Định luật thiên nhiên của vũ trụ

0
42

“Ngũ luật thiên nhiên” hay là “Định luật tự nhiên của vũ trụ” (pañca niyāma) là một định luật tự nhiên có sẵn, dầu cho ai tìm tòi nó ra không, nó cũng vẫn có, nó không ở dưới sự điều khiển, ra lệnh, lãnh đạo của một vị Thần Linh hay vị Chúa Tể nào cho là mình có toàn năng toàn lực tạo hóa ra vạn vật như Trời Phạm Thiên (Brahma) hay là Đức Phật là bậc toàn giác ví dụ.

PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY

THERAVĀDA

—–

 ĐỊNH LUẬT THIÊN NHIÊN CỦA VŨ TRỤ

(PAÑCA NIYĀMA)

 

Bhikkhu Nāga Mahā Thera – Tỳ khưu Bửu Chơn

              

 

 

Lời Tựa

Hiện tại khoa học đã tìm tòi ra những điều mà có liên quan đến “Luật thiên nhiên của vũ trụ” như trên mặt trăng người ta có lẽ trồng ít thứ hoa thảo được mọc lên một cách mau lẹ lạ thường, những hiện tượng khác lạ trên các hành tinh khác… đều để chứng tỏ đến “Luật thiên nhiên của vũ trụ” mà Đức Phật tổ Thích Ca Mâu Ni đã thuyết giảng cách đây hơn 25 thế kỷ.

“Ngũ luật thiên nhiên” hay là “Định luật tự nhiên của vũ trụ” (pañca niyāma) là một định luật tự nhiên có sẵn, dầu cho ai tìm tòi nó ra không, nó cũng vẫn có, nó không ở dưới sự điều khiển, ra lệnh, lãnh đạo của một vị Thần Linh hay vị Chúa Tể nào cho là mình có toàn năng toàn lực tạo hóa ra vạn vật như Trời Phạm Thiên (Brahma) hay là Đức Phật là bậc toàn giác ví dụ.

“Ngũ luật thiên nhiên” ấy có tánh cách tự nhiên hoạt động theo “bản tánh của nó” tùy thời gian and không gian của nó thích hợp mà kết hợp vậy thôi.

Mong rằng quý vị bạn đọc sau thời điểm xem qua quyển “Định luật tự nhiên của vũ trụ” sẽ lãnh hội một phần nào về giáo lý Phật Đà rất có liên hệ đến khoa học, mà hiện tại các khoa học gia càng tìm tòi ra những huyền bí của Vũ trụ lại càng nhìn nhận and minh chứng những gì mà Đức Phật đã dạy từ lâu rồi.

            Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Nāga Mahā Thera – Tỳ khưu Bửu Chơn

Nguyên Tăng Thống Giáo hội Tăng già Nguyên Thủy VN

Namo tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa

 Xin thành kính đảnh lễ Đức Thế Tôn, Đức Trọn Lành, Chánh Biến Tri.

 

Ngũ Luật Thiên Nhiên (Pañca Niyāma)

Đây xin kể về “Ngũ luật thiên nhiên”: utu niyāma – định luật về thời tiết (nóng, lạnh); bīja niyāma – định luật về giống chồi, mầm and tế bào; kamma niyāma – định luật về nghiệp báo; citta niyāma – định luật về tâm thức; dhamma niyāma – định luật về quy phạm hay các Pháp. (Năm định luật thiên nhiên này mà các “Thần giáo” cho rằng “Đấng tạo hóa” hay là “Thượng Đế”).

Giải rằng:

  1. Định luật về thời tiết (utu niyāma): là định luật liên quan đến sự lớn mạnh các vật chất không có thể xác (inorganique) như hiện tượng mưa, gió, thời tiết nóng, lạnh, xuân, hạ, thu, đông tự nhiên biến đổi. Mai, liên, cúc, đào tuần tự đua nở theo mùa tiết của nó, tự xoay tròn như kim đồng hồ. Định luật này có ai hay máy móc nào ra lệnh không? Nó có đặc thù tuyệt đối so với ta không? Không – Vì nếu nhờ sự luyện tập thể xác ta cũng có lẽ thoát ra khỏi vòng chi phối của nó. Như mùa đông trời lạnh thấu xương. Nhưng có người nhờ sự luyện tập yoga mà họ có lẽ nằm khỏa thân trong tuyết giá mà họ vẫn chẳng hề lạnh – hoặc có người đi trên lửa mà họ chẳng hề thấy nóng bỏng.
  2. Định luật về giống chồi, mầm and tế bào (bīja niyāma): là định luật về sự lớn mạnh của những vật chất hữu cơ (organique) như cây cỏ, hột giống and những vật có tế bào. Do định luật này mà giống nào ra đời giống nấy, lúa do hột lúa mà ra, vị ngọt do đường mía, mật mà ra, luật trống mái tế bào and phần tử genes trong sự thọ thai cũng do định luật này chi phối. Bīja niyāma cũng không phải là một định luật bất cưỡng lại. Ta cũng có lẽ xoay chuyển, làm chủ nó được. Như trong cách trồng tỉa, ta cũng có lẽ chấp cành cây này qua cây kia để đổi phẩm chất hoặc số lượng của giống ấy được.
  3. Định luật về nghiệp báo (kamma niyāma) là định luật hành vi and quả hay là “nhân quả”. Nhân gieo thì trổ quả. Nhân tốt đem đến quả tốt, nhân xấu đem đến quả xấu, đó là sự tự nhiên phải trổ sanh ra như thế chớ không do ai thưởng phạt cả. Kamma niyāma tự nhiên có năng lực ảnh hưởng mà không cần đến sự kích thích. Mong muốn hay không mong muốn bên ngoài đây là định luật chung của vạn vật trong vũ trụ.

Ta thường nói “thủy lưu tại hạ”, nước chảy xuống chỗ thấp, bởi chất nước luôn luôn search cho được sự quân bình, phẳng phiu không cần một máy móc hay nhân vật nào lãnh đạo hay ra lệnh, luật nhân quả cũng vậy, đã có nhân thì có quả như trả lại sự quân bình chẳng thể tránh được, cũng như chẳng thể ngăn hay tránh không cho nước chảy xuống chiều thấp trước khi nó đến mức quân bình như sự tự nhiên xoay vần của mặt trời and mặt trăng vậy.

Kamma niyāma không phải là một định luật bất cưỡng mà ta có lẽ chuyển hướng nó được (gọi là chuyển nghiệp). Tuy rằng trong khắp cõi sa bà này không có một nơi nào mà ta có lẽ tránh khỏi sự ảnh hưởng của nghiệp báo, nhưng ta cũng không phải bắt buộc thọ lãnh trọn vẹn. Những cái gì mà ta đưa theo trong cái nghiệp của ta từ người đê hèn, hung ác cũng có lẽ trở nên một bậc đạo hạnh, thanh cao. Luôn luôn ta có lẽ trở thành một cái gì, mà cái ấy tùy sự hành động and quan niệm của ta. Mỗi lúc ta có lẽ trở nên tốt hơn hay là xấu hơn. Dầu cho người tội lỗi nhất cũng không nên bi quan (như đệ tử của ĐĐ. Ca-Diếp vì không thu thúc mà phải sinh ra làm nhiều điều tội lỗi phải bị đức vua bắt được and đem ra pháp trường xử trảm, trong khi mang ra pháp trường nhờ Đại đức Ca-Diếp đến cảnh báo mà người để tử đổi liền quan niệm ác xấu and thất vọng nhờ niệm đề mục tham thiền rồi đắc thiền dùng thần thông cất cánh lên hư không thuyết pháp cho đức vua nghe and hối lỗi tội lỗi xin được xuất gia tu hành trở lại). Hoặc người có đạo hạnh cao nhất cũng không nên cẩu thả ỷ lại (như tích đức Bồ tát tu hành rất trong sạch đã đắc thiền and được đức vua thỉnh vào đền thọ thực mỗi bữa, vì dể duôi mà phải đứt thiền hành dâm với hoàng hậu). Như thế tốt hay xấu chỉ do một tích tắc quan niệm and hành động mà thôi.

Ai hiểu rằng nghiệp của mình đã tàng trữ bao nhiêu xấu, bao nhiêu tốt? Nếu suy theo sự hành động hiện thời mà ta suy đoán ngay cái quả thì ai dám cho rằng một người như Aṅgulimala là một tên giết người không gớm tay mà lại đắc quả A-la-hán trong kiếp ấy. Như thế định luật nghiệp báo ta có lẽ chuyển được do sự tinh tấn tu tập của ta.

  1. Định luật về tâm thức (citta niyāma) như lịch biểu diễn tiến của tâm thức, sự sanh, sự diệt của tâm niệm, những ảnh hưởng của tâm, những hiện tượng của thần giao cách cảm, viễn cảm, hồi thức, huệ nhãn, huệ nhĩ, tha tâm thông .v.v. đều thuộc về citta niyāma cả.
  2. Định luật về quy phạm hay các pháp (dhamma niyāma) như cuốn hút lực, nhẹ cất cánh lên, nặng rơi xuống, nhẹ hút vào nặng, dị chất phản ứng, như âm dương tương phản, như hiện tượng lạ lùng xảy ra trong lúc Bồ tát giáng sanh .v.v… and các định luật tương tợ trong vũ trụ cũng nằm trong định luật này.

Như đã giải trên, năm định luật vừa kể thì toàn bộ hiện tượng vật chất, tâm lý, luân lý đều có lẽ xoay chuyển được tùy vào sự phấn đấu and khả năng của ta. Còn nếu như theo các thần giáo thì cho là: năm định luật ấy là Đấng Tạo Hóa hay là Thượng Đế đã an bài cách nào ta phải chịu như cách ấy thì ta mặc nhiên tự mình làm mất sự phấn đấu and tự chủ của mình. Như thế thì phải chịu hoàn toàn thất vọng vì ỷ lại hay quá tín nhiệm vào kẻ khác.

