Là một trong những loại hoả tiễn nổi tiếng nhất toàn cầu, hoả tiễn Patriot của quân đội Mỹ đã lừng danh trong chiến đấu vùng Vịnh năm 1991, khi nó được sử dụng để bảo vệ các lực lượng liên quân.

Theo VND, việc sử dụng các hoả tiễn trên mặt đất để đánh chặn các máy cất cánh & bảo vệ vùng trời là một hiện tượng tương đối mới. Được tìm tòi trước nhất bởi Đức phát xít trong Thế chiến II, toàn bộ các cường quốc lớn đã lập tức chạy đua để tiến triển chúng trong giai đoạn sau chiến đấu. Lần trước tiên một hoả tiễn đất đối không hạ được mục tiêu cất cánh được ghi nhận vào năm 1959.

Kích cỡ & quy mô của các hệ thống hoả tiễn đất đối không (SAM) làm cho các hệ SAM lắp trên xe chỉ được trang bị cho các quân đội chính quy, có nghĩa là việc sử dụng chúng bị giới hạn trong khuôn khổ các cuộc chiến đấu quy ước. Kết quả là, SAM được sử dụng thường là không thường xuyên, loại trừ các cuộc chiến đấu Arab-Israel, chiến đấu Viet Nam & các cuộc xung đột khác với sự gia nhập của các lực lượng quy ước ở cả hai phía.

Sự nổi lên của các hệ thống phòng không bốc vác (MANPADS), phóng từ vai, có khả năng đánh chặn máy cất cánh cất cánh thấp đã mở rộng sử dụng chúng tới các lực lượng du kích, khủng bố & các đối tượng phi nhà nước khác. Các loại hoả tiễn dễ cất giấu, di động cao đã được sử dụng để chống các máy cất cánh cả quân sự & dân sự, cả trong thời chiến & thời bình. Sự thông dụng MANPADS đang ngày càng đáng lo lắng vì tình hình bất ổn ở Syria & Libya khiến hai nước này mất làm chủ so với các kho hoả tiễn của họ.

Có hai cách cho phép tất cả chúng ta đo đạc uy lực sát thương tổng thể của hoả tiễn phòng không: theo số lượng máy cất cánh thực sự bị bắn hạ & hiệu quả ước lượng. Ở giai đoạn này, tất cả chúng ta sẽ sử dụng cả hai tiêu chuẩn này. Nhờ những tiến bộ về điện tử, các hoả tiễn luôn có hiệu quả hơn & có thể phòng ngự chống lại các mối đe dọa đường không khác nhau, chính vì thế thật đơn giản lên mục lục các hệ thống SAM tối tân nhất & tốt nhất (về mặt lý thuyết). Ngoài ra, tất cả chúng ta sẽ bỏ qua một số loại hoả tiễn cũ hơn từng chứng tỏ hiệu quả trong dĩ vãng.

SA-75 Dvina (NATO gọi là SA-2 Guideline) – Liên Xô

Được đề cập đến trước tiên trong mục lục này không phải là loại hoả tiễn hiện đại nhất, nhưng có tuổi thọ dài nhất. Được kiến trúc vào năm 1953, hoả tiễn đất đối không SA-75 Dvina hoả tiễn đã hoạt động liên tục trên toàn thị trường quốc tế trong hơn 50 năm.

Ban đầu là hệ thống phòng không tĩnh tại dùng để ứng phó các máy cất cánh ném bom cất cánh ở vận tốc cao & độ cao lớn của Mỹ, SA-2 là rường cột của Binh chủng Bộ đội Phòng không Liên Xô. Là hoả tiễn dài, 2 tầng, dẫn bằng radar, SA-2 sử dụng radar thông báo sớm P-12 (NATO gọi là Spoon Rest) & radar điều khiển hoả tiễn RSN-75 Fan Song. Năm 1959, S-75 Desna, biến thể cơ động đã được mang vào hoạt động & một biến thể tái tạo là S-75M Volkhov đã được triển khai vào năm 1961. Volkhov có thể chặn đánh các mục tiêu ở cự ly 7-43 km & ở độ cao 98.000 bộ (ft).

