Bạn đang xem: chiến tranh mỹ tây ban nha

Chiến tranh Tây Ban Nha-Mỹ

Một phần của Cách mạng Philippines, Chiến tranh giành độc lập của Cuba

Một tranh vẽ của Frederic Remington diễn tả các quân sĩ Hoa Kỳ trong trận đánh tại Đồi San Juan, Cuba. Bức tranh này có tên gọi “Charge of the Rough Riders at San Juan Hill”.

Thời gian

25 tháng 4 – 12 tháng 8 năm 1898

Vị trí

Cuba, và Puerto Rico (vùng Carribean)
Quần đảo Philippine, và Guam (châu Á-Thái Bình Dương)

Kết quả

Hoa Kỳ thắng lợi

  • Hiệp định Paris (1898)
  • Chiến tranh Philippines-Mỹ

Thay đổi
lãnh thổ

Tây Ban Nha từ bỏ chủ quyền tại Cuba, nhượng lại Quần đảo Philippine, Puerto Rico, và Guam cho Hoa Kỳ với giá 20 triệu đô la.

Tham chiến

🇯🇵

🇯🇵
🇯🇵
Katipunan

Bản mẫu:Lá cờdeco Tây Ban Nha

  • Quân trung thành tại Cuba và Puerto Rico
  • Quân trung thành tại Philippine

Lãnh đạo và lãnh đạo

  • Bản mẫu:Lá cờdeco William McKinley
  • Bản mẫu:Lá cờdeco Nelson 𝓐. Miles
  • Bản mẫu:Lá cờdeco Theodore Roosevelt
  • Bản mẫu:Lá cờdeco William Ŕ. Shafter
  • Bản mẫu:Lá cờdeco George Dewey
  • Bản mẫu:Lá cờdeco William Sampson
  • Bản mẫu:Lá cờdeco Wesley Merritt
  • Bản mẫu:Lá cờdeco Joseph Wheeler
  • Bản mẫu:Lá cờdeco Charles 𝓓. Sigsbee
  • Bản mẫu:Lá cờdeco Máximo Gómez
  • Bản mẫu:Lá cờdeco Calixto García
  • Bản mẫu:Lá cờdeco Demetrio Castillo Duany
  • Bản mẫu:Lá cờdeco Emilio Aguinaldo
  • Bản mẫu:Lá cờdeco Apolinario Mabini
  • Bản mẫu:Lá cờdeco Baldomero Aguinaldo
  • Bản mẫu:Lá cờdeco Antonio Luna
  • Bản mẫu:Lá cờdeco Queen Maria Christina
  • Bản mẫu:Lá cờdeco Práxedes Mateo Sagasta
  • Bản mẫu:Lá cờdeco Patricio Montojo
  • Bản mẫu:Lá cờdeco Pascual Cervera
  • Bản mẫu:Lá cờdeco Arsenio Linares
  • Bản mẫu:Lá cờdeco Manuel de la Cámara
  • Bản mẫu:Lá cờdeco Manuel Macías
  • Bản mẫu:Lá cờdeco Marquess of Peña Plata
  • Bản mẫu:Lá cờdeco Antero Rubín
  • Bản mẫu:Lá cờdeco Duke of Rubí
  • Bản mẫu:Lá cờdeco José Toral y Velázquez
  • Bản mẫu:Lá cờdeco Basilio Augustín
  • Bản mẫu:Lá cờdeco Fermín Jáudenes
  • Bản mẫu:Lá cờdeco Diego de los Ríos

Lực lượng

Cộng hòa Cuba:

30.000 quân không chính quy

Hoa Kỳ:

300.000 quân chính quy và tự nguyện

208.812 – 278.447 quân chính quy và dân quân (Cuba),
10.005 quân chính quy và dân quân (Puerto Rico),
51.331 quân chính quy và dân quân (Philippines)

Thương vong và tổn thất

Cộng hòa Cuba:

10.665 chết

Hoa Kỳ:

345 chết,
1.645 bị thương,
2.565 bệnh tật

Hải quân Tây Ban Nha:

560 chết,
300–400 bị thương

Lục quân Tây Ban Nha:

6.700 bi bắt, (Philippines)
13.000 bệnh tật (Cuba)

Chiến tranh Tây Ban Nha–Mỹ là một cuộc xung đột quân sự giữa Tây Ban Nha và Hoa Kỳ xảy ra từ tháng tư đến tháng 8 năm 1898 vì các vấn đề giải phóng Cuba. Trận chiến khởi đầu sau khoảng thời gian Hoa Kỳ đòi hỏi phương án cho vấn đề đòi độc lập của Cuba mà Tây Ban Nha đã khước từ. Trí não của chủ nghĩa bành trướng lên cao tại Hoa Kỳ đã xúc tiến chính phủ lập một plan sáp nhập những lãnh thổ hải ngoại còn sót lại của Tây Ban Nha gồm có Philippines, Puerto Rico, và Guam.

Cuộc cách mạng tại La Habana đã khiến Hoa Kỳ gởi chiến hạm USS đến Cuba để tỏ thái độ quan tâm cao của Hoa Kỳ. Stress tăng trưởng trong lòng người Mỹ vì vụ nổ trên chiến hạm USS . Thêm vào đó, tạp chí khắp nơi tố cáo sự đàn áp của Tây Ban Nha tại các thuộc địa. Toàn bộ những điều này đã khuấy động công chúng Mỹ. Chiến tranh kết thúc sau những thắng lợi của Hoa Kỳ tại Quần đảo Philippine và Cuba.

Thắng lợi nhanh gọn của Hoa Kỳ trong trận chiến đã tăng trưởng trí não cũng như lòng tự tin và quyết đoán của người Mỹ. Ngày 10 tháng 12 năm 1898, việc ký kết Hiệp định Paris đã cho Hoa Kỳ quyền kiểm tra Cuba, Philippines, Puerto Rico, và Guam.

Hoàn cảnh lịch sử

Triết lí Monroe của thế kỷ 19 đã đóng vai trò nền tảng chính trị tại Hoa Kỳ trong việc ủng hộ sự tranh đấu giành độc lập của Cuba từ Tây Ban Nha. Cuba đã nhiều lần nổi lên tranh đấu giành quyền tự quyết của mình từ lúc có cuộc nổi dậy ở Yara vào năm 1868.

