Nguồn gốc, ý nghĩa và cách trồng chăm sóc hoa mai

0
10

Vào mùa xuân có rất là nhiều loài hoa đua nhau bùng phát đủ màu sắc bên những chồi non ú nụ, với những chiếc lá xanh mướt. Mỗi loài hoa có một hương sắc đẹp riêng, tạo ra một vẻ đẹp rất tiêng của mùa xuân. Mùa xuân cũng là vào dịp tết, những cây tượng trưng cho ngày tết chính là cây hoa mai, hoa đào,… làm không khí thêm ấm áp và sôi động hơn.

Như tất cả chúng ta đã biết cây hoa mai thường chỉ hiện ra ở dịp tết xuân về. Vậy bạn có hiểu biết gì về cây hoa mai không?Đa số sẽ không biết. Để am hiểu hơn về cây hoa mai chũng ta bên cạnh nhau khám phá qua nội dung sau đây nhé!

Cây hoa Mai

Khái quát về cây Hoa Mai

Thông tin căn bản về cây hoa mai

Cây mai thuộc họ Ochnaceae, có tên khoa học Ochna integerima có cách gọi khác là cây hoàng mai, rất được ưa chuộng vào ngày Tết Cổ Truyền ở miền Nam Viet Nam.

Tại Viet Nam, loài này phân bố tự nhiên nhiều nhất tại những khu rừng thuộc dãy Trường Sơn và các tỉnh từ Quảng Nam, Đà Nẵng cho tới Khánh Hòa. Loài hoa này cũng có nhiều tại các vùng núi ở đồng bằng sông Cửu Long, và tại cao nguyên cũng có, song số lượng thấp hơn.

Thông tin cơ bản về cây hoa mai

Là cây đa niên, có thể sống trên một trăm năm, gốc to rễ lồi lõm, thân xù xì, cành nhánh nhiều, lá mọc xen. Ngoài thiên nhiên, cây mai tự rụng lá vào mùa Đông và ra hoa vào mùa Xuân. Cho nên, ông cha tất cả chúng ta đã lảy hết lá trong thời điểm tháng chạp âm lịch, để kích thích cho cây mai ra hoa rộ vào dịp tết Nguyên đán.

Đặc tính của cây hoa mai

Đặc điểm của cây hoa mai

Có thân cứng, cành giòn, lá nhỏ, hoa to và phẳng, lâu tàn. Mai có dáng vẻ thanh cao. Thân cây mềm mại, lá xanh biếc dịu dàng, hoa tươi đặc sắc. …

Cấu trúc của cây hoa mai

1. Rễ cây mai vàng

Bộ rễ mai vàng có thể đâm sâu 2 – 3 ɱ. Sự phân bố của bộ rễ lệ thuộc vào thuộc tính đất, mực nước ngầm nơi trồng, cách thức nhân giống như gieo hạt, chiết cành, ghép và điều kiện kỹ thuật chăm sóc.

2. Thân cây mai vàng

Là cây thân gỗ cao lớn nếu để mọc và sinh trưởng tự do, cây mọc từ hạt có thể cao tới 20 – 30 ɱ, tán lá thưa.

3. Lá cây mai vàng

Lá đơn, mọc so le, phiến lá hình trứng thuôn dài, mặt dưới màu hơi ánh vàng

4. Hoa mai vàng

Cấu tạo của cây hoa mai

Hoa lưỡng tính mọc thành chùm. Hoa mai thường mọc ra từ nách lá, mới đầu là một hoa to, gọi là hoa cái, có vỏ lụa (vỏ trấu) bọc bên ngoài.

Khi vỏ lụa bung ra, thì hiện ra một chùm hoa con, từ một nụ đến mười nụ, tăng lên cực kỳ nhanh, độ bảy ngày hôm sau là nở.Thường hoa nở 3 ngày thì tàn. Ngày đầu tiên, 5 cánh và chùm nhụy xoè thẳng ra rất đẹp. Ngày thứ hai, 5 cánh vảnh lên và chùm nhụy dụm lại. Qua đến ngày thứ ba, 5 cánh khởi đầu rơi lả tả theo chiều gió, hoa tàn

5. Quả mai vàng

Sau khoảng thời gian tàn, hoa nào đậu thì bầu noãn phình to lên và kết hạt.

Nguồn gốc, ý nghĩa của hoa mai

Nguồn gốc của hoa mai

Cây mai có nguồn gốc từ Trung Quốc. Theo sách “Trân hương bảo ngự” của Phí Cung Ấn, đời Minh chép rằng: “Đắc Kỷ ái lãm hàn mai, Trụ tằng ngự tuyết đồng lãm chi”. Nghĩa là Đắc Kỷ thích ngắm hoa mai trong giá lạnh. Trụ vương thường đội tuyết cùng ngấm. Như thế, cách đây đã hơn 3000 năm, cây mai đã có mặt trên quốc gia Trung Quốc.Người Trung Quốc vốn nặng tình với mai từ lâu lắm và xem Mai, Tùng, Cúc thuộc nhóm “Tuế tàn tam hữu”. Ý nói chịu được tuyết lạnh chẳng khác bật trượng phu khí tiết vững vàng, chịu được mọi nghịch cảnh và không khi nào khuất phục bạo quyền.

