nhưng vì mải mê công việc làm ăn, tôi không quan tâm tới điều mà các con tôi lấy làm cần thiết hơn cả: đó là chúng cần một người cha thường xuyên gần gũi để yêu thương và nâng đỡ chúng.”

Người bố trong mẩu chuyện nói trên đã rưng rưng hai hàng lệ vì chính ông nêu vấn đề đụng chạm tới bề sâu nơi nhân loại ông. Tình yêu đã là động lực khiến ông chọn thành thân với một người bạn nữ. Hai người đã chung sống đời vợ chồng và đã sinh được bốn người con. Nhưng chỉ vì mải mê công việc làm ăn nên ông đã không dành đủ phần quan tâm thiết yếu cho vợ con. Kết quả là vợ ông và bốn đứa con đã lìa bỏ ông. Họ không còn ở trong tầm tay ông nữa. Ông thống khổ trước sự mất mát quá lớn. Bởi lẽ những nhân loại ruột thịt của ông mà nay không còn thuộc về ông nữa.

Bài Tin Mừng ngày hôm nay cũng đề cập tới vấn đề nơi bề sâu của nhân loại Đức Giêsu. Người không những cho biết những ai thuộc về Người mà còn cho biết chính Người thuộc về ai?

Khởi sự tác giả Gioan đặt ta vào hoàn cảnh lễ Cung Hiến Đền Thờ của người Do Thái, trong đó Đức Giêsu cho thấy chính Người là Vị Cứu Tinh Mêsia (Ga 10, 22-31) và là Con Thiên Chúa (cc. 32-39).

Lễ cung hiến Đền Thờ là dịp để người Do Thái mừng thắng lợi vẻ vang do anh em dòng tộc Macabê mang lại. Này là cuộc thắng lợi để rửa nhục cho Israel. Suốt ba năm (167-164 trước CN) quân Syria đã xâm chiếm lãnh thổ dân Thiên Chúa. Họ đã làm cho Đền Thờ ra ô uế bằng cách dựng tượng thần Ba-an ngay trên bàn thờ nơi dân Israel thường dâng của lễ toàn thiêu cho Giavê Thiên Chúa (1Mcb 1, 54; 2Mcb 6, 1-7). Đầy lòng căm thù, tướng Giuđa Macabê đã nổi dậy đánh đuổi quân Syria và thiết lập một bàn thờ mới. Bàn thờ này cùng với Đền Thờ đã được tái cung hiến (1Mcb 4, 41-61) với lễ kỷ niệm được cử hành mỗi năm.

Hiến dâng bản thân làm bàn thờ

Điều mà tác giả Gioan ám chỉ là: chính Đức Giêsu hiến dâng bản thân Người làm bàn thờ. Điều đó Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo dạy rất rõ khi nói: Bàn thờ là nơi mà Giáo Hội được quy tụ lại; đó chính là “biểu tượng về Đức Kitô hiện diện giữa cuộc tập họp của những ai tin theo Người: Đức Kitô vừa là lễ vật hy sinh được dâng để ta được giao hoà, đồng thời Người còn là của ăn từ trời cao tự hiến để nuôi ta.” (số 1383).

Riêng đoạn Tin Mừng Ga 10, 22-29 cho thấy tột đỉnh của những cuộc tranh cãi giữa Đức Giêsu và người Do Thái. Đây là cuộc tranh cãi chót khiến giới hữu trách Do Thái quyết tâm bắt Đức Giêsu. Màn Tin Mừng này chia làm hai; ở giữa là biến cố người Do Thái toan tính ném đá Đức Giêsu.

  1. 22 đặt ta vào hoàn cảnh của lễ Cung Hiến Đền Thờ vào trung tuần tháng 12, kéo dài 8 ngày.

  2. 23 định vị cuộc tranh luận kịch tính diễn ra nơi hàng hiên hình thang khổng lồ bao quanh Đền Thờ Giêrusalem. Hàng hiên này ở phía thung lũng Khê-ron quen gọi là hàng hiên Salomon, có vẻ vì cổ kính nhất nên được kể như do chính vua Salomon xây dựng.

  3. 24 nối lại việc Đức Giêsu đã từng nhất định rằng Người là Đức Kitô và là Con Người. Những người như chị phụ nữ người Samari (Ga 4, 25-26) hay như anh mù từ thuở mới sinh (Ga 9, 36-37), đều là những cá nhân sẵn sàng đón nhận Đức Giêsu là vị Thiên Sai. Còn ở đây, trái lại, Đức Giêsu bị vây hãm và bị thách đố do những nhân loại đến với ý đồ để bắt bớ Người mà thôi.