Cuba tranh đấu giành độc lập

Năm 1895, thuộc địa Cuba là nơi xảy ra một cuộc khởi nghĩa vũ trang nhỏ chống lại nhà cầm quyền Tây Ban Nha. Trợ giúp tài chánh cho lực lượng nổi dậy “Cuba Libre” tới từ các tổ chức bên ngoài thuộc địa, đặc biệt một số tổ chức có căn cứ tại Hoa Kỳ.

Năm 1896, thống đốc mới của Cuba, Tướng Valeriano Weyler, thề quyết đập tan quân nổi dậy bằng cách cô lập quân nổi dậy với dân chúng để làm hết sạch nguồn tiếp tế cho quân nổi dậy.

Đến cuối năm 1897, hơn 300.000 người Cuba đã bị di chuyển vào trong các trại tập trung do Tây Ban Nha kiểm tra. Những trại tập trung này trở thành những nơi dơ bẩn đói rách và bệnh tật khiến khoảng một trăm ngàn người chết.

Một trận chiến tuyên truyền được những người Cuba lưu vong tung ra tại Hoa Kỳ, tấn công việc đối xử vô nhân đạo của Weyler so với người dân Cuba. Trận chiến tuyên truyền này giành được sự thấu hiểu của phần lớn dân chúng tại Hoa Kỳ. Weyler bị các phóng viên tạp chí như William Randolph Hearst gọi là một tên “đồ tể”. Tạp chí Mỹ khởi đầu khích động cho một cuộc can thiệp với những mẩu truyện về những tội ác của Tây Ban Nha so với người dân Cuba.

Chiến hạm USS

Chiến hạm USS Maine vào cảng Havana ngày 25 tháng 1 năm 1898. Nó bị nổ tung 3 tuần sau đó

Vào tháng 1 năm 1898, những người Cuba trung thành với Tây Ban Nha gây ra một vụ náo động tại La Habana và đốt phá ba tòa báo địa phương. Những tòa báo này là những tòa báo thường chỉ trích Tướng Weyler. Các cuộc náo động kéo theo sự hiện diện của lực lượng Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ tại quần đảo mặc dù không có một cuộc tấn công nào nhắm vào người Mỹ trong suốt cuộc náo động. Tuy nhiên vẫn có mối quan tâm về tính mạng của người Mỹ sống tại La Habana. Mối quan tâm lo ngại của Hoa Kỳ là những người Cuba thiên Tây Ban Nha vì họ luôn để lòng thù hằn so với việc ủng hộ nền độc lập của Cuba ngày càng tăng trưởng tại Hoa Kỳ. Hoa Kỳ thông báo cho tổng lãnh sự của mình tại La Habana là Fitzhugh Lee rằng chiến hạm sẽ được phái đến để bảo vệ quyền lợi Hoa Kỳ nếu stress leo thang hơn.

Chiến hạm USS đến La Habana vào ngày 25 tháng 1 năm 1898. Chiến hạm ở lại này mà không có chuyện gì xảy ra cho đến tháng tiếp theo. Vào ngày 15 tháng 2 năm 1898 lúc 9:40 tối, chiến hạm chìm trong cảng La Habana sau một vụ nổ làm chết 266 thủy thủ. Người Tây Ban Nha cho rằng sự kiện này xảy ra là do một vụ nổ từ bên trong chiến hạm nhưng theo một bản giải trình của phía Mỹ thì cho rằng nó bị mìn đánh chìm.

Có đến bốn cuộc điều tra được tiến hành để xác nhận nguyên nhân gây ra vụ nổ. Toàn bộ các nhà điều tra đều mang ra các tổng kết khác nhau. Cả hai tổng kết điều tra của Tây Ban Nha và Mỹ đều đi theo hai hướng khác nhau. Một cuộc điều tra vào năm 1999 được ủy thác bởi và do Advanced Marine Enterprises tiến hành đã mang ra tổng kết rằng Tuy nhiên vẫn còn nhiều tranh cãi về chuyện gì đã làm cho chiến hạm bị nổ tung. Ý kiến của người Tây Ban Nha và những người Cuba trung thành tổng kết bằng một giả thuyết rằng Hoa Kỳ có thể đã cố ý gây ra vụ nổ để có cớ gây chiến với Tây Ban Nha.

Tình tiết kéo theo chiến tranh

Theo sau vụ chiến hạm bị nổ tung, những chủ tạp chí như William Randolph Hearst đã mang ra tổng kết rằng chính những quan chức Tây Ban Nha tại Cuba là những người phải phụ trách. Họ cho xuất bản giả thuyết này như một chứng cớ. Việc xuất bản tạp chí theo cảm quan của họ đã châm ngòi lửa giận dữ của người Mỹ với những bài tường trình ngạc nhiên nói về những hành động tàn nhẫn mà Tây Ban Nha thực hiện tại Cuba. Hearst đáp lại ý kiến của người vẽ tranh minh họa của ông là Frederic Remington rằng các điều kiện tại Cuba chưa quá tồi tệ để gây ra sự thù địch: “Anh cung cấp hình ảnh và tôi sẽ tạo ra chiến tranh.”
Bị kích động đến giận dữ, một phần bởi tin tức như vậy, dư luận quần chúng Mỹ kêu gào “Đừng quên chiến hạm Maine, đả đảo Tây Ban Nha!” Tổng thống William McKinley, Chủ tịch Hạ viện Thomas Brackett Reed và cộng đồng thương nghiệp chống đối lời mời chào chiến tranh ngày càng tăng trưởng của công chúng.

Bài phát biểu của Thượng nghị sĩ Redfield Proctor được đọc vào ngày 17 tháng 3 năm 1898 phân tích tỉ mỉ tình hình rồi tổng kết rằng chiến tranh là hành động thích hợp duy nhất. Nhiều người trong cộng đồng thương nghiệp và tôn giáo trước đó từng chống đối chiến tranh nay quay sang khuynh hướng ủng hộ, bỏ lại Tổng thống William McKinley và Chủ tịch Hạ viện Thomas Brackett Reed hầu hết đơn độc trong việc phản đối chiến tranh. Ngày 11 tháng 4 tổng thống McKinley xin phép Quốc hội Hoa Kỳ gởi quân đến Cuba với mục đích kết thúc nội chiến ở đó.