SA-2 được Liên Xô xuất khẩu, trang bị cho các đất nước tiền đồn của khối XHCN, từ Cuba tới Mông Cổ. SA-2 đã gia nhập cuộc chiến đấu sáu ngày, chiến đấu Viet Nam, chiến đấu Yom Kippur, chiến đấu Iran-Iraq, chiến đấu vùng Vịnh năm 1991, nội chiến Nam Tư & chiến đấu ở Abkhazia. SA-2 đã là hoả tiễn phòng không lập thành quả diệt trừ mục tiêu cất cánh trước tiên khi bắn hạ một máy cất cánh trinh sát RB-57D của Đài Loan trên không phận Trung Quốc vào năm 1959. Một loạt 3 quả đạn SA-2 đã bắn hạ phi công Francis Gary Powers cùng cái máy cất cánh điệp viên U-2 của CIA trên khung trời Tp Sverdlovsk, Nga vào năm 1960.

Xem Thêm  Ghi Chép Về Một Hành Tinh Âu Lo [Review sách, Pdf, Ebook]

SA-2 cấu thành cốt cán của hệ thống phòng không tầm cao & bình quân của Bắc Việt, nơi nó được các phi công Mỹ đặt tên hiệu là “cột điện thoại bay”. Bắc Việt cho biết đã thực hiện số lần phóng hoả tiễn SA-2 đáng ngạc nhiên là 5.800 & bắn rơi tổng cộng 205 máy cất cánh Mỹ (con số này chắc đã được cố ý giảm đi – ND). Năm 1965, SA-2 đã đạt kết quả cứ 15 lần phóng đạn thì bắn hạ 1 máy cất cánh; năm 1972, do Mỹ vận dụng chiến thuật mới, chiến đấu điện tử & các hệ thống phòng về, năng suất này đã kém đi với cứ 50 lần phóng đạn thì diệt trừ 1 máy cất cánh Mỹ.

SA-2 hiện vẫn còn phục vụ trong quân đội 20 nước, thường xuyên được hiện đại hóa để kéo dài tuổi thọ. Lần hạ mục tiêu gần đây nhất của hệ thống SA-2 được cho rằng vào năm 1993 khi bắn hạ 1 chiếc Su-27 Flanker của Nga trong chiến đấu Abkhazia. Sự cai quản nửa thế kỷ về tính hiệu quả trên chiến trận hiện đại không có nghĩa là thành quả quá khó.

9K32 Strela (NATO gọi là SA-7 Grail) – Liên Xô

SA-7 Grail là một thứ AK-47 trong các hoả tiễn phòng không: rẻ tiền, nhẹ & dễ lọt vào tay kẻ xấu. Là thế hệ MANPADS trước tiên của Liên Xô, SA-7 là hoả tiễn có trọng lượng 21 bảng để trong một ống phóng dài. Có vận tốc siêu âm, SA-7 có khả năng đạt vận tốc tối đa 1.260 dặm/h & tầm bắn 14.750 bộ.

SA-7 được kiến trúc để phòng không chống máy cất cánh tấn công cất cánh thấp của NATO. Nó đã được trang bị rộng rãi cho các nhà cung cấp tuyến trước của quân đội Liên Xô: các đại đội bộ binh cơ giới, đổ bộ đường không, bộ binh hải quân & công binh đều được trang bị 1 khẩu đội SA-7. Một máy cất cánh NATO cất cánh trên một tiểu đoàn của Liên Xô sẽ vượt mặt đoạn đường với 3 khẩu đội SA-7.

