Chấn thương sọ não (CTSN) được khái niệm là một thúc đẩy lên đầu hoặc chấn thương xuyên qua sọ gây phá vỡ tính năng bình thường của não bộ.

Bạn đang xem: hộp sọ chịu được lực bao nhiêu

 

Tổng quan

Chấn thương sọ não (CTSN) được khái niệm là một thúc đẩy lên đầu hoặc chấn thương xuyên qua sọ gây phá vỡ tính năng bình thường của não bộ. Chấn thương sọ não có thể xảy ra khi đầu bị va chạm đột ngột và mạnh vào một vật, hoặc khi một vật đâm xuyên qua hộp sọ và đi vào mô não. Triệu chứng của chấn thương sọ não có thể nhẹ, vừa hoặc nặng, tùy thuộc vào mức độ tổn thương não. Các trường hợp nhẹ có thể gây ra thay đổi ít về tình trạng tâm thần hoặc ý thức. Trong lúc các ca nặng có thể gây ra mất ý thức kéo dài, mê man, hoặc thậm chí tử vong.

Dịch tễ học

Theo phân tích của Viện Kế sách và Quyết sách – Bộ У tế năm 2013, chấn thương sọ não là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ hai ở Việt Nam (sau bệnh lý tim mạch).

Ở trẻ em, theo phân tích tại khoa cấp cứu phòng khám Nhi Đồng 2, trong số các ca CTSN có 84,8% trẻ ≥ 2 tuổi, Nam/ nữ =1,5/1. Té, tai nạn giao thông là những nguyên nhân chính gây CTSN. Gần 1/2 tử vong do chấn thương sọ não xảy ra trước khi nhập viện.

Ở người lớn, phân tích trên các người bệnh CTSN nhập phòng khám Chợ Rẫy cho thấy: độ tuổi trung bình là 37, trong đó phần lớn từ 16 đến 60 tuổi (độ tuổi lao động); nam giới chiếm 84%. Có đến 96% các trường hợp do tai nạn giao thông gây ra, hầu hết là xe gắn máy. Chấn thương xảy ra phần lớn vào khoảng thời gian từ 17 giờ tối đến 23 giờ đêm. Có đến 17,8% người bệnh phải chịu đời sống thực vật sau CTSN. Trong số các trường hợp CTSN do tai nạn giao thông:

  • Rượu là yếu tố gây tai nạn trọng yếu.
  • Người đi bộ bị tai nạn cũng chiếm tỉ lệ khá cao.
  • Xe chạy quá vận tốc và không tôn trọng luật lệ giao thông là nguyên nhân hầu hết làm tăng trưởng tình trạng tai nạn giao thông.

Phân tích của Viện Kế sách Quyết sách y tế và Trạm xá Việt Đức ở các người bệnh CTSN do tai nạn xe máy đã xuất viện từ tháng 6-12/2005 cho thấy: chấn thương càng nặng thì thời gian điều trị tại nền tảng y tế và ở nhà càng dài. 60% người bệnh CTSN nặng không thể đi làm hay thực hiện được các công việc mỗi ngày. Một năm sau chấn thương, trung bình số năm sống mất đi do tàn tật là 5,5 tháng; 3 tháng và 1,8 tháng lần lượt cho một trường hợp CTSN nặng, trung bình và nhẹ.

Triệu chứng của chấn thương sọ não

Các triệu chứng thay đổi khá nhiều tùy thuộc độ nặng của chấn thương đầu, nhưng có thể bao gồm bất kì triệu chứng nào sau đây:

  • Nôn ói
  • Ngủ gà
  • Đau đầu
  • Lú lẫn
  • Liệt
  • Mê man
  • Mất ý thức
  • Giãn đồng tử
  • Thị giác thay đổi (nhìn nhòe hoặc nhìn đôi, không thể chịu được ánh sáng chói, mất động đậy mắt, mù)
  • Dịch não tủy chảy ở tai hoặc mũi (có thể trong hoặc nhuốm máu)
  • Chóng mặt và rối loạn thăng bằng
  • Vấn đề hô hấp
  • Nhịp tim chậm
  • Nhịp thở chậm, với tăng huyết áp
  • Nghe tiếng vang trong tai, hoặc thay đổi thính giác
  • Nhận thức khó khăn
  • Thỏa mãn xúc cảm không thích hợp
  • Nói khó (nói lắp, không thể hiểu được và/hoặc nói không lưu loát)
  • Nuốt khó
  • Cảm tưởng tê hoặc kiến bò trên người
  • Sụp mí mắt hoặc yếu cơ mặt
  • Mất nhu động ruột hoặc mất kiểm tra bọng đái (bọng đái)

Nếu nghi ngờ CTSN, gọi ngay số smartphone cấp cứu (115) hoặc mang người bệnh đến phòng cấp cứu.