  4. 25 Đức Giêsu vạch cho người Do Thái thấy nguồn gốc của mọi sự là CHA. Do đó Người đòi hỏi ai nấy phải giãi bày một niềm tin tuyệt đối bằng cách thuộc về Người để có thể qui về Cha là nguồn gốc của họ.

  5. 26 Khi Đức Giêsu của sách Tin Mừng Gioan nói với người Do Thái rằng “các ông không tin tôi vì các ông không thuộc về đoàn chiên của tôi,” Người ám chỉ về một cộng đoàn hết sức rõ ràng, này là cộng đoàn Kitô hữu dưới sự chăm sóc của Gioan. Cộng đoàn ấy gắn bó mật thiết với Đức Giêsu và được tách biệt khỏi những người không thuộc về Đức Giêsu. Cộng đoàn ấy biết mình sống dưới sự chở che của Đức Giêsu và của CHA Người, vì vậy mọi người trong cộng đoàn đều được yên tâm vững dạ.

Thuộc về ai

  1. 27-28 đối chiếu cách ăn ở trung tín của các chiên dưới sự lãnh đạo của Đức Giêsu Mục Tử, ngược hẳn lại với thái độ cứng tin của người Do Thái. Ở đây Đức Giêsu nói lại “tính cách thuộc về” của các chiên so với Người: chúng nghe tiếng Người (Ga 10, 3-16); chính Người biết rõ các chiên của Người (cc. 3, 14); chúng theo Người (cc. 10,4) và Người ban cho chúng sự sống đời đời (10, 9-10).

  2. 29-30 cho thấy các chiên được an toàn dưới sự chăm sóc của Đức Giêsu là vị mục tử nhân hậu như Người đã thưa với Cha “Con đã canh giữ, và không một ai trong họ phải hư mất” (Ga 17, 12). Cha là Đấng đã ban chúng cho Người. Vì Người và Chúa Cha là một nên không ai cướp được chúng khỏi Người, bởi lẽ Chúa Cha thì to hơn toàn bộ, nên không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha.

  3. 31-39 cho thấy giữa hoàn cảnh thù địch của người Do Thái, Đức Giêsu vẫn tiếp tục tự mạc khải và tự hiến mình cho họ và cho mọi người:

– Chính Chúa Cha thánh hiến Người và sai Người đến thế gian (¢.36). Thân Thể Đức Kitô phục sinh chính là nơi Thiên Chúa hiện diện và tỏ mình cho loài người (Ga 1, 14). Này là nơi loài người có thể thờ phượng Thiên Chúa trong Thần Khí và trong Sự Thật (Ga 4,23-24). Do vậy Đức Kitô mới thực sự là Đền Thờ được cung hiến cho Thiên Chúa một cách hoàn hảo và trọn vẹn.

– Đức Kitô đòi mọi người tin vào các việc Người làm (¢.38). Các việc ấy bao gồm toàn thể công trình cứu độ do Người thực hiện: Người đến là để mạc khải cho nhân loại biết Chúa Cha; nơi Người chính Chúa Cha cũng tự mạc khải (¢. 38).

Toàn bộ được nên một

Vậy bài Tin Mừng ngày hôm nay tuy chỉ là một đoạn văn ngắn nhưng đã là một bước chuẩn bị cho lời cầu xin nơi bữa Tiệc Ly, khi Đức Giêsu thưa với Chúa Cha: “Con xin thánh hiến chính mình con cho họ, để nhờ sự thật họ cũng được thánh hiến” (Ga 17, 19). Và trong bữa Tiệc Ly ấy, Đức Giêsu còn cho biết Người không chỉ cầu xin cho Mười Hai tông đồ mà thôi “nhưng còn cho những ai nhờ lời họ mà tin vào Con, để tất cả nên một, như, lạy CHA, Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta.” (¢. 20-21).

