Có một vương quốc Chăm Pa đã từng tồn tại

Bạn đang xem: lịch sử vương quốc chăm pa

Lịch sử vương quốc Chăm Pa

Bản đồ khoảng năm 1100.  Màu xanh: Đại Việt;  Màu vàng: Champa; Màu đỏ: Angkor

Thủ đô:

Kandapurpura (192 – 605)
Simhapura (605 – 757)
Virapura (757 – 875)
Indrapura (875 – 982)
Vijaya (982 – 1471)
Panduranga (1471 – 1832

Ngôn từ:

Tiếng Chăm
Tiếng Phạn[1]

Tôn giáo:

             Si-va giáo

             Phật giáo,

             Kỳ Na giáo

             Hồi giáo

Chính quyền: Phong kiến

Lịch sử:

             Thành lập: 192

             Tiêu vong: 1832

Dân số:

1000 (ước tính): ¢, 600.000 

(Nguồn: https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C4%83m_Pa)

Mở màn

Tết Mậu Tuất 2018, chúng tôi quyết định không đón tết ở nhà mà làm một cuộc thám hiểm dọc duyên hải miền Trung Nam bộ. Ngày 24 tết từ sân cất cánh Nội Bài đáp chuyến cất cánh vào sân cất cánh Phù Cát. Dọc đường di chuyển từ Phù Cát về Quy Nhơn khoảng 35km chúng tôi dừng thăm các di tích và thắng cảnh dọc đường, trong đó ấn tượng nhất vẫn là tháp đôi Hưng Thạnh. Trong tháp linh vật được thờ vẫn còn nguyên vẹn là linga-Yoni. Chúng tôi còn hội ngộ các tháp chàm với linh vật thờ như vậy ở  tháp Nhạn Phú Yên, Tháp Po Naga ở Nha trang. Ở Quy Nhơn 3 ngày, chúng tôi vào Tuy Hòa Phú yên bằng xe du lịch, dọc đường tiếp tục tìm hiểu các di sản của Phú Yên. Lưu lại Tuy Hòa 2 ngày, chúng tôi vào Nha Trang, Khánh Hòa lưu lại đây 3 ngày đón giao thừa và tết. Tối 2 tết chúng tôi trở về Nội Bài từ sân cất cánh Cam Ranh. Dọc đường rất nhiều cảnh đẹp tuyệt vời, nhưng ấn tượng nhất vẫn là các di sản của người Chăm dọc vùng đất này như các đền tháp Chăm, nền văn hóa Sa Huỳnh, Thánh địa Mỹ Sơn… và những câu truyện lịch sử: Năm 1307, vua Chăm là Jaya Simhavarman III (sử Việt gọi là Chế Mân), đã dựng đền thờ Po Klaung Garai ở Panduranga (Phan Rang), và nhượng hai châu: châu Ô (Thuộc tỉnh Quảng Trị, từ Lao Bảo đến sông Thạch Hãn ngày nay), và châu Lý (Thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế ngày nay) ở phía bắc cho Đại Việt làm của hồi môn để cưới công chúa Huyền Trân nhà Trần. Không lâu sau hôn lễ, nhà vua bỏ mạng, Đại Việt cử người cướp công chúa trở về để tránh bị hỏa táng theo tục lệ của người Chăm. Đi tìm hiểu lịch sử của những vấn đề này tất cả chúng ta gặp một quốc gia Chăm Pa cổ đã từng tồn tại và có thời kỳ hưng thịnh rực rỡ. Vậy quốc gia này tồn tại như vậy nào và biến mất khi nào, vì sao lại biến mất.

Vương Quốc Champa là một Quốc gia độc lập, tồn tại từ khoảng thế kỷ thứ 7 đến năm 1832 (thế kỷ thứ 18) trên phần đất nay thuộc miền Trung Việt Nam. Cương vực của Chăm Pa lúc mở rộng nhất trải dài từ Quảng bình, dãy núi Hoành Sơn ở phía Bắc cho đến Bình Thuận ở phía Nam và từ biển Đông cho đến tận miền núi phía Tây của nước Lào ngày nay. Văn hóa Chăm Pa chịu ràng buộc của văn hóa Trung Quốc, Campuchia và Ấn Độ đã từng phát triển rực rỡ với những đỉnh cao là phong thái Đồng Dương và phong thái Mỹ Sơn A1 mà nhiều di tích đền tháp và các công trình điêu khắc đá, nhất là các hiện vật có hình linga vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay cho thấy tác động của Ấn giáo và Phật giáo là hai tôn giáo chính của chủ nhân vương quốc Chăm Pa xưa. Chăm Pa hưng thịnh nhất vào thế kỷ thứ 9 và 10 và sau đó dần dần suy yếu dưới sức ép Nam tiến của Đại Việt từ phía Bắc và các trận chiến tranh với Đế quốc Khmer. Năm 1471, Chăm Pa chịu thất bại nặng nề trước Đại Việt và nước Chăm Pa thống nhất chấm hết tồn tại. Phần lãnh thổ còn sót lại của Chăm Pa tiếp tục bị các chúa Nguyễn thôn tính lần hồi và đến năm 1832 toàn thể vương quốc chính thức bị sáp nhập vào Việt Nam.

Quá trình lịch sử

Lịch sử vương quốc Chăm Pa được khôi phục dựa trên ba nguồn sử liệu chính:
Các di tích còn sót lại bao gồm các công trình đền tháp xây bằng gạch còn nguyên vẹn cũng như đã bị phá hủy và cả các công trình chạm khắc đá; Các văn bản còn sót lại bằng tiếng Chăm và tiếng Phạn trên các bia và mặt phẳng các công trình bằng đá; Các sách sử của Việt Nam và Trung Quốc, các văn bản ngoại giao, và các văn bản khác liên quan còn sót lại. 

Thời tiền sử

Người dân Chăm Pa có nguồn gốc Malayo-Polynesian di cư đến đất liền Đông Nam Á từ Borneo vào thời kì văn hóa Sa Huỳnh ở thế kỷ thứ 1 và thứ 2 trước Công nguyên. Qua xem xét đồ đất nung, đồ thủ công và đồ tùy táng đã phát hiện thấy có một sự chuyển hóa liên tục từ những vị trí khảo cổ như hang động Niah ở Sarawak, Đông Malaysia. Các vị trí văn hóa Sa Huỳnh rất phong phú đồ sắt trong lúc nền văn hóa Đông Sơn cùng thời kỳ ở miền Bắc Việt Nam và các nơi khác trong khu vực Đông Nam Á lại đa phần là đồ đồng. Ngôn từ Chăm thuộc ngữ hệ Nam Đảo (Austronesian).

𝒱ăn hóa Sa Huỳnh

Văn hóa Sa Huỳnh là xã hội tiền sử thuộc thời kì kim khí tại khu vực ven biển miền Trung Việt Nam. Năm 1909, đã phát hiện khoảng 200 lọ bị chôn ở Sa Huỳnh, một làng ven biển ở nam Quảng Ngãi. Từ đó đến nay đã phát hiện được rất nhiều hiện vật ở khoảng 50 vị trí khảo cổ. Sa Huỳnh có đặc tính văn hóa thời kì Đồng Thau rất đặc trưng với sở thích riêng trổ tài qua các hiện vật như rìu, dao và đồ trang sức. Việc định tuổi theo phương pháp phóng xạ carbon đã xếp văn hóa Sa Huỳnh đồng thời với văn hóa Đông Sơn, tức khoảng thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên. Người Chăm khởi đầu cư trú tại đồng bằng ven biển miền Trung Việt nam từ khoảng năm 200 sau công nguyên. Lúc này người Chăm đã tiếp thụ các yếu tố của văn hóa tôn giáo và chính trị của Ấn Độ. Các phân tích khảo cổ học của các tác giả Việt Nam đã cho thấy người Chăm chính là hậu duệ về mặt ngôn từ và văn hóa của người Sa Huỳnh cổ. Các hiện vật khảo cổ của người Sa Huỳnh đã cho thấy họ đã là những người thợ thủ công rất khéo tay và đã sản xuất ra nhiều đồ trang sức và vật dụng trang trí bằng đá và thủy tinh. Phong thái trang sức Sa Huỳnh còn phát hiện thấy ở Thái Lan, Đài Loan và Philippines cho thấy họ đã buôn bán với các nước láng giềng ở Đông Nam Á cả bằng đường thủy và đường bộ. Các nhà khảo cổ cũng xem xét thấy các hiện vật bằng sắt đã được người Sa Huỳnh sử dụng trong lúc người Đông Sơn láng giềng vẫn còn đa phần sử dụng đồ đồng.

Lâm Ấp

Theo sử liệu Trung Quốc, vương quốc Chăm Pa đã được biết tới trước nhất là vương quốc Lâm Ấp bắt nguồn từ năm 192 ở khu vực Huế ngày nay, sau cuộc khởi nghĩa của người dân địa phương chống lại nhà Hán. Trong nhiều thế kỷ sau đó, quân đội Trung Quốc đã nhiều lần nỗ lực chiếm lại khu vực này nhưng không thành công[30].

Từ nước láng giềng Phù Nam ở phía tây và nam, Lâm Ấp nhanh chóng hấp thu nền văn minh Ấn Độ[31]. Các học giả đã xác nhận thời điểm khởi đầu của Chăm Pa là thế kỷ thứ 4 sau Công nguyên, khi quá trình Ấn hóa đang diễn ra. Đây chính là thời kỳ mà người Chăm đã khởi đầu có các văn bản mô tả trên đá bằng chữ Phạn và bằng chữ Chăm, và họ đã có bộ chữ cái hoàn chỉnh để ghi lại tiếng nói của người Chăm.

Vị vua trước nhất được mô tả trong văn bia là Bhadravarman, thống trị từ năm 349 đến 361. Ở thánh địa Mỹ Sơn, vua Bhadravarman đã xây dựng nên ngôi đền thờ thần có tên là Bhadresvara, tên gọi là sự phối hợp giữa tên của nhà vua và tên của thần Shiva, vị thần của các thần trong Ấn Độ giáo. Việc thờ vua như thờ thần, ví dụ như thờ với tên thần Bhadresvara hay các tên khác vẫn tiếp diễn trong các thế kỷ sau đó.

