Bạn đang xem : after kill cỏ linh hoạt trong vườn thiên quy

BÀI HỌC SUY NIỆM LỜI CHÚA

< span name = "_ Toc513201312"> < / span> CHÚA NHẬT IV PHỤC SINH – ¢

BẢN VĂN BẢN ĐỌC- (Nguồn: UBPV / HĐGMVN, ấn bản 1973) 2

TÔI VÀ CHÚA CHA LÀ MỘT (*) – Ghi chú của Noel Quession . 6

TA LÀ ĐẤNG CHĂN NUÔI LÀNH- Ghi chú của Fiches Dominicales 13

ĐẮNG CHĂN CHIÊN TÍCH THỰC (*) – Lm. Inhaxiô Hồ Thông. 18

MỤC TỬ NHÂN LÀNH- Lm. Carôlô Hồ Bạc Xái 32

VỊ MỤC TỬ NHÂN LÀNH- Lm. Giuse Đinh Lập Liễm .. 51

CHÚA CHIÊN LÀNH– ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt 66

CON NGƯỜI MỤC (*) – Lm. Giuse Đinh Tất Quý. 70

CHIÊN TÔI THÌ NGHE TIẾNG TÔI– Lm. Giuse Vũ Khắc Nghiêm .. 77

ƠN GỌI– Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm SJ. 82

KHAO KHÁT SỐNG ĐỜI- Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền. 85

MỤC TỬ NHÂN LÀNH- Lm. Gioan ʍ. Nguyễn Thiên Khải, CMC .. 89

ƠN GỌI TRỌNG GIÁO HỘI – Lm. Đaminh Nguyễn Ngọc Long 94

< / span> CHÚA NHẬT IV PHỤC SINH- NĂM ¢

BẢN VĂN BẢN ĐỌC BÀI- (Nguồn: UBPV / HĐGMVN, ấn bản 1973)

< span name = "_ Toc479858381"> < / span> BÀI ĐỌC Ι: Cv 13, 14. 43-52

“Sau đó, tôi quay về các dân tộc bên ngoài”.

Trích sách Tông đồ.

Trong những ngày ấy, Barnaba hát qua Perghê và đến Antiôkia xứ Pisiđia; day Sabbat, các bạn vào ngồi trong hội nghị. There are many people Do-status and Tòng giáo dục theo các hướng dẫn, được đề cử trong ơn nghĩa.

Ðến ngày Sabbat sau, hầu như toàn bộ đều đến nghe lời Thiên Chúa. Các người làm đông người của họ, các nhóm ghen tương, nói lộng ngôn, chống lại các giáo viên. Thẻ và Barnaba có thể đảm bảo nói rằng: “Phải nói lời Thiên Chúa cho các ngươi trước, nhưng vì các ngươi từ trước Thiên Chúa và tự cho mình không xứng đáng với đời sống, thì chúng ta cùng quay về dân tộc ; sửa lại Chúa truyền lệnh cho chúng tôi, tôi thấy rằng: “Ta đã đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân, để ngươi thử nghiệm độ cho đến tận cùng trái đất”. Nghe vậy các dân tộc hân hoan ca hát lời Chúa; Những ai được Chúa hóa kiếp sự sống, thì tin theo, nên lời Chúa được rao giảng khắp các vùng.

The Do-status xúi giục các nữ khá giả và các thân hào trong thành bắt bớ và Barnaba, rồi trục xuất ra khỏi ranh giới. Còn hai bạn, sau thời điểm phủi bụi chân lại cho họ, hai bạn đi đến Icôniô. Còn sót lại các môn đồ, toàn thể hoan và Thánh Thần.

Ðó là lời Chúa.

ÐÁP CA: Tv 99, 2. 3. 5

Ðáp: Ta là dân tộc, là đoàn chiên Chúa nuôi (¢. 3c).

Hoặc đọc: Alleluia.

Xướng: Vui vẻ với niềm vui; Please before the natural nhan with the hân hoan vui mừng.

Xướng: Hãy biết rằng Chúa là Thiên Chúa, chính là người tạo tác thân và ta thuộc quyền sở hữu của người, ta là dân tộc, là đoàn chiên Chúa nuôi.

Xướng: Vì Thiên Chúa, Người thiện nguyện, lòng từ bi Người muôn đời, và lòng trung thành với muôn vàn thế hệ.

BÀI TẬP II: Kh 7, 9. 14b-17

“Chiên Con sẽ thống trị họ và dẫn họ đến nguồn nước ban sự sống”.

Trích sách Khải Huyền của Thánh Gioan.

Tôi là Gioan, đã thấy một đông người không thể đếm được, họ thuộc mọi người giống nhau, dòng tộc, dân tộc và tiếng nói, đứng trước ngai vàng và trước Con Chiên; họ mặc áo trắng dài, tay cầm lá vạn tuế.

Và một lão già đã nói với tôi: “Đây là những người từ thống khổ to lớn đến, họ giặt áo và tẩy trắng trong máu Con Chiên. Vì vậy, họ ở trước ngai vàng Thiên Chúa, và ngày đêm thờ phượng Người trong đền thánh Chúa, Đèn ngự trên ngai vàng đặt ở giữa họ. Họ sẽ không đói khát; mặt trời và nóng bức sẽ không làm khổ họ, vì Con Chiên đứng trước ngai vàng sẽ trị liệu cho họ, sẽ dẫn họ đến nguồn nước ban sự sống, và Thiên Chúa sẽ lau sạch mọi giọt lệ trước mắt họ.

Ðó là lời Chúa.

ALLELUIA: Ga 10, 14

Alleluia, alleluia! – Chúa tể: “Ta là mục tử tốt lành, Ta biết các chiên, và chiên Ta biết Ta”. – Alleluia.

PHÚC ÂM: Ga 10, 27-30

“Ta ban for the chiên Ta được sống đời đời”.

Tin Mừng Chúa nhỏ theo Thánh Gioan.

Khi ấy, Chúa Giêsu phán rằng: “Chiên Ta thì nghe tiếng Ta, Ta biết chúng và chúng theo Ta. Ta cho chúng được sống đời đời; chúng sẽ không bao giờ hư mất, và không ai có thể cướp được chúng khỏi tay Ta. Ðiều mà Cha Ta ban cho Ta, thì cao trọng hơn tất cả, và không ai có thể cướp được khỏi tay Cha Ta. Ta và Cha Ta là một”.

Ðó là lời Chúa.

CHÚA NHẬT IV PHỤC SINH- NĂM ¢

TÔI VÀ CHÚA CHA LÀ MỘT (*)  Ghi chú của Noel Quession

Tôi là…

Cần phải đặc biệt Note tới hai từ trên mà Đức Giêsu đã không ngần ngại sử dụng nhiều lần trong Tin Mừng theo thánh Gioan (Ga 4,26; 7,29; 8,58; 13,19; 14,20; 17,24; 18,5) Ta cũng biết rằng, hai từ đó gợi lên kiểu viết “bốn chữ cái không phát âm được là “Tên mầu nhiệm” mà chính Thiên Chúa đã tự mạc khải cho Môsê trong sa mạc Sinai.

YHVH được dịch chuyển thành YaHVeH và đọc là “Adonai”, “Đức Chúa”.

Hơn nữa, qua nhiều câu trích dẫn như dưới đây, Tin Mừng theo thánh Gioan đã sử dụng tới ba mươi lần hai từ trên “Tôi là…”, kèm theo một phẩm tính:

– “Tôi là Bánh hằng sống” (Ga 6,35-42,48-51).

– “Tôi là ánh sáng thế gian” (Ga 8.12-9,5).

– “Tôi là Sự sống lại và là sự Sống” (Ga 11,25).

-“Tôi là Cây nho thật” (Ga 15,l-5).

-“Tôi là Cửa cho chiên ra vào” (Ga 10,7-9).

-“Tôi là Mục tử nhân lành” (Ga 10,11-14).

Theo các nhà ghi chú Kinh Thánh đúng đắn, những kiểu nói trên muốn diễn tả hữu thể thần linh của Đức Giêsu. Thánh Gioan đã viết: “Ngôi Lời đã trở nên người phàm” (Ga ɭ,14).

Tôi là Mục tử nhân lành (người chăn chiên đích thực).

Ở đây, Đức Giêsu không chỉ sử dụng một hình ảnh đẹp dân gian và đồng quê, nhưng trước hết này là một kiểu nói Kinh Thánh vô cùng phong phú. Trong khắp vùng Đông Phương cổ, các vua chúa thường tự coi mình như mục tử chăn dắt dân nước. Chính Giavê cũng đóng vai trò đó khi giải thoát dân riêng khỏi Ai Cập: “Người lùa dân Người đi ví thể đàn chiên, Người dẫn dắt chúng như đàn cừu ngang qua sa mạc” (Tv 78,52). Đavit, một trong những nhà lãnh đạo chính trị trước nhất của Israel, là một cậu chăn chiên tại Bêlem (1 Ş 17,34-35). Ông Vua lý tưởng của tương lai, Đức Mêxia, Đavit mới, cũng được loan báo như một “Mục tử”: “Ta sẽ chỗi dậy một mục tử duy nhất, Ngài sẽ chăn dắt chúng. Đó là Đavit, tôi tớ của Ta” (Ed 34,23).

Mọi thính giả của Đức Giêsu, cũng như chính Người, đều hiểu rõ những trích dẫn Kinh Thánh trên, nhất là chương 34 nổi tiếng của ngôn sứ Êdêkien, diễn tả khá dài những mục tử xấu ác (các vua thời đó) không quan tâm chăm sóc đoàn chiên của họ trước khi quyết đoán rằng, Thiên Chúa Giavê phán thế này: Chính Ta sẽ tìm kiếm chiên của Ta, và Ta sẽ chăm nom chúng. Ta sẽ kéo chúng ra khỏi mọi nơi chúng tán loạn. Ta sẽ chăn nuôi chúng nơi bãi cỏ tốt. Chính Ta sẽ chăn nuôi chiên của Ta, sấm của Đức Chúa Giavê. Chiên thất lạc, Ta sẽ tìm kiếm” (Ed 34,1-31).

Như vậy, rõ ràng của Đức Giêsu cũng không thể lầm về địa vị đó. Họ rất hiểu ý định của Chúa: “Nhiều người trong nhóm họ nói: ông ấy điên khùng rồi? ‘Kẻ khác bảo: ông nói phạm thượng, ông là người phàm mà lại tự cho mình, là Thiên Chúa” (Ga 10,20-33). Cũng chính vì thế, họ lấy đá để ném Đức Giêsu.

Có vẻ tất cả chúng ta nên nguyện cầu lâu hơn dựa vào hình ảnh “Mục tử” biểu trưng này, ví dụ dùng Thánh Vịnh 22: “Chúa là Mục tử chắn dắt tôi, Tôi chẳng thiếu thốn gì. Trong đồng cỏ xanh tưới, Người cho tôi nằm nghỉ. Người đưa tôi đến dòng nước trong lành, và bổ sức cho tôi”.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đang dẫn con đi. Lạy Chúa Giêsu, Chúa đang chăm sóc. Lạy Chúa Giêsu, Chúa yêu mến con. Và nguyện cầu như vậy, không phải là một kiểu nguyện cầu chủ quan, nặng tình cảm và trống rỗng: Tất cả chúng ta sẽ nhận thấy, Đức Giêsu còn tiếp tục gọi lên cho ta nội dung nguyện cầu phong phú hơn.

Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi. Tôi biết chúng và chúng theo tôi.

Ngày nay, hình ảnh con cừu, hình ảnh đoàn vật dễ mang một nghĩa xấu: Đừng có u lì như lũ cừu? Đừng có trí não. đoàn vật? Thực sự, hình ảnh của Kinh Thánh mang ý nghĩa trái lại. Ở đây, ba động từ được Đức Giêsu nói lên, là những động từ thúc đẩy rất phù phù hợp với loài người: nghe, biết, theo.

“Nghe”: này là một trong những thái độ cốt yếu, trong tương quan giữa hai người. Biết lắng nghe, là dấu chỉ của tình yêu đích thực. Biết bao lần, ngay trong một nhóm người, ngay lúc tụ họp xung quanh một bàn tròn, ngay trong một cuộc trao đổi mệnh danh là hội thoại, vậy mà thực sự ta, chưa biết lắng nghe. Trong Kinh Thánh, các ngôn sứ không ngừng mời gọi Israel biết lắng nghe. “Hỡi Israel, hãy nghe đây?” (Đnl 6,4; Am 3,1; Tv 29,3-9). Lắng nghe, này là khởi sự của sự tin tưởng. Thánh Gioan đã giới thiệu Đức Giêsu như Ngôi Lời, Lời Thiên Chúa mà Chúa Cha muốn ngỏ cùng thế gian. “Đây là Con yêu dấu của Ta. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người” (Mt 17,5).

“Theo”: này là một hành động không có gì là thụ động cả, nhưng diễn tả một thái độ tự do: dính kết toàn thân một người nào đó vào thân phận một kẻ khác. Theo nghĩa là gắn bó với… Đức Giêsu mời gọi: “Hãy theo tôi” (Ga ɭ,42).

“Biết”: trong Kinh Thánh, từ này trước hết không mang một ý nghĩa tri thức. Chính tình yêu mới làm cho ta nhận thấy người nào đó một cách đích thực, đến nỗi đoán được cả tâm tính họ. Sự tin tưởng, hiểu biết lẫn nhau, yêu mến sâu xa, hiệp thông tâm hồn, trí não, thân xác… là dấu chỉ của tình yêu vợ chồng (St 4,ɭ).

Tôi ban cho chúng sự sống đời đời, không lúc nào chúng phải diệt vong, và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi.

Đây đúng là một cộng đồng sinh mệnh giữa Mục tử và đoàn chiên, giữa Đức Giêsu và “những kẻ nghe tiếng Người và theo Người”. Đúng là một sự link vĩnh viễn.

Lạy Chúa, khi nguyện cầu, con cố tưởng tượng ra, thực sự con đang ở trong “bàn tay Chúa”. Bàn tay mà Chúa đã giơ ra cho người bệnh để cứu chữa họ. Bàn tay Chúa đã chìa ra cho Phêrô lúc ông chìm sâu dưới lòng biển. Bàn tay đã cầm Bánh hằng sống, vào chiều Thứ Năm Thánh. Bàn tay mà Chúa đã dang rộng trên thập giá tại đồi Gôngôtha. Bàn tay bị thương tích do đinh đâm thấu qua, mà Chúa đã minh chứng với Tôma. Trong bàn tay đó, Chúa đã nắm chặt lấy con và không ai có thể cướp được con! Lạy Chúa Giêsu xin tạ ơn Chúa.

Cha tôi, Đấng đã ban chúng cho tôi, thì to hơn toàn bộ, và không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha.

Như vậy, tất cả chúng ta được cả “hai bàn tay” giữ gìn.

Như một bé thơ được cả cha mẹ giữ gìn, và hướng dẫn trong an toàn tuyệt đối, hình ảnh đó đẹp biết bao!

Lạy Chúa, con muốn dùng hình ảnh trên để nguyện cầu cùng Chúa. ‘Lạy Chúa Giêsu và Chúa Cha, xin giữ gìn những người con thương mến trong bàn tay của Chúa.

Tuy nhiên, tất cả chúng ta cũng nhận thấy rằng, đó không phải là cảnh sắc màu mè diễn tả những “mục tử hiền lành” và các chú cừu con lông xoăn”. Người mục tử Đông phương là một người du mục đáng gườm, một thứ lính chiến, có khả năng bảo vệ đoàn vật mình khỏi thú dữ… gấu hay sư tử đến để cướp đoạt một con chiên khỏi đàn (1 Ş 17,34-35).

Đức Giêsu, khi Người nói những lời đó, đã nghĩ đến cuộc giao chiến kịch liệt mà Người sẽ phải đường đầu trong cuộc Thụ khổ để đối phương “không cướp được” một chiên nào khỏi tay Người. Khác với kẻ chăn thuê, thường chạy trốn trước sói dữ, Đức Giêsu sẽ phó nộp và đành mất mạng sống mình vì chiên của Người (Ga 10,12-15).

Cùng với Đức Giêsu, tôi có khả năng, đại chiến để cứu sống anh em tôi không?

Không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha. Không ai cướp được chúng khỏi tay tôi.

Thế nhưng, lạy Chúa, làm sao giải thích được những hiện tượng bỏ hàng ngũ, bất trung thường thấy xung quanh chúng con, hay ngay trong đời sống chúng con?

Này là mầu nhiệm của tự do! Nhưng một điều tất cả chúng ta cần biết, này là không khi nào Chúa buông bỏ! Chỉ có loài người rời bỏ bàn tay Chúa. Và ngay khi loài người rời bỏ, Thiên Chúa vẫn tiếp tục tìm liên hệ lại. “Người nào trong các ông có một trăm con chiên mà bị mất một con, lại không để chín mươi chín con kia ngoài đồng, để đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất?” (Lc 15,4-7). Vậy tất cả chúng ta đã tự tạo hình ảnh sai lầm nào về Thiên Chúa, để nghĩ rằng Người có thể kết án những tội nhân? Chớ gì tất cả chúng ta cần nỗ lực ít phạm tội so với Thiên Chúa yêu thương!

Tôi và Chúa Cha là một.

Các chiên của Đức Giêsu, Người nói chúng đã được Chúa Cha, Thiên Chúa trao phó cho Người. Nhưng chúng vẫn luôn ở trong bàn tay của Thiên Chúa.

Những kiểu nói như trên đã dẫn tất cả chúng ta bước vào một vực thẳm choáng váng, khi đứng trước loài người Giêsu Nadarét: trong loài người thực sự đã được sinh ra từ một phụ nữ, đã lớn lên, sắp phải đổ máu và bị giết đi, lại chính là Thiên Chúa đã hiện diện, nói năng và hành động. Đức Giêsu, chính là Thiên Chúa tự mạc khải trong tình thân hữu với loài người. “Tôi và Chúa Cha là một”. Các Công đồng sẽ phải nỗ lực xác nhận và mang ra những tư tưởng, nhưng sẽ không khi nào có được một kiểu nói giúp ta hiểu được mầu nhiệm của loài người Giêsu. Toàn bộ những gì đã nói, trong công thức trên, chỉ có thể phải “lắng nghe” trong đức tin: “Chúa Cha và tôi, chúng tôi là một… Thiên Chúa và tôi, Giêsu, chúng tôi là một”

Này là nguyên nhân Đức Giêsu dám quyết đoán, Người “ban sự sống đời đời”.

Này là nguyên nhân, như chính Thiên Chúa, Người có thể tuyên bố: “Tôi là…”.

Này là nguyên nhân Người đã bị buộc tội là một kẻ phạm thượng, bị người đời đóng đinh, nhưng được Thiên Chúa “minh chính hóa”, bằng cách cho Người từ cõi chết sống lại.

