Bạn đang xem: phá tống bình chiêm

Tác giả: Hồ Bạch Thảo

Vua Lê Đại Hành họ Lê tên Hoàn, người đất Ái Châu [Thanh Hóa],[1] làm quan nhà Đinh đến chức Thập đạo tướng quân; khi quân Tống xâm lược nước ta, đem quân ra kháng cự thắng lợi, rồi thay nhà Đinh làm vua; ở ngôi 24 năm, thọ 65 tuổi [941 – 1005]. Vua trừ nội loạn lên ngôi, đuổi giặc ngoại xâm yên dân, trong nước thanh bình.

Trước kia cha vua là Mịch, mẹ là Đặng thị khi mới có thai giấc mơ thấy trong bụng nở hoa sen, chỉ chốc lát đã kết hạt, bèn lấy hạt chia cho mọi người, còn mình thì không ăn, tỉnh dậy không hiểu nguyên do vậy nào; đến ngày 15 tháng 7 năm Tân Sửu [941], sinh ra vua. Bà mẹ thấy con tướng mạo khác thường, lại nhân giấc mộng suy ra, bảo với mọi người rằng:

“Thằng bé này lớn lên, ta sợ không kịp hưởng lộc của nó“.

Được vài năm thì mẹ chết, sau đó cha cũng tạ thế, trơ trọi một thân, muôn vàn độc thân đói rét. Trong thôn có viên Xem xét họ Lê trông thấy lấy làm lạ, nói:

“Tư cách đứa trẻ này, người thường không sánh được“.

Lại thấy cùng họ, nên nhận làm con nuôi, sớm chiều chăm sóc dạy dỗ, không khác gì con đẻ. Lớn lên theo giúp Nam Việt Vương Đinh Liễn, tỏ ra phóng khoáng, có chí lớn. Vua Đinh Tiên Hoàng khen là người trí dũng, chắc thế nào cũng làm được việc, bèn giao cho cai trị 1 nghìn quân sĩ, thăng dần đến chức Thập đạo tướng quân điện tiền đô lãnh đạo sứ.

Tháng 10 năm Kỷ Mão [979] Vua Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn bị thích khách giết, bấy giờ vua nối dõi Đinh Toàn mới 6 tuổi; Lê Hoàn nhiếp chính, xưng là Phó vương. Bọn Định quốc công Nguyễn Bặc, Ngoại giáp Đinh Điền, Phạm Hạp ngờ Hoàn sẽ làm điều bất lợi cho vua nhỏ, bèn cùng nhau dấy binh, chia hai đường thủy bộ, muốn tiến về kinh đô giết Hoàn, nhưng không đánh nổi, bị giết. Trước đó khi Điền và Bặc cất quân, Thái hậu Dương thị nghe tin, lo sợ bảo Hoàn rằng:

“Bọn Bặc dấy quân khởi loạn làm kinh động nước nhà. Vua còn nhỏ yếu chưa kham nổi việc trừ nạn, các ông nên liệu tính đi chớ để tai họa về sau“.

Hoàn nói:

“Thần ở chức Phó Vương nhiếp chính, dù sống chết biến họa thế nào, đều phải đảm đương trách nhiệm“.

Rồi lo chỉnh đốn quân lữ, đánh nhau với Điền, Bặc ở Tây Đô.[2] Điền, Bặc thua chạy, lại đem quân thủy ra đánh. Hoàn nhân chiều gió phóng lửa đốt thuyền chiến, chém Điền tại trận, bắt được Bặc đóng cũi mang về kinh sư, kể tội rằng:

“Tiên đế mắc nạn, thần và người đều căm thẹn. Ngươi là bề tôi con lại nhân lúc tang tóc bối rối mà dấy quân bội nghĩa. Chức phận tôi con có đâu như thế?”.

Bèn chém đầu đem bêu cho công chúng thấy. Điền, Bặc đã chết, quân Phạm Hạp mất hết khí thế, tan chạy về hương Cát Lợi ở Bắc Giang; Hoàn dẫn quân đuổi theo, bắt sống được Phạm Hạp đem về Kinh sư.

Bấy giờ, Vua Tống Thái Tông Trung Quốc thấy tình trạng nước ta Vua bị giết, trong nước có loạn, muốn thừa dịp mang quân xâm lăng. Lại nhân nội bộ triều Tống, hai viên tân, cựu Tễ tướng Lư Đa Tốn và Triệu Phổ xích mích với nhau; Lư Đa Tốn tâu vua đày Hầu Nhân Bảo, cháu ngoại Triệu Phổ làm Tri Ung châu [Nam Ninh, Quảng Tây], không được trở về kinh đô. Nhân Bảo sợ bị chết già tại Ung châu, nên nhân loạn tại nước Đại Cồ Việt, bèn dâng sớ xin về kinh đô để tâu trình cụ thể. Không muốn cho Nhân Bảo về triều, Lư Đa Tốn xin Vua sai Hầu Nhân Bảo mang quân đi đánh An Nam gấp, như “sấm sét không kịp bịt lỗ tai”, để tạo thế ngạc nhiên. Thấy có lý, Vua Tống bèn chấp thuận. Sự việc được ghi lại trong bộ sử Tục Tư Trị Trường Biên[3] như sau:

“Trường Biên quyển 21. Năm Thái Bình Hưng Quốc thứ 5 [980]

Tháng 6, Thái thường bác sỹ tri Ung Châu Hầu Nhân Bảo; nhân người cha tên Ích sống tại Lạc Dương, có nhà lớn ruộng tốt, sống nhàn du thích thản, không muốn làm quan, vợ là em gái của Triệu Phổ, Phổ là Tễ tướng, Nhân Bảo làm quan tại phân ty tây kinh. Lư Đa Tốn có xích mích với Phổ, nên tâu vua cho Nhân Bảo làm Tri Ung Châu, trong vòng 9 năm không được trở về kinh. Nhân Bảo sợ thời gian kéo dài chết già nơi xa xôi ngoài Ngũ Lãnh, bèn dâng sớ tâu rằng:

‘Chủ soái Giao Châu bị hại, nước này có loạn, có thể mang quân lấy được; xin ban chiếu chỉ cho về kinh, trực tiếp tâu, khiến tình trạng được rõ ràng.’