Vào thời Bhadravarman, kinh đô của Lâm Ấp là kinh thành Simhapura (“thành phố Sư tử”), nằm ở dọc hai dòng sông và bao quanh bởi tường thành có chu vi dài đến tám dặm. Theo ghi chép lại của một người Trung Quốc thì người Lâm Ấp vừa ưa thích ca nhạc nhưng cũng lại máu chiến, và có “mắt sâu, mũi thẳng và cao, và tóc đen và xoăn”.

Cũng theo tài liệu Trung Quốc, Sambhuvarman lên ngôi vua Lâm Ấp năm 529. Các tài liệu cũng mô tả vị vua này đã cho khôi phục lại ngôi đền thờ Bhadresvara sau một vụ cháy. Sambhuvarman cũng từng cử sứ thần sang cống tuế Trung Quốc, và đã xâm lược không thành phần đất mà ngày nay là miền Bắc Việt Nam. Năm 605, tướng Lưu Phương nhà Tùy xâm lược Lâm Ấp, và đã thắng cuộc sau khoảng thời gian dụ tượng binh của Lâm Ấp đến và tiêu diệt tại trận địa mà trước đó ông đã cho đào nhiều hố nhỏ và phủ cỏ lên. Vào khoảng những năm 620, các vua Lâm Ấp đã cử nhiều sứ thần sang nhà Đường và xin được làm nước phiên thuộc của Trung Quốc.

Các tài liệu Trung Quốc ghi nhận tử vong của vị vua cuối cùng của Lâm Ấp là vào khoảng năm 756 sau Công nguyên. Sau đó trong một thời gian dài, các sách sử Trung quốc gọi Chăm Pa là “Hoàn Vương”. Tài liệu Trung Quốc sớm nhất sử dụng tên có dạng “Chăm Pa” là vào năm 877, tuy nhiên, những tên gọi như vậy đã được người Chăm sử dụng muộn nhất là từ năm 629, và người Khmer đã dùng muộn nhất là từ năm 657.

Thời hoàng kim

Từ thế kỷ thứ 7 đến thế kỷ thứ 10, người Chăm kiểm tra việc buôn bán hồ tiêu và tơ lụa giữa Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, và đế quốc Abbassid ở Baghdad. Người Chăm còn bổ sung thêm cho nguồn thu nhập của mình từ thương mại, không chỉ bằng việc xuất khẩu ngà voi và trầm hương mà còn bằng cả các hoạt động cướp phá trên biển và các nước láng giềng ven biển.

Vào nửa cuối thế kỷ thứ 7, các ngôi đền của hoàng tộc khởi đầu được xây dựng tại Mỹ Sơn. Tôn giáo chính lúc này là thờ thần Shiva nhưng các ngôi đền cũng thờ cả thần Vishnu. Các học giả gọi phong thái thiết kế thời kỳ này là phong thái Mỹ Sơn E1, để chỉ các di tích ở Mỹ Sơn điển hình theo phong phương pháp này. Các công trình còn đến nay của phong phương pháp này bao gồm bệ đá hình linga được biết với tên gọi là bệ đá Mỹ Sơn E1 và phần trán tường có hình Brahma được sinh ra từ hoa sen nở từ rốn của thần Vishnu đang ngủ.

Trong một văn bia khắc năm 657 tìm thấy ở Mỹ Sơn, vua Prakasadharma, người lấy hiệu là Vikrantavarman Ι, đã tự xưng có bên ngoại là hậu duệ của Brahman Kaundinya và công chúa rắn Soma, người theo truyền thuyết cũng là thủy tổ của người Khmer. Chính văn bia này đã cho thấy mối quan hệ về văn hóa và chủng tộc giữa vương quốc Chăm Pa và đế quốc Khmer. Bia được khắc nhân dịp vua cho dựng tượng đài, có vẻ là linga, cho thần Shiva. Một văn bia khác mô tả lời nguyện cầu chân tình của vua khi hiến tế cho Shiva: người là nguồn khởi thủy của sự kết thúc vĩnh viễn sự sống, điều rất khó đạt được; mà bản chất thực sự nằm ngoài tư duy và lời nói của nhân loại, tuy nhiên những ai mà ý niệm tương đồng với vũ trụ thì hình thái của người sẽ xuất hiện.

Thời kỳ hưng thịnh của Kauthara

Vào thế kỷ thứ 8, trung tâm chính trị của Chăm Pa đã tạm thời chuyển từ Mỹ Sơn xuống khu vực Panduranga và Kauthara, với trung tâm ở quanh quần thể đền tháp là Tháp Bà – Po Nagar ở gần Nha Trang ngày nay nơi để thờ nữ thần đất Yan Po Nagar. Năm 774, người Java đã phá hủy Kauthara, đốt đền thờ Po Nagar, và mang đi tượng Shiva. Vua Chăm là Satyavarman đã đuổi theo quân giặc và hạ gục chúng trong một trận thủy chiến. Năm 781, Satyavarman đã dựng bia tại Po Nagar, tuyên bố đã thắng cuộc và kiểm tra toàn thể khu vực và đã dựng lại đền. Năm 787, người Java lại đốt phá đền thờ Shiva ở gần Panduranga.

Năm 875, vua Indravarman II đã xây dựng nên triều đại mới ở Indrapura (thành Đồng Dương, ở huyện Thăng Bình, Việt Nam ngày nay). Vua Indravarman tự xưng là hậu duệ của Bhrigu trong sử thi Mahabharata, và quyết đoán rằng chính kinh thành Indrapura đã từng được chính Bhrigu ở thời thượng cổ xây dựng nên.
Indravarman là vị vua Chăm trước nhất theo Phật giáo Đại thừa và xem đây là tôn giáo chính thức. Ở trung tâm của Indrapura, ông đã xây dựng một tu viện Phật giáo (vihara) để thờ bồ tát Lokesvara (Quán Thế Âm). Di tích này đã bị phá hủy trong chiến tranh Việt Nam, chỉ còn sót lại một số hình ảnh và bản vẽ từ trước chiến tranh. Một số tượng đá từ tu viện cũng được gìn giữ tại các viện bảo tàng ở Việt Nam. Các học giả đã gọi phong thái văn nghệ điển hình tại Indrapura là phong thái Đồng Dương. Phong thái đặc trưng bởi tính năng động và tính hiện thực về mặt dân tộc học khi mô tả người Chăm. Các tác phẩm còn sót lại của phong phương pháp này có một số pho tượng dvarapala hay hộ pháp rất dữ tợn trước đó được đặt ở quanh tu viện. Thời kỳ Phật giáo thống trị, Chăm Pa kết thúc năm 925, lúc phong thái Đồng Dương đã khởi đầu nhường bước cho các phong thái tiếp theo có mối liên hệ với sự phục hồi của đạo thờ thần Si-va.

Các vua của triều đại Indrapura đã xây dựng ở Mỹ Sơn một số đền tháp vào thế kỷ thứ 9 và thứ 10. Các đền tháp này ở Mỹ Sơn đã xác nhận một phong thái thiết kế và văn nghệ khác mà các học giả gọi là phong thái Mỹ Sơn A1, dùng để chỉ toàn bộ các di tích ở Mỹ Sơn điển hình cho phong phương pháp này. Với sự chuyển hóa tôn giáo từ Phật giáo trở về Si-va giáo vào khoảng thế kỷ thứ 10, trung tâm tôn giáo của người Chăm cũng chuyển từ Đồng Dương trở về Mỹ Sơn.

Suy yếu

Chăm Pa đạt đến đỉnh cao của văn minh Chăm ở Indrapura toạ lạc khu vực Đồng Dương và Mỹ Sơn ngày nay. Các yếu tố dẫn theo sự suy yếu của Chăm Pa ở các thế kỷ sau chính là ở vị trí lý tưởng nằm trên các tuyến thương mại, dân số ít và thường xuyên có chiến tranh với các nước láng giếng là Đại Việt ở phía Bắc và Khmer ở phía Tây và Nam.

Lịch sử Bắc Chăm Pa (Indrapura và Vijaya) phát triển đồng thời với vương quốc láng giềng là nền văn minh Angkor của người Khmer nằm ở phía bắc hồ lớn Tonle Sap trên phần đất mà ngày nay là Campuchia. Sau khoảng thời gian vương triều Chăm ở Indrapura được thiết lập năm 875 thì chỉ hai năm sau tức năm 877 tại Roluos, vua Indravarman Ι đã thiết lập đế quốc Khmer. Lịch sử của Chăm Pa và đế quốc Khmer cũng đều phát triển rực rỡ trong thế kỷ 10 đến thế kỷ 12, rồi đều dần suy yếu và tan rã vào thế kỷ thứ 15. Năm 1238, đế quốc Khmer mất miền đất phía tây xung quanh Sukhothai sau một cuộc nổi dậy của người Xiêm. Thành công của cuộc nổi dậy không chỉ mở ra kỷ nguyên độc lập của người Xiêm mà còn báo trước sự tan rã của Angkor năm 1431 sau khoảng thời gian bị người Xiêm từ vương quốc Ayutthaya phá hủy và rồi bị sát nhập vào Sukhothai năm 1376. Sự suy yếu của Chăm Pa cũng diễn ra đồng thời với Angkor, dưới sức ép từ Đại Việt, quốc gia nằm ở miền Bắc Việt Nam ngày nay, và chấm hết khi kinh thành Vijaya (tức Chà Bàn) bị chinh phục và phá hủy vào năm 1471.

Khmer xâm chiếm Kauthara

Năm 944 và 945, quân đội Khmer từ Angkor đã xâm chiếm khu vực Kauthara. Khoảng năm 950, người Khmer đã phá hủy đền Po Nagar và lấy đi tượng nữ thần. Năm 960, vua Chăm là Jaya Indravaman Ι đã cử sứ thần sang nhà Tống (lúc này đóng đô ở Khai Phong). Năm 965, nhà vua đã cho xây dựng lại đền thờ Po Nagar và tượng nữ thần để thay thế cho pho tượng đã bị lấy đi.