 

Đây xin giải thêm về năm “Định luật thiên nhiên” do học giả Âu châu – Ông Egerton C.Baptist phản hồi and so sánh với khoa học hiện đại.

Pãnca Niyāma – năm định luật thiên nhiên mà các Thần giáo cho rằng Đấng Tạo Hóa.

Hiện thời, nói theo khoa học có liên quan đến Phật giáo là tất cả chúng ta có lẽ nhớ lại các nhà khoa học có nói cho tất cả chúng ta biết về cuộc quãng đường của phi thuyền Apolo 11 rằng: Đời sống của thảo mộc tiến triển trên đất của mặt trăng như trong một cái chậu cho thêm vào những đám nhúm đất nâu thẫm của mặt trăng thì những cây xanh tươi ấy “mọc lên hết sức mau lẹ, bởi vì đất mặt trăng ấy còn tinh khiết nguyên vẹn”. Sự bỗng nhiên tìm tòi ra này lại trùng hợp với bộ kinh Aganna sutta của Phật giáo. Trong kinh thuật lại rằng: “Đất của quả địa cầu mà chúng ta đang ở đây, trong khi mới cấu tạo đầu tiên thì có mọc những thứ lúa khi buổi sáng người ta gặt hái đem đi làm vật thực ăn thì buổi chiều trở lại mọc đầy đủ như thường”. Như thế lúa mọc lại một cách hết sức nhanh chóng.

Theo lời Đức Phật nói trong kinh này thì những hoa quả mọc mau lẹ như quả địa cầu này trong lúc trước nhất vì còn tinh khiết nguyên vẹn cũng như sự tinh khiết trên đất của mặt trăng. Như thế thì tất cả chúng ta nhận ra không có sự “Pha trộn thần bí” về sự tinh khiết của đất trước nhất quả địa cầu này and sự tinh khiết của đất mặt trăng. Về sau sự mọc chậm trễ của thảo mộc trên quả địa cầu này vì sự “suy đồi và nhơ bẩn” biến đổi lần lần mà phải chậm dần.

Trong kinh còn nói thêm rằng: “… trước khi có mặt trăng, sao và hành tinh xuất hiện thì tất cả hư không vũ trụ này ở trong một thế giới tối tăm không thấy chi cả”. Hiện thời đoàn phi hành của thuyền Apolo 12 có bảo rằng “…Tất cả đều không có thật tế với chúng ta,… mặt trăng chỉ như một trái banh trắng hiện ra giữa cảnh hư không vĩ đại và đen tối”. Cũng như Đức Phật có nói trong cảnh hư không bất tận mờ ám, chỉ được sáng lên do nhờ mặt trăng, những người nổi tiếng and các vì tinh tú lúc nào hiện ra.

Tất cả chúng ta còn ghi nhận thêm rằng “Những nhân sự phi hành của phi thuyền Apolo 11 and 12, khi về đến quả địa cầu này phải bị dưới sự làm chủ trong một thời gian coi họ có đưa những tật bệnh chi về từ mặt trăng hay không, nhưng sau thời điểm thời hạn làm chủ nhận ra họ không đưa một bệnh tật chi về cả. Như thế chứng tỏ trên mặt trăng ít có nhiều thứ bệnh, ngược lại trong hiện tại trên quả địa cầu này không biết bao nhiêu là thứ bệnh mà kể. Như Đức Phật có nói sau thời điểm kiếp hoại đến kiếp thành tựu địa cầu trong lúc trước nhất con người ít có bệnh tật chỉ có vài ba thứ bệnh thông thường mà thôi như bệnh: ước mong muốn, đói khát and bệnh già, các điều mà thời ấy gọi là một thứ bệnh. Ngược lại sau này vì tánh xấu con người phát sanh lên sát hại lẫn nhau hoặc để ăn thịt, hoặc vì lòng sân hận mà nhiều thứ bệnh khởi đầu lần lần phát sanh lên cho đến hiện tại, tất cả chúng ta có lẽ nói chẳng thể nào kể hết các thứ bệnh.

Đến đây, ý định của tôi là mong muốn khêu gợi sự chủ ý của bạn đọc, nhứt là cho sinh viên tìm tòi Phật giáo, không phải là học and hiểu biết Phật giáo mà có lẽ khắc phục các vấn đề, nhưng chỉ cho thấy nhanh chóng and nhận định chuẩn xác sự thật tế của vũ trụ không về sự tìm tòi toàn cõi vũ trụ thật mà còn xa vời với khoa học. Như thế con người không cần phải chờ, mất cả sự quý báu của đời người, cho đến lúc nào khoa học xác nhận sự tìm tòi của vũ trụ mà Đức Phật đã tìm tòi ra trước đó hơn 25 thế kỷ. Sự dẫn chứng viện lý này rất cần cho người tìm tòi đạo lý.

 

Rất hữu hiệu, tất cả chúng ta phấn đấu để hiểu biết người Âu châu đã lớn mạnh and tìm tòi vũ trụ được bao xa rồi, luôn cả quả địa cầu mà ta đang ở. Trước khi tất cả chúng ta có lẽ bàn về năm Định luật Thiên nhiên quản trị lái “chúng sanh và vạn vật” trong Thái dương hệ, cũng như trong hàng triệu vũ trụ được tìm tòi ra trong “vô số của vũ trụ” ở rải rác trong không gian theo quan điểm của Phật giáo. Đầu tiên, tất cả chúng ta xem coi người Âu châu họ có ý định gì and để giải quyết những gì trong lãnh vực địa cầu này?

Như tất cả chúng ta biết, từ lâu rồi ông Nicholas Copernicus nhà thiên văn Ba Lan nói quyết đoán rằng: “Thái dương hệ của chúng ta đây chỉ là một trong số của những ngôi sao rải rác trong khắp hư không vô tận cũng như những người Âu Châu từ từ và vững chắc tin tưởng rằng “quả địa cầu nhỏ bé của chúng ta ở trong Thái dương hệ nhỏ bé này chỉ là một chấm nhỏ trong hư không vô tận mà thôi”. Hiện thời đến ông Bessel một nhà Thiên văn and toán học của xứ Prusse, mà các học sinh khoa học and thiên văn học đều biết, càng đi xa hơn là có lẽ đoán ra cỡ lớn and sự cách xa của những người nổi tiếng khác nhau, cái này đến cái kia. Như sự biến đổi cách thức and ánh sáng, có vài người nổi tiếng như Batelgeuse có ánh sáng vĩ đại 300 năm ánh sáng mới đến tất cả chúng ta and 400 lần to hơn hay 300 lần sáng chói hơn mặt trời của tất cả chúng ta. Còn nói về sự bé nhỏ lại thì tại sao tên là Van Manen’s thì có 13 năm ánh sáng xa cách tất cả chúng ta and bé hơn quả địa cầu này, có ánh sáng 10.000 lần yếu hơn Thái dương hệ. Nhưng cũng lần đầu ông Bessel bao biện thẳng cho chứng cớ của ông Copernicus rằng “Mặt trời của chúng ta cũng chỉ là một vì sao nhỏ bé trong vô số vì sao rải rác trong hư không vô tận”. Thật vậy, cái gọi là Dãy Ngân Hà, theo ông W Herschel, một nhà thiên văn của Anh mới tìm tòi ra đó là một số những tại sao tụ họp lại nhau do sự biến đổi hay di chuyển của chiều sâu and nó không phải là một dây đai do những hơi của cụm mây lan tràn ra trong hư không như tất cả chúng ta tưởng. Hiện thời tất cả chúng ta biết rằng Thái dương hệ này không phải là một vật ở trọng tâm của một xã hội vĩ đại của những tại sao. Sự càng làm cho tất cả chúng ta phấn khởi là hơn nửa triệu tại sao đã được trông thấy xuyên qua ống kính viễn vọng 100 inch (ngón tay) của đài Thiên văn Mt.Wilson bên California Huê-Kỳ.

Về sự tìm tòi vĩ đại cách đây hơn 25 thế kỷ mà Đức Phật đã cho tất cả chúng ta and những dân chúng ở hướng đông của thung lũng con sông Hằng biết đã có ghi trong bộ kinh Phật giáo vắn tắt như sau: Đức Phật có nói “Một Thái dương chỉ chiếu sáng có một Thế giới”, một ngàn Toàn cầu thì có một ngàn Thái dương hệ, mỗi toàn cầu đều có một vùng hệ thống của riêng mình. Hệ thống này gồm có một ngàn tiểu toàn cầu. Một ngàn tiểu toàn cầu làm thành một trung toàn cầu. Một ngàn trung toàn cầu làm thành một đại toàn cầu, như thế trong một đại toàn cầu có đến một ngàn triệu Thái dương hệ. Toàn bộ 1.000.000.000 toàn cầu ấy lập thành một Vũ trụ (universe). Nhưng khỏi ngoài phạm vi của vũ trụ ấy ra cõi hư không bất tận còn có nhiều đại toàn cầu khác nữa”. Trong bộ kinh khác cũng có giải cũng giống như thế là: “Về hướng Tây cách đây 10 muôn triệu vũ trụ có một thế giới gọi là ‘Cực lạc Thế giới’”. Hơn nữa, nói về chỗ ở của Cực lạc Toàn cầu này như một dãy của 13 đại Toàn cầu. Đại Toàn cầu của tất cả chúng ta ở trung tâm, cách về hướng Tây, nếu kể số Toàn cầu tương đương những hạt bụi trong một quả địa cầu mới đến biên cương của vũ trụ thứ 13, nơi đó gọi là “Cực lạc Thế giới”. Còn bộ kinh khác cũng giải tiếp thêm rằng: “Ở chính giữa một đại dương vô tận có vô số thế giới rải rác trong hư không. Số của thế giới ấy chỉ trong một dãy của Đại Thế giới thôi, cũng hằng hà sa số không lời nào mô tả hoặc kể đếm được”. Trải qua vô số hệ thống Toàn cầu, ngoài dãy đại vũ trụ của tất cả chúng ta, ở đó có một dãy đại vũ trụ thứ nhì liên tiếp như vậy ấy cho đến 20 dãy đại vũ trụ. Ở trung tâm của dãy thứ 13 là toàn cầu của tất cả chúng ta hiện đang ở. Ở ngoài biên cương của dãy đại vũ trụ của tất cả chúng ta là cõi “Cực lạc Thế giới”. Tính như thế trong chừng 10 vùng của hư không cũng còn có những hệ thống đại vũ trụ tương tợ and tiếp tục như vậy trong 10 phương vô cùng bất tận của không gian.

