Bạn đang xem: 10 đội quân mạnh nhất trong lịch sử việt nam

Ι. Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ra đời

1. Tình hình Việt Nam sau Cách Mạng Tháng Tám

Sau
khi Cách Mạng Tháng Tám thành công, Chính phủ Lâm Thời ra mắt nhân dân.
Vừa được thành lập là Chính phủ Lâm Thời đã phải đương đầu với nhiều
khó khăn về các mặt chính trị, xã hội, văn hóa, kinh tế. Để ứng phó với
tình hình ấy, Chính phủ đề ra sáu nhiệm vụ cấp bách phải khắc phục:
chống nạn đói, chống nạn mù chữ, tổ chức Tổng tuyển cử, giáo dục nhân
dân thực hiện cần-kiệm-liêm-chính, bỏ một số thuế, ra tuyên bố tự do tín
ngưỡng và đoàn kết lương giáo. Chính phủ phát động chiến dịch tăng gia
sản xuất, quyên góp gạo để cứu đói, phát động trào lưu dân dã học vụ
để cấp tốc xóa nạn mù chữ trong nhân dân.

Chính
phủ còn phải ứng phó với các mưu đồ xâm lược của các cường quốc. Tại
Nam Bộ, quân đội Anh vào giải giới quân Nhật đã hỗ trợ thực dân Pháp trở
lại xâm chiếm Nam Bộ. ở miền Bắc quân đội Tưởng Giới Thạch vào giải
giới quân Nhật đem theo những tổ chức tay sai của chúng vào Việt Nam để
mưu lật đổ chính quyền cách mạng. Trước tình hình ấy, Chính phủ Lâm thời
phản đối việc quân Pháp kéo vào Việt Nam và mời chào toàn dân sẵn sàng
đợi lệnh Chính phủ để đại chiến.

Ngày
6/1/1946, cuộc Tổng tuyển cử theo phép tắc phổ thông đầu phiếu được
đổ chức trên khắp quốc gia. Toàn bộ công dân trai gái từ 18 tuổi đều có
quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dân tộc,
dòng giống. Kết quả cuộc Tổng tuyển cử là 333 đại biểu được bầu vào Quốc
hội khóa Ι của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Chủ tịch Hồ Chí Minh
trúng cử với số phiếu cao nhất là 98,4% phiếu bầu. Tổng tuyển cử thắng
lợi biểu dương sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân, quyết tâm xây dựng
chính sách mới.

Sáng
ngày 2/3/1946, Quốc hội khóa Ι họp kỳ họp trước hết tại Nhà hát thành
phố Hà Nội, gần 300 đại biểu đã về dự. Chủ tịch Hồ Chí Minh được Quốc
hội bầu quản lý tịch nước và danh sách chính phủ chính thức được thông
qua.

2. Nam bộ kháng chiến

Mùa
hè năm 1945, ngay sau thời điểm Nhật đầu hàng phe Đồng Minh, chính phủ Pháp
dùng nhiều biện pháp để quay trở lại Đông Dương. Một đạo quân viễn chinh
được thành lập do tướng Leclerc lãnh đạo. Đô đốc {d}’Argenlieu làm Cao ủy
Pháp tại Đông Dương.

Vào
những ngày đầu của tháng 9 năm 1945, quân Anh đổ bộ vào Sài Gòn với
danh nghĩa Đồng Minh để tước khí giới Nhật nhưng kỳ thật mở đường cho
Pháp trở lại Việt Nam. Ngày 23/9/1945 với sự giúp sức của quân Anh, quân
Pháp giành được trụ sở UBND Nam Bộ rồi mở rộng chiến tranh ra toàn Nam
Bộ, Campuchia và miền Nam Trung Bộ. Nhân dân miền Nam lại bước vào cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp. Chính phủ phát động trên khắp cả nước
trào lưu ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân miền Nam. trong một thời
gian ngắn, những đoàn quân Nam tiến từ các miền của quốc gia lên đường
vào Nam đại chiến. Chiến tranh du kích diễn ra khắp Nam Bộ. Quân Pháp bị
đánh phá nhiều nơi.

3. Hiệp định Sơ bộ (6/3/1946)

Sau
khi đem quân xâm chiếm nhiều nơi ở Nam Bộ, để thực hiện việc chiếm lại
toàn cõi Việt Nam, thực dân Pháp ký với Tưởng Giới Thạch một hiệp ước
cho phép quân Pháp thay thế quân Trung Quốc ở Bắc Bộ. Tuy thế quân Trung
Quốc vẫn chưa thi hành hiệp ước này. Trước tình hình đó, Hội Nghị Ban
Chấp hành Trung ương Đảng nhất trí chủ trương “hòa để tiến” để có thời
gian chuẩn bị lực lượng ứng phó, đồng thời loại bớy một kẻ thù là quân
phiệt Tưởng Giới Thạch. Ngày 6/3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đại diện cho
Chính phủ Việt Nam và Sainteny, đại diện cho chính phủ Pháp, ký hiệp
định Sơ bộ, thừa nhận nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là một quốc gia tự
do nằm trong khối Liên Hiệp Pháp. Nước Việt Nam có chính phủ, nghị viện,
tài chính và quân đội riêng. Sự thống nhất quốc gia sẽ do trưng cầu dân
ý quyết định. Chính phủ Việt Nam tán thành cho 15.000 quân Pháp vào thay
thế quân Tưởng rút về nước. Số quân Pháp này phải đóng ở những nơi quy
định và phải rút khỏi Việt Nam trong 5 năm. Quân đội hai bên ngừng bắn
và ở nguyên vị trí đóng quân. Hai bên thực hiện ngừng bắn tại Nam Bộ.

Tuy
thế, sau thời điểm ký Hiệp ước Sơ bộ, thực dân Pháp vẫn tiếp tục tăng căng thẳng
quân sự tại Nam bộ và lập chính phủ Nam Kỳ tự trị để tách Nam bộ khỏi
Việt Nam. Hội nghị Fontainebleau họp tại Pháp từ tháng 6 đến tháng 9
nhằm khắc phục việc quan hệ giữa hai nước và vấn đề Nam bộ nhưng không
đi đến kết quả. Để tỏ thiện chí hòa bình của Việt Nam và để có thêm thời
gian chuẩn bị lực lượng cho cuộc kháng chiến, Hồ Chủ tịch đã dàn xếp ký
bản Tạm ước vào ngày 14/9/1946. Hai bên trao đổi đình chỉ các cuộc
xung đột; Pháp cam kết thi hành các quyền tự do dân chủ ở Nam Bộ và trả
lại tự do cho một số nhà yêu nước; Việt Nam đảm bảo cho Pháp một số
quyền lợi kinh tế và văn hóa trên lãnh thổ Việt Nam. Các điều khoản của
bản Tạm ước chỉ có tính cách tạm thời.