(*)Tựa đề do BTT.GPBR đặt

 CHÚA NHẬT IV PHỤC SINH – NĂM ¢

TA LÀ ĐẤNG CHĂN CHIÊN LÀNH- Ghi chú của Fiches Dominicales

VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI

*1. Đức Giêsu, Đấng chăn chiên lành.

Bản văn Chúa nhật này quá ngắn, cần mang trở lại văn mạch tổng thể một tí. Vào dịp lễ Lều, sau thời điểm chữa một người mù bẩm sinh và anh ta bị trục xuất khỏi hội đường, Đức Giêsu tỏ ra là một “Đấng chăn chiên, hiến tặng đời mình cho đàn chiên” (Ga 10,11)

Giờ đây, tất cả chúng ta trở lại lễ Cung Hiến, lễ kỷ niệm hằng năm ngày cung hiến đền thờ và bàn thờ thời Giuđa Macabê. Đức Giêsu đi đi lại lại nơi hành lang Salômôn (nơi mà sau thời điểm Chúa về trời, các môn đệ thường tụ họp, Cv 5, 12). Những người Do Thái – từ ngữ chỉ chung các thù địch của Đức Giêsu, trong Tin Mừng Gioan – tụ tập quanh Đức Giêsu (đúng ra là “quanh Người”: 10,22). Tin Mừng ghi: “Lúc đó là mùa đông” (Ga 10,22); nói thế, để từ thời tiết, tất cả chúng ta dễ nghĩ tới “sự băng giá” của lòng người theo thánh Augustinô sẽ viết sau này. “Nếu ông là Đấng cứu thế, hãy nói huỵch toẹt cho chúng tôi biết đi”.

Những người vây quanh không nắm vững nội dung từ Cứu thế, nên Đức Giêsu không trực tiếp trả lời thắc mắc, Người mời gọi thính giả tư duy về những công việc của một vị Cứu thế, nhất là việc chữa người mù bấm sinh mới đậy. 𝓐. Marchadour giải thích: “Các phép lạ được xem như nhũng dấu chỉ, nhờ này mà nhận thấy Đấng Cứu thế. Rồi, Người tiếp tục đề tài người chăn chiên, hình ảnh truyền thống của Đấng cứu thế dòng dõi Đavít; ở đây, Người nhấn mạnh đến những con chiên mà Chúa Cha trao phó cho Người.

*2. Làm một với Chúa Cha.

Và hiện tại, một đề tài mới, cho tới lúc này, chưa đề cập tới lần nào: sự thân mật với Chúa Cha: “Cha tôi và tôi, chúng tôi là một”. Một nhất định xác lập cội nguồn sứ mệnh của Đức Giêsu. Tình yêu của Chúa Cha, một tình yêu toàn bích bao bọc các con chiên đến nỗi không ai có thể cướp được một con nào. “Cha tôi, Đấng đã ban chúng cho tôi, thì lớn hơn tất cả và không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha”

So với người Do Thái, nói thế là quá quắt rồi. Phạm thượng? Ai lại dám xưng mình là Cứu thế và lại còn thân mật quá thế với Thiên Chúa. Họ lượm đá để ném Người. Họ nói: “Ông chỉ là phàm nhân mà lại tự cho mình là Thiên Chúa”. Tác giả Tin Mừng kết thúc: “Nhưng Người đã thoát khỏi tay họ”. Tác giả như muốn mời tất cả chúng ta đọc đoạn này dưới ánh sáng của cuộc tử nạn trên thập giá và sự Phục sinh từ cõi chết. Với ánh sáng ấy, tất cả chúng ta sẽ tìm tòi ra Đức Giêsu, Con Thiên Chúa, đã hoàn tất tới cùng sứ mệnh của mình bởi tình yêu so với các con chiên thế nào; trên đoạn đường sự sống nào, Người muốn dẫn mang những ai nghe tiếng Người và đi theo người; Mối tình hiệp thông yêu thương nào với Chúa Cha mà Người muốn dẫn mang tất cả chúng ta tham gia vào?

BÀI ĐỌC THÊM

*1. Theo Đức Giêsu (₲. Boucher, trong “Thiên đường tại thế”).

Lạy Chúa, chúng con không muốn mình bị đồng hóa với đàn súc vật. Con không thích là một chú chiên chỉ biết đi theo người chăn chiên..Con cũng không muốn kêu be be như con chiên. Con nói điều con nghĩ, đi nơi con thích. Con không muốn bị dắt đi.

Ngày nay, chúng con nhấn mạnh đến sự thức tỉnh của lương tâm: mỗi người sẽ chọn lấy hướng đì mà mình muốn. Mong sao có trong tay phương tiện thực hiện sự lựa chọn của mình. Ngày nay, chúng con thích phụ trách về số phận mình. Chúng con không muốn trao tấm bảng trắng đời mình cho các nhà lãnh đạo hoặc những người chúng con bầu ra để họ muốn làm gì thì làm. Trái lại, họ phải trả lời cho chúng con về những việc họ đã làm.

Nhưng, Chúa lại nói với con rằng: giữa con và Chúa là sự hiệp thông. Mong sao Chúa nói lời soi sáng và hướng dẫn đời con. Chúa thuộc một bình diện hoàn toàn khác.

Nghe Chúa và đi theo đoạn đường Chúa đã vạch ra, con sẽ sống cuộc sống tốt đẹp và trọn vẹn, cho tới nỗi cuộc sống ấy sẽ không ngừng lại khi sự hiện hữu trần thế chấm hết. Cuộc mạo hiểm mà Chúa dắt con đi sẽ dìm con vào sự sống vĩnh hằng.

Với Chúa, mọi sự sẽ đổi khác. Chúng con không còn rủi ro sẽ bị huỷ diệt nữa. Không ai tiêu diệt được chúng con. Không gì có thể xâm phạm đến chúng con.

Nghe lời Chúa và đi theo đoạn đường Chúa thiết lập là chúng con lên đường với Chúa. Con muốn nói: với Thiên Chúa. Với Thiên Chúa của sự sống và của sự vĩnh cửu. Với Thiên Chúa mà Chúa đã gọi là Cha.

*2. Ngày toàn cầu nguyện cầu cho ơn gọi (Sứ điệp của Đức Gioan-Phaolô II).

Ngày nay, vẫn còn nhiều nguyên do cản ngăn thanh thiếu niên và các bạn trẻ sống sự thực của tuổi đời mình trong sự gắn bó quảng đại với Đức Kitô. Biết bao bạn trẻ đang đánh mất năng lực phát triển đích thực.

Vậy nên mong đợi gì? Trong thâm tâm mỗi thế hệ luôn ẩn tàng một ước muốn tạo lập một ý nghĩa cho đời mình. Trên hành trình cuộc sống, các bạn trẻ luôn tìm một người biết thảo luận với họ, những vấn đề làm họ giận dữ và đồng thời đề ra được những phương án, những giá trị, những viễn tượng đầu tư được sự dũng cảm đương đầu với tương lai.

Điều người ta đòi hỏi ngày hôm nay là: một Giáo Hội biết trả lời cho sự kỳ vọng của tuổi trẻ. Đức Giêsu muốn thảo luận với họ qua thân thể người là Giáo Hội. Người muốn đề xuất với họ viễn tượng của một chọn lựa có tính quyết định cuộc sống Như Người đã gắn bó với hai môn đệ trên đường Emmaus, Giáo Hội ngày nay cũng phải lên đường gắn bó với các bạn trẻ đầy ưu tư, bất mãn và tranh chấp, để loan báo cho họ Tin Mừng kỳ diệu của Đức Kitô phục sinh.

Điều người ta đang cần là một Giáo Hội cho các bạn trẻ, một Giáo Hội trò chuyện được với lâm hồn họ, hâm nóng trái tim họ bằng niềm vui của Tin Mừng, bằng sức mạnh của

Thánh Thể, một Giáo Hội biết tiếp đón và mời gọi những ai đang di chuyển tìm mục đích hấp dẫn toàn thể cuộc sống của họ; một Giáo Hội không sợ đòi hỏi nhiều sau thời điểm đã cho đi không ít; một Giáo Hội không sợ đòi hỏi nơi bạn trẻ sự nhọc mệt của một cuộc mạo hiểm cao thượng và chân chính, cuộc mạo hiểm bước “theo” Tin Mừng.

CHÚA NHẬT IV PHỤC SINH – NĂM ¢

ĐẤNG CHĂN CHIÊN ĐÍCH THỰC (*)- Lm. Inhaxiô Hồ Thông

Trong cả ba năm phụng vụ, Chúa Nhật IV Phục Sinh là Chúa Nhật “Chúa Chiên Lành”.

Cv 13: 14, 43-52

Khi thi hành công việc truyền giáo ở An-ti-ô-khi-a miền Pi-xi-đi-a, thánh Phao-lô và thánh Ba-na-ba, như những mục tử nhân lành, thông báo ơn cứu độ phổ quát cho muôn người.

Kh 7: 9, 14-17

Thị kiến mà sách Khải Huyền mô tả đúng đắn là thị kiến về đoàn người được tuyển chọn đông đảo khôn kể xiết đứng chầu quanh ngai Thiên Chúa. Con Chiên đang ngự ở giữa họ “sẽ chăn dắt và dẫn đưa họ tới nguồn nước trường sinh”.

Ga 10: 27-30

Đức Giê-su nhất định Ngài là vị Mục Tử Thiên Chúa, liên đới với đoàn chiên của Ngài. Chính Ngài cho họ được sống và sống dồi dào trong sự hiệp nhất mật thiết với Chúa Cha. 

BÀI ĐỌC Ι (Cv 13: 14, 43-52)

Phần thứ nhất sách Công Vụ Tông đồ (ch. 1-12), mà tất cả chúng ta đã đọc nhiều đoạn trích dẫn trong nhiều Chúa Nhật trước, nêu bật dung mạo Tông Đồ Phê-rô. Trong phần này, thánh Phê-rô loan báo Tin Mừng đa phần cho dân Ít-ra-en, ngoại trừ viên đại đội trưởng Rô-ma, ông Co-nê-li-ô và gia quyến của ông, những người Ki-tô hữu trước nhất được chấp thuận vào Giáo Hội qua phép Rửa chứ không qua phép cắt bì.

Phần thứ hai sách Công Vụ Tông Đồ (ch. 13-28) nêu bật dung mạo thánh Phao-lô, thánh nhân thực hiện sự đột phá to lớn trong công việc rao giảng Tin Mừng cho toàn cầu lương dân. Bản văn tất cả chúng ta đọc ngày hôm nay được trích dẫn từ bài trình thuật về cuộc hành trình truyền giáo thứ nhất của thánh Phao-lô. Bản văn này chứa đựng lời tuyên ngôn nổi tiếng của thánh Phao-lô: trước việc dân Ít-ra-en từ khước, thánh nhân quyết định quay về lương dân (13: 46-47).

*1.Thánh Ba-na-ba:

Trong những năm tháng khó khăn sau cuộc hoán cải của mình, thánh Phao-lô may mắn gặp được thánh Ba-na-ba. Thánh Ba-na-ba xuất thân từ đảo Síp, nhưng đã tới định cư lập nghiệp ở Giê-ru-sa-lem. Khi trở thành Ki-tô hữu, thánh nhân đã bán hết sản nghiệp của mình và đặt dưới chân các Tông Đồ. Tên thật của thánh nhân là Giô-xếp, nhưng người ta đặt cho thánh nhân biệt hiệu Ba-na-ba, nghĩa là “con của sự an ủi”. Quả thật, thánh nhân xứng đáng với biệt hiệu này trong cách hành xử của thánh nhân so với thánh Phao-lô. Khi thánh Phao-lô lần trước nhất đến Giê-ru-sa-lem sau biến cố trên đường Đa-mát, kẻ bách hại đạo trước đó được tiếp đón với thái độ dè dặt. Thánh Ba-na-ba biết nhận thấy cuộc hoán cải chân tình của thánh Phao-lô và đứng ra bảo lãnh cho thánh nhân trước các Tông Đồ.

Nhiều năm sau đó, thánh Ba-na-ba được cử đến An-ti-ô-khi-a, tp lớn chịu ràng buộc văn hóa Hy-lạp, ở đó nhiều người Do thái cũng như lương dân theo đạo càng lúc càng đông (An-ti-ô-khi-a là tp trước nhất có cộng đoàn Ki-tô hữu gốc lương dân). Trước công việc to lớn, thánh Ba-na-ba nảy sinh sáng tạo đi tìm thánh Phao-lô lúc này ở Tác-xô. Cả hai cùng làm việc ở An-ti-ô-khi-a trong vòng một năm, chắc cú vào năm 43-44. Đoạn, được Thánh Thần gợi ý, cộng đoàn An-ti-ô-khi-a cử thánh Ba-na-ba và thánh Phao-lô đi truyền giáo (Cv 13: 1-3).

Thánh Ba-na-ba dẫn thánh Phao-lô đến đảo Síp, quê quán của mình. Nhưng chẳng bao lâu sau vai trò của hai người đảo ngược. Thật là có ý nghĩa biết bao, sau cuộc truyền giáo ở đảo Síp, thánh Lu-ca không còn viết Sao-lô nhưng Phao-lô, và không còn đặt ngài ở hàng thứ hai; từ đây thánh Lu-ca viết “ông Phao-lô và ông Ba-na-ba”.

*2.Thành An-ti-ô-khi-a miền Pi-xi-đi-a:

Từ đảo Síp, hai ông đáp tàu đến miền duyên hải phía nam thuộc miền Tiểu Á. Đoạn hai ông vượt đèo leo núi đến tp An-ti-ô-khi-a miền Pi-xi-đi-a ở độ cao 1200 mét. Để đến đó, hai ông phải đi qua đoạn đường 160 cây số, bằng cách vượt qua dảy núi Taurus, do bởi những đoạn đường quanh co hiểm trở có nhiều khe suối, trong một miền đầy sào huyệt của quân trộm cướp. Chắc nịch thánh Phao-lô ám chỉ đến cuộc hành trình khổ sở này trong thư thứ hai gởi cho các tín hữu Cô-rin-tô, trong đó thánh nhân gợi lên mọi nỗi gian truân mà ngài đã kinh qua (2Cr 11: 26).

*3.Cộng đồng Do thái:

Tp An-ti-ô-khi-a miền Pi-xi-đi-a là một trong những thủ phủ Rô-ma thuộc Á Châu và được hưởng quy chế tp tự do với những thiết kế đô thị theo kiểu Rô-ma. Nằm trên trục giao thông, tp An-ti-ô-khi-a miền Pi-xi-đi-a đã có một nền thương mại phát triển thịnh vượng. Ở đây có một cộng đồng Do thái định cư lập nghiệp và có tác động tôn giáo trên dân cư ở đây: có nhiều lương dân nhận thấy Thiên Chúa Ít-ra-en là Thiên Chúa độc nhất, tôn kính Ngài, nguyện cầu với Ngài và tham gia vào những công việc từ thiện của cộng đồng; những người này được gọi “những người kính sợ Thiên Chúa”. Những lương dân này sẽ là đám thính giả đông đảo của thánh Phao-lô ở hội đường An-ti-ô-khi-a miền Pi-xi-đi-a này.

*4.Sứ điệp mang tính lịch sử:

Vào một ngày sa-bát, trong hội đường, lời rao giảng trước nhất của thánh Phao-lô gây nên lòng mộ mến của nhiều người Do thái cũng như nhiều lương dân kính sợ Thiên Chúa. Vào ngày sa-bát sau đó, những lương dân kính sợ Thiên Chúa này kéo theo một phần lớn dân thành vào trong hội đường để nghe thánh Phao-lô và thánh Ba-na-ba thuyết giáo. Thấy thế, những người Do thái “sinh lòng ghen tức, họ nhục mạ và phản đối những lời của thánh Phao-lô”. Đây là lần trước nhất người Do thái chống đối thánh Phao-lô. Sẽ có những chống đối khác nữa. Từ lúc này, thánh Phao-lô nhận thấy dấu hiệu nghiêm trọng này. Đây là lần trước nhất thánh nhân nói đến sự từ khước của dân Do thái, mà hệ luận tất yếu là lương dân tham gia Ki-tô giáo.

Thánh Phao-lô thông báo chiều kích phổ quát của sứ điệp Tin Mừng khi nhắc nhớ giáo huấn của các ngôn sứ và vận dụng cho chính mình ơn gọi của Người Tôi Trung: “Ta đã đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân, để ngươi đem ơn cứu độ đến tận cùng trái đất”. Khi nghe sứ điệp của thánh Phao-lô, “lương dân vui mừng suy tôn Lời Thiên Chúa và tất cả những ai đã được Thiên Chúa tiền định cho hưởng sự sống đời đời, đều tin theo”. Thánh Lu-ca sử dụng diễn ngữ xuất xứ từ văn chương kinh sư, theo đó người ta thường hay nói “được tiền định cho hưởng cuộc sống mai sau”. Diễn ngữ này không muốn nói đến số phận được tiền định, nhưng nhấn mạnh cuộc sống mai hậu này là ân ban của Thiên Chúa giành riêng cho những ai tin vào Chúa Giê-su.

*5.Thánh Phao-lô và thánh Ba-na-ba bị trục xuất:

Chắc nịch, thánh Phao-lô và thánh Ba-na-ba lưu lại ở An-ti-ô-khi-a nhiều tháng. Trong thuộc địa Rô-ma này, những người Do thái không có quyền điều hành; họ phải vận động những nhân vật trung gian: sách động những phụ nữ thượng lưu đã theo Do thái giáo, và những người có quyền thế trong thành, xúi dục họ trục xuất hai vị truyền giáo ra khỏi lãnh thổ của họ. Sau thời điểm bị trục xuất, hai ông “liền giũ bụi chân”, cử chỉ nói lên đoạn tuyệt và quy trách nhiệm cho các đối thủ này. Thánh Lu-ca nhấn mạnh một lần nữa mối phúc của những người bị bách hại: “Còn các môn đệ được tràn đầy hoan lạc và ơn Thánh Thần”.

BÀI ĐỌC II (Kh 7: 9, 14-17)

Tất cả chúng ta tiếp tục đọc sách Khải Huyền của thánh Gioan. Đoạn trích dẫn ngày hôm nay rất phù phù hợp với Tin Mừng, trong đó Đức Giê-su thông báo Ngài là Mục Tử đích thật. Thị kiến mô tả Con Chiên là Đức Ki-tô ở giữa những người được tuyển chọn như Người Mục Tử nhiệt tình trao ban sự sống đời đời cho đoàn chiên của mình.

Chương 7 sách Khải Huyền chứa đựng hai thị kiến liên tiếp nhau: thị kiến thứ nhất về Giáo Hội đại chiến, trong đó các Ki-tô hữu được đóng ấn ơn cứu độ trước khi đương đầu với những nỗi gian truân; thị kiến thứ hai là đối tượng của bản văn tất cả chúng ta.