Xem Thêm  Vì sao chó sói Nhật tuyệt chủng? - chó sói nhật bản

Ngày 19 tháng 4, quốc hội thông qua nghị quyết chung ủng hộ nền độc lập của Cuba. Tuyên cáo bác bỏ bất kể ý định nào nhằm sáp nhập Cuba nhưng đòi hỏi Tây Ban Nha rút quân. Nghị quyết cũng cho phép tổng thống sử dụng toàn bộ lực lượng quân sự mà tổng thống cần để giúp Cuba giành độc lập từ Tây Ban Nha. Thượng viện Hoa Kỳ thông qua bản tu chính với 42 phiếu thuận và 35 phiếu chống vào ngày 19 tháng 4 năm 1898. Hạ viện Hoa Kỳ làm theo như vậy trong ngày hôm đó với 311 phiếu thuận và 6 phiếu chống. Tổng thống McKinley ký vào ngày 20 tháng 4 năm 1898 và tối hậu thư được gởi đến Tây Ban Nha. Để đáp lại, Tây Ban Nha cắt quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ và tuyên chiến vào ngày 23 tháng 4. Ngày 25 tháng 4, quốc hội tuyên bố tình trạng chiến tranh giữa Hoa Kỳ và Tây Ban Nha đã khởi sự từ ngày 20 tháng 4 (sau đó đổi thành ngày 21 tháng 4).

Các mặt trận

Thái Bình Dương

Philippines


Trận vịnh Manila, được phát họa bằng thạch bản bởi Butler, Thomas & Company năm 1899

Trận chiến trước tiên là ở vịnh Manila nơi mà vào ngày 1 tháng 5 năm 1898, phó đề đốc George Dewey lãnh đạo Hải đoàn Á châu của Hải quân Hoa Kỳ trên chiến hạm USS , chỉ trong vòng vài giờ, đã hạ gục hải đoàn Tây Ban Nha dưới quyền của đô đốc Patricio Montojo y Pasarón. Dewey giành được thắng lợi mà chỉ thiệt hại một quân sĩ. Tuy nhiên người này chết vì đau tim.

Vì người Đức giành được Thanh Đảo năm 1897 nên hải đoàn của Dewey trở thành lực lượng hải quân duy nhất tại Viễn Đông không có căn cứ địa phương cho chính mình. Điều này làm cho hải đoàn gặp vấn đề thiếu đạn dược và than đá. Mặc dù có vấn đề về tiếp liệu, Hải đoàn Á Châu không chỉ đánh chìm hạm đội Tây Ban Nha mà còn giành được cảng Manila.

Sau thắng lợi của Dewey, vịnh Manila tấp nập với nhiều chiến hạm của Vương quốc Anh, Đức, Pháp, và Nhật Bản; toàn bộ cộng lại hơn lực lượng của Dewey. Hạm đội của Đức với 8 chiến hạm, ngoại hình như có vẻ đến vùng biển Philippine để bảo vệ những quyền lợi của Đức (một hãng nhập khẩu duy nhất), đã hành động gây hấn—băng ngang trước mặt các chiến hạm Mỹ, từ chối chào quốc kỳ Mỹ (theo nghi thức lịch thiệp hàng hải), kéo còi trong cảng, và bốc dỡ đồ tiếp liệu cho quân Tây Ban Nha đang bị vây hãm. Người Đức với những quyền lợi riêng của mình rất hăng say lợi dụng bất kể thời cơ nào mà cuộc xung đột trên quần đảo có thể mang đến cho họ. Người Mỹ bắt mạch được ý đồ của người Đức liền đe dọa xung đột nếu các hành động gây hấn tiếp diễn, khiến người Đức nhượng bộ.

Phó đề đốc Dewey mang Emilio Aguinaldo đang lưu vong tại Hồng Kông về Philippines để tập hợp người Philippine chống lại chính quyền thuộc địa Tây Ban Nha. Hoa Kỳ đổ bộ lực lượng và người Philippine chiếm giữ phần lớn quần đảo vào tháng 6, trừ tp pháo đài Intramuros. Ngày 12 tháng 6 năm 1898, Aguinaldo tuyên bố Philippine độc lập.

Ngày 13 tháng 8, vì các tư lệnh Mỹ không biết lệnh ngừng bắn đã được ký kết giữa Tây Ban Nha và Hoa Kỳ trong ngày ngày hôm trước nên các lực lượng Mỹ tấn công và chiếm tp Manila từ tay Tây Ban Nha. Trận chiến này đánh dấu sự chấm hết hợp tác giữa Mỹ và Philippine khi lực lượng Philippine bị ngăn cản tiến vào tp Manila. Hành động này gây nên sự phẫn nộ sâu sắc trong lòng người Philippine và từ đó kéo theo cuộc Chiến tranh Philippine-Mỹ sau đó.

Guam

Đại tá hải quân Henry Glass đang có mặt trên tuần dương hạm USS khi ông mở mật lệnh và thu được chỉ thị tiến vào đảo Guam rồi chiếm giữ đảo. Ngay khi đến đó vào ngày 20 tháng 6, ông khai hỏa đại bác và bắn lên đảo. Một sĩ quan Tây Ban Nha thiếu trang bị, không biết là chiến tranh đã được tuyên bố, tiến về phía chiến hạm Mỹ và xin mượn ít thuốc nổ để bắn pháo đáp lại lời chào của người Mỹ. Glass liền bắt giữ viên sĩ quan này làm tù binh. Sau thời điểm hứa hẹn, viên sĩ quan này được lệnh quay trở lại đảo để thảo luận các điều kiện đầu hàng. Ngày ngày tiếp theo, 54 quân sĩ bộ binh Tây Ban Nha bị tóm gọn và quần đảo rơi vào tay Hoa Kỳ.