Thu được tờ sớ vua rất mừng, mệnh cho dịch trạm gọi đến. Lúc mệnh chưa thi hành, thì Đa Tốn bèn tâu:

‘Giao Chỉ nội bộ nhiễu loạn, đây là lúc trời bắt diệt vong. Triều đình nên thừa lúc không ngờ, mang quân tập kích, như sét đánh không kịp bịt tai. Nay nếu gọi Nhân Bảo về triều, tất tiết lộ cơ mưu, bọn man biết được, dựa vào sông núi dự bị, thì không dễ gì chiếm. Chi bằng giao cho Nhân Bảo thi hành cấp tốc, ước tính công việc, tuyển tướng đều quân Kinh Hồ [Hồ Bắc, Hồ Nam] 1,2 vạn, tiến nhanh đuổi dài, thế tất vạn toàn, dễ hơn bẻ cành khô, củi mục’.

Nhà Vua cho rằng phải.”[4]

Vua Tống Thái Tông bèn sai khiến cho các đạo quân thủy bộ từ Ung châu [Nam Ninh], Liêm châu, và kinh sư lên đường viễn chinh, dưới quyền lãnh đạo của Hồng Nhân Bảo:

“Trường Biên quyển 21. Năm Thái Bình Hưng Quốc thứ 5 [980]

Ngày Đinh Vị tháng 7 mùa thu [19/8/980], dùng Nhân Bảo làm Thủy lục chuyển vận sứ Giao Châu; Đoàn luyện sứ Lan Châu Tôn Toàn Hưng, Bát tác sứ Hác Thủ Tuấn, Án bí khố sứ Trần Khâm Tộ, Tả giám môn vệ tướng quân Thôi Lượng, tổng phối trí lộ binh mã Ung Châu. Thứ sử Ninh Châu Lưu Trừng, Quân khí khố phó sứ Giả Thực, Cung phụng quan cáp môn chi hầu Vương Soạn, Tổng phối trí lộ binh mã Liêm Châu; thủy lộ cùng tiến đánh dẹp. Ngày Canh Tuất [22/8] bọn Toàn Hưng vào từ biệt; mệnh Tiến sứ Lương Huýnh tiễn tướng sĩ hành doanh tại vườn Ngọc Tân.”[5]

Bấy giờ quan tại Lạng Châu [Lạng Sơn] nước Đại Cồ Việt nghe tin quân Tống sắp kéo sang, liền làm tờ tâu báo về. Thái hậu sai Lê Hoàn mang quân đi đánh giặc, dùng người ở Nam Sách Giang[6] là Phạm Cư Lạng làm đại tướng quân. Khi triều đình đang bàn plan xuất quân, Cự Lạng cùng các tướng quân khác đều mặc áo trận đi thẳng vào Nội phủ, nói với mọi người rằng:

“Thưởng người có công, giết kẻ trái lệnh là phép sáng để thi hành việc quân. Nay chúa thượng còn trẻ thơ, tất cả chúng ta dẫu hết sức liều chết để chặn giặc ngoài, may có chút công lao, thì có ai biết cho? Chi bằng trước hãy tôn lâp ông Thập đạo làm Thiên tử, sau đó sẽ xuất quân thì hơn“.

Quân sĩ nghe vậy đều hô:

“Vạn tuế “.

Thái hậu thấy mọi người vui lòng quy phục bèn sai lấy áo long cổn[7] khoác lên người Lê Hoàn, mời lên ngôi ngọc hoàng. Từ đó Hoàn lên ngôi ngọc hoàng, đổi niên hiệu là Thiên Phúc, năm thứ nhất [980], giáng phong vua cũ Đinh Toàn làm Vệ Vương.

Tháng 10 vua sắp phát binh, trước đó sai nha hiệu là Giang Cự Vọng, Vương Thiệu Tộ mang thư sang Tống giả làm thư của Vệ Vương Toàn thỉnh điểm kết nối ngôi cha, xin ban cho mệnh lệnh chính thức, ý muốn hoãn binh nhà Tống. Nhưng lúc này vua Tống đang điều quân sang đánh nước ta, nên dìm đi không trả lời; sự việc chép trong Trường Biên như sau:

“Trường Biên quyển 21. Năm Thái Bình Hưng Quốc thứ 5 [980]

Ngày Canh Tý tháng 11 [10/12/980], Lê Hoàn sai Nha hiệu Giang Cự Sâm [Vọng], Vương Thiệu Tộ mang sản vật địa phương đến cống; vẫn lấy tên Đinh Toàn dâng biểu, tự nói rằng theo lời xin của tướng lại quân dân lãnh Tiết độ hành quân tư mã, tạm lãnh việc quân vụ; xin triều đình chính thức ban mệnh. Bấy giờ quân Tôn Toàn Hưng đã xuất hành, vua xét ý Hoàn muốn hoãn binh, nên dìm không đáp.”[8]

Sử nước ta, Toàn Thư chép về trận chiến như sau:

Xem Thêm  CHIM KHƯỚU Hót Cực Sung, Kèm Tiếng Mái Ro Ro Kích Bổi Cực Nhanh Lên Lửa. video dài kích Bổi Thả Ga - chimkhieu