Người Trung Quốc vốn nặng tình với mai từ lâu lắm và xem Mai, Tùng, Cúc thuộc nhóm “Tuế tàn tam hữu”. Ý nói chịu được tuyết lạnh chẳng khác bật trượng phu khí tiết vững vàng, chịu được mọi nghịch cảnh và không khi nào khuất phục bạo quyền.

Nguồn gốc của hoa mai

Yêu mai, người Trung Quốc xem hoa mai là quốc hoa, cũng như hoa đào là quốc hoa của người Nhật, có vẻ chính vì như vậy mà họ đặt tên cho mai khá phức tạp. theo sách “Mai phổ” thì loại hoa mai có sáu cánh tròn đẹp như hoa thuỷ tiên nên gọi là “Thủy tiên mai”, hoa có từng cặp gọi là “Uyên ương mai”, gọi hoa màu đỏ hồng gọi là “Yên chi mai”, mai có đài hoa màu xanh đậm gọi là “Lục ngạc mai” rồi “Hạc đình mai”…nhưng tựu chung cũng nằm trong 4 loại chính: Bạch mai: Sắc trắng như tuyết; Hồng mai: Sắc hồng như máu; Thanh mai: Sắc vàng tươi hay vàng đậm; còn tồn tại Mặc mai: màu đen hay tím đen (loại này không thấy trồng thông dụng).

Mai có xuất xứ từ cây hoang dã, có khả năng thích nghi tốt với điều kiện khí hậu nhiệt đới, đặc biệt với khí hậu miền Nam. Cây mai sinh trưởng và tiến triển mạnh, có tuổi thọ cao và nếu được chăm sóc chu đáo sẽ cho hoa nhiều và có màu sắc đẹp. Cây mai mỗi năm rụng lá một lần vào cuối mùa Đông (tháng 1 – tháng 2 Dương lịch) và nở hoa vào đầu mùa Xuân, chỉ riêng mai Tứ Qúy là nở hoa quanh năm.

Đã từ lâu hoa mai đã được mọi người ngắm nhìn, tượng trưng cho những gì đẹp đẽ thanh lịch. Mỗi khi hoa mai bùng phát là mỗi lúc lòng người hớn hở nao nao, là biểu hiện mùa xuân đang về. Hoa mai và ngày xuân là một biểu tượng chẳng thể thiếu cho phần nhiều các sắc dân trú ngụ trong vùng Á Châu. Khi kể đến ngày xuân, người ta liên tưởng đến ngày đầu năm, thật vậy, ngày Tết Nguyên Đán mà thiếu vắng bóng hình hoa mai là một điều thiếu sót lớn mà mọi người trong tất cả chúng ta đều mặc nhiên thừa nhận. Đã từ lâu hoa mai đã đóng một vai trò trọng yếu trong văn học Á Đông, này là nguồn xúc cảm của biết bao danh nhân.

Ý nghĩa của hoa mai

Miền Bắc có hoà đào thì miền Nam có hoa mai. Màu vàng của hoa mai từ lâu được coi là màu tượng trưng cho sự giàu sang, phú quý. Người ta chưng hoa mai vào dịp Tết với mong mỏi một năm mới phát tài, giàu sang. Theo ý kiến của nhiều người, nhà nào có hoa mai nở càng nhiều cánh thì nhà đó càng may mắn và giàu có trong năm mới.

Ý nghĩa của hoa mai

Cây mai có rễ cắm sâu vào lòng đất, không bị gục ngã trước gió bão. Nó cũng có thể chịu đựng được mọi loại thời tiết, kể cả hà khắc. Bởi thế mà mai còn tượng trưng cho phẩm đức kiên nhẫn và đức hy sinh cao thượng, sự bền chắc của người Viet Nam nói chung. Ngoài ra, mai đang là biểu tượng cho sự cao cả, sang trọng.

Những đoá mai vàng nợ rộ trong tiết xuân còn cho thấy niềm vui, niềm hân hoan, hạnh phúc, ái tình thương, trí não đoàn kết và đồng hành mọi người lại với nhau.

Vậy là hiện giờ bạn đã hiểu được ý nghĩa của hoa mai và hoa đào trong ngày tết rồi đấy. Chúc bạn có một cái tết thật vui và đầm ấm bên gia đình.

Phân loại các loại hoa mai tại Viet Nam

Cách phân loại 1

Trên toàn cầu có hơn 20 loại mai khác nhau. Riêng tại Viet Nam, có khoảng 8 loại, gồm: Bạch Mai, Hồng Mai, Hoàng Mai, Nhất Chi Mai, Mai Tứ Quý, Mai Chiếu Thủy, Song Mai.
Riêng tại Viet Nam, có khoảng 8 loại, gồm: Bạch Mai, Hồng Mai, Hoàng Mai, Nhất Chi Mai, Mai Tứ Quý, Mai Chiếu Thủy, Song Mai.

XEM THÊM  Những Con Virus Máy Tính Nguy Hiểm Nhất Thời Đại, Virus Máy Tính Là Gì

Phân loại các loại hoa mai tại Việt Nam

Song mai: hoa màu trắng muốt, ra hoa và kết trái từng đôi nên được gọi là song mai.