XEM THÊM  Mặt trăng máu là gì? Mặt trăng máu xuất hiện lúc mấy giờ, ngày nào?

Hiện thời, đã phá tan quá xa về quan điểm từ sự nhận thức hẹp hòi đã tràn ngập ra khắp những người trong các nước Âu châu. Vì theo quan điểm của Phật giáo thì Thái dương hệ chỉ trổ tài cho một chấm nhỏ có lẽ thấy được trong không gian bất tận. Hơn nữa mỗi Thái dương hệ không phải chỉ là một hoàng cung trọn vẹn của một vị Chúa tể trị vì, bảo bọc and thông qua bởi hệ thống cai quản của một vị Trời. & như thế thì trong mỗi tiểu Toàn cầu, trung Toàn cầu and đại Toàn cầu đều có rất nhiều vị Trời để cai quản, thế thì sự kết hợp để tạo ra những vũ trụ có uy quyền, vượt ra ngoài vòng hiểu biết của nhân loại.

Người Phật tử chẳng thể nào hóa giải được sự sự tạo tác không hoàn toàn trên toàn cầu của một đấng Chúa Tể hoàn toàn. Nếu cho một đấng Chúa Tể hoàn toàn and phần tử vì sao lại tạo nên một toàn cầu không hoàn toàn and đầy rẫy sự bất công, hiểm ác so với súc sanh and nhân loại. Còn nói có toàn năng toàn lực nhưng hoàn toàn bất lực vì loại bỏ ra những sinh vật bị đau khổ một cách hung ác về trí não lẫn vật chất, so với Phật giáo sự ức đoán ấy là sự lỗi lầm and tà kiến (micchadiṭṭhi).

Không, nói như vậy người Phật tử có quan điểm khác vì họ cho là “không có một đấng toàn năng toàn thiện và vị Chư Thiên đâu”. Họ cũng nhận ra rằng có nhiều vị Trời, nhưng các vị Trời ấy ở trong một phạm vi quyền lực của mình do phước lành cấu trúc ra họ mà thôi, chớ không phải là một đấng hoàn toàn.

Theo tôi cảm thấy and tóm tắt cho rõ rằng “Trong vũ trụ có hằng hà sa số Thái dương hệ nhưng Thái dương hệ ấy phối hợp làm thành một đại thế giới trải ra khắp thập phương trong cõi hư không vô tận. Nhưng cuộc sống (life) hay là sinh vật, theo chúng ta hiểu thì không có trên các hành tinh khác, như trên hỏa tinh, vệ tinh, mộc tinh… của trong mỗi Thái dương hệ nhưng chỉ có trên quả Địa cầu (earth) của mỗi Thái dương hệ mà thôi. Như vậy mỗi Thái dương hệ khác cũng có quả địa cầu như chúng ta và các hành tinh khác cũng giống như của chúng ta vậy”.

Ở đây, điểm trọng yếu mà tất cả chúng ta ráng hiểu and nên nhớ là mỗi Thái dương hệ chỉ có một quả địa cầu mới có sinh vật mà thôi and đó cũng là luật cấu trúc and điều hành thiên nhiên của vũ trụ. Hẳn nhiên, nếu nói về sinh vật sống trên quả địa cầu của mỗi Thái dương hệ đều giống nhau như quả địa cầu này thì chẳng thể được, bởi vì có những trường hợp and hiện trạng phân phối khác nhau như: bầu khí quyển, khí hậu, trọng lượng… có lẽ khác nhau. Về sự tiến triển của khoa học cận đại, có lẽ làm các cổ giáo thương tổn and kinh sợ, có một lúc mà người Âu châu đã bám niếu, nhưng rất nhanh chóng hiện tại họ đã rời bỏ quan điểm cổ điển của các cổ giáo ấy. Do nhờ xuyên qua các khoa học gia đã tìm tòi ra sự thật, không phải do nhờ sự truyền thống của Thần giáo, nhưng do nhờ phòng khảo cứu, các ống thực nghiệm, các toán học, những kính hiển vi and những kính viễn vọng. Vì vậy mà họ càng xích lại gần Phật giáo hơn, không những họ nhìn nhận mà còn quyết đoán trong vài lãnh vực mà Đức Phật đã tìm tòi ra trước đó hơn 25 thế kỷ.

Cũng như các vật khác, Đức Phật có nói, như trí não vật chất and vũ trụ đều có liên quan đến định luật. Mặc dù tất cả chúng ta thường chẳng thể nhận định được, như sự ngay tay ra hoặc co tay vô đều do vài định luật hành vi cả. Thật vậy, không có vật chi mà không có liên quan đến định luật, chính vì thế mà Đức Phật có nói không do một vị Chúa Tể nào điều khiển mà do định luật vũ trụ của “Nhân và Quả” tạo tác trong khắp mọi nơi, dầu cho cõi ấy là vậy chất hay cõi ấy thuộc về trí não (arūpabhava). Đức Phật có giải duy trì sự điều hòa của vũ trụ cầu kỳ này đều phải thông qua sự hành vi của nhiều định luật khác nhau, mỗi định luật đều có năng lực hoạt động riêng của mình bằng phương pháp này hay cách khác, tốt hay xấu đều theo cơ bản định luật của vũ trụ theo lý “nhân và quả” là một trong năm định luật (pañca niyāma).

 

Hiện thời giải thêm về năm định luật.

Tuy đã có giải ở phía trước nhưng đây xin giải thêm có vài sự nhận thức của các học giả Âu châu. Những định luật thiên nhiên này không phải tạo nên hoặc để dưới sự điều khiển của một vị thần linh hay một vị chúa tể nào có toàn năng, toàn giác hay do sự vui thích của một Đấng tạo hóa. Nhưng nó chỉ là một định luật thiên nhiên, nó hoạt động một cách hòa điệu ăn nhịp với cơ bản của nhân and quả.

Đầu tiên mong muốn giải thích and hiểu biết những phép tắc and cơ bản này tất cả chúng ta nên biết qua một vài thí dụ: Như sự cảnh báo rằng “Đức vua đã đến”. Hiện thời ta thử nghĩ đức vua chỉ đến có một mình, không có người tùy tùng hầu cận hay sao? Nếu nghĩ suy and ức đoán như thế là lỗi lầm. Không thấu hiểu lời cảnh báo ấy. Một cách khác, cũng do sự cảnh báo ấy có người lại biết được “Đức vua đã đến với rất nhiều người tùy tùng hầu hạ để lo hành sự theo chức vụ của mình”, sự hiểu biết như vậy mới gọi là sự hiểu biết chuẩn xác, rõ rệt lời cảnh báo.

Cũng như vậy ấy, có rất nhiều sự ám chỉ ngạc nhiên, bỗng nhiên để tất cả chúng ta tự hiểu cho đầy đủ ý nghĩa của một định luật nào trong năm định luật thiên nhiên ấy. Đầu tiên là:

  1. Utu niyāma – định luật thời tiết (nóng, lạnh)

Như khi nắng, khi gió, khi mưa tự nhiên biến đổi mùa tiết hoặc có vài loại hoa nở trong mùa này không nở trong mùa kia, có thứ thì nở trái trái lại. Như vậy ấy nhiều loại trái cây trổ quả khác thời kỳ nhau, có thứ thì trổ sớm, có thứ thì trổ muộn, như thế không phải do ý mong muốn hay tánh ngông cuồng dị thường của một nhân vật hay một vị Trời nào ra lệnh.

Theo quan điểm gia truyền thì mỗi phòng ban and mỗi tế bào phải nảy nở and tiến triển theo mỗi loại của nó, theo quan điểm ấy thì hiện tại không còn thật sự nữa vì doctor J.Leob and Yes Delage có dẫn chứng rằng: Có vẻ làm mọc lên ở nơi đâu có chân. Như tại Jurich (Thụy Sĩ) and Standfuss, chỉ biến đổi nhiệt độ trong phòng thực nghiệm mà họ có lẽ tạo được những mẫu của con bướm giống nhau của miền nhiệt đới and miền bắc cực. Như thế do sự điều chế của khoa học mà vật lý xoay quang có lẽ làm cho các phòng ban hay tế bào and các loại kiểu mẫu biến đổi được chớ không phải chỉ có sự truyền thống mới được. Tất cả chúng ta tự nhận thức sự kết quả của vật lý xoay quang (lạnh and nóng) trên thể xác của con người and sinh vật. Một lần nữa ở đây xin công nhận dưới sự điều hòa của phòng thực nghiệm do định luật thiên nhiên của lạnh and nóng mà có sự kết quả đến những phòng ban thể xác của sinh vật.

Con người thường có tánh tình của mỗi người do hai yếu tố là: một là sự truyền thống (như các loại giống, mầm, tế bào), hai là do nhiệt độ lạnh nóng xoay quang nếu cho sự truyền thống chủng tử của cha mẹ mà không khác tánh tình thì họ dựa vào lý lẽ thứ nhì là do tác động sự tiếp xúc nhiệt độ của sự lạnh sự nóng mà phát sanh ra khác nhau. Điều này cũng không hoàn toàn đúng vì điều trước and điều sau, thường cũng xảy ra sự khác nhau về tánh tình and nhân vật. Rất nhiều chứng cớ để tỏ ra tính tình con người khác nhau trong khi ra đời, dù cho trước khi chưa bị tác động của căng thẳng xoay quang là thời tiết nóng lạnh.

