Bạn đang xem: chien tranh the gioi lan 1

(Last Updated On: 16/02/2022)

Ι – Nguyên nhân và tính chất của trận chiến tranh toàn cầu lần thứ nhất

1. Nguyên nhân

Trận chiến tranh toàn cầu lần thứ nhất là kết quả tất nhiên của sự phát triển kinh tế, chính trị của chủ nghĩa tư bản toàn cầu vào những năm đầu thế kỷ XX. Từ cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản đã phát triển tới thời kỳ mới – thời kỳ đế quốc chủ nghĩa.

Quy luật phát triển không đều giữa các nước thúc đẩy mạnh mẽ vào các mặt của đời sống xã hội. Một số nước đi vào đoạn đường tư bản chủ nghĩa muộn, nhưng phát huy được những lợi thế riêng và lợi dụng được những thành tựu khoa học kỹ thuật nên đã có độ tăng trưởng nhảy vọt, vượt qua các nước tư bản cũ. Vào năm 1860, Anh và Pháp đứng đầu và thứ hai trong nền sản xuất công nghiệp toàn cầu, nhưng đến năm 1913, Mỹ và Đức lại chiếm địa vị đó.

Những nước phát triển sau phải có thị trường trong lúc những nước đi trước tuy đã sở hữu một số lớn thuộc địa, nhưng vẫn muốn chiếm thêm thị trường mới. Nhưng toàn cầu đã bị chia xong, không còn tồn tại “chỗ trống” như trong thế kỷ trước đó nữa. Do đó, nổ ra trận đấu tranh gay gắt giữa các nước đế quốc để giành giật của nhau thị trường, thuộc địa và phân tách lại toàn cầu. Những trận đấu tranh ấy đã khởi đầu diễn ra từ những năm cuối của thế kỷ XIX và đầu thế kỷ thứ XX: chiến tranh Mỹ-Tây Ban Nha (1898), chiến tranh Anh-Bôơ (1899-1902), chiến tranh Nga-Nhật (1904-1905).

Sự tranh giành thị trường và thuộc địa giữa các nước đế quốc tất yếu mang tới việc gây chiến tranh với nhau để chia lại đất đai trên toàn cầu. Đế quốc Đức hung hăng nhất vì Đức có tiềm lực kinh tế và quân sự nhưng lại có ít thuộc địa. Từ đó, ở châu Âu tạo dựng 2 tập đoàn gây chiến, chống đối nhau: một bên là Đức, Áo – Hung và Thổ Nhĩ Kỳ; một bên là Anh, Pháp, Nga. Cả hai tập đoàn đều ôm mộng xâm lược và điên cuồng chạy đua vũ trang.

Khi phát động chiến tranh toàn cầu lần thứ nhất, đế quốc Đức muốn tiêu diệt kẻ kình địch của mình là Anh, Pháp và Bỉ để chiếm thuộc địa của các nước đó, làm suy yếu Nga hoàng, giật lấy Ba Lan, Ucraina và miền gần biển Ban Tích; Áo-Hung thì muốn chiếm Xécbi; Thổ thì mơ tưởng xâm chiếm miền Tơrăng Cápca của Nga. Còn phe đối lập thì Anh muốn quấy tan Đức, để tiêu diệt kẻ đối thủ nguy hiểm nhất trên thị trường toàn cầu, giật của Thổ miền Mêdôpôtami và Palétxtin, củng cố địa vị của mình ở Ai Cập; Pháp mong lấy lại miền Andát và Lôren đã bị Đức chiếm trước đó và xâm chiếm khu vực sông Xarơ; Nga muốn sáp nhập Galixi vào mình, phân tách Thổ Nhĩ Kỳ, xâm chiếm Côngxtăngtinốp và eo biển Hắc Hải.

Nhật tham chiến đứng về phía Anh với mục đích chiếm các thuộc địa của Đức ở Thái Bình Dương và lợi dụng cuộc tranh chấp giữa các nước đế quốc để củng cố địa vị ở Trung Quốc. Ý lúc đầu ngả nghiêng giữa hai khối, đã tham gia liên minh Đức và Áo-Hung sau được Anh-Pháp-Nga hứa hẹn nhiều nên ngả theo. Còn Mỹ làm giàu rất nhanh trong trận chiến tranh này, giữ thái độ “trung lập”, mãi đến năm 1917 mới tham chiến. Mỹ bí mật bán vũ khí cho hai phe và lợi dụng sự kiệt quệ của hai bên để buộc các nước tham chiến ký một hòa ước phù phù hợp với tham vọng làm thống lĩnh toàn cầu của Mỹ.

Như vậy là trận chiến tranh giữa các nước đế quốc bắt nguồn từ quy luật phát triển về kinh tế, chính trị của các nước tư bản chủ nghĩa và đã được chuẩn bị trong nhiều năm. Nguyên nhân cơ bản của trận chiến tranh là do tranh chấp giữa các đế quốc, đa phần là tranh chấp giữa đế quốc Đức và đế quốc Anh.

Ngoài mục đích phân tách lại thị trường, các nước đế quốc gây ra trận chiến tranh còn tồn tại một mưu mô khác: cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1900 ở châu Âu và cuộc Cách mạng 1905 ở Nga làm cho những tranh chấp xã hội trong các nước tư bản ngày càng trở nên gay gắt. Trào lưu tranh đấu của công nhân ngày càng phát triển mạnh mẽ. Giai cấp tư sản các nước đế quốc gây ra chiến tranh nhằm đánh lạc hướng lưu ý của công nhân so với các vấn đề chính trị và xã hội trong nước, tuyên truyền chủ nghĩa sô-vanh để ngăn cản sự phát triển của trào lưu cách mạng trong nước, đàn áp giai cấp vô sản, chia rẽ trào lưu công nhân toàn cầu. Giai cấp cầm quyền các nước đều muốn lợi dụng chiến tranh để đàn áp trào lưu cách mạng và trào lưu giải phóng dân tộc.