II. Kháng chiến toàn quốc

1. Kháng chiến toàn quốc bùng phát

Việt
Nam đã ứng dụng biện pháp nhân nhượng với đối phương khi ký Hiệp ước sơ
bộ và Tạm ước, nhưng thực dân Pháp không tôn trọng các thỏa ước ấy, ngày
càng lấn tới, ráo riết xâm chiếm nhiều nơi. Đầu tháng 11/1946, Chủ
tịch Hồ Chí Minh ra chỉ thị “Công việc khẩn cấp bây giờ”, nêu rõ phương
hướng cơ bản và nhiệm vụ đa phần của cuộc kháng chiến chống Pháp. Ngày
18/12/1946 thực dân Pháp gửi tối hậu thư đòi tước vũ khí lực lượng Tự Vệ
Thủ Đô. Khả năng hòa hoãn với thực dân đã chấm hết. Đêm 19/12/1946 cuốc
kháng chiến toàn quốc bùng phát. Công nhân nhà máy điện Yên Phụ phá máy,
cho tắt điện cả tp Hà Nội làm hiệu lệnh đại chiến trong toàn
thành. Chủ tịch Hồ Chí Minh phát “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”
khích lệ toàn thể đồng bào đứng lên đánh đuổi thực dân cứu nước.

Phương
châm kế sách của cuộc kháng chiến là lâu dài, phải dựa vào sức mình
là chính và kêu gọi sức mạnh toàn dân. Sau khoảng thời gian tiêu diệt, tiêu hao một
phòng ban quân Pháp, quân Việt Nam rút ra khỏi các tp, thị xã, thực
hiện phương châm bảo toàn lực lượng, kháng chiến lâu dài. Một phòng ban
vũ trang nhỏ được gài lại để làm nòng cốt cho chiến tranh du kích trong
vùng tạm chiếm. Nhân dân triệt để ứng dụng chiến thuật “vườn không nhà
trống” và xây dựng làng đại chiến.

2. Chiến dịch Việt Bắc (1947)

Sau
khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng phát, Chính phủ và Hồ Chủ tịch rút về
căn cứ địa Việt Bắc (Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên
Quang, Thái Nguyên và một số vùng thuộc trung du Bắc bộ) và lãnh đạo
cuộc kháng chiến trường kỳ. Quân Pháp giành được các tp, thị xã
và kiểm tra các tuyến đường giao thông trọng yếu. Thực dân Pháp muốn
tiến nhanh, đánh nhanh, nhưng gặp phải sức kháng cự của nhân dân và quân
đội Việt Nam, nên vẫn phải kéo dài trận chiến. Tháng 3/1947 {d}’Argenlieu
bị triệu hồi về Pháp, Emile Bollaert thay thế, xúc tiến việc lập chính
phủ bù nhìn Bảo Đại, cắt đứt mọi thương thảo với chính phủ Việt Nam và lập
plan tấn công Việt Bắc.

Tháng
10/1947, 12.000 quân Pháp mở cuộc tiến công qui mô vào vùng giải phóng
Việt Bắc. Một phòng ban quân Pháp nhảy dù xuống thị xã Bắc Cạn, Chợ Mới
vào ngày 7/10. Đồng thời quân Pháp tiến vây Việt Bắc từ nhiều phía. Quân
dân ta đánh trả quyết liệt. Trên sông Lô, hải quân Pháp bị phục kích,
nhiều tàu chiến, ca nô bị đánh chìm. Quân nhảy dù xuống Bắc Cạn bị bao
vây, bắn tẻ. Sau hai tháng kịch chiến, quân và dân ta loại khỏi vòng
chiến hơn 6.000 địch, bắn hạ 16 máy cất cánh, hàng trăm xe tăng bị phá, 11
tàu chín và canô bị đánh chìm. Đơn vị đầu não của cuộc kháng chiến vẫn
được an toàn. Bộ đội chủ lực giành được nhiều vũ khí của địch. Quân Pháp
phải rút khỏi Việt Bắc.

3. Chiến dịch Cao Bắc Lạng (1950)

Sau
khi thất bại tại Việt Bắc, thực dân Pháp thực hiện quyết sách “dùng
người Việt đánh người Việt, dùng chiến tranh nuôi chiến tranh”. Chúng
tăng cường đóng đồn bót ở nhiều nơi, tiến hành càn quét các vùng giải
phóng, sử dụng Việt gian để đánh phá lực lượng kháng chiến. Tuy thế, cơ
sở kháng chiến vẫn phát triển, vùng giải phóng ngày càng được mở rộng,
các trào lưu chống đi lính, chống nộp thuế vẫn diễn ra quyết liệt. Để
ứng phó, quân Pháp thiết lập “hành lang Đông Tây” nhằm cắt đứt liên lạc
của căb cứ địa Việt Bắc với đồng bằng. Ban Thường vụ Trung ương Đảng
quyết định phát động chiến dịch Cao Bắc Lạng để tiêu diệt một phòng ban
trọng yếu sinh lực địch và củng cố căn cứ địa Việt Bắc.

Đầu
tháng 9 năm 1950 Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời mời chào toàn thể Vệ Quốc
Đoàn, bộ đội địa phương, dân quân du kích và nhân dân tích cực tham gia
chiến dịch. Ngày 16/9, chiến dịch khởi đầu. Bộ đội Việt Nam xâm chiếm
Đông Khê, Pháp buộc phải bỏ Cao Bằng để một mặt đem quân xâm chiếm Thái
Nguyên bằng cuộc hành quân Phoque, mặt khác mở cuộc hành binh Thérèse
từ Lạng Sơn rút lui theo đường số 4 của Pháp bị phá vỡ, chiến dịch Cao
Bắc Lạng kết thúc thắng lợi, khôi phục được 5 tỉnh và nhiều nơi quan
trọng. Thắng lợi này chứng tỏ quân dân Việt Nam đã dành được thế chủ
động tiến công và giúp cho bộ đội, nhân dân nhiều kinh nghiệm để tiến
tới các thắng lợi quyết định sau này.

