Ngày đăng: 18/06/2014, 07:42

Hệ thống thông tin vệ tinh Inmarsat Inmarsat được sáng lập vào năm 1979 để phục vụ cho những người đi biển, với mục đích theo dõi làm chủ tầu thuyền & phân phối các vận dụng ứng cứu & giải trí ngoài khơi qua vệ tinh. Các dịch vụ đưa tính thương mại khởi đầu vào năm 1982, & kể từ đó, một loạt các dịch vụ cung cấp của Inmarsat đã bành trướng nhằm thâu tóm các khu vực thị trường trên đất liền & hàng không. Đến những năm đầu của thập kỷ 90, Inmarsat có 64 nước member. Vào thời điểm tháng 4 năm 1999, Inmarsat trở thành một công ty tư vấn du học nhiệm vụ hữu hạn có trụ sở chính đặt tại Luân Đôn. 1. Hệ thống Inmarsat Inmarsat được sáng lập vào năm 1979 để phục vụ cho những người đi biển, với mục đích theo dõi làm chủ tầu thuyền & phân phối các vận dụng ứng cứu & giải trí ngoài khơi qua vệ tinh. Các dịch vụ đưa tính thương mại khởi đầu vào năm 1982, & kể từ đó, một loạt các dịch vụ cung cấp của Inmarsat đã bành trướng nhằm thâu tóm các khu vực thị trường trên đất liền & hàng không. Đến những năm đầu của thập kỷ 90, Inmarsat có 64 nước member. Vào thời điểm tháng 4 năm 1999, Inmarsat trở thành một công ty tư vấn du học nhiệm vụ hữu hạn có trụ sở chính đặt tại Luân Đôn. Hệ thống Inmarsat bao gồm ba thành phần căn bản sau: – Phần không gian Inmarsat, là phần bao gồm các vệ tinh địa tĩnh được sắp xếp trên vùng Đại Tây Dương (Đông (AOR-E ) & Tây (AOR-W)), Thái Bình Dương (POR) & Ấn Độ Dương (IOR). – Các trạm đất liền mặt đất (LES), là các trạm được các nhà điều hành viễn thông sở hữu & tạo thành các connect tới hạ tầng nền tảng mạng mặt đất. Gần đây, có khoảng 40 trạm đất liền mặt đất sắp xếp xuyên suốt toàn cầu với ít đặc biệt là một trạm trong mỗi vùng bao vệ tinh. – Các trạm mặt đất di động, là các trạm đem đến cho người tiêu dùng khả năng giao tiếp qua vệ tinh. Inmarsat khởi đầu cung cấp dịch vụ bằng việc thuê dung tích của vệ tinh gồm ba phi thuyền không gian MARI-SAT được Tổng công ty tư vấn du học Comsat General phân phối định vị lần lượt tại 72,5 o Đông, 176,5 o Đông, & 106,5 o Tây. Giữa những năm 1990 & 1992, Inmarsat phóng bốn trong số các vệ tinh Inmarsat-2 của bản thân. Chúng có một sức chứa bằng khoảng 250 mạch Inmarsat-A, gấp khoảng 3 đến 4 lần dung tích của các vệ tinh đã phóng trước kia. Các vệ tinh có một lượng tải tin bao gồm hai bộ tách sóng trợ giúp khoảng trống tới các link di động trong các băng tần L/S (1,6 GHz cho link uplink, 1,5 GHz cho link downlink) & các link Không gian – Địa cầu trong các dải băng tần C/S (6,4 GHz cho link uplink, 3,6 GHz cho link downlink). Các vệ tinh có một khối lượng khi phóng là 1300 Kg, & sẽ giảm xuống còn 700 Kg khi nằm trên quỹ đạo. Các vệ tinh phát các chùm sóng phủ toàn thị trường quốc tế với một công suất bức xạ đẳng hướng hiệu dụng là 39 dBW ở băng thông L. Công đoạn kế tiếp trong tiến trình lớn mạnh của phần không gian là công đoạn cùng với việc phóng các vệ tinh Inmarsat-3. Điều đáng cảnh báo là các vệ tinh này tuyển nhân viên công nghệ chùm điểm để tăng EIRP & các khả năng sử dụng lặp tần. Mỗi vệ tinh Inmarsat-3 có một chùm phủ sóng toàn thị trường quốc tế cộng với 5 chùm điểm. Các vệ tinh cho ra một EIRP chùm điểm lên tới 48 dBW, gấp 8 lần công suất của các chùm phủ sóng toàn thị trường quốc tế thuộc Inmarsat-2. Băng thông & công suất có thể được cung cấp một cách năng động giữa các chùm tia nhằm tối ưu hoá độ bao phủ theo nhu cầu. Điều này tạo thành một biểu hiện đầy ý nghĩa cho các loại hình dịch vụ mà Inmarsat hiện thời có thể cho ra mắt & cũng như cho các thiết bị mà có thể sử dụng để truy nhập mạng. Bên cạnh lượng tải tin truyền thông, các vệ tinh Inmarsat-3 cũng đưa một tải lượng thông tin hàng hải để chuyên sâu các hệ thống hàng hải qua vệ tinh thuộc GPS & GLONASS. Hiện thời, Inmarsat tuyển nhân viên bốn vệ tinh điều hành thuộc Inmarsat-3 & sáu vệ tinh đề phòng, toàn bộ bao gồm ba vệ tinh Inmarsat-3 & ba vệ tinh Inmarsat-2. Ba vệ tinh Inmarsat nữa đang được đặt ra để mời thuê dung tích. Cấu hình vệ tinh được liệt kê trong bảng 1. Bảng 1: Cấu hình vệ tinh Inmarsat Vù ng Thuộc vận hành Đề phòng AO R-W INMARSAT-3 F4 (54 o W) INMARSAT-2 F2 (98 o W) INMARSAT-3 F2 (15.5 o W) AO R-E INMARSAT-3 F2 (15.5 o W) INMARSAT-3 F5 (25 o E) INMARSAT-3 F4 (54 o W) IO R INMARSAT-3 F1 (64 o E) INMARSAT-2 F3 (65 o E) PO R INMARSAT-3 F3 (178 o E) INMARSAT-2 F1 (179 o E) Độ bao phủ trên toàn cầu do tổ chức Inmarsat phân phối được miêu tả trong hình 1. 2. Các dịch vụ của Inmarsat Hàng hải & điện thoại cảm ứng thông minh đất liền Inmarsat phân phối một dải mênh mông các dịch vụ qua một trong những hệ thống của Inmarsat. Vào năm 1982, Inmarsat-A là một hệ thống trước hết được góp mặt vào loại hình dịch vụ dưới tên thương hiệu có tên STANDARD-A. Các thiết bị đầu cuối có kích thước khoảng một hoặc hai chiếc valy, tuỳ thuộc vào nhà cung cấp, & nặng khoảng 20 Kg đến 50 Kg. Thiết bị đầu cuối này hoạt động với một chiếc ăngten parabol có đường kính khoảng 1m với một công suất EIRP là -36dBW & một mức nhiệt G/T là -4 dBK -1 . Về tính sẵn có của vệ tinh & LES, thông thường, người tiêu dùng có thể lựa chọn tuyến để seting cuộc gọi. Các dịch vụ thoại Inmarsat-A chiếm băng thông từ 300 đến 3000 Hz qua việc sử dụng một kênh đơn lẻ (SCPC/FM). Người ta sử dụng các kỹ thuật về hoạt hoá âm thoại & về chỉ định nhu cầu để tăng năng suất của nguồn vệ tinh. Pha chế BPSK được sử dụng cho việc truyền dữ liệu với vận tốc lên tới 19,2 Kbit/s, & cho các dịch vụ truyền fax với vận tốc 14,4 Kbit/s. Vận tốc truyền dữ liệu cũng có thể lên đến 64 Kbit/s sử dụng pha chế khoá dịch pha lệch 90 o (QPSK). Một thiết bị kết cuối đòi hỏi cần có một kênh để seting cuộc gọi bằng việc phát một tín hiệu pha chế 4,8 Kbit/s theo BPSK sử dụng thủ tục ALOHA. Inmarsat-A hoạt động trong băng tần truyền phát từ 1636 đến 51645 MHz & trong dải băng tần thu nạp từ 1535 đến 1543,5 MHz. Các kênh thoại hoạt động với một khoảng cách tần số là 50 KHz, trong lúc các kênh dữ liệu lại được biệt lập một khoảng 25 KHz. Hình 1: Độ bao phủ của dịch vụ Inmarsat Inmarsat-B được hiện diện trong loại hình dịch vụ vào năm 1993, thực chất để phân phối một phiên bản kỹ thuật số cho dịch vụ thoại thuộc Inmarsat-A. Hệ thống này phối hợp hoạt hoá âm thoại với điều khiển nguồn điện áp tích cực để giảm bớt các yêu cầu về EIRP qua vệ tinh. Các thiết bị đầu cuối hoạt động với công suất 33,29 hoặc 25 dBW với một mức nhiệt G/T là -4 dBK -1 . Thoại được tạo thành với vận tốc bít 16 Kbit/s bằng việc sử dụng cách thức mã hoá tiên đoán tương thích (APC), mã mà sau đó được mã hoá bằng mã chập 3/4 mức vận tốc, làm tăng vận tốc kênh lên tới 24 Kbit/s. Tín hiệu được pha chế qua offset-QPSK. Dữ liệu được truyền đi với vận tốc từ 2,4 đến 9,6 Kbit/s, trong lúc fax lên tới 9,6 Kbit/s qua pha chế offset-QPSK. Các dịch vụ dữ liệu vận tốc cao (HSD) thuộc Inmarsat-B cho ra các truyền thông số vận tốc 64 Kbit/s tới những người tiêu dùng trên biển & đất liền, & cho ra khả năng connect tới các mạng ISDN qua một LES đấu nối thích hợp. Một thiết bị kết cuối đòi hỏi cần có một kênh để seting 1 cuộc gọi bằng việc phát đi một tín hiệu pha chế qua offset-QPSK có vận tốc 34 Kbit/s bằng thủ tục ALOHA. Các kênh được ấn định việc sử dụng một kênh BPSK TDM. Inmarsat-B hoạt động trên băng tần truyền phát là 1626,5 đến 1646,5 MHz & băng tần thu nạp là 1525 đến 1545 MHz. Các thiết bị kết cuối INMARSAT-C phân phối các dịch vụ có vận tốc dữ liệu thấp với vận tốc thông tin là 600 bit/s. Loại mã chập bán mức vận tốc, với độ dài ràng buộc là 7, tạo thành vận tốc truyền là 1200 bit/s. Các tín hiệu được truyền đi bằng cách thức pha chế BPSK, trong một dải băng thông là 2,5 KHz. Các kết cuối là các thiết bị có kích cỡ & trọng lượng nhỏ. Phần đông các thiết bị này hoạt động với một ăngten vô hướng. Các thiết bị đầu cuối hoạt động với một mức nhiệt G/T là -23dBK -1 & một công suất EIRP di dời từ 11 đến 16 dBW. Kênh yêu cầu hồi tiếp sử dụng các tính hiệu được pha chế theo ALOHA BPSK với vận tốc 600 bit/s. Các kênh được gán cho việc sử dụng một tín hiệu pha chế theo TDM BPSK. Hệ thống này phân phối các dịch vụ dữ liệu & tin nhắn & truyền kế tiếp hai đường, & các dịch vụ giải trình dữ liệu, giải trình định vị & truyền bá cuộc gọi nhóm chuyên sâu (EGC). EGC cho phép hai loại hình truyền bá được truyền phát: này là SafetyNET, thực hiện việc truyền phát thông tin bảo an hàng hải; nhóm FleetNet, cho phép các thông tin thương mại được gửi đi tới một nhóm người tiêu