2. Tính chất

Trận chiến tranh do các nước đế quốc chuẩn bị và tiến hành nhằm giành giật thuộc địa của nhau là một trận chiến tranh đế quốc chủ nghĩa mang tính chất phi nghĩa, phản động. Nó là sự kế tục quyết sách cướp bóc, nô dịch bằng thủ đoạn bạo lực so với nhân dân các nước khác.

Về tính chất của trận chiến tranh này, Lênin đã chỉ rõ như sau :

“Về cả hai phía, cuộc chiến tranh đó đều là chiến tranh đế quốc chủ nghĩa, điều đó hiện nay không còn phải bàn cãi gì nữa. (…) Chiến tranh vô luận là do giai cấp tư sản Đức hoặc do giai cấp tư sản Anh-Pháp tiến hành, cũng đều nhằm mục đích cướp bóc các nước khác, bóp nghẹt các dân tộc nhược tiểu, thống trị thế giới về mặt tài chính, chia và chia lại thuộc địa, cứu chế độ tư bản chủ nghĩa đang giãy chết, bằng cách lừa bịp và chia rẽ công nhân các nước”

Như vậy, trận chiến tranh toàn cầu lần thứ nhất đứng về cả hai phe tham chiến mà xét thì đều là chiến tranh trộm cướp, chiến tranh đế quốc, hậu quả của sự phát triển các lực lượng kinh tế, chính trị trên nền tảng chủ nghĩa tư bản độc quyền.

Để che đậy tính chất phi nghĩa của trận chiến tranh, giai cấp tư sản các nước đế quốc đã ra sức tuyên truyền để thu hút quần chúng ủng hộ mình trong việc tiến hành chiến tranh. Các nước đều nêu lên slogan chiến tranh để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ văn hóa, bảo vệ tự do của các dân tộc. Không phải chỉ ở Anh, Pháp, Đức, Nga mà ở bất kể nước nào, các đảng tư sản và chính phủ đế quốc cũng đều che giấu mục đích thật sự của trận chiến tranh. Họ tìm cách làm cho nhân dân tin rằng tiến hành chiến tranh là để cứu vớt dân tộc, cố minh chứng rằng nước mình bị tấn công nên phải tiến hành chiến tranh để bảo vệ Tổ quốc. Luận điệu tuyên truyền giả dối đó đã gây nên nhiều hậu quả tai hại trong trào lưu công nhân và quần chúng nhân dân, không thấy rõ bản chất phản động của trận chiến tranh đế quốc chủ nghĩa.

II – Chiến tranh toàn cầu lần thứ nhất nở rộ, quá trình tình tiết của trận chiến tranh

Đến đầu thế kỷ XX, châu Âu bị phân tách thành 2 tập đoàn đế quốc: một bên là các nước Hiệp ước gồm có Anh, Pháp, Nga, sau thêm Nhật (1914), Ý (1915) và một bên là phe Liên minh gồm nước Đức, Áo-Hung, sau thêm Thổ Nhĩ Kỳ (1914), Bungari (1915).

Các cuộc khủng hoảng về vấn đề Marốc ở Bắc Phi (1905-1906 và 1911) và chiến tranh ở Ban Căng (1912-1913) là những tiếng súng báo hiệu khả năng nổ ra chiến tranh toàn cầu sắp đến gần và khó tránh khỏi. Đến năm 1914, sự chuẩn bị chiến tranh của hai phe đế quốc chủ nghĩa trên cơ bản đã xong.

Ở Đức và Áo Hung, ngân sách quân sự chừng 4.000 triệu mác, ngân sách quân sự ở Anh, Nga và Pháp chừng 4.760 triệu mác. Đức đã chuẩn bị xong 8 triệu quân được huấn luyện cảnh giác. Hàng năm, các nước Hiệp ước họp hội nghị các bộ tổng tham mưu, đặt plan tỉ mỉ về việc tác chiến chung. Hai bên chỉ còn chờ thời cơ để gây chiến tranh.

Ngày 28 tháng 6 năm 1914, chính phủ Áo-Hung tổ chức một cuộc tập trận ở Bôxnia. Thái tử Áo là Phơranxơ Phécđinan khi đến thủ đô Bôxnia là Xaragiêvô để tham quan cuộc tập trận thì bị những người thuộc tổ chức “Bàn tay đen” ám sát. Này là một tổ chức yêu nước Xécbi chống ách thống trị của đế quốc Áo-Hung.

1. Chiến tranh nở rộ

Vụ ám sát ở Xaragiêvô khiến đế quốc Đức có được cái cớ mà họ mong mỏi từ lâu. Vinhem II lợi dụng ngay cớ đó, hùng hổ đòi Áo phải nhanh chóng tuyên chiến với Xécbi. Mặc dầu Xécbi đã chịu nhận hầu như những điều kiện trong tối hậu thư, nhưng ngày 28-7-1914, Áo Hung vẫn tuyên chiến với Xécbi. Đức và Nga cùng một lúc đều khích lệ để viện trợ lực lượng đồng minh của mình: Đức viện trợ Áo-Hung, Nga trợ giúp Xécbi.

Ngày 1-8-1914 Đức tuyên chiến với Nga. Hai ngày tiếp theo, tức ngày 3-8, Đức tuyên chiến với Pháp.

Plan tác chiến của Đức do tổng tham mưu trưởng Sơliphen đưa ra, dự tính trước tiên sẽ đánh một đòn chí tử vào Pháp, hạ gục Pháp nhanh chóng trong vòng nửa tháng rồi sẽ điều chủ lực sang mặt trận Nga. Plan của Sơliphen xuất phát từ hai giả thiết: một cho rằng Anh không nhanh chóng tham chiến ngay, hai là Nga còn cần phải một thời gian nữa mới có thể khích lệ được lực lượng, mà trong thời gian đó, Đức có thể hoàn toàn hạ gục Pháp. Nhưng cả 2 giả thiết đều sai lầm. Ngày 4-8, một ngày sau khoảng thời gian Đức tuyên chiến với Pháp, Anh đã tuyên chiến với Đức. Còn Nga thì đã hoàn thiện việc khích lệ một cách nhanh chóng. Khi chủ lực quân Đức giành được nước Bỉ trung lập, đang trên đường từ phía Bắc xâm nhập vào Pháp và tiến về Pari thì quân Nga đã tấn công ngay quân Đức ở phía đông để ủng hộ đồng minh của Nga là Pháp. Phía đông lại là đồn lũy của bọn quý tộc Đức, do đó Đức thụ động phải rút ngay mấy sư đoàn ở mặt trận phía Tây sang phía Đông.

