HIỆN TRẠNG SAN HÔ Ở VIỆT NAM

Bạn đang xem bản đúc kết của ebook. Xem & tải ngay bản đầy đủ của ebook tại đây (351.2 KB, 14 trang )

NỘI DUNG
I. HIỆN TRẠNG SAN HÔ Ở VIỆT NAM:
Theo các nhà khoa học, với số loài san hô đã được phát hiện, có thể
cam kết nhóm các loài san hô của Viet Nam vào loại phong phú nhất toàn cầu.
Theo kết quả thăm dò sơ bộ, Viet Nam có khoảng 1.222 km2 rạn san hô, phân
bố rộng rãi từ Bắc tới Nam, với diện tích lớn nhất & tính phong phú sinh học cao ở
miền Trung & miền Nam. Các phân tích của Viet Nam về san hô đã ghi nhận
gần 400 loài san hô tạo rạn tại vùng Vịnh Nha Trang, Ninh Thuận, & Côn Đảo,
mỗi nơi có hơn 300 loài.
Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên của vùng biển Việt Nam nói chung là
thuận lợi cho sự phát triển của san hô tạo rạn. Trừ các vùng chịu ảnh hưởng của
các lưu vực sông với độ muối thấp và độ đục cao, rạn san hô phân bố ở hầu hết
các vùng nước nông ven bờ, ven đảo có nền đáy chắc và rất giàu có ở các quần
đảo Trường Sa và Hoàng Sa.
Ở vùng biển thềm lục địa Việt Nam, chỉ mới ghi nhận hai kiểu cấu trúc là
rạn riềm (fringing reef) và rạn dạng nền (platform reef). Rạn dạng nền (platform)
cũng tồn tại với cấu trúc là các đảo hoặc bãi ngầm không liên kết thành dải hình
vành khuyên rộng lớn. Đây có thể coi là các “đảo san hô vòng giả” (pseudo-
atoll).
Ở vùng biển khơi xa, rạn san hô thuộc về một kiểu cấu trúc hoàn toàn
khác – đó là các đảo san hô vòng (atoll).
Vùng biển Việt Nam trải dài qua nhiều vĩ tuyến khác nhau và nằm gần với
trọng điểm phong phú sinh học của san hô thế giới nên rạn san hô ở đây tương đối
giàu có về thành phần loài san hô cứng.
Điều đó cho thấy mức độ giàu có về thành phần giống loài san hô ở vùng
biển ven bờ Việt Nam. Khu hệ san hô cứng Việt Nam có tới 90% số loài giống
với san hô cứng vùng Ấn Độ – Thái Bình Dương. Còn khu hệ san hô mềm
Alcyonaria thì có thành phần loài phong phú bậc nhất trong vùng Ấn Độ – Tây
Thái Bình Dương.
Với số lượng giống loài san hô tạo rạn đã biết, khu hệ san hô biển Việt
Nam có thể so sánh với những vùng san hô đa dạng nhất trên thế giới.