“Mùa xuân, tháng 2, Hầu Nhân Bảo, Tôn Hoàng Hưng đến Lạng Sơn, Trần Khâm Tộ đến Tây Kết, Lưu Trừng đến sông Bạch Đằng. Vua tự làm tướng đi chặn giặc, sai quân sĩ đóng cọc ngăn sông Chi Lăng.[9] Vua sai quân sĩ trá hàng để dụ Nhân Bảo, đem chém. Bọn Khâm Tộ nghe tin quân thủy thua trận, dẫn quân về. Vua đem các tướng đánh, quân của Khâm Tộ thua to, chết đến quá nửa, thây chết đầy đồng, bắt được tướng giặc là Quách Quân Biện, Triệu Phụng Huân đem về Hoa Lư. Từ đó trong nước rất yên. Bầy tôi dâng tôn hiệu là Minh Càn Ứng Vận Thần Vũ Thăng Bình Chí nhân quảng Hiếu Hoàng Đế.” (Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 1)

Phối kiểm với Trường Biên sử Trung Quốc, xác nhận thủy quân Trung Quốc thắng lợi tại cửa sông Bạch Đằng, nhưng không liên lạc được với bộ binh.  Cũng tương tự với Toàn Thư, chép bị mắc mưu trá hàng, chủ tướng Tôn Toàn Hưng bị giết; riêng tù binh như Quách Quân Biện thì Trường Biên ghi vào năm Tống Ung Hy thứ 3 [986], Sứ thần Lý Nhược Chuyết sang nước ta nhận về.[10] Lại chép thêm quân Tống lúc trở về, rã ngũ cướp phá; các tướng lãnh bị xử tử, trách phạt nặng nề. Sự kiện ghi trong 2 văn bản dưới đây:

“Trường Biên quyển 21. Năm Thái Bình Hưng Quốc thứ 5 [980]

Ngày Tân Mão tháng 12 [30/1/981], hành doanh Giao Châu báo phá hơn vạn quân giặc, chém 2.345 thủ cấp.”[11]

Trường Biên, quyển 22. Năm Thái Bình Hưng Quốc thứ 6 [981]

Tháng 3, hành doanh Giao Châu báo đánh phá quân giặc vạn 5 ngàn tại cửa sông Bạch Đằng, chém hơn 1.000 thủ cấp, lấy được 200 chiến thuyền, áo giáp hàng vạn. Ngay lúc đó Hầu Nhân Bảo đốc suất tiền quân tiến trước; bọn Tôn Toàn Hưng đóng quân tại Hoa Bộ 70 ngày để đợi Lưu Trừng, Hầu Nhân Bảo đốc thúc nhưng không đi. Khi Trừng đến, cùng theo đường thủy bộ đến thôn Đa La nhưng không gặp giặc, lại tự tiện trở về Hoa Bộ. Giặc hứa hàng để dụ Nhân Bảo; Nhân Bảo tin nên bị hại. Có 2 quân thua trận chạy về ấp chợ, đoạt tiền dân, bị Chuyển vận sứ Chu Vị bắt chém; những kẻ đến sau đều ra lệnh cởi áo giáp đi vào, dân mới yên. Lúc bấy giờ quân trải qua lam chướng, lại có nhiều người chết; Chuyển vận sứ Hứa Trọng Tuyên chuyển thư tâu Nhân Bảo tử trận, lại xin ban sư; không đợi báo, chia quân đồn trú tại các châu, mở kho ban thưởng, cấp cho thuốc men; rồi bảo rằng: “Nếu chờ cho phép, thì mấy vạn người đều chất thây nơi đồng rộng”.

Tiếp đó dâng sớ tự đàn hặc, chiếu thư khen [Trọng Tuyên] và chấp thuận; sai sứ hặc tội bọn Trừng. Rồi Vương Soạn bị bệnh chết, Trừng và Giả Thực bị giết tại chợ Ung Châu. Bắt bọn Toàn Hưng vào ngục, xử tử Toàn Hưng; Trần Khâm Tộ, Hác Thủ Tuấn, Thôi Lượng đều bị trách phạt, giao cho chức Đoàn luyện phó sứ, Khâm Tộ tại Khánh châu; Thủ Tuấn tại Từ châu; Lượng tại Lam châu. Truy tặng Nhân Bảo Thị lang bộ Công, cho 2 con ra làm quan.”[12]

Nhân Chuyển vận sứ Điền Tích dâng sớ can gián việc gây hấn với nước ta, Vua Tống Thái Tông mang lời biện bạch, và hứa chấm hết chiến tranh:

“Ngày Nhâm Dần tháng 9 [8/10/981], dùng Điền Tích làm Chuyển vận phó sứ Hà Bắc nam lộ, Tích vào triều từ biệt, nhân tiến dâng mật tấu như sau:

“…Nay Giao Chỉ chưa lấy được, chiến sĩ không lập được công, sách Xuân Thu[13] chép “Quân mệt, phí tiền tài” binh thư cho rằng “quân lính yếu nhụt, nhuệ khí tỗn thương”. Thần nghe thánh nhân không ham mở rộng cường thổ, chỉ mong mở rộng đức trạch; nếu thanh danh giáo hóa vươn ra, thì kẻ phương xa tự tìm đến. Thần đọc Hàn Thi Ngoại Truyện chép thời Chu Thành Vương, sứ Việt Thường trải qua mấy lần thông dịch đến cống. Chu Công hỏi nguyên nhân, thì nói rằng:

‘Nước tôi 3 năm nay không thấy gió bão, mưa lụt, biển không có sóng giữ. Chắc Trung Quốc có thánh nhân, nên đến triều kiến.’