Việc triển khai SA-7 với mật độ cao như vậy trên chiến trận là thiết yếu vì giống như toàn bộ các loại MANPADS thế hệ 1, SA-7 còn khá thô sơ. Quân đội Ai Cập trong cuộc chiến đấu tiêu hao vào năm 1969-1970 đã bắn hạ 36 mục tiêu trong 99 lần phóng SA-7, trong đó có thể là lần trước tiên MANPADS bắn hạ một máy cất cánh trong lịch sử là chiếc A-4 Skyhawk của Israel. SA-7 có đầu đạn nhỏ, có nghĩa là đa phần các máy cất cánh bị bắn trúng chỉ bị hư hỏng, chứ không bị rơi, & công tác đào tạo xạ thủ, cũng như những tái tạo về máy cất cánh đã làm giảm mạnh hiệu quả của SA-7 trong chiến đấu Yom Kippur năm 1973.

Giống như các MANPADS thế hệ 1 khác, một khuyết điểm lớn của SA-7 là hệ dẫn hồng ngoại cần để khóa vào luồng phụt nóng của động cơ máy cất cánh. SA-7 chỉ có khả năng khóa vào đuôi máy cất cánh khi nó đã ở hiện trạng cất cánh thoát ly khỏi chiến trận (bắn đuổi), sau khoảng thời gian nó đã xài hết số vũ khí đưa theo. Các tay súng Hồi giáo mujahedeen Afghanistan tranh đấu chống quân đội Liên Xô trong những năm 1980 không thích SA-7 vì cho là, hoả tiễn này thường cất cánh lạc về phía mặt trời hơn là khóa vào luồng phụt của sản phẩm cất cánh phản lực hoặc trực thăng.

Ngoài các lực lượng quân đội chính quy, SA-7 còn được sử dụng bởi các nhóm khủng bố & nổi dậy trên toàn thị trường quốc tế, từ Syria đến Bắc Ireland & Tây Ban Nha. Các nhóm phiến quân ở Syria được cho rằng được trang bị SA-7 chiếm giữ được từ tay quân đội chính phủ, & ít nhất một quả đã được phóng vào một trực thăng của Israel trên Dải Gaza vào năm 2012. Trong cuộc chiến đấu ở Nam Rhodesia, 2 máy cất cánh của hãng hàng không Air Rhodesia đã bị bắn hạ bởi SA-7 của quân nổi dậy.

Xem Thêm  Du Hành Giả

2K12 Kub (NATO gọi là SA-6 Gainful) – Liên Xô

Là hệ thống hoả tiễn cựu binh trải qua các cuộc xung đột ở châu Âu, châu Phi & Trung Đông, SA-6 Gainful trở nên nổi tiếng trong chiến đấu Yom Kippur năm 1973. SA-6 là hoả tiễn dẫn bằng radar lắn trên bệ phóng bánh xích. SA-6 có phạm vi đánh chặn khá lớn so với một hoả tiễn được kiến trúc vào cuối thập kỷ 1950, có khả năng đánh chặn máy cất cánh ở tầm 2,5-15 dặm & ở độ cao từ 164-45.000 bộ.

SA-6 trở nên khét tiếng trong chiến đấu Yom Kippur năm 1973, khi Ai Cập chiếm lại bán đảo Sinai. Quân đội Ai Cập đã có tới 32 đại đội SA-6 & sử dụng chúng để bảo vệ cuộc tiến quân của các tập đoàn quân số 2 & 3 của Ai Cập. Là một hệ thống mới mà phương Tây chưa từng gặp phải, bức xạ radar của SA-6 đã không bị các radar thông báo của Không quân Israel phát hiện.