*1.Một đoàn người thật đông không tài nào đếm được:

Trong lúc xuất thần, thánh Gioan được mang lên trời ở đó diễn ra một phụng vụ vĩ đại tôn vinh Thiên Chúa và Con Chiên. Đoàn người được tuyển chọn thật đông không tài nào đếm được như dòng dõi mà Thiên Chúa đã hứa với tổ phụ Áp-ra-ham. Ơn cứu độ phổ quát được các ngôn sứ loan báo, được Con Chiên đạt được nhờ hiến dâng mạng sống mình “cho muôn người”, được đông người “thuộc mọi nước, mọi dân, mọi chi tộc và mọi ngôn ngữ” chứng thực. “Họ đứng trước ngai và trước Con Chiên, mình mặc áo trắng, tay cầm nhành lá thiên tuế”: “Họ đứng”: dấu chỉ của sự sống và sự sống lại, “mình mặc áo trắng”: dấu chỉ của sự vô tội, và “tay cầm nhành lá thiên tuế”: dấu chỉ của sự khải hoàn.

*2.Cơn thử thách to lớn:

Một trong các Kỳ Mục giải thích: “Họ là những người đã đến, sau khi trải qua cơn thử thách lớn lao”. Theo từ ngữ của các sách khải huyền, “cuộc thử thách lớn lao” chỉ những nỗi gian truân của thời cánh chung. Trước đó, Đức Giê-su đã gợi lên điều này khi Ngài nói với các môn đệ: “khi ấy sẽ có cơn gian nan khốn khổ đến mức từ thuở khai thiên lập địa cho đến bây giờ chưa khi nào xảy ra, và sẽ không bao giờ xảy ra như vậy nữa” (Mt 24: 21).

Viễn tượng của các sách khải huyền đa phần là cánh chung, nhưng được “lồng vào nhau” giữa hiện tại và tương lai. Các ngôn sứ nói về kỷ nguyên thiên sai theo cùng những từ ngữ như vậy nào thì họ mô tả kỷ nguyên cánh chung theo cùng một phương thức như vậy. Sách Khải Huyền của thánh Gioan ngỏ lời với những người Ki-tô hữu bị bách hại đang đương đầu với chết chóc vì đạo. Như tất cả chúng ta đã nói, sách này là một tác phẩm “được mã hóa”, theo đó ngôn từ hàm chứa hai cách đọc. Cuộc thử thách to lớn ám chỉ đến chết chóc kinh khủng đang chờ đợi họ và những nhành lá thiên tuế mà họ đang cầm trong tay muốn nói cuộc khải hoàn của họ sắp tới gần: họ đã giặt sạch và tẩy trắng áo mình trong máu Con Chiên vì họ đã dự phần vào cuộc Tử Nạn của Ngài bằng cách chấp thuận đổ máu mình để làm chứng cho Ngài.

*3.Thờ phượng muôn đời:

“Họ đứng chầu trước ngai Thiên Chúa, đêm ngày thờ phượng trong Đền Thờ của Người”. Chương 7 sách Khải Huyền tham gia trước các chương 20-22, các chương này mô tả thành đô Giê-ru-sa-lem trên trời. Thế nên, trong thành đô Giê-ru-sa-lem mới, không còn tồn tại Đền Thờ “vì Đức Chúa, Thiên Chúa Toàn Năng, và Con Chiên là Đền Thờ của thành” (Kh 21: 22). Đây là một trong những phương thức của tác giả là dùng những biểu tượng Cựu Ước để diễn tả những thực tại mới: Đền Thờ là dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa ở giữa dân Ngài, dấu chỉ bất toàn này rồi sẽ biến mất. Từ đó, Thiên Chúa đích thân vĩnh viễn hiện diện giữa dân Ngài và họ chúc tụng Ngài luôn mãi.

*4.Thiên Chúa ở cùng tất cả chúng ta:

Kinh Thánh được ứng nghiệm theo từng lời: loài người được dự phần vào sự sống của Thiên Chúa, Người chấm hết mọi nỗi truân chuyên của họ: “Họ sẽ không còn phải đói, phải khát, không còn bị ánh nắng mặt trời thiêu đốt và khí nóng hành hạ nữa. Vì Con Chiên đang ngự giữa ngai sẽ chăn dắt và dẫn đưa họ tới nguồn nước trường sinh”. Câu này rõ ràng trích dẫn hầu hết nguyên văn của Is 49: 10, nhưng thật đáng cho tất cả chúng ta lưu ý, tác giả sách Khải Huyền đã thay thế “Đấng” quy chiếu đến Đức Chúa trong bản văn Is 49: 10 bằng “Con Chiên” chỉ Đức Ki-tô. Con Chiên là nguồn gốc niềm hoan lạc của họ và Con Chiên này “sẽ chăn dắt và dẫn đưa họ tới nguồn nước trường sinh”.

Bản văn Khải Huyền này cũng được đọc lại vào ngày lễ Chư Thánh để nhắc nhớ niềm kỳ vọng to lớn của người Ki-tô hữu.

TIN MỪNG (Ga 10: 27-30)

Vào Phụng Vụ Năm ¢ này, tất cả chúng ta đọc phần thứ ba và phần sau cùng của dụ ngôn “Người Mục Tử Nhân Lành” theo Tin Mừng Gioan.

*1.Cục diện:

Phần sau cùng này rõ ràng được tách riêng ra khỏi những khai triển trước đó: hoàn cảnh, thời gian, nơi chốn không như trước nữa. Quả thật, những câu 22-24 định vị dụ ngôn này vào trong hoàn cảnh của cuộc tranh luận giữa Đức Giê-su và những người Pha-ri-sêu: “Khi ấy, ở Giê-ru-sa-lem, người ta đang mừng lễ Cung Hiến Đền Thờ. Bấy giờ là mùa đông. Đức Giê-su đi đi lại lại trong Đền Thờ, tại hành lang Sa-lô-mon. Người Do thái vây quanh Đức Giê-su và nói: ‘Ông còn để lòng trí chúng tôi phải thắc mắc cho đến bao giờ? Nếu ông là Đấng Ki-tô, thì xin nói công khai cho chúng tôi biết’”.

Ấy vậy, vào lúc cử hành lễ Cung Hiến Đền Thờ, trong phụng vụ người ta đọc chương 34 của ngôn sứ Ê-dê-ki-en. Trong chương 34 này, Thiên Chúa truyền lệnh cho vị ngôn sứ tuyên sấm hạch tội những mục tử chăn dắt Ít-ra-en, vì họ chỉ biết lo cho lợi nhuận của mình mà không quan tâm gì đến cảnh sống cùng khổ của đoàn chiên Người: “Sữa các ngươi uống, len các ngươi mặc, chiên béo tốt thì các ngươi giết, còn đoàn chiên còn lại không lo chăn dắt. Chiên đau yếu, các ngươi không làm cho mạnh; chiên bệnh tật, các ngươi không chữa cho lành; chiên bị thương, các ngươi không băng bó; chiên bị lạc, các ngươi không đưa về; chiên bị mất, các ngươi không chịu đi tìm. Các ngươi thống trị chúng một cách tàn bạo và hà khắc” (Ed 34: 1-6). Vì vậy, vị ngôn sứ loan báo rằng Thiên Chúa sẽ đích thân chăm sóc đoàn chiên của Người: “Đức Chúa phán thế này: ‘Đây chính Ta sẽ chăm sóc chiên của Ta…Ta sẽ chăn dắt chúng trong đồng cỏ tốt tươi…Con nào bị mất, Ta sẽ đi tìm; con nào đi lạc, Ta sẽ đưa về; con nào bị thương, Ta sẽ băng bó…” (Ed 34: 11-16).

Những người hội thoại với Đức Giê-su đã nghe nói lại sứ điệp của vị ngôn sứ. Để trả lời thắc mắc của họ: “Ông còn để lòng trí chúng tôi phải thắc mắc cho đến bao giờ? Nếu ông là Đấng Ki-tô, thì xin nói công khai cho chúng tôi biết”, Đức Giê-su tự đồng hóa mình với vị Mục Tử Thiên Chúa này mà ngôn sứ Ê-dê-ki-en đã hứa. Lời thông báo này khiến họ phẩn uất đến mức muốn ném đá Ngài như đoạn tiếp theo cho thấy.

*2. “Chiên tôi thì nghe tiếng tôi”:

“Chiên Tôi thì nghe tiếng tôi”: Đây là thái độ của các môn đệ Ngài. Đức Giê-su đối lập thái độ này với thái độ của những đối thủ Ngài. Trước đó, Ngài đã nói cho họ: “Ai thuộc về Thiên Chúa, thì nghe lời Thiên Chúa nói; còn các ông, các ông không chịu nghe, vì các ông không thuộc về Thiên Chúa” (8: 47). Qua lời này, Đức Giê-su thông báo một cách rõ ràng rằng Ngài chính là Lời Thiên Chúa hiện thân.

*3. “Tôi biết chúng và chúng theo tôi”:

Trước đó, Đức Giê-su đã khai triển sâu xa về sự hiểu biết hổ tương giữa người chăn chiên và đoàn chiên; động từ “biết” theo Kinh Thánh hàm chứa chuyển động của cả trí tuệ lẫn trái tim; sự hiểu biết này kéo theo niềm tin tưởng phó thác: “Tôi biết chúng và chúng theo tôi”. Xuyên suốt Tin Mừng, động từ “theo” khái niệm thái độ cơ bản của người môn đệ, gắn bó với loài người Đức Ki-tô.

*4. “Tôi ban cho chúng sự sống đời đời”:

Ở đây tất cả chúng ta chạm đến cao điểm của dụ ngôn, vang dội biến cố Phục Sinh. Đức Giê-su có thể thông truyền cho loài người sự sống thần linh của Ngài vì Ngài sắp hiến dâng mạng sống mình cho đoàn chiên của Ngài: “Không bao giờ chúng phải diệt vong”. Không quyền lực nào có thể phân ly mối quan hệ hiệp nhất giữa người chăn chiên và đoàn chiên, vì mối giây link này được thiết lập trên sự hiệp nhất của Đức Giê-su với Cha Ngài: “Tôi và Chúa Cha là một”. Trong Tin Mừng Gioan, nhiều lần Đức Giê-su nhất định một lòng một dạ giữa Ngài và Cha Ngài. Đây là mặc khải trọng yếu và rõ ràng nhất về Thần Tính của Chúa Giê-su và mầu nhiệm sâu xa của Thiên Chúa. Đây cũng là câu trả lời cho bè 𝓐-ri-ô về việc chối bỏ Thần Tính của Đức Giê-su. Cũng dựa trên lời này, Công Đồng Ni-xê-a năm 325 tuyên tín: Chúa Cha và Chúa Con đồng bản tính.

Chiều kích Giáo Hội của dụ ngôn thì rõ ràng. Những người Ki-tô hữu là đoàn chiên, họ gặp thấy ở nơi Đức Ki-tô ơn cứu độ của mình và sự sống thần linh phong phú. Qua Ngài, họ hiệp nhất dứt khoát vĩnh viễn với Chúa Cha. Phải đọc lại từ từ dụ ngôn và để cho lòng mình thấm đẩm tâm tình trìu mến yêu thương của Thiên Chúa mà dụ ngôn này làm chứng. 

CHÚA NHẬT IV PHỤC SINH- NĂM ¢

MỤC TỬ NHÂN LÀNH- Lm. Carôlô Hồ Bạc Xái

DẪN VÀO THÁNH LỄ

Anh chị em thân mến

Lời Chúa ngày hôm nay trình bày Chúa Giêsu là người mục tử tốt lành: Ngài biết rõ từng người tất cả chúng ta, Ngài thí mạng sống vì tất cả chúng ta, và Ngài dẫn tất cả chúng ta tới sự sống thật. Trong Thánh lễ này, tất cả chúng ta hãy xin Chúa giúp tất cả chúng ta trở thành chiên của Ngài, không phải những con chiên ngang bướng mà là những con chiên biết chủ mình là ai, biết tiếng chủ và ngoan ngoãn bước theo sự dẫn dắt của chủ.

GỢI Ý SÁM HỐI

-Chúa Giêsu muốn dẫn tất cả chúng ta tới sự sống thật, còn tất cả chúng ta nhiều khi từ chối không nghe theo sự hướng dẫn của Ngài.

-Chúa Giêsu biết rất rõ từng người tất cả chúng ta và yêu thương tất cả chúng ta vô cùng, vậy mà lắm khi tất cả chúng ta hồ nghi tình thương của Chúa.

-Chúa Giêsu đã chịu biết bao thống khổ vì tất cả chúng ta, còn tất cả chúng ta nhiều khi gặp thống khổ thì nản lòng như kẻ không có đức tin.

LỜI CHÚA

*1. Bài đọc Ι (Cv 13,14.43-52)

Việc truyền giáo của Phaolô và Barnaba tại Antiôkhia miền Pixiđia:

-Theo thói quen, Phaolô rao giảng Tin Mừng cho người Do Thái trước tiên.

-Nhưng vì họ từ chối, nên Phaolô quay sang rao giảng cho dân ngoại.

– Dân ngoại đã hân hoan đón nhận Tin Mừng và tôn vinh Thiên Chúa.

*2. Đáp ca (Tv 99)

Câu trọng yếu nhất trong Tv này, và cũng là câu được dùng làp câu đáp, là: “Chúng ta là dân Chúa, là đoàn chiên Người dẫn dắt”.

*3. Tin Mừng (Ga 10,27-30)

Chúa Giêsu mặc khải thêm một khía cạnh của mầu nhiệm bản thân Ngài: Ngài là mục tử: “Chiên tôi thì nghe tiếng tôi. Tôi biết chúng và chúng theo tôi. Tôi cho chúng được sự sống đời đời, chúng sẽ không bao giờ hư mất”

*4. Bài đọc II (Kh 7,9.14-17)

Thị kiến của Gioan tông đồ về dân thánh Chúa:

-họ rất đông không tài nào đếm nổi, thuộc mọi dân tộc và mọi từ ngữ

-họ đứng trước ngai Con Chiên

-Con Chiên sẽ dẫn mang họ tới nguồn nước trường sinh.

GỢI Ý GIẢNG

* 1. Đồng cỏ xanh, dòng suối mát

Dương Ân Điển là đứa trẻ bị bỏ rơi, người ta nhặt được nó ở một quầy bán thịt, trong cái chợ nghèo vùng núi miền Nam đảo Đài Loan. Mẩu chuyện thương tâm này xảy ra năm 1974, ấy là lúc vừa lọt lòng, em đã không có hai cánh tay, chân phải thẳng đơ không thể co duỗi.

Vậy mà, 25 năm sau, đứa bé tàn tật xấu số ấy đã trở thành nhà danh họa tài ba, chuyên vẽ tranh bằng chân và miệng. Cô đã tổ chức nhiều cuộc triển lãm ở Mỹ vàø Nhật, và là thành viên của Hiệp Hội quốc tế những người vẽ tranh bằng chân và miệng.

Cuộc sống cô thay đổi nhanh chóng như vậy, thành công rực rỡ như vậy, cũng là nhờ mục sư Dương Húc và vợ ông là Lâm Phương Anh nhận nuôi. Nhất là ông Tưởng Kinh Quốc đã cho cô đi phẫu thuật chỉnh hình xương cột sống, nắn chân phải, sửa đường làm cầu cho cô đơn giản đi tới trường. Ông đã nói với cô: “Cháu không có tay, nhưng còn chân, và có thể làm được rất nhiều việc”. Chính tình thương, sự chăm sóc, và lời khuyến khích của ông Tưởng Kinh Quốc đã thay đổi số phận của một loài người.

“Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi, tôi biết chúng và chúng theo tôi” (Ga 10,27). Thiên Chúa là chủ chiên nhân lành, Người yêu thương mỗi người tất cả chúng ta bằng một tình yêu cá biệt, cho dù tất cả chúng ta có què quặt đui mù, có xấu xa đốn mạt đến đâu, mỗi người tất cả chúng ta đều có chỗ đứng độc nhất vô nhị trong tình yêu bao bọc của Chúa; mỗi người tất cả chúng ta đều có vị trí đặc biệt trong trát tim yêu thương của Người. Tấm lòng quảng đại yêu thương của ông Tưởng Kinh Quốc giành riêng cho cô bé tàn tật Dương Ân Điển chỉ là hình bóng tình yêu thương vô bờ của Thiên Chúa so với tất cả chúng ta, những con chiên của Người.

Vâng, chiên của Chúa thì nghe Chúa, biết Chúa và theo Chúa.

– Nghe Chúa chính là lắng nghe Lời Chúa qua Kinh thánh, nơi giáo huấn của Giáo hội, và những ơn soi sáng trong tâm hồn mình. Nghe Chúa chính là để có một mối tương giao thân tình với Người, và nhất là để tin vào Người. Thánh Phao lô viết: “Có đức tin là nhờ nghe giảng, mà nghe giảng là nghe công bố lời Đức Kitô” (Rm 10,17).

– Biết Chúa không chỉ là học hỏi và suy niệm theo nghĩa tri thức, mà chính là hiểu biết sâu xa, yêu mến thân tình, đến nỗi phối hợp cả thân xác lẫn tâm hồn. Chính tình yêu mới làm cho tất cả chúng ta nhận thấy Chúa một cách đích thực đến nỗi đoán biết cả thánh ý Người.

– Theo Chúa chính là một thái độ hoàn toàn tự do, tự nguyện dấn thân, và trao phó thân phận cho duy một mình Người. Theo Chúa cũng chính là từ bỏ, từ bỏ loài người cũ, nếp sống cũ, đường lối cũ. Các môn đệ đã bỏ mọi sự, Mađalêna đã bỏ đường tội lỗi, Augúttinô đã bỏ đời trụy lạc, để đi theo Người.

Nghe Chúa, Biết Chúa và Theo Chúa để được những gì? Đức Ki tô đã trả lời: “Tôi ban cho chúng sự sống đời đời, không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi” (Ga 10,28). Đoàn chiên đi theo chủ chiên nhân lành thì đồng cỏ xanh với dòng suối mát chắc cú phải là đích đến của chúng, vì chủ chiên Giêsu chính là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống. Người không những ban cho tất cả chúng ta sự sống đời đời mà còn đảm bảo sự sống ấy chắc cú không thể mất được.

Không chỉ Chúa Con mà cả Chúa Cha cũng gìn giữ, bảo vệ tất cả chúng ta trong bàn tay yêu thương của Người: “Cha tôi, Đấng đã ban chúng cho tôi, thì lớn hơn tất cả, và không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha” (Ga 10,29). Chúa Cha đã trao ban đoàn chiên cho Chúa Con như quà tặng quí giá nhất, nên Chúa Con cũng gìn giữ và yêu mến đoàn chiên như Chúa Cha đã yêu mến và gìn giữ vậy. Như vậy, tất cả chúng ta được bảo vệ an toàn tuyệt đối trong cả hai bàn tay, của cả cha lẫn mẹ, còn hình ảnh nào đẹp không chỉ thế!

*

Lạy Chúa, xin cho chúng con trở nên nhỏ xíu đơn sơ để chúng con được nằm gọn trong bàn tay yêu thương của Chúa.