Như vậy thấy rằng không cần dùng thêm binh, tự nhiên nội phụ. Giao Châu ở nơi biển lam chướng, giành được như thu hoạch ruộng đá. Xin Thánh thượng nghĩ đến chinh chiến quân lính lao khổ, phải tiêu dùng nhiều, thương người, tiếc sức, không đồn trú binh khiến tiêu phí của cải; tu sửa đức, khai phục đất hoang, không vơ vét trong nước để lo chinh chiến bên ngoài, gấp ban chiếu cho họ, khoan hồng bỏ việc đánh dẹp; hà tất phải mệt nhọc giận dữ so với man nhỏ nhắn phương nam; này là một trong những điều đại thể…..”

Vua ban cho chiếu thư rằng:

“Xét nội dung tấu thư đưa lên, dùng điển tích cũ để can gián việc hiện tại, có những điều phạm bề trên nhưng không che dấu, ở địa vị phải trình bày những điều nên làm, hoặc cải bỏ, can đảm dám nói, phản tỉnh suy tư, đáng khen. Nhưng việc nước, xét có những nguyên nhân. Trẫm cho rằng Giao Chỉ xưng là phiên thần, đời đời lo chức cống; mới đây nghe tin tặc thần soán đoạt, hại cả gia đình chủ soái, bèn cử binh để cứu giúp; không phải vì tham đất đai, nay bỏ việc can qua….”.[14]

***

Về việc bất trộn với nước Chiêm Thành; kể từ khi vua Đinh Tiên Hoàng mất đến dưới thời vua Lê Đại Hành, trong vòng 4 năm xảy ra 3 vụ:

-Vụ thứ nhất vào cuối năm 979, sau khoảng thời gian vua Đinh Tiên Hoàng bị thích khách giết; thủ phạm “cõng rắn cắn gà nhà ” là con rể Đinh Tiên Hoàng, Phò mã Ngô Nhật Khánh. Do Tiên Hoàng lấy mẹ Nhật Khánh làm vợ, nên y thù hận; thừa dịp vua Đinh mất, xui người Chiêm Thành vào cướp phá Đại Cồ Việt, Toàn Thư chép như sau:

“Phò mã Ngô Nhật Khánh dẫn thuyền quân Chiêm Thành hơn nghìn chiếc vào cướp, muốn đánh thành Hoa Lư, theo hai cửa biển Đại Ác[15] và Tiểu Khang,[16] qua một đêm, gặp gió bão nổi lên, thuyền đều lật đắm, Nhật Khánh cùng bọn người Chiêm đều chết trôi, chỉ có thuyền của vua Chiêm thoát trở về nước. Nhật Khánh là  cháu của Ngô Tiên chúa Quyền, trước xưng là An Vương, cùng 12 sứ quân mỗi người chiếm giữ một vùng. Tiên Hoàng dẹp yên, lấy mẹ Khánh làm hoàng hậu, lấy em gái Khánh làm vợ Nam Việt Vương Liễn, còn lo sinh biến, lại đem công chúa gã cho Khánh, ý muốn dập hết lòng oán vọng của hắn. Nhật Khánh ngoại hình cười nói như không, nhưng trong lòng vẫn bất bình, bèn đem cả vợ chạy sang Chiêm Thành, đến cửa biển Nam Giới[17] rút đao ngắn xẻo má vợ kể tội rằng:

‘Cha mày lừa dối ức hiếp mẹ con ta, lẽ nào ta vì mày mà quên tội ác của cha mày hay sao? Cho mày trở về, ta đi đằng khác tìm kẻ có thể cứu ta’.

 Nói xong bèn đi. Đến đây nghe tin Tiên Hoàng bang hà, Khánh dẫn người Chiêm vào cướp.”

-Vụ thứ hai, do nước Chiêm Thành bắt giữ Sứ thần Đại Cồ Việt, vua Lê Đại Hành bèn mang quân rửa hận, đánh đến tận kinh đô nước này:

“Nhâm Ngọ, năm thứ 3 (982).

Vua thân đi đánh Chiêm Thành, thắng được. Trước đó vua sai Từ Mục, Ngô Tử Canh sang sứ Chiêm Thành, bị người Chiêm bắt giữ. Vua giận, sai đóng chiến thuyền sửa binh khí, tự làm tướng đi đánh, chém Bê Mi Thuế[18] tại trận. Chiêm Thành thua to. Bắt sống được quân sĩ của chúng nhiều vô kể, cùng là kỹ nữ trong cung trăm người và một nhà sư người Thiên Trúc, lấy các đồ quý đem về, thu được vàng bạc của báu kể hàng vạn, san phẳng thành trì, phá hủy tông miếu, vừa một năm thì trở về kinh sư.” (Toàn Thư, Bản Kỷ {q}.1, trang 16 α)

Có vẻ muốn biểu dương lực lượng để răn đe kẻ thù phương Bắc, nên sau khoảng thời gian thắng lợi Vua mang một số tù binh cho nhà Tống:

Trường Biên quyển 23. Năm Thái Bình Hưng Quốc thứ 7 [982]

“Tháng 12 nhuần, trước đó Giao châu muốn đem 93 người Chiêm Thành bị nước này bắt, đem hiến [Trung Quốc]. Thiên tử lệnh cho Quảng châu giữ những người này lại, cấp cho y phục, lương thực trở về nước, cùng chiếu dụ Vương nước này. Đến nay nước Chiêm Thành sai sứ cửi voi đến cống sản vật địa phương; chiếu thư cho giữ voi tại Nam Hải [Quảng Đông].”[19]

Xem Thêm  Top 10 Máy Xúc Khai Khoáng Lớn Nhất Thế Giới, Top 10 Máy Xúc Thuỷ Lực Lớn Nhất Trên Thế Giới - may xuc khong lo

-Vụ thứ ba, về nguyên nhân cuộc hành quân đánh Chiêm Thành trong vụ này, Toàn Thư chép rằng có một viên quan tên là Lưu Kế Tông trốn tại Chiêm Thành nên vua Lê Đại Hành sai con nuôi đi đánh:

“Quý Mùi, Thiên Phúc/ năm thứ 4[ 983 ], (Tống Thái Bình Hưng Quốc năm thứ 8). …Trước kia vua đi đánh Chiêm Thành, Quảng Giáp Lưu Kế Tông trốn ở lại nước ấy. Đến đây, vua sai người con nuôi (không rõ tên) đi bắt được Kế Tông, đem chém.”