Như tất cả chúng ta đã thấy, sự lớn mạnh của mầm, giống, hột chỉ do phương châm của vật lý mà thôi, đó chỉ là sự bắt đầu lớn mạnh của mầm, giống vậy thôi. Nhưng trường hợp vật lý đã gieo vào thai nhi do cha mẹ cấu sanh thì phương diện lớn mạnh hết sức lạ của mầm giống về con người này. Yếu tố rất trọng yếu ở đây không phải do sự tiến triển về vật lý, tuy vậy trí não là sự sống linh động của một thể xác con người. Vật lý xoay quang chỉ có tác động đến thể xác vật lý mà thôi, nó không tác động đến phần vô hình trọng yếu của đời người.

Như thế cái gì là phần vô hình trọng yếu trong thể xác? Cái gì làm cho sự hành vi and hạnh kiểm của họ nhiều cách khác nhau? Cái gì làm cho hưởng được một gia tộc hạnh phúc hơn những người khác? Phật giáo có giải: Tánh tình có lẽ chịu một phần tác động của sự truyền thống cha mẹ hoặc một vài tác động của thời tiết xoay quang như lạnh nóng, nhưng nó còn có một tác động thứ ba trọng yếu hơn là sự tiến hóa của cá nhân do sự hành vi thiện hoặc ác từ trong kiếp quá khứ, sự hành vi ấy đem đến sự vui sự khổ mà họ phải chịu trong đời này. Toàn bộ sự việc khác nhau này là do định luật nhân quả vậy.

  1. Bīja niyāma – định luật về mầm, giống, chồi and tế bào

Những vật này nảy ra đời cỏ, cây, trái khác nhau nhiều loại. Có thứ thì xuyên về hướng bắc, có thứ thì chiều theo mặt trời, có thứ mọc ngay lên, có thứ bò vòng theo cây khác, có thứ dường như có con mắt như trái dừa tỏ ra có tánh tình khác nhau của mỗi loại… Toàn bộ sự việc này đều do định luật thiên nhiên của giống, mầm, chồi, nó không có hành vi hay sản xuất theo ý mong muốn dị thường của một nhân vật hay một vị Chúa tể nào.

Nhưng ngược lại khi tất cả chúng ta nói định luật thiên nhiên về mầm, giống thì cũng nên hiểu như tất cả chúng ta nói “Đức vua đã đến”, câu này tất cả chúng ta tự biết rằng không phải một mình đức vua đến mà còn rất nhiều quan quân tùy tùng hộ vệ nữa như vậy nào thì khi ta nói định luật về mầm, giống thì cũng cần phải có những vật lệ thuộc giúp vào như cần phải có đất, nước rồi nảy sanh ra cây lá bông trái… Có loại phù hợp với đất địa chỗ này, có loại lại không hạp mà phù hợp với chỗ kia. Có loại phù hợp với phong thổ thời tiết này, có loại lại không chịu được thời tiết ấy. Có loại phù hợp với phong thổ thời tiết ở Âu châu, có loại thì thích hợp với thời tiết Á châu… Hoặc mầm giống đã có điều kiện phong thổ thời tiết mùa màng đều phù hạp nhưng không có người cày người gieo thì mầm giống cũng chẳng thể nào nảy nở tiến triển được.

Hiện thời, tinh trùng and noãn châu của cha mẹ cũng thuộc về định luật mầm giống and tế bào, trong hai yếu tố này có sự truyền thống vật lý and tác động xoay quang của lạnh and nóng đến sự tạo dựng của con cái. Nói về vật lý thì hình tướng đứa trẻ thường giống cha mẹ, nhưng tính tình and cử chỉ khác hoàn toàn, toàn bộ điều đó cũng do sự biến chuyển của thể chất and ngạc nhiên của dòng tâm thức thường gọi là đời sống. Thật vậy, ta có lẽ nhận ra sự độc đáo của tánh tình and vật lý của nhiều loại sanh vật khác nhau như một cặp song sinh cùng một cha mẹ giống cha mẹ như khuôn đúc nhưng về tính tình khi lớn lên thì không giống nhau. Như một con chó nhỏ sanh ra bởi một giống chó săn and chó Ái Nhĩ Lan, nó không giống như con voi hay con thỏ, nó cũng không lớn lẹ như con voi hay chậm như con thỏ, nó cũng có bốn chân, một cái đuôi dài, hai lỗ tai, hai con mắt nhưng nó chỉ lớn lên theo cách thức của nó and khi nó lớn lên thật giống tính tình như các loại chó săn. Theo tân khoa học của phép tính số giải hiện tượng này rằng: Những đặc điểm nổi bật tiến triển của con chó nhỏ là do nó đưa theo một phần nhỏ vật lý về hai dòng máu của cha mẹ qua sự biến đổi làm lộn xộn chủng tử (gene) trải qua nhiều thế hệ rất lâu đời, cũng như nhiều loại sinh vật and thảo mộc cũng có lẽ biến đổi cơ bản của nó. Sự này bỗng nhiên trùng hợp theo kinh của Phật giáo như có một cây xoài có trái rất ngọt nhưng khi nó bị ghép and làm lộn xộn vào với loại khác thì khi có trái mới trở nên chua đắng. Thật vậy, nhà toán số về chủng tộc của Mỹ là ông H.Morgan vừa mới minh chứng điều này, khi ông sản xuất (trình bày) nhiều kiểu của trái cây biến đổi mùi vị. Như luật thiên nhiên truyền thống vài loại hết sức là toán học như hột lúa sẽ sản xuất ra hột lúa gạo, cây mía sẽ sản xuất ra vị ngọt là đường.

Thật vậy khoa học còn đi xa hơn nữa là do sự biến đổi and làm đảo lộn những chủng tử mà có lẽ sản xuất and kết quả những loại khác. Thí dụ như con mèo giao tình với con thỏ sẽ ra đời một loại gọi là thỏ mèo, nó không giống con mèo mà cũng không giống con thỏ. Hai loại tình nhân khác giống sẽ sản xuất một thứ gọi là “Interlocked – lai căn”.

Ở đây, một lần nữa để xác nhận dưới sự điều kiện của nhà thực nghiệm Phật giáo về định luật thiên nhiên về mầm giống and tế bào tương tự như phương châm của sự truyền thống dưới sự tìm tòi của các phòng thực nghiệm.

  1. Kamma niyāma – định luật thiên nhiên về nghiệp báo hay nhân quả

Nghiệp báo chỉ cho tất cả chúng ta biết cách nào sự tích trữ, chất chứa hành vị thiện and ác trong quá khứ and sẽ mang tất cả chúng ta đến sự vui hoặc khổ cảnh mà tất cả chúng ta có lẽ phải thọ lãnh trong một khi nào. Đây là một vài thí dụ về nghiệp ác quá khứ trả quả khổ đau cho tất cả chúng ta thấy.

Như trong thời kỳ Đức Phật còn tại thế, có một con quạ cất cánh trên mái nhà tranh đang bị lửa cháy vì bị gió cuốn luôn vô lửa nên con quạ phải bị chết cháy theo. Có một trường hợp khác, có một chiếc thuyền bị ngừng lại giữa bể khơi chẳng thể di chuyển tới lui được, dầu cho những người thủy thủ phấn đấu cho nó di chuyển. Trong thời đó, người ta tin rằng có thể trong thuyền này có người nào nhiều tội lỗi vì vậy mới khiến cho con thuyền chẳng thể di chuyển được một cách kỳ lạ như vậy. Người ta mới bày bắt số thì ba lần đều nhằm vợ của ông thuyền trưởng vì bà này trước khi xuống thuyền đã làm nhiều tội lỗi. Hết sức nài nỉ khóc lóc nhưng buộc lòng người ta phải bỏ bà xuống biển với một tấm ván, vừa bỏ bà xong thì con thuyền khởi đầu di chuyển như thường. Trường hợp thứ ba, có một vị tỳ khưu đang ở trong một cái động bị đá tự nhiên lăn xuống ngừng lại che lấp miệng động làm cho vị tỳ khưu bị nghẹt thở hàng bảy ngày. Toàn bộ những sự việc này, Đức Phật giải rằng, xảy ra đều do định luật của nghiệp and quả. Vì con quạ một tiền kiếp là một người nam có một con bò ngỗ nghịch không chịu nghe theo sự ra lệnh của y như kéo xe…, y bèn đem rơm cỏ đốt con bò ấy đến chết, cái quả ấy y phải trả nhiều kiếp cũng bị chết cháy như thế cho đến kiếp sanh làm con quạ cũng không thoát khỏi trả quả chết cháy ấy. Về bà xã ông thuyền trưởng thì kiếp trước kia giận con chó rồi cột cổ nó với một nồi cát đem thẩy xuống sông cho nó chết, chính vì thế y phải trả quả tương tự. Về vị tỳ khưu, có một kiếp nọ ông sanh làm một cậu trai thấy một con kỳ đà bò trông ổ mối, nó mới lấy cỏ lấp lại miệng ổ mối ý chơi nghịch and định ngày mai sẽ thả con kỳ đà ra, nhưng vì quên đi nên qua bảy ngày mới lại chỗ ấy and mở miệng ổ mối cho con kỳ đà ra, vì con kỳ đà không chết chỉ yếu đuối kiệt sức vì thiếu nước uống and vật thực mà thôi, chính vì thế mà kiếp sau lên làm vị tỳ khưu cũng phải bị nhốt vào trong động bảy ngày nghẹt thở kiệt sức vì thiếu cơm nước, cũng như ông đã làm cho con kỳ đà trước kia vậy.