Tổn thương ngoại khoa

Thuật ngữ “khối choán chỗ” (mass lesion) thường được dùng khi nói về. Nó ám chỉ một vùng tổn thương khu trú có thể gây stress bên trong não. Khối choán chỗ thường gặp nhất liên quan đến CTSN là khối máu tụ và dập não.

Khối máu tụ là máu đông bên trong não hoặc trên mặt phẳng não. Khối máu tụ có thể xảy ra ở bất kì vị trí nào trong não. Máu tụ ngoài màng cứng là là một khối máu nằm giữa màng cứng (phần bảo vệ bên ngoài não) và phần bên trong não. Máu tụ dưới màng cứng là một khối máu nằm giữa màng cứng và màng nhện – nằm ngay trên mặt phẳng não.

Dập não (Contusion) là sự dập mô não. Khi xem dưới kính hiển vi, vùng dập não có thể so sánh với vết bầm trên thân thể. Vùng dập não bao gồm các khu vực não chấn thương hoặc phù, với máu rỉ ra khỏi động mạch, tĩnh mạch hoặc mao mạch. Dập não thường gặp nhất ở vùng nền của phần trước não, nhưng cũng có thể xảy ra ở bất kì vị trí nào.

Xuất huyết nội sọ (chảy máu trong não) là tình trạng máy chảy bên trong nhu mô não, có thể liên quan đến các chấn thương não khác, nhất là dập não. Kích thước và vị trí chỗ chảy máu giúp doctor xác nhận có thể phẫu thuật lấy máu tụ hay không.

Xuất huyết dưới nhện là do chảy máu vào trong khoang dưới nhện. Có thể hình dung này là tình trạng máu chảy lan thành một lớp mỏng trên mặt phẳng não, và thường gặp sau CTSN. Hầu như các ca xuất huyết dưới nhện liên quan đến chấn thương đầu thường là nhẹ. Não úng thủy có thể là hậu quả của xuất huyết dưới nhện nghiêm trọng do chấn thương.

Xem thêm bài Xuất huyết dưới nhện

Chấn thương não lan tỏa

Chấn thương sọ não có thể tạo ra những thay đổi vi thể không thấy được trên CT scan và rải rác khắp não. Loại chấn thương này gọi là chấn thương não lan tỏa, có thể xảy ra cùng hoặc không cùng với khối choán chỗ.

Tổn thương sợi trục lan tỏa liên quan đến suy giảm tính năng và mất dần một số sợi trục – phòng ban link các tế bào thần kinh trong não, dù các tế bào này ở xa nhau. Nếu nhiều sợi trục bị tổn thương theo phương pháp này, các tế bào thần kinh sẽ mất hoặc giảm trầm trọng khả năng link với nhau, có thể làm cho người bệnh tàn phế nặng nề.

Một loại tổn thương lan tỏa khác là thiếu máu cục não bộ, tức không đủ máu nuôi đến một phần nào đó trong não. Tình trạng này xảy ra thông dụng ở các người bệnh CTSN. Này là một vấn đề trọng yếu vì não mới bị chấn thương sẽ đặc biệt nhạy cảm với giảm lưu lượng máu, dù chỉ rất nhỏ. Sự thay đổi stress máu trong vài ngày đầu sau chấn thương đầu cũng có thể gây ra thúc đẩy có hại.