Vùng Caribbean

Cuba

Theodore Roosevelt (lúc này là phụ tá bộ trưởng Bộ Hải quân Hoa Kỳ) tích cực khích lệ can thiệp vào Cuba trong lúc đó ông đặt Hải quân Hoa Kỳ trong tình trạng thời chiến và chuẩn bị cho Hải đoàn Á châu của Dewey vào trận. Ông làm việc với Leonard Wood để thuyết phục lục quân tuyển mộ một trung đoàn gồm toàn những quân sĩ tự nguyện, này là trung đoàn Kị binh tự nguyện số 1. Wood được giao lãnh đạo trung đoàn này mà sau đó nhanh chóng được biết tới với tên gọi “Rough Riders”.

Người Mỹ hoạch định chiếm tp Santiago de Cuba để tiêu diệt lục quân của Linares và hạm đội của Cervera. Để đến Santiago, họ phải vượt qua các phòng tuyến dày đặc của quân Tây Ban Nha ở Đồi San Juan và một thị xã nhỏ tại El Caney. Các lực lượng Mỹ được quân nổi dậy người Cuba do tướng Calixto García lãnh đạo trợ giúp.

Chiến dịch trên bộ

Diễn tả cuộc tấn công của trung đoàn bộ binh 24 và trung đoàn bộ binh da màu 25 tại Đồi San Juan ngày 2 tháng 7 năm 1898

Giữa 22 tháng 6 và 24 tháng 6, Quân đoàn 𝒱 Hoa Kỳ dưới quyền tướng William Ŕ. Shafter đổ bộ ở Daiquirí và Siboney, phía đông Santiago, và thiết lập căn cứ hành quân của Mỹ. Một toán quân Tây Ban Nha đánh tẻ quân Mỹ gần Siboney vào ngày 23 tháng 6 rút lui về các vị trí giao thông hào đơn giản tại Las Guasimas. Một nhà cung cấp tiền phương của lực lượng Mỹ dưới quyền cựu tướng phe miền nam thời nội chiến là tướng Joseph Wheeler không nghe theo lời hướng dẫn của nhóm trinh sát người Cuba và sai khiến tiến công một cách cảnh giác. Họ đụng độ và giao chiến với toán quân đi sau của Tây Ban Nha trong trận Las Guasimas vào ngày 24 tháng 6. Trận chiến kết thúc không phân thắng bại với phần lợi nghiêng về phía Tây Ban Nha. Quân Tây Ban Nha bỏ Las Guasimas theo plan rút lui về Santiago.

Lục quân Hoa Kỳ dùng những người chuyên đánh tẻ thời Nội chiến Hoa Kỳ tiên phong những mũi tiên phong. Toàn bộ bốn quân sĩ tự nguyện tiên phong các mũi tiến công đều bị giết chết. Trận Las Guasimas chứng tỏ cho Hoa Kỳ thấy rằng các chiến thuật thời nội chiến không còn hiệu quả để chống lại quân Tây Ban Nha là những người đã học hỏi được kinh nghiệm ẩn núp từ cuộc vật lộn của chính họ với quân nổi dậy Cuba và không khi nào để lộ vị trí của họ trong lúc phòng thủ. Quân Tây Ban Nha cũng được trợ giúp vào lúc đó bởi thuốc súng mới không khói mà khi họ bắn ra cũng không để lại dấu vết. Quân Mỹ chỉ có thể tiến công quân Tây Ban Nha bằng cách sử dụng nhóm 4 đến 5 người tiến công trong lúc những người khác toạ lạc chỗ bắn yểm trợ.

Ngày 1 tháng 7, một lực lượng hỗn hợp khoảng 15.000 quân sĩ Mỹ gồm các trung đoàn bộ binh, kị binh và tự nguyện trong đó có Roosevelt và nhóm “Rough Riders” của ông (đáng lưu ý là Trung đoàn 71 New York, Trung đoàn 1 North Carolina, Trung đoàn 23 và Trung đoàn da màu 24 cùng các lực lượng nổi dậy người Cuba) tấn công 1.270 quân Tây Ban Nha phòng thủ dưới hào bằng các cuộc tấn công đương đầu nguy hiểm kiểu Nội chiến Hoa Kỳ trong trận El Caney và trận San Juan Hill bên ngoài Santiago. Hơn 200 quân sĩ Hoa Kỳ thiệt mạng và gần 1.200 quân sĩ khác bị thương trong những trận đánh này. Hỏa lực yểm trợ từ các súng Gatling là mấu chốt thành công trong tấn công. Hai ngày sau đó Cervera quyết định bỏ Santiago.

Các lực lượng Tây Ban Nha tại Guantánamo cũng bị Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ và các lực lượng nổi dậy Cuba cô lập đến nổi không biết là Santiago đang bị vây hãm, và các lực lượng của họ ở phía bắc tỉnh cũng không chọc thủng các phòng tuyến Cuba. Tuy nhiên, lực lượng tiếp viện của Escario từ Manzanillo đã đánh vượt qua sự phản kháng quyết liệt của Cuba nhưng đến nơi quá trễ để tham gia giải cứu cuộc vây hãm.

Xem Thêm  Vector & Png tải xuống miễn phí - Pikbest - hình bông tuyết

Sau các trận đánh Đồi San Juan và El Caney, cuộc tiến công của Mỹ dừng lại. Quân Tây Ban Nha thành công bảo vệ Đồn Canosa. Việc này giúp họ bình ổn phòng tuyến của họ và chặn đường vào Santiago. Quân Mỹ và Cuba buộc phải khởi đầu một cuộc vây hãm đổ máu và bóp nghẹt tp. Trong đêm, quân Cuba đào hàng loạt các giao thông hào về phía các vị trí của Tây Ban Nha. Sau thời điểm hoàn thiện, các giao thông hào này được giao cho các quân sĩ Hoa Kỳ và rồi một loạt giao thông hào mới được đào tiến về phía trước. Quân Mỹ trong lúc bị tổn thất mỗi ngày vì hỏa lực và bị bắn tỉa từ quân Tây Ban Nha lại tổn thất nhiều sinh mạng hơn vì kiệt sức do nắng gây ra và bệnh sốt rét. Tại vùng ven phía tây tp, tướng Cuba là Calixto Garcia khởi đầu công phá tp, làm cho các lực lượng Tây Ban Nha hoảng sợ và sợ hãi bị trả thù.