Nhưng trong biểu văn gửi cho vua Tống thì xưng rằng Chiêm Thành mang mấy vạn quân sang cướp phá; xét ra Chiêm Thành mới thua bại vào năm trước, chưa có khả năng làm điều này:

Trường Biên, quyển 24. Năm Thái Bình Hưng Quốc thứ 8 [983]

Tháng 5, Giao châu tâu nước Chiêm Thành mang mấy vạn quân thủy bộ voi ngựa đến cướp phá; bèn điều động quân dưới quyền đánh đuổi, bắt và chém mấy ngàn tên.”[20]

***

Trải qua trên 1.000 năm lịch sử, có nhiều lời bàn về vua Lê Đại Hành, nhưng tựu trung chưa có ý kiến nào vượt qua nhận xét của Sử gia đời Trần, Lê văn Hưu; vậy xin trân trọng chép vào đây:

“Lê Văn Hưu nói: Lê Đại Hành giết Đinh Điền, bắt Nguyễn Bặc, tóm Quân Biện, Phụng Huân dễ như lùa trẻ con, như sai nô lệ, chưa đầy vài năm mà bờ cõi định yên, công đánh dẹp chiến thắng dẫu là nhà Hán, nhà Đường cũng không hơn được.Có người hỏi: Đại Hành với Lý Thái Tổ ai hơn? Thưa rằng: Kể về mặt trừ dẹp gian trong, đánh tan giặc ngoài, làm mạnh nước Việt ta, ra oai với người Tống thì Lý Thái Tổ không bằng Lê Đại Hành có công lao gian khổ hơn. Nhưng về mặt tỏ rõ ân uy, lòng người suy tôn, hưởng nước lâu dài, để phúc cho con cháu thì Lê Đại Hành không bằng Lý Thái Tổ lo tính lâu dài hơn. Thế thì Lý Thái Tổ hơn ư ? Đáp: Hơn thì không biết, chỉ thấy đức của họ Lý dày hơn họ Lê, vì thế nên noi theo họ Lý.”[21]

—————–

Chú thích

[1] Đại Việt Sử Ký Toàn Thư xin viết tắt là Toàn Thư [Bản Kỷ, q. 1] chép Lê Hoàn người đất Ái Châu, tức Thanh Hóa ngày nay. Đại Việt sử lược ({q}.1, 18b) chép Lê Hoàn người Trường Châu, nay thuộc tỉnh Ninh Bình. Đại Việt sử ký tiền biên ({q}.1) phần chính văn bản chép Lê Hoàn người Ái Châu, nhưng phần cước chú lại ghi Lê Hoàn người Bảo Thái, huyện Thanh Liêm nay thuộc tỉnh Hà Nam.

[2] Tây Đô: Vì Lê Hoàn người Ái Châu [Thanh Hóa], sau lên ngôi đóng đô ở Hoa Lư, Ninh Bình; vì thế sử gọi Ái Châu là Tây Đô.

[3] Tục Tư Trị Thông Giám, Soạn giả Lý Đào đời Tống, xin viết tắt là Trường Biên.

[4] 太常博士、知邕州侯仁寶,因其父益居洛陽,有大第良田,優游自適,不欲親吏事。其妻,趙普之妹也,普為宰相,仁寶得分司西京。盧多遜與普有隙,因白上以仁寶知邕州, 凡九年不得代。仁寶恐因循死嶺外,乃上疏言:「交州主帥被害,其國亂,可以偏師取之,願乘傳詣闕面奏其狀,庶得詳悉。」疏至,上大喜,令馳驛召,未發,多遜遽奏曰:「交阯內擾,此天亡之秋也,朝廷出其不意,用兵襲擊,所謂疾雷不及掩耳。今若先召仁寶,必泄其謀,蠻寇知之,阻山海預為備,則未易取也。不如授仁寶以飛輓之任,因令經度其事,選將發荊湖士卒一二萬人,長驅而往,勢必萬全,易於摧枯拉朽也。」上以為然。

[5] 秋七月丁未,以仁寶為交州路水陸轉運使,蘭州團練使孫全興、八作使郝守濬、鞍轡庫使陳欽祚、左監門衛將軍崔亮為邕州路兵馬都部署,寧州刺史劉澄、軍器庫副使賈湜、供奉官閤門祗候王僎為廉州路兵馬都部署,水陸並進討。庚戌,全興等入辭,命引進使梁迥餞行營將士於玉津園。

[6] Nam Sách: nay thuộc huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.

[7] Long cổn: áo vua mặc, thêu rồng chầu.

[8] Vào tháng 11, Geng Zishuo, Li Huan phái nha khoa Jiang Jusheng và Wang Shaozuo đến cống nạp. Theo yêu cầu của các tướng lĩnh, quan chức, quân đội và dân thường , [9], ông đã hạ lệnh cho Tư Mã Hành quân, và ông có quyền lãnh đạo các công việc của quân đội và chính phủ. Khi đó, Tôn Quân Hưng và những người khác đã hết thời gian rời khỏi sư đoàn, vì vậy họ xác minh ý định của mình, muốn hòa hoãn việc xuất quân, nhưng lại lên giường không giải trình.