Mai mơ: có cách gọi khác là Hạnh mai, thông tục gọi là cây mơ. Tên khoa học là Prunes Mume (Armeniaca Mume), xếp vào họ Rosaceae, có khoảng 300 loại. Cây mai mơ cao từ 6 – 9m, lá rộng tròn và dài, đầu nhọn, có răng cưa. Hoa nở vào đầu xuân, sau đó mới nẩy lá, đài hoa đỏ tía hoặc xanh thẫm, hoa thường có 5 cánh với hai sắc: trắng và hồng. Hoa mai mơ sắc trắng có cách gọi khác là Lục Ngạc Mai. Hoa kết thành tựu, quả khi chưa chín có màu xanh, khi quả chín có màu vàng. Trái có vị chua ngọt, hương thơm phảng phất rất lâu.

Phân loại các loại hoa mai tại Việt Nam

Tại miền Nam, vì thuộc khí hậu nhiệt đới và gần đường xích đạo hơn đối với miền Bắc, ngày Tết luôn rơi vào lúc thời tiết nóng, nên ta có thể tìm ra các loại mai như mai Chiếu Thủy, Nhất chi mai, mai Tứ Quý, Bạch mai, Hoàng mai, Nam mai và một loại mới, này là mai trắng Miến Điện.

Mai chiếu thủy: là cây đa niên, gốc to, cành nhánh nhiều. Cao khoảng 1,5m. Lá dài, nhỏ, mọc thành đôi. Hoa nhỏ 5 cánh, mọc thành chùm nhỏ li ti, màu trắng tuyền, có hương thơm dịu dàng, thoải mái. Cuống hoa dưới luôn luôn hướng xuống đất nên được gọi là mai Chiếu Thủy.

Nhất chi mai: hoa màu trắng pha hồng, thường gặp ở miền Nam.

Mai tứ quý: là loại mai có 5 cánh màu vàng tươi, tên khoa học là Ochna Astropurpur. Hoa không nhiều, nhưng tự trổ, không cần trảy lá trước. Loài hoa này được xem như là một loại mai kiểng. Vì loài hoa này nở quanh năm, mùa nào cùng có thể trổ hoa nên có cách gọi khác là mai Tứ Quý. không chỉ thế còn tồn tại cái tên khác là “Mai đỏ”, nguyên do chính là khi hoa tàn 5 cánh hoa vàng rụng hết và 5 đài hoa bên dưới liền biến thành đỏ sẫm. Các đài hoa thay vì xòe ra như trước khi tàn, lại úp vào ôm lấy nhụy, trông như đóa hoa búp vậy. Nhụy hoa bên trong kết hạt, từ màu xanh khi còn non đổi sang màu đen lúc già, to dần, đẩy 5 đài hoa lại nở bung ra lần thứ hai như một đóa hoa mai màu đỏ, cũng chính vì lẽ này mà mai Tứ Quý có cách gọi khác là Nhị Độ mai (hoa nở 2 lần, trước vàng, sau đỏ).

Bạch mai: cây cao 15m, hoa có hương thơm dễ chiu như mai Chiếu Thủy. Hoa bạch mai có dáng như hoa sứ, màu trắng trong tượng trưng cho sự tinh khiết, có từ 6 đến 8 cánh tròn lớn, dày, nhụy vàng, có hương thơm thoang thoảng đan xen sương đêm, thuộc loại hoa hiếm. Mai trắng rất yếu, khó chăm sóc và nuôi dưỡng. Có nhiều ở vùng núi Bà Đen – Tây Ninh, hay ở Bến Tre, Hà Tiên.

Hoa Bạch mai

Nam mai: là một loại mai trắng có rất là nhiều ở vùng “Nam kỳ lục tỉnh”, đó chính là cây Mù ᑗ. Cây mù u có tên khoa học là Ochrocarpus samensis,thuộc họ Guttiferae (măng cụt). Cây mù u thân mộc, lá mù u to bản, dày, kích cỡ bằng bàn tay người lớn. Trái mù u tròn, to cỡ ngón chân cái, không ăn được. Hột mù u ép làm dầu thắp đèn (nhiều khói, ít sáng). Hoa mù u 5 cánh trắng và to như hoa Bạch mai.

Hoàng mai: mai vàng, có cách gọi khác là Lạp mai. Lạp là sáp ong, được ví với màu vàng tươi nhuận của hoa mai. Còn hiểu cách khác thì Lạp nguyệt là tháng chạp, vậy Lạp mai là loài hoa mai chỉ nở một lần trong năm vào cuối tháng chạp (tháng 12 âm lịch). Tại Viet Nam, nơi có nhiều mai vàng đặc biệt là trong những khu rừng thuộc dãy Trường Sơn, thuộc các tỉnh từ Quảng Nam, Đà Nẵng đến Khánh Hòa. Rừng ở các tỉnh cao nguyên cũng có, nhưng thấp hơn.

Hoa mai vàng

Mai vàng mọc trên rừng có cách gọi khác là “Mai núi”. Mai núi do phải chen tìm đất sống với những cây khác ở địa thế hà khắc trong cuộc sinh tồn nên dáng cây có lẽ đẹp đặc biệt. Hoa lại có nhiều cánh. Có hoa có từ 12 đến 18 cánh.

Một loại mai vàng khác mọc ở triền cát, rừng ven biển được gọi là “Mai Động”. Dáng cây mai động suông, tròn, hoa ra chi chít, cánh nhỏ. Các tỉnh miền Trung từ Quảng Bình, Quảng Trị đổ vào, kéo dài đến tận đồng Nai, Tây Ninh, nơi nào cũng có mai vàng.