Nghiệp ác có lẽ mang ta sanh vào gia đình thấp hèn như người cha say sưa, người mẹ dâm loạn phóng đãng, trong trường hợp như thế thì nên tìm cách giúp đỡ cho đứa trẻ ấy được tiến triển and tánh tình trong lúc còn thơ dại. Như hột giống đã gieo xuống miếng ruộng xấu thì kết quả thế nào cũng không tốt, cũng như đứa trẻ đã sanh vào dòng ác xấu thì thế nào người con ấy cũng phải bị suy đồi nếu không tìm cách thân cận để sửa chữa cho tiến triển tốt đẹp. Như thầy tốt không có gặp đúng lúc and trời mưa không đúng mùa tiết thì đứa trẻ and mùa màng ấy phải sụp đổ không sai. Cũng như vậy ấy, nếu người nào có lẽ làm sự lợi nhuận của mình trong ngày vị lai cho đúng lúc như khi y phải làm điều gì cần phải làm xong cho kịp thời thì sự lợi nhuận ấy mới có kết quả tốt, còn như quên đi hay làm trong lúc không thiết yếu thì không có kết quả tốt vậy. Như người nông dân, mặc dù trời mưa tốt, gieo giống đúng mùa nhưng gặt hái không được dồi dào là vì những công việc cần phải làm lệ thuộc như làm cỏ, bón phân… không làm lúc nên làm thì sự gặt hái không được đầy đủ. Cũng như nghiệp tốt sẽ đem đến kết quả tốt đẹp dồi dào lúc nào những điều kiện lệ thuộc (như hằng nhớ đến sự lành đã làm ấy luôn luôn, cũng có đúng lúc đúng kỳ). Chính định luật thiên nhiên của nghiệp báo làm cho phát sanh tính tình, dấu hiệu khác lạ hơn dòng giống ông bà and những sự kết hợp xoay quang.

XEM THÊM  Cú bứt tốc 'thần sầu' nhanh gấp 4 lần vận tốc âm thanh đưa tỷ phú Jeff Bezos lên vũ trụ - Chiêm ngưỡng 3 kỷ lục thế giới

Khi tất cả chúng ta xem xét về nghiệp báo xuyên qua một vài ánh sáng của sự lớn mạnh trong lãnh vực khoa học thì tất cả chúng ta có lẽ thấy rằng “Lý thuyết cổ truyền về vật lý hoàn toàn lỗi thời vì họ cho đời sống chỉ là một sự sản xuất của vật chất mà thôi”, lý thuyết ấy các nhà khoa học trứ danh của Âu châu and Mỹ châu đều bác bỏ từ lâu rồi. Lý thuyết của Darwinian về sự truyền sang trên máy móc cho là tánh tình con người chỉ do tinh trùng and huyết thống của cha mẹ về vật chất mà ra, điều này hội đồng khoa học đã đánh ngã bác bỏ and không lâu họ đã nhận định bền vững rạch ròi, khi họ kết hợp lại thai bào học and tâm lý học. Như thế toàn vấn đề được khắc phục bằng cách kết hợp trong một bài toán về trí não and vật chất. Hai nhà khoa học Pháp and Đức là ông H. Bergson and Hans Driesch chỉ rõ về sự nhu cầu của vật lý học là phải họp lại với cái mãnh lực vô hình của tiền kiếp nó bắt buộc những nguyên tử vật lý phải tụ chăm chú lại trong một kiểu mẫu hay thể xác của cơ thể con người. Như thế hiện tại khoa học đã thừa nhận “Căn bản của sự tái sanh” là phải kết hợp lại “Tinh thần và vật chất” mới tạo do đó một con người, chỉ dẫn bằng trực giác của mình đã nằm sâu trong tiềm thức. Như con tằm tự đương lấy tổ kén hay là những con chim con tự trực giác của mình mà làm ổ thật khéo léo không cần đến sự chỉ dạy của cha mẹ chúng.

Như thế tất cả chúng ta thấy, năng lực vô hình mà tất cả chúng ta gọi là con người thật giữ gìn bản thân này trong trật tự cho tốt đẹp càng bền lâu có lẽ được. Nếu cơ thể mà không được vẹn toàn trong khi sanh, hay sau này thì đó cũng là do năng lực vô hình của nghiệp báo tạo ra, còn nếu bộ óc mà có bệnh hoạn là do sự không lành mạnh nếu không tiến triển hay ngu ngốc. & khi cơ thể thôi không nhận lãnh sự vẹn toàn hay tàn phế thì năng lực vô hình phải đầu hàng vì cơ thể ấy đã tàn phế. Bất luận cách thức nào của cơ thể vật lý chỉ để phô diễn trung gian của sức lực vô hình and không hiểu rằng cái đó người khoa học Tây phương gọi là “đời sống và tâm thức” còn Phật giáo thì gọi là “nghiệp báo” vậy. Do vậy Đức Phật có nói mỗi chúng sanh đều có cái nghiệp là của ta, nơi trả quả cho ta, là thân quyến nơi sanh ta ra, nơi nương nhờ của ta. Tất cả chúng ta thấp hèn hay cao cả khác nhau cũng đều do nghiệp báo cả. Tùy thuộc vào nghiệp báo khác nhau mà nảy sanh ra chúng sanh cũng khác nhau như người thì cao cả, kẻ thấp hèn, người thì hạnh phúc, người lại khổ đau, người thì lịch sự, kẻ lại xấu xa, người thì sung túc, kẻ lại bần hàn, người thì mạnh mẽ, kẻ lại ốm đau, người thì danh vọng, kẻ lại vô danh, người thì đáng ca ngợi, kẻ lại bị chê bai khinh bỉ đều do nghiệp báo khác nhau.

Nhà báo học G. Grimm trong “Quyển giáo lý Đức Phật”, ông có viết: “Không khó trong các trường hợp có thể chỉ sự kết hợp để làm cho phù hạp với tế bào mới khi có một sự chết xảy ra như: Người nào không có lòng từ mẫn, có thể giết người hoặc thú thì y tự đem theo trong tiềm thức một khuynh hướng về sự sống ngắn ngủi rồi. Y tìm sự thỏa mãn trong cách làm cho đời sống kẻ khác yếu tử thì tế bào ấy kết hợp với sự yếu tử ấy sau khi sự chết của y có thể bám níu vào với tế bào mới khác sẽ làm cho y bị thiệt hại của kết quả sau này. Như vậy năng lực của tế bào nảy nở và cấu tạo ra hình thể con người luôn cả sự kết hợp với sự vui thích làm khổ hoặc làm tai hại kẻ khác”.

Như trong trường hợp của người sân hận tự nảy sanh trong thân tâm mình một sự kết hợp của sự xấu xa cho một thể xác and những căn nguyên tinh trùng kể từ đó nảy ra đời lần hồi làm diện mạo mình trở nên xấu xí do bởi đặc tính của sự sân hận. Còn người nào mà có tính ganh tị, bỏn xẻn, ngạo mạn thì tự nhiên trong thân tâm y có đưa theo một xu hướng thù hằn, oán ghét mọi việc so với những kẻ khác and khinh bỉ họ nữa, thì theo mầm giống ấy sẽ nảy nở trong sự thiếu thốn, nghèo đói đã kết hợp sẵn trong tâm y. Chính vì vậy mà có khi lý do ấy kết quả làm cho thể xác biến đổi từ nam ra nữ được. Trong trường hợp A hàm có thuật lại rằng “Cô Gopikā là con gái của dòng Thích Ca, sau khi chết được tái sanh làm một vị Chư Thiên nam (Gopaka devaputta) bởi vì cô ta rất nhàm chán thân phận nữ lưu và đồng thời cô thỏa thích muốn được sanh làm nam giới”.

Như có bài kệ về nghiệp báo như sau:

Do nghiệp báo mà toàn cầu chuyển động.

Do nghiệp báo mà nhân loại and súc sanh có liên đới.

Vì do sự liên đới ấy mà chúng sanh phải luân hồi mãi mãi.

Do nghiệp báo mà con người được sự quang vinh ca ngợi.

Cũng do nghiệp báo mà có kẻ phải làm bầy tớ, suy sụp, bạo tàn.

Biết rằng nghiệp báo sẽ trả quả nhiều cách khác nhau.

Vì sao có người cho là “Trong đời này không có nghiệp báo?”

  1. Citta niyāma – định luật về tâm thức

Định luật thiên nhiên về tâm thức này là sự phát sanh quan niệm do cách thức như sắc, thinh, hương, vị, xúc and những quan niệm nảy sanh ra từ bên trong của mỗi tâm thức, tùy vào cơ bản của họ có.

Như họ có cảm tưởng đã từng kinh nghiệm từ trong kiếp quá khứ, những mơ ước, những sự ước mong muốn, những nguyện vọng mà họ nhìn đến để thí nghiệm trong kiếp vị lai luôn cả những biến chuyển khác lạ mà khoa học chưa phát minh ra được. Như sự bí ẩn của năng lực vô hình mà do một vài người có được, do sự tiến triển về trí não mà họ có lẽ thấy hoặc nghĩ được những hình and tiếng mà người thường chẳng thể nghe thấy hoặc nói trước những biến cố sẽ xảy ra trong thời gian tới rất đúng.

Hơn nữa B.S. B.Rhine and một ban đang sưu tầm về năng lực của trí não (viết tắt là E.S.P. extra Sensory Perception) nơi trường đại học Duke của Huê Kỳ. Như ông Kant nói với tất cả chúng ta những sự huyền bí của Thụy Điển and triết gia Swdenberg có một mãnh lực trí não có lẽ nói cho tất cả chúng ta biết lửa đang cháy cách đây 300 dặm Anh. Còn Phật giáo có đề cập đến 10 năng lực của trí não mà con người có lẽ đạt được do sự phấn đấu để hiểu biết and hiểu rõ những khoa học and văn nghệ của Đông phương. Những năng lực đó trong Phật giáo gọi là “thần thông” (iddhi) về phép thôi miên cũng ở trong năng lực của phép thần thông này gọi là vijjāmaya iddhi – một tiềm ẩn năng lực sẵn có trong con người do sự tích trữ của những hành vi trong kiếp quá khứ gọi là kammaj iddhi – như quyền lực của phi nhơn, Chư Thiên and năng lực cất cánh lên hư không của loài gia cầm… đều ở trong năng lực này. Còn ông Dr.Khine thì cho những sự việc này do những sự kinh nghiệm mà ông công nhận rằng “Loài thú vật cũng có mãnh lực của tinh thần như chim bồ câu có thể đem thư từ xa xăm rồi trở về không hề sai lạc”. Một năng lực khác sẵn có như những việc thiện trong quá khứ mà một người sanh trưởng trong một gia đình thật nghèo đói mà y sẽ trở nên giàu sang trong lúc gần già, sự bỗng nhiên chứng tỏ cho ta thấy “Có vài việc lành trong sự ác xấu của chúng ta”, như trường hợp của một người ra đời từ kẻ hành khất mà sau lại trở thành doanh nhân, cái này gọi là punniddhi – năng lực phước báu.