[9] Sông Chi Lăng: theo Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục , viết tắt Cương Mục [Chính biên q.1, tr. 18] chú sông Chi Lăng tức sông Thương, đoạn qua Chi Lăng, Lạng Sơn.

[10] Văn bản tại Trường Biên ngày Canh Thân tháng 10 [29/11/986] Sứ giả bộ Lý Nhược Chuyết nhận Quách Quân Biện Về; Tronog văn bản có đn chép: “lại từ khước lễ vật, tù nhận công trình biện pháp trước kia giám đốc, nhưng mang trở về, nhưng nó khá riêng tư. Nhận dạng và quay trở lại”.

[11] Xin Mao, Jiaozhou Xingying cho biết đã phá án hơn 10.000 tên trộm và chặt đầu 2.345 cấp độ.

[12] Jiaozhou Xingyingyan đại phá đạo quân trộm cắp 15.000 người ở cửa sông Baiteng, chặt đầu hơn 1.000 hạng, thu phục 200 thiết giáp hạm và hàng chục nghìn thiết giáp. Kết quả là Hou Renbao đi đầu đội quân tiên tiến, còn Sun Quanxing và các quân sĩ khác đã tiến công 70 ngày để giết Liu Cheng, nhưng Renbao liên tục thúc giục ông ta thất bại. Khi Chengcheng đến, quân đội phối hợp đến làng Doluo bằng đường thủy, không gặp trộm, và họ quay trở lại Huabu. Những tên trộm đã lừa dối và đầu hàng để dụ Renbao, nhưng Renbao tin tưởng vào anh ta, và anh ta đã bị hại. Có hai tên bại trận lần đầu vào thành, lấy tiền của dân, sai Chu Ngụy bắt và chém đầu. Lúc bấy giờ, quân bị chướng khí, người chết rất nhiều, sứ quân Từ Trung Nguyên phi nước đại đến chơi trò Compal War, van xin thầy, không đợi báo đáp, bèn chia các phủ, mở kho bạc, và cho họ thuốc men. Sau đó, xác của hàng chục ngàn người sẽ chất thành đống trên cánh đồng rộng lớn. “Trong chương cuối, ông ta tự luận tội mình, và sắc lệnh đã chấp thuận cho ông ta, và cử sứ giả đến luận tội Cheng, 𝒱.𝒱. [6 ]. Hui Wang Ding chết vì bệnh, Cheng và Jia Ni cùng bị giết ở Tp Yongzhou. Zheng Quanxing và những người khác bị tóm gọn giam, và Quanxing bị xử tử; Chen Qinzuo, Hao Shoujun và Cui Liang đều được giao làm phó sứ quân huấn luyện trung đoàn, Qinzuo Qingzhou, Junjun Cizhou và Lianglanzhou. Được tặng như một món quà cho bộ trưởng lao động của Compal và con trai thứ hai của ông.

[13] Xuân Thu : sử nước Lỗ, tương truyền do Khổng Tử soạn thảo.

[14] Ren Yin, với thiếc là phó phái viên quá cảnh của Đường Nam Hà Bắc. Kể từ khi ông Tập bước vào bài phát biểu, ông ấy đã đi thẳng vào con dấu và nói….

Ngày nay, Giao Châu chưa xuống, binh đao không thành, Xuân Thu gọi là “Sư phụ tốn tiền”, sách binh thư gọi là “Binh cùn thất sắc”. Tôi nghe nói rằng hiền nhân không quan tâm đến lãnh thổ rộng lớn, mà chỉ quan tâm đến những đức tính rộng rãi. Thừa tướng thử đọc tiểu sử thơ Hán, khi Chu Thành Vương làm vua, Nhạc Thường Kiện đến cống, Chu tước bèn hỏi rằng: Trời nước này không có gió và mưa, và biển ba năm không lên, vào triều ”Nghĩa là biết không cần thêm quân, tự nhiên quyến luyến. Jiaozhou gọi nó là biển chướng khí, và lấy được nó giống như lấy được một cánh đồng đá. Xin hoàng thượng niệm công khai phá đồn trú, coi trọng việc viễn chinh, thương người quý trọng công sức, không tốn tiền binh, tu dưỡng đạo đức mà phục nạn đói kém, không màng đến nội công, khẩn thiết sai khiến cho các chấp sự, và để họ trừng trị và cuốc đất, vì sao phải làm phiền Zou, mệt mỏi vì tức giận, đây là một trong những vị tướng …

Bản sắc phong ban tặng, viết: “Văn thư do tỉnh, người xưa châm biếm hiện tại, có kẻ tội đồ nhưng không có chỗ che giấu, ở nơi cung phụng thay thế, bá đạo vu oan, truy phong.” so với họ trong một thời gian dài và đánh giá chát họ. nhà của lãnh đạo của họ.>

[15] Đại Ác: Theo Cương Mục , Đại Ác sau đổi thành Đại An, tại xã Quần Liêu, huyện Đại An, nay is the window River.

[16] Tiểu Khang: theo Cương Mục thuộc huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình nay là Cửa Càn.