Cách phân loại 2

1 – Mai năm cánh

Loại mai vàng mọc thông dụng tại miền Trung (Từ Đà Nẵng, Quảng Nam cho đến Khánh Hòa) và trên dãy trường Sơn, trong những khu rừng già. Đây là loại mai năm cánh tự nhiên, hoa nhỏ, thân vừa và nở hoa không nhiều và rậm như một số loài mai khác mà nở thưa thớt. Nhưng nếu lạc vào rừng mai này vào mùa xuân thì tất cả chúng ta sẽ thấy sắc hoa vàng đặc sắc cả một khu rừng, cả một triền núi và xác hoa rơi có khi vàng cả một dòng suối. Mùi thơm tràn ngập và lan tỏa cả một vùng mênh mang. Ở một số ngọn núi thuộc đồng bằng sông Cửu Long như tại vùng Thất sơn (bảy núi) cũng có loại mai này nhưng thấp hơn và rải rác không chăm chú.

Cây Hoa Mai - Nguồn gốc, Ý nghĩa và Cách trồng chăm sóc Hoa Mai 2

2 – Mai núi

Cũng là một loại mai rừng nhưng có số lượng cánh nhiều hơn từ 12 cho đến 18 cánh, có khi còn không chỉ như vậy. Mai này mọc trên những núi đá khô khốc và sống cốt yếu bằng hơi sương, nước mưa và nước ngầm trong lòng đất cộng với khí hậu ẩm thấp của miền núi. Loài mai này thường hiện ra nhiều tại các vùng núi thuộc Tây Nguyên và nước bạn Campuchia.

3 – Mai chủy

Cũng là một loại mai rừng nhưng thân cây rất to, hoa nhiều, lá rộng, xanh bóng và có hình răng cưa. Loại mai này có hoa mọc thành chùm rất đẹp nên gọi là mai chủy (chủy có nghĩa là chùm, quần thể, quây quần lại, đặc nghẹt).

4 – Mai động, mai sẻ

Là một loại mai chuyên mọc ở những vùng cát trắng gần biển. Loại mai này có thân suôn thẳng và tròn và trổ bông thưa thớt. Nếu chúng trổ năm cánh thì gọi là mai sẻ, còn nếu có hơn năm cánh thì đúng là loa mai động. Mai động và mai sẻ mọc rải rác từ các tỉnh từ Quảng Bình, Quàng Trị vào tận các vùng duyên hải thuộc miền trung và có khi thấy chúng ở các vùng đồi cát trắng thuộc miền nam như Tây Ninh, Đồng Nai, Biên Hòa ?..?..

5 – Mai chùm gửi, mai Tỳ bà, mai vương

Là một loại mai sống nhờ trên thân cây khác, đặc biệt là các loại cây cổ thụ lớn lao, chúng sống bám vào thân cây, một phần hút hoạt chất từ đất, một phần hút hoạt chất từ cây mà chúng bám vào. Không giống các loại chùm gửi khác chỉ bám trên thân cây khác, mai chùm gửi sống phân nửa dựa theo bộ rễ bám vào lòng đất của nó. Mai chùm gửi có thân ghồ ghề, cứng và xù xì cùng với những khối u kì dị. Chồi và tược cũng như hoa đâm ra từ những khối u đó. Hoa trổ khá dày và khít thành từng chùm đặc nghẹt. Có nơi còn gọi nó là mai tỳ bà hay mai vương.

6 – Mai hương, mai thơm hay mai ngự

Là một loại mai vàng có mùi thơm rất thơm, thơm hơn toàn bộ các loài mai khác. Hương thơm của nó rất đặc biệt và có vẻ là nồng nàn hơn toàn bộ các loài mai nên nó được gọi là mai hương cho đúng với thuộc tính đặc biệt của loài mai vàng năm cánh này. Ở Bến Tre cũng có rất là nhiều loại mai đó mà người dân bước này gọi nó bằng một tên gọi rất miệt vườn là “Mai thơm” vì nó rất thơm, thơm hơn những loại mai thông thường mà người dân Nam bộ thường gặp. Ở Huế, loại mai này có cách gọi khác là “Mai ngự” vì nó được trồng trong cung và rất được Hoàng thất mến chuộng dùng làm quà biếu thời thượng nên nó gọi là “Mai ngự”.

7 – Mai châu (Mai trâu)

Là một loại mai trổ hoa rất lớn, hoa của loài mai này lớn một cách lạ thường, cánh to và rộng, màu vàng rực. Mỗi đóa hoa có đường kính hơn 5cm nên người ta gọi nó là mai trâu mà người Nam bộ thường đọc trại ra thành “mai châu”.

8 – Mai liễu

Là một loại mai có cành rất mềm và rũ xuống như cây liễu, hoa trổ rất ít. Lá mai nhọn và nhỏ, thon dài như lá liểu nên được gọi là mai liễu.

XEM THÊM  Đau dạ dày ăn bưởi có sao không? Lợi ích ít người bệnh biết

9 – Mai nhọn

Là một loại mai có lá dài và nhọn, nụ hoa và cánh hoa cũng có hình dạng tương đương.