dùng rõ ràng và cụ thể. Các thiết bị kết cuối có thể gắn vào các phương tiện giao thông hoặc các tàu thuyền trên biển, cùng lúc các thiết bị kết cuối hình dạng như chiếc cặp ebook cũng hiện diện đa dạng. INMARSAT-C, bằng cách tăng mỗi dải tần lên 5 KHz, hoạt động trong băng tần truyền phát từ 1626,5 MHz đến 1645,5 MHz & băng tần thu nạp từ 1530 MHz đến 1545 MHz. Khởi nguồn từ nhu cầu đòi hỏi về một chiếc điện thoại cảm ứng thông minh cá nhân cầm tay connect qua vệ tinh trước hết, trong thời điểm tháng 12 năm 1992, người ta đã tung ra thị trường dịch vụ thương mại, hệ thống INMARSAT-M. Hệ thống này phân phối loại hình smartphone với vận tốc 4,8 kbit/s bằng việc sử dụng loại mã kích thích đa băng tần tôn tạo (IMBE), loại mã mà sau khoảng thời gian được mã hoá bằng mã chập 3/4 tỉ mức vận tốc, sẽ tăng một vận tốc truyền là 8 Kbit/s. không dừng lại ở đó, các dịch vụ dữ liệu & chuyển fax vận tốc 2,4 Kbit/s (1,2-2,4 Kbit/s) cũng được xuất chúng. INMARSAT-M hoạt động trong ngành nghề hàng hải & loại hình di động trên đất liền. Các thiết bị kết cuối phục vụ nghề hàng hải hoạt động trên công suất EIRP thuộc một trong hoặc toàn bộ hai giá trị 27 dBW hoặc 21 dBW & với một mức nhiệt G/T là -12 dBK -1 . Kênh yêu cầu hồi tiếp sử dụng các tín hiệu pha chế theo slotted-ALOHA BPSK với vận tốc 3 Kbit/s. Các kênh được gán cho việc sử dụng một tín hiệu pha chế theo TDM BPSK. Vệ tinh hàng hải INMARSAT-M hoạt động trong các băng tần truyền phát từ 1626,5 MHz đến 1646,5 MHz & các băng tần thu nạp từ 1525 MHz đến 1545 MHz, với khoảng cách kênh là 10 KHz. Phiên bản di động trên đất liền hoạt động trên băng thông truyền phát là 1626,5-1660,5 MHz & băng tần thu nạp là 1525 đến 1559 MHz, với khoảng cách kênh cũng là 10 KHz. Thiết bị kết cuối INMARSAT-M khai thác năng lượng chùm điểm của các vệ tinh INMARSAT-3 để cho sinh ra các dịch vụ loại M, song sử dụng các thiết bị kết cuối nhỏ gọn hơn đối với của INMARSAT-M. Các kết cuối là những thiết bị thu gọn & có kích thước nhỏ, khoảng bằng kích cỡ của cái máy tính máy tính, trọng lượng dưới 5Kg. Các phiên bản dành riêng cho hàng hải & các phương tiện giao thông cũng hiện diện rất đa dạng, cũng như các phiên bản cho smartphone vùng nông thôn, chỉ cần một chiếc dĩa 80 cm. Các hệ thống khác do Inmarsat cho ra mắt gồm có INMARSAT-D+, hệ thống được sử dụng để lưu trữ & hiển thị các tin nhắn có số ký tự chữ & số lên đến 128. Các vận dụng nổi bật bao gồm các nhắn tin cá nhân, điều khiển giám sát & yêu cầu dữ liệu (SCADA), cũng như truyền bá điểm-đa điểm. Thông qua vệ tinh Inmarsat, hệ thống INMARSAT-E được sử dụng để phân phối các dịch vụ nhắc nhở & tiêu khiển thư giãn cho ngành nghề hàng hải trên toàn thị trường quốc tế. Hàng không Inmarsat phân phối một loạt các dịch vụ thuộc ngành nghề hàng không có xấp xỉ 2000 phi cơ mà lúc này đang được lắp ráp bởi các kết cuối không gian. Cũng như các vùng di động & hàng hải, các kết cuối hàng không hiện diện trong một loạt các loại hình kết cuối được tung ra phục vụ các nhu cầu của từng thị trường biệt lập. Dựa vào tính tương tự của di động đất liền, hệ thống MIMI-AERO nhằm vào những người tiêu dùng phi cơ loại nhỏ & tạo thành một kênh đơn lẻ cho truyền fax & các cuộc gọi smartphone. Hệ thống AERO-C là thực thể tương tự đưa tính dịch vụ hàng không của kết cuối INMARSAT-C, cùng lúc cho phép các tin nhắn dữ liệu hoặc đoạn khoá văn bản lưu & chuyển tiếp ở vận tốc thấp được gửi hoặc nhận bởi một phi thuyền vệ tinh. Tại bất kỳ đâu trong vùng chùm phủ sóng toàn thị trường quốc tế, truyền thông thoại, fax, & dữ liệu đa kênh đạt tới vận tốc 10.5 Kbit/s đều được AERO-H thỏa mãn. AERO-H hoạt động trên băng tần truyền phát là 1530 đến 1559 MHz, & trên băng tần thu nạp là 1626,5 đến 1660,5 MHz. Hệ thống AERO-H+ là một bước tiến hoá của AERO-H, & hoạt động cốt yếu trong các vùng bao phủ chùm điểm được tạo thành bởi các vệ tinh thuộc hệ INMARSAT-3 & hơn nữa có thể chuyển mạch sang chùm sóng phủ toàn thị trường quốc tế khi nằm ngoài vùng bao phủ chùm điểm. Hệ thống AERO-I cũng khai thác các chùm điểm là các khả năng của các vệ tinh thuộc INMARSAT-3, cùng lúc nhằm vào các thị trường của các phi cơ vệ tinh tải lượng ngắn & bình quân. AERO-I thỏa mãn tới bảy kênh cho một trạm phi cơ dưới đất. Các dịch vụ dữ liệu gói cũng có mặt đa dạng thông qua chùm sóng toàn thị trường quốc tế. Hệ AERO-L cho ra các truyền thông dữ liệu vận tốc thấp với mức 600 Kbit/s & được sử dụng cốt yếu cho các thủ tục điều khiển lưu lượng không gian, điều hành & làm chủ. Mạng truy nhập toàn thị trường quốc tế (GAN) Inmarsat đã phóng lên mạng vệ tinh GAN vào cuối năm 1999. Mục đích của GAN là phân phối các dịch vụ mạng thuộc mobile-ISDN & thuộc giao thức Internet (IP) di động. Các dịch vụ được GAN trợ giúp đó là các dịch vụ HSD 64Kbit/s, các dịch vụ âm thoại 4,8Kbit/s sử dụng các thuật toán mã hoá sinh động đa băng thông tiên tiến, & các dịch vụ kỹ thuật tuần tự băng thông âm thoại có modem. Các kết cuối thường hoạt động ở mức công xuất 2,5 dBW với một mức nhiệt G/T là 7 dBK -1 . Các vận tốc kênh lần lượt là 5,6 & 65,5 Kbit/s với khoảng cách kênh là 5 & 40 KHz. Các kết cuối hoạt động trên các băng tần khi truyền phát là 1626,5-1660,5 MHz, & thu nạp là 1525-1559 MHz. Hình 2: Một chẳng hạn về thiết bị kết cuối mạng GAN Các kết cuối là các thiết bị có dạng máy tính, nặng khoảng 4Kg, & được đấu nối với các vệ tinh thông qua các ăngten có hai hoặc ba tầng. Các nhà cung cấp có khuynh hướng cho ra sự lựa chọn về việc thêm một trạm nền tảng (BS) CDCT vào khối modem hoạt động trên băng thông 1880 đến 1900 MHz. Điều này cho phép các kết cuối hoạt động với một máy smartphone DECT, tạo lợi ích trong vận hành vô tuyến điện. Như trên hình vẽ 2. Dự án Hosizons tháng 12 năm 1999, ban Giám đốc của Inmarsat đã chứng nhận công đoạn kế tiếp của tiến trình lớn mạnh phần không gian với quyết định tiến hành tiếp với một yêu cầu về tính dẻo dai cho các vệ tinh INMARSAT-4 trị giá 1,4 tỷ $ Mỹ. Thế hệ sau của các vệ tinh sẽ bao gồm hai vệ tinh nằm trong vòng quỹ đạo cộng với một trạm đề phòng trên mặt đất. Các vệ tinh sẽ được đặt tại các địa điểm 54 o Tây & 64 o Đông & mỗi vệ tinh sẽ có trọng lượng là 3 tấn, gấp ba lần trọng lượng của các vệ tinh INMARSAT-3. Các vệ tinh sẽ được kiến trúc để trợ giúp các dịch vụ có vận tốc dữ liệu trong khoảng từ 144 đến 432 Kbit/s & sẽ phân phối các dịch vụ phụ trợ cho các dịch vụ thuộc mạng UMTS/IMT-2000 trên mặt đất. Mạng này sẽ được gọi là mạng GAN băng rộng (BGAN). Hai loại dịch vụ chuyển mạch kênh & chuyển mạch gói sẽ được trợ giúp trên mạng. Kết cuối người tiêu dùng có vẻ sẽ chẳng khác gì thiết bị kết cuối dạng máy tính đang được sử dụng cho các dịch vụ mạng GAN. FES hàng không, hàng hải, & vùng xa xôi cũng sẽ được trợ giúp. Lượng tải tin sẽ bao gồm 200 chùm điểm hẹp với một công suất EIRP là 67 dBW, bao trùm đất liền & các tuyến thuộc hàng không & hàng hải chủ đạo; không những thế còn 19 chùm bao phủ toàn thị trường quốc tế thuộc công suất 39dBW. Các vệ tinh sẽ hoạt động trong băng tần 1,5/1,6 GHz & là dịch vụ có mặt vào cuối năm 2004, hai năm sau sự ra mắt của các dịch vụ UMTS mặt đất. – Thiết bị Inmarsat-B: có các dịch vụ thoại(16 kbps), fax(9,6 kbps), data(9,6 kbps) & Telex(50 baund) – Thiết bị Inmarsat-C: có các dịch vụ Telex(50 baund), fax(chiều tàu-bờ) & tin nhắn hộp thư online. – Thiết bị Inmarsat-M: có các dịch vụ thoại(4,8 kbps), fax(6.4 kbps), data(6.4 kbps). – Thiết bị Inmarsat-mM: có các dịch vụ thoại(4,8 kbps), fax(2,4 kbps), data(2,4 kbps). – Thiết bị Inmarsat-Fleet(F77,F55, F33): có các dịch vụ thoại(4,8 kbps), fax(HSD:64 kbps,LSD:9,6 kbps), data(F33:9,6 kbps; F55: 64 kbps; F77: 128 kbps). – Thiết bị Inmarsat-FleetBroadband(FBB): có các dịch vụ thoại, fax, data, SMS. + FBB150: Thoại(4,8 kbps), Data: StandardIP(max 150 Kbps) & SMS. + FBB250: Thoại(4,8 kbps & 3.1 kHz Audio); Data: StandardIP(max 284 kbps), StreamingIP(32,64,128 kbps); Fax(G3 w 3.1kHz Audio) & SMS. + FBB500: Thoại(4,8 kbps & 3.1 kHz Audio); Data: StandardIP(max 432 kbps), StreamingIP(32,64,128, 256 kbps); Fax(G3 w 3.1kHz Audio) & SMS. Thân chào. 1. V-Sat (C-band) trên tàu có tính năng gì? VSAT: là hệ thống thông tin Vệ tinh địa tĩnh băng thông rộng. Có thể dùng cho nhiều vận dụng cho các dịch vụ thương mại như: thoại, fax, truy cập internet, truyền video Có thể dùng cả trên bờ lẫn dưới tàu. 2. V-Sat (C-band) phải ứng dụng bắt buộc trên tàu trong trường hợp nào? theo quy phạm nào? Theo như tôi được biết, hiện tại chưa có qui định bắt buộc phải trang bị VSAT trên tàu. Vì VSAT dùng cốt yếu cho dịch vụ thương mại, không có hệ thống báo động nguy cấp cấp cứu (Như INM-C) hay báo địa điểm (như LRIT). 