Xem Thêm  Thần thoại Hy Lạp: Hadès và thế giới âm phủ - thế giới âm phủ

4. Chiến dịch Điện Biên Phủ (1954)

Cuộc
kháng chiến của nhân dân Việt Nam tiếp tục một cách kiên trì. Lực
lượng kháng chiến càng ngày càng phát triển vì kêu gọi được sức mạnh
toàn dân. Các vùng giải phóng được mở rộng diện tích không ngừng tạo
được thế liên hoàn ở các vùng đồng bằng và trung du bắc bộ. Vùng Tây Bắc
lại được giải phóng vào năm 1952, phá tan ý đồ lập “xứ Thái tự trị” của
Pháp. Đến năm 1953, bộ đội Việt Nam đã phát triển về chất cũng như về số
lượng, có khả năng chủ động trên chiến trường.

Trong
khi ấy lực lượng quân Pháp bị tiêu hao rõ rệt. Trên ba trăm nghìn quân
Pháp bị diệt, vùng bị Pháp chiếm càng ngày càng bị thu hẹp lại. Chính
phủ Pháp bèn dựa vào viện trợ Mỹ để ứng phó. Tháng 5/1953 Đại tướng
Henri Navarre được chính phủ Pháp cử làm Tổng lãnh đạo quân đội viễn
chinh Pháp tại Đông Dương với sự trao đổi của Mỹ. Henri Navarre nổi
tiếng là có tài, đã từng được huấn luyện tại trường quân sự Saint Cyre từ
năm 18 tuổi, là Trung đoàn trưởng của quân đội Pháp trong Thế chiến thứ
hai và là tham mưu trưởng Lục quân Trung Âu trong khối quân sự Bắc Đại
Tây Dương (NATO). Navarre vạch plan bình định Đông Dương trong vòng
18 tháng.

Thực
hiện plan này, quân Pháp ra sức càn quét tại miền Nam và xây dựng
tập đoàn cứ điểm tại Điện Biên Phủ để giữ thê 1phòng ngự tại miền Bắc.
Điện Biên Phủ là một châu lỵ của châu Điện Biên, tỉnh Lai Châu, cách Hà
Nội 480km về phía Tây Bắc, nằm gần biên giới Việt Lào. Địa hình Điện
Biên Phủ rất hiểm trở. Vùng núi cao có diện tích 200.000 ha, chiếm 65%
diện tích huyện Điện Biên Phủ ngày nay. đỉnh cao nhất là Pú Huồi
(2.178m). Điện Biên có một lòng chảo với các đồi nhỏ bao quanh. Vùng
lòng chảo này có diện tích 25.700 ha ruộng, đặc biệt có cánh đồng Mường
Thanh, nổi tiếng là vùng nông nghiệp lúa nước sung túc của khu Tây Bắc.

Sau
khi phát hiện Đại đoàn 316 của quân đội Việt Nam hành quân lên Tây Bắc,
ngày 20.11.1953 Navarre mở cuộc hành quân Castor, cho 6 tiểu đoàn tinh
nhuệ lê dương nhảy dù chiếm đóng Điện Biên. Sau bốn tháng chiếm đóng,
Pháp biến Điện Biên thành một tập đoàn cứ thế mạnh nhất Đông Dương. Lực
lượng của Pháp ở đây có đến 16.000 quân gồm 17 tiểu đoàn bộ binh, 3
tiểu đoàn pháo binh với 40 khẩu pháo 105 ly và 155 ly, 1 tiểu đoàn công
binh, 1 đại đội xe tăng 10 chiếc, 1 đại đội xe vận tải hàng trăm chiếc, 1
phi đội không quân.

Navarre
mang ra những tuyên bố rất lạc quan: “Điện Biên Phủ là một pháo đài
không thể công phá”, hoặc “Việc hạ gục Việt Minh, hẳn nhiên là điều
chắc rằng”. Còn De Castries, Tư lệnh trực tiếp lãnh đạo Tập đoàn cứ điểm
Điện Biên Phủ lại cho rải truyền đơn thách thức tướng Võ Nguyên Giáp.

Ngay
từ khi quân Pháp mới lập cứ điểm Điện Biên Phủ, Bộ Chính trị Đảng Lao
động Việt Nam cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh họp vào ngày 6.12.1953 quyết
định mở chiến dịch Điện Biên Phủ, thành lập Bộ lãnh đạo và Đảng ủy mặt
trận do tướng Võ Nguyên Giám làm Lãnh đạo trưởng và Bí thư Đảng ủy mặt
trận. Một Hội đồng phân phối mặt trận cũng được thành lập, do Phó Thủ
tướng Phạm Văn Đồng quản lý tịch.

Trên
200.000 dân công với hơn 10 triệu ngày công đã được kêu gọi để phục vụ
mặt trận Điện Biên. Hàng vạn thanh niên xung phong phối phù hợp với các đơn
vị công binh để mở đường, phá bom nổ chậm của địch trên các tuyến giao
thông. Hàng vạn xe đạp thồ, xe trâu, xe bò, xe ngựa, thuyền bè đã được
dùng để vận tải lương thực và vũ khí ra mặt trận.

Đợt
1 (từ 13 đến 17.3.1954): Hai trung đoàn của Đại đoàn 312 tấn công vào
phía Bắc, khởi đầu bằng cứ điểm Him Lam (Béatrice). Địch quân hoàn toàn
bị ngạc nhiên vì chúng không thể tin rằng bộ đội có thể kéo pháo lên tận
các mỏm núi cao và có thể ngụy trang mà không bị phát hiện. Chỉ trong
vòng vài tiếng đồng hồ, cứ điểm Him Lam bị xóa sổ. Ngày ngày hôm sau, cứ điểm
Độc Lập (Gabrielle) bị tiêu diệt. Ngày 17 đến lượt cứ điểm Bản Kéo
(Anne-Marie) đầu hàng. Như vậy là phân khu phòng vệ hiểm yếu phía Bắc
và Tây Bắc đã bị vô hiệu hóa. 2.000 địch quân bị diệt và bị tóm gọn; 28 máy
cất cánh bị phá hủy.