Giữa một toàn cầu ồn ào vì tranh giành quyền lực, của cải, xin cho chúng con lắng nghe được tiếng Chúa.

Giữa một toàn cầu chỉ biết tôn thờ vật chất, xin cho chúng con hiểu biết Chúa thật sâu xa để yêu mến Người thiết tha.

Giữa một toàn cầu chỉ biết đuổi theo danh lợi thú, xin cho chúng con luôn đi theo Chúa là chủ chiên nhân lành của cuộc sống chúng con mà thôi. Amen. (TP)

* 2. Ngày nguyện cầu cho ơn gọi linh mục

Trong một quyển chuyện đề tựa “Quyền lực và vinh quang”, nhà văn Graham Greene kể lại mẩu truyện sau đây xảy ra tại một nước ở Nam Mỹ: Khi ấy một chính phủ ghét đạo lên nắm quyền và sai khiến trục xuất toàn bộ các linh mục ra khỏi nước. Linh mục nào còn lén lút ở lại hoạt động thì bị tóm gọn đem xử tử. Đa số các linh mục đã phải tuân lệnh ra khỏi nước, một số nhỏ dũng cảm ở lại thì cũng bị xử. Nhưng không ai ngờ là vẫn còn sót lại một linh mục. Ông này ở lại được vì không ai thèm để ý tới ông, bởi vì ông là một linh mục tội lỗi bê bối đã hồi tục. Ông không coi sóc họ đạo nào cả, cũng không lưu ý tới sự thiếu thốn của các con chiên. Hằng ngày ông lang thang đây đó để kiếm tiền và nhậu nhẹt. Về phần giáo dân, trước đó họ vẫn khinh rẻ ông, nhưng trong lúc thiếu linh mục thì họ lại cần tới ông. Người ta xin ông rửa tội, giải tội, dâng thánh lễ và xức dầu. Ông cũng sẵn sàng nhận với một điều kiện là phải có tiền: rửa tội một em bé là mấy đồng, giải tội một người là mấy đồng, xức dầu một người là mấy đồng, mỗi người dự lễ là mấy đồng… toàn bộ đều có giá hẳn hoi. Tất nhiên, như ai trong tất cả chúng ta cũng biết, ông càng làm các bí tích thì càng thêm tội bởi vì ông đang sống trong tình trạng tội lỗi. Nhưng ai ngờ loài người tội lỗi ấy lại là phương tiện Chúa dùng để nuôi dưỡng đàn chiên Chúa trong lúc gian truân. Nhờ còn tồn tại ông mà giáo dân còn tiếp tục lãnh thu được các bí tích và duy trì được đức tin của mình. Thế rồi dần dần nhà cầm quyền khởi đầu để ý đến tới những hoạt động của ông và sai khiến truy nã ông. Ông cũng sợ bị xử tử nên lén vượt biên giới trốn sang xứ khác. Nhưng đang lúc ông sắp qua biên giới thì người ta đuổi theo năn nỉ ông trở lại để giúp cho một người hấp hối. Không nỡ để một người chết không có bí tích nên ông linh mục này đã trở lại, và đã bị tóm gọn, rồi bị đem ra pháp trường. Trước lúc bị bắn, ông đã ăn năn xin Chúa thứ tha hết mọi tội lỗi của ông và dâng linh hồn trong tay Chúa, rồi bình thản ngước đầu chờ đợi. Và ông đã trông thấy có một người lẫn trong đông người đang mang tay ban phép giải tội cho ông, này là một linh mục khác vừa trốn về để tiếp tục công việc của ông, công việc của một chủ chăn so với đàn chiên đang đói khát.

Mẩu chuyện cảm động trên cho tất cả chúng ta thấy hai điều:

Thứ nhất: linh mục rất cần cho đời sống đạo của giáo dân. Tất nhiên tín đồ của tôn giáo nào cũng nên vị lãnh đạo trí não của mình, nhưng người thiên chúa giáo còn cần tới linh mục gấp nhiều lần. Có thể nói, cả cuộc sống người thiên chúa giáo được bàn tay linh mục dẫn dắt nuôi dưỡng: Khi ta vừa mới sinh ra, bàn tay ấy đã đổ nước rửa tội cho ta; lớn lên bàn tay ấy mang Mình Thánh Chúa cho ta rước lễ; khi ta sa ngã phạm tội, bàn tay ấy giơ lên thay quyền Chúa mà tha tội cho ta; khi ta lập gia đình, bàn tay ấy lại giơ lên chúc lành cho cuộc kết hôn của ta; và trước lúc ta nhắm mắt lìa đời, cũng bàn tay ấy xức dầu thánh chuẩn bị cho cuộc hành trình của ta về nhà Chúa. Nếu thiếu bàn tay ấy thì ta sẽ ra sao? Những người giáo dân trong mẩu truyện trên mặc dù khinh nhờn vị linh mục tội lỗi nọ nhưng họ vẫn phải cần tới ông, vẫn van xin năn nỉ ông, bởi vì trong lúc gian truân thiếu thôn ấy, chỉ có ông là có thể ban các bí tích cho họ.

Thứ hai: Linh mục là phương tiện cứu rỗi của Chúa. Tất cả chúng ta đã thấy ông linh mục trong chuyện trên đã mang ơn Chúa đến cho giáo dân nhiều như vậy nào. Mặc dù ông tội lỗi, bất xứng nhưng các bí tích ông cử hành vẫn thành sự. Ông đọc ” Này là Mình Ta” thì Chúa vẫn ngự vào chiếc bánh trắng; ông nói “Ta tha tội cho con” thì Chúa vẫn ban ơn tẩy sạch mọi tội lỗi trong tâm hồn người xưng tội. Linh mục thực là phương tiện Chúa dùng để ban ơn cho giáo dân..

Ngày hôm nay là ngày Giáo hội nguyện cầu cho ơn mời gọi linh mục. Không cần nói thêm chi nhiều, tất cả chúng ta chắc cũng ý thức nhu cầu linh mục cấp bách đến thế nào cho Giáo Hội tất cả chúng ta: tất cả chúng ta đang thiếu linh mục. Rất nhiều họ đạo không có linh mục. Ngày xưa Chúa Giêsu đã chỉ cho các môn đệ thấy những đồng lúa chín vàng và bảo “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít. Chúng con hãy cầu nguyện xin chủ ruộng cho thêm thợ gặt đến đồng lúa của Ngài”. Chúa biết nhu cầu của tất cả chúng ta, nhưng Chúa muốn tất cả chúng ta phải cầu xin thì Chúa mới ban ơn. Xin gì?

Xin cho có nhiều thiếu niên, thanh niên quảng đại dâng mình cho Chúa để phục vụ các linh hồn.

Xin cho những người đang theo tiếng gọi của Chúa ngày hôm nay, tức là các chủng sinh, các em dự tư, được bền tâm vững chí. Dù hoàn cảnh có nhiều khó khăn, nhưng Chúa đã nói “Ai bền đỗ tới cùng thì sẽ được rỗi”.

Xin cho các linh mục của tất cả chúng ta được xứng đáng là những phương tiện tốt Chúa dùng để ban ơn cho giáo dân, nghĩa là xin cho các ngài được thánh thiện và bình an chăm sóc việc đạo đức cho giáo dân.

* 3. Bài giảng của Thánh Cyrillô thành Alexandria (+ 444)

Dấu hiệu phân biệt ai là con chiên của Đức Kitô, ấy là thái độ sẵn sàng lắng nghe và vâng phục, trong lúc dấu hiệu cho biết những con chiên lạ là sự cứng đầu.

“Lắng nghe” là chấp thuận điều được nói. Những người “lắng nghe” như vậy thì “được Thiên Chúa biết”, nghĩa là kết phù hợp với Thiên Chúa.

Thực ra chẳng ai mà Thiên Chúa không biết. Vì vậy khi Đức Kitô nói “Ta biết các chiên Ta” thì có nghĩa là “Ta sẽ đón nhận chúng và cho chúng kết hợp với Ta bằng một sự hợp nhất huyền nhiệm và trường tồn”.

Đức Kitô còn nói: “Các chiên của Ta thì đi theo Ta”. Thực vậy, nhờ ơn thánh, các tín hữu đi theo những bước chân của Đức Kitô. Họ không tuân giữ những quy định của Lề luật, vì thực ra đó chỉ là hình bóng. Đúng ra là họ đi theo những giới răn của Đức Kitô và nhờ đó vươn mình lên tới tầm cao của ơn gọi làm con Thiên Chúa. Khi Đức Kitô lên trời, họ cũng được lên theo.

“Ta ban cho chúng sự sống đời đời”: đừng hiểu sự sống này chỉ là chuỗi ngày tiếp nối nhau mà tất cả chúng ta dù là người tốt hay xấu cũng đều sở hữu sau thời điểm sống lại, nhưng phải hiểu đây là sống trong niềm vui. Ta cũng có thể hiểu “sự sống” này theo nghĩa bí tích Thánh Thể. Nhờ Bí tích Thánh Thể, Đức Kitô tháp nhập tất cả chúng ta vào chính sự sống của Ngài, các tín hữu được thông phần vào đúng đắn thịt Ngài, như lời Ngài nói: “Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì sẽ có sự sống đời đời” (Ga 6,54)

* 4. Thuộc về đàn chiên của Chúa

Cảm nhận được thuộc về Chúa Giêsu, được Ngài biết và yêu thương, này là một cảm nghĩ vô cùng an ủi. Ai mà không muốn thuộc về đàn chiên của Chúa! Thế nhưng thế nào là thuộc về đàn chiên Chúa? Muốn thuộc về đàn chiên Chúa thì phải làm sao?

-Thứ nhất là phải tin vào Ngài: tất cả chúng ta tham gia đoàn chiên Chúa và trở thành tín hữu, nghĩa là người tin.

-Nhưng tin chỉ mới là bước thứ nhất. Bước thứ hai là phải nghe tiếng Ngài: “Chiên của Ta thì nghe tiếng Ta”. Nghe tiếng Chúa Giêsu nghĩa là để mắt đến những lời Ngài dạy dỗ.

-Thứ ba là đi theo Ngài: “Chiên của Ta đi theo Ta”. Theo Chúa là thực hành lời Ngài dạy.

Liên hệ giữa tất cả chúng ta với Chúa phải là hai chiều. Con chiên phải chọn thuộc về Chúa. Chúa Giêsu không muốn và cũng không thể cứu ta ngược với ý muốn của ta. Nhưng chỉ cần ta thực lòng muốn và nỗ lực thuộc về Ngài thì Ngài sẽ chăm sóc ta trong cuộc sống và trong chết chóc nữa. Ngài hứa ban cho ta sự sống đời đời: “Ta ban cho chúng sự sống đời đời, không bao giờ chúng phải diệt vong”.

Nhưng như vậy không có nghĩa là hễ thuộc về Chúa thì sẽ được Ngài đảm bảo cho có một cuộc sống thoải mái ở đời này đâu. Trái lại là đàng khác. Những kẻ thuộc về Chúa có thể bị bách hại, nhưng ai vẫn trung thành thì sẽ được chia phần vinh quang của Ngài trên trời (bài đọc 2). Gian truân và thử thách là những thời cơ để ta chứng tỏ đức tin và lòng vâng phục Chúa.

Đàn chiên là hình ảnh của nếp sống cộng đoàn. Ngay cả trên bình diện nhân loại thôi thì ai cũng phải có cộng đoàn. Này là nguyên nhân vì sao Chúa muốn những kẻ theo Ngài phải sống trong cộng đoàn. Trong cộng đoàn, tất cả chúng ta tìm được sự nâng đỡ, khuyến khích và tình thân. Tất cả chúng ta không thể thuộc về Chúa Giêsu mà không thuộc về đoàn chiên của Ngài. (FM)

* 5. “Ta biết chiên của Ta”

Khoảng giữa thế kỷ 19, Thánh Gioan Bosco khởi đầu hoạt động phục vụ những người trẻ nghèo nàn ở tp Turinô nước Ý. Họ đã sớm nhận thấy ngài thực sự là một người bạn của họ. Họ yêu quý ngài đến nỗi khi ngài lâm trọng bệnh thì họ tha thiết nguyện cầu tưởng như muốn xé rách khung trời, có người còn xin Chúa cho mình chết thay ngài. Nhờ những lời nguyện cầu ấy, Thánh Gioan Boscô đã khoẻ lại. Tình cảm trìu mến ấy không thể có được nếu Gioan Bosco và đám trẻ ấy đã không thân thiện nhau, biết nhau và yêu thương nhau.

Trong bài Tin Mừng ngày hôm nay Chúa Giêsu nói “Ta biết chiên của Ta”. Ngài biết chiên Ngài bởi vì Ngài là mục tử tốt lành. Có nhiều mức độ biết: có khi chỉ là biết mặt, biết tên; có khi biết như một người quen; có khi biết như một người bạn tri kỷ thiết.

Không biết người ta là một điều rất buồn thảm. Nhà văn Do Thái Elia Wiesel rất thương cha mình, nhưng người cha ấy đã chết trong trại tù Auschwitz năm 1944. Trong quyển tự thuật, nhà văn ấy tâm sự: “Tôi chưa bao giờ thực sự biết cha tôi. Thực đau lòng mà phải thú nhận như vậy. Tôi đã biết quá ít về người mà tôi yêu quý nhất đời ấy, người mà chỉ cần nhìn tôi một cái cũng đủ làm cho lòng tôi xao xuyến. Không hiểu những người con khác có gặp phải vấn đề như tôi không. Họ có biết cha họ không phải chỉ là một con người có nét mặt uy quyền, buổi sáng đi làm và buổi chiều trở về mang bánh đặt lên bàn ăn không?”

E rằng những lời buồn thảm trên đây cũng là tiếng than của rất nhiều đứa con khác. Ngày nay con cháu không biết cha mẹ và cha mẹ không biết con cháu. Muốn biết thì phải mất nhiều thời giờ và nhiều nỗ lực, nhưng nó sẽ mang lại nhiều hoa trái. Nếu như không biết thì sẽ phải gánh chịu nhiều mất mát. Đời sống trôi qua rất nhanh khiến tất cả chúng ta ít biết nhau. Mà không biết nhau thì không thể yêu thương nhau được.

“Biết” là điều rất trọng yếu so với những người-chăm-sóc (carers). Những người-chăm-sóc cần biết kẻ mà mình chăm sóc. Bước đầu là biết tên. Nhưng muốn biết thật thì phải biết cả lịch sử cuộc sống họ. Nếu không biết họ đến với ta từ một toàn cầu như vậy nào và sẽ trở về một toàn cầu như vậy nào thì ta chỉ coi họ như một chiếc bóng mà thôi.

Nhưng cái “biết” phải có hai chiều. Chúa Giêsu biết chiên của Ngài và chiên của Ngài cũng biết Ngài. Chúa Giêsu không sợ để cho người ta biết mình. Còn tất cả chúng ta thỉnh thoảng lại sợ. Tất cả chúng ta không muốn người khác đi vào cuộc sống tất cả chúng ta, biết tất cả chúng ta nghĩ gì, cần gì, đang lo buồn về chuyện gì và đang kỳ vọng những gì. Có vẻ vì tất cả chúng ta sợ người ta biết mình rõ quá rồi sẽ từ chối mình. Từ đó tất cả chúng ta chỉ muốn người ta biết tất cả chúng ta qua cái vẻ ngoại hình mà tất cả chúng ta cố tỏ ra. Thế nhưng làm sao tất cả chúng ta có thể tạo được một tình cảm trìu mến với người khác nếu tất cả chúng ta cứ giữ một khoảng cách với họ và không cho họ biết rõ tất cả chúng ta?

So với Chúa cũng vậy. Ngài là mục tử tốt lành. Ngài muốn ban cho tất cả chúng ta sự sống đời này và cả đời sau nữa. Nhưng phải có tương quan hai chiều. Tất cả chúng ta phải đáp lại tình thương của Ngài bằng cách lắng nghe tiếng Ngài và đi theo Ngài. (FM)

* 6. Chuyện minh họa

Trong một cuộc họp, có hai người được mời đọc Thánh Vịnh 22 “Chúa là mục tử của tôi”.

Người thứ nhất là một diễn viên nhà nghề nhưng không có đức tin. Anh phát âm rất chuẩn, giọng rõ ràng, ngắt câu vừa ý. Nghe anh đọc xong ai cũng vỗ tay.

Người thứ hai là một tín hữu xác tín về đức tin. Anh phát âm không chuẩn lắm, anh còn đọc hơi nhanh nữa. Nhưng giọng anh rất tình cảm. Ai nghe anh đọc cũng đều xúc động.

Khi hai người đọc xong, người diễn viên đến bắt tay người tín hữu và khen: “Xin chúc mừng. Anh đã đọc rất hay”. Người tín hữu đáp: “Không, anh mới là người đọc hay, còn tôi thì tệ quá.”

Người diễn viên phân tích: “Chắc chắn là anh đọc hay hơn tôi mà. Một điều rất hiển nhiên là: Tôi thì biết Thánh Vịnh 22, còn anh thì biết Người Mục Tử.”

Tất cả chúng ta hãy để ý: Tác giả Thánh vịnh 22 không nói “Chúa là một mục tử”, cũng không nói “Chúa là vị Mục tử”, nhưng nói “Chúa là Mục Tử của tôi”. Người tín hữu kia đã đọc Thánh vịnh 22 bằng cảm nghiệm sống của mình, do vậy anh đã làm cho người khác xúc động.

* 7. Ơn gọi yêu thương

Vết thương sâu nhất là vết thương lòng:

này là cảm nghĩ rằng mình không được yêu,

rằng mình chẳng quý hiếm gì so với ai cả.

Ngày nay nhiều người bị thương trong lòng.

Mỗi người tất cả chúng ta đều có thể chữa lành vết thương cho họ.

Tất cả chúng ta có tay để làm có trí để hiểu

và nhất là có tim để yêu thương.

Chúa nhật ngày hôm nay cũng là ngày ơn gọi.

Mà mọi ơn gọi đều là ơn gọi yêu thương (FM)

LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI

Chủ tế: Anh chị em thân mến, Chúa Giêsu đã sống lại vinh hiển và lên trời ngự bên hữu Chúa Cha. Tất cả chúng ta cùng chúc tụng Người và dâng lời cầu xin:

  1. Chúa đã đón nhận niềm tin yêu của thánh Phêrô / và trao cho người nhiệm vụ dẫn dắt đoàn chiên Chúa / Tất cả chúng ta hiệp lời cầu xin cho Đức Thánh Cha đương kim / cũng được niềm tin yêu như vậy.

  2. Chúa Giêsu là Vị Mục tử nhân hậu / đã chết để cho đoàn chiên được sống dồi dào / Tất cả chúng ta hiệp lời cầu xin cho các vị mục tử của tất cả chúng ta / cũng sẵn lòng hy sinh toàn bộ cho đoàn chiên Chúa đã trao ban.