Xem Thêm  10 cách trị da rắn tại nhà hiệu quả – Da mịn màng - quả da rắn

Mùa thu năm 1914 có hai trận đấu tranh xảy ra gần cùng một lúc, này là trận đấu tranh giữa chủ lực quân Đức và quân đội Anh-Pháp trên sông Mácnơ gần Pari và trận đấu tranh giữa quân Nga và quân Đức do tướng Hinđenbua lãnh đạo ở bờ hồ Maduyri thuộc Đông Phổ.

Trận kịch chiến trên sông Mácnơ, có 150 vạn quân tham gia. Quân Đức đã thất bại vì một phòng ban chủ lực phải điều sang phía đông. Pari được cứu thoát. Cuộc giao chiến dừng lại ở miền Bắc nước Pháp, và từ đó cho đến khi chiến tranh kết thúc, trong suốt mấy năm liền mặt trận vẫn ổn định. Hai bên đều nấp trong chiến hào, xây những công sự phòng vệ vững chắc. Trong trận ở bờ hồ Maduyri, quân Nga đã tràn vào Đông Phổ trong lúc chưa chuẩn bị một cách đầy đủ, nên bị thất bại và sau đó phải rút khỏi Đông Phổ.

Nhưng chiến tranh ngay từ đầu đã có lợi cho Nga. Quân đội Áo-Hung bị quấy tan, quân Nga giành được một phần tây Ucraina và vùng Bucôvina. Người Tiệp Khắc và những người Xlavơ trong quân đội ÁoHung không muốn đánh nhau cho Áo-Hung nên đã ra hàng hàng loạt. Tháng 10-1914, Thổ tham gia đấu tranh bên phe Đức, nhưng chỉ 2 tháng sau, quân Nga đã liên tiếp thắng lợi quân Thổ Nhĩ Kỳ trên mặt trận Nam Capcadơ.

Tình hình chung trong mấy tháng đầu của chiến tranh làm cho plan Sơliphen, “kế hoạch chiến thắng chớp nhoáng” của Đức bị phá sản, làm xáo trộn plan của Bộ tổng tham mưu Đức vạch ra cho một trận chiến tranh ngắn hạn. Chiến tranh trở thành lâu dài. Đức thụ động buộc phải đấu tranh ở cả hai mặt trận cùng một lúc. Các nước đồng minh của Đức tỏ ra yếu đuối. Nhưng các nước Hiệp ước cũng không thể gây được một chuyển biến có lợi cho mình. Cả hai bên đều ở thế cầm cự.

2. Quá trình tình tiết của chiến tranh trong những năm 1915-1916

Chiến tranh khởi đầu ở châu Âu, lan tràn ra khắp toàn cầu. Tháng 51915, Ý tham gia phe các nước Hiệp ước và tháng 10, Bungari tham gia phe Đức; còn Nhật Bản mặc dầu trên thực tiễn chưa tham chiến, nhưng đã nhân thời cơ có lợi, cướp lấy thuộc địa của Đức ở Trung Quốc và Thái Bình Đương. Năm 1915, Nhật bắt Trung Quốc phải tiếp thụ hiệp ước “21 điều khoản” như nhường tô giới, căn cứ cho Nhật, mời cố vấn Nhật 𝒱.𝒱…, thực chất là ra điều kiện để nô dịch Trung Quốc. Ở châu Phi và những thuộc địa khác cũng đều xảy ra chiến tranh. Tại châu Phi, Anh và Pháp tiến hành cướp đoạt các thuộc địa của Đức. Chiến sự cũng diễn ra trên mặt biển và đại dương. Chiến tranh dần dần lan rộng, ngày càng lôi cuốn nhiều nước vào vòng chiến. Nó biến thành một trận chiến tranh có quy mô toàn cầu.

Ở mặt trận phía Tây châu Âu, trong 2 năm này không có một biến chuyển trọng yếu nào lớn, tuy hai bên dồn sức và binh lực để cố đánh thắng đối phương. Hai bên đều sử dụng kỹ thuật mới trong chiến tranh. Đức đã dùng hơi ngạt còn Anh thì mang xe tăng vừa mới phát minh ra đấu tranh. Máy cất cánh và các kỹ thuật quân sự khác đều được phân tích nâng cấp nhanh chóng.

Mặt trận chính chuyển sang phía Đông. Đức dồn lực lượng sang phía Đông mong tiêu diệt Nga vì Đức cho rằng nước Nga Sa hoàng là một khâu yếu trong hàng ngũ các nước Hiệp ước và sau khoảng thời gian hạ gục Nga, Đức sẽ rảnh tay đánh Pháp. Năm 1915, Đức và Áo dồn lực lượng đánh Nga và Xécbi. Mùa xuân 1915, Nga tiếp tục tấn công ở Tây Nam, hạ gục ÁoHung. Nhưng tháng 5-1915, quân Đức đem số quân đông gấp đôi quân Nga và số đại bác gấp 10 lần đại bác của Nga để chọc thủng chiến tuyến Nga. Nga thua lớn phải bỏ Galixia và Bucôvina. Tháng 7, Đức lại tấn công phía Bắc và Nga phải rút khỏi đất Phổ. Cuối cùng, hai bên lại bước vào thế cầm cự.