Ngoài ra, theo ước tính, có tới chín phần mười trong số hơn 1.000 km2
rạn san hô ở Viet Nam đang hồi khẩn cấp, trong lúc thực trạng ô nhiễm môi
trường biển ngày càng tồi tệ & các nguồn lợi thủy sinh ngày càng cạn kiện. 200
điểm rạn san hô được thăm dò ở vùng biển ven bờ Viet Nam cho thấy, trong
vòng 10 năm, qua độ phủ của san hô bị suy giảm đáng kể. Một giải trình điều tra
san hô Viet Nam cho biết, 96% san hô bị đe dọa trong đó 75% bị đe dọa nghiêm
trọng & rất cực kỳ nghiêm trọng.
Theo những thăm dò tại 8 điểm rạn san hô trong vịnh Nha Trang, từ năm
1994 đến năm 2005 độ phủ của san hô sống đã giảm từ 52,4% xuống 21,2%, tốc
độ giảm bình quân 2,8%/năm.
Những lý do của thực trạng đó là khai thác thủy sản đưa tính
tiêu diệt bằng chất nổ, thuốc độc, các hoạt động du lịch, loài vật địch hại, bệnh
san hô…
Thời gian gần đây, thực trạng khai thác san hô bất hợp pháp, nhất là san hô
đen ở vùng biển đảo Cồn Cỏ (tỉnh Quảng Trị) đang có khuynh hướng tăng trưởng, đe
doạ đến môi trường sinh thái ở vùng biển đảo này.
Theo Viện Phân tích Bộ Thuỷ sản, hiện tại dải san hô bờ Đông Nam
của đảo Cồn Cỏ chỉ còn 40% sự phong phú đối với trước & không còn giữ được vẻ
đẹp nguyên sơ như ban đầu vốn có của nó. Ngoài ra, cho đến nay vẫn chưa có
một hành động cương quyết nào của các cấp chính quyền so với việc này. &
mỗi ngày, hàng tiếng đồng hồ địa điểm du lịch này đang mất dần sự cuốn hút trong mắt du
khách.
Nguy hại hơn, các đối tượng còn sử dụng bộc phá, thuốc nổ để đánh bắt
cá ở vùng biển này khiến cho dải san hô bị vỡ & chết hơi nhiều.
Các nhà khoa học sửng sốt trước sự suy thoái cực kỳ nghiêm trọng của các rạn
san hô ở vùng Vịnh Hạ Long, di sản thiên nhiên toàn cầu. Năm 1985, hầu hết
nơi đâu ven đảo Hạ Long cũng đều có san hô. Đến năm 1998, mất 1/3 rạn san
hô đối với năm 1985. Thăm dò hồi giữa tháng 6 năm nay cho thấy vịnh Hạ Long
& Bái Tử Long hầu hết không còn san hô nữa.
Riêng khu vực vùng biển đảo san hô Cô Tô, bao gồm 15 đảo lớn nhỏ,

theo giải trình của Cục Khai thác & Bảo vệ nguồn lợi Thủy sản, Bộ Thủy sản, thì
san hô chết khoảng từ 80-85%. Tuy nhiên, nhiều rạn san hô tại khu vực Rạn
Mè & phía Nam Bãi bắc của khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm đã bị chết.
30 năm nữa, vịnh Nha Trang có thể không còn san hô sống. Rủi ro trên
được Viện Đại dương học đặt ra ngày 11/6/2007 trong tham luận tại Hội thảo
“Vì sự phát triển bền vững vịnh Nha Trang”do UBND tỉnh Khánh Hòa tổ chức,
một trong những hoạt động của Festival Biển 2007.
Hình 3 – San hô ở vịnh Nha Trang.
Ngoài ra, một điều đáng mừng là san hô đang hồi phục tại Khu Bảo tồn
biển Nha Trang. Theo các Chuyên Viên san hô của Tổ chức Môi trường Liên hợp
quốc: San hô trong phạm vi 9 đảo thuộc vùng lõi của Khu Bảo tồn biển Vịnh
Nha Trang (Khánh Hòa) hiện đang có biểu hiện hồi phục, báo hiệu thời gian tới
sẽ có thêm nhiều loài cá rạn tìm về sinh sống.
Năm 2002, các nhà khoa học tổng hợp được: Trong khu vực Hòn Mun –
Nha Trang có 350 loài san hô, 220 loài cá rạn, vi tảo 55 loài, cỏ biển 7 loài. Dựa
vào tiềm năng nguồn lợi, các nhà khoa học nghĩ rằng khả năng quần thể loài vật
trên vùng Vịnh Nha Trang còn nhiều hơn nữa song có vẻ do bị tác động từ
nhiều yếu tố nên đã bị mất đi, nếu được bảo tồn tốt sẽ được hồi phục trở lại.
Thực tiễn cho thấy, vào cuối tháng 12-2007, theo kết quả của nhóm Chuyên Viên
thăm dò thì độ bao phủ san hô tại vùng lõi đã tăng trưởng đáng kể. Số lượng loài
không bao giờ thay đổi nhưng sự ổn định của thành phần kết cấu nền đáy rạn đang có
tín hiệu hồi phục. Đây chính là nền tảng để quần thể loài vật có điều kiện sinh sống
trên rạn tìm về trú ngụ & lớn mạnh.
So sánh với tình trạng của các rạn san hô trong khu vực, mô hình tính
toán tiên tiến nhất của các nhà khoa học cho thấy Việt Nam nằm trong nhóm các
nước có tỷ lệ các rạn bị đe dọa nhiều nhất (cùng với Philippines, Trung Quốc,
Đài Loan và Indonesia).
II. TẦM QUAN TRONG CỦA SAN HÔ:
* So với vùng ven biển:
Các dải san hô có những vai trò trọng yếu như phụ trợ nghề ngư nghiệp