Trong
10 ngày tiếp theo thắng lợi trước hết ấy, dưới hỏa pháo ác liệt của
đối phương, bộ đội Việt Nam đào hơn 100km giao thông hào bao quanh khu
trung tâm Mường Thanh để chuẩn bị cho đợt tấn công thứ hai.

Đợt
2 (từ ngày 30.3 đến 26.4): bộ đội tấn công các cứ điểm phía Đông. Này là
những cứ điểm cốt yếu nên trận chiến xảy ra vô cùng ác liệt nhất là tại
đồi 𝓐 1 (Eliane 2), ta chiếm, địch lại phản công chiếm lại. Đến giữa
tháng tư, bộ đội tiến đến được sân cất cánh Mường Thanh, cắt đứt đoạn đường
tiếp tế bằng hàng không của địch. Hầu như đạn dược, thực phẩm được thả
dù tiếp tế cho quân Pháp đều rơi về phía bộ đội.

Đợt
3 (từ ngày 1.5 đến 7.5): bộ đội xâm chiếm các đồi còn sót lại ở phía Đông.
Đồi 𝓐 1 và ₵ 1 (Eliane 1) bị tiêu diệt hoàn toàn. Đến chiều ngày 7.5
với đợt tấn công cuối cùng, bộ đội tiến vào khu trung tâm. Một tiểu đội
bộ binh thuộc Trung đoàn 209 tấn công vào sở lãnh đạo Pháp, De Castries
phải đầu hàng.

Sau
55 này đêm gan góc đại chiến, bộ đội Việt Nam quản lý hoàn toàn Điện
Biên Phủ, diệt được 16.200 địch quân, trong đó có một tướng, 16 tá,
1.749 sĩ quan và hạ sĩ quan, 62 máy cất cánh. Chính phủ Pháp vội vàng triệu hồi
Н. Navarre để thực hiện việ rút quân.

Hội
nghị Genève khai mạc vào ngày 26.4.1954 vào lúc bộ đội Việt Nam chuẩn
bị đợt tấn công thứ ba của chiến dịch Điện Biên Phủ. Vào ngày 8.5 phái
đoàn Việt Nam do ông Phạm Văn Đồng làm trưởng đoàn đến hội nghị với tư
thế của kẻ thắng lợi. Hội nghị có 9 phái đoàn tham gia. Ngoài phái đoàn
của nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa, còn tồn tại đại diện nước Pháp, Liên Xô
cũ, Anh, Trung Quốc, Mỹ, Campuchia, Lào và Chính phủ Bảo Đại.

Sau gần ba tháng thương thảo, hiệp định Genève về Đông Dương được ký kết vào ngày 20.7.1954 với nội dung đa phần như sau:

Nước
Pháp và các nước tham gia Hội nghị cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền,
thống nhất và vẹn toàn lãnh thổ như Việt Nam, Lào và Campuchia.

Ngừng bắn, ngừng chuyển quân tại Việt Nam và trên toàn Đông Dương. Lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến quân sự tạm thời.

Pháp rút khỏi Đông Dương và mỗi nước Đông Dương sẽ tuyển cử tự do

Việt Nam sẽ thực hiện sự thống nhất bằng cuộc tổng tuyển cử tự do tổ chức vào tháng 7.1956.

Sau
gần 9 năm khổ sở, nhân dân Việt Nam đã hạ gục được cuộc xâm lăng
của thực dân Pháp. Gần nửa triệu quân xâm lược của thực dân bị tiêu
diệt. Nhà nước Pháp tiêu tốn 2/688 tỷ francs và 2,6 tỷ đô la của viện
trợ Mỹ. Tám tổng lãnh đạo quân đội Pháp lần lượt bị thua trận chiến
trường Đông Dương. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát biểu, đây là: “Lần
trước hết trong lịch sử, một nước thuộc địa nhỏ yếu đã đánh thắng một
nước thực dân hùng mạnh. Này là thắng lợi vẻ vang của nhân dân Việt Nam,
đồng thời cũng là thắng lợi của các lực lượng hòa bình, dân chủ và xã
hội chủ nghĩa trên toàn cầu”.

Cuộc kháng chiến chống đế Quốc Mỹ (1954-1975)

Ι. Tình hình Việt Nam, sau hiệp định Genève

1. Cách mxh chủ nghĩa ở miền Bắc

Sau
hiệp định Genève, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, khởi đầu chuyển sang
thời kỳ cách mxh chủ nghĩa. Miền Bắc gặp một số khó khăn nhưng
đồng thời cũng có những thuận tiện cơ bản. Khó khăn lớn nhất là nền kinh
tế lạc hậu, lại bị tàn phá nặng nề sau gần trăm năm phụ thuộc và 15 năm
chiến tranh. Thuận tiện là tài nguyên quốc gia vẫn còn phong phú, có nhà
nước dân chủ nhân dân và Đảng lãnh đạo cùng các nước bạn thân trợ giúp.

Tháng
9.1954, Hội nghị Bộ chính trị Trung ương Đảng đề ra nhiệm vụ rõ ràng và cụ thể như
sau: Đảg lãnh đạo nhândân tranh đấu thực hiện hiệp định đình chiến; ra
sức hoàn thiện đổi mới ruộng đất, phục hồi và nâng cao sản xuất; giữ
vững và đẩy mạnh trận đấu tranh chính trị của nhân dân miền Nam, thực
hiện thống nhất, hoàn thiện độc lập, dân chủ trong toàn quốc.

Cuộc
vận động đổi mới ruộng đất được phát động rộng rãi và khẩn trương. Đến
mùa hè 1956 việc đổi mới ruộng đất đã hoàn thiện ở đồng bằng và trung
du và đạt được kết quả đáng kể: đánh đổ toàn thể giai cấp địa chủ phong
kiến, xóa bỏ quyền phong kiến chiếm hữu ruộng đất, thực hiện slogan
người cày có ruộng, hoàn toàn giải phóng nông dân khỏi ách phong kiến có
từ hàng nghìn năm, mang giai cấp nông dân miền Bắc lên quản lý nhân nông
thôn.

Song
song với việc đổi mới ruộng đất là việc phục hồi kinh tế quốc dân.
Thành phần kinh tế quốc doanh được củng cố. Sản lượng lương thực đạt
trên 4.000.000 tấn, vượt xa mức trước chiến tranh.