Xem Thêm  Guardian Trần Đại Nghĩa - guardian trần đại nghĩa

Chăm Pa trước khi rời bỏ kinh đô Indrapura (nửa cuối thế kỷ thứ Ҳ)  

Rời bỏ kinh đô Indrapura

Vào nửa cuối thế kỷ thứ 10, các vua của triều đại Indrapura đã tiến hành chiến tranh với Đại Việt. Trước đó, ở nửa đầu thế kỷ này, người Việt đã giành được độc lập từ tay người Trung quốc. Sau khoảng thời gian Ngô Quyền thắng cuộc quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 938, quốc gia lại trải qua thời kỳ loạn các sứ quân và được Đinh Bộ Lĩnh thống nhất năm 968 với quốc hiệu Đại Cồ Việt và kinh đô ở Hoa Lư thuộc địa phận huyện Trường Yên tỉnh Ninh Bình ngày nay.

Năm 979, vua Chăm là Parameshvaravarman Ι (sách Đại Việt Sử kí Toàn thư gọi là Bê Mi Thuế) đã cử hạm đội sang tấn công Hoa Lư. Tuy nhiên, toàn thể quân viễn chinh đã bị tan rã sau một cơn lốc. Năm 982, vua Lê Hoàn của Đại Việt đã cử ba sứ thần sang Indrapura. Sau khoảng thời gian các sứ thần bị giam giữ, vua Lê Hoàn đã quyết định đánh Chăm Pa. Quân Đại Việt đã sở hữu Indrapura và giết vua.

Parameshvaravarman. Họ mang về nước rất nhiều nhạc công và vũ công Chăm, chính những người này về sau đã tác động đến sự phát triển văn nghệ của Đại Việt. Do hậu quả để lại của việc tàn phá, người Chăm đã rời bỏ Indrapura vào khoảng năm 1000. Trung tâm của Chăm Pa được chuyển xuống Vijaya ở phía nam nằm trên đất tỉnh Bình Định ngày nay mà người Việt thời Lý gọi là Phật Thệ.

Đại Việt triệt phá Vijaya

Tranh chấp giữa Chăm Pa và Đại Việt đã không chấm hết với việc người Chăm từ bỏ kinh đô Indrapura. Chăm Pa đã chịu các đợt tấn công của Đại Việt năm 1021 và 1026. Năm 1044, một trận đại chiến diễn ra giữa Đại Việt và Chăm đã dẫn theo tử vong của vua Jaya Simhavarman II (sách sử Việt gọi là Sạ Đẩu) và việc vua Lý Thái Tông của Đại Việt trực tiếp lãnh đạo cuộc triệt hạ kinh đô Vijaya. Quân Việt mang về nước voi, nhạc công và cả hoàng hậu Mỵ Ê, người đã nhảy xuống sông tự tử trên đường về Thăng Long. Từ đó, Chăm Pa khởi đầu nộp cống cho các vua Đại Việt, và vào năm 1065 đã cống nạp một con tê giác trắng. Năm 1068, vua Vijaya là Rudravarman IV (tức Chế Củ) lại tấn công Đại Việt để trả thù trận thua năm 1044. Một lần nữa người Chăm bị thất bại và Đại Việt lại chiếm và đốt phá kinh đô Vijaya. Kinh đô Vijaya bị đốt phá một lần nữa vào năm 1069, khi tướng Lý Thường Kiệt lãnh đạo hải quân tấn công Chăm Pa và chiếm Vijaya[56]. Vua Rudravarman bị tóm gọn làm tù binh và sau đó đã đổi ba châu Địa Lý, Ma Linh và Bố Chính lấy tự do. Lợi dụng tình hình chiến sự, các thủ lĩnh người Chăm ở phía Nam đã dựng lên một vương quốc độc lập. Đến năm 1084, các vua Bắc Chăm Pa mới có thể tái thống nhất quốc gia. Trong năm 1075, quân Đại Việt do Lý Thường Kiệt lãnh đạo lại tấn công Chăm Pa nhưng không thắng được và phải rút quân về. Tuy không thắng nhưng Lý Thường Kiệt đã cho vẽ họa đồ ba châu mới lấy được và đổi châu Địa Lý làm châu Lâm Bình, châu Ma Linh làm châu Minh Linh và đồng thời chiêu mộ dân chúng đến đấy ở.

Khmer xâm chiếm Bắc Chăm Pa

Năm 1074, vua Harivarman IV lên ngôi đã cho phục dựng lại các đền tháp ở Mỹ Sơn và mở ra một thời kỳ thịnh vượng ngắn ngủi. Harivarman thiết lập quan hệ hòa bình với Đại Việt nhưng lại mở ra trận chiến với người Khmer của đế chế Angkor. Năm 1080, quân đội Khmer đã tấn công Vijaya và các trung tâm khác ở miền Bắc Chăm Pa. Các đền tháp và tu viện đã bị phá hủy; các di sản văn hóa đã bị lấy đi. Sau những thất bại này, quân Chăm dưới sự lãnh đạo của vua Harivarman đã đẩy lùi quân địch, khôi phục lại kinh đô và các đền tháp.

Khoảng năm 1080, một triều đại mới đã ra đời ở cao nguyên Korat trên đất Thái Lan ngày nay đã sở hữu ngai vàng Angkor của đế quốc Khmer. Ngay sau đó, các vua của triều đại mới đã tiến hành mở rộng đế quốc. Sau thất bại của các cuộc tấn công Đại Việt năm 1132 và 1137, các vua Angkor đã quay sang Chăm Pa. Năm 1145, quân đội Khmer dưới sự lãnh đạo của vua Suryavarman II, người đã xây dựng Angkor Wat, đã sở hữu Vijaya và phá hủy các đền tháp ở Mỹ Sơn. Vua Khmer sau đó đã tấn công và chiếm toàn thể miền Bắc Chăm Pa. Tuy nhiên, năm 1149, vua Jaya Harivarman, lãnh đạo của tiểu quốc Panduranga ở phía Nam, đã hạ gục quân xâm lược và lên ngôi vua của các vua tại Vijaya. Ông đã dành thời gian trị vị còn sót lại để đàn áp các cuộc nổi loạn tại Amaravati và Panduranga.

Người Chăm chiếm Angkor

Phù điêu cuối thế kỷ 12 ở đền Bayon (Angkor) mô tả các thủy binh Chăm Pa đang tấn công quân Khmer.

Phù điêu cuối thế kỷ XII ở đền Bayon (Angkor) mô tả các thủy binh Chăm Pa đang tấn công quân Khmer.

Năm 1167, Jaya Indravarman IV (sử Việt gọi ông là Chế Chí) lên ngôi vua Chăm Pa. Tài liệu văn bia mô tả ông dũng cảm, sử dụng thành thục mọi loại vũ khí, và thông hiểu triết học, thuộc hết các lý lẽ Dharmasutra (một kinh Ấn Độ giáo) và các triết lí Phật giáo Đại thừa. Sau khoảng thời gian thiết lập hòa bình với Đại Việt năm 1170, vua Jaya Indravarman đã đánh sang Khmer. Năm 1177, một lần nữa quân đội của nhà vua đã ngạc nhiên tấn công thủ đô Khmer là Yasodharapura từ các thuyền chiến đi ngược sông Mekong đến hồ lớn Tonle Sap ở Khmer. Quân Chăm đã sở hữu thủ đô Khmer, giết vua Khmer, và mang về nhiều chiến lợi phẩm.

Vijaya bị người Khmer chinh phục

Người Khmer nhanh chóng ủng hộ nhà vua mới Jayavarman VII người đã đẩy lùi quân Chăm ra khỏi vương quốc Khmer vào năm 1181. Khi Jaya Indravarman IV một lần nữa tấn công Khmer năm 1190, Jayavarman VII đã giao cho một hoàng tử người Chăm là Vidyanandana làm tổng lãnh đạo quân Khmer. Vidyanandana đã hạ gục quân xâm lược Chăm và thậm chí tiến lên chiếm Vijaya và bắt sống vua Jaya Indravarman về Angkor.

Sau khoảng thời gian chinh phục Vijaya, vua Khmer chọn người em rể là Hoàng tử In làm vua bù nhìn ở Chăm Pa. Nội chiến nổ ra tại Chăm Pa giữa các phe phái và cuối cùng Hoàng tử In thắng cuộc nhưng lại tuyên bố Chăm Pa độc lập khỏi vương quốc Khmer. Quân Khmer đã nỗ lực chiếm lại Chăm Pa nhưng không thành trong suốt những năm 1190. Năm 1203, cuối cùng thì tướng của vua Jayavarman VII cũng chiếm lại được Vijaya và biến Chăm Pa trở lại thành một tỉnh của Angkor. Chăm Pa hoàn toàn mất độc lập cho đến năm 1220. Sau đó, Vijaya đi vào thời kỳ suy thoái kéo dài hơn hai thế kỷ. Thời kỳ này đi đến kết thúc bởi Đại Việt và chỉ có một gián đoạn ngắn ngủi trong những nỗ lực quân sự của vua Che Bonguar.

Cuộc xâm lược của quân Nguyên Mông

Năm 1270, Kublai Khan dựng nên nhà Nguyên ở Bắc Kinh và dần dần chiếm hết miền Nam Trung Quốc do nhà Nam Tống thống trị. Năm 1280, Kublai Khan quay sang thôn tính Chăm Pa và Đại Việt. Năm 1283, quân Nguyên dưới sự lãnh đạo của tướng Sogetu đánh Chăm Pa và chiếm kinh thành Vijaya. Việc xâm lược Chăm Pa không có kết quả lâu dài. Thay vì tấn công trực diện, vua Chăm đã cho rút quân lên Tây Nguyên và tiến hành chiến tranh du kích. Hai năm sau, quân Nguyên phải rút lui và Sogetu bị giết trên đất Đại Việt trong một trận chiến khác trên đường rút quân về.

Jaya Simhavarman III

Năm 1307, vua Chăm là Jaya Simhavarman III (sử Việt gọi là Chế Mân), đã dựng đền thờ Po Klaung Garai ở Panduranga (Phan Rang), và nhượng hai châu Ô, Lý ở phía bắc cho Đại Việt làm của hồi môn để cưới công chúa Huyền Trân nhà Trần. Không lâu sau hôn lễ, nhà vua bỏ mạng, Đại Việt cử người cướp công chúa trở về để tránh bị hỏa táng theo tục lệ của người Chăm. Tuy nhiên phần đất hồi môn của Chế Mân đã không trở về với Chăm Pa. Để giành lại miền đất này, và nhân thời cơ Đại Việt suy yếu trong thế kỷ thứ 14, quân Chăm khởi đầu thường xuyên xâm nhập biên giới vào sâu trong đất Đại Việt ở phía Bắc.