Cho đến giữa năm 1915, bên Anh, Pháp, Nga thêm Ý, nhưng Ý chẳng giúp được gì mấy. Đức, Áo-Hung và Thổ được thêm Bungari tham chiến là một thắng lợi trọng yếu về ngoại giao và quân sự. Sau thời điểm phá tan Xéc-bi, phe Liên minh cùng Bungari làm thành đường giao thông trọng yếu từ Đức, Áo-Hung sang Thổ Nhĩ Kỳ.

Năm 1915, tuy phe Liên minh thắng lớn, song không đạt được kết quả hoàn toàn vì không tiêu diệt nổi Nga, và Đức vẫn không dốc được toàn lực sang phía tây đánh Pháp như dự tính.

Sang năm 1916, mặt trận chính không cố định, khi ở phía Tây, khi chuyển sang Đông, hai bên đều tổn thất phần lớn binh lực. Đức muốn thoát khỏi cảnh khốn quẫn, liền mở cuộc tấn công dữ dội vào cứ điểm trọng yếu Vécđoong của Pháp. Như vậy, Đức lại chuyển chủ lực từ Đông sang Tây. Trận Vécđoong diễn ra trong 7 tháng liền, số thương vong của cả hai bên lên tới 70 vạn. Trong lúc chiến sự xảy ra ở đây thì quân ÁoHung khởi đầu tấn công mặt trận Ý làm cho quân Ý hoang mang lo lắng phải rút quân. Tháng 6-1916, quân Nga tấn công ở mặt trận Tây-Nam, hạ gục hoàn toàn quân đội Áo-Hung, tiêu diệt chủ lực quân của Áo-Hung. Rumani trước đó vẫn hờ hững, nay cũng tuyên chiến với Đức, song quân Rumani không giúp được gì mấy cho phe Hiệp ước. Còn quân Nga tuy đã giành được thắng lợi trọng yếu bước đầu, nhưng vì thiếu đạn đại bác nên không tiến được xa sang phía tây và cuộc tấn công bị ngừng lại. Trong tình hình nghiêm trọng đó, Đức buộc phải điều quân đi khắp nơi để cầm cự. Bộ tham mưu Đức liền ngừng cuộc tấn công ở Vécđoong và hạ lệnh rút một số pháo đài ở Vécđoong mà quân Đức đã giành được. Trong lúc đó, bộ lãnh đạo Áo-Hung cũng không cho quân tiến sang Ý nữa.

Năm 1915-1916, chiến tranh cũng diễn ra trên mặt biển. Hạm đội Anh phong tỏa nước Đức. Trong 2 ngày 31-5 và 1-6-1916 hạm đội Anh và hạm đội Đức đánh nhau quy mô lớn ở gần bờ biển Giutlan và sau này tàu chiến Đức không dám ra khỏi hải cảng của mình.

Kết quả là đến cuối năm 1916, Đức bị thiệt hại lớn, Áo cũng bị thiệt hại nặng ở vùng Galixia trước sức tấn công của quân Nga. Đức-Áo từ thế chủ động chuyển sang phòng vệ ở cả hai mặt trận Đông và Tây. Trong lúc đó, khả năng quốc phòng của Anh và Pháp càng được tăng cường. Trên mặt biển, Đức và Áo bị hải quân Anh phong tỏa. Phe Anh-Pháp định phản công một trận lớn – trận sông Xommơ – hòng hạ gục Đức, nhưng rút cục không đạt được mục đích, ở mặt trận phía Đông, Anh Pháp thu hút được Rumani, Hilạp và như vậy phe Hiệp ước đã thắng lợi về mặt ngoại giao, nhưng về mặt quân sự cũng không đạt được kết quả gì hơn.

Nhìn chung trong hai năm, phe Anh Pháp thì cố giành thế chủ động, còn phe Đức-Áo thì cố giữ. Cả hai bên đều không đạt được mục đích, nhưng ưu thế nghiêng dần về phe Hiệp ước.

3. Chiến tranh toàn cầu trong năm 1917

Mùa xuân năm 1917, phe Hiệp ước định mở một cuộc tấn công vào toàn bộ các mặt trận châu Âu để hạ gục Đức. Nga không tham gia vào plan đó vì ở trong nước nở rộ cuộc cách mạng dân chủ tư sản Nga (tháng 2-1917). Anh cũng như Pháp dựa vào vũ khí mới, đánh vào mặt trận phía Tây, nhưng bị thất bại trong trận sông Enbơ tháng 4 và 5 năm 1917. Trước tình hình đó, Đức cố dồn lực lượng đánh vào khuyết điểm của phe Hiệp ước để giành thế chủ động và củng cố bạn đồng minh Áo-Hung.

Chính phủ lâm thời Nga lúc bấy giờ do Kêrenxki đứng đầu cũng cho quân tấn công Đức ngày 1-7-1917 để làm giảm stress quân sự của Đức ở mặt trận phía Tây, nhưng quân Nga cũng bị thất bại liên tiếp. Cũng như Nga, dưới stress Anh-Pháp, quân Ý phải đánh nhau với

Áo tháng 10 năm 1917, nhưng Đức nhờ thắng được Nga nên đã đem quân giúp Áo hạ gục Ý.

Tháng 2 năm 1917, Đức tiến hành một trận chiến tranh tàu ngầm quyết liệt và này là niềm kỳ vọng để Đức thắng lợi phe Hiệp ước. Lúc đó Đức tuyên bố rằng với chiến thuật này, Đức sẽ buộc Anh đầu hàng trong vòng 6 tháng. Chiến tranh tàu ngầm của Đức đã làm cho phe Hiệp ước nguy khốn vì bị phong tỏa, bị cắt đứt đường tiếp tế lương thực, nhất là so với Anh và đồng thời cũng làm cho thương nghiệp Mỹ đình đốn.

Việc phát động chiến tranh tàu ngầm đã tạo cho chính phủ Mỹ cái cớ đang chờ đợi để cắt đứt quan hệ ngoại giao với Đức. Tháng 4-1917, Mỹ chính thức tuyên chiến với Đức với nguyên nhân chiến tranh tàu ngẩm của Đức là vô nhân đạo, đã tấn công vào các tàu buôn của Mỹ.