Trở lại với người bố rưng rưng hai hàng lệ trong mẩu chuyện nói trên. Người bố ấy thống khổ vì vợ ông và bốn con ông là những người ruột thịt của ông mà nay không còn thuộc về ông nữa! Bài Tin Mừng ngày hôm nay cũng nói tới mối tương quan thâm sâu là mối tương quan làm cho người này cảm thấy mình thuộc về người kia, nhưng với Đức Giêsu mối tương quan ấy có nền tảng thực là vững vàng:

– Trong Cựu Ước, ngôn sứ Êdêkien đã từng mô tả Giavê Thiên Chúa là vị Mục Tử lý tưởng: “Chính Ta sẽ chăn dắt chiên của Ta… Con nào bị mất, Ta sẽ đi tìm; con nào đi lạc, Ta sẽ đưa về; con nào bị thương, Ta sẽ băng bó; con nào bệnh tật, Ta sẽ bồi dưỡng; con nào mập béo, con nào khỏe mạnh, Ta sẽ canh chừng.” (Ed 34, 15-16). Trong Tin Mừng của Gioan, chính Đức Giêsu tự mô tả mình là vị Mục Tử lý tưởng đó với điều rực rỡ là: Người biết các chiên của Người để chăm sóc và yêu thương chúng vì chúng thuộc về Người; chính Người ban cho chiên của Người sự sống đời đời (¢. 28). Không ai cướp được chúng khỏi tay tôi.

Mối tương quan giữa Đức Kitô và các chiên của Người thực sự vững vàng đến nỗi Người nhất định rằng “không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi” (¢. 28). Nguyên nhân “vì Tôi và Chúa Cha là một” (¢. 30) mà Chúa Cha “lớn hơn tất cả” thì còn tồn tại ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha đâu!

 

96. Giêsu – Mục tử Nhân Lành

(Suy niệm của Huệ Minh)

Chúa Nhật Chúa Chiên Lành – Cầu cho ơn thiên triệu linh mục và tu sĩ.

Ngày hôm nay, cùng với Giáo Hội hoàn vũ, ta dâng Thánh Lễ này để nguyện cầu cho ơn gọi. Ta thành khẩn nguyện xin Thiên Chúa sai thêm thợ đến đồng lúa và vườn nho của Người. Thật vậy, rất nhiều nơi thiếu linh mục tu sĩ và thiếu một cách trầm trọng.

Đứng trước nạn thiếu hụt này có hại cho ta chứ không riêng gì người ở nơi ấy, vì toàn thể Giáo Hội chỉ là một thân thể mầu nhiệm và một phòng ban đau yếu phải được mọi phòng ban khác thông cảm và trợ giúp vì lợi nhuận chung của toàn thể. Ta phải xin Chúa ban thêm ơn cho thanh niên ở những nơi đang thiếu linh mục, tu sĩ được nghe biết tiếng gọi của Chúa và của các linh hồn để dấn thân tận hiến đời mình cho sứ mệnh cứu thế.

Để được như vậy, ta còn cần phải nguyện cầu sốt sắng hơn nữa để các linh mục, tu sĩ nhiệt thành sống đúng với ơn gọi của mình và làm tốt mọi phận sự Chúa trao phó. Trong thực tiễn cuộc sống, ta không hiểu được những phấn đấu gay go và khó khăn mà linh mục tu sĩ luôn phải nỗ lực trong ơn gọi. Tu sĩ linh mục cần được trợ lực bằng lời nguyện cầu và trợ giúp rõ ràng để vững vàng và nhiệt tình toàn vẹn sứ mệnh. Những thành công của họ sẽ làm vẻ vang cho Hội Thánh và tất cả chúng ta, nên tất cả chúng ta phải vừa ý với Chúa Giêsu mà nguyện cầu để họ ra đi và mang lại nhiều hoa quả và những hoa quả tồn tại muôn đời.

Là cha là mẹ, ta có nghĩa vụ soi sáng, hướng dẫn con cháu ta ngay từ nhỏ đã biết nghĩ đến ơn gọi Phục vụ. Và cùng với những ý nghĩ cũng như lời nguyện trên, ta lắng đọc tâm hồn nghe Lời Chúa ngày hôm nay để hiểu rõ tương quan giữa mục tử và chiên, để giúp mục tử làm tốt ơn gọi của mình và để chiên biết phải ứng xử thế nào cho tốt.

Ta đang sống trong tuần lễ mừng kính Chúa Chiên lành. Trình thuật Tin mừng ngày hôm nay từ câu 27 – 30 là trình thuật Tin mừng của Chúa nhật Chúa Chiên lành.