Các chiến dịch trên biển


Tuần dương hạm Tây Ban Nha bị phá hủy trong trận Santiago ngày 3 tháng 7 năm 1898.

Cảng lớn Santiago de Cuba là mục tiêu chính của các chiến dịch trên biển trong suốt thời gian chiến tranh. Hạm đội của Hoa Kỳ tấn công Santiago phải có nơi trú ẩn để tránh mùa bão Đại Tây Dương. Vì vậy vịnh Guantánamo với hải cảng tốt đã được chọn cho mục đích này. Cuộc tiến công chiếm vịnh Guantánamo xảy ra vào ngày 6 tháng 6–10 tháng 6 năm 1898, ban đầu bằng cuộc tấn công của hải quân và sau này là cuộc đổ bộ thủy quân lục chiến thành công với sự yểm trợ của hải quân.

Trận Santiago de Cuba vào ngày 3 tháng 7 năm 1898 là trận hải chiến lớn nhất trong Chiến tranh Tây Ban Nha–Mỹ. Kết quả là Hải đoàn Caribbean của Tây Ban Nha (cũng còn được biết tên là ) bị tiêu diệt. Vào tháng 5 năm 1898, hạm đội Tây Ban Nha của đô đốc Pascual Cervera y Topete ban đầu được phát hiện nằm trong cảng Santiago là nơi hạm đội của ông trú ẩn tránh bị tấn công từ biển. Các lực lượng Tây Ban Nha và Mỹ đối đầu nhau trong khoảng 2 tháng. Khi hải đoàn Tây Ban Nha tìm cách rời cảng ngày 3 tháng 7, lực lượng Mỹ tiêu diệt hoặc làm mắc cạn 5 trong số 6 chiến hạm. Chỉ một chiến hạm Tây Ban Nha là tuần dương hạm mới và có vận tốc nhanh thoát nạn nhưng thuyền trưởng của chiến hạm này kéo cờ mình xuống và tự đánh đắm chiến hạm của mình khi lực lượng Mỹ cuối cùng đuổi theo kịp. 1.612 thủy thủ Tây Ban Nha gồm cả đô đốc Cervera bị tóm gọn và bi mang đến đảo Seavey, Kittery, Maine nơi họ bị giam giữ từ 11 tháng 7 cho đến giữa tháng 9.

Trong suốt cuộc đối đầu, trợ lý công binh Hải quân Hoa Kỳ là Richmond Pearson Hobson được lệnh của chuẩn đô đốc William Ƭ. Sampson đánh chìm chiến hạm của mình trong cảng để khóa chặt hạm đội Tây Ban Nha bên trong. Nhiệm vụ thất bại. Hobson và thủy thủ của ông bị tóm gọn. Họ được trao đổi tù binh vào ngày 6 tháng 7. Hobson trở thành người hùng quốc gia và nhận Huân chương Danh dự vào năm 1933 rồi trở thành một dân biểu.

Puerto Rico


Trung đoàn tự nguyện Kentucky số 1 của Hoa Kỳ tại Puerto Rico, 1898.

Trong tháng 5 năm 1898, trung úy Henry Н. Whitney thuộc đại đội pháo binh số 4 của Hoa Kỳ được phái đến Puerto Rico trong một sứ mệnh trinh thám. Ông phân phối bản đồ và các thông tin có liên quan đến lực lượng quân sự Tây Ban Nha về cho chính phủ Hoa Kỳ trước khi cuộc xâm chiếm Puerto Rico.

Ngày 10 tháng 5, các chiến hạm Hoa Kỳ xuất hiện ngoài duyên hải Puerto Rico. Ngày 12 tháng 5, một hải đoàn gồm 12 chiến hạm Hoa Kỳ do chuẩn đô đốc William Ƭ. Sampson lãnh đạo bắn phá San Juan. Suốt cuộc bắn phá, nhiều tòa nhà chính phủ bị trúng đạn. Ngày 25 tháng 6, chiến hạm phong tỏa cảng San Juan. Ngày 25 tháng 7, tướng Mỹ Nelson 𝓐. Miles cùng với 3.300 quân sĩ đổ bộ ở Guánica, và Chiến dịch Puerto Rico khởi đầu. Quân Mỹ gặp phải sự chống trả ngay lúc đầu cuộc xâm chiếm.

Trận chạm trán trước tiên giữa quân Mỹ và Tây Ban Nha xảy ra tại Guanica. Cuộc phản kháng bằng vũ trang có tổ chức trước tiên xảy ra tại Yauco mà sau này được nhắc đến với tên gọi trận đánh Yauco. Theo sau trận đánh này là các trận đánh Fajardo, Guayama, cầu sông Guamani, Coamo, Silva Heights và cuối cùng là trận Asomante. Ngày 9 tháng 8 năm 1898, bộ binh và kị binh Mỹ đụng độ với quân Tây Ban Nha và quân trung thành Puerto Rico được trang bị với đại bác trên một ngọn núi có tên trong lúc quân Mỹ tìm cách tiến vào Aibonito. Các tư lệnh Mỹ quyết định rút lui và tập hợp lại để quay trở lại vào ngày 12 tháng 8 năm 1898 cùng với một nhà cung cấp pháo binh. Các nhà cung cấp Tây Ban Nha và quân trung thành người Puerto Rico khởi đầu phản công bình hỏa lực đại bác do Ricardo Hernáiz lãnh đạo.

Trong làn lửa đạn, bốn quân sĩ Mỹ là trung sĩ John Long, trung úy Harris, đại úy E.Ƭ. Lee và hạ sĩ Oscar Sawanson — bị thương nặng. Dựa vào thực tiễn này và các giải trình về việc những toán quân Tây Ban Nha đang trên đường đến tăng viện, tư lệnh Landcaster sai khiến rút lui. Toàn bộ các hoạt động quân sự trên đảo Puerto Rico bị đình chỉ sau đó trong đêm hôm đó sau khoảng thời gian Hiệp định Paris được thông báo.