Nứt sọ

Không cần điều trị cho hầu như các trường hợp nứt sọ hẹp, chỉ vỡ hoặc nứt đơn giản ở hộp sọ. Vấn đề cần quan tâm hơn là khả năng lực thúc đẩy đủ mạnh để gây tổn thương não bên trong. Nứt ở nền sọ sẽ là vấn đề nếu nó gây chấn thương thần kinh, động mạch hoặc các cấu trúc khác. Nếu vết nứt kéo dài vào trong các xoang, có thể gây rò rỉ dịch não tủy từ mũi hoặc tai. Hầu như các chỗ rò rỉ sẽ ngừng tự nhiên. Tuy nhiên, đôi lúc cần phải đặt ống dẫn lưu ở thắt lưng, một ống dài, mỏng, mềm, mang vào khoang dịch não tủy ở vùng xương cột sống thắt lưng thấp. Phương pháp này sẽ tạo đường dẫn lưu dịch não tủy thay thế, do đó vết rách màng cứng gây dò dịch não tủy ở nền sọ sẽ có thời gian để hàn gắn.

Nứt sọ đè ép là trường hợp một phần xương đè vào trong não. Tình huống này cần phải phẫu thuật. Tổn thương do nứt sọ đè ép tùy thuộc vào vùng não bên dưới và sự tồn tại đồng thời của bất kỳ chấn thương não lan tỏa nào.

Chẩn đoán

Như mọi người bệnh chấn thương khác, người bệnh CTSN cũng nên được nhìn nhận nhanh một cách có hệ thống trong phòng cấp cứu. Trước hết cần nhận xét tính năng tim phổi. Sau đó, khám thần kinh toàn diện, rồi khám nhanh toàn thân. Khám thần kinh kể cả việc nhận xét thang điểm mê man Glasgow (GCS). Ngoài GCS, cần thăm khám phản xạ ánh sáng của đồng tử (đồng tử co lại khi gặp ánh sáng). So với các người bệnh có khối choán chỗ lớn hoặc tăng stress nội sọ, 1 hoặc cả 2 đồng tử có thể giãn rộng. Đồng tử giãn chỉ 1 bên cho thấy một khối choán chỗ lớn có trổ tài diện ở cùng bên dãn đồng tử. Cũng có thể khám các phản xạ thân não bao gồm phản xạ nôn và phản xạ giác mạc (chớp mắt).

Các xét nghiệm hình ảnh học

CT hay CAT scan (chụp cắt lớp điện toán) là tiêu chuẩn vàng trong để nhận xét hình ảnh học trên người bệnh CTSN. CT là một kĩ thuật dễ thực hiện và rất tốt để phát hiện sự hiện diện của máu và vết nứt, tức những tổn thương trọng yếu nhất cần nhận diện trong các trường hợp chấn thương y khoa.

Ҳ quang sọ thẳng được lời khuyên trong một số trường hợp nhằm nhận xét người bệnh với rối loạn tính năng thần kinh nhẹ. Tuy nhiên, hầu như các trung tâm y khoa Hoa Kỳ đã có CT scan – một dụng cụ chẩn đoán đúng đắn hơn. Vì nguyên nhân này, việc dùng Ҳ quang sọ thường quy trên người bệnh CTSN đã giảm đi.

MRI (chụp cộng hưởng từ) không thường được sử dụng trong chấn thương đầu cấp vì mất nhiều thời gian hơn CT scan. MRI cũng không thiết thực trong chấn thương cấp vì khó di chuyển một người bệnh chấn thương cấp từ phòng cấp cứu vào máy MRI. Tuy nhiên, sau thời điểm người bệnh ổn định, MRI có thể giúp phát hiện các tổn thương không thấy được trên CT scan. Thông tin này thường hữu ích để nhận xét tiên lượng hơn là tác động lên việc điều trị.

Phẫu thuật

Nhiều người bệnh chấn thương đầu trung bình hoặc nặng được chuyển trực tiếp từ phòng cấp cứu lên phòng mổ. Trong nhiều trường hợp, phẫu thuật nhằm lấy đi khối máu tụ lớn hoặc dập não gây đè ép nghiêm trọng vào não hoặc làm tăng stress nội sọ. Sau phẫu thuật, những người bệnh này thường được xem xét và theo dõi trong nhà cung cấp chăm sóc đặc biệt (ICU).