Một biến cố hiếm hoi and rất trọng yếu của năng lực có lẽ chịu đựng sự khổ and duy trì sự chết lại, như trong kinh có thuật lại một người phụ nữ đã chết mà còn thai trong bụng, khi sắp sửa thiêu xác cô thì nghe tiếng trẻ nhỏ khóc, người ta vội vàng kéo tử thi ra coi thì thấy một đứa trẻ ở trong bụng mẹ vừa bể bụng banh ra nhưng đứa trẻ vẫn an toàn vô hại, lẽ hiển nhiên những trường hợp như thế thật là hiếm hoi, chỉ đặc biệt riêng cho những người có nhiều duyên lành có lẽ gần đến Niết-bàn. Thật vậy, đứa trẻ này sau trở thành một vị A-la-hán tên là Đại đức Sankicca. Hơn nữa có người có lẽ biến hóa nhiều nhân vật khác nhau như khi thì biến ra già lúc thì hóa ra trẻ, khi thì người này, lúc thì ra kẻ khác… cái này gọi là vikubbānaiddhi – có người thì dùng năng lực của tâm hóa ra người nữa giống hệt như mình, cái này gọi là mano maya iddhi – chểnh mảng thông.

Những tài năng huyền bí thấy and nghe khác thường này mà ông Rhinne gọi là E.S.P. năng lực của trí não, còn Phật giáo thì gọi là “uy lực tự nhiên” của sự làm lành của tất cả chúng ta trong quá khứ, Đức Phật gọi uy lực đó là do sự tham thiền để tiến triển cho trí não của mình. Như trong kinh Pháp cú có câu:

“Tâm là pháp phát sanh lên trước tiên các pháp, tâm là chủ, tâm là sanh sản ra mọi vật.

Do tâm mà toàn cầu bị chỉ dẫn and lôi cuốn mãi.

& chính con người là chủ của tâm”.

Nhưng có người tự hỏi, cái gì ngăn cản tất cả chúng ta trong sự tiến triển những năng lực bí ẩn tỉnh táo ấy? Chính Dr. Rhinne cũng phải bối rối trong thắc mắc này and hiện tại họ cũng tự hỏi cái gì giới hạn sự tiến triển về năng lực phi thường này? Những ông Dich, Tom and Harry bảo rằng: “Không thể phát triển nổi những năng lực phi thường nằm trong tinh thần con người trừ khi con người đã cố gắng trau dồi từ nhiều kiếp trước mới có thể phát triển tài năng phi thường theo ý nguyện”.

Hơn nữa, do 10 điều phiền não làm cho con người tối mê, bẩn thỉu che lấp không cho tiến triển tài năng phi thường như: sự tham lam làm cho con người dính líu vào mọi vật and không cho các vật khác cao quí hơn; sự sân hận làm cho u tối mù quáng không thấy các việc khác tốt đẹp hơn; si mê là ngu xuẩn tối mê nên chẳng thể thấy gì xuyên qua sự u tối ấy; ngã mạn là cho là “ta đây cao thượng hơn người” chính vì thế nên không phân biệt được điều cao cả hay thấp hèn của người khác; tà kiến là sự hiểu biết lỗi lầm lại cho rằng đúng and chấp nhất vào sự hiểu biết ấy như người mù rờ vào con voi vậy; hoài nghi là không quyết định cái nào là phải cái nào là quấy, không phân biệt được giữa cái này and cái kia; hôn trầm là chây lười uể oải của tâm làm cho buồn ngủ hôn mê tâm tánh; phóng tâm là tâm luôn luôn vọng động không ngừng nghỉ như đống tro bụi bị gió cuốn lên nó cũng làm cho tâm thần rối loạn không thấy sự gì rõ rệt; không hổ thẹn tội lỗi là không có sự hổ thẹn trong khi làm những điều tội lỗi như con heo nằm lăn trong sình trong vũng cũng không biết nhờn gớm; không ghê sợ tội lỗi là dầu khi làm tội lỗi nào cũng không có lòng ghê sợ hậu quả, liều lĩnh làm càn như người mất trí. Mười điều phiền não chướng ngại này nếu nói tóm lại thì có năm loại: sự tham lam hay tham dục trong ngũ trần làm cho con người tối mê không thấy cái chi cho rõ rệt, chính pháp này làm cho con người đi sai lạc cơ bản trước nhất của trí não cao thượng của người tham thiền and nó sẽ dắt mang con người đến sự âm mưu, xảo trá lừa dối kẻ khác, sau cùng họ sẽ mất khả năng cao quý rõ rệt, chính vì thế mà Đức Phật thấy xa nên cấm các hàng đệ tử không cho dùng những thần thông trong chỗ quần chúng công cộng do sự tham vọng; sự sân hận sẽ làm cho con người bị khích động trong khi dùng tâm lực thôi miên có lẽ làm hại kẻ khác vì lòng thù oán; hôn trầm là chây lười, hôn mê, buồn ngủ làm cho không tiến hành được việc gì; phóng tâm làm cho phóng dật bồi hồi bứt rứt do sự hành vi sai quấy hay luyến tiếc việc phải làm mà không làm; hoài nghi là sự ngờ vực không thấu hiểu rệt điều gì, luôn luôn mong sự giải thích của kẻ khác, chỗ này ông Rhinne nhận ra hiện trạng ngờ vực ấy sẽ đánh dấu hạng người rất thấp hèn vậy. Năm pháp này thường được gọi là pháp che lấp, pháp trở ngại hay là pháp cái, có năng lực ngăn cản thiền định không cho tiến triển để thấy rõ mục tiêu, cũng như hai chuyến xe lửa chạy đua cùng lúc với nhau trong 1 chiều. Như trong sự biến chuyển “không có gì phải thấy hoặc không có gì phải làm”. Như ông Condorcet thức hằng mấy giờ để làm một bài toán mà không xong, nhưng khi ngủ trong giấc giấc mơ lại tự lời giải được. Trong Phật giáo, khi tâm được yên nghỉ xong có lẽ kiểm điểm lại những sự hành vi hay kinh nghiệm của mình những gì khốn khó không giải được trong lúc còn thức. Như khả năng hiểu rằng tâm của kẻ khác xa từ ngàn dặm hoặc tạo ánh sáng trong chỗ u tối, bất kì điều phi thường này phải đòi hỏi con người có một trí não hoàn toàn được tiến triển.

Theo tốc lực của ánh sáng thì như tất cả chúng ta biết có đến 186.000 dặm Anh trong một giây đồng hồ. Như thế tốc lực của tâm như vậy nào? Tốc lực của tâm thì vượt qua cả thời gian lẫn không gian, vì tốc lực của tâm thì vô lượng chẳng thể hiểu rằng. Vấn đề này có nêu rõ trong mẩu truyện Đức vua Milinda hỏi vị Na Tiên tỳ kheo. Tôi xin thuật lại vắn tắt như sau. Tỳ khưu Na Tiên nói: “Tâu Đại Vương, vậy chớ từ đây đến đô thị Alexandre trong bao xa?” – Đức Vua Milanda trả lời: “Hai trăm dặm?” – “Vậy Đại Vương nhớ lại vài việc làm ở đó coi.” – “Trẫm nhớ rồi.” – “Vậy Đại Vương đã đi đến đó 200 dặm quá lẹ”, rồi ngài hỏi tiếp: “tâu Đại Vương như đô thị Kasali cách đây 200 dặm nơi mà Ngài sanh trưởng và xứ Kashmir chỉ cách đây 12 dặm vậy nơi nào xa hơn nếu ngài nghĩ đến?” – “Hai nơi nếu suy nghĩ thì cũng đồng một thời gian như nhau.” – “Tâu Đại Vương tâm thức cũng nhanh lẹ như vậy.”

Hơn nữa ví hai con chim cất cánh trên hư không sẽ đậu vào nhánh cây, một con cất cánh cao, một con cất cánh thấp, khi đậu vào cành cây cũng trong một lúc, con đậu nhánh cao, con đậu nhánh thấp nhưng bóng của chúng đều đến mặt đất một lượt như nhau, tương tự như hai người ở đây cùng chết một lượt, một người thì sanh về cõi Phạm Thiên, một người nữa thì sanh ra trong xứ Kashmir này, nơi xa cách tuy khác nhau nhưng cũng đồng sanh trong một lúc như nhau, như thế thật không hiểu rằng tốc lực của tâm. Dr. Rhinne có công nhận rằng “Mãnh lực của tâm có thể xuyên qua thời gian và không gian thật mau lẹ”. Do nhiều sự kinh nghiệm với 1 gói lá bài để cách khoảng nhau mà Dr. Rhinne tìm tòi ra sự xa cách của thời gian and không gian có chướng ngại cho khả năng tư chất để thấy, nghe and hiểu rằng những biến cố xảy ra từ xa xăm mà đơn vị thông thường chẳng thể hiểu rằng. Ông Dr. Rhinne còn nói sự gieo con xúc xắc (6 mặt) cũng có tác động của trí não làm cho kết quả theo ý mong muốn. Năng lực vật lý mà trí não có được đó gọi là “P.K. Psycho kinesis” động lực học. Như lấy một đề mục nhìn thẳng vào lá bài với sự gom cả trí não nghĩ suy trong khi ấy người khác lãnh lấy cảm giác ấy, Dr. Rhinne dám quyết đoán rằng “thần giao cách cảm” ấy có lẽ chuyển từ đề mục này sang qua đề mục khác được.