  3. Ngày hôm nay là ngày nguyện cầu cho ơn gọi linh mục và tu sĩ / Tất cả chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa / ban cho Giáo hội Việt nam có được nhiều ơn gọi linh mục và tu sĩ / để đoàn chiên Chúa không lúc nào thiếu người chăm sóc dưỡng nuôi.

  4. Việc huấn luyện linh mục tương lai cho các giáo phận / đòi hỏi phải đầu tư lâu dài và tốn kém / Tất cả chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ tất cả chúng ta / biết hết lòng hợp tác vào công việc cao quý này / bằng lời nguyện cầu và bằng việc quảng đại trợ giúp Chủng Viện.

Chủ tế: Lạy Chúa Giêsu, vì yêu thương, Chúa đã chết để cho chúng con được sống và sống dồi dào. Xin cho chúng con cũng biết đền đáp phần nào tình thương của Chúa bằng chính đời sống nhân ái yêu thương của chúng con. Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.

TRONG THÁNH LỄ

– Kinh tiền tụng: nên dùng Kinh tiền tụng phục sinh số 2, vì có nói tới cuộc sống mới.

– Trước kinh Lạy Cha: Hiện giờ tất cả chúng ta rất giống với một đoàn chiên đang quy tụ quanh chủ chiên là Chúa Giêsu bên bàn tiệc Thánh thể. Tất cả chúng ta hãy vừa ý với Ngài dâng lên Thiên Chúa là Cha những tâm tình con thảo của tất cả chúng ta.

GIẢI TÁN

Anh chị em đã biết Chúa Giêsu là mục tử dẫn dắt đời mình, cho dù có khi xem ra Ngài đang dẫn tất cả chúng ta qua thung lũng tối tăm, nhưng điếm tới cuối cùng sẽ là đồng cỏ xanh tươi, suối ngọt và bóng mát. Vậy anh chị em hãy ra về trong niềm vui mừng phó thác trọn vẹn cho Chúa Giêsu dẫn dắt.

 CHÚA NHẬT IV PHỤC SINH- NĂM ¢

VỊ MỤC TỬ NHÂN LÀNH- Lm. Giuse Đinh Lập Liễm

< / span> < span name = "_ Toc505856989"> HỘI NHẬP

Chúa nhật thứ tư mùa Phục sinh của ba chu niên vụ được mệnh danh là Chúa nhật Chúa Chiên Lành. Văn nghệ giáo dục thuở xưa thường lành tính từ thiện như Chăn Chiên Lành. Hình ảnh người chiên rán được mô tả trong Cựu ước về Thiên Chúa như là thần dân (Tv 22). Người thượng cổ là dân du mục, vì vậy văn chương của họ là những sách Cựu ước cũng thường đề cập đến đời sống nuôi dưỡng, du mục. Chính Đức cũng sử dụng những hình ảnh về nuôi dưỡng thân thuộc để dạy tất cả chúng ta những đạo lý thoát khỏi đạo giáo.

Trong bài Tin mừng ngày hôm nay, Đức xưng mình là Chủ. Có đàn chiên để bảo vệ người khác. Đàn chiên có những đặc tính như được tuyên bố: ”Chiên Tôi thì nghe tiếng Tôi, Tôi biết họ và họ theo Tôi” (Ga 10,27). Đàn chiên có những người khác đặc biệt với đàn chiên của các nhà tôn giáo Do thái thời gian lãnh đạo. Những người biết chuyện nhất là: biết nghe chủ nhân, nhận thấy chủ và bước theo chủ nuôi.

Đức Chí Tôn, Chiên Lành, không trực tiếp điều khiển đoàn chiên dưới toàn cầu, sử dụng các đại diện trong Giáo hội là Đức Giáo hoàng, các giám đốc và các linh mục hướng dẫn cho anh. Chính ban định hướng với đồ tông: ”Ai nghe các con là nghe Thầy, ai khước từ các con là thầy dạy” (Lc 10,16). Vì vậy, nếu tất cả chúng ta gọi các vị lãnh đạo trong Giáo hội là chủ quản, tất cả chúng ta có trách nhiệm phải yêu mến, thật tâm lắng nghe sự hướng dẫn của các vị để đến với Chúa, và nhờ đó, sẽ được hướng dẫn. to life life.

TÌM HIỂU TRỜI CHÚA

+ Bài đọc 1: Cv 13,14.43-52.

Một khúc quanh quyết định đời Tông đồ thánh. Trước tiên và Barnabê loan báo Tin mừng cho người làm thái tại Antiochia miền Pysidia, but you must be early terminating the rao giảng vì người làm thái độ ra “ghen tức” khi thấy một số đông dân ngoại cũng quan tâm đến Tin mừng (Cv 13,45).

Hai vị trí Tông đồ quyết định rời hội nghị và quyết định với dân ngoại, không quên nói lại lời tiên tri về sứ mệnh toàn thế giới của Người Tôi Thống khổ (Cv 13,47)

Do vậy, dân ngoại vui mừng đón nhận Tin mừng và tôn vinh Thiên Chúa. Chúa được lan tỏa khắp miền ấy.

+ Bài đọc 2: Kh 7,9.14b-17.

Trong một cuộc kiến ​​trúc, thánh Gioan tông đồ đã thấy một đoàn người thật đông đảo. Họ là dân Thiên Chúa khải hoàn. This is an group group:

– Họ rất đông không có tài khoản nào đếm nổi, thuộc mọi dân tộc và mọi từ ngữ.

– Họ đứng trước ngai Con Chiên, cứu độ muôn dân qua chết chóc của Ngài.

– Con Chiên sẽ dẫn chúng tới các trường nước nguồn.

+ Bài Tin mừng: Ga 10, 27-30.

Đức tự giới thiệu mình là một mục tử, một vị tử tuyệt vời. Ngài biết rõ từng người tất cả chúng ta, Ngài bảo vệ và sẽ mang tất cả chúng ta đến với cuộc sống. Vấn đề là: tất cả chúng ta có tin tưởng bước theo mình không?

THỰC HÀNH LỜI CHÚA

Step in the element item

ĐỨC GIÊSU LÀ MỤC TỬ.

* 1.Cục diện.

Bài Tin mừng ngày hôm nay rất ngắn, được trích ra từ cuộc tranh luận với người Do thái trong dịp Lễ Lều, nhân dịp kỷ niệm ngày thanh  tẩy Đền thờ thời Maccabêô.

Đức Giêsu đang ở Giêrusalem trong dịp lễ này. Tại đây xẩy ra cuộc tranh luận với người Do thái về vấn đề Người có phải là Đấng Thiên Sai không, và cuối cùng Người đã xưng mình là Con Thiên Chúa bằng cách tuyên bố rằng : Cha Người ở trong Người và Người ở trong Cha trong sự hiệp thông trọn vẹn đồi sống và việc làm (Lc 10,22-41).

Bài Tin mừng ngày hôm nay là một phần trích trong cuộc tranh luận và ghi lại lời Đức Giêsu quyết đoán Người đồng bản tính với Chúa Cha.

Trước khi trả lời dứt khoát Người đồng bản tính với Chúa Cha, Đức Giêsu tuyên bố  sự khác biệt nhau giữa người Do thái và “chiên của Người”, tức là những kẻ tin theo Người.

So với người Do thái, những lời Người nói và những việc Người làm là các phép lạ, không đủ thuyết phục họ, vì xét cho cùng họ có dã tâm và không muốn tin. Trái lại, chiên của Người là những người  biết ngoan ngoãn đón nhận,  vì họ không cần đến nhiều dấu lạ bên ngoài để làm điều kiện cho việc đi theo Người.

Như vậy, Đức Giêsu nhất định Người là Mục tử và Người có đàn chiên để chăn dắt và Người mang họ đến cuộc sống đời đời mà không ai có thể cướp khỏi tay Người được.

*2.Hình ảnh người chăn chiên trong Cựu ước.

Hình ảnh người chăn chiên  không chỉ là một hình ảnh đẹp ở vùng thôn quê mà nó còn tồn tại ở trong Thánh Kinh.  Trong khắp vùng Đông phương cổ, các vua chúa thường tự coi mình như mục tử chăn dắt dân nước. Chính Giavê cũng đóng vai trò đó khi giải thoát dân riêng khỏi Ai cập :”Người lùa dân Người đi ví thể đàn chiên, Người dẫn dắt chúng như đàn cừu ngang qua sa mạc” (Tv 78,52).

Đavít, một trong những nhà lãnh đạo chính trị trước nhất của Israel, là một cậu chăn chiên tại Belem (1S 17,34-35). Ôâng Vua lý tưởng của tương lai, Đức Messia, Đavít mới, cũng được loan báo như một “Mục tử” : “Ta sẽ chỗi dậy một mục tử duy nhất, Người sẽ chăn dắt chúng. Đó là Đavít, tôi tớ của Ta” (Ed 34,23).

Chăn nuôi súc vật từng lũ là nghề chính của dân Do thái. Các tổ phụ vĩ đại của họ từ Abraham, Isaác, Giacob, Maisen, Đavít… đều là mục tử.

Do đó, người Do thái đã diễn tả về Thiên Chúa như là một mục tử nhân hậu, luôn hết tình yêu thương đàn chiên (Tv 22; Gr 31,10; Ed 24,11-16). Và Đức Giêsu đã tự mạc khải như là một Mục tử tuyệt với (Ga 10,11-14).  Rồi đi xa hơn nữa, Người đã lũ tỏ cho nhân loại biết chính Người là Thiên Chúa (Ga 10,27-30).

NHỮNG ĐẶC TÍNH CỦA MỤC TỬ.

Những đặc tính của vị Mục tử được tóm gọn trong câu nói của Đức Giêsu :”Chiên Tôi thì nghe tiếng Tôi, Tôi biết chúng và chúng theo Tôi”(Ga 10,27).  Ở đây, ba động từ được Đức Giêsu nói lên, là những động từ thúc đẩy rất phù phù hợp với loài người : nghe, biết và theo.

Chiên nghe tiếng người chủ chăn.

Ngày nay, tại Palestine, cũng còn tồn tại thể nhìn thấy được cảnh chăn chiên mà Chúa Giêsu đã từng nhìn thấy 2000 năm qua.  Cảnh những người mục tử Bedouin mang những đàn chiên của họ trở về nhà từ những cánh đồng cỏ khác nhau sau một ngày đi ăn cỏ.  Thường vào lúc hoàng hôn, các đàn chiên khác nhau cùng kéo về qui tụ ở một chỗ uống nước. Chúng trà trộn lẫn lộn với nhau tù 8 hay 9 đàn nhỏ trở thành một lũ chiên lớn. Mặc dù lẫn lộn chung với nhau nhưng những chủ chăn không hề lo sợ chiên bị lạc. Đến giờ ra về, mỗi chủ chiên thổi lên một tiếng gọi tách biệt – một tiếng còi, tiếng tiêu, tiếng sáo, hay tù và – thì những con chiên trong đàn sẽ tự động rời khỏi đông người theo đàn của mình mà về chuồng.  Chúng tự biết chúng thuộc về đàn nào, chúng nghe tiếng gọi của người chủ chăn và đi theo. “Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi, tôi biết chúng và chúng theo tôi”(Ga 10,27) (Nguyễn văn Thái, Sống Lời Chúa giữa dòng đời, tr 171).

Nghe Chúa chính là lắng nghe Lời Chúa qua Kinh Thánh, nơi giáo huấn của Giáo hội, và những ơn soi sáng nơi tâm hồn mình. Nghe Chúa chính là  để có một mối tương giao thân tình với Người, và nhất là để tin vào Người.  Thánh Phaolô viết :”Có đức tin là nhờ nghe giảng, mà nghe giảng là nghe thông báo lời Đức Kitô” (Rm 10,17) hay “Đức tin nhờ nghe : Fides ex auditu (Ga 3,2).

*2.Chiên và chủ chiên biết nhau.

Chiên rất thân thiện với chủ chăn. Khi đàn chiên đang nằm ngủ êm đềm, người chủ chiên có thể bước đi ngay giữa đàn chiên mà không quấy rối loạn hay gây mất ngủ cho con nào cả. Trong lúc đó chỉ một bước chân của người lạ mặt xâm nhập vào chuồng chiên  đang lúc chiên nằm ngủ cũng đủ gây kinh hoàng và hoảng loạn cho cả đàn chiên. Hình như chiên đã coi người chủ chăn như một thành phần rất thân thuộc của chúng. Và sự liên hệ mật thiết phát triển dần dần đến độ chủ chăn có thể phân biệt và hiểu tiếng kêu của từng con chiên, tiếng kêu đau thương hay tiếng kêu hoan lạc. Chiên nghe lệnh của người chủ chăn để biết khi nào đi kiếm ăn hay lúc nào lên đường trở về nhà.  Ngoài ra, người chủ chăn còn biết cả tên gọi và đặc tính của từng con chiên nữa.

“Biết” trong Kinh Thánh, từ  ngữ này trước hết không mang một ý nghĩa tri thức. Chính tình yêu mới làm cho ta nhận thấy người nào đó một cách đích thực, đến nỗi đoán được cả tâm tính họ. Sự thân mật, sự hiểu biết lẫn nhau, yêu mến sâu xa, hiệp thông tâm hồn, trí não, thể xác… là dấu chỉ của tình yêu vợ chồng (St 4,1).

Biết Chúa không chỉ là học hỏi và suy niệm theo nghĩa tri thức, mà là hiểu biết sâu xa, yêu thân tình đến nỗi phối hợp cả thân xác lẫn tâm hồn. Chính tình yêu mới làm cho tất cả chúng ta nhận thấy Chúa một cách đích thực, đến nỗi đoán biết cả thánh ý Người.

Sự biết chí tình chí thiết này thực sự đã được trổ tài với hai thánh nữ Catarina và Têrêsa Hài đồng Giêsu. Catarina là người mù chữ chỉ học nơi Thánh tâm Chúa Giêsu và trở thành tiến sĩ Hội thánh. Têrêsa cũng chẳng học trường nào, chỉ học nơi tình yêu Chúa Giêsu Hài đồng, đã được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II phong làm tiến sĩ Hội thánh tháng 08/1997 trong đại hội thanh niên tại Paris.

*3.Chiên thì theo chủ chăn.

Những người chăn bò thường đi sau đàn bò dùng roi quất lên mình bò để lùa chúng đi thành đàn với nhau. So với chiên thì hoàn toàn khác hoàn toàn. Người mục tử luôn đi trước để hướng dẫn đàn chiên theo sau. Nếu người chăn chiên đi đàng sau đàn chiên giống như chăn bò, chiên sẽ chạy tán loạn vì không biết đường đi. Chúng muốân được hướng dẫn, được bảo vệ và chở che.

“Theo” này là một hành động không có gì là thụ động cả, nhưng diễn tả một thái độ tự do : đính kết toàn thân một người nào đó vào thân phận một kẻ khác.  Theo nghĩa là gắn bó với  Đức Giêsu mời gọi :”Hãy theo Ta”(Ga 1,42).

Đi đâu cho thiếp đi cùng,

Đói no thiếp chịu, lạnh lùng tiếp cam.

Theo Chúa chính là một thái độ hoàn toàn tự do, tự nguyện dấn thân, và trao phó thân phận cho duy một mình Người. Theo Chúa cũng là từ bỏ như Phêrô bỏ chài lưới, vợ con, cha mẹ và mọi sự để theo Thầy; như Matthêu bỏ địa vị, tiền của để theo Chúa; như Mađalena bỏ đường tội lỗi bước vào đời sống mới.  Này là đổi đời, từ bỏ nếp sống cũ, một cuộc tái sinh vào đời sống mới.

TÂM TÌNH VỊ CHỦ CHĂN.

*1.Tận hiến cho đoàn chiên.

Người chủ chăn rất tha thiết với đàn chiên, họ coi đàn chiên như một phần trong thân thể mình. Họ không yên tâm khi một con chiên đi lạc. Họ không đành lòng bỏ con chiên bị thương mà không băng bó. Họ đã sẵn sàng vác cho chiên trên vai khi không đi được hoặc khi bị đi lạc.

Khi kẻ làm thuê trông coi con chiên, thì lũ cho sói không gặp rắc rối nào trong việc rình bắt đàn chiên. Ngay khi kẻ làm thuê nhìn thấy một con chó sói đang tiến lại gần, thì hắn ta liền bỏ rơi đàn chiên. Hắn chỉ nghĩ đến một điều duy nhất là cứu thoát bản thân mình mà thôi. Người chủ tốt của đàn chiên không làm như vậy. Họ bảo vệ đàn chiên  chống lại sự tấn công của chó sói, thậm chí họ còn sẵn sàng liều mất mạng sống của mình nữa.

Đức Giêsu, Chúa chiên nhân lành, Đấng đã hiến mạng sống mình cho đoàn chiên.  Mạng sống của Người không bị lấy đi, cũng không phải theo lệnh Chúa Cha. Chính Người đã tự ý trao ban, và trao ban một cách vui lòng. Người tự hiến cho đoàn chiên để mang chúng về đồng cỏ của sự sống đời đời.  Hình ảnh cha thánh Đamien, tông đồ người hủi, đã nói lên tình thần tận hiến cho đàn chiên, những loài người phong cùi xấu số bị bỏ rơi.

*2.Chiến tranh bảo vệ đàn chiên.

Người mục tử Đông phương là một người du mục đáng gờm, một thứ lính chiến, có khả năng bảo vệ đàn vật mình khỏi thú dữ… gấu hay sư tử đến để cướp đoạt một con chiên khỏi đàn (1S 17,34-35).

Đavít kể lại cho vua Saulê trước khi giết được tướng Goliat của quân Philitinh :”Hồi tôi tớ  đại vương chăân chiên cho thân phụ, hễ sư tử hay gấu đực tha con chiên nào, tôi liền rượt bắt, đánh nó và cướp con chiên khỏi miệng nó. Nếu nó cự lại, tôi liền nắm lấy râu đánh và giết nó tức khắc. Tôi tớ đại vương đã giết sư tử cũng như gấu đực thì cũng sẽ thanh toán tên Philitinh không cắt bì này như vậy vì nó đã dám nhục mạ đạo quân của Thiên Chúa hằng sống”( 1Sm 17tt).

Đavít đã nêu gương hy sinh, vật nhau với sư tử, với gấu đực, để cướp lại một con chiên bị lấy đi. Đavít vì tha thiết với lũ chiên, nên không ngần ngại đánh nhau với sư tử và gấu đen để cướp lại chiên.  Đức Giêsu khi nói :”Không ai cướp được chúng” đã nghĩ đến cuộc giao chiến kịch liệt mà Người phải đương đầu trong cuộc khổ nạn,  để đối phương “không cướp được” một chiên nào khỏi tay Người.  Khác với kẻ chăn thuê, thường chạy trốn trước sói sữ, Đức Giêsu sẽ phó nộp và đành mất mang sống mình vì chiên của Người (Ga 10,12-15).

*3.Không bỏ rơi đàn chiên.