Các người bệnh chấn thương đầu khác có thể không được chuyển vào phòng mổ ngay nhanh chóng, thay vào đó, họ được chuyển từ phòng cấp cứu vào ICU. Dập não hay khối máu tụ có thể lớn lên trong vài giờ hoặc vài ngày trước nhất sau chấn thương đầu, nên một số người bệnh không cần phẫu thuật cho đến vài ngày sau chấn thương. Máu tụ muộn có thể được phát hiện khi thăm khám thần kinh xấu đi hoặc tăng stress nội sọ. Trong các trường hợp khác, phải có một phim CT scan theo dõi thường quy để xác nhận khối tổn thương có thay đổi kích thước hay không, cho thấy khối máu tụ hoặc dập não đã lớn lên đáng kể. Trong nhiều trường hợp, việc lấy đi khối tổn thương trước khi nó lớn lên và gây tổn thương thần kinh có thể là cách tiếp cận an toàn nhất cho người bệnh.

Khi phẫu thuật, người bệnh thường được cạo tóc ở vùng đầu cần mổ. Sau thời điểm rạch da đầu, phần xương được lấy ra dưới dạng miếng hoặc nắp, và được đặt lại chỗ cũ sau phẫu thuật. Tuy nhiên, đôi lúc xương có thể bị vỡ hoặc hỏng nặng. Trong những trường hợp này, miếng vỡ hoặc hỏng được lấy đi mà không gắn lại. Màng cứng được cắt thận trọng, để lộ não bên dưới. Sau thời điểm khối máu tụ hoặc dập não được lấy ra, doctor ngoại thần kinh phải đảm bảo vùng đó không còn chảy máu. Sau đó, doctor đóng màng cứng, đặt lại xương và khâu da đầu. Nếu não phù nhiều, một số doctor có thể không gắn lại xương cho đến khi giảm phù, có thể đến vài tuần sau đó. Doctor ngoại thần kinh có thể lựa chọn đặt một máy theo dõi stress nội sọ hoặc các loại máy khác. Sau đó, người bệnh được chuyển về ICU để theo dõi và chăm sóc thêm.

Điều trị nội khoa

Ở thời điểm hiện tại, chưa có thuốc hay “liệu pháp thần kỳ” nào có thể ngăn ngừa tổn thương thần kinh hoặc xúc tiến làm lành tế bào thần kinh sau CTSN. Mục đích chính ở ICU là ngăn ngừa chấn thương não thứ phát. “Chấn thương nguyên phát” là chấn thương não ban đầu, còn “chấn thương thứ phát” là bất kỳ diễn tiến nào sau đó có thể góp phần vào tổn thương thần kinh. Ví dụ, một não bộ bị chấn thương sẽ đặc biệt nhạy cảm và dễ tổn thương khi huyết áp giảm (dù ở mức mà bình thường vẫn chịu được). Một phương pháp để tránh chấn thương thứ phát là nỗ lực duy trì mức huyết áp bình thường hoặc hơi cao. Tương tự, sự tăng stress nội sọ, giảm oxy máu, tăng thân nhiệt, tăng đường huyết, và nhiều rối loạn khác có thể làm nặng thêm tổn thương thần kinh. Việc ngăn ngừa chấn thương thứ phát là một phần cốt yếu trong quản lý ICU so với người bệnh chấn thương đầu.

Nhiều thiết bị theo dõi có thể trợ giúp nhân viên y tế trong việc chăm sóc người bệnh. Việc đặt một thiết bị theo dõi stress nội sọ vào não có thể giúp phát hiện phù não quá mức. Một loại thiết bị theo dõi stress nội sọ thông dụng là mở thông não thất. Này là một ống hẹp, mềm, rỗng đặt vào trong các não thất, tức khoang dịch ở trung tâm não, nhằm theo dõi stress nội sọ và dẫn lưu dịch não tủy nếu stress tăng cao. Một thiết bị khác cũng thường dùng để theo dõi stress nội sọ là đặt một ống sợi quang nhỏ trực tiếp vào mô não. Có thể đặt thêm các ống khác để đo nhiệt độ não bộ và sự oxy hóa mô não. Việc đặt một cảm ứng oxy vào tĩnh mạch cảnh giúp phát hiện có bao nhiêu oxy trong máu được phát sinh từ não, và nêu ra bao nhiêu oxy được não sử dụng. Nó liên quan đến mức độ tổn thương não. Gần đây nhiều kĩ thuật theo dõi khác đang được phân tích xem nó có thể giúp cải tổ hậu quả sau chấn thương đầu hay không, hoặc phân phối các thông tin trọng yếu khác về chăm sóc người bệnh CTSN.