Xem Thêm  Cây Dầu Rái - dầu rái

III – Trào lưu công nhân trong những năm chiến tranh

1. Thái độ của các Đảng Xã hội dân chủ trong Quốc tế II so với trận chiến tranh toàn cầu lần thứ nhất

Các đại hội của Quốc tế II họp ở Stútga, Côpenhaghen và Balơ đã xét đến vấn đề thái độ của các đảng Xã hội dân chủ so với trận chiến tranh toàn cầu sắp diễn ra. Trước sự tranh đấu của những lực lượng cách mạng trong Quốc tế II, trước hết là của Lênin và những người Bônsêvích Nga, các đại hội đó đã thông qua những nghị quyết cách mạng mời gọi các Đảng Xã hội dân chủ và giai cấp công nhân các nước tranh đấu kiên quyết để ngăn ngừa bọn đế quốc gây chiến tranh.

So với trận chiến tranh đang khởi đầu xảy ra, tính chất của nó, đứng về cả hai phe tham chiến, đều là chiến tranh đế quốc phản lại sự tiến bộ của lịch sử. Nhưng trong các Đảng Xã hội dân chủ ở tất cả quốc gia đã bộc lộ ý kiến và đường lối thời cơ. Những thủ lĩnh xã hội dân chủ bó tay trước trận chiến tranh, cho này là điều tất yếu khách quan của chủ nghĩa tư bản, không có cách gì ngăn được. Họ tán thành slogan “bảo vệ Tổ quốc”, ủng hộ quyết sách chiến tranh của chính phủ tư sản phản động, không dám phát động công nhân tranh đấu. Trái lại, họ xúc tiến công nhân nước này đi bắn giết công nhân nước khác để “bảo vệ Tổ quốc” của bọn tư bản. Chủ trương sai lầm đó đã được chứng thực khi chiến tranh xảy ra. Ngày 4-8-1914, trong nghị viện Đức cũng như trong nghị viện Pháp, những nghị viên xã hội dân chủ đã bỏ phiếu tán thành ngân sách chiến tranh. Những đảng viên Đảng Xã hội Pháp và Bỉ đã tham gia các chính phủ tư sản phản động, củng cố khối liên minh với giai cấp tư sản. Ở Anh, các lãnh tụ Công đảng ủng hộ chính phủ không điều kiện, ở Nga, bọn Mensêvích tham gia các tổ chức do chính phủ Nga hoàng lập ra.

Sự phản bội của lãnh tụ các đảng Xã hội dân chủ và Quốc tế II là kết quả tất nhiên của quyết sách dung túng chủ nghĩa thời cơ trong một thời gian dài trước chiến tranh. Trận chiến tranh toàn cầu đã vạch trần bản chất tư sản của chủ nghĩa thời cơ là những kẻ công khai bảo vệ chủ nghĩa tư bản, chống lại giai cấp công nhân.

2. Sự tan rã của Quốc tế II và trận đấu tranh của Lênin cho một tổ chức quốc tế mới

Do quyết sách sô-vanh phản động mà khi chiến tranh nở rộ, Quốc tế II bị tan rã, Lênin đã tranh đấu vạch mặt bọn chúng và nêu ra rằng sự phá sản của Quốc tế II là hậu quả của sự phản bội không thể dung thứ được của số đông các Đảng Xã hội dân chủ so với lý tưởng của mình, so với những lời tuyên bố trịnh trọng ở các đại hội quốc tế Stútga và Balơ… Số đông các Đảng Xã hội dân chủ đã đứng sang phía chính phủ nước “mình”, ủng hộ giai cấp tư sản nước “mình” chống lại giai cấp vô sản.

Trong Quốc tế II lúc bấy giờ chỉ có Đảng Bônsêvích do Lênin đứng đầu là vạch ra một cương lĩnh mácxít cách mạng triệt để về vấn đề chiến tranh. Ngay từ những năm trước chiến tranh, Lênin và những người Bônsêvích đã tích cực hoạt động để tổ chức những lực lượng lẻ tẻ và chưa trưởng thành của cánh tả trong Quốc tế II, thu hút họ ra khỏi bọn thời cơ để tổ chức nhóm cánh tả rộng rãi. Trong thời gian đại hội Stútga (1907) cũng như đại hội Côpenhaghen (1910), Lênin đã triệu tập hội nghị những người cánh tả trong Quốc tế II. Nhưng hội nghị cánh tả cũng như lời mời gọi của Đảng Bônsêvích chưa được hưởng ứng rộng rãi trong trào lưu công nhân.

Cuộc hội nghị Dimécvan (Thụy Sĩ) họp từ 23 đến 26-8-1915 đã diễn ra trận đấu tranh gay go giữa những người cách mạng theo chủ nghĩa quốc tế và phái đa số Cauxki. vì “phái giữa” chiếm ưu thế, nên khi đó chưa thể thi hành một đường lối thực sự Bônsêvích. Trong hội nghị, Lênin đã tổ chức ra “nhóm Dimécvan” có 8 người và thông qua nhóm này, Lênin có thể mang được nhiều nguyên lý của chủ nghĩa Mác cách mạng vào các nghị quyết của hội nghị.

Hội nghị Dimécvan lần thứ 2 họp ở Kintan (Thụy Sĩ) vào ngày 20-41916. Lúc này nhóm “Dimécvan tả” đã có 11 đại biểu.

Từ hội nghị Dimécvan lần thứ nhất, trào lưu chống chiến tranh đã lên mạnh. Ở Đức thành lập nhóm “Spactacút” tháng 1-1916 gồm những người phái tả trong đảng Xã hội dân chủ Đức. Này là một sự kiện có ý nghĩa trọng yếu vì rằng lúc bấy giờ, đảng Xã hội dân chủ Đức là một đảng lớn, nước Đức lại đóng vai trò đa phần trong chiến tranh. Cương lĩnh của nhóm đã nêu lên việc thành lập “Quốc tế công nhân mới”, song chưa vạch rõ những hành động rõ ràng và cụ thể chống chiến tranh. Do tình hình quốc tế thay đổi, quần chúng lao động ngày càng biểu lộ thái độ tích cực chống chiến tranh, nên thái độ các đoàn đại biểu cũng có sự thay đổi.