Che Bonguar

Vị vua hùng mạnh cuối cùng của người Chăm là Che Bonguar (sử Việt gọi là Chế Bồng Nga) thống trị từ năm 1360 đến năm 1390. Che Bonguar đã thống nhất toàn thể đất đai của người Chăm dưới sự thống trị của mình và đến năm 1371 thì ông đã đủ mạnh để tấn công và hầu hết là đã chinh phục Đại Việt từ đường thủy.
Quân Chăm đã đánh phá Thăng Long vào các năm 1372 và 1378. Trong lần tấn công cuối cùng của quân Chăm vào Đại Việt là vào năm 1389. Tuy lúc đầu bị quân Đại Việt do Hồ Quý Ly lãnh đạo chặn lại, nhưng sau đó do dùng mưu dụ quân Đại Việt truy kích mà quân Chăm tiến lên thắng lớn. Nhờ có mưu kế của tướng Nguyễn Đa Phương nên quân Việt mới có thể rút lui bảo toàn lực lượng. Quân Chăm dưới sự lãnh đạo của Che Bonguar và La Ngai (tên Chiêm: Lakhai?, sau này là vua Simhavarman VI) theo hai đường thủy bộ tiến đến tận Hải Triều (khúc sông Luộc chảy qua huyện Phù Tiên, Hải Hưng và huyện Hưng Hà, Thái Bình ngày nay). Tại đây, sau trận thủy chiến với Trần Khát Chân, Che Bonguar đã chết tại trận, La Ngai bèn nhân thời cơ rút quân về nước tự lập làm vua. Này là năm 1390. Đây là lần tấn công cuối cùng của quân Chăm vào Đại Việt nhưng cũng từng đủ để đặt dấu chấm hết cho nhà Trần, một triều đại nổi tiếng với chiến tích thắng quân Nguyên một thế kỷ trước đó nhưng giờ đây đã quá suy yếu và không đủ sức để kháng cự hiệu quả với quân Chăm.

Xung đột với nhà Hồ

Năm 1391, Hồ Quý Ly đem đại quân tới tận biên giới Việt – Chăm và cử Hoàng Phụng Thế đem quân tấn công Chăm Pa nhưng quân Chăm Pa đặt mai phục thắng lớn khiến toàn quân Việt tan vỡ chỉ có Phụng Thế thoát được về. Ngay trong năm đó Quý Ly cũng rút quân về.

Đến năm 1402, Hồ Hán Thương lại đem quân đi đánh Chăm Pa. Tiền quân Việt do viên tướng người Chăm là Chế Đa Biệt (tên Việt là Đinh Đại Trung) giao tranh quyết liệt với quân Chăm do Chế Tra Nan lãnh đạo khiến hai bên đều tổn thất, cả hai viên tướng đều bị chết nhưng cũng làm cho vua Chăm là Jaya Indravarman VII (sách sử Việt gọi là Ba Đích Lại) (là con của La Ngai) phải nhường đất Chiêm Động (Hồ Quý Ly chia làm hai châu Thăng và Hoa, nay là đất các huyện Thăng Bình, Tam Kỳ, Quế Sơn, Duy Xuyên tỉnh Quảng Nam) và cả đất Cổ Lũy (Hồ Quý Ly chia làm hai châu Tư và Nghĩa nay là các huyện Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Mộ Đức, Đức Phổ tỉnh Quảng Ngãi) cho nhà Hồ.

Năm 1403, Hồ Hán Thương lại giao Nguyên Khôi thống lĩnh quân thủy bộ tiến đánh Chăm Pa nhưng vì lương thực tiếp tế không đủ lại có hải quân Minh giúp quân Chăm nên phải rút quân về.

Năm 1407, nhân khi quân Minh sang xâm lược Đại Việt, quân Chăm Pa cũng tấn công Đại Việt và lấy lại được đất cũ (Chiêm Động và Cỗ Lũy). Tướng Minh là Trương Phụ tiêu diệt các lực lượng chống đối của tàn dư nhà Hồ, giết tướng Hoàng Hối Khanh và thu hàng tướng Đặng Tất; đất đai Trương Phụ thu về nhà Minh chỉ đến Hoá châu, không tiến xuống vùng đất Chăm Pa vừa lấy lại.

Đại Việt thắng cuộc và tàn phá Vijaya

Năm 1446, quân Đại Việt dưới sự lãnh đạo của Trịnh Khả, Lê Thụ và Lê Khắc Phục đã tấn công Chăm Pa. Cuộc tấn công kết thúc thắng lợi và thành Vijaya mà người Việt thời Lê gọi là thành Chà Bàn (hay Đồ Bàn) rơi vào tay quân Việt. Quân Việt cũng bắt sống vua Chăm là Bí Cai (Bichai) và mang về Thăng Long cùng với nhiều phi tần. Tuy nhiên năm sau quân Việt đã bị đẩy lùi.

Năm 1470, quân Đại Việt do ngọc hoàng Lê Thánh Tông trực tiếp lãnh đạo lại tấn công Chăm Pa. Quân Đại Việt lúc này đã rất mạnh và có tổ chức tốt. Trái lại quân Chăm rất yếu và thiếu tính tổ chức. Thủy quân Đại Việt do các tướng Đinh Liệt và Lê Niệm lãnh đạo tấn công trước. Lê Thánh Tông dẫn đại quân theo sau. Tháng 2 năm đó, vua Chăm là Trà Toàn cử em đem tượng binh và bộ binh đến sát trung quân của vua Lê Thánh Tông. Các tướng Lê Hy Cát, Hoàng Nhân Thiêm, Lê Thế và Trịnh Văn Sái đem thủy quân chắn giữ cửa biển Sa Kỳ (nay là huyện Bình Sơn tỉnh Quảng Ngãi) chặn lối rút của quân Chăm. Vua Lê Thánh Tông dẫn thủy quân tiến đánh quân Chăm ở cửa Áp (tức cửa Tân Áp, sau là cửa Đại Áp ở huyện Tam Kỳ tỉnh Quảng Nam) và cửa Tọa (tức cửa Cựu Tọa sau là cửa Tiểu Áp cách cửa Đại Áp hơn 7 dặm). Đồng thời bộ binh Đại Việt do Nguyễn Đức Trung ngầm đi đường núi tấn công quân Chăm khiến quân Chăm phải rút về thành Vijaya. Quân Việt nhanh chóng tiến lên hạ gục quân Chăm và phong toả thành Vijaya Thành Vijaya thất thủ vào ngày 2 tháng 3 năm 1471 sau bốn ngày giao tranh. Vua Chăm là Trà Toàn bị tóm gọn sống và chết trên đường chở về Thăng Long. Tối thiểu hơn 60.000 người Chăm bị giết và 30.000 bị tóm gọn làm nô tỳ cho quân Đại Việt. Kinh thành Vijaya bị phá hủy hoàn toàn. Sau thắng cuộc vua Lê Thánh Tông đã sát nhập các địa khu Amaravati và Vijaya và lập nên thừa tuyên Quảng Nam và duy trì vệ quân Thăng Hoa ở đây.

Tướng Chăm là Bô Trì Trì (tên Chăm: ?) chiếm vùng đất Panduranga (sách sử Việt gọi là Phan Lung) xưng làm vua của người Chăm xin nộp cống xưng thần và vua Lê Thánh Tông phong Bô Trì Trì làm vương đất Chăm (sách Toàn thư gọi là Chiêm Thành tức là vùng đất Phan Rang, Thuận Hải ngày nay). Vua Lê Thánh Tông cũng phong vương cho tiểu vương xứ Kauthara (sách Toàn thư gọi là Hoa Anh tức là vùng đất tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa ngày nay) và nước Nam Bàn (sau này là hai nước Thủy Xá và Hỏa Xá mà ngày nay là đất các tỉnh Gia Lai, Kon Tum và Đăk Lăk tức miền đất Tây Nguyên). Chính thất bại này đã dẫn theo việc người Chăm lần trước nhất di cư với số lượng lớn sang Campuchia và Malacca.

Sau năm 1471: Thời suy tàn

Phần đất còn sót lại của vương quốc Chăm Pa lịch sử mà sách sử người Việt gọi là Chiêm Thành chỉ từ Phú Yên ngày nay trở về Nam (Kauthara và Panduranga) và từ năm 1653 Chăm Pa chỉ còn nửa đất phía nam của địa khu Panduranga (tức Phan Rang, Phan Rí và Phan Thiết ngày nay). Tuy nhiên, dưới sự bảo lãnh của Đại Việt, vương quốc này vẫn giữ được độc lập dưới sự thống trị của các chúa Chăm.

Bản đồ khoảng năm 1471 nước Chăm chỉ còn từ Phú Yên vào Ninh thuận.

Năm 1594 chúa Chăm là Po At đã gửi lực lượng sang giúp Sultan xứ Johor để tấn công quân Bồ Đào Nha ở Malacca.

Năm 1611, chúa Nguyễn Hoàng đã cử một viên tướng người Chăm mà sử Việt gọi là Văn Phong xâm chiếm hai huyện Đồng Xuân và Tuy Hoa để lập ra phủ Phú Yên, sau đổi thành dinh Trấn Biên.

Trong các năm 1627 đến 1651 là thời kỳ chúa Chăm là Po Rome xưng vương và lấy con gái của chúa Nguyễn Phúc Nguyên là Ngọc Hoa (có sách gọi là Ngọc Khoa). Đây cũng là thời kỳ mà quan hệ Việt – Chăm diễn ra tốt đẹp. Năm 1653, chúa Chiêm là Bà Bật (thường hay gọi là Bà Tấm, Bà Thâm, Bà Thấm hay Bà Tranh; tên Chiêm:?) xâm lấn Phú Yên. Chúa Nguyễn Phúc Tần cử cai cơ Hùng Lộc và tham mưu Minh Vũ đem quân vượt qua dãy núi Thạch Bi chiếm đất Chăm đến sát bờ trái sông Phan Rang ngày nay lập ra hai phủ là Thái Khang (nay là Ninh Hòa) và Diên Ninh (nay là Diên Khánh). Đây cũng là thời điểm Chăm Pa nộp cống xưng thần với các chúa Nguyễn.