Trong bài Tin mừng, tất cả chúng ta thấy người Do Thái đang mong mỏi một Đấng Messia – Đấng sẽ giải phóng họ khỏi ách nô lệ của Đế quốc La Mã; Đấng sẽ mang quyền lực và vinh quang cho dân tộc họ, sẽ làm cho danh họ được rạng rỡ khắp hoàn cầu. Và ông Giê-su kia làm họ thắc mắc: Ông ta giảng dạy như Đấng có uy quyền; Ông ta làm được nhiều điều lạ lùng trị bệnh, trừ quỷ, thậm chí cho cả người chết sống lại….

Thế nhưng ông ta không có vẻ gì là một chính trị gia, một nhà cách mạng cầm đầu giải phóng dân tộc cả! Vì vậy vì vậy họ thắc mắc “Ông có phải là Đấng Kitô chăng?” hay ‘Ông làm gì đi chứ!’ Vì vậy mà họ trở thành không tin và cứng tin, vì Đức Giêsu không là Messia theo như ý nghĩ mong đợi của họ; Ngài có vẻ là người hòa hoãn, thậm chí lại hay lỗi luật lệ của họ, đặc biệt luật ngày sabát, làm bạn cùng phường thu thuế cùng quân tội lỗi.

Chúa Giêsu biết rõ lòng họ, nhưng câu trả lời của Ngài là: “Tôi đã nói với các ông rồi mà các ông không tin. Những việc tôi làm nhân danh Cha tôi, những việc đó làm chứng cho tôi. Nhưng các ông không tin, vì các ông không thuộc về đoàn chiên của tôi. Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi ; tôi biết chúng và chúng theo tôi.”

Thật vậy, Chúa Giêsu đích thực là một Messia, nhưng không phải một Messia dùng quyền để thống trị, đàn áp, ngoại trừ, vì nếu như vậy thì Ngài cũng chỉ là một bạo Chúa như những bạo Chúa khác mà thôi; trái lại Ngài là một Đấng chăn chiên nhân lành – một ‘Messia nhân lành’ chăm sóc, bảo vệ đoàn chiên; những việc làm của Ngài nhân danh Chúa Cha tỏ lộ cho nhân loại biết một Thiên Chúa ‘bao dung, huệ ái, trọn bề nhân nghĩa và giàu lòng thương xót’.

Trong đời sống đức tin, cũng như người Do Thái, nhiều khi tất cả chúng ta muốn điều này điều kia theo ý mình hơn là ý Chúa; tất cả chúng ta lấy lòng ích kỷ của mình để đo lòng Thiên Chúa, nên tất cả chúng ta chưa nhận thấy được tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa giành riêng cho tất cả chúng ta cũng như toàn bộ mọi người “Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính” (Mt 5, 45b) và có biết bao nhiêu việc lạ lùng, kỳ diệu Chúa làm trong vũ trụ, trong cuộc sống mình mà mình vẫn cứng tin.

Điều này cho thấy rằng có vẻ tất cả chúng ta chưa là con chiên của Chúa. Bởi vì chiên của Chúa thì biết “nghe tiếng Chúa”; tất cả chúng ta chưa ở trong tương quan tình yêu với Thiên Chúa để có thể nhận thấy tiếng nói của Ngài qua Lời Chúa, qua những lời dạy dỗ nhắc bảo của những người có trách nhiệm, qua hoàn cảnh và các sự kiện, biến cố trong cuộc sống – tất cả chúng ta chưa ‘biết’ Chúa, (cái ‘biết’ theo nghĩa kinh thánh diễn tả tình yêu thân mật vợ chồng), và chưa theo Chúa.

Và thật sự, nếu tất cả chúng ta thuộc đàn chiên của Chúa, nghĩa là tất cả chúng ta biết tín thác cuộc sống trong tay Chúa, thì tất cả chúng ta sẽ được thừa hưởng lời hứa của Ngài: “Tôi ban cho chúng sự sống đời đời ; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi. Cha tôi, Đấng đã ban chúng cho tôi, thì lớn hơn tất cả, và không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha. Tôi và Chúa Cha là một.”

Và thật sự, đây là một lời hứa đầy an ủi.

Nếu ta biết sống phó thác cuộc sống cho Chúa như con chiên hoàn toàn phụ thuộc vào chủ chiên, tất cả chúng ta sẽ không lo sợ phải hư mất và “không ai cướp được”tất cả chúng ta khỏi tay Chúa Giêsu và Thiên Chúa Cha. Được lời hứa bảo vệ từ Thiên Chúa, tất cả chúng ta còn sợ gì?