Trên
nền tảng kết quả đạt được trong đổi mới ruộng đất và phục hồi kinh tế,
miền Bắc tiến lên thực hiện plan ba năm về việc hợp tác hóa nông
nghiệp và tôn tạo công thương nghiệp nghiệp tư bản tư doanh. ở nông thôn, từ
năm 1959, cuộc vận động hợp tác hóa nông nghiệp đã trở thành một cao
trào. Đến cuối năm 1960, việc tôn tạo nông nghiệp theo hình thức hợp tác
xã bậc thấp đã cơ bản hoàn thiện. Hơn 85% số nông hộ đã vào hợp tác xã
với 68,06% diện tích ruộng đất. ở thành thị, một số hộ tư sản lớn được
tôn tạo theo xã hội chủ nghĩa. Công nhân được giải phóng khỏi ách bóc
lột của giai cấp tư sản. Hơn 26 vạn thủ công đã tham gia các hình thức
hợp tác xã.

Xem Thêm  Những ngôi sao nhỏ Nhật Bản ngược dòng kịch tính thắng các ngôi sao Việt Nam - ngôi sao nhỏ

Kế
hoạch ba năm tôn tạo xã hội chủ nghĩa đã đạt thành tích khả quan về kinh
tế và xã hội, xác lập được quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ
được về cơ bản chính sách người bóc lột người trên miền Bắc. Ngày 1.1.196,
bản Hiến pháp xã hội chủ nghĩa trước hết của Việt Nam được thông báo, khẳng
định đoạn đường tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.

2. Miền Nam giữ gìn lực lượng cách mạng, tiến tới cuộc Đồng Khởi (1954-1960)

Sau
khi quân Pháp thất bại tại Điện Biên Phủ, Hiệp định Genève được ký kết,
đế quốc Mỹ gạt hẳn thực dân Pháp ra khỏi miền Nam Việt Nam, trực tiếp
thực hành ý đồ xâm lược của mình. Tháng 6.1954 đế quốc Mỹ ráo riết tiến
hành việc hất cẳng thực dân Pháp, mang Ngô Đình Diệm từ Mỹ về thành lập
chính phủ bù nhìn, triển khai plan phá hoại việc thi hành Hiệp định
Genève.

Đế
quốc Mỹ không đạt bộ máy thống trị trực tiếp như thực dân Pháp trước đó
mà với một hệ thống cố vấn Mỹ, dùng quyền lực viện trợ quân sự và kinh
tế để điều khiển chính quyền tay sai. Về quân sự, đế quốc Mỹ trực tiếp
xây dựng, huấn luyện, trang bị và lãnh đạo quân ngụy. Về kinh tế, miền
Nam dần dần biến thành thị trường tiêu thụ của Mỹ.

Một
chính sách độc tài, tàn bạo được thành lập tại miền Nam. Mỹ-Diệm ra sức đàn
áp các trận đấu tranh yêu nước bằng nhiều đợt “tố cộng, diệt cộng”.
Tháng 5.1959 chúng ra luật 10/59 để công khai chặt đầu những người yêu
nước với những hình thức man rợ thời trung cổ. Từ 1954 đến 1959 ở miền
Nam có đến 466.000 người yêu nước bị tóm gọn, 68.000 người bị giết.

Nhiệm
vụ trước mắt của miền Nam lúc ấy là giữ gìn lực lượng cách mạng. Các tổ
chức yêu nước rút vào bị mật. Những căn cứ cách mạng được duy trì.
Những hình thức hợp pháp, bán hợp pháp làm bình phong cho hoạt động cách
mạng được phát triển. Đồng thời, Đảng lãnh đạo nhân dân tiến hành những
trận đấu tranh đòi hiệp thương tổng tuyển cử để thống nhất nước nhà.

Đấu
tranh tự vệ, trừ gian, diệt ác cũng được phát động. Đến cuối năm 1957,
tại chiến khu Đ, nhà cung cấp vũ trang trước hết được thành lập làm nòng cốt
cho bộ đội chủ lực Nam Bộ.

Cuối
năm 1959 trận đấu tranh của miền Nam chuyển hướng thành trận đấu tranh
vũ trang. Tại nhiều nơi, quần chúng vũ trang nổi dậy diệt ác, phá kìm.
Bến Tre phát động một tuần lễ toàn dân đồng khởi nhằm dùng bạo lực cách
mạng của quần chúng để chống lại ách kềm kẹp của địch, xây dựng chính
quyền cách mạng (1960). Dân chúng nhất tề đứng dậy diệt ác ôn, đánh đồn
bót, cướp súng địch, phá vỡ từng mảng lớn bộ máy thống trị của địch ở thôn
xã. Từ Bến Tre, làn sóng Đồng Khởi lan ra các tỉnh khác ở Nam Bộ, Tây
Nguyên và một số tỉnh ở miền Trung.

Trong
cao trào nổi dậy của quần chúng miền Nam, Mặt trận Dân tộc Giải phóng
miền Nam Việt Nam được thành lập nhằm đánh đổ, chính sách độc tài Ngô Đình
Diệm, xây dựng miền Nam độc lập, dân chủ, hòa bình và trung lập để tiến
tới việc thống nhất nước nhà.

3. Miền Bắc thực hiện plan năm năm lần thứ nhất, miền Nam chống “chiến tranh đặc biệt”

Cuộc
tôn tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc thành công, mang quốc gia vào một
bước tiến tới. Trước yêu cầu của tình hình mới. Đại hội toàn quốc lần
thứ III của Đảng họp tại Hà Nội vạch ra đoạn đường tiến lên chủ nghĩa xã
hội ở miềN Bắc và đoạn đường tranh đấu giải phóng miền Nam, thống nhất
nước nhà.

Cuộc
cách mxh chủ nghĩa ở miền Bắc tiến hành trên ba ngành nghề: cách
mạng quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học kỹ thuật, cách mạng tư tưởng
và văn hóa, đồng thời xác nhận khoa học kỹ thuật là then chốt. Thực hiện
plan năm năm cho đến năm 1964 miền Bắc đã đảm bảo được lương thực
cơ bản và tự khắc phục được 90% hàng tiêu dùng, đồng thời khởi đầu có
tích lũy từ trong nước.