3. Sách lược của Lênin và Đảng Bônsêvích Nga so với chiến tranh và cách mạng

Trong suốt thời gian chiến tranh toàn cầu lần thứ nhất, Đảng Bônsêvích do Lênin lãnh đạo không bị dao động, vẫn trung thành với những phép tắc của chủ nghĩa Mác cách mạng và chủ nghĩa quốc tế vô sản. Đảng Bônsêvích đã giương cao ngọn cờ tranh đấu kiên quyết chống chiến tranh đế quốc và chống chủ nghĩa xã hội sô-vanh.

Căn cứ vào những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề chiến tranh, Đảng Bônsêvích đã định ra sách lược của mình so với trận chiến tranh toàn cầu lần thứ nhất, so với chính phủ Nga hoàng. Trung ương Đảng Xã hội dân chủ Nga đã ra một bản tuyên ngôn chống chiến tranh, trong đó nêu lên hai slogan: “Biến chiến tranh đế quốc thành nội chiến” và “làm cho chính phủ mình thất bại trong chiến tranh đế quốc”.

Slogan biến chiến tranh đế quốc thành nội chiến có ý nghĩa là quần chúng lao động các nước đế quốc, trước hết là công nhân, nông dân mặc áo lính phải quay súng chống lại các chính phủ tư sản nước mình, làm cách mạng lật đổ các chính phủ nước mình, chứ không phải chống lại anh em mình ở các nước khác.

Slogan làm cho chính phủ tư sản nước mình thất bại là triệu chứng chủ nghĩa quốc tế vô sản vì nó xuất phát từ lợi nhuận của cách mạng vô sản toàn cầu, đồng thời là triệu chứng của lòng yêu nước chân chính của những người Bônsêvích.

Này là sách lược duy nhất đúng đắn lúc bấy giờ, vì nó căn cứ vào tính chất đế quốc của trận chiến tranh, xuất phát từ sự trung thành với lợi nhuận của giai cấp vô sản và tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Đảng Bônsêvích không chỉ mời gọi chống chiến tranh, đình chỉ chiến tranh mà còn mời gọi lợi dụng những khó khăn do chiến tranh gây ra để lật đổ Nga hoàng, mời gọi giai cấp vô sản và quần chúng các nước cùng đứng lên tranh đấu cách mạng, mời gọi quân sĩ quay súng chống Chính phủ đế quốc nước mình, đòi hòa bình chính nghĩa.

  • Hoàn toàn không thỏa hiệp với giai cấp tư sản, cự tuyệt quyết sách“hòa bình trong nước”.
  • Thành lập những tổ chức trái phép hiện chưa có trong nhữngnước mà ở đó công tác của các tổ chức hợp pháp bị trở ngại.
  • Ủng hộ sự thân thiện của lính tráng ngoài mặt trận.
  • Ủng hộ mọi hình thức tranh đấu cách mạng có tính chất quần chúngcủa giai cấp vô sản.

Các đảng tư sản và giai cấp tư sản buộc tội cho những người Bônsêvích chống slogan “bảo vệ Tổ quốc” của giai cấp tư sản trong chiến tranh đế quốc chủ nghĩa là phản bội, là không có trí não yêu nước. Nhưng những người Bônsêvích không chống lại Tổ quốc nói chung mà chỉ chống lại Tổ quốc của địa chủ và tư sản.

Bàn về khả năng cách mạng ở nước Nga, Lênin vạch ra rằng không nên xem cuộc cách mxh chủ nghĩa xảy ra ở một nước nào đó trong thời kỳ đế quốc chủ nghĩa là một hiện tượng riêng rẽ, cô lập. Tất cả quốc gia đế quốc đều cấu kết với nhau về mặt kinh tế và chính trị, thiết lập một hệ thống đế quốc chủ nghĩa toàn cầu thành một dây xích có những khâu gắn bó với nhau. Do thúc đẩy của quy luật phát triển không đều về kinh tế và chính trị nên cuộc cách mxh chủ nghĩa không thể tiến hành cùng một lúc trong toàn thể hệ thống các nước đế quốc. Nó sẽ nổ ra ở khâu yếu nhất của dây chuyền đó, tức là ở một nước hay một số nước, ở đó những tranh chấp của chủ nghĩa tư bản đạt tới điểm cực kỳ gay gắt, giai cấp thống trị tỏ ra bất lực trước trào lưu cách mạng, còn lực lượng cách mạng thì rộng lớn và có tổ chức, có những điều kiện thuận tiện nhất để lật đổ chủ nghĩa tư bản. Khâu yếu nhất không nhất thiết phải ở một nước tư bản chủ nghĩa phát triển cao, mà có thể ở một nước tư bản kém phát triển. Thắng lợi của cuộc cách mxh chủ nghĩa trong một nước sẽ làm rung chuyển toàn thể các khâu của hệ thống đế quốc chủ nghĩa và làm suy yếu hệ thống đó, đồng thời làm cho cuộc cách mạng mau chín muồi ở các nước tư bản khác.

Xem Thêm  Những câu chuyện tâm linh có thật ở Việt Nam - truyen tam linh co that o viet nam

Thất bại ở ngoài mặt trận, kinh tế bị phá sản ở hậu phương, hàng triệu người bị chết, sức sản xuất bị tàn phá ghê gớm. Những điều đó đã chứng tỏ cơ chế Nga hoàng và giai cấp thống trị đã mang nước Nga đến bờ thảm họa. Thủ tiêu cơ chế chuyên chế, rút khỏi trận chiến tranh đế quốc đã trở thành một sự thiết yếu khách quan. Nước Nga ở vào đêm trước của cuộc cách mạng sắp nở rộ.