10 – Mai Cà Ná

Là loại mai đặc thù mọc tại vùng biển Cà Ná thuộc tỉnh Ninh Thuận. Loài mai này có thân nhỏ, èo uột, cành rất giòn, dễ gẫy, lá hình bầu dục, trơn láng và có răng cưa quang rìa lá. Người dân bước này gọi nó là mai rừng Cà Ná.

11 – Mai Vĩnh Hảo

Vào địa bàn của tỉnh Bình Thuận, thuộc huyện Tuy Phong, xã Vĩnh Hảo, nơi có nguồn nước khoáng thiên nhiên nổi tiếng nhất Viet Nam là “Nước khoáng Vĩnh Hảo” thì có một loại mai vàng nữa cũng là loài đặc thù của vùng này, chằng khác gì mấy đối với mai Cà Ná nhưng nó lại được người dân bước này đặt cho tên gọi theo địa danh nơi nó đang sống là “Mai Vĩnh Hảo”. Mai Vĩnh Hảo có thân cứng, lá nhỏ, hoa to và phẳng, đặc biệt rất lâu tàn.

12 – Mai tứ quý

Loài mai đặc thù của vùng Nam bộ. Mai này cũng trổ hoa vàng nhưng sau thời điểm cánh hoa rụng đi thì đài hoa còn sót lại năm cánh màu đỏ với nhụy hoa và ba hạt màu đen như hạt đậu. Năm cánh hoa màu đỏ cũng tròn trịa và giống hình một đóa hoa mai. Do thuộc tính nở hai lần trên cùng một đóa nên người ta còn gọi mai tứ quý là nhị độ mai. Mai này trổ bông lác đác quanh năm nên mới gọi là mai tứ quý (xuân, hạ, thu, đông đều trổ hoa). Mai tứ quý thân gai góc và đen. Có cây tiến triển rất to và cao nhưng đa phần là những cây công nghiệp. Càng lâu năm nhìn nó càng cổ điển và chắc rằng.

Mai tứ quý

13 – Mai giảo

Là loại mai có rất là nhiều cánh được ghép lại từ nhiều loại mai khác nhau trên cùng một cây mai. Mai giảo lấy gốc mai vàng làm cốt yếu sau đó ghép nhánh của các loại mai khác vào để cho sinh ra một loại mai có rất là nhiều cánh, rất là nhiều màu sắc trên cùng một cây mai. Loại đó là loại mai nhân tạo mà tất cả chúng ta thấy rất là nhiều hiện tại trên thị trường mai Tết.

Sáu loại mai trên toàn cầu:

1 – Mai vàng Campuchia (Mai Cao Miên)

Tên khoa học là Ochna integerrima. Hoa mai có từ 5 đến 9 cánh, khi nở ra thì úp ngược về phía cuống hoa chứ không xòe rộng như các loại mai Viet Nam, hoa có màu vàng tái (sậm hầu hết cam đậm). Loại mai này cũng có thấy ở Viet Nam, phần lớn mọc trong những khu rừng thuộc miền Nam và miền Trung. Chúng là loài cây hoang dại cũng có phân bố ở một số nơi có cồn cát nóng và ven những bờ sông râm mát. Mai vàng Campuchia thuộc dạng thân gỗ, nhánh gầy, mảnh và dài. Lá đơn màu xanh nhạt và bóng mọc thưa trên cành, mép lá có răng cưa nhỏ. Hoa mọc ra từ nách lá thành chùm, cuống hoa ngắn, đài hoa xanh bóng và không trùm kín nụ. Ở Việt nam người ta thường dùng loại mai này để ghép thành mai giảo vì nó có khả năng tăng số lượng cánh lên rất cao. Không chỉ thế mà hiện tại nó còn tồn tại ba màu do lai ghép là đỏ, vàng và trắng.

2 – Mai vàng Nam Phi

Có khoảng 12 loài mai thuộc chi họ mai Ochna bao gồm dạng cây lẽ và cây mọc thành bụi. trong đó có hai loài thông dụng là Ochna pretoriensis và Ochna pulchra. Hai loài này hiện ra rất là nhiều tại vùng Koppie. Loài Ochna pulchra cao khoảng 3 7m, vỏ cây thường có hiện tượng tróc ra, lá dễ rụng. Chúng mọc hoang dại ở rừng, vỏ cây màu xám, xù xì ở gốc, nhánh thân cây bị tróc vỏ màu kem nhạt. Mai Châu Phi có hai màu vàng và hồng. không chỉ thế ở Nam Phi còn tồn tại các loại mai rất giống với mai tứ quý tại Viet Nam.

3 – Mai vàng Myanmar (Miến Điện)

Ở quốc gia Phật giáo này có một loài mai đưa tên khoa học là Ochna serrulata gần giống với loại mai Nam Phi. Không những thế cách thức của hoa mai có khác đôi chút ở chổ cánh hoa bẹt hoặc có thai noãn đỏ như mai tứ quý, tồn tại rất lâu trước khi rụng hoàn toàn.

4 – Mai vàng Indonesia

Có tên khoa học là Ochna kirkii Oliv, Ochna serrulata. Toàn bộ đều có nguồn gốc từ Châu Phi, ngoài ra do địa chất khác nhau nên chúng có bề ngoài to hơn mai Châu Phi. Có loài nở hoa vào mùa xuân, mùa hè hoặc nở cả bốn mùa như mai tứ quý.