Trong
khi ấy ở miền Nam, trước sự phát triển của cuộc cách mạng nhân dân,
Mỹ-Diệm gây ra cuộc “chiến tranh đặc biệt”. Này là thứ chiến tranh “dùng
người Việt đánh người Việt” phối hợp vũ khí, kỹ thuật hiện đại cùng những
biện pháp khủng bố, đàn áp.

Để
tiến hành “chiến tranh đặc biệt”, Mỹ-Diệm đề ra plan Staley-Taylor
với ba biện pháp kế sách: Một là, tăng cường quân ngụy do cố vấn Mỹ
lãnh đạo, sử dụng nhiều máy cất cánh, xe tăng để nhanh chóng tiêu diệt các lực
lượng vũ trang cách mạng. Hai là, giữ vững thành thị, đồng thời dập tắt
cách mạng ở nông thôn bằng “bình định” và lập “ấp chiến lược”. Ba là,
ra sức ngăn chặn biên giới kiểm tra ven biển, cắt đứt nguồn viện trợ từ
miền Bắc vào, cô lập cách mạng miền Nam.

Mỹ-Diệm
xem “quốc sách ấp chiến lược” là xương sống của “chiến tranh đặc biệt”.
Vì vậy, chúng kêu gọi mọi lực lượng để càn quét, cốt thực hiện cho
được quốc sách đó, dự tính trong một thời gian ngắn có thể lập xong
17.000 ấp kế sách, biến miền Nam thành một trại tập trung khổng lồ.

Nhưng
ngay từ đầu, việc dồn dân của Mỹ-ngụy đã gặp phải sự chống đối. Quân
giải phóng cùng nhân dân đẩy mạnh tranh đấu, nổi dậy tiến công bình cả
ba mũi chính trị, quân và binh vận. Một số “ấp chiến lược” bị phá hủy,
có số biến thành làng đại chiến của nhân dân.

Chiến
thắng oanh liệt của quân dân ở ấp Bắc (Cai Lởy, Mỹ Tho) vào ngày
2.1.1963 minh chứng khả năng thắng lợi của lực lượng cách mạng. Lần
trước hết với số quân thấp hơn địch 10 lần, quân và dân miền Nam đã đánh
thắng trận càn quét của trên 2.000 tên địch trang bị hiện đại, sử dụng
hàng chục máy cất cánh lên thẳng và xe bọc thép. Quân dân loại khỏi vòng
đại chiến hơn 450 địch (trong đó có 19 xe cốvấn Mỹ), bắn rơi 8 máy cất cánh,
bắn cháy 3 xe bọc thép ʍ.113. Mặt trận Dân Tộc giải phóng miền Nam Việt
Nam phát động trào lưu “thu đua ấp Bắc, diệt giặc lập công”. Nhân dân
phá hoàn toàn 2.895 “ấp chiến lược” trong số 6.164 ấp do địch lập ra, số
còn sót lại bị phá đi phá lại cả 5.000 lần, vùng giải phóng lan rộng, làm
phá sản chiến thuật “trực thăng vận” và “thiết xa vận” của chúng.

Song
song với tranh đấu quân sự, các trận đấu tranh chính trị nổ ra ở các
thành thị. Tháng 5.1963, tăng ni, phật tử Huế biều tình phản đối lệnh
cấm treo cờ Phật, gặp sự đàn áp của chính quyền Diệm, đã lan đến Đà
Nẵng, Sài Gòn mà đỉnh cao là cuộc biểu tình vào ngày 16.6.1963 tại Sài
Gòn với sự tham gia của 70 vạn quần chúng.

Trước
khí thế tranh đấu của nhân dân, đế quốc Mỹ buộc phải làm đảo chính, lật
đổ Ngô Đình Diệm, mang Dương Văn Minh rồi Nguyễn Khánh lên thay. Nhân
lúc Diệm đổ, nhân dân ở vùng nông thôn còn bị kềm kẹp đã vùng dậy phá
hàng loạt “ấp chiến lược”.

Đầu
năm 1964, đế quốc Mỹ thực hiện plan mới, này là plan Johnson-Mac
Namara nhằm bình định miền Nam trong vòng hai năm (1964-1965). Chúng
lập ra bộ lãnh đạo liên hợp Việt Mỹ,tăng thêm 6.000 cố vấn Mỹ và mang quân
Mỹ vào miền Nam lên đến hai vạn rưỡi vào cuối năm 1964.

Kế
hoạch Johnson-Mac Namara gặp phải sức phản kháng mãnh liệt của quân dân
mà điển hình là thắng lợi Bình Giã (12.1964). Nơi đây, lần trước hết
chủ lực quân giải phóng (đã được thành lập từ 15.2.1961) chủ động tiến
công quân chủ lực ngụy liên tục sáu ngày đêm, diệt gọn hai tiểu đoàn cơ
động và một chi đoàn xe bọc thép ʍ.113, bắn rơi và bắn hỏng 37 máy cất cánh.
Chiến dịch Bình Giã là một thắng lợi có ý nghĩa kế sách trọng yếu
làm phá sản “chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam.

II. Cả nước đại chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược

1. Miền Nam chống “chiến tranh cục bộ”. Miền Bắc đánh thắng chiến tranh phá hoại lần thứ Ι (1965-1968)

Sau
khi thất bại trong “chiến tranh đặc biệt”, đế quốc Mỹ chuyển sang
“chiến tranh cục bộ” ở miền Nam và đồng thời gây ra chiến tranh phá hoại
ở miền Bắc.

Cuối
năm 1965 số quân Mỹ và chư hầu mang vào miền Nam lên đến hơn 20 vạn cùng
với vũ khí, phương tiện chiến tranh tối tân. “Chiến tranh cục bộ” bắt
đầu tư giữa năm 1965, được tiến hành bằng lực lượng của quân viễn chinh
Mỹ, quân chư hầu và quân Ngụy, trong đó quân Mỹ giữ vai trò chủ động.
Tại Vạn Tường (Bắc Quảng Ngãi), ngày 18.8.1965, cuộc ra quân trước hết
của 8.000 quân Mỹ có xe tăng, thiết giáp, không quân, hải quân trợ giúp đã
bị lực lượng cách mạng phản công quyết liệt, loại 900 quân Mỹ, 22 xe
tăng và xe bọc thép, 13 máy cất cánh. Thắng lợi Vạn Tường mở màn cao trào
diệt quân xâm lược Mỹ. Hàng vạn chiến dũng sĩ diệt Mỹ lập chiến công.
Khắp nơi dâng cao làn sóng tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt.