Xem Thêm  Far Cry 3 Cấu Hình - cấu hình chơi far cry 3

Năm 1692, chúa Chăm là Po Saut (sách Tiền biên gọi là Bà Tranh) đã tấn công quân Việt của chúa Nguyễn Phúc Trăn (lúc đó thống trị Đàng Trong tức miền Nam Việt nam từ sông Gianh, Quảng Bình đổ vào) ở phủ Diên Ninh và dinh Bình Khang tức vùng Diên Khánh ngày nay. Cuộc tấn công thất bại và quân Chăm bị tướng Nguyễn Hữu Cảnh hạ gục hoàn toàn vào năm 1693. Tuy nhiên ngay sau đó, một quý tộc Chăm (làm quan Oknha sử nhà Nguyễn gọi là Ốc nha Đạt) với sự trợ giúp của một Hoa Kiều là tướng 𝓐 Bân đã tiếp tục nổi dậy chống lại chúa Nguyễn. Quân Chăm bị lực lượng của chúa Nguyễn Phúc Chu do tướng Nguyễn Hữu Cảnh lãnh đạo hạ gục vào năm 1695. Sau đó em trai của Po Saut là vua Po Saktiray Da Patih (sách Tiền Biên gọi là Kế Bà Tử) đã ký hòa ước với chúa Nguyễn Phúc Chu. Theo đó Panduranga được đổi thành Thuận Thành Trấn và chúa Chăm được gọi là Trấn Vương và thống trị Thuận Thành Trấn với sự giám sát chặt chẽ của các quan lại của chúa Nguyễn.

Mặc dù mối quan hệ phiên thuộc giữa vùng đất cai trị bởi các chúa Chăm và chính quyền trung ương của chúa Nguyễn diễn ra tốt đẹp. Nhưng trong lúc chúa Chăm có toàn quyền thống trị người Chăm, thì quyền hạn của họ so với người Việt sinh sống trong Thuận Thành Trấn là rất hạn chế. Dù các chúa Chăm có vai trò phán quyết so với các tranh chấp giữa người Chăm và người Việt thì việc đó cũng vẫn không giúp tránh khỏi các xung đột thường ngày giữa người Chăm và người Việt.

Năm 1697, chúa Nguyễn Phúc Chu cho lập phủ Bình Thuận (từ Phan Rang trở về tây) chia làm hai huyện An Phước và Hòa Đa. Đến đây vùng đất Chăm đã trở thành phiên thuộc của chúa Nguyễn và mối quan hệ giữa chúa Nguyễn và chúa Chăm là mối quan hệ giữa chính quyền trung ương và địa phương.

Đến năm 1712, chúa Nguyễn Phúc Chu đã công bố một bản hiệp ước mới gọi là Ngũ điều Nghị định, trong đó nhất định quyền xét xử của các chúa Chăm so với các thần dân người Chăm và cũng quy khái niệm vụ của các chúa Chăm so với các chúa Nguyễn. Để khắc phục xung đột giữa người Chăm và người Việt, bản hiệp ước quy định các xung đột này sẽ do chúa Chăm tức Trấn Vương cùng với quan Cai bạ và quan Ký lục (cả hai là người Việt) phán quyết. Bản hiệp ước này được duy trì cho đến tận năm 1832 qua các đời chúa Nguyễn, thời Tây Sơn và thời kỳ đầu triều đại nhà Nguyễn. Tuy nhiên, các đời chúa Chăm sau Po Saktiray Da Patih không còn duy trì được mối quan hệ trực tiếp với các chúa Nguyễn và mọi công việc của Thuận Thành Trấn được tiến hành thông qua phủ Bình Thuận.

Năm 1802, sau khoảng thời gian lên ngôi,hoàng đế Gia Long đã cho phép chúa Chăm (tức Trấn Vương Thuận Thành) được quyền có quân đội và cơ chế thuế má riêng và giao cho Po Saong Nhung Ceng thống trị tiểu quốc này.

Năm 1832 người Chăm lại nổi dậy chống lại vua Minh Mạng nhân dịp có cuộc khởi nghĩa Lê Văn Khôi ở phía Nam nhưng không thành công. Chính quyền tự trị hạn chế của người Chăm chấm hết tồn tại vào năm 1832, khi ngọc hoàng Minh Mạng đổi Thuận Thành thành phủ Ninh Thuận và đặt quan lại thống trị trực tiếp. Lịch sử vương quốc Chăm Pa chính thức dừng lại ở đây.

Lịch sử miền đất Tây Nguyên ngày nay sau khoảng thời gian tách khỏi lịch sử Chăm Pa vào năm 1471 vẫn chưa được các học giả quan tâm phân tích. Mối quan hệ lịch sử giữa Chăm Pa (trước thời Lê), Nam Bàn (thời Lê) và hai nước Thủy Xá, Hóa Xá (thời Nguyễn) vẫn chưa được minh chứng. Tuy nhiên theo Cương mục thì vua Lê Thánh Tông phong cho dòng dõi chúa Chăm Pa làm Nam Bàn quốc vương và đất đai Nam Bàn chính là đất phụ thuộc Chăm Pa xưa (trước thời Lê) và vào thời Nguyễn đấy chính là đất của hai nước Thủy Xá và Hỏa Xá (tức Tây Nguyên ngày nay). Sau khoảng thời gian Chăm Pa bị sát nhập hoàn toàn vào Việt Nam thì hai nước Thủy Xá và Hỏa Xá tức miền đất Tây Nguyên ngày nay vẫn giữ được độc lập nhưng trở thành phiên thuộc của nhà Nguyễn cho đến thời Pháp thuộc.

Từ thế kỷ thứ 7 đến thế kỷ thứ 15, lãnh thổ của vương quốc Chăm Pa có nhiều biến động về biên giới phía bắc với Đại Việt. Lãnh thổ Chăm Pa ban đầu là vùng mà ngày nay bao gồm các tỉnh từ Quảng Bình, Bình Định cho đến Ninh Thuận, Bình Thuận. Đến năm 1069, vua Rudravarman (Chế Củ) của Chăm Pa đã nhượng ba châu Địa Lý (Lệ Ninh, Quảng Bình ngày nay), Ma Linh (Bến Hải, Quảng Trị ngày nay) và Bố Chính (các huyện Quảng Trạch, Bố Trạch, Tuyên Hòa tỉnh Quảng Bình ngày nay) cho vua Lý Thánh Tông của Đại Việt và lãnh thổ Chăm Pa chỉ còn từ Thừa Thiên – Huế ngày nay trở xuống. Đến năm 1306, vua Jayasimhavarman III (Chế Mân) nhượng hai châu Ô, Lý cho nhà Trần. Nhà Trần đổi hai châu này thành hai châu Thuận và châu Hóa nay là vùng từ Thừa Thiên – Huế cho đến Đà Nẵng. Đến năm 1471, vua Lê Thánh Tông sau khoảng thời gian hạ gục quân Chiêm và sáp nhập phần lớn lãnh thổ Chiêm đã xác lập lãnh thổ Chiêm chỉ bao gồm các tỉnh Phú Yên – Khánh Hòa và Ninh Thuận – Bình Thuận ngày nay.

Về phía Tây, tuy lãnh thổ Chăm Pa bao gồm cả Tây Nguyên và đôi lúc còn mở rộng sang tận Lào ngày nay, nhưng người Chăm vẫn duy trì lối sống của những người đi biển với các hoạt động thương mại đường thủy, và chỉ định cư ở khu vực đồng bằng ven biển miền Trung Việt Nam. Năm 1471, vua Lê Thánh Tông tách phần đất thuộc Tây Nguyên ngày nay thành nước Nam Bàn và từ đây miền đất này không còn thuộc cương vực của Chăm Pa.

Các địa khu

Vương quốc Chăm Pa trong lịch sử bao gồm năm địa khu với tên gọi xuất phát từ lịch sử Ấn Độ. Vị trí và lãnh thổ của các khu vực này như sau:

Indrapura: Trung tâm của địa khu này là Tp Indrapura, ngày này nằm ở khu vực Đồng Dương, thuộc địa phận huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam ngày nay. “Thành phố Sư tử” Singhapura cũng có thời là trung tâm của địa khu này, nay là Trà Kiệu, nằm gần Đà Nẵng và cách không xa thánh địa Mỹ Sơn, nơi vẫn còn nhiều di tích đền tháp của người Chăm. Địa khu này lúc mở rộng nhất bao gồm các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, và Thừa Thiên–Huế ngày nay. 

Amaravati: Nay là Tp Đà Nẵng, tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi. 

Vijaya: Thủ phủ cũng là Tp cùng tên Vijaya mà trong sách sử của người Việt gọi là Phật Thệ (thời Lý) hay Chà Bàn (thời Lê) mà sách sử Việt viết nhầm thành Đồ Bàn nằm ở gần Qui Nhơn thuộc tỉnh Bình Định ngày nay. Lúc mở rộng nhất, địa khu Vijaya kiểm tra toàn thể các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên ngày nay. 

Kauthara: Thủ phủ là Tp Kauthara, nay là Nha Trang thuộc tỉnh Khánh Hòa. 

Panduranga: Thủ phủ là Tp Panduranga ngày nay là thị xã Phan Rang thuộc tỉnh Ninh Thuận. Panduranga là lãnh thổ Chăm Pa cuối cùng bị sáp nhập bởi Đại Việt và dưới thời các chúa Nguyễn cũng như đầu thời Nguyễn được gọi là Thuận Thành. 

Nhân khẩu

Người Chăm trong thời vương quốc Chăm Pa lịch sử bao gồm hai bộ tộc chính là bộ tộc Dừa (Narikelavamsa) và Cau (Kramukavamsa). Bộ tộc Dừa sống ở Amaravati và Vijaya trong lúc bộ tộc Cau sống ở Kauthara và Pandaranga. Hai bộ tộc có những cách sinh hoạt và trang phục khác nhau và có nhiều lợi nhuận xung đột dẫn theo tranh chấp thậm chí chiến tranh. Nhưng trong lịch sử vương quốc Chăm Pa các mối xung đột này thường được khắc phục để duy trì sự thống nhất của quốc gia thông qua hôn phối.