3. V-Sat (C-band) khác Inmarsat-C, F, B căn bản là gì? Chủ chốt VSAT có băng thông to hơn, nên vận dụng được nhiều dịch vụ hơn. Chẳng hạn INM-C vận tốc rất thấp chỉ dùng truyền Telex hoặc Thư điện tử & gửi tín hiệu cấp cứu, không có dịch vụ thoại hay truy cập internet. 4. Sự khác nhau căn bản giữa Inmarsat-C, F,B, Mini-M. Cái này Bác Satellite- researcher, đã nói rất kỹ 5. Tính năng của MF/HF radio trên tàu là gì? Là hệ thống vô tuyến sử dụng băng tần MF/HF (Trung tần/Cao tần). Đây là hệ thống sử dụng sóng đất connect máy thu với máy phát vô tuyến trên mặt đất (Khác với sóng vệ tinh). Các vận dụng cốt yếu là thoại, NPDP, DSC. Hệ thống MF/HF radio dùng bắt buộc trên các tàu hoạt động trên vùng biển A2 & A3. 6. Tính năng của Navtex trên tàu là gì? Có quan hệ gì với Weather facimile? Navtex (Navigation Telex) là máy thu auto tín hiệu Telex trên tần số 518 hoặc 4209Khz. Các bản tin nhận được bao gồm: Khí tượng thủy văn, cảnh bảo hàng hải, thời tiết. Các bản tin này được phát từ các đài phát (Ở Viet Nam là các Đài thông tin Duyên hải của Công ty du học Vishipel). Weather facimile chỉ thu bản tin thời tiết. Trang bị Máy thu Navtex là qui định bắt buộc trên tàu. 7. LRIT khác với AIS về căn bản là gì? AIS (Automatic Identification System): dùng sóng vô tuyến VHF( Sóng ngắn), sử dụng ở cự ly gần (Trong luồng lạch, cửa biển, ven biển ) có thể tương tác giữa tàu với tàu, thông tin thỏa thuận bao gồm cả: Tên tàu, hô hiệu, địa điểm lúc này, tên tàu, vận tốc, hướng, mớn tàu, loại hàng hóa, điểm đến, thời gian đến đích Như thế ngoài việc xác nhận địa điểm, nó còn tồn tại các thông tin khác để nhận thấy tàu, tránh va Thiết bị trên tàu có cả màn hình hiển thị địa điểm tàu chung quanh (có AIS). LRIT (Long Range Identification and Tracking ò Ship): dùng sóng vệ tinh, sử dụng ở cự ly xa (toàn thị trường quốc tế – trừ 2 vùng cực), không tương tác tàu với tàu (Chỉ từ tàu với trạm bờ qua Vệ tinh), thông tin gửi từ tàu chỉ dễ dàng bao gồm Tên tàu & địa điểm. Như thế thông tin này chỉ xác nhận địa điểm tàu & chặng đường của tàu mà thôi Dịch vụ thông tin an toàn hàng hải SafetyNet qua hệ thống Inmarsat 08/10/2010 Hiện tại khi yêu cầu đảm nhiệm các Thông tin An toàn Hàng hải ngày càng trở nên trọng yếu so với mọi tàu thuyền hoạt động trên biển thì việc tìm tòi các dịch vụ phát Thông tin An toàn Hàng hải là vô cùng thiết yếu. Các dịch vụ này giúp cho mọi tàu thuyền có thể đảm nhiệm được các thông tin thiết yếu khi hoạt động trên biển. Chúng tôi xin giới thiệu Dịch vụ thông tin An toàn Hàng hải SafetyNet được phát đi từ Đài Thông tin Vệ tinh mặt đất Inmarsat Hải phòng. An toàn Hàng hải (MSI) là gì? Theo khái niệm của Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO) thì Thông tin An toàn Hàng hải bao gồm: – Thông báo Khí tượng & Dự đoán thời tiết biển; – Thông báo Hành hải; – Thông tin Tìm kiếm Cứu nạn; – Các thông tin liên quan đến an toàn ở mức độ nguy cấp khác. Thông tin này giúp các tàu thuyền hoạt động trên biển phòng, tránh & chủ động giải quyết các tình huống nguy hiểm để giảm bớt tối đa nguy cơ về tính mạng & tài sản trong tiến trình hoạt động trên biển. Dịch vụ SafetyNet là gì? Là dịch vụ thông tin in chữ trực tiếp auto trên phạm vi Quốc tế, được dùng để phát truyền bá các Thông tin An toàn Hàng hải tới các tàu nhằm bảo đảm an toàn cho người & các phương tiện hoạt động trên các vùng biển.Dịch vụ này đã biến đổi thành dịch vụ an toàn của hệ thống gọi nhóm tăng cường thuộc Tổ chức Vệ tinh Di động Quốc tế, nó giải quyết được các yêu cầu của công ước SOLAS 74 cũng như các phiên bản sửa đổi. Dịch vụ SafetyNet phân phối cách thức nhận Thông tin An toàn Hàng hải như vậy nào? Dịch vụ này phân phối cách thức nhận Thông tin An toàn Hàng hải dễ dàng, auto, tin cậy cho các tàu hành hải trên biển & các vùng ven biển. Thông tin được phát liên quan đến toàn bộ các tàu đang chặng đường trên biển & với đặc tính có thể đặt tuỳ chọn thu bức điện (theo vùng, theo tính chất bức điện ) bảo đảm rằng người đi biển có thể nhận các thông tin an toàn thích hợp với nhu cầu của người đi biển. Nguồn thông tin An toàn Hàng hải được phân phối bởi các nhà cung cấp có nhiệm vụ như Trọng điểm Khí tượng Thuỷ văn Đất nước, Trọng điểm Kết hợp Tìm kiếm Cứu nạn Hàng hải Viet Nam Tàu thuyền cần làm gì để nhận được các bức điện An toàn Hàng hải phát đi từ dịch vụ SafetyNet? Các phương tiện hoạt động trên biển trang bị máy thu EGC để nhận được các bản tin một cách từ động. Thiết bị này giúp cho các tàu có thể auto thu các Thông tin An toàn Hàng hải & lưu trữ lại các thông tin này & không in lại các thông tin đã có trong phần lưu trữ. Máy thu EGC có thể lưu trữ khoảng 250 tin & có thể xoá đi các tin cũ khi bộ nhờ lưu trữ đầy. Dịch vụ SafetyNet là một trong những dịch vụ Phát Thông tin An toàn Hàng hải đáng tin cậy. Hiện tại chủ yếu các tàu biển nước ngoài đã sử dụng dịch vụ này vì những thông tin An toàn Hàng hải mà tàu thu được thích hợp với từng chuyến hành hải. Với sự lớn mạnh của nền kinh tế & các chế độ ưu đãi của nhà nước, càng ngày càng có nhiều các tàu thuyền đánh bắt thuỷ hải sản hoạt động trên biển. Chính vì thế các thông tin An toàn Hàng hải càng được coi trọng. Nếu có khả năng thì mỗi tàu thuyền này nên trang bị một thiết bị thu EGC, đặc biệt là những tàu thuyền hoạt động tại vùng biển A3 & những vùng không có nghiệp vụ phát Navetx để có thể nhận được các thông tin An toàn Hàng hải thích hợp & góp thêm phần bảo đảm an toàn cho mỗi chuyến hành hải trên biển. Để biết thêm thông tin về việc sử dụng dịch vụ Thông tin An toàn Hàng hải SafetyNET cũng như tham khảo thêm thông tin về Đài Thông tin Vệ tinh Mặt đất Inmarsat Hải Phòng (HPLES) do VISHIPEL làm chủ & khai thác, các chủ phương tiện hãy truy cập vào website http://www.vishipel.com.vn hoặc liên hệ trực tiếp với Công ty du học Thông tin Điện tử Hàng hải Viet Nam để được suport Hệ thống thông tin trên tàu & an toàn hàng hải Vận chuyển biển & khai thác nguồn lợi thủy sản trên biển đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong việc lớn mạnh kinh tế của quốc gia. Không những thế, mỗi một chuyến ra biển, tàu & loài người trên tàu lại phải chuẩn bị đương đầu với những nỗi độc thân & bao bất trắc không lường trước được. Những bất trắc này có cả do thiên nhiên như bão tố, cũng có thể do loài người như cướp biển, hay chính do người vận hành tàu khi chủ quan, hoặc khi quá mệt có thể vận hành sai dẫn theo những tai nạn đáng thương. Khi chặng đường trên biển, con thuyền như bị cô lập & cách li hoàn toàn với đất liền. Khi gặp bất trắc chỉ một mình nó đương đầu giữa biển nước mênh mang. Để làm vơi đi nỗi độc thân khi chặng đường trên biển & trợ giúp connect thông tin giữa tàu với đất liền, nhiều trang thiết bị thông tin đã được lắp đặt trên tàu như máy thu phát VHF/MF/HF, máy thu Navtex, Inmarsat, EPIRB, AIS, hay LRIT. Từ xa xưa, khi cần báo tin trợ giúp người ta phải sử dụng pháo sáng hoặc cờ hiệu. Công thức này quá thô sơ, là thông tin 1 chiều, không có giọng nói, chỉ bắt được thông tin bằng thị giác, chỉ sử dụng được ở cự ly gần & cần có người chứng kiến. Qua những tai nạn xảy ra chẳng hạn như vụ tai nạn Titanic gây thiệt hại rất lớn cho người & tài sản, cho thấy các cách thức cũ này có quá nhiều điểm yếu, không trợ giúp được công tác bảo đảm an toàn hàng hải cũng như tìm kiếm cứu nạn. & thực tiễn đòi hỏi cần có những cách thức thông tin mới, phong phú về cách thức, bài viết, lập tức thuận lợi ứng dụng trên tàu. Từ khi kỹ thuật Vô tuyến điện sinh ra, điều này dần dần đã được thỏa mãn. Các công nghệ thông tin mới dần dần được ứng dụng đã biến đổi toàn thể cách thức thông tin của loài người nói chung & của nghề hàng hải nói riêng. Kể từ đó việc thông tin liên lạc cho nghề hàng hải đã biến đổi không ngừng từ việc sử dụng điện báo Morse, smartphone vô tuyến sử dụng sóng đất, truyền dữ liệu băng hẹp đến các công nghệ thông tin liên lạc hiện đại ngày nay như Vệ tinh. Công nghệ thông tin biến đổi dẫn theo các cách thức thông tin liên lạc cũng biến đổi. Nếu như trước đó việc thông tin cốt yếu là thỏa thuận các bản tin dạng chữ, dung tích nhỏ, cách thức chuyển tiếp & mất rất nhiều thời gian để truyền phát & thu nạp thì hiện tại thông tin rất phong phú kể cả về cách thức, bài viết & vận tốc truyền tin. Ngoài