Tiên lượng

Một trong các hệ thống phân loại kết cục sau chấn thương đầu được sử dụng rộng rãi nhất là Thang điểm tiên lượng Glasgow (GOS). Người bệnh chấn thương đầu nhẹ (thường được khái niệm bằng điểm Glasgow – GCS – lúc nhập viện là 13-15) có thiên hướng tốt. Các người bệnh này có thể bị đau đầu, choáng váng, kích thích hoặc các triệu chứng tương tự, nhưng hầu như các trường hợp đều cải tổ dần.

Người bệnh chấn thương đầu mức độ trung bình thì ít tốt hơn. Khoảng 60% sẽ hồi phục tốt, và khoảng 25% sẽ để lại tàn tật mức độ trung bình, 7-10% trường hợp có thể tử vong hoặc tình trạng thực vật kéo dài. Các người bệnh còn sót lại sẽ tàn tật mức độ nặng.

Nhóm người bệnh chấn thương đầu nặng có tiên lượng tồi tệ nhất. Chỉ có 25-33% người bệnh có kết cục khả quan. Tàn tật nặng và trung bình xảy ra trong khoảng 1/6 trường hợp (mỗi mức độ), trong đó tàn tật trung bình nhiều hơn một tí. Khoảng 33% người bệnh không sống sót. Một số ít còn sót lại phải chịu tình trạng thực vật kéo dài.

Các thống kê trên được phân tích trên người bệnh chấn thương đầu kín. So với chấn thương xuyên sọ, mà ngày nay thông dụng nhất là do súng, kết cục có nhiều hướng khác nhau. Hơn 50% người bệnh có vết thương đầu do súng còn sống khi tới phòng khám cũng không qua khỏi vì chấn thương ban đầu rất nặng. Tuy nhiên, hầu như các người bệnh còn sót lại có thiên hướng khá tốt, đa số là do chấn thương của họ khá nhẹ (điểm GCS 13-15). Tương đối ít người bệnh chấn thương mức độ trung bình (điểm GCS 9-12) do vết thương từ súng, nhưng này là nhóm có kết cục biến thiên nhiều nhất.

Mặc dù GOS hữu ích, nhưng đó không phải là dụng cụ tốt để đo lường các vấn đề về nhận thức hoặc xúc cảm tinh xảo. Trong thực tiễn, vài tháng sau chấn thương đầu nặng, các người bệnh có điểm GOS tốt có thể có suy nhược về tâm thần kinh đáng kể. Hiện tại đã có những nỗ lực nhắm tới những cách tốt hơn để nhận xét các vấn đề này, nhắm tới cải tổ chất lượng trước nhập viện, chăm sóc đợt cấp và phục hồi tính năng, và nhắm tới phân tích nhằm hiểu thêm về các hậu quả của chấn thương đầu và các lựa chọn điều trị tiềm năng.

Bảng 1: Thang điểm mê man Glasgow

Điểm
Thỏa mãn vận động
Thỏa mãn lời nói
Thỏa mãn mở mắt
6
Làm theo hướng dẫn của doctor
—–
—–

5
Thỏa mãn đúng đắn với kích thích
Có định hướng
—–

4
Thỏa mãn rút lui khỏi kích thích
Nói thạo, nhưng lẫn lộn
Mở mắt tự nhiên

3
Gồng tay
Nói từ hoặc cụm từ có nghĩa
Mở mắt khi gọi

2
Duỗi tay
Nói ú ớ
Mở mắt với kích thích đau

1
Không thỏa mãn
Không thỏa mãn
Nhắm mắt

Bảng 2: Thang điểm tiên lượng Glasgow

Kết cục
Điểm
Mô tả

Hồi phục tốt
5
Tàn tật nhẹ, nhưng có thể trở về cuộc sống bình thường.

Tàn tật trung bình
4
Tàn tật nặng hơn, nhưng vẫn có thể sống độc lập. Có thể dùng phương tiện giao thông công cộng, làm việc có trợ giúp,…

Tàn tật nặng
3
Tỉnh, nhưng phụ thuộc người khác trong sinh hoạt mỗi ngày. Thường sống trong trại từ thiện.

Trạng thái thực vật kéo dài
2
Mất ý thức, mặc dù mắt vẫn có thể mở và “dõi theo” chuyển động.