Những người Bônsêvích Nga đã dựa vào lý luận của Lênin về chiến tranh, hòa bình và cách mạng, tích cực lãnh đạo quần chúng thực hiện sách lược của Đảng trong thời kỳ chiến tranh, đẩy mạnh cách mạng.

Đầu năm 1917, các cuộc bãi công kinh tế đã chuyển thành bãi công chính trị, khởi nghĩa vũ trang nổi lên khắp nơi. Đảng Bônsêvích ra hiệu triệu đẩy mạnh tranh đấu vũ trang lật đổ cơ chế Nga hoàng, thành lập chính phủ lâm thời.

Do tác động của những sự kiện cách mạng và hoạt động dũng cảm của những người Bônsêvích và công nhân, lính tráng của chính phủ khởi đầu dao động. Sáng ngày 27-2 (theo lịch Nga) lính tráng không chịu bắn vào công nhân biểu tình và nhảy sang hàng ngũ cách mạng. Thủ đô hoàn toàn vào tay nhân dân, cuộc khởi nghĩa lan rộng nhanh chóng. Chính sách chuyên chế Nga hoàng chấm hết. Cuộc Cách mạng tháng Hai 1917 thắng lợi.

Cuộc cách mạng dân chủ tư sản tháng Hai ở Nga không dừng lại ở đó, mà chỉ là bước đầu để tiến sang bước thứ hai là cuộc Cách mxh chủ nghĩa tháng Mười.

Trận chiến tranh đã kéo dài ba năm làm cho cả hai bên tham chiến đều kiệt quệ và mệt mỏi. Năm 1917 Cách mạng tháng Mười Nga thành công. Giai cấp vô sản Nga lật đổ giai cấp tư sản, thành lập chính quyền Xôviết do Đảng Bônsêvích lãnh đạo. Lịch sử nước Nga bước sang trang mới. Nó có thúc đẩy trực tiếp đó tình tiết của chiến tranh và tác động sâu rộng so với lịch sử toàn cầu.

IV – Kết thúc chiến tranh toàn cầu thứ nhất

Nước Nga tuyên bố rút ra khỏi chiến tranh. Ngày 8 tháng 11 năm 1917, Lênin đọc sắc lệnh hòa bình, mời gọi các chính phủ tham chiến mở ngay cuộc thương lượng tiến tới ký kết một hòa ước dân chủ và công bình, không cắt đất và không bồi thường chiến phí. Nhưng phe Hiệp ước đã từ chối vì cho rằng chính quyền Xôviết không thể đứng vững được. Đức thì lại tán thành, nhằm tìm cách chiếm đất và tiêu diệt chính quyền Xôviết trẻ tuổi. Đại biểu hai bên Nga Xôviết và Đức họp ở Brét Litôpxcơ tháng 12 năm 1917. Đức ra điều kiện thôn tính đất đai, đòi Nga nhượng cho Đức vùng Ba Lan, Lítva, một phần Bêlôrútxia và Vôlini. Trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn của tình hình cách mạng mới thành công, Lênin quyết định tiếp nhận những điều khoản nghiệt ngã đó. Ngày 3-3-1918 Nga phải ký hòa ước Brét Litôpxcơ. Nước Nga cách mạng muốn có thời gian để tổ chức hậu phương, tăng cường Hồng quân, đập tan bọn phản cách mạng, củng cố Nhà nước Xôviết, chuẩn bị điều kiện đầy đủ để đuổi quân Đức ra khỏi nước Nga.

Năm 1918, Đức thấy ký kết với Nga sẽ nhẹ được một mặt trận phía Đông để dồn binh lực đánh thắng Anh, Pháp ở mặt trận phía Tây trước khi Mỹ mang lực lượng sang tham chiến. Sau đó, Đức sẽ điều quân sang phía Đông để bóp chết nước Nga Xôviết.

Tháng 3-1918, Đức khởi đầu mở cuộc tấn công vào mặt trận phía Tây và từ tháng 3 đến tháng 7 thu được một số thắng lợi trọng yếu về chiến thuật. Tháng 6, Đức vượt sông Mácnơ, nhưng không đạt được mục đích vì quân đội Anh, Pháp không bị tiêu diệt trước khi quân đội Mỹ đến. Ngày 15 tháng 7, Đức lại mở cuộc tấn công cuối cùng ở phía Tây, nhưng thất bại.

Ngày 18-7, quân Hiệp ước khởi đầu phản công và đánh lui quân Đức. Trước đó, quân Hiệp ước tổ chức bộ lãnh đạo thống nhất do thống chế Phốc lãnh đạo. Phe Hiệp ước lại được Mỹ tiếp viện, nên đã hạ gục quân Đức. Chỉ trong ngày đó thôi, 16 tiểu đoàn Đức bị hạ gục, Luđenđophơ cho này là ngày đen tối nhất trong lịch sử quân đội Đức. Quân đội Đức đã kiệt sức lại bị tan rã về trí não, không đủ khả năng phòng thủ. Trong nước Đức, cách mạng nở rộ. Ngày 3-11-1918 cuộc khởi nghĩa nổ ra trên chiến hạm ở Kien, thành lập Xôviết. Ngày 9 tháng 11, cách mạng thắng lợi ở Béclin, thành lập nền cộng hòa tư sản.

Theo sau sự thất bại của Đức, các nước đồng minh bị thua nặng phải lần lượt đầu hàng. Ngày 29-9-1918 Bungari đầu hàng. Ngày 30-10 Thổ Nhĩ Kỳ đầu hàng và ngày 2-11 Áo-Hung cũng đầu hàng.

Ngày 1-11-1918, Đức ký hiệp ước đình chiến với phe Hiệp ước ở rừng Compienhơ gần Pari. Chính phủ Xôviết tuyên bố hủy bỏ hòa ước Brét Litôpxcơ, không trả tiền bồi thường chiến tranh và giải phóng một vùng đất đai rộng lớn.