Người chăn chiên rất tha thiết với đàn chiên, lo ngại cho đàn chiên hết mình, không lúc nào để một con chiên nào bị bỏ rơi. Dụ ngôn con chiên lạc đã chứng tỏ điều đó :”Người nào trong các ông có một trăm con chiên mà bị mất một con, lại không để chín mươi chíùn con kia ngoài đồng, để đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất”(Lc 15,4-7).

Xoay quang tất cả chúng ta hay ngay trong đời sống tất cả chúng ta có những hiện tượng rời bỏ hàng ngũ, bất trung thường xẩy ra, thì tất cả chúng ta nghĩ thế nào ? Thưa này là những hiện tượng tự nhiên vì này là mầu nhiệm của tự do. Nhưng một điều tất cả chúng ta cần biết này là không khi nào Chúa ruồng bỏ ! Chỉ có loài người rời bỏ bàn tay Chua. Và ngay khi loài người rời bỏ, Thiên Chúa vẫn tiếp tục tìm liên hệ lại : dụ ngôn đứa con hoang đàng đã chứng tỏ điều đó (Ҳ. Lc 15).

*4.Ban cho chiên sự sống đời đời.

Con chiên đi theo chủ chăn thì sẽ được kéo theo đồng cỏ xanh tươi đảm bảo sự sống. Cũng vậy, nhưng ai thực sự đi theo Chúa, tức là để Chúa dẫn dắt, thì sẽ được đảm bảo mang đến sự sống đời đời.

Sự sống này, một đàng không thể mất được, vì đã được chính Chúa Giêsu là Đường, là Sự Thật và là Sựï Sống đảm bảo. Đàng khác, cũng không bị ai cướp đi được, vì một khi đã được Chúa dẫn dắt thì không còn sợ vấn đề Người không đủ khả năng chăm sóc và bảo vệ sự sống của đàn chiên nữa.

Trong một bài giảng, thánh Cyrillô thành Alexandria đã giải nghĩa câu “Ta ban cho chúng sự sống đời đời” như sau :”Đừng hiểu sự sống này chỉ là chuỗi ngày tiếp nối nhau mà tất cả chúng ta dù là người tốt hay xấu cũng đều sở hữu sau thời điểm sống lại, nhưng phải hiểu đây là sống trong niềm vui. Ta cũng có thể hiểu “sự sống” này theo nghĩa bí tích Thánh Thể. Nhờ Bí tích Thánh Thể, Đức Kitô tháp nhập tất cả chúng ta vào chính sự sống của Người, các tín hữu được thông phần vào đúng đắn thịt Người, như lời Người phán :”Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì sẽ có sự sống đời đời”(Ga 6,54).

NHIỆM VỤ CỦA ĐOÀN CHIÊN

Chúa Giêsu không thể trực tiếp hướng dẫn mọi Kitô hữu, nhưng Người đã dùng các vị đại diên là hàng giáo phẩm và giáo sĩ để thay quyền Chúa mà hướng dẫn. Vì Chúa đã nói với các tông đồ :”Ai nghe các con là nghe Ta”(Lc 10,16).

Tất cả chúng ta hãy đọc một đoạn mà công đồng Vatican II nói về các Linh mục :”Thi hành chức vụ của Chúa Kitô là Đầu và là Chủ chăn theo phận vụ mình, các Linh mục nhân danh Giám mục tụ họp gia đình Thiên Chua ùnhư một cộng đoàn huynh đệ duy nhất, và nhờ Chúa Kitô trong Chúa Thánh Thần các ngài dẫn mang họ đến cùng Chúa Cha. Để thi hành thừa tác vụ này cũng như các thừa tác vụ khác, các Linh mục được trao ban quyền thiêng liêng để kiến thiết Giáo hội.  Trong việc kiến thiết này, các Linh mục phải theo gương Chúa Kitô mà đối xử rất nhân đạo với hết mọi người…(Sắc lệnh về Linh mục, số 4)

Tất cả chúng ta thường gọi những người lãnh đạo trong Giáo hội là mục tử hay chủ chăn. Tất cả chúng ta đang sống dưới sự hướng dẫn của các ngài, tất cả chúng ta hãy tin tưởng các ngài, vì đức tin bảo cho tất cả chúng ta biết : Chính Chúa Giêsu, Mục tử tốt lành đích thực, đang trực tiếp chăn dắt tất cả chúng ta  qua những người lãnh đạo trong Giáo hội, là Đức Giáo hoàng, các Giám mục, Linh mục.  Vì vậy, tất cả chúng ta có bổn phận nghe theo sự hướng dẫn của các ngài, công tác với các ngài, tùy vào hoàn cảnh và điều kiện của tất cả chúng ta, để duy trì và xây dựng đoàn chiên nhỏ xíu là gia đình mình, tập thể mình đang sống, đang làm việc và đoàn chiên rộng to hơn là Giáo hội.

Một lần nữa tất cả chúng ta hãy lặp lại lời Chúa Giêsu đã nói với các tông đồ :”Ai nghe các con là nghe Thầy, ai khước từ các con là khước từ Thầy”(Lc 10,16). Qua câu Kinh Thánh này, tất cả chúng ta có thể nhất định rằng vâng nghe các vị lãnh đạo trong Giáo hội là vâng nghe Chúa, và như vậy, đây là một nhiệm vụ không tthể thiếu được, vì như người ta nói :

Cá không ăn muối cá ươn,

Con cãi cha mẹ trăm đường con hư.(Ca dao)        

                     

CHÚA NHẬT IV PHỤC SINH- NĂM ¢

< / span> < span name = "_ Toc534230203"> < / span> CHÚA CHIÊN LÀNH– ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt

< span name = "_ Toc511219209"> < / span> Hình ảnh chiên rán đơn giản trao tặng vì người ta cho chiên biết làm gì hơn là ngoan ngoãn. Nhưng con chiên trong bài Tin Mừng ta vừa nghe hoàn toàn không có cách thụ động như vậy. Left must be active, server. Tích cực hoạt động của đoàn chiên được mô tả bằng những từ “nghe” và “theo”: “Con chiên Ta thì nghe tiếng Ta, Ta biết và chúng ta theo Ta”.

Nghệ. Chúa chính là Lời của Thiên Chúa, nên ta phải nghe Người. Nhưng nghe được Lời của Thiên Chúa không phải là dễ.

Không đơn giản, vì Thiên Chúa nhẹ nhõm như lời thì thầm của mây gió, sâu thẳm như tiếng nói của đáy đại dương, lặng im và bí hiểm như tiếng nói of α bàn tay. Trong lúc đó lời của trần gian, ma quỷ lại ào ào như một ngày hội, gào thét như cuồng phong và nổi loạn như chiến tranh.

Không thể đơn giản hơn được, vì Thiên Chúa mời gọi người ta vào đoạn đường ngăn cản từ bỏ mình, dẫn ta lên một ngọn đồi gai của thập giá hy sinh và máy chủ thức thức đến hy sinh cả mạng. Trong lúc đó lời khai của trần gian, ma quỷ mở ra đại lộ thênh thang của danh vọng, ta tìm thấy mình trong đại dương thụ và ban tặng cho ta toàn bộ vinh hoa phú quý trên đời.

Vì vậy, để nghe được Lời Chúa, ta phải có một đôi tai thật nhạy cảm, được hướng dẫn bởi trí tỉnh táo và một trái tim yêu mến nồng cháy bực tức. Văn nghệ Chúa với một cơ chế như vậy sẽ dẫn tất cả chúng ta đến chỗ theo Chúa.

Theo. Theo ai là quyến luyến, gắn bó và ràng buộc đời mình vào đời người đó. Như vậy theo ai là từ bỏ chính mình, cuộc sống mình để chia sẻ cuộc sống với người khác.

Theo tâm lý học, trong tình yêu có ba mức độ. Mức độ thứ nhất: Thích nhìn, nghe người mình yêu. Mức độ thứ hai: Trong mọi chương trình, tính toán của đời mình đều có bóng hình của người yêu. Mức độ cuối cùng: Chia sẻ toàn bộ những gì mình có, kể cả cuộc sống vì người yêu.

Như vậy, theo tức là yêu thương ở cao độ. Con chiên đi theo Chúa như vậy phải hoàn toàn chủ động và nhất là thiết lập một quan hệ mật thiết với Chúa là Chủ đoàn chiên. Hành động của Chúa chiên tốt lành được Chúa Giêsu tóm gọn trong hai động từ: “biết” và “cho”.

Biết. Người chăn chiên tốt lành biết rõ từng con chiên. Ông biết tên từng con. Ông biết tình trạng sức khoẻ cũng như nhu cầu của từng con chiên. Tương tự như vậy, Chúa Giêsu biết rõ mỗi người tất cả chúng ta. Người không chỉ biết mà còn thông cảm với mọi hoàn cảnh của ta. Ta buồn vì bị người yêu phụ bạc ư? Người cũng từng biết thế nào là nỗi đau của người bị phản bội. Ta cay đắng với kiếp nghèo đeo đẳng ư? Chúa Giêsu cũng từng sinh ra không nhà, sống ngoài đường và chết trần truồng trên thập giá. Ta vô vọng vì cuộc sống không lối thoát ư? Chúa Giêsu đã trải qua những giờ phút đen tối trong vườn Giếtsimani và trên thập giá. Ta độc thân vì bị mọi người xa lánh ư? Chúa Giêsu cũng từng bị mọi người chối bỏ, và Người cảm thấy như Đức Chúa Cha cũng từ bỏ Người. Ta bị sỉ nhục mất hết uy tín ư? Chúa Giêsu đã bị nhục nhã và mất hết uy tín khi phải chết như kẻ tội đồ nô lệ.

Chúa Giêsu là người chăn chiên tốt lành, hiểu biết mọi ngõ ngách u ẩn trong đáy lòng người, nên có thể chăm sóc an ủi từng người tất cả chúng ta.

Cho. Chúa Giêsu là mục tử tốt lành vì đã tặng ban cho toàn bộ đoàn chiên món quà quý hiếm nhất là sự sống đời đời, sự sống của Ba Ngôi Thiên Chúa, sự sống của chính bản thân Ngài. Sống sự sống của Thiên Chúa rồi, đoàn chiên sẽ kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa. Không ai cướp được đoàn chiên khỏi tay Người, vì Người dùng chính mạng sống mình mà bảo vệ. Người ràng buộc đời mình vào sinh mạng của đoàn chiên. Từ nay đoàn chiên và chủ chiên trở thành một cộng đồng sinh mệnh, sống chết có nhau, kết phù hợp với nhau trong một tình yêu thương không có gì có thể tách lìa được.

Tất cả chúng ta đang sống trong một thời kì đầy thay đổi. Cuộc sống đang mở ra những chân trời mới đầy quyến rũ nhưng cũng đầy nguy hiểm cho đời sống tâm linh tất cả chúng ta. Những giá trị bị xáo trộn. Những con chiên đang bị thu hút rời xa đoàn chiên. Nhu cầu cuộc sống xô đẩy tất cả chúng ta ra khỏi cộng đoàn khiến nhiều người trở thành những con chiên trơ trọi không người chăn dắt. Trong một hoàn cảnh mới mẻ như vậy, tất cả chúng ta rất cần phải có những vị mục tử thực sự hiểu rõ nhu cầu của đoàn chiên và thực sự hiến mình phục vụ đoàn chiên. Tất cả chúng ta hãy nguyện cầu cho có nhiều người trẻ biết đáp lời Chúa mời gọi, hiến mình cho Chúa để phục vụ anh chị em trong nhiệm vụ mục tử. Tất cả chúng ta nguyện cầu cho các linh mục của tất cả chúng ta trở thành những mục tử tốt lành noi guơn Vị Mục Tử duy nhất là Chúa Giêsu Kitô, Chúa tất cả chúng ta.

Lạy Chúa là là Mục Tử chăn giữ đời con, xin cho con biết lắng nghe tiếng Chúa và bước theo Chúa. Amen.

KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG

  1. Đã lúc nào bạn nghe được tiếng Chúa nói trong sâu thẳm tâm hồn bạn chưa?
  2. Có lần nào bạn cảm nghiệm được sự ngọt ngào được sống thân mật với Chúa chưa?
  3. Bạn cũng là Mục Tử của gia đình bạn, xóm bạn ở, sở nơi bạn làm việc. Bạn có là Mục Tử tốt lành không?

CHÚA NHẬT IV PHỤC SINH- NĂM ¢

NGƯỜI MỤC TỬ (*) – Lm. Giuse Đinh Tất Quý

< span name = "_ Toc508826879"> < / span> “ Người bảo ông: “Hãy theo Thầy” (Ga 21,19).

Bài Tin Mừng ngày hôm nay rất ngắn gọn, chỉ bao gồm 3 câu, thế nhưng chỉ với ba câu mà tất cả chúng ta thấy Chúa cũng đủ để vẽ nên một bức chân dung thật sống động về mối quan hệ giữa Chúa và những người tin vào Người. Chúa tự coi mình như một mục tử và những kẻ tin tưởng vào Người như những con chiên cùng sống trong Chúa chiên.

Người muốn nói mục tử trong bài Tin Mừng ngày hôm nay là người như vậy nào?

Chúa cũng chỉ sử dụng có hai từ: biết và cho và cũng chỉ với hai từ đó Chúa đã cho tất cả chúng ta thấy chân dung một người tốt là người như vậy nào.

* Tôi biết chiên của tôi.

Người chăm sóc tốt lành biết từng chiên một. Ông biết tên từng con. Ông biết tình trạng sức khỏe cũng như cầu của từng con chiên. Tương tự như vậy, Chúa biết rõ từng người tất cả chúng ta. Không biết người chỉ mà thông cảm với mọi hoàn cảnh của ta.

Ta buồn vì bị người yêu phụ bạc? Người cũng biết thế nào là nỗi đau của người bị phản bội.

Ta cay đắng với kiếp đẳng cấp? Chúa cũng sinh ra không nhà, sống ngoài đường và chết trần truồng trên thập giá.

Ta vô vọng vì cuộc sống không lối thoát? Chúa được trải qua những giờ phút đen tối trong vườn Giết-si-ma-ni và trên thánh giá.

Ta độc thân vì mọi người ở xa lấp lánh? Chúa cũng được mọi người bỏ qua và Người cảm thấy như Đức Chúa Cha cũng từ bỏ Người.

Ta bị sỉ nhục mất hết uy tín? Chúa bị tẩy rửa và mất hết uy tín khi phải chết như kẻ tội đồ.

Chúa là người dạy dỗ tốt lành, hiểu biết mọi ngõ ngách trong lòng người, nên có thể thiết kế an toàn cho mỗi người tất cả chúng ta.

* Tôi cho họ được sống vĩnh viễn.

Chúa là món tốt lành vì đã ban tặng cho toàn bộ đoàn chiên món quà giá trị nhất là sự sống đời đời, sự sống của Ba Ngôi Thiên Chúa, sự sống của người chính. Sống sót của Thiên Chúa rồi, đoàn chiên sẽ kết hiệp với Thiên Chúa. Không ai được cướp đạo từ tay Người, vì Người dùng chính mạng sống của mình mà được bảo vệ. Hệ thống mạng của người dùng vào mạng của đoàn chiên. Từ nay đoàn chiên và chủ trở thành một cộng đồng sinh mệnh, sống chết có nhau, kết phù hợp với nhau trong một tình yêu thương không có gì có thể tách rời được.

Này là chân dung người mục tử theo ý của Chúa.

Còn đâu là hình ảnh con chiên trong ràn của Chúa là hình ảnh như vậy nào?.

Chúa cũng chỉ sử dụng có hai từ để diễn tả: “nghe” và “theo”

* Trước hết “Chiên cuả tôi nghe tiếng Tôi.”

 Chúa Giêsu chính là Lời của Thiên Chúa, nên ta phải nghe Người.

Nhưng nghe được Lời của Thiên Chúa không phải dễ.

Không dễ, vì Lời Thiên Chúa nhẹ nhõm như lời thì thầm của mây gió, sâu thẳm như tiếng nói của đáy đại dương, lặng im và bí hiểm như một hơi thở. Trong lúc đó lời của trần gian, của ma quỉ lại ồn ào như một ngày hội, gào thét như cuồng phong và điên loạn như chiến tranh.

Không dễ, vì Lời Thiên Chúa mời gọi người ta vào đoạn đường chật hẹp của sự từ bỏ chính mình, dẫn ta lên ngọn đồi sần sùi của thập giá hi sinh và thách thức ta phục vụ đến hi sinh cả mạng sống. Trong lúc đó lời của trần gian, của ma quỉ mở ra đại lộ thênh thang của danh vọng, dẫn ta đến chỗ dìm mình trong đại dương thưởng thức và hứa ban tặng cho ta toàn bộ vinh hoa phú quí trên đời.

Vì vậy, để nghe được Lời Chúa, ta phải có một đôi tai thật thính, thật bén nhạy, được hướng dẫn bởi trí phán đoán tỉnh táo và một trái tim yêu mến nồng nàn. Nghe Lời Chúa với một thái độ như vậy sẽ dẫn ta đến chỗ theo Chúa.

* Ta biết chúng và chúng theo Ta”.

Theo ai là quyến luyến, gắn bó và ràng buộc đời mình vào đời người đó. Như vậy theo ai là từ bỏ chính mình, cuộc sống mình để chia sẻ cuộc sống với người khác.

Chiên thì phải theo Chủ.

Có một người Mỹ đi du lịch qua xứ Syrie, thấy ba người chăn chiên dẫn lũ của mình đi ăn chung với nhau. Một lúc sau, một trong ba người chăn này kêu chiên mình:

– Men ah! Men ah ! (Theo tiếng Ả rập có nghĩa là “Hãy theo ta! Hãy theo ta !”)

Các con chiên của người này liền tách khỏi lũ chung và đi theo người ấy lên đồi.

Người chăn thứ hai cũng kêu như vậy, và chiên của anh ta liền đi theo anh ta.

Người Mỹ nói với người chăn thứ ba:

– Xin anh vui lòng cho tôi mang đồ đạc của anh để tôi kêu như mấy người kia kêu, xem các con chiên của anh có theo tôi hay không.

Anh ta sẵn sàng cho người Mỹ này mượn đồ đạc. Xong xuôi, người Mỹ kêu :”Men ah ! Men ah !”, nhưng chẳng có con chiên nào nhúc nhích. Lạ quá Người Mỹ ngạc nhiên hỏi :

– Thế chiên của anh không nghe tiếng ai khác, ngoại trừ anh thôi sao?

Người chăn Syrie trả lời :

– Ồ! có chứ! Nhưng này là vài con chiên bị bệnh, nó sẽ đi theo dù là ai.

Theo tâm lý học, trong tình yêu có ba mức độ.

Mức độ thứ nhất : Thích nhìn, nghe người mình yêu.

Mức độ thứ hai : Trong mọi chương trình, tính toán của đời mình đều có bóng hình của người yêu.

Mức độ cuối cùng : Chia sẻ toàn bộ những gì mình có, kể cả cuộc sống của mình vì người mình yêu.