5 – Mai vàng Madagascar

Là loại mai có tên khoa học là Ochna greveanum với năm cánh tròn trịa, dúm bèo theo rìa cánh giống như mai cánh dúm ở Viet Nam, lá mai dài và rũ xuống từng chùm.

6 – Mai vàng Châu Phi

Khác với mai vàng Nam Phi vì nó giống mai vàng năm cánh của Viet Nam nhưng có tên khoa học khác là Ochna thomasiana thuộc dạng cây bụi, lá hình oval, đầu lá nhọn và bén dài khoảng 10cm. Hoa rộ trên cành vào mùa xuân, nhưng thỉnh thoảng lại bỗng dưng nở hoa vào mùa hè nhưng số lượng thấp hơn. Cánh hoa thon dài khoảng 2cm, đài hoa bung ra rộng và trở thành màu đỏ tía, bên trong có trái non màu xanh giống như mai tứ quý của Viet Nam.

Này là 19 loại mai của Viet Nam và toàn cầu, trong đó có loài thứ 4, thứ 6 và thứ 7 đã đưa bảy tên gọi khác nhau theo cách gọi của dân gian Viet Nam. Nếu tính tổng cộng là có 24 loài mai trên khắp toàn cầu hoặc có thể còn nhiều hơn nữa. Đúng là hoa mai rất phong phú và đa dạng mẫu mã. Ở Trung cộng họ vẫn gọi cây đào là cây mai vì có nhiều loại rất giống hoa mai đặc biệt là hồng đào và bạch đào mà họ hay gọi là hồng mai và bạch mai, nhưng cánh mai tròn và nhỏ như cánh đào, nhụy hoa rậm và dày, thân cây giống hệt như cây đào nên thường gọi là đào chứ không gọi là mai.

Ngày Tết chuyện trò về sự đa dạng của cây mai để tất cả chúng ta bên cạnh nhau khám phá về loại hoa đặc thù của mùa xuân này. Hoa mai là biểu tượng của sự may mắn, tốt đẹp, một sự bắt đầu hoàn hảo và hưng vượng cho một năm mới. Hoa mai còn tồn tại ý nghĩa xua đuổi những điều xấu xa, không tốt đẹp cho một năm luôn được bình an, hanh thông và phát đạt.

Tác dụng của hoa mai so với đời sống

Theo dược học gia truyền, hoa mai thường được dùng để chữa các căn bệnh như sốt cao phiền khát, tức ngực, ho, hầu họng sưng đau, bỏng, lao hạch, biếng ăn, chóng mặt…

Tết đến xuân về, dẫu tiết trời giá rét, hoa mai vẫn nở trắng một màu như tuyết. Ở vùng cao, mai mọc thành rừng, nên đến mùa hoa mai nở, từng mảng trắng xóa xen giữa màu xanh của rừng núi tạo ra cảnh sắc trông thật trữ tình. Thi nhân yêu hoa mai đã đành, người thầy thuốc cũng mến chuộng loài hoa này.

Công dụng của hoa mai đối với đời sống

Trong thành phần hóa học, hoa mai chứa nhiều hương dầu như cineole, borneol, linalool, benzyl alcohol, farnesol, terpineol, indol… và một số chất khác như meratin, calycanthine, caroten… Phân tích hiện đại cho thấy, hoa mai có công dụng tác động bài tiết dịch mật, ức chế một số loại vi khuẩn như coli, trực khuẩn lỵ, trực khuẩn thương hàn, phẩy khuẩn tả, trực khuẩn lao…

Theo dược học gia truyền, hoa mai vị ngọt hơi đắng, tính ấm, không độc, có tác dụng giải thử sinh tân, khai vị tán uất, hóa đàm, thường được dùng để chữa các căn bệnh như sốt cao phiền khát, tức ngực, ho, hầu họng sưng đau, bỏng, lao hạch, biếng ăn, chóng mặt… Các y thư cổ như Bản thảo cương mục, Bản thảo nguyên thủy, Bách thảo kính, Bản thảo tái tân, Cương mục thập di, Cây trồng nghi kỵ… đều đã ghi lại nhiều đơn thuốc có dùng hoa mai với những kiến giải khá sâu sắc. Có thể dẫn ra một số chẳng hạn rõ ràng như sau:

  1. Trúng thử gây tâm phiền, đau dầu, chóng mặt: (1) Hoa mai 9g sắc uống hoặc kết hợp hoa mai với hoa biển đậu và lá sen tươi lượng vừa đủ, sắc uống. (2) Hoa mai 15g, hoa cúc trắng 15g, hoa hồng 15g, hãm uống thay trà.
  2. Huyết áp tăng, cơn đau thắt ngực: Hoa mai 3g, thảo quyết minh 10g hãm với nước sôi trong bình kín, sau 15 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày.
  3. Mai hạch khí, đau bao tử, viêm gan và xơ gan mức độ nhẹ: Hoa mai 5g đem ninh với 100g gạo tẻ thành cháo, chế thêm đường trắng, chia ăn vài lần trong ngày. Mai hạch khí là chứng cảm thấy trong họng có vật gì đó gây bế tắc, thổ không ra, nuốt không trôi nhưng không gây chướng ngại cho việc ăn uống. Với căn bệnh này người ta còn dùng hoa mai 12g, hoa quế 3g, trà 20g, ba thứ trộn đều, chia làm 3 lần hãm uống thay trà.
  4. Chướng bụng, đầy hơi: Hoa mai 10g, mộc hương 10g, hương phụ 15g, sắc uống.
  5. Đau bụng do lạnh: Hoa mai và chu sa liên lượng bằng nhau, sấy khô, tán bột, uống mỗi lần 3 – 6g với rượu nhạt.
  6. Nấc: Hoa mai 5g, tai hồng (thị đế) 5 cái, gừng tươi 3 lát, gạo tẻ 100g. Đem gừng tươi và thị đế sắc kỹ lấy nước, bỏ bã rồi cho gạo vào đun thành cháo, khi chín thì cho hoa mai vào, đun sôi vài dạo là được, chia ăn vài lần trong ngày.
  7. Nôn: Hoa mai 5g, nước cốt gừng tươi 5ml. Đem hoa mai hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 20 phút là dùng được, chắt ra hòa thêm nước gừng tươi rồi uống, hàng ngày dùng 2 thang.
  8. Viêm họng, viêm amydal cấp tính: (1) Hoa mai 6g, huyền sâm 9g, bản lam căn 9g, sắc uống. (2) Hoa mai 15g, kim ngân hoa 15g, thạch cao 15g, huyền sâm 9g, sắc uống. (3) Hoa mai 9g hãm với nước sôi trong bình kín, uống thay trà trong ngày.
  9. Viêm họng mạn tính: (1) Hoa mai 6g, hoa dành dành 5g, trà 20g. Ba thứ trộn lẫn chia làm 2 lần hãm với nước sôi uống thay trà, hàng ngày 1 thang. (2) Hoa mai và hoa ngọc trâm lượng vừa đủ đem nấu với 60g gạo tẻ thành cháo, chia ăn vài lần trong ngày, hàng ngày 1 thang.
  10. Ho dai dẳng: (1) Hoa mai 9g hãm uống thay trà trong ngày. (2) Hoa mai 10g, khoản đông hoa 10g, gạo tẻ 60g, toàn bộ đem ninh thành cháo, chế thêm một tí mật ong, chia ăn vài lần trong ngày.
  11. Mất nước nhiều do thử nhiệt gây phiền khát, tức ngực: Hoa mai 10g, lá sâm 10g, cam thảo 10g, mạch môn 15g, hoắc hương 6g, sắc uống.
  12. Chứng biếng ăn do thử nhiệt: Hoa mai 10g, lá sen 50g, hãm với nước sôi uống thay trà trong ngày.
  13. Tức ngực, khó thở: Hoa mai 10g, đan sâm 10g, qua lâu 15g, sắc uống trong ngày.
  14. Đau khớp do phong thấp: Hoa mai 9g, thạch nam đằng 9g, thố nhĩ phong 9g, đam ngâm với 200ml rượu, mỗi lần uống 30 – 50ml.
  15. Viêm kết mạc cấp tính: Hoa mai 6g, cúc hoa 9g sắc kỹ rồi hòa thêm một tí mật ong uống.
  16. Thương tổn do trật đả: Hoa mai 9g, lá liễu 9g, quá sơn long 9g, đem ngâm với 250ml rượu trắng, hàng ngày uống 2 lần, mỗi lần 50ml.
  17. Vết thương chảy máu: Hoa mai 10g đem sao tồn tính rồi đồng tình bột rắc vào vết thương.
  18.  Viêm loét môi và niêm mạc miệng: Hoa mai tươi lượng vừa đủ đem băm nát với đường trắng rồi vắt lấy nước bôi vào thương tổn.
  19.  Loa lịch (lao hạch): Hoa mai lượng vừa đủ, hột gà 1 quả. Dùng dao nhọn chích một lỗ nhỏ ở quả trứng rồi nhét hoa mai vào trong, đem hấp cách thủy cho chín rồi ăn, hàng ngày 1 lần, 7 lần là một liệu trình.
  20. Viêm da lở loét: Hoa mai 6g đem ngâm với dầu lạc hoặc dầu vừng, sau 2 tuần thì dùng được, bôi vào thương tổn hàng ngày 2 lần.
  21.  Bỏng: Hoa mai lượng vừa đủ ngâm với dầu trà rồi bôi vào vùng bị bỏng.
XEM THÊM  Nutrilite Protein bổ sung đạm thực vật tốt cho cơ bắp, giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch

không chỉ thế, trong ẩm thực gia truyền, hoa mai còn được cổ nhân sử dụng như một loại thực phẩm để chế thành những món ăn có tác dụng tốt cho sức khỏe cường thân cùng với các loại thức ăn khác như thịt lợn, thịt dê, hải sâm, hột gà, cá chép, nấm hương… Như thế, với vẻ đẹp thanh lịch và mừi hương thanh khiết của mình, hoa mai chẳng những có giá trị thẩm mỹ sâu sắc mà đang là một vị thuốc hay và một loại thực phẩm mới lạ.

Kỹ thuật trồng và chăm sóc hoa mai

Kỹ thuật trồng và chăm sóc hoa mai

Đất trồng mai trên vườn, líp: Cây mai tiến triển tốt trên đất thịt nhẹ có nhiều chất hữu cơ, đất không chua, không bị nhiễm phèn, mặn hoặc các hoá chất độc hại.
Kỹ thuật trồng và chăm sóc hoa mai cho ngày tết

Việc vận dụng kỹ thuật trồng cây đúng sẽ đem lại những bông hoa mai đẹp mắt.

Đất trồng mai trong chậu: Cần chọn loại đất có các thuộc tính như trên, trộn theo tỷ lệ khoảng 70-80% đất và 20-30% phân hữu cơ hoai mục theo trọng lượng đất trong chậu.
Kỹ thuật bón phân

Mai trồng trên vườn, líp:

Tỉa cành: Người trồng nên tỉa cây mai chậm nhất cho đến 20 âm lịch.Tuỳ theo hình dạng của cây, người chơi hoa nên có cách tỉa phù hợp nhưng thông thường các cây mai tỉa theo dáng cây thông (trên ngắn – dưới dài để cây có hình nón), bình bình các cành được cắt tỉa đi một phần ba.

Bón lót khi trồng: Phân chuồng (phân trâu bò, tro trấu, xơ dừa…) đã qua ủ khoảng 5-10kg/gốc, vôi bột khoảng 200-300gr/gốc + 50-100gr lân đầu trâu. Toàn thể lượng phân này được trộn đều trong hố (hoặc rãnh) trước khi trồng cây con.

Kỹ thuật trồng hoa mai

Bón thúc: Sau khoảng thời gian trồng khoảng 10-15 ngày, cây khởi đầu ra rễ mới, dùng phân NPK 20-20-15+TE đầu trâu hoà loãng để tưới, lượng phân sử dụng từ 50-100 gr/10-15 lít nước, khoảng 20-30 ngày tưới 1 lần. Khi mai đã lớn, lượng phân bón cũng được tăng dần và khoảng cách các lần bón phân xa hơn. Loại phân bón qua đất phù hợp cho mai là NPK 20-20-15+TE hoặc NPK 16-12-8-11+TE. Lượng bón khoảng 20 -50 gr/gốc/lần bón, cách khoảng 1-2 tháng bón 1 lần.

Khi mai đã cho hoa ổn định: Hàng năm cần bón bổ sung phân hữu cơ từ 5-10kg/gốc. Sử dụng loại phân NPK 20-20-15+TE hoặc NPK 16-12-8-11+TE bón mỗi năm khoảng 3-4 lần với lượng bón như trên vào các đợt: sau thời điểm tàn hoa (sau dịp Tết), cắt tỉa cành; đầu mùa mưa; giữa mùa mưa và trước khi mai nở hoa khoảng 1-1,5 tháng. Cần bón phân theo hốc, theo rãnh sâu từ 5-7cm theo tàn lá của cây, bón vào vùng có nhiều rễ non tiến triển, sau đó lấp đất, dưỡng ẩm vào mùa khô, thoáng gốc vào mùa mưa.

Mai trồng trong chậu

Mai được đem ra ngoài càng sớm càng tốt, phải đặt cây nơi có bóng râm để lá không bị cháy khi tiếp xúc trực tiếp với ánh sáng mặt trời. Người trồng cần cắt bỏ toàn bộ các hoa để cây không mất dinh dưỡng nuôi đài hoa tạo hạt, để lại một số lá.

Bón phân: Lượng bón có thể biến đổi từ 20-50gr/chậu cho 1 lần bón. Với chậu lớn, cây mai nhiều tuổi có thể bón khoảng 50-80gr/chậu. Tạo rãnh chung quanh thành chậu, sâu khoảng 3-5cm, rải phân đều vào rãnh, lấp đất và tưới đủ ẩm. Tránh làm đứt rễ, cây dễ bị nhiễm bệnh qua vết thương. Nếu có điều kiện, hàng năm vào đầu mùa mưa nên thay đất trong chậu bằng đất mới tơi xốp, hoặc bổ sung phân hữu cơ đã hoai mục, lượng bón từ 2-3kg/chậu.

Sử dụng phân bón lá: Ngoài việc sử dụng phân bón qua đất, phân bón lá có vai trò trọng yếu trong việc tác động sinh trưởng và tiến triển, bổ sung các hoạt chất thiếu hụt trong đất, kích thích ra rễ, ra lá, ra hoa theo ý mong muốn của người chơi mai.
Kỹ thuật trồng và chăm sóc hoa mai cho ngày tết

Một số loại phân bón lá được nhà vườn quan tâm này là: Phân bón lá đầu trâu 501 thúc ra chồi ra lá, đầu trâu 701 thúc ra bông và đầu trâu 901 có công dụng dưỡng bông giúp bông lâu tàn và có màu sắc đẹp. Tương đương nhóm sản phẩm phân bón lá đầu trâu 005, đầu trâu 007, đầu trâu 009 cũng có hiệu quả cao so với toàn bộ các loại mai cảnh.

Kết

Khi tiết trời đã điểm xuân, những trận mưa lất phất đưa hơi ấm của năm mới khởi đầu tưới xuống, cũng là lúc Mai vàng khoe sắc báo hiệu mùa xuân về. Xuân bình anh, may mắn và người người đều nở nụ cười trên môi, nghênh đón một năm mới an lành, hạnh phúc. Miền Bắc có hoa Đào thì Miền Nam cũng đặc sắc sắc Mai. Hoa Mai đã như một biểu tượng ngày tết, báo hiệu những điều may mắn, thiện lành.


Tìm hiểu thêm nội dung thuộc chuyên đề: Khoa Học Đời Sống
Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Khoa Học Đời Sống