Chiến tranh toàn cầu lần thứ nhất kết thúc bằng sự thất bại của chủ nghĩa đế quốc Đức. Cách mxh chủ nghĩa đã thắng lợi ở nước Nga, cao trào cách mạng vô sản phát triển, các dân tộc thuộc địa thức tỉnh.

Trận chiến tranh toàn cầu lần thứ nhất nổ ra là do những tranh chấp của chủ nghĩa đế quốc, do sự phát triển không đều của chủ nghĩa tư bản, do sự tranh chấp của bọn tư bản lũng đoạn để phân tách toàn cầu và thực hiện mưu mô đàn áp trào lưu cách mạng.

Chiến tranh là một thử thách nghiêm trọng so với toàn bộ các đảng Xã hội dân chủ, đã vạch trẩn chủ nghĩa thời cơ đang thống trị hầu như các đảng trong Quốc tế II. Chủ nghĩa thời cơ đã phát triển thành chủ nghĩa xã hội sô-vanh, công khai bênh vực chủ nghĩa đế quốc, phản bội chủ nghĩa xã hội, mang Quốc tế II đến phá sản.

Đảng Bônsêvích Nga đo 𝒱.Ι.Lênin lãnh đạo đã đề ra sách lược đúng đắn trong thời kỳ chiến tranh. Trung thành với sự nghiệp xã hội chủ nghĩa, Đảng đã lãnh đạo giai cấp công nhân và nhân dân lao động nước Nga tiến hành thắng lợi cuộc Cách mạng dân chủ tư sản tháng Hai và cuộc Cách mxh chủ nghĩa tháng Mười năm 1917.

Nguồn: Lịch sử toàn cầu cận đại, Vũ Dương Ninh – Nguyễn Văn Hồng, Nhà xuất bản Giáo dục


Xem thêm những thông tin liên quan đến đề tài chien tranh the gioi lan 1

Tài Liệu Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất – Phần 1

  • Tác giả: PodCast
  • Ngày đăng: 2017-02-12
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 4104 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Tài Liệu Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất – Phần 1
    chien tranh the gioi thu 2,chiến tranh toàn cầu thứ 1,chiến tranh toàn cầu thứ 2,chien tranh the gioi thu 1,chien tranh the gioi thu 3,chien tranh the gioi thu hai,chien tranh the gioi thu nhat,chien tranh the gioi,game chien tranh the gioi,thế chiến thứ 2,chiến tranh toàn cầu,the chien thu 1,the chien thu 2,nguyên nhân chiến tranh toàn cầu thứ 2,nguyên nhân chiến tranh toàn cầu thứ 1,chien tranh the gioi 2,thế chiến thứ 1,kết cục của chiến tranh toàn cầu thứ nhất,the chien thu hai,the chien thu nhat,chien tranh the gioi 1,chien su the gioi,nguyên nhân dẫn theo chiến tranh toàn cầu thứ 1,the chien 2

Nguyên nhân dẫn theo Chiến tranh toàn cầu lần thứ 1

  • Tác giả: lichsucogihay.com
  • Nhận xét: 5 ⭐ ( 9412 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm:

Chiến tranh Toàn cầu lần 1 (1914-1918)

  • Tác giả: vietnamdefence.com
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 6671 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Chiến tranh giữa các nước đế quốc nhằm phân tách lại toàn cầu. Lúc đầu gồm chiến tranh giữa hai khối  nước ở châu Âu là khối Đức, Áo-Hung và khối Đồng minh (Anh, Pháp, Nga, Bỉ, Serbia-Montenegro), về sau lôi cuốn tới 38 nước (khối Đồng minh 34 nước), khoảng 1,5 tỉ người với tổng số quân tham gia 37 triệu (1.1917).

Nguyên nhân dẫn tới chiến tranh toàn cầu thứ 1

  • Tác giả: climatejusticeonline.org
  • Nhận xét: 3 ⭐ ( 6484 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Chiến tranh toàn cầu thứ 1 hay còn được gọi là đại chiến toàn cầu thứ nhất hoặc thế chiến 1, là một trong những trận chiến tranh kịch liệt, mang nhiều hậu quả nặng nề với quy mô rộng nhất trong các trận chiến tranh. Vậy nguyên nhân nào dẫn tới cuộc đại chiến tàn khốc này?

Phim Chiến Tranh Thế Giới Ż Vietsub + Thuyết Minh

  • Tác giả: iphimchill2.com
  • Nhận xét: 5 ⭐ ( 2593 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: ✅   Chiến Tranh Thế Giới Ż Nội dung phim Chiến Tranh Thế Giới Ż: Chiến Tranh Thế Giới Ż còn tồn tại tên khác là thế chiến z một thể loại phim kinh dị của mỹ. Cốt truyện là trận chiến giữa loài người và zombie được dựa trên năm 2006 cuốn tiểu thuyết cùng tên của […]

Lý thuyết Lịch Sử 11 Bài 17: Chiến tranh toàn cầu thứ hai (1939-1945)

  • Tác giả: vietjack.com
  • Nhận xét: 3 ⭐ ( 3873 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Lý thuyết Lịch Sử 11 Bài 17: Chiến tranh toàn cầu thứ hai (1939-1945) | Lý thuyết Lịch Sử 11 ngắn gọn – Tóm tắt lý thuyết Lịch Sử lớp 11 ngắn gọn, cụ thể giúp bạn nắm được tri thức trọng tâm môn Lịch Sử 11.

Chiến tranh toàn cầu thứ 1 lịch sử 11: Nguyên nhân, Tình tiết, Tính chất

  • Tác giả: dinhnghia.vn
  • Nhận xét: 3 ⭐ ( 4201 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Nguyên nhân, Tình tiết, Tính chất, Hậu quả, Bài học của chiến tranh toàn cầu thứ nhất. Cùng tìm hiểu chiến tranh toàn cầu thứ 1 lịch sử 11.

Xem thêm các nội dung khác thuộc thể loại: Khám Phá Khoa Học

By ads_law