Như vậy, theo tức là yêu thương ở mức độ cao. Con chiên đi theo Chúa phải hoàn toàn chủ động và nhất là phải thiết lập một quan hệ mật thiết với Chúa là Chủ của mình.

Vâng! Kính thưa anh chị em

Tất cả chúng ta đang sống trong một thời kì đầy thay đổi. Cuộc sống đang mở ra những chân trời mới đầy quyến rũ nhưng cũng đầy nguy hiểm cho đời sống tâm linh tất cả chúng ta. Nhiều giá trị đang bị xáo trộn. Nhiều con chiên đang bị thu hút rời xa đoàn chiên. Nhu cầu cuộc sống đang xô đẩy tất cả chúng ta ra khỏi cộng đoàn khiến nhiều người trở thành những con chiên trơ trọi không người chăn dắt. Trong một hoàn cảnh mới mẻ như vậy, tất cả chúng ta rất cần phải có những vị mục tử thực sự hiểu rõ nhu cầu của đoàn chiên và thực sự hiến mình phục vụ đoàn chiên. Tất cả chúng ta hãy nguyện cầu cho có nhiều người trẻ biết đáp lời Chúa mời gọi, hiến mình cho Chúa để phục vụ mọi người trong nhiệm vụ mục tử. Tất cả chúng ta nguyện cầu cho các linh mục của tất cả chúng ta trở thành những mục tử tốt lành noi gương Vị Mục Tử duy nhất là Chúa Giê su Kitô, Chúa tất cả chúng ta. Amen

(*)Tựa đề do BTT.GPBR đặt

< / span> < span name = "_ Toc4523940"> CHÚA NHẬT IV PHỤC SINH- NĂM ¢

< / span> > < span> CHIÊU TÔI THÌ NGHE TIẾNG TÔI– < / span> < span name = "_ Toc496731361"> Lm. Giuse Vũ Khắc Nghiêm

“Chiên tôi thì nghe tiếng tôi”. Bài Tin Mừng mở màn bằng câu nói có vẻ tầm thường, nhưng thật trọng yếu. Để biết trọng yếu như vậy nào tất cả chúng ta thử nghe một câu truyện lịch sử toàn cầu sau đây:

Đại Văn Hào Lêon Tolstoi nổi tiếng nhất nước Nga đã viết một tác phẩm tựa đề: Chiến Tranh và Hòa Bình, ông mô tả lại những chiến công hiển hách của Đại Đế Napolêon, một thiên tài xưa nay chưa từng có (1769-1821). Hầu như ông đã làm thống lĩnh Châu Âu, quân của ông bách chiến bách thắng. Chỉ còn chiếm thủ đô nước Nga là xong. Ông kéo năm trăm nghìn quân hùng tướng mạnh, chỉ trong vòng một tháng đã lấn chiếm thủ đô Moscow. Thế là xong. Sĩ quan, quân sĩ của ông reo hò ăn mừng như giành được thiên đàng trần gian. Thế là quan quân tha hồ hôi của, vơ vét, thành đoàn quân cướp phá, ăn chơi, hãm hiếp, đánh lộn nhau, làm rối loạn thủ đô huy hoàng của Nga Xô. Napolêon đại đế trước kia sai khiến như sấm sét, quan quân răm rắp nghe theo. Nay tại thủ đô thắng cuộc này, ông sai khiến không còn ai nghe nữa. Binh hùng tướng giỏi của ông trở thành những con ngựa bất kham, chỉ lo ăn chơi, cướp của, hãm hiếp. Cuối cùng, ông đành bó tay rút khỏi Moscow (Mascova), lật đật chạy trốn về Pháp với hơn ba mươi nghìn quân thân tàn ma dại, chết đói, đến nỗi ngựa cũng không còn để giết mà ăn.

Hơn nửa triệu con chiên kiêu hùng tuân lệnh ông, đã bách chiến bách thắng khắp Châu Âu. Khi những con chiên đó lao đầu theo tiền của, ăn chơi, chúng không nghe lệnh ông nữa, chúng đã phải chết rữa xác rải rác trên đường chạy trốn. Nếu chúng biết nghe tiếng ông, thì vinh quang biết mấy!

Khi Đức Giêsu nói: “Chiên Tôi thì nghe tiếng Tôi”, chắc hẳn Người đã nhìn thấy hàng triệu, hàng tỷ những con chiên của Người đã biết lắng nghe tiếng Người, như Bài đọc II đã kể: “Tôi thấy một đoàn người thật đông không tài nào đếm nổi. Họ thuộc mọi nước, mọi dân mọi chi tộc và mọi ngôn ngữ, mình mặc áo trắng, tay cầm lá thiên tuế… họ đứng chầu trước ngai Thiên Chúa”. Còn tất cả chúng ta có muốn được vào số những con chiên vinh phúc đó không? Nếu muốn thì phải “chiên tôi thì nghe tiếng tôi”

Thế nào là chiên biết nghe tiếng Chúa Giêsu? Tất cả chúng ta có nhiều lần được thấy những lũ chiên trên những cánh đồng cỏ xanh tươi qua màn ảnh nhỏ. Nhưng đoàn chiên của Chúa không phải là những lũ chiên thụ động như vậy. Nếu tất cả chúng ta nghĩ thế, thì thật sai lầm chua chát!

Hình ảnh trong Kinh thánh trái với ý nghĩa sai lầm đó. Ba hành động được Đức Giêsu đề cao ở đoạn Phúc âm này về con chiên là ba tư cách đầy nhân bản, này là lắng nghe, biết chí tình và đi theo hết mình.

1- Lắng nghe: Là tư cách chuyên chú quan tâm đến người nói, tôn trọng người nói, tỏ ra mình có một mối tương quan thân tình, thân hữu với người nói. Lắng nghe là thiết yếu trong tương giao sống động giữa người với người. Lắng nghe để thông hiểu, thông cảm và hiệp thông với nhau. Người ta nói: Người thông minh là người có tai thông, mắt sáng. Thiên Chúa dựng nên loài người có hai tai, hai mắt, một miệng, như vậy là nói ít, nghe nhiều, nhìn cho kỹ. Trong thực tiễn, khi thảo luận, tất cả chúng ta lại “cãi nhau như mổ bò”; “ông nói gà, bà nói vịt”. Những tệ hại ấy xẩy ra từ thời xây tháp Babel đến giờ. Mỗi người nói một thứ tiếng, chẳng ai hiểu ai, họ chia rẽ nhau, chỉ vì kiêu ngạo đòi lên cao tới trời (St. 11). Do vậy các ngôn sứ không ngừng mời gọi: “Hãy lắng nghe, hỡi Israel!” (Ds. 6, 4; Amos 3, 1; Giêrêmia 7, 2; Tv. 24, 3-9) và rất nhiều lần Đức Giêsu nói: “Ai có tai để nghe thì hãy nghe”. Lời Chúa thật nhẹ nhõm êm ái nhắc bảo tất cả chúng ta: “Chiên Tôi thì nghe tiếng Tôi”. Đức Chúa Cha cũng mời gọi: “Đây là Con Ta rất yêu dấu. Hãy nghe lời Người” (Mt. 17, 5). Những lời đó đang rót vào tai tất cả chúng ta để tất cả chúng ta được đức tin như Thánh Phaolô nói: “Có đức tin là nhờ nghe giảng, mà nghe giảng là nghe công bố lời Đức Kitô” (Rm. 10, 17) hay: “Đức tin nhờ nghe: Fides ex auditu” (Ga. 3, 2)

2- Biết chí tình: “Chiên Tôi biết Tôi”. Biết về Đức Giêsu do học hỏi lời Chúa và giáo lý thì chưa đủ. Biết ở đây là biết bằng trái tim, bằng tình yêu mến chí thiết hài lòng ngưỡng mộ nồng nàn, bằng những cảm nhận trực giác sâu đậm, bằng những rung động bắt đúng tầng số của trái tim Chúa bốc lửa rực sáng vì yêu con chiên và chết đi vì con chiên. Trái tim con chiên cũng phải bốc lửa tưng bừng yêu mến Chúa chiên nhân lành như vậy, để cả hai nên một như “Tôi và Chúa Cha là một”. Sự biết chí tình chí thiết này thật sự đã được trổ tài với hai Thánh nữ Catarina và Têrêxa Hài đồng Giêsu. Catarina là người mù chữ chỉ học nơi Thánh Tâm Chúa Giêsu, và trở thành Thánh Tiến sĩ Hội Thánh. Têrêxa cũng chẳng học trường nào, chỉ học nơi tình yêu Chúa Giêsu Hài đồng, đã được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II phong làm Tiến sĩ Hột Thánh tháng 08/1997 trong Đại Hội thanh niên toàn cầu tại Paris.

3- Chúng theo Tôi: Theo Tôi như Phêrô bỏ chài lưới, vợ con, cha mẹ và mọi sự để theo Thầy, như Mathêu bỏ địa vị, tiền của để theo Chúa, như Madalena bỏ đường tội lỗi bước vào đời sống mới. Này là đổi đời, từ bỏ nếp sống cũ tiến theo nếp sống mới, một cuộc tái sinh vào đời sống mới, “Tôi ban cho chúng sự sống đời đời, không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay Tôi” … và chắc hơn nữa: “Không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha”. Như vậy, tất cả chúng ta được giữ gìn trong hai đôi tay: Một bên là Cha, một bên là mẹ: Được dẫn dắt trong bình an và đảm bảo tuyệt đối. Thật là một hình ảnh tuyệt vời!

Lạy Chúa, xin cho chúng con được sống trong lòng bàn tay Chúa, bàn tay đã giơ ra cứu chữa bao nhiêu người bệnh, bàn tay đã giơ ra cứu vớt Phêrô khỏi chìm trong lòng biển, bàn tay đã cầm lấy bánh, tạ ơn, bẻ ra trao cho các môn đệ và nói: “Này là Mình Thầy”, bàn tay đã giang ra cho quân dữ đóng đinh. Chính bàn tay đó đang gìn giữ chúng con thật chắc cú và không ai cướp được chúng con ra khỏi tay Chúa. Chúng con xin tạ ơn Chúa Giêsu và Chúa Cha muôn đời.

CHÚA NHẬT IV PHỤC SINH- NĂM ¢

ƠN GỌI– Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm SJ

Phiên bản hiện tại Hội Thánh nguyện cầu cho ơn thiên thần linh mục và tu sĩ. Xin cho nhiều người trẻ quảng cáo trả lời lời mời của Thiên Chúa, để mang lại độ nhìn của Thiên Chúa cho loài người thời kì.

Tôi ban cho họ cuộc sống đời đời

“Con chiên tôi, nghe tiếng tôi, tôi biết họ và họ theo tôi. Tôi ban cho họ cuộc sống đời thường, và họ sẽ không hư hỏng ”.

Ơn gọi tu sĩ linh mục chính là để “sống với Chúa, và để Ngài sai đi” (Mc.3, 14). Sống với Chúa, là sự lắng nghe tiếng anh trong từng giây phút sống, để nên sống với anh trong gian truân và hạnh phúc. Để anh ấy sai đi, là sẵn sàng đi theo đoạn đường mà anh ấy đã đi, mạng lưới thực thi sứ giả trao mặc kệ những điều gì xảy ra.

Thiên Chúa yêu thương loài người, anh ấy muốn toàn bộ được cứu độ (1Tm.2, 4). Ngài muốn ban đời sống cho toàn bộ mọi người. Sự sống đời trước nhất khởi đầu ở đời này. Nếu loài người sống theo tiếng Chúa, theo lương tâm, thì người đó có thể bình an. Bình an là nền tảng điều kiện để hạnh phúc.

Không ai có thể giựt họ khỏi tay Cha tôi

“Không ai có thể giựt họ khỏi tay tôi, vì Cha tôi đã cấm họ cho tôi, và lớn hơn tất cả, và không ai có thể giựt họ khỏi tay Cha tôi. Cha tôi và tôi là một ”.

Ơn gọi rất mong manh, và tưởng chừng ai cũng có thể gỡ bỏ; but do not such. Không ai có thể xóa tên gọi của một người, nếu không phải người đó nỗ lực xóa bỏ. Thiên Chúa luôn trung thành, gọi ai thì mãi mãi là trung thành. Ngài không thay đổi, Ngài không chỉ gọi ai một thời gian rồi thôi không gọi nữa. If you call ai, Ngài mãi mãi là trung thành. Ơn giời cũng như tình yêu, như được kết nối ràng buộc bởi “tơ trời” có vẻ rất mong manh nhưng vô cùng chắc cú.

Ơn giời không khởi động lại người khởi đầu, cũng không thể tiếp tục nếu chỉ có sức mạnh loài người. Thiên Chúa luôn ở bên người được chọn và gọi, để nâng đỡ và bảo vệ người được tuyển chọn. Rõ ràng, Thiên Chúa vẫn hay dùng những phương tiện loài người để gọi và bảo vệ những người được gọi.

Dụng cụ ban ơn độ

Thánh Phao-lô và Barnabas được tuyển chọn để sai đi. Hai bạn đã trở thành phương tiện Thiên Chúa dùng để mang ơn cứu độ cho những người sẵn sàng đón nhận Tin Mừng. Cuộc sống đời của rất gian truân, nhưng vẫn vui vẻ và hạnh phúc. Từng bị đá, bị đắm tàu ​​tưởng tượng, nhưng vẫn vững chắc trong mạng sứ được trao.

Ơn cứu độ của loài người, là chính Thiên Chúa. Được Thiên Chúa, nghĩa là, được Thiên Chúa ở cùng, được chia sẻ sự sống với Thiên Chúa, được ơn cứu độ.

Mỗi người có thể sử dụng dụng cụ Thiên Chúa để mang lại ứng dụng cho những người sống xung quanh mình. Xin cho mỗi người thu được ơn gọi của mình, để hạnh phúc và trở thành dụng cụ Thiên Chúa dùng để đến với loài người ngày hôm nay.

Thắc mắc gợi ý chia sẻ:

-Ơn call is gì? Làm sao biết một người có ơn gọi là tu sĩ hoặc linh mục?

-Ơn gọi linh mục, tu sĩ và ơn gọi hôn phối, ơn gọi nào cao quý hơn? Vì sao?

-Làm sao để nuôi dưỡng và phát triển ơn gọi tu sĩ hoặc linh mục?

CHÚA NHẬT IV PHỤC SINH- NĂM ¢

< / span> < span name = "_ Toc534230210"> KHAO KHÁT SỐNG ĐỜI Đ- Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

< span name = "_ Toc511219215"> < / span> Là ai cũng khao khát được sống và sống tạ thế. Không ai nghĩ rằng mình sinh ra – chết rồi hết kiếp người. Loài người dù có tin hay không cũng đều khao khát được sống lâu và trường sinh.

Nhưng xem ra thì người luôn bất lực trước chết chóc. Loài người phải nhắm mắt theo số phận. Cho dù người có tiền, có quyền thế nhưng họ vẫn không lúc nào thỏa mãn khát khao sống trường sinh của mình. That khao khát có trổ tài qua nhiều thế hệ loài người đi tìm thứ gọi là trường linh dược.

Có vẻ, ai trong tất cả chúng ta cũng từng từng nghe đến Tần Thủy Hoàng nước Trung Hoa. Theo sử sách: Vào năm 221 trước công nguyên, Tần Doanh Chính diệt xong lục quốc, thống nhất toàn Trung Hoa, xưng là Tần Thủy ngọc hoàng, có ý muốn truyền ngôi đến vạn đời.

Tần Thủy Hoàng tin thần tiên, sử dụng phương pháp sĩ, muốn tìm thuốc trường sinh sống lâu, vui vẻ hạnh phúc. Bấy giờ có một người nước Tề tên là Từ Phúc tâu rằng ở biển Đông có ba ngọn núi làm thần tiên quản là Bồng Lai, Phương Trượng và Doanh Châu, ở đó có thuốc trường sinh bất tử. Thủy Hoàng mừng lắm, gói thượng hạng, một ngàn đồng nam và nữ lương thực hiện tiền dồi dào để Từ Phúc vượt qua biển tìm thuốc trường sinh.

Nhưng Từ Phúc đi lâu mà không thấy về, chẳng biết đã chết chìm ngoài biển hay không, không tìm thấy thuốc nên không thấy về. Ông và đoàn tùy tùng đi theo cơn lốc khát khao trường sinh của Tần Thủy Hoàng và của loài người qua mọi thời kì.

Thực hiện, ước muốn trường sinh bất lão không phải là ước muốn xấu xa. Loài người khao khát được sống mãi để yêu, để làm việc, để trợ giúp người khác, để sáng tạo… Đây là ước muốn thật bình thường của loài người. Thế nên, mọi người qua mọi thời kì không ngừng theo đuổi những phương thức khác nhau để thoát khỏi vòng quay “sinh lão bệnh tử”. Nhưng từ xưa đến nay, loài người mới kéo dài sự sống thêm vài tuổi mà không ngăn được sự chết.

Thực ra, có một thắng cuộc thần chết. 𝓐 was α trỗi dạy từ chết. Đã sống từ đời và cho đến đời. Ngài chính là Đức Ky-tô, Con Thiên Chúa hằng sống. Ngài đã sinh ra trong thân phận loài người. Đã chia sẻ những bước thăng trầm của người đời. Đã rao giảng về Nước Trời. 𝓐 hằng sống vương quốc. Mời gọi người tham gia vào vương quốc trong tư cách con dân của Nước Trời. Chỉ mình mình mới có thể làm thỏa mãn khát khao sống ở nơi nào này mà thôi.

Cuộc sống trần gian là một tiến trình về Nước Trời. Ngày hôm nay, xin mời gọi người biết nghe tiếng Người và đi theo Người như chiên biết nghe tiếng chủ. Khi loài người biết nghe tiếng nói và bước đi theo mình, họ sẽ được tham gia cuộc sống cùng với mình. Ngài sẽ hướng dẫn người đến bến hạnh phúc không thống khổ, oan trái và thù hận, giết chóc. Nơi đó, loài người được sống sung sướng trong hạnh phúc với Chúa là hằng sống.

Tiếng của Ngài luôn mời gọi loài người làm điều lành tránh điều dữ. Tiếng của Ngài cũng mời gọi loài người sống trong tình nhân ái yêu thương. Sự nhân ái không chỉ dừng lại ở việc yêu người yêu mình mà còn yêu cả kẻ thù. Tình yêu thương không dừng lại việc  không làm tổn thương đến ai mà còn biết trợ giúp, chia sẻ với nhau trong vui buồn cuộc sống. Có như vậy, tất cả chúng ta mới được tham gia sống sống đời đời với Chúa.

Ngày hôm nay, ngày dành riêng để nguyện cầu cho ơn gọi làm linh mục và tu sĩ, tất cả chúng ta hãy xin Chúa ban thêm nhiều vị mục tử tốt lành để chăm sóc đàn chiên của Chúa. Những mục tử biết hoạ lại khuôn mẫu của vị mục tử nhân lành luôn sống hết mình vì đàn chiên, luôn tận tuỵ chăm sóc đàn chiên của Chúa. Những mục tử biết say mê nói Lời Thiên Chúa để dẫn dắt dân Chúa đi trong đạo lý vẹn tuyền. Tất cả chúng ta cũng xin Chúa cho những bậc làm cha, làm mẹ biết giáo dục và hướng dẫn con cháu sống trí não tin mừng để hiến dâng cho Giáo hội những mần giống ơn gọi tốt lành.