Bên cạnh người Chăm, chủ nhân vương quốc Chăm Pa xưa còn tồn tại cả các tộc người thiểu số gốc Nam Đảo và Mon-Khmer và ở phía Bắc Chăm Pa còn tồn tại cả người Việt.

Thể chế chính trị

Các học giả hiện đại tư tưởng thể chế chính trị và hành chính của vương quốc Chăm Pa theo hai thuyết đối lập nhau. Mặc dù các học giả đều thống nhất việc vương quốc Chăm Pa bị chia nhỏ thành năm địa khu (Panduranga, Kauthara, Amaravati, Vijaya, Indrapura) chạy từ Nam lên Bắc xuôi theo bờ biển Việt Nam ngày nay và được thống nhất bởi ngôn từ, văn hóa và di sản chung. Tuy nhiên, các học giả không thống nhất việc năm địa khu này có cùng thuộc một thực thể chính trị đơn nhất, hay là các địa khu này hoàn toàn độc lập với nhau như là các tiểu quốc. Nhiều tác giả tư tưởng Chăm Pa là một liên bang bao gồm nhiều tiểu quốc, tuy có chính quyền trung ương thống nhất nhưng các tiểu vương hoàn toàn tự quyết thống trị tiểu quốc của mình. Một thực tiễn là không phải lúc nào các tài liệu lịch sử cũng phong phú so với mỗi địa khu ở toàn bộ các thời kỳ. Ví dụ, vào thế kỷ thứ 10, tài liệu về Indrapura rất phong phú trong lúc ở thế kỷ thứ 12 lại rất giàu tài liệu về Vijaya; còn sau thế kỷ thứ 15, tài liệu về Panduranga rất phong phú. Một số học giả xem việc biến động của các tài liệu lịch sử trên là phản ánh việc xê dịch của thủ đô Chăm Pa và tư tưởng Chăm Pa nếu không phải là một thể chế chính trị đơn nhất thì cũng là một liên bang các tiểu quốc và việc tài liệu phong phú chính minh chứng cho điều này là thủ đô của Chăm Pa. Các học giả nhận thấy, thế kỷ thứ 10 tài liệu về Indrapura rất phong phú, có vẻ xuất phát từ nguyên nhân đây là thủ đô của Chăm Pa. Các học giả khác không nhất trí như vậy và cho rằng Chăm Pa chưa khi nào là một quốc gia thống nhất và không cho rằng việc giàu cứ liệu ở một thời kỳ lịch sử là nền tảng để cho rằng này là thủ đô của quốc gia thống nhất.

Văn hóa văn nghệ

Văn hóa Trung Quốc, Ấn Độ và Campuchia đều có tác động đến văn hóa Chăm Pa. Ban đầu văn hóa Chăm Pa gắn với văn hóa và truyền thống tôn giáo Trung Quốc, nhưng từ thế kỷ thứ 4 vương quốc Phù Nam ở Campuchia và miền Nam Việt Nam ngày nay đã truyền bá văn minh Ấn Độ vào xã hội Chăm. Tiếng Phạn trở thành ngôn từ học thuật, và Ấn giáo, nhất là Si-va giáo, trở thành quốc giáo. Từ thế kỷ thứ 10, các thương nhân Ả Rập đã mang tôn giáo và văn hóa đạo Hồi vào khu vực. Chăm Pa có vai trò trung chuyển trọng yếu trên đoạn đường hồ tiêu từ vịnh Pec-xich tới miền Nam Trung quốc và sau này là đoạn đường thương mại trên biển của người Ả Rập, xuất phát từ bán đảo Đông Dương – nơi xuất khẩu trầm hương. Mặc dù giữa Chăm Pa và đế quốc Khmer luôn có chiến tranh, nhưng thương mại và văn hóa vẫn được giao lưu về cả hai phía. Hoàng tộc của hai vương quốc cũng thường xuyên lấy lẫn nhau. Chăm Pa còn tồn tại quan hệ thương mại và văn hóa với các đế quốc hùng mạnh trên biển như Srivijaya và sau này với Majapahit trên bán đảo Mã Lai.

Thời kỳ văn nghệ miền bắc: Thế kỷ 7 – thế kỷ 11

Từ thế kỷ thứ 4, người Chăm pa đã xây dựng đền thờ tại Mỹ Sơn[9] nhưng không còn tới ngày nay. Các di tích đền tháp còn sót lại được phát hiện có thời đại sớm nhất cũng là vào nửa sau của thế kỷ thứ 7. Các ngôi đền tháp này thuộc thời gian này cho đến năm 980 đều thuộc cùng một thời kỳ là thời kỳ văn nghệ miền bắc. Các tháp thuộc thời kỳ này đều đơn giản, làm bằng gạch nung màu đỏ, có chân đế là một khối hình chữ nhật, các mặt tháp đều có sắp đặt mi cửa ẩn, trừ hướng có cửa ra vào, trên đó có nhiều hình điều khắc của các vị thần. Mi cửa được đỡ bằng bộ khung các trụ bổ tường cao và hẹp cùng các đầu cột xòe ngang. Cũng chính các trụ bổ tường này đỡ vòm cửa. Trên vòm và trên các trụ bổ tường có chạm khắc các phù điêu theo thần thoại Ấn độ, với các chạm khắc tập trung chính ở đầu cột. Mái tháp thường gồm ba tầng, mỗi tầng đều có bao lơn nhỏ ở phía trên mi cửa. Bên trong tháp đều có bệ thờ với hình ảnh triều đình theo kiểu Ấn độ.
Theo các tác giả Philippe Stern (Văn nghệ Champa, 1942) and Jean Boisselier (Điêu khắc Champa, 1963) được nhà sử học Jean-François Hubert tổng hợp thì có thể phân tách thời kỳ này thành các phong thái sau:

Phong thái Mỹ Sơn E1: Thế kỷ 7 – thế kỷ 8

Phong thái được xác nhận sớm nhất là Mỹ Sơn E1. Phong thái thời kỳ này phản ánh tác động từ bên ngoài của văn hóa tiền Angkor và cả văn nghệ Dvaravati và miền Nam Ấn độ.

Tiêu biểu cho phong thái Mỹ Sơn E 1 là ở bệ thờ bên trong tháp làm bằng đá cát kết có hình dạng linga tượng trưng cho ngọn núi là nhà của thần Si-va, xung quanh có chạm các tu sĩ đang tu luyện trong rừng núi hay hang động, với các hình dạng như đang chơi các loại nhạc cụ khác nhau, đang giáo hóa cho các loài vật và cả đang thư giãn. Một công trình tiêu biểu nữa là phù điêu ở trên lối vào chính chạm khắc buổi rạng đông thời kì theo thần thoại Ấn độ. Thần Vishnu đang nằm ngủ ở dưới đáy biển, trên giường là rắn thần Sesha. Một bông hoa sen từ từ mọc lên từ rốn của thần. Thần Brahma từ từ đứng lên trong bông hoa sen đó để tạo ra cả vũ trụ này.

Phong thái Đồng Dương: Thế kỷ 9 – thế kỷ 10

Phong thái Đồng Dương mở màn bằng các tháp Hòa Lai (nửa đầu thế kỷ 9) với các vòm cửa nhiều mũi tròn với các trụ bổ tường hình bát giác làm bằng đá cát kết với các trang trí hình lá uốn cong. Sang Đồng Dương (nửa sau thế kỷ thứ 9) các trang trí chuyển thành những hình hoa lá nhìn hướng ra phía ngoài. Các tháp thuộc phong thái Đồng Dương đều có những hàng trụ bổ tường và vòm cửa khỏe khắn và có khía cạnh. Đây cũng là điểm nổi bật giữa phong thái Đồng Dương và Mỹ Sơn. Đỉnh cao của phong thái là thiết kế một tu viện Phật giáo vào cuối thế kỷ 9. Hàng rào tu viện dài đến một cây số và có rất nhiều tượng Phật. Rất tiếc là di tích đã bị phá hủy nhưng nhiều học giả cho rằng khi còn nguyên vẹn, di tích này cũng tương tự với các tu viện Phật giáo ở miền Bắc Ấn Độ. Một số hiện vật thuộc di tích còn được giữ lại ở các bảo tàng cho thấy điêu khắc thời kỳ này có tính uyển chuyển, phong phú và trổ tài những hình khắc thân thiện với chính nguời Chăm hơn là những ảnh tượng của các vị thần. Các pho tượng có mũi và môi dày và không hề cười. Các đề tài là Đức Phật, các vị sư, các hộ pháp dvarapalas, bồ tát Avalokiteshvara (Quán Thế Âm) và nữ thần tình thương Tara, người được xem là vợ của Avalokiteshvara.

Phong thái Mỹ Sơn A1: Thế kỷ 10 – thế kỷ 11

Ở phong phương pháp này các trụ bổ tường đứng thành đôi một với hàng rào hình người ở giữa như trong tháp Mỹ Sơn A1. Các vòm cửa có kiểu dáng phức tạp nhưng không chạm khắc. Thân tháp cao vút với các tầng dần thu nhỏ lại. Đây là thời kỳ chịu ràng buộc của Java và cũng là thời hoàng kim của Chăm Pa. Phong phương pháp này đặt tên theo tòa tháp có cùng ký hiệu nhưng do hậu quả của chiến tranh đến nay không còn. Các tháp thuộc nhóm Ɓ, ¢ và 𝓓 trong khu di tích thánh địa Mỹ Sơn cũng thuộc phong phương pháp này. Đến thời kỳ này, đối ngược với vẻ khỏe mạnh và có phần dữ tợn của phong thái Đồng dương, phong thái Mỹ Sơn 𝓐 1 có tính động, hình như đang nhảy múa, với vẻ đẹp duyên dáng. Các vũ công là các hoa văn rất được ưa chuộng của các nhà điêu khắc Chăm thời kỳ này. Ngoài ra các linh vật cả trong cuộc sống thực lẫn từ thần thoại cũng là một đề tài được ưa thích như voi, hổ, garuda:

Thần Indra: Thường được trổ tài ở tư thế ngồi trên bệ với tay cầm lưỡi tầm sét, chân xếp bằng và một con voi là vật cưỡi của thần đang phủ phục.