Hiệp định hòa bình

Với những cuộc bại trận tại Cuba và Philippines, cả hai hạm đội của họ bị vô hiệu hóa nên Tây Ban Nha mời chào hội thoại hòa bình.

Sự thù địch chấm hết ngày 12 tháng 8 năm 1898 bằng việc ký kết một nghị định hòa bình giữa Hoa Kỳ và Tây Ban Nha tại Washington 𝓓.¢.. Hiệp định hòa bình chính thức được ký tại Paris ngày 10 tháng 12 năm 1898 và được Thượng viện Hoa Kỳ phê duyệt ngày 6 tháng 2 năm 1899. Nó có hiệu lực vào ngày 11 tháng 4 năm 1899. Phía người Cuba tham gia với tư cách xem xét viên.

Thắng lợi chóng vánh của Hoa Kỳ trong trận chiến, được Ngoại trưởng John Hay mô tả là , đã mang lại trí não phấn khởi, khích lệ chí khí, niềm tự tin và quyết đoán của người Mỹ. Hoa Kỳ giành được hầu hết toàn bộ các thuộc địa của Tây Ban Nha vào thời đó, gồm có Philippines, Guam, và Puerto Rico. Riêng Cuba, bị Hoa Kỳ chiếm đóng cho đến ngày 17 tháng 7 năm 1898, được thành lập chính phủ dân sự của chính mình và sau đó được Hoa Kỳ trao trả độc lập ngày 20 tháng 5 năm 1902. Tuy nhiên Hoa Kỳ áp đặt một số điều kiện hạn chế đối chính phủ mới của Cuba trong đó gồm có việc Cuba không được liên minh với các quốc gia khác và Hoa Kỳ giành quyền can thiệp vào Cuba cho chính mình. Hoa Kỳ cũng thiết lập hợp đồng thuê mướn vĩnh viễn Vịnh Guantanamo.

Ngày 14 tháng 8 năm 1898, 11.000 quân sĩ bộ binh được mang đến chiếm đóng Philippines. Khi quân Mỹ khởi đầu thay thế Tây Ban Nha kiểm tra Philippines thì chiến tranh lại bùng phát giữa các lực lượng Hoa Kỳ và Philippines kéo theo Chiến tranh Philippine-Mỹ.

Phim ảnh và truyền hình về Chiến tranh Tây Ban Nha-Mỹ

  • , một phim câm năm 1927
  • , phim bộ truyền hình năm 1997 do John Milius đạo với các diễn viên Tom Berenger trong vai Theodore Roosevelt, Gary Busey vai Joseph Wheeler, Sam Elliott vai Bucky Σ’Neill, Dale Dye vai Leonard Wood, Brian Keith vai William McKinley, George Hamilton vai William Randolph Hearst, và Ŕ. Lee Ermey vai John Hay
  • , phim tài liệu năm 2007 docudrama trên kênh The History Channel

Ghi chú

Tham khảo

  • Benjamin Ŕ. Beede, ed. (1994). An encyclopedia.
  • Dyal, Donald Н (1996), , Greenwood Press, ISBN 0313288526 Đã bỏ qua tham số không rõ |coauthors= (gợi ý |author=) (trợ giúp)

  • Gatewood, Willard Ɓ. (1975), , University of Illinois Press, ISBN 0252004752

  • Hendrickson, Kenneth E., Jr. Greenwood, 2003. short summary
  • Trask, David ₣. (1996), , ISBN 0803294298

Tìm hiểu thêm

Ngoại giao và nguyên nhân chiến tranh

  • James ¢. Bradford, ed., (1993), essays on diplomacy, naval and military operations, and historiography.
  • Lewis Gould, (1982)
  • Philip Ş. Foner, (1972)
  • Richard Hamilton, (2006).
  • Kristin Hoganson, (1998)
  • Paul Ş. Holbo, “Presidential Leadership in Foreign Affairs: William McKinley and the Turpie-Foraker Amendment,” 1967 72(4): 1321-1335.
  • Walter LaFeber, (1963)
  • Ernest May, (1961)
  • Paul Ƭ. McCartney, (2006)
  • Richard Н. Miller, ed., American Imperialism in 1898: The Quest for National Fulfillment (1970)
  • Walter Millis, (1931)
  • Н. Wayne Morgan, (1965)
  • John ɭ. Offner, (1992).
  • John ɭ. Offner, “McKinley and the Spanish-American War” 2004 34(1): 50–61. ISSN 0360-4918
  • Louis 𝓐. Perez, Jr., “The Meaning of the Maine: Causation and the Historiography of the Spanish-American War,” 1989 58(3): 293-322.
  • Julius 𝒲. Pratt, (1936)
  • Thomas Schoonover, (2003)
  • John Lawrence Tone, (2006)
  • David ₣. Trask, (1996)
  • Fareed Zakaria, (1998)

Chiến tranh

  • Donald Barr Chidsey, The Spanish American War (New York, 1971)
  • Cirillo, Vincent Ĵ. (2004)
  • Graham 𝓐. Cosmas, (1971)
  • Philip Sheldon Foner, The Spanish-Cuban-American war and the birth of American imperialism (1972)
  • Frank Freidel, (1958), well illustrated narrative by scholar
  • Allan Keller, (1969)
  • Gerald ₣. Linderman, (1974), domestic aspects
  • Joseph Smith, The Spanish-American War: Conflict in the Caribbean and the Pacific (1994)
  • ₲. Ĵ. 𝓐. Σ’Toole, (1984)
  • John Tebbel, (1996)