[17] Nam Giới: tên cửa biển ở phía Nam, gần Chiêm Thành, còn tên là Cửa Sót, nay thuộc huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. / ᴘ>

[18] Chú thích của bản dịch Toàn Thư : Bê Mi Thuế: Đại Việt sử lược ({q} .1, 19b) nói là vua Chiêm, Cương mục (CB1, 19a) nói là tướng Chiêm. ₲.Maspéro khôi phục tên Phạn ngữ của người này là Parames’varavarman Ι (Le Royaume de Cham ); nhưng vẫn coi là giả thuyết vì không có nền tảng xác nhận dữ liệu

[19] Trước hết, Jiaozhou muốn phân phối chín mươi ba tù nhân từ Champaign và sai khiến cho Quảng Châu ngăn chặn các tù nhân và gửi họ trở lại Zhancheng cùng quần áo và vật dụng. Đến nhà vua. Vì vậy, Champaign đã cử sứ thần cưỡi voi đến cống nạp, đồng thời sai khiến giữ voi ở Biển Đông.

[20] Jiaozhou nói rằng hàng chục nghìn tên cướp biển tới từ vùng đất và vùng biển của Champaign, và dẫn quân của họ đánh đuổi chúng, và hàng ngàn tù nhân đã bị giết .

Xem Thêm  Là Gì? Nghĩa Của Từ Sarcasm Là Gì, Nghĩa Của Từ Sarcastic Sarcastic Là Gì, Nghĩa Của Từ Sarcastic - sarcastic là gì

[21] Toàn Thư , Bản Kỷ, Quyển 1, trang 14 ɓ.


Xem thêm những thông tin liên quan đến đề tài phá tống bình chiêm

Tất Tần Tật Về Tây Tạng – Đế Quốc Thổ Phồn

alt

  • Tác giả: PSMH
  • Ngày đăng: 2022-04-25
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 4892 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: psmh tibet
    Tất Tần Tật Về Tây Tạng – Đế Quốc Thổ Phồn
    Khu Tự Trị Tây Tạng Vùng Đất Của Các Lạt Ma
    Nhóm FB nới các bạn đóng phản hồi kiến, ủng hộ nội dung cho kênh, Ủng hộ vật chất, hoặc có nội dung hay muốn kênh chỉnh sửa video:
    https://www.facebook.com/groups/606853340648190
    Các bạn có thể ủng hộ cho kênh qua STK Agribank: 8410555569999 hoặc Momo 0948300556. xin trân trọng cảm ơn
    Lưu ý: PSMH không sở hữu toàn bộ tư liệu được sử dụng trong video này. Một số tư liệu được sử dụng trong video thuộc về các chủ sở hữu đáng tôn trọng.
    Mọi thắc mắc về bản quyền, tài trợ, quảng cáo, hợp tác vui lòng liên hệ thư điện tử: hoansinhbgia@gmail.com
    We do NOT own all the materials as well as footages used in this video. Please contact hoansinhbgia@gmail.com for copyright matters!
    Cảm ơn các bạn đã theo dõi video. Hãy đăng ký kênh để theo dõi nhé

Lý Thường Kiệt – đánh Tống, bình Chiêm

  • Tác giả: dongduongcomo.wordpress.com
  • Nhận xét: 5 ⭐ ( 8013 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Nam quốc sơn hà Nam đế cư            Tiệt nhiên định phận tại Thiên thư      Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm       Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư Lý Thường Kiệt vốn là một thái giám. Thế quái nào mà người người hùng đánh Tống bình Chiêm, tác…

Thăm đền thờ vua Lê Đại Hành nghe kể chuyện “phá Tống bình Chiêm”

  • Tác giả: vhds.baothanhhoa.vn
  • Nhận xét: 5 ⭐ ( 2400 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: So với lịch sử hàng ngàn năm dựng nước – giữ nước của dân tộc Việt, sự tồn tại của triều đại phong kiến Tiền Lê chỉ kéo dài gần 30 năm. Vậy nhưng, dưới sự trị vì của vua Lê Đại Hành – người sáng lập vương triều thì này là những năm tháng mà vị trí Đại Cồ Việt được nhất định. Về thăm Di tích quốc gia đặc biệt đền thờ Lê Hoàn xã Xuân Lập (Thọ Xuân) với tấm lòng ngưỡng vọng thành kính, trong không gian thiêng, hậu thế nghe như có tiếng vọng về từ ngàn xưa kể chuyện vua Lê Đại Hành “phá Tống bình Chiêm” vang danh một thuở.

Tóm Tắt: Nhà Lý | Phá Tống – Bình Chiêm – Phục hưng quốc gia | Lịch sử phong kiến Việt Nam -Góc lịch sử

  • Tác giả: bingbong.vn
  • Nhận xét: 5 ⭐ ( 9010 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm:

Lý Thường Kiệt: 19 năm ổn định và phát triển vùng đất Thanh Hóa

  • Tác giả: trithucvn.org
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 4595 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Lý Thường Kiệt là một vị tướng có nhiều công lao trong lịch sử, giúp Đại Việt phá Tống bình Chiêm. Tuy nhiên, ông đã giành 19 năm để…

Lý Thường Kiệt, Người người hùng ‘phá Tống, bình Chiêm’ một cuộc sống bi thông!

  • Tác giả: www.blogcamxuc.net
  • Nhận xét: 3 ⭐ ( 4508 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Tôi sẽ khởi đầu bằng một nhận định. Các bạn hãy nhớ nhận định này, và hiểu thêm về lịch sử dân tộc. Lịch sử dân tộc này có 2 vị thái giám đóng vai trò cực kỳ trọng yếu trong dòng chảy của quốc gia, đây là hai người người hùng đã bẻ lái lịch sử. Là khai quốc công thần sáng lập triều đại, là người người hùng trị nước, là đại tướng quân đánh dẹp. Người trước hết là tả quân Lê Văn Duyệt – khai quốc công thần nhà Nguyễn, người hạ gục Tây Sơn trên đầm Thị Nại, vị tổng trấn đã tạo thành gương mặt của Gia Định ngày đầu, nền tảng cho SaiGon – TP.HCM của ngày ngày hôm nay. Và người thứ hai, vị người hùng đánh giặc xâm lăng của dân tộc: Thái Úy Lý Thường Kiệt.