Xem Thêm  COI THIEN THAI ENTERTAINMENT NETWORK - quannhala

Bò Nan-din: Là vật cưỡi của thần Si-va thường thẻ hiện dưới tư thế nằm và thuộc dạng tượng tròn. 

Ga-ru-da: Là linh vật mà thần Vis-nu thường cưỡi và là kẻ thù của rắn thần Naga. Các phù điêu do vậy thường chạm hình chim thần Ga-ru-da đang nuốt hoặc dẫm lên hoặc đạp rắn thần Naga. 

Sư tử: Thường là sư tử đực ở tư thế ngồi với hai chân trước đứng. 

Thần Si-va: Thường đươc thờ dưới hình tượng linga, hay với kiểu tóc búi (jatanlinga) hoặc trang trí mặt người (kosa). 

Cũng thuộc phong thái Mỹ Sơn 𝓐 1 này còn tồn tại cả các nhóm tháp ở Khương Mỹ và các di vật ở Trà Kiệu. Các công trình Khương Mỹ nằm trong thời kỳ chuyển tiếp giữa Đồng Dương và Mỹ Sơn A1. Đồng thời chịu ràng buộc của Khmer và Java. Nhiều di vật điêu khắc của Trà Kiệu vẫn được lưu giữ ở các viện bảo tàng nhất là bệ thờ Trà Kiệu. Bệ thờ làm gồm bệ đá với phù điêu và một khối ligam. Các phù điêu chạm các thời kỳ khác nhau của cuộc sống Krisna. Ở mỗi góc của bệ thờ có hình sư tử nâng đỡ cả khối thiết kế nặng bên trên. Cũng thuộc phong thái Trà Kiệu còn tồn tại bệ đá chạm vũ công có hình vuông mà mỗi mặt đều có chạm hình vũ nữ apsara đang nhảy múa và các nhạc công gandharva đang chơi nhạc. Bệ đặt trên nền có chạm hình đầu sư tử và hình con makara.

Thời kỳ miền Nam: Sau thế kỷ 11 đến thế kỷ 15

Thời kỳ này còn được gọi là phong thái Bình Định hay Tháp Mẫm. Khởi đầu bằng các tháp ở Chánh Lộ có phong thái chuyển tiếp từ Mỹ sơn A1 sang Tháp Mẫm. Một số hiện vật ở Tháp Mẫm vẫn còn dáng dấp cân đối, nhẹ nhõm nhưng phần lớn các điêu khắc đã trở nên thô với hình khối tròn mang tính địa phương dần dần chiếm lĩnh khắp các hình tượng Ấn giáo ở miền Nam. Các thiết kế thiết kế với các đường nét sắc sảo nhất là các đường tròn uốn lượn dần dần chuyển sang phong thái mạnh mẽ với các hình khối ít điêu khắc cho thấy ấn tượng mạnh mẽ nhưng hình như không còn nét tinh tế nếu so sánh với phong thái Mỹ Sơn A1. Ở đây các vòm cửa thu lại và vút lên thành hình mũi giáo. Các tháp nhỏ trên các tầng bên trên quấn tròn lại thành các khối đậm nhưng khỏe. Các trụ bổ tường thu hẳn vào trong tường thành một khối phẳng. Mặt phẳng tháp là các hàng rào với những đường gân sống. Chỉ có các hình linh vật là có thể so sánh được với phong thái trước. Chạm khắc trong phong phương pháp này đi vào cụ thể trang trí hơn là nhìn vào tổng thể vẻ đẹp và tính động của hình tượng. Một trong các hoa văn của phong thái Tháp Mẫm là chạm trên đá một hàng các bộ ngực phụ nữ xung quanh chân đế của một bệ thờ. Hoa văn này đã thấy ở Trà Kiệu nhưng trở thành điển hình cho phong thái Tháp Mẫm và là một hoa văn mới lạ trong nền văn nghệ Đông Nam Á.

Kinh tế xã hội

Trong lúc có nhiều công trình phân tích về đời sống, hoạt động kinh tế và cơ cấu, tổ chức và các mặt khác nhau của người Chăm hiện đại thì chưa có những công trình phân tích như vậy cho vương quốc Chăm Pa cổ. Nguyên nhân cũng thật dễ nhận thấy vì những gì thuộc về thượng tầng thiết kế là những thứ khó còn sót lại với thời gian và sử liệu về một vương quốc có thời đã dựng nền những đền tháp rực rỡ chạy dài suốt ven biển miền Trung Việt nam ngày nay cũng chỉ còn qua các phế tích.
Qua các công trình phân tích lịch sử, các tác giả cho rằng nền kinh tế Chăm Pa xưa đa phần dựa vào các hoạt động nông nghiệp, sản xuất đồ thủ công và thương mại. Các dầu vết còn sót lại ở miền Trung Việt Nam của những hệ thống thủy lợi phức tạp và những giống lúa có chất lượng tốt đặc trưng riêng của miền Trung được xem là các chứng cứ của một nền kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước đã phát triển cao.

Vương quốc Chăm Pa xưa có được vị trí thuận tiện cho sự phát triển thương mại đường thủy. Các cảng biển của vương quốc là những điểm trung chuyển nhượng lưu hàng hóa quốc tế cũng như để xuất khẩu các sản phẩm đa phần từ khai thác rừng ở miền thượng của các đồng bằng ven biển và Tây Nguyên. Từ thế kỷ thứ 10, các cảng của Chăm Pa đã được biết tới như là những thương cảng trọng yếu trên Biển Đông, nằm trên hành trình thương mại đường thủy giữa phương Đông và phương Tây vẫn được gọi là “Con đường tơ lụa trên biển”. Các sản phẩm xuất cảng của Chăm Pa là sản phẩm của sản xuất đồ thủ công như các đồ gốm sứ, đất nung và cả các sản phẩm khai thác miền rừng như sừng tê, ngà voi, và nhất là trầm hương, và cả của hoạt động khai thác tổ yến trên các đảo ngoài khơi.
Cho đến nay, các công trình phân tích dân tộc học và điền dã cũng như tổng quan các phân tích về xã hội nguời Chăm đều tập trung vào người Chăm hiện đại. Đến nay chưa có một công trình phân tích lịch sử nào, nhất là các công trình dựa trên khảo cứu văn bia hay văn tịch cổ của người Chăm cho ra các tổng kết khách quan có chứng cứ về xã hội Chăm Pa cổ. Một số tác giả để bù đắp cho sự thiếu hụt thông tin này và dựa trên nền văn hóa Ấn hóa của người Chăm đều trình bày xã hội dưới dạng các đẳng cấp (caste) trong kinh Vệ Đà trước khi đi vào khảo cứu các di tích văn hóa văn nghệ Chăm Pa còn sót lại. Theo đó, xã hội Vệ Đà có bốn đẳng cấp, đứng đầu là đẳng cấp giáo sĩ Brahman chuyên về thờ cúng, tiếp theo là đẳng cấp Ksatria tức chiến binh có nhiệm vụ bảo vệ các đẳng cấp kia. Các học giả hiện đại theo xu thế phân tích thực chứng đã tỏ ra dè dặt hơn và không đề cập gì từ phương diện phân tích sử học, nhất là từ các tài liệu văn bia về cơ cấu xã hội của Chăm Pa cổ. Các sự kiện lịch sử, như việc Lưu Kế Tông, một người Việt chứ không phải người Chăm làm vua Chăm Pa cho dù chỉ có ba năm (983-986) rồi bị người Chăm đoạt lại vương vị cũng chứng tỏ cơ cấu xã hội Chăm Pa cổ phức tạp hơn trong kinh Vệ Đà nhiều. Tóm lại, việc xem xã hội Chăm Pa cổ là xã hội Vệ Đà với bốn đẳng cấp như ở Ấn Độ cổ (hay năm đẳng cấp với đẳng cấp thứ năm là ngoại nhân) cần được nhìn nhận rất thận trọng vì chưa có công trình phân tích nào từ cứ liệu văn khắc Chăm cổ minh chứng.

Nhiều học giả trong nước trên nền tảng phân tích cơ chế mẫu hệ vẫn còn tồn tại của người Chăm hiện tại và trên nền tảng phân tích rõ ràng và cụ thể các cặp linga-yoni, nhất là linga phân tầng, cả linga phân làm ba tầng thể trimutri (ba thể của Thượng Đế) và hai tầng (linga và yoni – âm và dương) được đặt trên bệ đá hình vuông có khe để nước chảy thoát ra chính là yoni được đặt bên dưới linga, thì cho rằng ở xã hội Chăm cổ vai trò của người phụ nữ trong xã hội cũng rất to lớn. Tuy nhiên, cũng tương tự với ở trên, đấy mới chỉ là một suy luận chứ chưa có các tài liệu văn bia minh chứng và chưa có công trình phân tích lịch sử dựa trên các văn khắc Chăm cổ nào đề cập tới việc này.

Và vấn đề về kinh tế và xã hội của vương quốc Chăm Pa cổ vẫn còn phải chờ cho tới khi có những tiến bộ vượt bậc hơn nữa của nghề phân tích lịch sử với những phát hiện không chỉ mang tính đột phá mà còn phải chờ cả vào may mắn nữa về các nguồn thư tịch cổ mới may chăng hé lộ thêm cho tất cả chúng ta thông tin về phương diện kinh tế và xã hội của vương quốc Chăm Pa cổ.

Các triều đại

Vương quốc Chăm Pa bị diệt vong, di tích để lại cũng như những ghi chép từ sử liệu không đủ để xác nhận toàn bộ các đời vua và các thông tin cụ thể về năm thống trị của toàn bộ các vua.

Các nhà phân tích căn cứ vào nhiều nguồn tài liệu, trong đó có cả các bia khảo cổ, di tích của người Chăm, tới nay xác nhận được khoảng 10 triều đại với gần 100 vị vua Chăm Pa.