Tử vong
1

Nguồn:

Teasdale ₲, Jennett Ɓ. Assessment of coma and impaired consciousness. Lancet 1974; 81-84.

Teasdale ₲, Jennett Ɓ. Assessment and prognosis of coma after head injury. Acta Neurochir 1976; 34:45-55.

Phục hồi tính năng

Khi người bệnh chấn thương đầu được điều trị qua khỏi tình trạng cấp tính, có thể cần một chương trình phục hồi tính năng. Các đối tượng chính cần phục hồi tính năng là các người bệnh có chấn thương ban đầu không quá nghiêm trọng, hoặc các người bệnh đã khởi đầu hồi phục đáng kể. Trong một số trường hợp, có thể chuyển người bệnh đến một phòng khám phục hồi tính năng hoặc đến khoa phục hồi tính năng của một phòng khám lớn. So với người bệnh chấn thương nặng hơn hoặc quá trình hồi phục chậm, phải luôn thận trọng để tránh xuất hiện các vấn đề như vận động khớp, loét da, tình trạng hô hấp, nhiễm trùng, và các tính năng sinh lý khác. Các người bệnh chấn thương nhẹ hoặc vừa, cũng như chấn thương nặng đã cải tổ tốt, có thể được điều trị ngoại trú.

Hầu như các trung tâm điều trị chấn thương đầu đều lưu tâm các chương trình phục hồi, giúp người bệnh đạt được mức độ tính năng tốt nhất mà họ làm được. Khái niệm về tái huấn luyện nhận thức, trong đó giả thiết rằng tối thiểu một vài tính năng nhận thức của não có thể được hồi phục bằng cách lặp đi lặp lại một số thao tác đơn giản, còn đang gây tranh cãi nhưng cũng từng được lưu tâm ở nhiều trung tâm. Một mục đích trọng yếu khác của phục hồi tính năng sau chấn thương đầu là làm việc với gia đình người bệnh để hướng dẫn họ những gì có thể mong đợi và cách tốt nhất để họ trợ giúp người bệnh.

Những lời khuyên giúp phòng ngừa chấn thương đầu thông thường

  • Tránh để đồ vật bừa bãi trên sàn nhà, cầu thang.
  • Đặt thảm chùi chân không trơn trượt trong nhà tắm.
  • Lắp các thanh vịn, tay vịn nếu bạn lớn tuổi hoặc yếu.
  • Lắp tấm chắn cửa sổ để phòng ngừa té ngã.
  • Trong nhà nên đủ ánh sáng.
  • Luôn thắt dây an toàn mỗi khi lái xe hơi.
  • Không khi nào lái xe khi uống rượu hoặc ngồi trên xe của tài xế say rượu.
  • Tuân thủ mọi tín hiệu giao thông và xem xét xe cộ khi tham gia giao thông.
  • Đội nón bảo hiểm khi đi xe máy, xe đạp điện.
  • Tăng cường tuyên truyền giáo dục luật lệ an toàn giao thông trong toàn dân. Cần ý thức được rằng CTSN gây tàn phế cho bản thân, gia đình, xã hội.

Những lời khuyên giúp phòng ngừa chấn thương đầu do thể thao

  • Luôn dùng nón bảo hiểm hoặc dụng cụ bảo lãnh đầu cho các môn thể thao chuyên biệt.
  • Luôn luôn giám sát trẻ nhỏ, không cho chúng dùng các dụng rõ ràng thao hoặc chơi các môn thể thao không phù phù hợp với lứa tuổi.
  • Tuân thủ các quy tắc an toàn ở công viên nước, hồ bơi và các bờ biển công cộng.
  • Mặc trang phục thể thao thích hợp.
  • Không mặc trang phục có thể gây cản trở tầm nhìn.
  • Không chơi thể thao khi bị bệnh hoặc quá mệt.
  • Thường xuyên xác minh độ an toàn của sân và dụng rõ ràng thao.
  • Loại bỏ và thay thế các dụng rõ ràng thao hoặc đồ bảo lãnh bị hư hỏng.