    Lý Thường Kiệt, Người người hùng ‘phá Tống, bình Chiêm’ một cuộc sống bi thông!
    Giờ đây, ta sẽ nói một tí về đề tài thái giám. Quan niệm của tất cả chúng ta về thái giám thời phong kiến thỉnh thoảng lệch lạc, một phần cũng chính vì các bộ phim truyền hình Trung Quốc mà ta hay được xem. Đó hoặc là những kẻ bệnh hoạn, những kẻ tham ô, hoặc những kẻ nhũng loạn triều chính người người đòi tru diệt. Đấy là Triệu Cao, là Thập Thường Thị, là Ngụy Trung Hiền…
    Thái giám Việt Nam thì sao? Cũng như nhiều nhân vật lịch sử thời nhà Nguyễn. Lịch sử tất cả chúng ta đã lãng quên nhiều vị thái giám rất giỏi. Ngoài hai người uy vũ văn võ song toàn Lê Văn Duyệt và Lý Thường Kiệt ở trên. Ngày hôm nay, tôi sẽ cho các bạn hai tên gọi nữa. Một người là thiết kế sư, và người kia uy vũ chẳng kém Lý Thường Kiệt hay Lê Văn Duyệt, nhưng đã rớt lại trong dòng chảy dân tộc.

    1/ Nguyễn An: tôi không ngạc nhiên nếu các bạn tròn mắt “Ủa ai đây? Nghe lạ hoắc vậy ta?” Nếu tôi có chút quyền trong tay, tôi cho tên gọi này trở thành “Ông tổ của Kiến trúc sư Việt Nam” không chừng. Tuy thế chắc không đâu. Bởi điều ta tự hào tới đây mang tính chất “gốc Việt” nhiều hơn là tính chính thống.

    Người mà các bạn vừa phát âm ra đấy chính là vị TỔNG CÔNG TRÌNH SƯ đã xây dựng TỬ CẤM THÀNH BẮC KINH dưới thời Minh Thành Tổ. Khi các bạn qua du lịch Trung Quốc hay các bạn du học viên Việt Nam ở Trung Quốc. Các bạn hãy nhớ rằng, cửa Chính Dương, thường hay gọi là Tiền Môn, ở phía Nam quảng trường Thiên An Môn hiện tại chính là do ông xây dựng. Quốc Học (Quốc tử giám) giờ là thư viện Bắc Kinh cũng do ông xây nên. Bắc Kinh ngày hôm nay có dấu ấn của người Việt ta.

    Thiết kế sư Nguyễn An quê gốc Hà Đông (Hà Nội ngày nay). 16 tuổi tham gia thi công thành Thăng Long. 26 tuổi, khi quốc gia bại trận trước nhà Minh. Ông và hàng trăm chàng trai trẻ, những nhân tài của quốc gia này bị Trung Quốc hốt về và bị thiến để làm thái giám (Cái nhục mất nước nó ghê gớm lắm). Dù làm thái giám, nhưng đức tính khiêm tốn, thanh liêm, và biệt tài tính toán đã hỗ trợ ông lọt vào mắt xanh của Minh Thành Tổ. Và tài năng thiết kế ấy đã nở rộ như mặt trời chính ngọ.

    Sau này, nhà sử học Trung Quốc là Trương Tú Dân còn phải viết ra “An không chỉ riêng giới công trình đáng ngưỡng mộ mà thị dân Bắc Kinh cũng nên uống nước nhớ nguồn, kỷ niệm chớ quên.“

    Và ông là người Việt Nam bị tóm gọn làm tù binh.

    2/ Hoàng Ngũ Phúc: Ai là người đã làm cho Nguyễn Nhạc – Nguyễn Huệ phải sợ hãi một phép? Ai là người làm cho Tây Sơn phải dùng bạc vàng xin hàng để tránh họa tiêu diệt? Ai là người trước hết vượt qua Lũy Thầy Đào Duy Từ nổi tiếng để vượt qua sông Gianh tiến vào địa phận của chúa Nguyễn? Câu trả lời chính là Hoàng Ngũ Phúc – vị đại tướng số 1 của Chúa Trịnh. Và ông cũng là một thái giám. Hoàng Ngũ Phúc là một tên gọi đã bị rớt lại trong dòng chảy của dân tộc. Dù võ nghệ của ông, mưu kế, tính thanh liêm, sự trung thành của ông là đáng để ngã mũ.

    Tôi xin dừng lại ở Hoàng Ngũ Phúc rất ngắn ngủi. Ấy không phải là vì không thể viết hết ý. Mà để giành cho các bạn một nội dung xứng đáng hơn đang đợi các bạn ở tương lai gần trong page Ҳ File Of History này. Hãy quay lại một ngày, và đọc về vị tướng quân trước hết vượt qua Lũy Thầy Đào Duy Từ này.

    ***

    Tôi đã khởi đầu nội dung bằng những mẩu truyện về thái giám, để nói với các bạn 2 điểm:

Vị đại tướng duy nhất khiến giặc khiếp sợ ngay nơi sào huyệt: Hiển hách muôn đời ‘phá Tống bình Chiêm’

  • Tác giả: ɱ.robocon.com.vn
  • Nhận xét: 3 ⭐ ( 3638 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Nước Việt có người họ Lý, đã cầm quân là tất thắng lợi, đã trị nước thì dân được yên, danh lẫy lừng thiên hạ, tiếng vang khắp xa gần.

Xem thêm các nội dung khác thuộc thể loại: Khám Phá Khoa Học

By ads_law