Xem Thêm  Nước mắt nhân tạo là gì? Thành phần, công dụng và cách dùng - nước mắt nhân tạo unihy

& du lịch, song song có công dụng làm đê chắn sóng tự nhiên khi có bão. Ngoài
ra, các dải san hô còn đóng góp phần làm phong phú hóa hệ sinh thái. Theo ước tính của
Chương trình bảo vệ môi trường của Liên hợp quốc (UNEP), giá trị kinh tế của 1
km vuông san hô vào khoảng 100.000 – 600.000 đô la/năm.
Theo các nhà biển khơi học, những rạn san hô chính là triệu chứng đầy đủ
của hệ sinh thái ven biển, là nền, lá chắn cho hệ sinh thái ngoài khơi, Bãi biển &
ngoài khơi Việt-nam tương đối cạn & nước biển nóng nên có nhiều tập đoàn san
hô. Những đá ngầm san hô mọc như thế tạo nên ba loại kỳ quan tự nhiên ở
Trung-bộ (xem hình 4).

Hình 4 – Sự thành hệ san hô
San hô bám vào bờ tạo nên những ria đá ngầm. Có khi những ria đó làm
cho đất liền lấn dần ra biển. Sóng biển đập phá đá ngầm & đẩy những mảnh vụn
vào bờ tạo nên những bãi cát. Nhờ này mà Trung-bộ nổi tiếng với những bài cát
vàng.
Các rạn san hô cũng là nơi cư trú của rất là nhiều loài cá đẹp & quý. Cá rạn
san hô (RSH) được hiểu là “tất cả các loài cá có đời sống gắn liền với sinh cảnh
của rạn san hô trong một giai đoạn nhất định hoặc toàn bộ vòng đời”. Cá RSH có
vai trò trọng yếu trong việc thăng bằng hệ sinh thái rạn san hô thông qua việc
gia nhập vào chuỗi thức ăn. Một số loài cá rạn rất nhạy cảm với sự biến đổi của
các yếu tố môi trường, nên chúng được xem như nhóm loài vật chỉ thị gián tiếp
cho sức khỏe của rạn san hô (Michael, 1995). Đây là một trong những nền tảng
khoa học giúp cho các nhà làm chủ có thể nhận xét nhanh phục vụ cho việc bảo
vệ & làm chủ vững bền hệ sinh thái rạn san hô. Không những thế, nhiều nhóm cá rạn có
giá trị kinh tế cao, đã đem lại nguồn doanh thu đáng kể cho hàng triệu ngư dân
ven biển.
San hô suy thoái & bị bài trừ đồng nghĩa với các nguồn lợi thủy sinh bị
suy giảm cực kỳ nghiêm trọng. Đấy là chưa kể việc mất đi con đê chắn sóng tự nhiên
mỗi khi gió bão hay sóng thần đánh vào bờ.
Kết quả phân tích trong 2 năm 2005- 2006 đã tổng hợp được tổng số

khoảng 340 loài thuộc 115 giống, 47 họ phân bố tại 8 vùng dự định cài đặt
KBTB. Bước đầu đã xác nhận được thực trạng kết cấu thành phần loài cá rạn
san hô tại 8 vùng dự định cài đặt KBTB bao gồm 340 loài, thuộc 115 giống &
47 họ. Số lượng họ, giống & số lượng loài cá rạn san hô có sự dao động khá lớn
giữa các khu vực đảo phân tích & giữa các vùng biển phân tách theo hạn chế
địa lý, với thiên hướng tăng dần từ các đảo phía Bắc đến phía Nam. Sự chênh lệch
về số lượng loài cá rạn giữa các vùng rạn san hô & theo vùng địa lý có thể lý
giải là do có sự độc đáo về điều kiện tự nhiên, môi trường, nhất là có sự
khác nhau về kết cấu rạn san hô & các hợp phần nền đáy rạn giữa các vùng
biển phân tích (Michael, 1995; N. C. Hoàn, 2006). Do đó, nhiều nhóm loài có
đặc điểm thích ứng sinh thái, chỉ phân bố ở vùng biển phía Nam hay chỉ phân bố
ở vùng biển phía Bắc hoặc chỉ phát hiện phân bố ở vùng đảo đó mà lại không
phát hiện thấy phân bố ở vùng đảo kia.