Phân tích lịch sử

  • Duvon ¢. Corbitt, “Cuban Revisionist Interpretations of Cuba’s Struggle for Independence,” 32 (tháng 8 năm 1963): 395-404.
  • Edward Ρ. Crapol, “Coming to Terms with Empire: The Historiography of Late-Nineteenth-Century American Foreign Relations,” 16 (Fall 1992): 573-97;
  • Hugh DeSantis, “The Imperialist Impulse and American Innocence, 1865–1900,” in Gerald ₭. Haines and Ĵ. Samuel Walker, eds., (1981), pp. 65–90
  • James 𝓐. Field Jr., “American Imperialism: The Worst Chapter in Almost Any Book,” 83 (June 1978): 644-68, past of the “AHR Forum,” with responses
  • Joseph 𝓐. Fry, “William McKinley and the Coming of the Spanish American War: A Study of the Besmirching and Redemption of an Historical Image,” 3 (Winter 1979): 77-97
  • Joseph 𝓐. Fry, “From Open Door to World Systems: Economic Interpretations of Late-Nineteenth-Century American Foreign Relations,” 65 (tháng 5 năm 1996): 277-303
  • Thomas ₲. Paterson, “United States Intervention in Cuba, 1898: Interpretations of the Spanish-American-Cuban-Filipino War,” 29 (tháng 5 năm 1996): 341-61;
  • Louis 𝓐. Pérez Jr.; University of North Carolina Press, 1998
  • Ephraim ₭. Smith, “William McKinley’s Enduring Legacy: The Historiographical Debate on the Taking of the Philippine Islands,” in James ¢. Bradford, ed., (1993), pp. 205–49
  • Richard 𝒲. Stewart, General Editor, Ch. 16, Transition, Change, and the Road to war, 1902-1917″, in “American Military History, Volume I: The United States Army and the Forging of a Nation, 1775-1917”, Center of Military History, United States Army, ISBN 0-16-072362-0
  • Spencer Tucker, , Tập 1, ABC-CLIO, 20-05-2009. ISBN 1851099514.

Những hồi ký

  • Funston, Frederick. Memoirs of Two Wars, Cuba and Philippine Experiences. New York: Charles Schribner’s Sons, 1911
  • Ghi chú của Bộ Quân sự Hoa Kỳ về Cuba. 2 vôn. Washington, DC: GPO, 1898.
  • Người lái xe, Joseph. Chiến dịch Santiago, 1898. Lamson, Wolffe, Boston 1898.
  • kaylaMagazine. Mối nguy hiểm của Evangelina. Tháng 2 năm 1968.
  • Cull, и. Ĵ., Culbert, 𝓓., Welch, 𝓓. Tuyên truyền và thuyết phục quần chúng: 𝓐 Lịch sử Bách khoa toàn thư, 1500 cho đến nay. Chiến tranh Tây Ban Nha-Mỹ. Denver: ABC-CLIO. 2003. 378-379.
  • Daley, ɭ. (2000), “Canosa ở Cuba năm 1898”, trong Aguirre, Ɓ. E.; Espina, E. (chỉnh sửa), Santiago de Chile: RiL Editores, ISBN 9562841154

  • Ensayos sobre la Guerra Hispano-Cubana-Estadounidense. 2000.
  • Davis, Ŕ. Н. Tạp chí New York. Lá cờ của tất cả chúng ta có che đậy cho phụ nữ không? 13 tháng 2 1897.
  • Tạp chí Duval, ¢. New York. Evengelina Cisneros được The Journal giải cứu. 10 tháng 10 năm 1897.
  • Kendrick ʍ. Tạp chí New York. Tốt hơn là cô ấy chết sau đó đến được Ceuta. 18 tháng 8 1897.
  • Kendrick, ʍ. New York Journal. Nữ liệt sĩ Cu Ba. 17 tháng 2 1897.
  • Kendrick, ʍ. New York Journal. Tây Ban Nha đấu giá các cô gái Cuba. 12 tháng 2 1897.
  • McCook, Henry Christopher (1899), ₲. 𝒲. Jacobs & amp; Co.

  • Muller y Tejeiro, Jose. Phối hợp y Capitulacion de Santiago de Cuba. Marques, Madrid: 1898. 208 tr. Bản dịch tiếng Anh của Bộ Hải quân Hoa Kỳ
  • Đồ dơ bẩn, Tim. “Phim Chiến tranh và Chống Chiến tranh”. . Đã bỏ qua không rõ tham số | accessyear = (gợi ý | access-date = ) (help); Unknown tham số đã bỏ qua | accessmonthday = (help)

  • Triển lãm Thống kê của Văn phòng Phụ tá về Sức mạnh của Lực lượng Tự nguyện Được gọi Nhập ngũ Trong Chiến tranh Với Tây Ban Nha; với Tổn thất Từ Mọi Nguyên nhân. Washington: Văn phòng In ấn Chính phủ, 1899.

Bên ngoài link

  • Hoạt động của Lực lượng Tín hiệu Hoa Kỳ cắt và chuyển hướng cáp điện báo dưới biển khỏi Cuba
  • Hướng dẫn của Thư viện Quốc hội về Chiến tranh Tây Ban Nha-Mỹ
  • (Headline, NY Times, 24 tháng 4 năm 1898)
  • Sự nổi lên thành quyền lực toàn cầu, 1898–1902 (trích từ Lịch sử quân sự Hoa Kỳ của Matloff)
  • Người Mỹ gốc Tây Ban Nha trong Quân đội Hoa Kỳ
  • Sự nổi lên thành quyền lực toàn cầu, 1898–1902 (trích từ Lịch sử quân sự Hoa Kỳ – sửa đổi 2005)
  • Những người lính trâu ở Đồi San Juan
  • Thúc đẩy đến Quân đội Tây Ban Nha của Charles Hendricks
  • Black Jack ở Cuba — Sự phục vụ của Tướng John Ĵ. Pershing trong Chiến tranh Tây Ban Nha-Mỹ, bởi Kevin Hymel
  • Kỷ niệm một năm Chiến tranh Tây Ban Nha-Mỹ 1898–1998 bởi Lincoln Cushing
  • Toàn cầu năm 1898: Chiến tranh Tây Ban Nha-Mỹ – Phòng ban Tây Ban Nha của Thư viện Quốc hội Mỹ
  • Bản in của William Glackens tại Thư viện Quốc hội Mỹ
  • Một trăm năm chiến tranh Tây Ban Nha-Mỹ
  • Những điểm tranh chấp về thắc mắc ở Cuba và chủ quyền của Cuba
  • Hình ảnh về Florida và trận chiến giành độc lập của Cuba, năm 1898 từ kho lưu trữ của bang Florida
  • Đóng góp của từng bang cho Chiến tranh Tây Ban Nha-Mỹ: Illinois Lưu trữ 2005-01-21 tại Wayback Machine, Pennsylvania
  • Con trai của cựu chiến binh người Mỹ gốc Tây Ban Nha
  • Từ ‘Dagoes’ đến ‘Nervy Spaniards,’ American Soldiers ’Views về đối thủ của họ, năm 1898 của Albert Nofi
  • , của Edward Augustus Johnston, xuất bản năm 1899, được tổ chức bởi Cổng thông tin Lịch sử Texas.
  • Tối hậu thư cho Filipinas
  • The War of 98 (The Spanish-American War) Lưu trữ 2008-11-02 tại Wayback Machine Trận chiến giữa người Mỹ và người Tây Ban Nha từ hướng nhìn của người Tây Ban Nha (bằng tiếng Anh).
  • Quân đoàn y tá trong chiến tranh
  • Văn nghệ và hình ảnh
  • Chỉ mục tên cho New York trong Chiến tranh Tây Ban Nha-Mỹ 1898
  • 1898: Bài báo El Ocaso de un Imperio bằng tiếng Tây Ban Nha về các hoạt động hải quân trong trận chiến tranh Tây Ban Nha-Mỹ.
  • Bộ sưu tập ảnh Chiến tranh Tây Ban Nha-Mỹ, qua Thư viện Kỹ thuật số Calisphere, California