Nguyện xin Chúa Giêsu, mục tử nhân lành chúc lành cho hết thảy những ai đang khao khát dâng hiến cuộc sống để phục vụ cho lợi nhuận tha nhân và Nước Trời. Amen

CHÚA NHẬT IV PHỤC SINH- NĂM ¢

MỤC TỬ NHÂN LÀNH- Lm. Gioan ʍ. Nguyễn Thiên Khải, CMC

Thưa anh chị em,

Dân tộc Do thái thời Cựu ước phần nhiều là dân du mục, cuộc sống họ nối liền với đàn vật và đồng cỏ. Do vậy khi Đức Giêsu rao giảng Tin mừng, Ngài dùng những hình ảnh trong đời thường, để minh họa cho dân chúng dễ hiểu những đạo lý Tin mừng.

Tin mừng ngày hôm nay gợi lên hình ảnh người mục tử và đàn chiên, để nói lên mối tương quan cao đẹp giữa mục tử Giêsu nhân lành và tất cả chúng ta là đàn chiên của Ngài. Người mục tử nhân lành cần hiểu biết chiên của mình.

Đức Giêsu nói: “Ta biết các chiên Ta…” (Ga 10, 27). Nhưng để hiểu biết, trước hết mục tử Giêsu phải từ bỏ trời cao xuống đất thấp để ở cùng, ở với chiên của mình.

Ngài hoà mình với dòng người tội lỗi nơi bờ sông Gio-đan, để xin Gioan cử hành phép rửa (Mt 3, 13-16). Ngài đồng bàn ăn uống với những người thu thuế và tội lỗi (Lc 19,7). Ngài nâng ly rượu chúc mừng đôi tân hôn trong tiệc cưới Cana (Ga 2, 1-11). Ngài khóc thương Ladarô bạc phận (Ga 11,35). Ngài cứu chữa những kẻ bệnh tật, vui đùa với các trẻ thơ…  Nói tóm lại, toàn bộ mọi người đều có chỗ đứng đặc biệt trong trái tim Mục tử Giêsu.

Do đó, Ngài thấu rõ tâm tư, tình cảm của tất cả chúng ta nữa. Ngài biết những thành công thất bại, những lo ngại buồn phiền của tất cả chúng ta. Ngài biết những bệnh tật mà tất cả chúng ta đang chịu. Ngài biết những ưu tư tất cả chúng ta đang mang trong tâm hồn.

Người mục tử nhân lành còn chăm sóc từng con chiên của mình.

Thánh vịnh 23 phác thảo chân dung Mục tử Giêsu nhân lành tận tình nuôi dưỡng đàn chiên cách chu đáo, chẳng để chiên phải thiếu thốn điều gì.

“Chúa là Mục Tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi.

Trên đồng cỏ xanh rì, Ngài cho tôi nằm nghỉ.

Tới nguồn nước chỗ nghỉ ngơi, Ngài hướng dẫn tôi, tâm hồn tôi, Ngài lo bồi dưỡng” (Tv 23, 1-3).

Lời tiên báo của ngôn sứ Ê-dê-ki-en đã ứng nghiệm từng chữ nơi Mục tử Giêsu: “Chính Ta sẽ chăn dắt chiên của Ta. Chính Ta sẽ cho chúng nằm nghỉ. Con nào lạc mất, Ta sẽ đi tìm; con nào đi lạc, Ta sẽ đưa về; con nào bị thương, Ta sẽ băng bó; con nào bệnh tật, Ta sẽ chữa cho lành” (Edekien 34, 15-16).

Người mục tử nhân lành có ánh nhìn quan tâm. Quan là nhìn, tâm là tim: là nhìn bằng trái tim. Đức Giêsu nhìn tất cả chúng ta bằng trái tim mục tử. “Ngài chạnh lòng thương khi thấy dân chúng đi theo Ngài vất vưởng như đàn chiên không người chăn dắt” (Mc 6, 34).

 Ngài chạnh lòng thương khi thấy dân chúng đói lã, nên hoá bánh ra nhiều cho họ ăn uống thoả thuê” (Mt 15, 32). “Ngài chạnh lòng thương trước bệnh tật của con người, nên ra tay chữa lành nhiều người” (Mt 14,14). Ngài chạnh lòng thương trước nỗi mất mát đau buồn của bà goá thành Na-im, vì con trai của bà đã chết, Ngài đến chạm quan tài để phục sinh cho đứa con của bà” (Lc 7, 13-15).

Cuối cùng, người mục tử nhân lành hi sinh tính mạng vì đàn chiên. Chúa nói: “Tôi là mục tử nhân lành, mục tử nhân lành hi sinh mạng sống mình cho đàn chiên” (Ga 10,11). Thật vậy, “Ngài tự hiến mạng sống vì chúng ta”(Ga 10,18).

Các mục tử trên đời này nuôi chiên để làm kinh tế. Người ta xén lông, xẻ thịt hoặc bán chiên lấy tiền; còn Mục tử Giêsu thì lại hiến mình chịu chết để chiên được sống: “Phần tôi, tôi đến để cho chiên được sống và được sống dồi dào” (Ga. 10, 10).

Ngài chấp thuận trao ban chính mình làm lương thực nuôi sống đàn chiên đang lầm than đói khát: “Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, sẽ không phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ!” (Ga. 6, 35).

Anh chị em thân mến,

Tại Đền thờ Thánh Phêrô, sáng thứ Năm Tuần Thánh năm 2013, ĐTC Phanxicô, nhắn nhủ các Linh mục như sau: “Tôi xin anh em hãy là những mục tử mang nặng mùi chiên của mình”.

Đức Thánh Cha gợi lên một hình ảnh thật ấn tượng: mục tử phải lấm mùi chiên. Nghĩa là người chăn chiên sống thân thiện, gắn bó với đàn chiên, lo ngại chăm sóc, bảo vệ đàn chiên của mình đến nỗi mùi chiên đã ngấm vào, không những áo quần mà cả da thịt nữa.

Thế thì, không chỉ Đức thánh cha, các giám mục, linh mục mới là những mục tử, mà là toàn bộ tất cả chúng ta đều được mời gọi theo gương Mục tử Giêsu.

Vì vậy, trong giáo xứ, cha xứ phải là người mục tử sẵn sàng xả thân phục vụ giáo dân trong xứ đạo của mình.

Trong nhà, cha mẹ cần phải có tấm lòng mục tử biết dành thời giờ, yêu thương chăm sóc, tận tình lo ngại cho con cháu.

Nơi trường học, thầy thầy giáo cần phải có tấm lòng mục tử, biết  tận tâm, tận tình giáo dục học trò, trở thành những loài người tốt cho xã hội và Giáo hội.

Ở phòng khám, những y tá, bác sỹ cần phải có tấm lòng mục tử, “lương y như từ mẫu”, hết lòng chăm sóc sức khỏe cho người bệnh.

Đồng thời, ngày hôm nay thường gọi là Chúa nhật Chúa chiên lành, Giáo hội dành nguyện cầu cho ơn thiên triệu.

Xin Chúa thương ban cho Giáo hội có nhiều thanh niên nam nữ, biết quảng đại đáp lại tiếng Chúa, để trở thành những mục tử nhân lành, theo gương vị Mục Tử Tối Cao, là hiểu biết tâm tư nguyện vọng của chiên mình, quan tâm chăm sóc từng con chiên và sẵn sàng hi sinh bản thân vì lợi nhuận cho đàn chiên. Amen.

CHÚA NHẬT IV PHỤC SINH- NĂM ¢

< / span> ƠN GỌI TRONG LÒNG GIÁO HỘI – Lm. Đaminh Nguyễn Ngọc Long

Xưa nay tất cả chúng ta thường tìm hiểu những người đi làm linh mục hay Từ Sĩ Nam Nữ trong Dòng Hội là những người có ơn Mời gọi hay Chúa mời gọi tuyển chọn.

Ơn gọi là gì?

Giờ đây nếu có ai hỏi, phải cắt nghĩa lời mời gọi như vậy nào cho những người Trẻ hiểu rõ, có thể không có một khái niệm giống như một công thức trắng đen rõ ràng nào.

Vì lời mời gọi không phải là một đơn từ, một nội dung ra cho người đọc, người xem chấp thuận hoặc không chấp thuận. Nhưng ơn gọi là tiếng gọi thầm lặng hầu như linh hồn dậy từ trong tâm hồn mỗi người.

Nếu có ai hỏi, thế tiếng mời gọi đó vang vọng sẽ phát ra tiếng động trong tâm hồn loài người như vậy nào và vào lúc nào?

This thing also can not said the ra đơn giản bằng từ ngữ hoặc chữ viết con số được. Vì tiếng mời gọi vang vọng trong tâm hồn không thể nghe được bằng cách ghép đôi tai. Nhưng thu được cảm nhận trong trái tim tâm hồn.

Right, mời gọi truyền thông đi qua cảm nhận trong rung động của trái tim, hay từ tầng thần kinh xúc cảm. Và lời mời đó có khi bỗng nhiên không theo một khái niệm nào thời gian.

Như vậy, có thể hiểu là tiếng kêu vang lên rồi cứ thế triển khai khắc nghiệt trong tâm hồn người đó mãi sao?

Không hẳn là như vậy đâu. Vì như hạt giống gieo vãi xuống đất, có nền đất tốt, có nước, có ánh sáng mặt trời chiếu xuống cùng thiết bị vun xới, sẽ mọc lên thành cây sinh hoa kết trái tốt. Left Left, if missing the things that the version, the same same same will mai một chết dần dần đi.

Với lời mời gọi cũng tương tự như vậy. Những điều kiện ngoại cảnh về môi trường giáo dục huấn luyện, môi trường sống gia đình, nếp sống văn hóa lành mạnh, cùng nếp sống đạo đức giúp gọi phát triển lớn lên thành lời mời gọi phát triển đứng giữa các dòng đời sống.

Trong dân gian có tư vấn: Ánh sáng mặt trời chiếu tỏa hơi nóng. Còn sót lại gío thì mang đến hơi lạnh. Vì vậy bầu khí sinh sống, sự vun xới thiết lập các nếp sống đạo đức gia đình, xứ đạo như ánh sáng mặt trời chiếu tỏa hơi nóng thiết yếu cho mầm mời gọi nảy sinh phát triển.

Ơn giời mời gọi phải vun vén thiết bị theo hướng trí não cùng huấn luyện tới Thiên Chúa, mời gọi và hướng tới cơ bản đời sống tình cảm, không chỉ cho ngày hôm nay thôi mà phải liên tục cho ngày mai.

Ngày xưa trong Cựu ước, Thiên Chúa mời gọi cá nhân từng người, như Thánh tiên tri Maisen, Thánh tiên tri Isaia, Edechiel làm sứ giả loan báo ý muốn của mọi người.

Chúa gọi đến, nghe gọi hay từng người, ví dụ như Phero đồ Thánh Tông, Phaolo, Andre, Toma, Giacobe… là những người đi theo làm chứng nhân sứ gỉa cho phúc âm Chúa giữa dòng đời sống xã hội . Trải qua thời gian dòng luôn có những người, những Người Trẻ lớn lên cảm thấy có tiếng thôi tận cùng tâm hồn về một đời sống trong nhà Dòng, trong Chủng viện ở các phòng ban về đời sống tự thân cho công việc làm chứng rao truyền tình yêu Nước Chúa ở trần gian trong lòng Giáo hội. Này là tiếng Chúa gọi thôi thúc trái tim tâm hồn họ.

Hằng năm vào ngày Chúa Nhật 4 mùa phục sinh, thường hay gọi là Chúa Nhật Chúa chiên lành, năm nay vào ngày 12.05.2019, là ngày nguyện cầu cho tiếng mời gọi Linh mục, Tu sĩ Nam Nữ trong Hội Dòng trong lòng Giáo Hội Công Giáo.

Hãng phim, nhà sản xuất cần những công nhân làm việc, nhưng họ cần hơn những vị trí kỹ sư hoạch định công việc chế tạo. Cũng tương tự như vậy trong đời sống Giáo Hội. Bình thường tự nhiên, không cùng nhau không được phép nói hay nghĩ cho người có chủ sở hữu là những người thợ làm việc còn sót lại các linh mục tu sĩ là những người kỹ sư…

Không, không, không đâu. Mọi người trong Giáo Hội Chúa đều là những tín đồ của Chúa hiếm thấy. Nhưng từng người có trách nhiệm khác nhau trong cánh đồng vườn nho của Giáo Hội Chúa ở trần gian.

Vì vậy trong lòng Giáo Hội có những ơn Gọi khác nhau. Và Ơn mời gọi cũng như đời sống của loài người là đoạn đường sống trải dài từ ngày hôm qua sang ngày mai.

„ Ơn gọi được nảy sinh ngay trong lòng Giáo Hội. Từ khoảnh khắc một ơn gọi khởi đầu trở nên rõ ràng, ơn gọi ấy cần phải có “cảm thức” về Giáo Hội. Không ai được mời gọi để dành riêng cho một vùng tách biệt, hay cho một nhóm hoặc một trào lưu nhưng là giành riêng cho Giáo Hội và toàn cầu…

Ơn gọi lớn lên trong lòng Giáo Hội. Trong quá trình huấn luyện, cáo ứng viên với những ơn gọi khác nhau cần tiếp thu kiến thức về cộng đoàn Giáo Hội, vượt qua những hạn chế lúc đầu. Để khi kết thúc, họ nên cùng nhau thực hiện những trải nghiệm tông đồ với những thành viên khác của cộng đoàn, ví dụ như: cùng theo một khóa giáo lý, trao đổi các thông điệp Giáo Hội, gặp mặt liên hội dòng, chia sẻ trải nghiệm việc truyền giáo tại các vùng ngoại vi, chia sẻ đời sống tu viện, tìm tòi rủi ro mang đến cám dỗ; liên hệ với các vị thừa sai để đào sâu hơn về sứ vụ đến với muôn dân; và trong cộng đoàn các linh mục giáo phận, để đi sâu vào kinh nghiệm đời sống mục vụ giáo xứ và giáo phận. So với những ai đã sẵn sàng cho việc huấn luyện, cộng đoàn Giáo Hội luôn là môi trường huấn luyện cơ bản.“ Đức Giáo Hoàng Phanxico, Sứ điệp ngày Thế Giới Ơn Gọi 2016: “Ơn gọi được sinh ra trong lòng Giáo Hội”

#cacbaisuyniemloichuachuanhat #suyniemloichuachuanhativphucsinhc #suyniemloichuagpbr


Xem thêm những thông tin liên quan đến đề tài sau thời điểm giết cỏ linh hoạt trong vườn thiên quy

Lão Tam Lão Tứ Mẫu Tử Quỷ Làng Bình Đại Tập 1 | Truyện ma pháp sư Làng Quê Quàng 𝓐 Tũn

alt

  • Tác giả: Truyện ma Quàng 𝓐 Tũn
  • Ngày đăng: 2022-04-30
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 2092 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Làng Bình Đại có cái giếng cổ, cặp đôi chim chuột hú hí tại đó để rồi phạm vào những điều cấm kỵ. Từ đó làng Bình Đại gặp sự yêu ma quỷ quái…mời các bạn theo dõi bộ truyện Lão Tam Lão Tứ chiến mẫu tử quỷ làng Bình Đại của tác giả Lương Duy.
    ► DONATE CHO TŨN ĐỂ MUA TRÀ THUỐC :
    – Địa chỉ doante bằng PAYPAL : xtrembj2@gmail.com
    – STK: 102867336305 chủ tài khoản: Mai Việt Hà. Chi nhánh ngân hàng Viettinbank Lưu Xá, Thái Nguyên. Hoăc ví MOMO : 0929 388 227
    —————————————————————————————–
    – Mail : Xtrembj1@gmail.com
    – Fanpage chính thức : https://goo.gl/B1B22h
    —————————————————————————————–
    – Nếu các bạn có những truyện ma, truyện ngắn tình cảm tâm đắc muốn được nghe diễn đọc, các bạn vui lòng gửi tin nhắn vào nick FB cá nhân của mình hoặc Fanpage.
    – Like và share để ủng hộ kênh, subcribe để update truyện mới.

Sau thời điểm giết cỏ linh hoạt trong vườn thiên quy, quái vật nào sẽ xuất hiện sau đó?

  • Tác giả: hibs.vn
  • Nhận xét: 5 ⭐ ( 8030 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Cách triệu hồi Rùa ThầnMỗi cấp độ Rùa đều có một thanh Nộ 0/30000, mỗi một quái vật các bạn tiêu diệt đều sẽ tăng điểm nộ tùy loại quái vật, Khi nào thanh Nộ đầy thì Rùa thần cấp độ tương ứng sẽ xuất hiện

Sau thời điểm giết cỏ linh hoạt trong vườn thiên quy, quái vật nào sẽ xuất hiện sau đó?

  • Tác giả: hit.edu.vn
  • Nhận xét: 5 ⭐ ( 3183 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Giải đáp 300 thắc mắc đố vui mỗi ngày trên trang dovui, bns

Sau thời điểm giết cỏ linh hoạt trong vườn thiên quy quái vật nào sẽ xuất hiện sau đó?

  • Tác giả: man-city.net
  • Nhận xét: 5 ⭐ ( 1479 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Cách triệu hồi Rùa ThầnMỗi cấp độ Rùa đều có một thanh Nộ 0/30000, mỗi một quái vật các bạn tiêu diệt đều sẽ tăng điểm nộ tùy loại quái vật, Khi nào thanh Nộ đầy thì Rùa thần cấp độ tương ứng sẽ xuất hiện

Vườn Thiên Quy

  • Tác giả: xettuyentrungcap.edu.vn
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 8971 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: 7,098 Share

Sau thời điểm giết cỏ linh hoạt trong vườn thiên quy, quái vật nào sẽ xuất hiện sau đó?

  • Tác giả: acsantangelo1907.com
  • Nhận xét: 3 ⭐ ( 4161 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Cách triệu hồi Rùa ThầnMỗi cấp độ Rùa đều có một thanh Nộ 0/30000, mỗi một quái vật các bạn tiêu diệt đều sẽ tăng điểm nộ tùy loại quái vật, Khi nào thanh Nộ đầy thì Rùa thần cấp độ tương ứng sẽ xuất hiện

Học Viện Blade & Soul

  • Tác giả: bns.garena.vn
  • Nhận xét: 3 ⭐ ( 7688 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm:

Xem thêm các nội dung khác thuộc thể loại: Khám Phá Khoa Học

Xem Thêm  [Dương thư mị ảnh] Ngoại truyện 3 - dương thư mị ảnh 3

By ads_law