việc thực hiện các cuộc gọi thoại trực tiếp, tin nhắn tới tất các thuê bao khác nhau thì hiện tại tất cả chúng ta có thể thực hiện việc truy cập internet, gửi email, truyền hình từ xa, hội nghị truyền hình trên các kênh thông tin băng thông rộng. & thông tin thì hầu hết được truyền & giải quyết ngay mau lẹ. Những biến đổi này đã hỗ trợ ích rất nhiều trong việc chuyên sâu đời sống tinh thần của người thủy thủ, bảo đảm An toàn an ninh trên biển, & công tác tìm kiếm cứu nạn. Trước đó để tiêu khiển, thuyền viên chỉ được xem những tờ báo, những băng đĩa được mua đưa lên tàu trước khi tàu chặng đường hoặc mua tại các cảng mà tàu ghé qua. Việc liên lạc với gia đình hầu hết rất ít, chỉ một đôi lần cho mỗi chuyến hành trình. Như thế có thể thấy cách thức tiêu khiển trước kia khá nghŠo nạn về bài viết & cổ lỗ sĩ về mặt thông tin. Hiện tại với những công nghệ thông tin mới như nêu ở trên, thuyền viên trên tàu có thể thư giãn bằng cách nghe đài, xem ti vi, xem phim trực tuyến, truy cập internet. Thêm vào nữa qua các phương tiện thông tin thuyền viên cũng có thể khám phá update các thông tin thiết yếu về chuyên môn nghiệp vụ, pháp luật & những tri thức có ích khác. Việc liên lạc với người thân cũng đơn giản hơn, có thể bằng thoại, tin nhắn hoặc gửi thư điện. Điều này giúp cho thuyền viên xua tan những stress sau khoảng thời gian làm việc, cắt giảm những nỗi độc thân khi xa nhà hay giúp cho họ điều vận hành con tàu an toàn hơn. Về công tác An toàn an ninh hàng hải, qua việc thu các bản tin an toàn (MSI), dự đoán thời tiết, nhắc nhở hàng hải bằng Navtex, Inmarsat C hay trên các kênh thoại, thuyền viên trên tàu sẽ được update đầy đủ các thông tin về dự đoán thời tiết, an toàn, an ninh hàng hải tại những khu vực mà tàu đang & sẽ đi tới. Thêm vào nữa với các công nghệ mới sinh ra như Hệ thống nhận dạng auto (AIS), Hệ thống giám sát tàu (VTS) hay Hệ thống nhận dạng & truy theo tàu tầm xa (LRIT), thuyền viên trên tàu & nhà chức trách trên bờ có thể nắm được lưu lượng tàu, hướng đi & vận tốc của tàu tại các khu vực khẳng định điều đó giúp cho việc phòng tránh đâm va, điều động tàu giảm bớt các nguy cơ về tai nạn, tăng cường an toàn an ninh cho tàu. Một trong những vận dụng trọng yếu của hệ thống thông tin cho tàu này là trợ giúp việc thông tin nguy cấp cấp cứu & tìm kiếm cứu nạn. Hiện tại để truyền đi tín hiệu nguy cấp cấp cứu, thuyền viên có thể sử dụng các kênh tần thoại dành sẵn cho cấp cứu như 2182Khz, 7603Kz, 8291Kz. Hoặc họ chỉ cần sử dụng một thao tác là nhấp vào nút phát tín hiệu nguy cấp ‘Distress” trên các thiết bị thông tin như Inmarsat C, B thì ngay mau lẹ tín hiệu cấp cứu được phát đi. Thậm chí không cần sử dụng thao tác gì nếu tàu có thiết bị EPIRB, nó sẽ auto phát tín hiệu cấp cứu khi tàu chìm. Tùy thuộc từng hệ thống, thì các tính hiệu cấp cứu có thể bao gồm các thông tin về tàu như tên, địa điểm, tính chất bị nạn. & tín hiệu cấp cứu sau khoảng thời gian được phát đi hầu hết ngay mau lẹ được truyền tới & giải quyết bởi các Trọng điểm Tìm kiếm cứu nạn khu vực. Dựa trên các thông tin thu được cùng với các hệ thống trợ giúp khác như bản đồ, DataBase, thông tin liên lạc sẵn có mà nhà chức trách có thể biết thêm thông tin về tàu để điều các phương tiện trợ giúp kịp thời đúng đắn. Như thế có thể thấy, hệ thống thông tin đóng một vai trò hết sức trọng yếu trong việc bảo đảm an toàn an ninh cho mỗi con tàu khi ra khơi. Do đó thuyền viên trên tàu, chủ tàu cần phải hết sức lưu tâm trong việc trang bị cho tàu các trang thiết bị thông tin thiết yếu cũng như tăng cường công tác bảo dưỡng bảo trì bảo đảm tính sẵn sàng hoạt động của các trang thiết bị đó trước mỗi cuộc thám hiểm. Hệ thống VTS Hệ thống Giám sát Tàu thuyền Nội thủy (Vessel Lượt truy cập Service – VTS) là hệ thống thông tin phức hợp để trợ giúp việc theo dõi & điều khiển tàu thuyền ra vào một vùng nước một cách đúng đắn & an toàn nhất, nhất là tại các cảng biển. Các lợi nhuận chính của hệ thống VTS • Tăng cường an toàn cho tàu thuyền ra vào cảng • Điều khiển giao thông nội thủy • Đóng góp thêm phần bảo vệ môi trường • Bảo vệ các công trình nổi tránh đâm va • Ngăn chặn tàu thuyền xâm nhập bất hợp pháp Các ngành nghề vận dụng chính Các tính năng nổi trội Với thành phần chính là các trạm radar, AIS, vô tuyến, CCTV, các cảm ứng, các trạm làm việc từ xa, các máy chủ v.v hệ thống phân phối những tính năng cần thiết nhất phục vụ công tác điều khiển, giám sát • Giám sát tàu thuyền ra vào o Theo dõi địa điểm mục tiêu, vận tốc, vết đường đi. Theo dõi đồng thời hàng trăm mục tiêu khác nhau o Hiển thị toàn thể các thông tin nhận dạng auto của mục tiêu trên các màn hình làm việc như tên tàu, hô hiệu, MMSI, cảng đích, tổng tải trọng, loại tàu, bề dài, mớn nước v.v o Hình ảnh video qua CCTV thời gian thực của mục tiêu. Tính năng auto theo dõi mục tiêu di động o Toàn bộ các màn hình radar, AIS & hải đồ có thể xếp chồng lên nhau (overlay) hoặc tách rời cho phép lựa chọn hiển thị & thao tác thông tin ở dạng trực quan nhất o Hệ thống radar 2 dải tần X & S cho phép làm việc ở cả các điều kiện thời tiết xấu o Liên lạc vô tuyến với các mục tiêu qua VHF/DSC • Tính năng nhắc nhở o Hệ thống sẽ auto kích hoạt nhắc nhở bằng tiếng động & hình ảnh trong các tình huống: nhắc nhở đâm va sớm, cánh báo mục tiêu chạy sai vận tốc quy định, mục tiêu vào luồng hoặc khu vực cấm đã được seting trước […]… biển quốc tế Hệ thống gồm 29 đài TTDH được sắp xếp xuôi theo bãi biển Viet Nam, 01 đài tín hiệu cấp cứu qua vệ tinh COSPAS-SARSAT (LUT/MCC) & 1 Trọng điểm giải quyết thông tin tại Hà Nội Hệ thống TTDH Việt nam đang thỏa mãn toàn bộ các cách thức thông tin liên lạc trên biển hiện có như: thoại, fax, telex, Data trên các sóng vô tuyến điện, sóng vệ tinh Thực hiện… chức vệ tinh di động quốc tế, trước đó là Tổ chức vệ tinh hàng hải quốc tế, được thành lập bởi IMO vào năm 1976 để vận hành vệ tinh & đã biến đổi thành công ty tư vấn du học tư nhân trong lúc vẫn duy trì nghĩa vụ ngành nghề công so với hệ thống an toàn & cứu nạn hàng hải Ba loại thiết bị đầu cuối trạm mặt đất Inmarsat sử dụng trên tàu biển được thừa nhận bởi hệ thống GMDSS: Inmarsat. .. – Chuyển tiếp thông tin cấp cứu đến Trọng điểm Kết hợp tìm kiếm cứu nạn hàng hải viet nam, Ủy ban đất nước Tìm kiếm cứu nạn & các đơn vị liên quan để có giải pháp cứu nạn kịp thời & hiệu quả nhất Vishipel làm chủ & khai thác Đài thu & giải quyết tín hiệu cấp cứu qua Thông tin Duyên hải sử dụng sóng vệ tinh, hoạt động trong thông tin liên lạc hiện đại ngày nay như Vệ tinh Công nghệ thông tin biến đổi dẫn theo các cách thức thông tin liên lạc cũng biến đổi Nếu như trước đó việc thông tin cốt yếu là thỏa thuận các bản tin dạng chữ, dung tích nhỏ, cách thức chuyển tiếp & mất rất nhiều thời gian để truyền phát & thu nạp thì hiện tại thông tin rất phong phú kể cả về cách thức, bài viết & vận tốc truyền tin Ngoài… tuân thủ & vượt quá mọi khuyến nghị của IALA & IMO về hệ thống VTS • Để biết thêm về hệ thống VTS do Jason phân phối, vui lòng tải bản giới thiệu cụ thể tại (Mục VTS) GMDSS (Global Maritime Distress and Safety System)- Hệ thống thông tin an toàn & cứu nạn hàng hải toàn thị trường quốc tế là một hệ thống quốc tế dùng công nghệ liên lạc mặt đất, vệ tinh & các hệ thống vô tuyến trên tàu nhằm bảo đảm gửi báo động cấp… cấp cứu bằng tay Khi được kích hoạt thông qua một trong hai cách trên, các thiết bị trên phát tín hiệu cấp cứu lên vệ tinh Các tín hiệu đó được chuyển tiếp tới Đài thu & giải quyết tín hiệu vệ tinh LUTMCC của Việt nam , ở đó thông tin thu nạp sẽ được giải quyết để xác nhận địa điểm bị nạn cùng các thông tin liên quan đến người & phương tiện bị nạn Các thông tin này sẽ được hệ thống Đài TTDH viet nam ngay mau lẹ chuyển… COSPAS-SARSAT là hệ thống tìm kiếm & cứu nạn Quốc tế dựa theo liên lạc vệ tinh, được thành lập bởi Canada, Pháp, Mỹ & Nga Bốn Đất nước đã cùng với nhau lớn mạnh phao vô tuyến chỉ báo địa điểm nguy cấp qua vệ tinh (EPIRB) 406Mhz, là một phần của hệ thống GMDSS được kiến trúc để hoạt động với hệ thống COSPAS-SARSAT Những EPRIB auto kích hoạt này được kiến trúc để phát tới trọng điểm điều phối cứu nạn một thông tin nhận… & suport ======================= Thu nạp, giải quyết báo động cấp cứu từ các thiết bị Inmarsat Hệ thống Đài TTDH viet nam thu nạp & giải quyết báo động cấp cứu phát đi từ các thiết bị Inmarsat B, Inmarsat- C Hệ thống Inmarsat kiến trúc một kênh thông tin an toàn hàng hải – Phát & nhận những thông tin vô