Xem Thêm  Chế độ máy bay của Windows 10: 3 cách để Tắt hoặc Bật! - cách chế máy bay

Hình 5
Nguồn lợi cá rạn san hô tại Côn Đảo Nguồn lợi cá rạn san hô tại đảo Phú
Quý
Các rạn san hô cũng bảo vệ cho các vùng ven bờ tránh xói mòn. Trong
trường hợp các đảo san hô vòng, san hô phân phối nền tảng cho chính bản thân
đảo . Tại ấn Độ Dương, 77% các đảo độc lập & các hòn đảo được tạo dựng
duy nhất từ sự tích luỹ các rạn san hô.
Các rạn san hô khác hoàn toàn đối với các môi trường biển khác bởi tính phong phú
loài của chúng, nhưng nhiều loài của rạn san hô cũng lệ thuộc vào các hệ sinh
thái phối hợp khác.
Thông thường, các rạn san hô, rừng ngập mặn, thảm cỏ biển có mối liên
hệ vật lý & sinh học:
• Các rạn san hô như những đê chắn sóng tạo cơ hội cho các rừng ngập
mặn ven biển lớn mạnh;
• Chất can xi của rạn phân phối cát & trầm tích để rừng ngập mặn & cỏ biển
sinh trưởng trên đó; &