Mỹ
mở cuộc phản công mùa khô, bắt nguồn từ tháng 1.1966 kéo dài trong 4
tháng với toàn bộ 450 cuộc hành quân lớn nhỏ, đa phần nhằm đánh vào miền
Đông Nam Bộ và đồng bằng khu 𝒱, thực hiện ý đồ “bẻ gãy xương sống Việt
cộng”. Với thế trận chiến tranh nhân dân, quân dân ta đã chặn đánh địch
trên mọi hướng. Sau thất bại, Mỹ-Ngụy lại mở cuộc phản công kế sách
mùa khô thứ hai vào tháng 10-1966 đến tháng 4.1967, tập trung lực lượng
đánh vào miền Đông Nam Bộ, nhằm tiêu diệt bộ đội chủ lực và đơn vị đầu
não của cách mạng. Lần này, cuộc phản công cũng bị thất bại. Bộ đội chủ
lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ đã cùng toàn dân tiêu hao và tiêu
diệt địch trên khắp chiến trường. Kết quả là qua hai mùa khô, nhân dân
miền Nam đã loại ra ngoài vòng chiến 190.000 địch quân trong đó có
128.000 quân Mỹ và chư hầu, làm thất bại một phần “chiến tranh cục bộ”
của đế quốc Mỹ.

Xem Thêm  Đầu bếp “bó tay” với loại tôm sống tại nơi... nóng nhất thế giới - hybisae

Tết
Mậu Thân, vào ngày 30 và 31.1.1968 quân và dân miền Nam hàng loạt tiến
công và nổi dậy ở 64 tp và thị xã. Chính quyền cách mạng được
thành lập ở Huế và nhiều vùng nông thôn mới được giải phóng. Ngày
20.4.1968 “Liên Minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt
Nam” được thành lập, mặt trận thống nhất dân tộc Mỹ được mở rộng. Nhưng
lực lượng của địch còn đông với hơn nửa triệu lính Mỹ và gần một triệu
lính ngụy. Chúng tổ chức phản công tại các thành thị và nông thôn. Lực
lượng cách mạng bị tổn thất lớn. Tuy thế, cuộc Tổng tiến công Tết Mậu
Thân làm lung lay ý chí xâm lược của Mỹ, làm phá sản kế sách “chiến
tranh cục bộ” buộc chúng phải nhận thương thảo với lực lượng cách mạng.

Song
song với việc tiến hành “chiến tranh cục bộ” tại miền Nam, đế quốc Mỹ
tiến hành chiến tranh phá hoại tại miền Bắc. Từ tháng 2.1965, đế quốc Mỹ
liên tục dùng không quân và hải quân tăng cường đánh phá ác liệt miền
Bắc, nhằm ngăn chặn sự viện trợ của miền Bắc cho miền Nam ruột thịt. Với
mục tiêu “đẩy lùi Bắc Việt Nam về thời đồ đá”, không quân và hải quân
Mỹ tập trung đánh vào các tp lớn Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định,
Thái Nguyên, Việt Trì, Vinh đều bị đánh đi đánh lại nhiều lần. Không
ngoại trừ các thủ đoạn man rợ, đế quốc Mỹ còn cho đánh bom các đê điều,
các công trình thủy lợi, bắn phá các trường học, phòng khám, nhà thờ, đền
chùa.. nêu cao quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, Hồ Chủ Tịch ra
lời mời chào: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu
hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số tp, xí nghiệp có thể bị tàn
phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập
tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại quốc gia ta đàng
hoàng hơn, to đẹp hơn

Để
chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, việc quân sự hóa toàn dân
được thực hiện, phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân
dân. Miền Bắc dấy lên cao trào chống Mỹ cứu nước, vừa sản xuất vừa chiến
đấu.

Sau
bốn năm đại chiến, nhân dân miền Bắc đã giành thắng lợi. Tính đến ngày
1.11.1968 có 3243 máy cất cánh Mỹ bị bắn rơi, trong đó có sáu “pháo đài bay”
Ɓ.52, hàng ngàn giặc lái bị diệt và bắt sống. Mỹ phải tuyên bố ném bom
hạn chế miền Bắc và phải trò chuyện với Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa tại Hội nghị bốn bên ở Paris.

2. Miền Nam chống quyết sách “Việt Nam hóa chiến tranh”miền Bắc đánh thắng chiến tranh phá hoại lần thứ II (1969-1973)

Sau
cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, đế quốc Mỹ bị tấn công từ
nhiều phía, ngay cả trong nội bộ nước Mỹ. Trào lưu chống chiến tranh
xâm lược Việt Nam dấy lên khắp nước Mỹ. Hạ nghị viện Mỹ đòi phải rút tất
cả quân Mỹ ở Việt Nam về nước trong thời gian ngắn nhất. Nixon phải hứa
sẽ chấm hết chiến tranh trong vòng sáu tháng, phát hành cái gọi là
“Học thuyết Nixon” và kế sách “Việt Nam hóa chiến tranh”. Theo chiến
lược này, lúc đầu quân Mỹ và quân ngụy vẫn là hai lực lượng kế sách
rồi sau đó Mỹ rút dần quân viễn chinh và chư hầu, tăng thêm quân ngụy để
thực hiện việc thay đổi màu da trên xác chết. Mỹ tăng viện trợ quân sự
và kinh tế và đồng thời tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc thêm một
lần nữa.

Ngày
1.1.1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời mời chào: “Đánh cho Mỹ cút, đánh
cho ngụy nhào”. Hưởng ứng lời mời chào, quân dân ở miền Nam mở mấy đợt
tiến công, tiêu diệt hàng chục vạn quân Mỹ-ngụy. Đầu năm 1971, sau 43
ngày đại chiến, quân và dân ở miền Nam lập thắng lợi đường 9-Nam Lào,
đập tan ý đồ cắt đứt đường mòn Hồ Chí Minh của Mỹ để cô lập cách mạng
miền Nam, diệt trên 25.000 địch, bắn rơi và phá hủy gần 500 máy cất cánh các
loại. Đến năm 1972, cuộc tiến công kế sách của quân dân miền Nam bắt
đầu từ Quảng Trị và sau đó lan ra khắp miền, cùng với trận “Điện Biên
trên không” của quân dân miền Bắc (bắn rơi 735 máy cất cánh Mỹ) buộc Mỹ phải
xuống thang chiến tranh. Hiệp định Paris được ký vào ngày 27.1.1973 công
nhận chủ quyền và vẹn toàn lãnh thổ của Việt nam, Mỹ phải rút hết quân
và chư hầu ra khỏi miền Nam.