tuyến từ & đến các hệ thống trạm bờ & – Phát & nhận thông tin liên lạc giữa buồng lái với nhau Những yêu cầu về thiết bị so với các tàu là khác nhau tùy vào vùng biển mà tàu hoạt động Hệ thống GMDSS phối hợp một số hệ thống phụ (với những hạn chế khác nhau về mặt phủ sóng) thành 1 hệ thống tổng quát, & vùng… hiệu cấp cứu lên vệ tinh • Phát tín hiệu cấp cứu nhân lực: trong các trường hợp cấp cứu, nguy cấp, người bị nạn có thể chủ động kích hoạt thiết bị phát tín hiệu cấp cứu bằng tay Khi các thiết bị trên phát tín hiệu cấp cứu & được các vệ tinh trong hệ thống COSPAS-SARSAT thu nạp & giải quyết tín hiệu Các tín hiệu đó được chuyển tiếp tới Đài thu & giải quyết tín hiệu vệ tinh LUT, ở đó thông tin thu nạp sẽ . hành thuộc Inmarsat- 3 & sáu vệ tinh đề phòng, toàn bộ bao gồm ba vệ tinh Inmarsat- 3 & ba vệ tinh Inmarsat- 2. Ba vệ tinh Inmarsat nữa đang được đặt ra để mời thuê dung tích. Cấu hình vệ tinh được. tải tin truyền thông, các vệ tinh Inmarsat- 3 cũng đưa một tải lượng thông tin hàng hải để chuyên sâu các hệ thống hàng hải qua vệ tinh thuộc GPS & GLONASS. Hiện thời, Inmarsat tuyển nhân viên bốn vệ tinh. qua Hệ thống vệ tinh Cospas – Sarsat VNLUT/MCC. Đây là Đài Thông tin Duyên hải sử dụng sóng vệ tinh, hoạt động trong Hệ thống vệ tinh Cospas – Sarsat, có chức năng đảm nhiệm, giải quyết các thông tin

Xem Thêm  Dải Ngân Hà

được sáng lập vào năm 1979 để phục vụ cho những người đi biển, với mục đích theo dõi làm chủ tầu thuyền & phân phối các vận dụng ứng cứu & giải trí ngoài khơi quatinh. Các dịch vụ mangthương mại khởi đầu vào năm 1982, & kể từ đó, một loạt các dịch vụ cung cấp củađã bành trướng nhằm thâu tóm các khu vực thị trường trên đất liền & hàng không. Đến những năm đầu của thập kỷ 90,có 64 nước member. Vào thời điểm tháng 4 năm 1999,trở thành một công ty tư vấn du học nhiệm vụ hữu hạn có trụ sở chính đặt tại Luân Đôn. 1.được sáng lập vào năm 1979 để phục vụ cho những người đi biển, với mục đích theo dõi làm chủ tầu thuyền & phân phối các vận dụng ứng cứu & giải trí ngoài khơi quatinh. Các dịch vụ mangthương mại khởi đầu vào năm 1982, & kể từ đó, một loạt các dịch vụ cung cấp củađã bành trướng nhằm thâu tóm các khu vực thị trường trên đất liền & hàng không. Đến những năm đầu của thập kỷ 90,có 64 nước member. Vào thời điểm tháng 4 năm 1999,trở thành một công ty tư vấn du học nhiệm vụ hữu hạn có trụ sở chính đặt tại Luân Đôn.bao gồm ba thành phần căn bản sau: – Phần không gian Inmarsat, là phần bao gồm cácđịađược sắp xếp trên vùng Đại Tây Dương (Đông (AOR-E ) & Tây (AOR-W)), Thái Bình Dương (POR) & Ấn Độ Dương (IOR). – Các trạm đất liền mặt đất (LES), là các trạm được các nhà điều hành viễnsở hữu & tạo thành các connect tới hạ tầng nền tảng mạng mặt đất. Gần đây, có khoảng 40 trạm đất liền mặt đất sắp xếp xuyên suốt toàn cầu với ít đặc biệt là một trạm trong mỗi vùng baotinh. – Các trạm mặt đất di động, là các trạm đem đến cho người tiêu dùng khả năng giao tiếp quatinh.khởi đầu cung cấp dịch vụ bằng việc thuê dung tích củagồm ba phi thuyền không gian MARI-SAT được Tổng công ty tư vấn du học Comsat General phân phối định vị lần lượt tại 72,5 o Đông, 176,5 o Đông, & 106,5 o Tây. Giữa những năm 1990 & 1992,phóng bốn trong số cácInmarsat-2 của bản thân. Chúng có một sức chứa bằng khoảng 250 mạch Inmarsat-A, gấp khoảng 3 đến 4 lần dung tích của cácđã phóng trước kia. Cáccó một lượng tảibao gồm hai bộ tách sóng trợ giúp khoảng trống tới các link di động trong các băng tần L/S (1,6 GHz cho link uplink, 1,5 GHz cho link downlink) & các link Không gian – Địa cầu trong các dải băng tần C/S (6,4 GHz cho link uplink, 3,6 GHz cho link downlink). Cáccó một khối lượng khi phóng là 1300 Kg, & sẽ giảm xuống còn 700 Kg khi nằm trên quỹ đạo. Cácphát các chùm sóng phủ toàn thị trường quốc tế với một công suất bức xạ đẳng hướng hiệu dụng là 39 dBW ở băngL. Công đoạn kế tiếp trong tiến trình lớn mạnh của phần không gian là công đoạn cùng với việc phóng cácInmarsat-3. Điều đáng cảnh báo là cácnày tuyển nhân viên công nghệ chùm điểm để tăng EIRP & các khả năng sử dụng lặp tần. MỗiInmarsat-3 có một chùm phủ sóng toàn thị trường quốc tế cộng với 5 chùm điểm. Cáccho ra một EIRP chùm điểm lên tới 48 dBW, gấp 8 lần công suất của các chùm phủ sóng toàn thị trường quốc tế thuộc Inmarsat-2. Băngvà công suất có thể được cung cấp một cách năng động giữa các chùm tia nhằm tối ưu hoá độ bao phủ theo nhu cầu. Điều này tạo thành một biểu hiện đầy ý nghĩa cho các loại hình dịch vụ màgiờ đây có thể cho ra mắt & cũng như cho các thiết bị mà có thể sử dụng để truy nhập mạng. Bên cạnh lượng tảitruyền thông, cácInmarsat-3 cũng đưa một tải lượnghàng hải để chuyên sâu cáchàng hải quathuộc GPS & GLONASS. Hiện thời,tuyển nhân viên bốnđiều hành thuộc Inmarsat-3 & sáudự phòng, toàn bộ bao gồm baInmarsat-3 & baInmarsat-2. Banữa đang được đặt ra để mời thuê dung tích. Cấu hìnhđược liệt kê trong bảng 1. Bảng 1: Cấu hìnhVù ng Thuộc vận hành Đề phòng AO R-W INMARSAT-3 F4 (54 o W) INMARSAT-2 F2 (98 o W) INMARSAT-3 F2 (15.5 o W) AO R-E INMARSAT-3 F2 (15.5 o W) INMARSAT-3 F5 (25 o E) INMARSAT-3 F4 (54 o W) IO R INMARSAT-3 F1 (64 o E) INMARSAT-2 F3 (65 o E) PO R INMARSAT-3 F3 (178 o E) INMARSAT-2 F1 (179 o E) Độ bao phủ trên toàn cầu do tổ chứccung cấp được miêu tả trong hình 1. 2. Các dịch vụ củaHàng hải & điện thoại cảm ứng thông minh đất liềncung cấp một dải mênh mông các dịch vụ qua một trong nhữngcủa Inmarsat. Vào năm 1982, Inmarsat-A là mộtđầu tiên được góp mặt vào loại hình dịch vụ dưới tên thương hiệu có tên STANDARD-A. Các thiết bị đầu cuối có kích thước khoảng một hoặc hai chiếc valy, tuỳ thuộc vào nhà cung cấp, & nặng khoảng 20 Kg đến 50 Kg. Thiết bị đầu cuối này hoạt động với một chiếc ăngten parabol có đường kính khoảng 1m với một công suất EIRP là -36dBW & một mức nhiệt G/T là -4 dBK -1 .sẵn có củavà LES,thường, người tiêu dùng có thể lựa chọn tuyến để seting cuộc gọi. Các dịch vụ thoại Inmarsat-A chiếm băngtừ 300 đến 3000 Hz qua việc sử dụng một kênh đơn lẻ (SCPC/FM). Người ta sử dụng các kỹ thuậthoạt hoá âm thoại vàchỉ định nhu cầu để tăng năng suất của nguồntinh. Pha chế BPSK được sử dụng cho việc truyền dữ liệu với vận tốc lên tới 19,2 Kbit/s, & cho các dịch vụ truyền fax với vận tốc 14,4 Kbit/s. Vận tốc truyền dữ liệu cũng có thể lên đến 64 Kbit/s sử dụng pha chế khoá dịch pha lệch 90 o (QPSK). Một thiết bị kết cuối đòi hỏi cần có một kênh để seting cuộc gọi bằng việc phát mộthiệu pha chế 4,8 Kbit/s theo BPSK sử dụng thủ tục ALOHA. Inmarsat-A hoạt động trong băng tần truyền phát từ 1636 đến 51645 MHz & trong dải băng tần thu nạp từ 1535 đến 1543,5 MHz. Các kênh thoại hoạt động với một khoảng cách tần số là 50 KHz, trong lúc các kênh dữ liệu lại được biệt lập một khoảng 25 KHz. Hình 1: Độ bao phủ của dịch vụInmarsat-B được hiện diện trong loại hình dịch vụ vào năm 1993, thực chất để phân phối một phiên bản kỹ thuật số cho dịch vụ thoại thuộc Inmarsat-A.này phối hợp hoạt hoá âm thoại với điều khiển nguồn điện áp tích cực để giảm bớt các yêu cầuEIRP quatinh. Các thiết bị đầu cuối hoạt động với công suất 33,29 hoặc 25 dBW với một mức nhiệt G/T là -4 dBK -1 . Thoại được tạo thành với vận tốc bít 16 Kbit/s bằng việc sử dụng cách thức mã hoá tiên đoán tương thích (APC), mã mà sau đó được mã hoá bằng mã chập 3/4 mức vận tốc, làm tăng vận tốc kênh lên tới 24 Kbit/s.hiệu được pha chế qua offset-QPSK. Dữ liệu được truyền đi với vận tốc từ 2,4 đến 9,6 Kbit/s, trong lúc fax lên tới 9,6 Kbit/s qua pha chế offset-QPSK. Các dịch vụ dữ liệu vận tốc cao (HSD) thuộc Inmarsat-B cho ra các truyềnsố vận tốc 64 Kbit/s tới những người tiêu dùng trên biển & đất liền, & cho ra khả năng connect tới các mạng ISDN qua một LES đấu nối thích hợp. Một thiết bị kết cuối đòi hỏi cần có một kênh để seting 1 cuộc gọi bằng việc phát đi mộthiệu pha chế qua offset-QPSK có vận tốc 34 Kbit/s bằng thủ tục ALOHA. Các kênh được ấn định việc sử dụng một kênh BPSK TDM. Inmarsat-B hoạt động trên băng tần truyền phát là 1626,5 đến 1646,5 MHz & băng tần thu nạp là 1525 đến 1545 MHz. Các thiết bị kết cuối INMARSAT-C phân phối các dịch vụ có vận tốc dữ liệu thấp với tốc độlà 600 bit/s. Loại mã chập bán mức vận tốc, với độ dài ràng buộc là 7, tạo thành vận tốc truyền là 1200 bit/s. Cáchiệu được truyền đi bằng cách thức pha chế BPSK, trong một dải bănglà 2,5 KHz. Các kết cuối là các thiết bị có kích cỡ & trọng lượng nhỏ. Phần đông các thiết bị này hoạt động với một ăngten vô