Ngoài ra, theo ước tính, có tới chín phần mười trong số hơn 1.000 km2rạn san hô ở Viet Nam đang hồi khẩn cấp, trong lúc thực trạng ô nhiễm môitrường biển ngày càng tồi tệ & các nguồn lợi thủy sinh ngày càng cạn kiện. 200điểm rạn san hô được thăm dò ở vùng biển ven bờ Viet Nam cho thấy, trongvòng 10 năm, qua độ phủ của san hô bị suy giảm đáng kể. Một giải trình điều trasan hô Viet Nam cho biết, 96% san hô bị đe dọa trong đó 75% bị đe dọa nghiêmtrọng & rất cực kỳ nghiêm trọng.Theo những thăm dò tại 8 điểm rạn san hô trong vịnh Nha Trang, từ năm1994 đến năm 2005 độ phủ của san hô sống đã giảm từ 52,4% xuống 21,2%, tốcđộ giảm bình quân 2,8%/năm.Những lý do của thực trạng đó là khai thác thủy sản đưa tínhhủy diệt bằng chất nổ, thuốc độc, các hoạt động du lịch, loài vật địch hại, bệnhsan hô…Thời gian gần đây, thực trạng khai thác san hô bất hợp pháp, nhất là san hôđen ở vùng biển đảo Cồn Cỏ (tỉnh Quảng Trị) đang có khuynh hướng tăng trưởng, đedoạ đến môi trường sinh thái ở vùng biển đảo này.Theo Viện Phân tích Bộ Thuỷ sản, hiện tại dải san hô bờ Đông Namcủa đảo Cồn Cỏ chỉ còn 40% sự phong phú đối với trước & không còn giữ được vẻđẹp nguyên sơ như ban đầu vốn có của nó. Ngoài ra, cho đến nay vẫn chưa cómột hành động cương quyết nào của các cấp chính quyền so với việc này. Vàhàng ngày, hàng tiếng đồng hồ địa điểm du lịch này đang mất dần sự cuốn hút trong mắt dukhách.Nguy hại hơn, các đối tượng còn sử dụng bộc phá, thuốc nổ để đánh bắtcá ở vùng biển này khiến cho dải san hô bị vỡ & chết hơi nhiều.Các nhà khoa học sửng sốt trước sự suy thoái cực kỳ nghiêm trọng của các rạnsan hô ở vùng Vịnh Hạ Long, di sản thiên nhiên toàn cầu. Năm 1985, hầu nhưchỗ nào ven đảo Hạ Long cũng đều có san hô. Đến năm 1998, mất 1/3 rạn sanhô đối với năm 1985. Thăm dò hồi giữa tháng 6 năm nay cho thấy vịnh Hạ Longvà Bái Tử Long hầu hết không còn san hô nữa.Riêng khu vực vùng biển đảo san hô Cô Tô, bao gồm 15 đảo lớn nhỏ,theo giải trình của Cục Khai thác & Bảo vệ nguồn lợi Thủy sản, Bộ Thủy sản, thìsan hô chết khoảng từ 80-85%. Tuy nhiên, nhiều rạn san hô tại khu vực RạnMè & phía Nam Bãi bắc của khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm đã bị chết.30 năm nữa, vịnh Nha Trang có thể không còn san hô sống. Rủi ro trênđược Viện Đại dương học đặt ra ngày 11/6/2007 trong tham luận tại Hội thảo“Vì sự phát triển bền vững vịnh Nha Trang”do UBND tỉnh Khánh Hòa tổ chức,một trong những hoạt động của Festival Biển 2007.Hình 3 – San hô ở vịnh Nha Trang.Ngoài ra, một điều đáng mừng là san hô đang hồi phục tại Khu Bảo tồnbiển Nha Trang. Theo các Chuyên Viên san hô của Tổ chức Môi trường Liên hợpquốc: San hô trong phạm vi 9 đảo thuộc vùng lõi của Khu Bảo tồn biển VịnhNha Trang (Khánh Hòa) hiện đang có biểu hiện hồi phục, báo hiệu thời gian tớisẽ có thêm nhiều loài cá rạn tìm về sinh sống.Năm 2002, các nhà khoa học tổng hợp được: Trong khu vực Hòn Mun -Nha Trang có 350 loài san hô, 220 loài cá rạn, vi tảo 55 loài, cỏ biển 7 loài. Dựavào tiềm năng nguồn lợi, các nhà khoa học nghĩ rằng khả năng quần thể sinh vậttrên vùng Vịnh Nha Trang còn nhiều hơn nữa song có vẻ do bị tác động từnhiều yếu tố nên đã bị mất đi, nếu được bảo tồn tốt sẽ được hồi phục trở lại.Thực tiễn cho thấy, vào cuối tháng 12-2007, theo kết quả của nhóm chuyên giakhảo sát thì độ bao phủ san hô tại vùng lõi đã tăng trưởng đáng kể. Số lượng loàikhông biến đổi nhưng sự ổn định của thành phần kết cấu nền đáy rạn đang cótín hiệu hồi phục. Đây chính là nền tảng để quần thể loài vật có điều kiện sinh sốngtrên rạn tìm về trú ngụ & lớn mạnh.So sánh với tình trạng của các rạn san hô trong khu vực, mô hình tínhtoán tiên tiến nhất của các nhà khoa học cho thấy Việt Nam nằm trong nhóm cácnước có tỷ lệ các rạn bị đe dọa nhiều nhất (cùng với Philippines, Trung Quốc,Đài Loan và Indonesia).II. TẦM QUAN TRONG CỦA SAN HÔ:* So với