Xem thêm bài Chấn thương đầu liên quan đến thể thao

Tài liệu tham khảo

http://www.aans.org/Patient%20Information/Conditions%20and%20Treatments/Traumatic%20Brain%20Injury.aspx

2. http://www.mayoclinic.org/diseases-conditions/traumatic-brain-injury/basics/prevention/con-20029302

3. http://www.mt.gov.vn/m/tin-tuc/1005/29742/ket-qua-phong-chong-tngt-duong-bo-tai-viet-nam-cua-nganh-y-te-va-ke-hoach-trien-khai-giai-doan-2011-2015.aspx

4. Các yếu tố rủi ro gây chấn thương sọ não do tai nạn giao thông tại Tp Hồ Chí Minh. Trương Văn Việt. У Học TP. Hồ Chí Minh, Tập 6, Phụ bản của Số 1, 2002: 14-20.

5. Nhận xét xử trí ban đầu trong chấn thương sọ não theo phân nhóm Masters tại khoa cấp cứu BVNĐ2 từ 2003-2005. Phan Thị Thanh Huyền, Bùi Văn Đỡ, Phạm Lê An. У Học TP. Hồ Chí Minh, Tập 10, Phụ bản Số 2, 2006: 107 – 112.

6. Tiên lượng chấn thương sọ não trong 48 giờ đầu bằng thang điểm Glasgow. Lê Hoàng Tùng Uyên, Trần Quang Vinh. У Học TP. Hồ Chí Minh, Tập 14, Phụ bản của Số 2, 2010: 639 – 642.


Xem thêm những thông tin liên quan đến đề tài hộp sọ chịu được lực bao nhiêu

Triệu chứng tăng stress nội sọ – Ngoại nền tảng 2

alt

  • Tác giả: Bài giảng y khoa
  • Ngày đăng: 2021-12-16
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 6788 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Các bài giảng do mình học và quay lại. Các bạn xem thì đăng kí kênh và like để mình có động lực úp các video tiếp theo nhá

Hộp sọ người có thể chịu được áp suất bao nhiêu?

  • Tác giả: vi.411answers.com
  • Nhận xét: 3 ⭐ ( 8972 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Một hộp sọ trung bình của nhân loại có thể chịu được lực nặng 520 pound trước khi bị nghiền nát. Xương người này cứng hơn thép và bê tông có cùng khối lượng và hầu như không thể bị nghiền nát trừ khi sử dụng …

Thanh ren M8 chịu tải tối đa được bao nhiêu?

  • Tác giả: thinhphatict.com
  • Nhận xét: 5 ⭐ ( 5751 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Thanh ren Thịnh Phát tại Hà Nội hay thường hay gọi là ty ren, ty treo máng cáp ( thread rod) là một trong những loại vật liệu phụ trợ nhưng có vai  vô cùng quan trọng trong thi công xây dựng, lắp ghép các cụ thể lại với nhau để  hoặc trong ngành nghề cơ khí chế tạo, nội thất, góp phần hoàn thiện sản phẩm. Cũng tương tự như

Bộ xương người làm mấy phần, có bao nhiêu chiếc & tính năng tổng thể

  • Tác giả: vinashin.com.vn
  • Nhận xét: 5 ⭐ ( 5363 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Bộ xương người là phòng ban cực kỳ quan trong trong thân thể chúng ra, nó đảm nhiệm nhiều công dụng quan trong từ vận động tới việc nâng đỡ thân thể.

Độ nén và cách đo độ nén của thùng carton

  • Tác giả: giaybaobitoancau.com
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 2525 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm:

Điều trị tăng stress nội sọ

  • Tác giả: www.vinmec.com
  • Nhận xét: 5 ⭐ ( 9147 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Tăng stress nội sọ là sự tăng trưởng stress xung quanh não bộ. Khi có triệu chứng của tăng stress nội sọ, nếu không được điều trị kịp thời có thể nguy hiểm đến tính mạng.

Xương sọ: Kết cấu hộp sọ người và thông tin cần biết

  • Tác giả: ihr.org.vn
  • Nhận xét: 5 ⭐ ( 6003 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Xương sọ là cấu trúc xương tạo thành cấu trúc ở phần đầu, bảo vệ não, cố định khoảng cách giữa mắt và tai để giúp não bộ xác nhận phương hướng

Xem thêm các nội dung khác thuộc thể loại: Khám Phá Khoa Học

Xem Thêm  Dạ yến thảo | Nguồn gốc, Đặc điểm & Cách trồng đơn giản - hoa dạ thảo

By ads_law