Về lý thuyết, thần giao cách cảm làm cho người ta hỏi tới vấn đề giấc mơ, Chư Thiên and các phi nhơn vô hình khác vậy chớ những vật vô hình ấy có tác động chi đến nhân loại không? Về vấn đề này người Tây Âu chỉ cho rằng “nhân vật thần thoại” mà thôi. Nhưng Phật giáo nhìn nhận những nhân vật vô hình ấy là một cảnh nào trong 31 cảnh của chúng sanh đi tái sinh. Những nhân vật này cũng có tác động đến nhân loại. Sự ám chỉ này chỉ nhìn nhận của sự hành vi “tinh thần trong tinh thần” and có lẽ minh chứng một cách rộng rãi. Như người ta nói cà lăm, ngắc ngứ khi nằm giấc mơ thấy mình nói cà lăm càng xấu tệ hơn, hoặc nằm mơ mị xấu xa thì ngày sau tánh tình không được vui vẻ. Có vài sự mộng mị làm tác động sâu xa cho đến suốt đời người như có một người bị tác động của giấc mơ mà bỏ nhà cửa đi mất, có người lại sửa đổi tánh tình sau thời điểm nằm giấc mơ, có người ngủ mà vẫn đi như thường (mộng du). Thật vậy, theo khoa học Tây Âu đi đã xa mà hiện tại họ có lẽ đo lường được trọng lượng and luôn cả chụp những quan niệm ngấm ngầm bên trong. Như giáo sư Baradue có dẫn chứng một sự thực nghiệm, ông ta chỉ dẫn với một cây gậy mà trí não có lẽ ghi qua lắng sóng quan niệm được ghi vào băng. Ngồi trước dụng cụ mà ông đã điều chế ra là “cây gậy làm cho thấy rõ hình ảnh của tinh thần” (Electro Encephalagraph) rồi định thần trên cây gậy với toàn bộ năng lực mà y có lẽ ra lệnh and chiếu nó vào trong kiếng chụp ảnh. Kế đó không lâu, khi khui kiếng ấy ra, thì hình cây gậy xuất hiện giống hệt trên kiếng hình (cây gậy thiệt thì không có trong vòng kiếng hình ấy). Những tin tức khác nhau có lẽ thâu vào một cách rõ rệt, cao hay thấp được phát ra rất nhiều lần của sự rung động khi người đến gần máy dụng cụ bén nhạy của ông giáo sư Baradue. Hiện thời tất cả chúng ta có cơ thể nhận sự tương đồng của P.K. and P.A. (Psi ability) với thần thông (iddhi) trong Phật pháp như phương ngôn mà ta thường dùng là “Hoa hường dầu gọi là tên khác đi nhưng mùi thơm vẫn là hoa hường”.

XEM THÊM  Tìm hiểu về hiện tượng Nhật thực và Nguyệt thực

Như thế ở đây một lần nữa khoa học lại minh chứng tri thức của Phật giáo về trí não là tột đỉnh, toàn bộ mọi việc được kết hợp and có lẽ hành vi qua toàn bộ sự biến hóa.

Với sự hiểu biết rạch ròi về năng lực and tác động của tâm linh thì không có lẽ lý luận cho là “dòng tư tưởng của tâm, càng nhiều năng lực lại có thể bỏ được khi nó đang tiến hành hoặc ăn sâu vào những tế bào rồi cũng như cử chỉ và ấn tượng đã để lại trên dụng cụ bén nhạy để thu hình”. Người ta chẳng thể kinh ngạc khi biểu hiện and tánh tình ngày càng trội hơn đã truyền xuống bằng phương pháp này từ thế hệ này đến thế hệ khác, khởi sự tự mở ra càng sẵn sàng and dễ dàng hơn kẻ khác and sự sống làm cho nó tiến hóa lạ thường trong bụng mẹ. Như thế những xu hướng truyền thống and đặc sắc của vật lý có lẽ đưa qua từ đời này đến đời khác and bỏ lại những điểm âm thầm trong thể xác mới lúc tái sanh. Cũng như người con không giống cha hay mẹ, nhưng lại giống ông nội hay ông cố, ông sơ… điều đó thật không có chi là kinh ngạc cả. Như trí não còn có lẽ bỏ lại dấu vết của nó trên thể xác vật chất bằng sự biến cố xảy ra trong hiện thời do sự minh chứng rộng rãi. Như tất cả chúng ta biết, có một số phụ nữ, nhứt là những người có chồng lâu mà không có con, nguyện cầu với thần Ganesh cho được sanh con and khi sự ước nguyện thành tích thì đứa con sanh ra lỗ mũi giống cái vòi con voi (giống hình vị thần ấy mình người đầu voi), nguyên nhân lạ lùng này là vì vị Thần thờ đó mặt như Chư Thiên mà mũi lại giống như cái vòi voi, dấu hiệu này đã in sâu vào trí não người mẹ khi có bầu vì vậy khi sinh đứa con ra tương tự như vậy. Như tất cả chúng ta được nói lại, những đứa trẻ như vậy ấy ít còn sống sót được. Như tất cả chúng ta biết có một số phụ nữ thờ hình treo trên tường hay đầu giường hình tốt đẹp hoặc cảnh, tự nhiên những tác động ấy làm cho các đặc sắc của hình mẫu đó trong khi sanh đứa trẻ ra sau này cũng giống những dấu hiệu về vật chất ấy. Như thế thì tác động về hình ảnh của thần giao cách cảm and thôi miên có lẽ truyền sang qua bởi cách thức của sự gom trí não trên sự cấu trúc về vật chất của đứa trẻ. Thôi miên học phân phối cho tất cả chúng ta một dịp để học hỏi sự biến chuyển dưới điều kiện thực hành thử coi. Như hiện tại một phương cách của phép chữa bệnh bằng thôi miên mà phần lớn các hội y học trên toàn cầu chánh thức nhìn nhận. Thật vậy, sự kinh nghiệm về y học dưới sự thôi miên hiện tại giúp tìm tòi ra những hành vi huyền bí của trí não trên thể xác vật chất này tương tự như sự khuyên nhủ của những người phụ nữ nguyện cầu với thần Ganesh làm cho sự phản ứng vật lý có lẽ thành đạt được với phương châm vật lý. Khi tâm được làm chủ đầy đủ như trong trường hợp của sự kinh nghiệm về thôi miên bất luật sự khuyến nhủ nào có lẽ làm trong sự tin cậy rằng: Tâm linh của đề mục sẽ ứng dụng được. Điều hết sức kinh ngạc là không những trí não phải nghe lời theo ta mà còn thể chất này cũng hưởng ứng theo luôn. Điều này có lẽ minh chứng như ý nghĩ đốt trên da thịt ai một nơi đâu thì chỗ ấy liền hiện lên một dấu cháy xem y như ngay chỗ chỉ định.

Còn nhiều trường hợp tương tự, như giáo sư Gates minh chứng những điều kiện trong phòng thực nghiệm cách nào trí não thể xác tác động đến thể chất dầu cho người đã trưởng thành. Ông thấy sự biến đổi của trí não về tánh tình y học của sự toát mồ hôi, như để cho một người đang cơn giận thở vào trong ống thực nghiệm trong năm phút khi nguội and đặt lại thì thấy có một chất nâu, chất này có mãnh lực vô cùng độc, còn khi để cho người vì u sầu thở vào thì có một chất xám xanh… Một cậu bé 16 tuổi có da dày and xám, người ta gọi nó là “Thằng Voi” được chữa trị hoàn toàn lành bịnh bằng cách thôi miên. Miêu tả sự chữa trị này trong tờ nhựt báo British Medical do ông Dr. Mason trị cho tại dưỡng đường Queen Victoria thuật lại rằng: Từ da dày xám đen trở nên hồng hào and mềm mại trong vòng 10 ngày and 10 ngày ấy cánh tay từ vai ra đến bàn tay hoàn toàn tốt đẹp trong trắng. Toàn bộ điều này chứng tỏ rằng “căn bản vững chắc của đời sống chúng ta là cảm giác, suy nghĩ và ước nguyện đều là những tế bào có thể làm cho hệ thống nội tạng của những hạch (gland) và cơ quan trong thân con người có liên quan đến. Về tánh tình y học có chỉ cho ta cái kết quả của tư tưởng do nước của các hạch tiết ra trong suốt đời sống của chúng ta. Sự bất đồng tư tưởng quyết định sự bất thường làm đảo lộn trọn sự quân bình của đời người và khuấy rối những hành vi của cơ quan trong thân thể. Khoa học chứng minh như Đức Phật có dạy rằng “Chúng ta là kết quả của tư tưởng chúng ta”. Thật vậy, khi sự vái van cầu khẩn cho phục hưng lành mạnh lại thì phải cần trong thời gian lâu mới lành mạnh vì trong lúc ấy chất nước trong những hạch biến chuyển biến đổi do phản ứng của y khoa, thì sự ước nguyện mới kết quả. Nhưng về những vị Trời chẳng thể trả lời được bằng nguyện cầu như thế vì không thấy có vị Trời nào phục hưng lại sau sự cưa tay, chân hay một ngón tay được do người nguyện cầu.

Còn nói về sự “tiên tri” thì sự này có lẽ được vì sự bền lòng trong những phòng ban của lắng quan niệm khác nhau mà có lẽ đáp ứng được nhiều sự biến đổi của người “tiên tri – seer”. Trí não của người tiên tri không phải hoạt động trong phạm vi nhỏ hẹp tầm thường như trí não của người thường nhân cũng như người dùng hai máy thu thanh ở cách xa ngàn dặm mà tiếp được tin tức nhau liền – nếu không nhờ sự truyền tin bằng vô tuyến ấy thì con người có lẽ chờ đến già mới được tin do người đi bằng thuyền đến, cũng như vậy ấy người “tiên tri” trí não họ hoạt động trong phạm vi khác nhau do nơi sự rung động nhiều lần liên tục như chất “tinh khí – ether” vẫn có nhưng con người chưa tìm tòi thấy được. Cũng như người đứng trên một nơi đâu cao có lẽ thấy rất xa cảnh vật xoay quang mình nhiều hơn người đứng dưới thấp. Cũng như vậy ấy người “tiên tri” trí não họ được tỉnh táo nên họ có lẽ thấy xa như thế. Trước khi mãnh lực phi thường nào được sử dụng thì đồ dùng trong phòng thực nghiệm trí não cho trong sạch cũng phải làm xong trước.