Bị ngạc nhiên với cuộc tấn công bất thình lình của quân đội các nước Arab, Không quân Israel đã chẳng thể chế áp các hệ thống phòng không đối phương trước khi tham chiến. Trong 3 ngày đầu của trận chiến, Không quân Israel đã tổn thất gần 50 máy cất cánh, đa phần là bởi hoả tiễn SA-6. SA-6 đã có hiệu quả cao đến nỗi, vào ngày thứ ba của trận chiến, Tư lệnh Không quân Israel đã hạ lệnh cho các máy cất cánh dưới quyền tránh xa kênh đào Suez, trừ khi thật thiết yếu.

Không quân Israel đã đảm nhiệm vai trò “lực lượng pháo binh bay” cho Lục quân Israel, & SA-6 trong nhiều trường hợp đã làm cho các nhà cung cấp mặt đất của Israel mất đi sự yểm trợ của không quân. SA-6 tiếp tục là một mối đe dọa cho đến khi các hệ thống phòng không Ai Cập bị đánh sập bởi cuộc tấn công phối hợp của không quân & phản công của Israel. Đến cuối chiến đấu, Không quân Israel đã mất khoảng 40 chiếc F-4 Phantom & A-4 Skyhawk vì SA-6 (không kể các loại hoả tiễn khác hay pháo phòng không), tức là khoảng 14% số máy cất cánh F-4 & A-6 của Không quân Israel.

SA-6 đã phục vụ trong quân đội gần 30 nước & & vẫn tiếp tục được sử dụng trong quân đội 22 đất nước. Sự đe dọa của SA-6 so với máy cất cánh phương Tây đã giảm đáng kể sau khoảng thời gian những quả hoả tiễn bị Israel giành được & nghiên cứu, tìm thấy phương pháp ứng phó với chúng. SA-6 đã bắn rơi 2 chiếc F-16 Viper của Mỹ, 1 chiếc trên khung trời Iraq trong chiến đấu vùng Vịnh năm 1991 & 1 chiếc ở Bosnia vào năm 1995.

Lần diệt mục tiêu tiên tiến nhất của SA-6 là trong sự cố bắn nhầm tại Ba Lan vào năm 2003, khi một đại đội hoả tiễn SA-6 của Ba Lan vô tình bắn rơi một máy cất cánh tấn công phản lực Su-22 Fitter của Không quân Ba Lan trong tiến trình tập trận.

FIM-92 Stinger (Mỹ)

Stinger là hoả tiễn điển hình của MANPADS thế hệ 2. Stinger đã làm ra tên tuổi ở vùng núi Afghanistan, nơi nó trổ tài hiệu quả tác chiến cao chống trực thăng & máy cất cánh của Liên Xô, & việc sử dụng nó có thể đã rút ngắn cuộc chiến đấu này.

Giống như SA-7, Stinger được kiến trúc cho các lực lượng mặt đất của Mỹ để tự bảo vệ chống lại máy cất cánh tấn công mặt đất của đối phương. Khác với SA-7, Stinger có khả năng đánh chặn mọi góc độ, có nghĩa là, nó có thể phát hiện & phóng đạn chống máy cất cánh ở mọi góc độ, không những từ phía sau (bắn đuổi). Điều này cuối cùng đã đem lại cho các khẩu đội phòng không Mỹ khả năng bắn hạ máy cất cánh địch trước khi nó thực hiện cơ động vào tấn công, hoặc buộc máy cất cánh đối phương hủy bỏ thao tác vào tấn công.

Xem Thêm  Dấu hiệu lạ từ ‘trái tim hành tinh’: Trái Đất sắp đảo ngược sớm hơn 10 lần?

Các biến thể mới hơn của Stinger được trang bị đầu tìm hai chính sách làm việc trên hai dải hồng ngoại & cực tím. Các phương pháp ứng phó hồng ngoại như pháo sáng trước đó có hiệu quả gây nhiễu so với hoả tiễn lắp đầu tìm hồng ngoại, nhưng nay thì vô công dụng so với dải sóng cực tím. Stinger có đầu đạn to hơn các hoả tiễn thế hệ MANPADS thế hệ 1, giúp nó có nhiều thời dịp thực sự bắn rơi máy cất cánh chiến thuật thay vì chỉ làm chúng bị thương.