vùng ven biển:Các dải san hô có những vai trò trọng yếu như phụ trợ nghề ngư nghiệpvà du lịch, song song có công dụng làm đê chắn sóng tự nhiên khi có bão. Ngoàira, các dải san hô còn đóng góp phần làm phong phú hóa hệ sinh thái. Theo ước tính củaChương trình bảo vệ môi trường của Liên hợp quốc (UNEP), giá trị kinh tế của 1km vuông san hô vào khoảng 100.000 – 600.000 đô la/năm.Theo các nhà biển khơi học, những rạn san hô chính là triệu chứng đầy đủcủa hệ sinh thái ven biển, là nền, lá chắn cho hệ sinh thái ngoài khơi, Bãi biển vàngoài khơi Việt-nam tương đối cạn & nước biển nóng nên có nhiều tập đoàn sanhô. Những đá ngầm san hô mọc như thế tạo nên ba loại kỳ quan tự nhiên ởTrung-bộ (xem hình 4).Hình 4 – Sự thành hệ san hôSan hô bám vào bờ tạo nên những ria đá ngầm. Có khi những ria đó làmcho đất liền lấn dần ra biển. Sóng biển đập phá đá ngầm & đẩy những mảnh vụnvào bờ tạo nên những bãi cát. Nhờ này mà Trung-bộ nổi tiếng với những bài cátvàng.Các rạn san hô cũng là nơi cư trú của rất là nhiều loài cá đẹp & quý. Cá rạnsan hô (RSH) được hiểu là “tất cả các loài cá có đời sống gắn liền với sinh cảnhcủa rạn san hô trong một giai đoạn nhất định hoặc toàn bộ vòng đời”. Cá RSH cóvai trò trọng yếu trong việc thăng bằng hệ sinh thái rạn san hô thông qua việctham gia vào chuỗi thức ăn. Một số loài cá rạn rất nhạy cảm với sự biến đổi củacác yếu tố môi trường, nên chúng được xem như nhóm loài vật chỉ thị gián tiếpcho sức khỏe của rạn san hô (Michael, 1995). Đây là một trong những cơ sởkhoa học giúp cho các nhà làm chủ có thể nhận xét nhanh phục vụ cho việc bảovệ & làm chủ vững bền hệ sinh thái rạn san hô. Không những thế, nhiều nhóm cá rạn cógiá trị kinh tế cao, đã đem lại nguồn doanh thu đáng kể cho hàng triệu ngư dânven biển.San hô suy thoái & bị bài trừ đồng nghĩa với các nguồn lợi thủy sinh bịsuy giảm cực kỳ nghiêm trọng. Đấy là chưa kể việc mất đi con đê chắn sóng tự nhiênmỗi khi gió bão hay sóng thần đánh vào bờ.Kết quả phân tích trong 2 năm 2005- 2006 đã tổng hợp được tổng sốkhoảng 340 loài thuộc 115 giống, 47 họ phân bố tại 8 vùng dự định thiết lậpKBTB. Bước đầu đã xác nhận được thực trạng kết cấu thành phần loài cá rạnsan hô tại 8 vùng dự định cài đặt KBTB bao gồm 340 loài, thuộc 115 giống và47 họ. Số lượng họ, giống & số lượng loài cá rạn san hô có sự dao động khá lớngiữa các khu vực đảo phân tích & giữa các vùng biển phân tách theo giới hạnđịa lý, với thiên hướng tăng dần từ các đảo phía Bắc đến phía Nam. Sự chênh lệchvề số lượng loài cá rạn giữa các vùng rạn san hô & theo vùng địa lý có thể lýgiải là do có sự độc đáo về điều kiện tự nhiên, môi trường, nhất là có sựkhác nhau về kết cấu rạn san hô & các hợp phần nền đáy rạn giữa các vùngbiển phân tích (Michael, 1995; N. C. Hoàn, 2006). Do đó, nhiều nhóm loài cóđặc tính thích ứng sinh thái, chỉ phân bố ở vùng biển phía Nam hay chỉ phân bốở vùng biển phía Bắc hoặc chỉ phát hiện phân bố ở vùng đảo đó mà lại khôngphát hiện thấy phân bố ở vùng đảo kia.Hình 5Nguồn lợi cá rạn san hô tại Côn Đảo Nguồn lợi cá rạn san hô tại đảo PhúQuýCác rạn san hô cũng bảo vệ cho các vùng ven bờ tránh xói mòn. Trongtrường hợp các đảo san hô vòng, san hô phân phối nền tảng cho chính bản thânđảo . Tại ấn Độ Dương, 77% các đảo độc lập & các hòn đảo được hình thànhduy nhất từ sự tích luỹ các rạn san hô.Các rạn san hô khác hoàn toàn đối với các môi trường biển khác bởi tính đa dạngloài của chúng, nhưng nhiều loài của rạn san hô cũng lệ thuộc vào các hệ sinhthái phối hợp khác.Thông thường, các rạn san hô, rừng ngập mặn, thảm cỏ biển có mối liênhệ vật lý & sinh học:• Các rạn san hô như những đê chắn sóng tạo cơ hội cho các rừng ngậpmặn ven biển lớn mạnh;• Chất can xi của rạn phân phối cát & trầm tích để rừng ngập mặn & cỏ biểnsinh trưởng trên đó; &

Xem Thêm  Có nên ăn chuối vào bữa sáng - ăn chuối buổi sáng

By ads_law

Trả lời