Có vài quan điểm cho là làm thế nào mà trí não hoạt động trong làn sóng xa vời khác nhau có lẽ hiểu rằng, điều này không quá khó là mong muốn xem xét thì nên xem xét qua quan niệm giấc mơ. Hiện thời một quan niệm giấc mơ rõ rệt là lâu với người đang nằm giấc mơ nhưng thật ra nó chỉ ở trong vài giây đồng hồ mà thôi. Sự này rất rõ rệt là có người khi nghe tiếng nói trước nhất của một mẩu truyện rồi ngủ quên and giấc mơ thấy trong giấc mơ thật dài, nhưng khi thức lại thì mẩu truyện thuật lại chưa chấm hết. Thật vậy quan niệm trong giấc mơ có lẽ đi vòng quanh toàn cầu như ghé Bombay, Cairo, Aden London, Rome, New York… and trở lại chỗ cũ như trước, trước khi mặt trời mọc. Một cách khác, một chiếc Jet phản lực cơ mau nhất trình diễn như trên phải mất một thời gian thật lâu mới xong. Như thế tất cả chúng ta ráng tìm tòi sự nhanh nhạy của khả năng quan niệm của tất cả chúng ta trên lãnh vực tâm lý khác nhau and người ta có lẽ vượt qua lãnh vực trí tuệ mà lý luận chẳng thể nào hiểu được. Đó là người có tâm linh đạt đến mức siêu phàm.

Đức Phật có nói, không có cái gì biến đổi lẹ làng như tâm thức and cũng không có cái để so sánh sự biến chuyển nhanh chóng của tâm. Điều này tất cả chúng ta có lẽ hiểu rằng bằng tự kinh nghiệm lấy mình – cũng như tôi đã có nêu ra, con người có lẽ giấc mơ thấy không biết bao nhiêu việc trong một giây đồng hồ hoặc đi vòng quanh toàn cầu rồi trở về trong vài phút. Dầu cho phi cơ Jet siêu nhanh nhất trong niên đại cũng phải mất ít nhất trong mấy ngày, trong khi tâm thức thì không có hạn chế với trí não giải thoát.

Toàn bộ những điều mà tôi giải ra đây đều nằm trong định luật của tâm thức mà Đức Phật đã dạy (citta niyāma).

  1. Dhamma niyāma – định luật về qui phạm hay pháp

Như trong định luật này giải về sự động đất rung chuyển vũ trụ hoặc sự lạ lùng khác phát sanh lên khi một vị Bồ tát lâm phàm giáng sanh vào lòng mẹ, khi đắc Vô thượng Chánh giác, khi chuyển pháp luân lần đầu and khi ngài nhập Niết-bàn… and như luật nhẹ cất cánh nổi lên còn nặng chìm rớt xuống…

Những người tin vào đấng tạo hóa and tạo vậy không hiểu hiểu rằng những nguyên chất (element) của đất, nước, lửa, gió mà Đức Phật đã dạy. Các chất ấy làm việc kết hợp chung lại để giữ gìn cho năm định luật của vũ trụ mà chúng tôi đã giảng giải. Không những thế chỉ có một số người rất ít về minh sát tuệ hoặc quan niệm sâu xa của ít người Âu châu phấn đấu tìm tòi định luật mà làm cho vũ trụ điều hòa.

Những người này dầu không có tin “đấng tạo hóa” hoặc họ ở trong sự hoài nghi của những lòng tin được truyền cho họ. & thông qua sự sưu tầm mà họ không những đi vòng quanh toàn cầu mà còn lên đến cung trăng. Thật vậy con người đã khởi sự hiểu biết năng lực thiên nhiên của vũ trụ rõ rệt mà họ có lẽ còn mong muốn nhìn xem sự quãng đường lên Hỏa Tinh and Kim Tinh. Mặc dù họ đạt được kết quả hay không, đó là một việc sau này sẽ hiểu rằng. Điều trọng yếu đó là một việc hết sức khốn khó mà họ tín nhiệm rất dõng mãnh, như người tin vào đấng tạo hóa mà họ có lẽ hoàn tất được khi họ càng chiêm ngưỡng vào, nhưng họ không dám tự phụ xen vào với vũ trụ với sự tạo tác của họ. Vì sự cầu kỳ về sự cân bằng của sức lượng của những người nổi tiếng hay những hành tinh vì toàn bộ đều phải làm việc hòa hợp and hợp tác hoàn toàn.

Theo thời trung cổ, ông bà tất cả chúng ta lấy làm lạ về sự vĩ đại của vũ trụ mà họ đang ở, làm cách nào mà nó còn sanh tồn hoài, thế nào mà có chúng sanh đến ở, cây cối sống theo thứ lớp của nó, gió thổi bốn mùa, làm sao nó lại trở nên lạnh nên nóng… Có vài người thì tin rằng đó là do sự hành vi của “thần Mặt trăng”, người khác lại cho rằng do sự hành động của “thần Mặt trời”, có người lại nói đó là do nơi “thần Gió”… Cuối cùng, không có lòng tin nào làm cho con người vừa lòng rồi họ đặt sự cầu van and trách cứ trên một nhân vật gọi là “Đấng Chúa Trời cao cả” hay là “Đấng tạo hóa”. Dầu họ đặt lòng tin vào Đấng Chúa Trời cao thượng nhưng họ cũng không đáp ứng sự khắc phục về sự rườm rà của đời sống con người. Dường như có sự bất công trong đời sống của nhân loại chính vì thế mà họ dám đổ thừa cảnh cáo đến thần gió and họ cũng loại bỏ ra ngoài những vị thần mà họ tưởng tượng đến. Họ trọn vẹn lựa theo định luật mà họ đã có trong tay and thấy rõ sự không đúng của sự âm thầm and những bí ẩn của vũ trụ xuyên qua sự phấn đấu của mình.

Sự việc này Đức Phật có nói thí dụ về Đấng Trời tạo hóa and những đau khổ của nhân loại rằng “Người có trí tuệ thấy rõ hơn người có con mắt đau (là kém trí tuệ), tại sao vị Trời Phạm Thiên hay Đấng Tạo Hóa không tạo ra chúng sanh cho đúng đắn hoàn toàn?”. Nếu Ngài có quyền năng mênh mang vô hạn vì sao không mang tay ra tế độ chúng sanh? Vì sao nhân loại lại bị trừng trị đau khổ? Vì sao ông không ban hạnh phúc cho họ? Vì sao sự xảo trá, láo khoét and ngu xuẩn lại thạnh hành? Vì sao sự thắng kẻ giả dối, chân thực and sự công bằng lại bị thất bại? Vị thế mà tôi cho Trời Phạm Thiên tạo hóa bất công so với chúng sanh and Ông tạo nên toàn cầu này với nơi trú ẩn lỗi lầm “bhuridatta jātaka”.

Đức Phật lại giải thêm: Nếu có vài nhân vật có toàn quyền toàn năng làm đầy đủ cho chúng sanh hạnh phúc hay đau khổ and hành vi thiện hoặc ác thì nhân vật ấy lẫn lộn với tội ác vì con người bắt chước ý mong muốn của ông ta (mahābodhi jātaka).

Như thế những người thích theo khoa học thì Phật giáo là thông điệp không có chống đối xung đột với người đang tìm theo sự thật của khoa học. Vì Phật giáo rất phù hợp với khoa học hiện đại, cũng thăm dò sự việc and phê duyệt sự kết quả.

Dr. Rhinne and nhiều người khác như ông đang theo đuổi sự search về lãnh vực “tinh thần siêu diệt” sẽ tìm ra trên giáo lý của Đức Phật theo ý mong muốn của họ, vì khi giải thích sự cầu kỳ của năng lực cân bằng trong vũ trụ, Đức Phật không cần đến các vị Trời ban hạnh phúc cho chúng and những người theo gương and giáo lý của Ngài không cần vài sự mơ hồ sau này về một cõi thiên đàng tưởng tượng của một Đấng Trời Tạo Hóa – nhưng đúng đôi khi ngay hiện tại. Chính vì vậy Đức Phật có danh hiệu là “Thầy cả Chư Thiên và nhân loại”. Tuy thế, những người tin theo nhân vật của “Đấng Trời tạo hóa” có thân hình and ngũ quan hay không, nhưng năng lực bí ẩn không hiểu rằng của bản chất thiên nhiên người Phật tử không cần cãi cự đến. Vì như tất cả chúng ta đã thấy and tin cái toàn cầu của trí não and vật chất hiện thời đang chỉ dẫn and điều hòa chẳng phải chỉ có một năng lực như thế đâu mà còn có cả năm định luật thiên nhiên khác nữa suport.

Sau cùng, tôi xin nhắc lại bạn đọc một lần nữa là năm định luật thiên nhiên (pañca niyāma) chỉ dẫn hay cai quản toàn cầu bên trong and toàn cầu bên ngoài mà tất cả chúng ta đã luận bàn tóm lược trong quyển kinh bé nhỏ này nó làm việc biến chuyển theo hệ thống của “Lý nhân quả” and có liên hệ với nhau như người ta đã báo tin rằng “Đức vua đã đến” vậy.

Soạn xong tại Kỳ Viên tự, rằm tháng Chín – mùa thu năm Nhâm Tý nhằm 21/10/1972

– Dứt tác phẩm Định luật thiên nhiên của vũ trụ –

Nhân quả liên quan - icon-pdf-2.jpg (28552 KB)

Thư viện Phật Giáo Nguyên Thủy

Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Khoa học vũ trụ