hướng. Các thiết bị đầu cuối hoạt động với một mức nhiệt G/T là -23dBK -1 & một công suất EIRP di dời từ 11 đến 16 dBW. Kênh yêu cầu hồi tiếp sử dụng cáchiệu được pha chế theo ALOHA BPSK với vận tốc 600 bit/s. Các kênh được gán cho việc sử dụng mộthiệu pha chế theo TDM BPSK.này phân phối các dịch vụ dữ liệu vànhắn & truyền kế tiếp hai đường, & các dịch vụ giải trình dữ liệu, giải trình định vị & truyền bá cuộc gọi nhóm chuyên sâu (EGC). EGC cho phép hai loại hình truyền bá được truyền phát: này là SafetyNET, thực hiện việc truyền phátbảo an hàng hải; nhóm FleetNet, cho phép cácthương mại được gửi đi tới một nhóm người tiêu dùng rõ ràng và cụ thể. Các thiết bị kết cuối có thể gắn vào các phương tiện giaohoặc các tàu thuyền trên biển, cùng lúc các thiết bị kết cuối hình dạng như chiếc cặp ebook cũng hiện diện đa dạng. INMARSAT-C, bằng cách tăng mỗi dải tần lên 5 KHz, hoạt động trong băng tần truyền phát từ 1626,5 MHz đến 1645,5 MHz & băng tần thu nạp từ 1530 MHz đến 1545 MHz. Khởi nguồn từ nhu cầu đòi hỏimột chiếc điện thoại cảm ứng thông minh cá nhân cầm tay connect quađầu tiên, trong thời điểm tháng 12 năm 1992, người ta đã tung ra thị trường dịch vụ thương mại,INMARSAT-M.này phân phối loại hình smartphone với vận tốc 4,8 kbit/s bằng việc sử dụng loại mã kích thích đa băng tần tôn tạo (IMBE), loại mã mà sau khoảng thời gian được mã hoá bằng mã chập 3/4 tỉ mức vận tốc, sẽ tăng một vận tốc truyền là 8 Kbit/s. không dừng lại ở đó, các dịch vụ dữ liệu & chuyển fax vận tốc 2,4 Kbit/s (1,2-2,4 Kbit/s) cũng được xuất chúng. INMARSAT-M hoạt động trong ngành nghề hàng hải & loại hình di động trên đất liền. Các thiết bị kết cuối phục vụ nghề hàng hải hoạt động trên công suất EIRP thuộc một trong hoặc toàn bộ hai giá trị 27 dBW hoặc 21 dBW & với một mức nhiệt G/T là -12 dBK -1 . Kênh yêu cầu hồi tiếp sử dụng cáchiệu pha chế theo slotted-ALOHA BPSK với vận tốc 3 Kbit/s. Các kênh được gán cho việc sử dụng mộthiệu pha chế theo TDM BPSK.hàng hải INMARSAT-M hoạt động trong các băng tần truyền phát từ 1626,5 MHz đến 1646,5 MHz & các băng tần thu nạp từ 1525 MHz đến 1545 MHz, với khoảng cách kênh là 10 KHz. Phiên bản di động trên đất liền hoạt động trên băngtruyền phát là 1626,5-1660,5 MHz & băng tần thu nạp là 1525 đến 1559 MHz, với khoảng cách kênh cũng là 10 KHz. Thiết bị kết cuối INMARSAT-M khai thác năng lượng chùm điểm của cácINMARSAT-3 để cho sinh ra các dịch vụ loại M, song sử dụng các thiết bị kết cuối nhỏ gọn hơn đối với của INMARSAT-M. Các kết cuối là những thiết bị thu gọn & có kích thước nhỏ, khoảng bằng kích cỡ của chiếc máylaptop, trọng lượng dưới 5Kg. Các phiên bản dành riêng cho hàng hải & các phương tiện giaocũng hiện diện rất đa dạng, cũng như các phiên bản cho smartphone vùng nông thôn, chỉ cần một chiếc dĩa 80 cm. Cáckhác docho ra mắt gồm có INMARSAT-D+,được sử dụng để lưu trữ & hiển thị cácnhắn có số ký tự chữ & số lên đến 128. Các vận dụng nổi bật bao gồm các nhắncá nhân, điều khiển giám sát & yêu cầu dữ liệu (SCADA), cũng như truyền bá điểm-đa điểm.quaInmarsat,INMARSAT-E được sử dụng để phân phối các dịch vụ nhắc nhở & tiêu khiển thư giãn cho ngành nghề hàng hải trên toàn thị trường quốc tế. Hàng khôngcung cấp một loạt các dịch vụ thuộc ngành nghề hàng không có xấp xỉ 2000 phi cơ mà lúc này đang được lắp ráp bởi các kết cuối không gian. Cũng như các vùng di động & hàng hải, các kết cuối hàng không hiện diện trong một loạt các loại hình kết cuối được tung ra phục vụ các nhu cầu của từng thị trường biệt lập. Dựa theotương đương của di động đất liền,MIMI-AERO nhằm vào những người tiêu dùng phi cơ loại nhỏ & tạo thành một kênh đơn lẻ cho truyền fax & các cuộc gọi smartphone.AERO-C là thực thể tương tự mangdịch vụ hàng không của kết cuối INMARSAT-C, cùng lúc cho phép cácnhắn dữ liệu hoặc đoạn khoá văn bản lưu & chuyển tiếp ở vận tốc thấp được gửi hoặc nhận bởi một phi thuyềntinh. Tại bất kỳ đâu trong vùng chùm phủ sóng toàn thị trường quốc tế, truyềnthoại, fax, & dữ liệu đa kênh đạt tới vận tốc 10.5 Kbit/s đều được AERO-H thỏa mãn. AERO-H hoạt động trên băng tần truyền phát là 1530 đến 1559 MHz, & trên băng tần thu nạp là 1626,5 đến 1660,5 MHz.AERO-H+ là một bước tiến hoá của AERO-H, & hoạt động cốt yếu trong các vùng bao phủ chùm điểm được tạo thành bởi cácthuộcINMARSAT-3 & hơn nữa có thể chuyển mạch sang chùm sóng phủ toàn thị trường quốc tế khi nằm ngoài vùng bao phủ chùm điểm.AERO-I cũng khai thác các chùm điểm là các khả năng của cácthuộc INMARSAT-3, cùng lúc nhằm vào các thị trường của các phi cơtải lượng ngắn & bình quân. AERO-I thỏa mãn tới bảy kênh cho một trạm phi cơ dưới đất. Các dịch vụ dữ liệu gói cũng có mặt phong phúqua chùm sóng toàn thị trường quốc tế.AERO-L cho ra các truyềndữ liệu vận tốc thấp với mức 600 Kbit/s & được sử dụng cốt yếu cho các thủ tục điều khiển lưu lượng không gian, điều hành & làm chủ. Mạng truy nhập toàn thị trường quốc tế (GAN)đã phóng lên mạngGAN vào cuối năm 1999. Mục đích của GAN là phân phối các dịch vụ mạng thuộc mobile-ISDN & thuộc giao thức Internet (IP) di động. Các dịch vụ được GAN trợ giúp đó là các dịch vụ HSD 64Kbit/s, các dịch vụ âm thoại 4,8Kbit/s sử dụng các thuật toán mã hoá sinh động đa băngtiên tiến, & các dịch vụ kỹ thuật tuần tự băngâm thoại có modem. Các kết cuối thường hoạt động ở mức công xuất 2,5 dBW với một mức nhiệt G/T là 7 dBK -1 . Các vận tốc kênh lần lượt là 5,6 & 65,5 Kbit/s với khoảng cách kênh là 5 & 40 KHz. Các kết cuối hoạt động trên các băng tần khi truyền phát là 1626,5-1660,5 MHz, & thu nạp là 1525-1559 MHz. Hình 2: Một ví dụthiết bị kết cuối mạng GAN Các kết cuối là các thiết bị có dạng máy tính, nặng khoảng 4Kg, & được đấu nối với cácqua các ăngten có hai hoặc ba tầng. Các nhà cung cấp có khuynh hướng cho ra sự lựa chọnviệc thêm một trạm nền tảng (BS) CDCT vào khối modem hoạt động trên băng1880 đến 1900 MHz. Điều này cho phép các kết cuối hoạt động với một máy smartphone DECT, tạo lợi ích trong vận hành vô tuyến điện. Như trên hình2. Dự án Hosizons tháng 12 năm 1999, ban Giám đốc củađã chứng nhận công đoạn kế tiếp của tiến trình lớn mạnh phần không gian với quyết định tiến hành tiếp với một yêu cầumềm dẻo cho cácINMARSAT-4 trị giá 1,4 tỷ $ Mỹ. Thếsau của cácsẽ bao gồm hainằm trong vòng quỹ đạo cộng với một trạm đề phòng trên mặt đất. Cácsẽ được đặt tại các địa điểm 54 o Tây & 64 o Đông & mỗisẽ có trọng lượng là 3 tấn, gấp ba lần trọng lượng của cácINMARSAT-3. Cácsẽ được kiến trúc để trợ giúp các dịch vụ có vận tốc dữ liệu trong khoảng từ 144 đến 432 Kbit/s & sẽ phân phối các dịch vụ phụ trợ cho các dịch vụ thuộc mạng UMTS/IMT-2000 trên mặt đất. Mạng này sẽ được gọi là mạng GAN băng rộng (BGAN). Hai loại dịch vụ chuyển mạch kênh & chuyển mạch gói sẽ được trợ giúp trên mạng. Kết cuối người tiêu dùng có vẻ sẽ chẳng khác gì thiết bị kết cuối dạng máy tính đang được sử dụng cho các dịch vụ mạng GAN. FES hàng không, hàng hải, & vùng xa xôi cũng sẽ được trợ giúp. Lượng tảisẽ bao gồm 200 chùm điểm hẹp với một công suất EIRP là 67 dBW, bao trùm đất liền & các tuyến thuộc hàng không & hàng hải chủ đạo; không những thế còn 19 chùm bao phủ toàn thị trường quốc tế thuộc công suất 39dBW. Cácsẽ hoạt động trong băng tần 1,5/1,6 GHz & là dịch vụ có mặt vào cuối năm 2004, hai năm sau sự ra mắt của các dịch vụ UMTS mặt đất. – Thiết bị Inmarsat-B: có các dịch vụ thoại(16 kbps), fax(9,6 kbps), data(9,6 kbps) & Telex(50 baund) – Thiết bị Inmarsat-C: có các dịch vụ Telex(50 baund), fax(chiều tàu-bờ) & tin nhắn hộp thư online. – Thiết bị Inmarsat-M: có các dịch vụ thoại(4,8 kbps), fax(6.4 kbps), data(6.4 kbps). – Thiết bị Inmarsat-mM: có các dịch vụ thoại(4,8 kbps), fax(2,4 kbps), data(2,4 kbps). – Thiết bị Inmarsat-Fleet(F77,F55, F33): có các dịch vụ thoại(4,8 kbps), fax(HSD:64 kbps,LSD:9,6 kbps), data(F33:9,6 kbps; F55: 64 kbps; F77: 128 kbps). – Thiết bị Inmarsat-FleetBroadband(FBB): có các dịch vụ thoại, fax, data, SMS. + FBB150: Thoại(4,8 kbps), Data: StandardIP(max 150 Kbps) & SMS. + FBB250: Thoại(4,8 kbps & 3.1 kHz Audio); Data: StandardIP(max 284 kbps), StreamingIP(32,64,128 kbps); Fax(G3 w 3.1kHz Audio) & SMS. + FBB500: Thoại(4,8 kbps & 3.1 kHz Audio); Data: StandardIP(max 432 kbps), StreamingIP(32,64,128, 256 kbps); Fax(G3 w 3.1kHz Audio) & SMS. Thân chào. 1. V-Sat (C-band) trên tàu có tính năng gì? VSAT: làđịabăngrộng. Có thể dùng cho nhiều vận dụng cho các dịch vụ thương mại như: thoại, fax, truy cập internet, truyền video Có thể dùng cả trên bờ lẫn dưới tàu. 2. V-Sat (C-band) phải ứng dụng bắt buộc trên tàu trong trường hợp nào? theo quy phạm nào? Theo như tôi được biết, hiện tại chưa có qui định bắt buộc phải trang bị VSAT trên tàu. Vì VSAT dùng cốt yếu cho dịch vụ thương mại, không cóbáo động nguy cấp cấp cứu (Như INM-C) hay báo địa điểm (như LRIT). 