Mỹ khởi đầu âm thầm phân phối cho phiến quân Afghanistan hoả tiễn Stinger từ năm 1986. Năm trăm bệ phóng bốc vác & 1.000 quả hoả tiễn đã chuyển nhượng như cho “kẹo” cho lực lượng mujahedeen, & nạn nhân trước tiên của Stinger được cho rằng chiếc trực thăng Mi-8MT Hip hoạt động ở Jalalabad bị bắn rơi ngày 25/9/1986. Liên Xô đã mất gần 270 máy cất cánh từ năm 1986-1989.

Những thông tin về hiệu quả của Stinger ước tính từ khoảng 4-70%. Dẫu sao thì Không quân Liên Xô đã phải biến đổi chiến thuật & Lục quân đội Liên Xô thường bị mất đi sự yểm trợ đường không tầm gần & bị giới hạn về khả năng tiến hành các hoạt động sử dụng trực thăng.

MIM-104 Patriot (Mỹ)

Là một trong những loại hoả tiễn nổi tiếng nhất toàn cầu, hoả tiễn Patriot của quân đội Mỹ đã lừng danh trong chiến đấu vùng Vịnh năm 1991, khi nó được sử dụng để bảo vệ các lực lượng liên quân & các khu cư dân của Israel chống lại các hoả tiễn Scud của Saddam Hussein. Mặc dầu khi đó được khen ngợi như một thành công lớn, tỷ lệ thành công thực sự của Patriot được cho rằng chỉ ở trong phạm vi một con số.

Kể từ đó, Patriot đã được cải tiến hầu hết liên tục & kết quả là một hệ thống hoả tiễn hiện đại có khả năng chặn đánh các mục tiêu cất cánh theo các biên dạng cất cánh rất khác nhau. Được kiến trúc từ đầu chỉ để chống máy cất cánh, nay Patriot có thêm khả năng chặn đánh trực thăng, hoả tiễn quãng đường, hoả tiễn đường đạn & máy cất cánh không người lái. Khi tác chiến chống hoả tiễn đường đạn, Patriot dùng để đánh chặn đầu đạn hoả tiễn ở công đoạn cất cánh cuối.

Việc tiến triển Patriot đã phân thành hai loại hoả tiễn. Một đại đội Patriot có thể sử dụng cả 2 loại hoả tiễn để ứng phó được nhiều mối đe dọa. PAC-2/GEM có khả năng bắn hạ máy cất cánh, hoả tiễn quãng đường & ở một mức độ thấp hơn là hoả tiễn đường đạn chiến thuật. Mỗi bệ phóng được lắp 4 hoả tiễn này. PAC-2/GEM có tầm bắn 70 km & độ cao tác chiến tối đa là 84.000 bộ.

PAC-3 MSE được kiến trúc chỉ để đánh chặn hoả tiễn đường đạn. PAC-3 MSE cũng có kích cỡ bé hơn, nên một bệ phóng có thể lắp 12 quả hoả tiễn thay vì 4. Hoả tiễn này có tầm bắn 35 km & độ cao tác chiến tối đa là 112.000 bộ.

Patriot là sản phẩm của thập niên 1970-1980, giai đoạn mà khi phòng ngự hoả tiễn chiến trận chưa được luận bàn nghiêm túc, & được kiến trúc hoàn toàn để đánh chặn máy cất cánh. Theo thời gian, Patriot đã cho thấy khả năng thích ứng đáng ngạc nhiên. Bỏ mặc những thất bại trong chiến đấu vùng Vịnh năm 1991, trong cuộc xâm lược Iraq năm 2003, Patriot đã lập thành quả bắn hạ 9 quả hoả tiễn đường đạn chiến thuật của Iraq.

Nguyễn Hoàng

By ads_law

Trả lời