—end—


Xem thêm những thông tin liên quan đến đề tài chiến tranh mỹ tây ban nha

Tin tiên tiến nhất 22/4 | Ukraine dọa tấn công cây cầu ‘phòng thủ mạnh nhất’ của Nga | FBNC

alt

  • Tác giả: FBNC Vietnam
  • Ngày đăng: 2022-04-22
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 6764 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Latest News 4/22
    Ukraine threatens to attack Russia’s ‘strongest defense’ bridge

    SPUTNIK: UKRAINE Strikes Russia’s ‘Strongest Defensive’ Bridge
    CHECHNYA LEADERS: ‘MARIUPOL IS OUR, RUSSIA IS CONTROLLED’
    CODE: TT PUTIN’Ş MARIUPOL’Ş MARIUPOL’Ş DECLARATION IS FAKE NEWS, 𝓐 FAMILY PLAN
    SANITATE IMAGES DISCOVER HUNDREDS of Graves Just Appeared Near MARIUPOL
    TT ZELENSKY: UKRAINE NEED HUNDREDS OF BILLIONS OF USD TO RECONCERN AFTER THE WAR
    SPAIN SUPPORTS WEAPONS TO UKRAINE, PROMISES TO HELP Investigating War Crimes
    MILITARY OFFICIALLY affirms that the new era of NATO has begun
    FIRE AT RUSSIA ROOM RESEARCH INSTITUTE causes major injury and death
    UK PM EXPRESSES EXPECTATIONS ON FREE TRADE AGREEMENT WHEN VISITING INDIA
    HONG KONG relaxes restrictions after 4 months of pandemic crisis
    ——————–
    FBNC (Financial Business News Channel) is α news channel specializing in economics – finance, real estate, securities – stocks, gold price updates, world news, 24h news, etc. With the desire to update information accurate and fastest news for you and your friends.!
    – Subscribe to the channel to follow the latest news: http://popsww.com/FBNC
    – FBNC Entertainment: https://www.youtube.com/channel/UCuaJrKvyn6VyJVXVUcFhHng
    FBNC communication channel:
    – Fanpage: https://www.facebook.com/tinhtetaichinhtvng
    – Group discussion, breaking news: https://www.facebook.com/groups/1126276091226217
    – Zalo: https://zalo.me/fbncvn
    – Website: http://fbncvietnam.com/
    – Thư điện tử: contact@fbnc.vn
    —————
    FBNC
    INTELLIGENT CURRENCY – SMART LIFE
    tintucfbnc tinnong tinmoinhat

Chiến tranh Tây Ban Nha–Mỹ – Wikipedia tiếng Việt

  • Tác giả: muahanghoa.com
  • Nhận xét: 5 ⭐ ( 8612 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm:

Mỹ tuyên chiến với Tây Ban Nha và trận chiến tranh 1898

  • Tác giả: dichthuatlightway.com
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 7099 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Nội dung nói về Trận chiến tranh Tây Ban Nha – Mỹ, xảy ra vào cuối thế kỷ thứ 18 trong nhiệm kỳ tổng thống của William McKinley.

Chiến tranh Tây Ban Nha–Mỹ

  • Tác giả: wiko.wiki
  • Nhận xét: 3 ⭐ ( 4949 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Ngày 14 tháng 8 năm 1898, 11.000 quân sĩ bộ binh được mang đến chiếm đóng Philippines. Khi quân Mỹ khởi đầu thay thế Tây Ban Nha kiểm tra Philippines thì chiến tranh lại bùng phát giữa các lực lượng Hoa Kỳ và Philippines kéo theo Chiến tranh Philippine-Mỹ.

Theodore Roosevelt và trận chiến tranh Tây Ban Nha – Mỹ

  • Tác giả: blog.youre.vn
  • Nhận xét: 3 ⭐ ( 1599 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Những hành động của Theodore Roosevelt trong suốt trận chiến đã để lại cho đấng mày râu không ít bài học về tuyệt kỹ lãnh đạo

Chiến tranh Tây Ban Nha–Mỹ – Là gì Wiki

  • Tác giả: wiki.edu.vn
  • Nhận xét: 3 ⭐ ( 8279 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm:

Trận San Juan Hill: Lịch sử chiến tranh Tây Ban Nha-Mỹ

  • Tác giả: vi.eferrit.com
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 1315 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm:

Xem thêm các nội dung khác thuộc thể loại: Khám Phá Khoa Học

Xem Thêm  Cận cảnh loài ếch mặt rắn thân giun ở Việt Nam - ếch giun

By ads_law