Một số vua Chăm Pa được gọi tên phiên âm theo tiếng Hán, theo cách gọi của các thư tịch cổ của Việt Nam và Trung Quốc. Một số vị có tên Chăm được phục hồi qua đối chiếu tên bằng tiếng Phạn và tiếng Hán, như Cambhuvarman tức Phạm Phan Chí hoặc Kandharpadjarma tức Phạm Đầu Lê…, do được xuất hiện trong cả bi ký Chăm và thư tịch Hán.

Trong các vị vua Chăm Pa, vị vua trước nhất của nhà nước Lâm Ấp độc lập mà sử Trung quốc gọi là Khu Liên vẫn được xem là vị vua trước nhất đứng lên chống lại nhà Hán xây dựng nền độc lập. Trà Toàn là vị vua cuối cùng của thời kỳ hoàng kim hùng mạnh, trước khi Chăm Pa bị chia cắt, suy yếu và diệt vong.

Tôn giáo

Ấn giáo và Phật giáo

Trước khi bị vua Lê Thánh Tông chinh phục năm 1471, tôn giáo chính của người Chăm là Ấn độ giáo, và nền văn hóa Chăm cũng chịu ràng buộc sâu sắc của văn minh Ấn Độ. Ấn độ giáo ở Chăm Pa đa phần là Si-va giáo, tức là đạo thờ thần Shiva, và có tác động của các yếu tố tôn giáo địa phương như thờ nữ thần Đất Yan Po Nagar. Biểu tượng chính của tôn giáo Si-va của người Chăm là linga, mukhalinga, jatalinga, linga chia tầng và kosa.

Linga (hay thường hay gọi là lingam) là một trụ cột có hình dương vật đại diện cho Shiva. Các vua Chăm thường xuyên dựng và cúng các linga bằng đá để thờ ở trung tâm các đền tháp của hoàng tộc. Tên mà vua Chăm đặt cho một linga sẽ bao gồm tên của nhà vua và đuôi “-esvara,” tức là Shiva. 

Mukhalinga là một linga mà trên đó có vẽ hoặc chạm hình ảnh Shiva dưới dạng hình người hay hình khuôn mặt. Jatalinga là một linga mà trên đó chạm phong thái điển hình của Shiva là kiểu tóc búi. 

Linga phân tầng là một cột linga chia làm ba phần đại diện cho ba thể (trimurti) của thượng đế trong Ấn giáo: phần dưới cùng, là một khối hình lập phương, tượng trưng cho Brahma; phần ở giữa, là một hình lăng trụ tám mặt, đại diện cho Vishnu; và phần trên cùng, có hình tròn, đại diện cho Shiva. 

Kosa là một khối kim loại hình trụ được sử dụng để che phủ cho linga. Việc hiến tế một kosa để trang trí cho linga là một nét đặc trung mới lạ của đạo Si-va của người Chăm. Các vua Chăm thường đặt tên cho các kosa đặc biệt cũng theo cách họ tự đặt tên cho các linga. 

Việc Ấn giáo là một tôn giáo chiếm ưu thế của người Chăm bị gián đoạn từ thế kỷ 9 đến thế kỷ 10 khi triều đại Indrapura (Đồng Dương ở tỉnh Quảng Nam ngày nay) theo Phật giáo Đại thừa. Phong thái văn nghệ Phật giáo Chăm Pa thời Đồng Dương được thừa nhận là một trong những phong thái mới lạ.

Trong thế kỷ thứ 10 và các thế kỷ sau, Ấn Độ giáo lại trở thành tôn giáo chính của Chăm Pa. Một số nơi vẫn còn lưu giữ những công trình tôn giáo và cũng là các công trình thiết kế và văn nghệ của thời kỳ này như Mỹ Sơn, Khương Mỹ, Trà Kiệu, Chánh Lộ và Tháp Mẫm.

Hồi giáo

Hồi giáo khởi đầu xâm nhập vào Chăm Pa từ sau thế kỷ thứ 10, nhưng chỉ sau năm 1471 thì tác động của Hồi giáo mới sắc nét. Vào thế kỷ thứ 17 thì hoàng tộc Chăm đã theo đạo Hồi và cũng từ đó phần lớn người Chăm khởi đầu theo đạo này, và khi vùng đất này bị sáp nhập vào Việt Nam thì phần lớn người Chăm ở đây đã theo đạo Hồi. Phần lớn người Chăm đều là người Hồi giáo và cũng tương tự với người Java ở Indonesia, họ còn chịu nhiều tác động của Ấn giáo. Các văn bản của Indonesia còn ghi lại mẩu truyện công chúa Darawati, một công chúa Chăm đã tác động đến chồng là Kertawijaya, người thống trị đời thứ bảy của Majapahit, tượng tự như mẩu truyện với Parameshwara, người đã cải đạo Hồi cho hoàng tộc Majapahit. Ngôi mộ của Putri Champa (công chúa Chăm) vẫn còn thấy ở Trowulan, nơi xưa kia là thủ đô của Majapahit.

Rất nhiều tháp cổ của người Chăm vẫn còn ở miền Trung Việt Nam. Một điển hình về thiết kế là thánh địa Mỹ Sơn gần Hội An. Thánh địa Mỹ Sơn bị bom Mỹ phá hủy nặng nề trong chiến tranh nhưng đã được phục chế lại sau chiến tranh từ thập niên 1980 với những đóng góp to lớn của thiết kế sư Ba Lan Kazimierz Kwiatkowski (1944-1997) mà người Việt vẫn gọi thân mật là Kazik. Năm 1999, thánh địa Mỹ Sơn được UNESCO thừa nhận là di sản văn hóa toàn cầu.
Ngoài ra còn tồn tại các di tích tháp Chăm nổi tiếng ở miền Trung như:

Po Nagar 

Po Klaung Garai 

Các hiện vật điêu khắc Chăm phong phú nhất có tại Bảo tàng Chăm Đà Nẵng (trước đó là “Musée Henri Parmentier”) ở Tp biển Đà Nẵng. Viện bảo tàng được thành lập từ năm 1915 bởi học giả người Pháp và đến nay vẫn được xem là một trong những bảo tàng lớn ở Đông Nam Á. Các hiện vật Chăm cũng có mặt tại các viện bảo tàng khác như:

Bảo tàng Mỹ thuật, Hà nội 

Bảo tàng Lịch sử, Hà nội 
Bảo tàng Mỹ thuật, TP HCM 
Bảo tàng Lịch sử, TP HCM 
Bảo tàng Guimet, Paris 

Nguồn: http://www.nguoicham.com/blog/159/l%E1%BB%8Bch-s%E1%BB%AD-v%C6%B0%C6%A1ng-qu%E1%BB%91c-champa/

 

CHIA SẺ BÀI VIẾT


Xem thêm những thông tin liên quan đến đề tài lịch sử vương quốc chăm pa

Tóm tắt lịch sử Việt Nam: Quốc gia Chăm Pa huyền bí (P1)

  • Tác giả: Đọc Báo Dùm Bạn
  • Ngày đăng: 2020-04-07
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 6707 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Chăm pa đã từng tồn tại nhưng nhiều người Việt Nam tất cả chúng ta vẫn chưa hình dung được lịch sử tạo dựng và phát triền của quốc gia huyền bí này. Mời các bạn xem clip và tìm hiểu quốc gia này nhé.
    Phần 1: https://youtu.be/2DLvCbq-O64
    Phần 2: https://youtu.be/BeuqAjMiYD8

    Các bạn nhớ ủng hộ kênh để nhận nhiều clip hay nữa nhé!

Lịch sử Chăm Pa

  • Tác giả: tailieu.vn
  • Nhận xét: 5 ⭐ ( 8771 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm:

[Chân trời sáng tạo] Giải SGK Lịch sử 6 Bài 20: Vương quốc Chăm-pa từ thế kỉ II đến thế kỉ Ҳ

  • Tác giả: tailieu.com
  • Nhận xét: 5 ⭐ ( 6091 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: [Chân Trời Sáng Tạo] Giải SGK Lịch Sử 6 Bài 20: Vương quốc Chăm-pa từ thế kỉ II đến thế kỉ Ҳ hướng dẫn học viên trả lời thắc mắc, bài tập trong sách giáo khoa

Lý thuyết vương quốc Chăm-pa từ thế kỉ II đến thế kỉ Ҳ Lịch sử và Địa Lí 6 Chân trời sáng tạo>

  • Tác giả: loigiaihay.com
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 5325 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Lý thuyết vương quốc Chăm-pa từ thế kỉ II đến thế kỉ Ҳ Lịch sử và Địa Lí 6 Chân trời sáng tạo ngắn gọn, đầy đủ, dễ hiểu

Lịch sử Chăm Pa – Là gì Wiki

  • Tác giả: wiki.edu.vn
  • Nhận xét: 3 ⭐ ( 3470 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm:

Lịch sử Chăm Pa

  • Tác giả: dotchuoinon.com
  • Nhận xét: 5 ⭐ ( 7068 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia Một phần của loạt bài về Lịch sử Chăm Pa   Văn hóa Bàu Tró 5.000 TCN–4.500 TCNVăn hóa Xóm Cồn 1.800 TCN–1.200 TCNVăn hóa Tiền Sa Huỳnh 1.500 TCN–500 TCNVăn hóa Long Thạnh 1.500 TCN–980 TCNVăn hóa Bình Châu 1.000 TCN–900 TCNVăn hóa Sa Huỳnh 500 TCN–Thế kỷ Ι SCNHồ Tôn Tinh trước thế kỷ…

[Kết nối tri thức] Giải lịch sử 6 bài 19: Vương quốc Chăm-pa từ thế kỉ II đến thế kỉ Ҳ

  • Tác giả: tech12h.com
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 4311 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Hướng dẫn học bài 19: Vương quốc Chăm-pa từ thế kỉ II đến thế kỉ Ҳ trang 91 sgk Lịch sử và địa lí 6. Đây là sách giáo khoa nằm trong bộ sách “Kết nối tri thức và cuộc sống” được biên soạn theo chương trình đổi mới của Bộ giáo dục. Hi vọng, với cách hướng dẫn rõ ràng và cụ thể và giải cụ thể học viên sẽ nắm bài học tốt hơn.

Xem thêm các nội dung khác thuộc thể loại: Khám Phá Khoa Học

By ads_law