3. V-Sat (C-band) khác Inmarsat-C, F, B căn bản là gì? Chủ chốt VSAT có bănglớn hơn, nên vận dụng được nhiều dịch vụ hơn. Chẳng hạn INM-C vận tốc rất thấp chỉ dùng truyền Telex hoặc Thư điện tử & gửihiệu cấp cứu, không có dịch vụ thoại hay truy cập internet. 4. Sự khác nhau căn bản giữa Inmarsat-C, F,B, Mini-M. Cái này Bác Satellite- researcher, đã nói rất kỹ 5. Tính năng của MF/HF radio trên tàu là gì? Làvô tuyến sử dụng băng tần MF/HF (Trung tần/Cao tần). Đây làsử dụng sóng đất connect máy thu với máy phát vô tuyến trên mặt đất (Khác với sóngtinh). Các vận dụng cốt yếu là thoại, NPDP, DSC.MF/HF radio dùng bắt buộc trên các tàu hoạt động trên vùng biển A2 & A3. 6. Tính năng của Navtex trên tàu là gì? Có quangì với Weather facimile? Navtex (Navigation Telex) là máy thu tự độnghiệu Telex trên tần số 518 hoặc 4209Khz. Các bảnthu được bao gồm: Khí tượng thủy văn, cảnh bảo hàng hải, thời tiết. Các bảnnày được phát từ các đài phát (Ở Viet Nam là các ĐàiDuyên hải của Công ty du học Vishipel). Weather facimile chỉ thu bảnthời tiết. Trang bị Máy thu Navtex là qui định bắt buộc trên tàu. 7. LRIT khác với AIScơ bản là gì? AIS (Automatic Identification System): dùng sóng vô tuyến VHF( Sóng ngắn), sử dụng ở cự ly gần (Trong luồng lạch, cửa biển, ven biển ) có thể tương tác giữa tàu với tàu,thỏa thuận bao gồm cả: Tên tàu, hô hiệu, địa điểm lúc này, tên tàu, vận tốc, hướng, mớn tàu, loại hàng hóa, điểm đến, thời gian đến đích Như thế ngoài việc xác nhận địa điểm, nó còn tồn tại cáckhác để nhận thấy tàu, tránh va Thiết bị trên tàu có cả màn hình hiển thị địa điểm tàu chung quanh (có AIS). LRIT (Long Range Identification and Tracking ò Ship): dùng sóngtinh, sử dụng ở cự ly xa (toàn thị trường quốc tế – trừ 2 vùng cực), không tương tác tàu với tàu (Chỉ từ tàu với trạm bờ quatinh),gửi từ tàu chỉ dễ dàng bao gồm Tên tàu & địa điểm. Như vậynày chỉ xác nhận địa điểm tàu & chặng đường của tàu mà thôi Dịch vụan toàn hàng hải SafetyNet qua08/10/2010 Hiện tại khi yêu cầu đảm nhiệm cácAn toàn Hàng hải ngày càng trở nên trọng yếu so với mọi tàu thuyền hoạt động trên biển thì việc tìm tòi các dịch vụ phátAn toàn Hàng hải là vô cùng thiết yếu. Các dịch vụ này giúp cho mọi tàu thuyền có thể đảm nhiệm được cáccần thiết khi hoạt động trên biển. Chúng tôi xin giới thiệu Dịch vụAn toàn Hàng hải SafetyNet được phát đi từ Đàimặt đấtHải phòng. An toàn Hàng hải (MSI) là gì? Theo khái niệm của Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO) thìAn toàn Hàng hải bao gồm: – Thông báo Khí tượng & Dự đoán thời tiết biển; – Thông báo Hành hải; -Tìm kiếm Cứu nạn; – Cácliên quan đến an toàn ở mức độ nguy cấp khác.này giúp các tàu thuyền hoạt động trên biển phòng, tránh & chủ động giải quyết cáchuống nguy hiểm để giảm bớt tối đa rủi romạng & tài sản trong tiến trình hoạt động trên biển. Dịch vụ SafetyNet là gì? Là dịch vụin chữ trực tiếp auto trên phạm vi Quốc tế, được dùng để phát truyền bá cácAn toàn Hàng hải tới các tàu nhằm bảo đảm an toàn cho người & các phương tiện hoạt động trên các vùng biển.Dịch vụ này đã biến đổi thành dịch vụ an toàn củagọi nhóm tăng cường thuộc Tổ chứcDi động Quốc tế, nó giải quyết được các yêu cầu của công ước SOLAS 74 cũng như các phiên bản sửa đổi. Dịch vụ SafetyNet phân phối cách thức nhậnAn toàn Hàng hải như vậy nào? Dịch vụ này phân phối cách thức nhậnAn toàn Hàng hải dễ dàng, auto,cậy cho các tàu hành hải trên biển & các vùng ven biển.được phát liên quan đến toàn bộ các tàu đang chặng đường trên biển & với đặccó thể đặt tuỳ chọn thu bức điện (theo vùng, theochất bức điện ) bảo đảm rằng người đi biển có thể nhận cácan toàn thích hợp với nhu cầu của người đi biển. NguồnAn toàn Hàng hải được phân phối bởi các nhà cung cấp có nhiệm vụ như Trọng điểm Khí tượng Thuỷ văn Đất nước, Trọng điểm Kết hợp Tìm kiếm Cứu nạn Hàng hải Viet Nam Tàu thuyền cần làm gì để nhận được các bức điện An toàn Hàng hải phát đi từ dịch vụ SafetyNet? Các phương tiện hoạt động trên biển trang bị máy thu EGC để nhận được các bảnmột cách từ động. Thiết bị này giúp cho các tàu có thể auto thu cácAn toàn Hàng hải & lưu trữ lại cácnày & không in lại cácđã có trong phần lưu trữ. Máy thu EGC có thể lưu trữ khoảng 250và có thể xoá đi cáccũ khi bộ nhờ lưu trữ đầy. Dịch vụ SafetyNet là một trong những dịch vụ PhátAn toàn Hàng hải đángcậy. Hiện tại chủ yếu các tàu biển nước ngoài đã sử dụng dịch vụ này vì nhữngAn toàn Hàng hải mà tàu thu được thích hợp với từng chuyến hành hải. Với sự lớn mạnh của nền kinh tế & các chế độ ưu đãi của nhà nước, càng ngày càng có nhiều các tàu thuyền đánh bắt thuỷ hải sản hoạt động trên biển. Chính vì thế cácAn toàn Hàng hải càng được coi trọng. Nếu có khả năng thì mỗi tàu thuyền này nên trang bị một thiết bị thu EGC, đặc biệt là những tàu thuyền hoạt động tại vùng biển A3 & những vùng không có nghiệp vụ phát Navetx để có thể nhận được cácAn toàn Hàng hải thích hợp & góp thêm phần bảo đảm an toàn cho mỗi chuyến hành hải trên biển. Để biết thêmviệc sử dụng dịch vụAn toàn Hàng hải SafetyNET cũng như tìm tòi thêmĐàiMặt đấtHải Phòng (HPLES) do VISHIPEL làm chủ & khai thác, các chủ phương tiện hãy truy cập vào website http://www.vishipel.com.vn hoặc liêntrực tiếp với Công tyĐiện tử Hàng hải Viet Nam để được trợ giúptrên tàu & an toàn hàng hải Vận chuyển biển & khai thác nguồn lợi thủy sản trên biển đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong việc lớn mạnh kinh tế của quốc gia. Không những thế, mỗi một chuyến ra biển, tàu & loài người trên tàu lại phải chuẩn bị đương đầu với những nỗi độc thân & bao bất trắc không lường trước được. Những bất trắc này có cả do thiên nhiên như bão tố, cũng có thể do loài người như cướp biển, hay chính do người vận hành tàu khi chủ quan, hoặc khi quá mệt có thể vận hành sai dẫn theo những tai nạn đáng thương. Khi chặng đường trên biển, con thuyền như bị cô lập & cách li hoàn toàn với đất liền. Khi gặp bất trắc chỉ một mình nó đương đầu giữa biển nước mênh mang. Để làm vơi đi nỗi độc thân khi chặng đường trên biển & trợ giúp kết nốigiữa tàu với đất liền, nhiều trang thiết bịđã được lắp đặt trên tàu như máy thu phát VHF/MF/HF, máy thu Navtex, Inmarsat, EPIRB, AIS, hay LRIT. Từ xa xưa, khi cần báohỗ trợ người ta phải sử dụng pháo sáng hoặc cờ hiệu. Công thức này quá thô sơ, làmột chiều, không có giọng nói, chỉ bắt đượcbằng thị giác, chỉ sử dụng được ở cự ly gần & cần có người chứng kiến. Qua những tai nạn xảy ra chẳng hạn như vụ tai nạn Titanic gây thiệt hại rất lớn cho người & tài sản, cho thấy các cách thức cũ này có quá nhiều điểm yếu, không trợ giúp được công tác bảo đảm an toàn hàng hải cũng như tìm kiếm cứu nạn. & thực tiễn đòi hỏi cần có những phương thứcmới, đa dạnghình thức, bài viết, lập tức thuận lợi ứng dụng trên tàu. Từ khi kỹ thuật Vô tuyến điện sinh ra, điều này dần dần đã được thỏa mãn. Các công nghệmới dần dần được ứng dụng đã biến đổi toàn thể phương thứccủa loài người nói chung & của nghề hàng hải nói riêng. Kể từ đó việcliên lạc cho nghề hàng hải đã biến đổi không ngừng từ việc sử dụng điện báo Morse, smartphone vô tuyến sử dụng sóng đất, truyền dữ liệu băng hẹp đến các công nghệliên lạc hiện đại ngày nay nhưtinh. Công nghệthay đổi dẫn theo các hình thứcliên lạc cũng biến đổi. Nếu như trước đó việcchủ yếu là thỏa thuận các bảndạng văn bản, dung tích nhỏ, cách thức chuyển tiếp & mất rất nhiều thời gian để truyền phát & thu nạp thì hiện nayrất phong phú kể cảhình thức, bài viết & vận tốc truyền tin. Ngoài việc thực hiện các cuộc gọi thoại trực tiếp,nhắn tới tất các thuê bao khác nhau thì hiện tại tất cả chúng ta có thể thực hiện việc truy cập internet, gửi email, truyền hình từ xa, hội nghị truyền hình trên các kênhbăngrộng. Vàthì hầu hết được truyền & giải quyết ngay mau lẹ. Những biến đổi này đã hỗ trợ ích rất nhiều trong việc chuyên sâu đời sốngthần của người thủy thủ, bảo đảm An toàn an ninh trên biển, & công tác tìm kiếm cứu nạn. Trước đó để tiêu khiển, thuyền viên chỉ được xem những tờ báo, những băng đĩa được mua đưa lên tàu trước khi tàu chặng đường hoặc mua tại các cảng mà tàu ghé qua. Việc liên lạc với gia đình hầu hết rất ít, chỉ một đôi lần cho mỗi chuyến hành trình. Như thế có thể thấy cách thức tiêu khiển trước kia khá nghŠo nạnnội dung & lạc hậumặttin. Hiện tại với những công nghệmới như nêu ở trên, thuyền viên trên tàu có thể thư giãn bằng cách nghe đài, xem ti vi, xem phim trực tuyến, truy cập internet. Thêm vào nữa qua các phương tiệnthuyền viên cũng có thể khám phá update cáccần thiếtchuyên môn nghiệp vụ, pháp luật & những tri thức có ích khác. Việc liên lạc với người thân cũng đơn giản hơn, có thể bằng thoại,nhắn hoặc gửi thư điện. Điều này giúp cho thuyền viên xua tan những stress sau khoảng thời gian làm việc, cắt giảm những nỗi độc thân khi xa nhà hay giúp cho họ điều vận hành con tàu an toàn hơn.công tác An toàn an ninh hàng hải, qua việc thu các bảnan toàn (MSI), dự đoán thời tiết, nhắc nhở hàng hải bằng Navtex,C hay trên các kênh thoại, thuyền viên trên tàu sẽ được update đầy đủ cácdự báo thời tiết, an toàn, an ninh hàng hải tại những khu vực mà tàu đang & sẽ đi tới. Thêm vào nữa với các công nghệ mới sinh ra nhưnhận dạng auto (AIS),giám sát tàu (VTS) haynhận dạng & truy theo tàu tầm xa (LRIT), thuyền viên trên tàu & nhà chức trách trên bờ có thể nắm được lưu lượng tàu, hướng đi & vận tốc của tàu tại các khu vực khẳng định điều đó giúp cho việc phòng tránh đâm va, điều động tàu giảm bớt các rủi rotai nạn, tăng cường an toàn an ninh cho tàu. Một trong những vận dụng trọng yếu củacho tàu này là trợ giúp việckhẩn cấp cấp cứu & tìm kiếm cứu nạn. Hiện tại để truyền đihiệu nguy cấp cấp cứu, thuyền viên có thể sử dụng các kênh tần thoại dành sẵn cho cấp cứu như 2182Khz, 7603Kz, 8291Kz. Hoặc họ chỉ cần sử dụng một thao tác là nhấp vào nút pháthiệu nguy cấp ‘Distress” trên các thiết bịnhưC, B thì ngay lập tứchiệu cấp cứu được phát đi. Thậm chí không cần sử dụng thao tác gì nếu tàu có thiết bị EPIRB, nó sẽ auto pháthiệu cấp cứu khi tàu chìm. Tùy thuộc từngthống, thì cáchiệu cấp cứu có thể bao gồm cáctàu như tên, địa điểm,chất bị nạn. Vàhiệu cấp cứu sau khoảng thời gian được phát đi hầu hết ngay mau lẹ được truyền tới & giải quyết bởi các Trọng điểm Tìm kiếm cứu nạn khu vực. Dựa trên cácnhận được cùng với cáchỗ trợ khác như bản đồ, DataBase,liên lạc sẵn có mà nhà chức trách có thể biết thêmtàu để điều các phương tiện trợ giúp kịp thời đúng đắn. Như thế có thể thấy,đóng một vai trò hết sức trọng yếu trong việc bảo đảm an toàn an ninh cho mỗi con tàu khi ra khơi. Do đó thuyền viên trên tàu, chủ tàu cần phải hết sức lưu tâm trong việc trang bị cho tàu các trang thiết bịcần thiết cũng như tăng cường công tác bảo dưỡng bảo trì đảm bảosẵn sàng hoạt động của các trang thiết bị đó trước mỗi cuộc thám hiểm.VTSGiám sát Tàu thuyền Nội thủy (Vessel Lượt truy cập Service – VTS) làphức hợp để trợ giúp việc theo dõi & điều khiển tàu thuyền ra vào một vùng nước một cách đúng đắn & an toàn nhất, nhất là tại các cảng biển. Các lợi nhuận chính củaVTS • Tăng cường an toàn cho tàu thuyền ra vào cảng • Điều khiển giaonội thủy • Đóng góp thêm phần bảomôi trường • Bảocác công trình nổi tránh đâm va • Ngăn chặn tàu thuyền xâm nhập bất hợp pháp Các ngành nghề vận dụng chính Cácnăng nổi trội Với thành phần chính là các trạm radar, AIS, vô tuyến, CCTV, các cảm ứng, các trạm làm việc từ xa, các máy chủ v.vcung cấp nhữngnăng cần thiết nhất phục vụ công tác điều khiển, giám sát • Giám sát tàu thuyền ra vào o Theo dõi địa điểm mục tiêu, vận tốc, vết đường đi. Theo dõi đồng thời hàng trăm mục tiêu khác nhau o Hiển thị toàn thể cácnhận dạng auto của mục tiêu trên các màn hình làm việc như tên tàu, hô hiệu, MMSI, cảng đích, tổng tải trọng, loại tàu, bề dài, mớn nước v.v o Hình ảnh video qua CCTV thời gian thực của mục tiêu.năng auto theo dõi mục tiêu di động o Toàn bộ các màn hình radar, AIS & hải đồ có thể xếp chồng lên nhau (overlay) hoặc tách rời cho phép lựa chọn hiển thị & thao tácở dạng trực quan nhất oradar 2 dải tần X & S cho phép làm việc ở cả các điều kiện thời tiết xấu o Liên lạc vô tuyến với các mục tiêu qua VHF/DSC • Tính năng nhắc nhở osẽ auto kích hoạt nhắc nhở bằng tiếng động & hình ảnh trong cáchuống: nhắc nhở đâm va sớm, cánh báo mục tiêu chạy sai vận tốc quy định, mục tiêu vào luồng hoặc khu vực cấm đã được seting trước […]… biển quốc tếgồm 29 đài TTDH được sắp xếp xuôi theo bãi biển Viet Nam, 01 đài thông tin vệ tin h mặt đất Inmarsat, 01 đài thuhiệu cấp cứu quaCOSPAS-SARSAT (LUT/MCC) & 1 Trọng điểm xử lýtại Hà NộiTTDH Việt nam đang thỏa mãn toàn bộ các phương thứcliên lạc trên biển hiện có như: thoại, fax, telex, Data trên các sóng vô tuyến điện, sóngThực hiện… chứcdi động quốc tế, trước đó là Tổ chứchàng hải quốc tế, được thành lập bởi IMO vào năm 1976 để vận hành hệ thống thông tin liên lạc hàng hải bằngvà đã biến đổi thành công ty tư vấn du học tư nhân trong lúc vẫn duy trì nghĩa vụ ngành nghề công đối vớian toàn & cứu nạn hàng hải Ba loại thiết bị đầu cuối trạm mặt đấtsử dụng trên tàu biển được thừa nhận bởiGMDSS: Inmarsat. .. – Chuyển tiếpcấp cứu đến Trọng điểm Kết hợp tìm kiếm cứu nạn hàng hải viet nam, Ủy ban đất nước Tìm kiếm cứu nạn & các đơn vị liên quan để có giải pháp cứu nạn kịp thời & hiệu quả nhất Vishipel làm chủ & khai thác Đài thu & xử lýhiệu cấp cứu qua Hệ thống vệ tin h Cospas – Sarsat VNLUT/MCC Đây là ĐàiDuyên hải sử dụng sóngtinh, hoạt động trong Hệ thống vệ tin h Cospas – Sarsat,… công nghệliên lạc hiện đại ngày nay nhưCông nghệthay đổi dẫn theo các hình thứcliên lạc cũng biến đổi Nếu như trước đó việcchủ yếu là thỏa thuận các bảndạng văn bản, dung tích nhỏ, cách thức chuyển tiếp & mất rất nhiều thời gian để truyền phát & thu nạp thì hiện nayrất phong phú kể cảhình thức, bài viết & vận tốc truyềnNgoài… tuân thủ & vượt quá mọi khuyến nghị của IALA & IMOVTS • Để biết thêmVTS do Jason phân phối, vui lòng tải bản giới thiệu cụ thể tại (Mục VTS) GMDSS (Global Maritime Distress and Safety System)-an toàn & cứu nạn hàng hải toàn thị trường quốc tế là mộtquốc tế dùng công nghệ liên lạc mặt đất,& cácvô tuyến trên tàu nhằm bảo đảm gửi báo động cấp… cấp cứu bằng tay Khi được kích hoạtqua một trong hai cách trên, các thiết bị trên pháthiệu cấp cứu lênCáchiệu đó được chuyển tiếp tới Đài thu & xử lýhiệuLUTMCC của Việt nam , ở đóthu nhận sẽ được giải quyết để xác nhận địa điểm bị nạn cùng cácliên quan đến người & phương tiện bị nạn Cácnày sẽ đượcĐài TTDH viet nam ngay mau lẹ chuyển… COSPAS-SARSAT làtìm kiếm & cứu nạn Quốc tế dựa theo liên lạctinh, được thành lập bởi Canada, Pháp, Mỹ & Nga Bốn Đất nước đã cùng với nhau lớn mạnh phao vô tuyến chỉ báo địa điểm nguy cấp qua(EPIRB) 406Mhz, là một phần củaGMDSS được kiến trúc để hoạt động vớiCOSPAS-SARSAT Những EPRIB auto kích hoạt này được kiến trúc để phát tới trọng điểm điều phối cứu nạn mộtnhận… & suport ======================= Thu nạp, giải quyết báo động cấp cứu từ các thiết bịĐài TTDH viet nam thu nạp & giải quyết báo động cấp cứu phát đi từ các thiết bịB, Inmarsat- Cthiết kế một kênh thông tin vệ tin h ưu tiên riêng trong các trường hợp cấp cứu, nguy cấp Mỗi thiết bị Inmarsat- B, C đều có khả năng tạo một bức điện yêu cầu với mức ưu tiên cấp cứu với cách… trí – Phát & nhận nhữngan toàn hàng hải – Phát & nhận nhữngvô tuyến từ & đến cáctrạm bờ & – Phát & nhậnliên lạc giữa buồng lái với nhau Những yêu cầuthiết bị so với các tàu là khác nhau tùy vào vùng biển mà tàu hoạt độngGMDSS phối hợp một sốphụ (với những hạn chế khác nhaumặt phủ sóng) thành 1tổng quát, & vùng… hiệu cấp cứu lên• Pháthiệu cấp cứu nhân lực: trong các trường hợp cấp cứu, nguy cấp, người bị nạn có thể chủ động kích hoạt thiết bị pháthiệu cấp cứu bằng tay Khi các thiết bị trên pháthiệu cấp cứu & được cáctrongCOSPAS-SARSAT thu nạp & xử lýhiệu Cáchiệu đó được chuyển tiếp tới Đài thu & xử lýhiệuLUT, ở đóthu nhận sẽ . hành thuộc Inmarsat- 3 & sáu vệ tinh đề phòng, toàn bộ bao gồm ba vệ tinh Inmarsat- 3 & ba vệ tinh Inmarsat- 2. Ba vệ tinh Inmarsat nữa đang được đặt ra để mời thuê dung tích. Cấu hình vệ tinh được. tải tin truyền thông, các vệ tinh Inmarsat- 3 cũng đưa một tải lượng thông tin hàng hải để chuyên sâu các hệ thống hàng hải qua vệ tinh thuộc GPS & GLONASS. Hiện thời, Inmarsat tuyển nhân viên bốn vệ tinh. qua Hệ thống vệ tinh Cospas – Sarsat VNLUT/MCC. Đây là Đài Thông tin Duyên hải sử dụng sóng vệ tinh, hoạt động trong Hệ thống vệ tinh Cospas – Sarsat, có tính năng đảm nhiệm, giải quyết các thông tin

Xem Thêm  Hiện tượng siêu trăng hồng là gì? Siêu trăng hồng diễn ra khi nào?

By ads_law

Trả lời