Nhưng rồi nhìn lại thực tiễn cuộc sống tất cả chúng ta rất kém tin, yếu tin, và cứng tin vào Thiên Chúa. Tất cả chúng ta tin vào những thế lực của tiền nong, của cải, danh vọng, địa vị những cái vốn dĩ rất mong manh và chóng qua nên cuộc sống cứ mãi còn do dự, lo ngại và bất an, thiếu hạnh phúc. Không có tiền thì ta lo làm sao cho có được tiền; có được tiền rồi thì lo làm sao để giữ được tiền và có được nhiều hơn…. Làm tôi tiền nong, tất cả chúng ta quên Thiên Chúa; vì Chúa Giê-su đã xác nhận: “Không ai có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ nọ. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi Tiền Của được.” (Mt 6, 24)

Ta lại xin Chúa cho ta luôn thích và hăng say lắng nghe Lời Chúa, lãnh nhận bí tích và tham gia vào đời sống Hội Thánh để mọi dân mọi nước làm thành một đoàn chiên với một Chúa chiên là Ðức Giêsu Kitô ta.


Xem thêm những thông tin liên quan đến đề tài chú khỉ buồn 43

Giải Game Chú khỉ Buồn 528

  • Tác giả: ca ca
  • Ngày đăng: 2021-06-06
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 6880 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Chu_khi_buon_528 Giai_Game

Chơi Game Chú Khỉ Buồn 43 : Ninjas 4, Chơi Game Chú Khỉ Buồn 17 Hay Nhất

  • Tác giả: hibs.vn
  • Nhận xét: 3 ⭐ ( 5022 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Có phải bạn đang tìm kiếm đề tài choi game chu khi buon 17 phải không? Có phải bạn đang muốn xem thông tin về đề tài Game chú khỉ buồn 43 – Video hướng dẫn chơi game chú khỉ buồn 43 phải không? Nếu đúng như vậy thì mời bạn xem nó ngay tại đây nhé, Đang xem: Hướng dẫn chơi game chú khỉ buồn 17Game chú khỉ buồn 43 – Video hướng dẫn chơi game chú khỉ buồn 43 | Tiện ích miễn phí

Chú khỉ buồn mobile 43

  • Tác giả: choinhanh.vn
  • Nhận xét: 5 ⭐ ( 2769 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Đoàn tàu chờ hàng ở Bắc Cực bị hỏng không khởi động được. Bạn hãy chơi game Chú khỉ buồn mobile 43 tại Choinhanh.vn để giải câu đố giúp khỉ buồn nhé!

Game Chú khỉ buồn 43 – Choi game chu khi buon 43

  • Tác giả: game24h.vn
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 1575 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Game Chú khỉ buồn 43 – Choi tro choi chu khi buon 43 sửa chữa đoàn tàu chở hàng giáng sinh vui nhộn. Chơi game chú khỉ buồn 43 game vui miễn phí mê hoặc

Game Chú khỉ buồn 43 – Choi game chu khi buon 43

  • Tác giả: show.vn
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 1763 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm:

Game Chú Khỉ Buồn Mobile 43, Chơi Game Chú Khỉ Buồn 96 24H

  • Tác giả: samseinfo.com
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 4630 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Nhìn vào nhân vật trò chơi trực tuyến vui vẻ khỉ, bạn nhận thấy hạnh phúc như vậy nào mong manh, Bất kỳ điều nhỏ có thể mang đến những giọt nước mắt, và để trả lại nụ cười, nó là thiết yếu để nỗ lực rất nhiều

Game Chú Khỉ Buồn: Tìm Kẹo Ngọt, Game Chú Khỉ Buồn 43

  • Tác giả: tinhte.edu.vn
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 2185 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Chú khỉ buồn có mặt ở ngôi đền thiêng của Ấn Độ để thực hiện nhiệm ᴠụ mới, Trong game Chú khỉ buồn 100 nàу, khỉ buồn phải ᴠượt qua thử thách của các ẩn ѕĩ bên trong ngôi đền, mở khóa cánh cửa huуền bí ᴠà tiếp nhận tri thức ᴠô hạn đằng ѕau cánh cửa

Xem thêm các nội dung khác thuộc thể loại: Khám Phá Khoa Học

By ads_law