III. Cuộc thắng lợi cuối cùng


đã ký Hiệp định Paris và đã thực hiện việc rút quân, nhưng đế quốc Mỹ
vẫn bám lấy Việt Nam, tiếp tục dùng ngụy quyền Sài Gòn làm dụng cụ để
mang miền Nam thành thuộc địa kiểm mới của Mỹ. Chúng ra sức xây dựng quân
đội ngụy thành một đội quân “mạnh nhất Đông Nam á” với số quân trên một
triệu mười vạn người. Mỹ đã cút nhưng ngụy chưa nhào, quân dân Việt Nam
lại tiến hành chiến dịch mùa xuân 1975 bắt nguồn từ Tây Nguyên (10.3 đến
24.3.1945). Mở màn chiến dịch này, sau thời điểm cắt đứt các đường giao thông
kế sách, bộ đội ngạc nhiên tấn công vào Buôn Ma Thuột nhưng đều bị đánh
bại và bị phản công phải tháo chạy ra khỏi Tây Nguyên. Sau chiến dịch
Tây Nguyên là chiến dịch Huế-Đà Nẵng. Các tỉnh miền Trung lần lượt được
giải phóng. Cuối cùng là chiến dịch Hồ Chí Minh. Ngày 30.4.1975 với sự
hiệp đồng đại chiến của các lực lượng tinh nhuệ, biệt động, tự vệ vùng
ven và nội đô, cùng với sự nổi dậy đều khắp của quần chúng, các cánh
quân cách mạng thần tốc thọc sâu vào chiếm các mục tiêu trọng yếu của
tp Sài Gòn như dinh Độc Lập, bộ Tổng Tham mưu ngụy, sân cất cánh Tân
Sơn Nhất, bộ Quốc phòng ngụy.. Đại sứ Mỹ chuồn lên máy cất cánh trốn khỏi Sài
Gòn, Tổng thống ngụy là Dương Văn Minh đầu hàng. Chiến dịch Hồ Chí Minh
toàn thắng.

Đất
nước Việt Nam thoát khỏi vòng bị phụ thuộc với bao nhiêu hy sinh của thế
hệ người hùng đã qua. Thế hệ mai sau mãi mãi noi gượng những người đi
trước để tiến tới xây dựng một xã hội tốt đẹp, công bình, phát triển và
hạnh phúc.


Xem thêm những thông tin liên quan đến đề tài 10 đội quân mạnh nhất trong lịch sử việt nam

10 Đội Quân Hùng Mạnh Nhất Thế Giới

  • Tác giả: Top Bí Ẩn
  • Ngày đăng: 2019-04-02
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 5785 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: 10 Đội Quân Hùng Mạnh Nhất Thế Giới

    ———————————————————————–
    Đăng Ký Kênh TopBiAn: http://bit.ly/2w1fR7W

    Xem thêm video của TopBiAn:
    ✔ Video Được Xem Nhiều: http://bit.ly/2VJowv1
    ✔ Thế Giới Siêu Xe: http://bit.ly/2WVwQod
    ✔ Thế Giới Động Vật: http://bit.ly/2Q7Ksdn
    ✔ Những Đắt Nhất Trên Thế Giới: http://bit.ly/2Js6hUq

    TopBiAn BiAn
    ———————————————————————–
    ★Fb Page: http://bit.ly/2BHiApk
    ★Tốp Bí Ẩn Playlist: http://bit.ly/2M432or
    ———————————————————————–
    Tốp Bí Ẩn không sở hữu toàn bộ tư liệu được sử dụng trong video này. Mọi thắc mắc về bản quyền vui lòng liên hệ tin nhắn hộp thư online, xin cảm ơn: laulaivy34765@gmail.com

    We do NOT own all the materials as well as footages used in this video. Please contact laulaivy34765@gmail.com for copyright matters!

    Thư điện tử: laulaivy34765@gmail.com
    Fanpage: http://bit.ly/2BHiApk

Top 10 vị tướng tài giỏi nhất trong lịch sử Việt Nam

  • Tác giả: toplist.vn
  • Nhận xét: 3 ⭐ ( 4404 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, Việt Nam đã sản sinh ra nhiều vị tướng tài ba được cả toàn cầu ghi nhận. Mỗi triều đại lịch sử, dân tộc ta đều tự hào vì có được các danh tướng đủ tài và đức để lãnh đạo nhân dân hạ gục hầu như các thế lực ngoại xâm, bảo vệ yên bình cho dân tộc.: Ngô Quyền (898 – 944), Phùng Hưng ( ? – 791 ), Lý Thường Kiệt (1019 – 1105), Trần Hưng Đạo (1230 – 1300), Quang Trung (1753 – 1792), Võ Nguyên Giáp (1911 – 2013), Lê Trọng Tấn (1914 -1986), Nguyễn Chí Thanh (1914 – 1967), Văn Tiến Dũng (1917-2002), Lê Đức Anh (1920 – 2019),

Top 10 Đội Quân Mạnh Nhất Trong Lịch Sử Việt Nam, Đội Quân Kì Lạ Nhất Trong Lịch Sử Việt Nam

  • Tác giả: tutukit.com
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 7099 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: ”Dân ta phải biết sử ta, Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam” – Hồ Chủ Tịch

10 triều đại phong kiến Việt Nam nổi trội theo dòng lịch sử

  • Tác giả: didaucogi.com
  • Nhận xét: 5 ⭐ ( 6730 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Top 10 triều đại phong kiến Việt Nam nổi trội sẽ gồm có: triều Ngô, triều Lý, triều Trần, triều nhà Tiền Lê, triều nhà Hậu Lê, triều Tây Sơn,..

14 vị người hùng tiêu biểu nhất trong lịch sử Việt Nam mà chúng ta nên biết

  • Tác giả: www.ohay.tv
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 8575 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Trong suốt nghìn năm lịch sử kháng chiến, tranh đấu xuất hiện rất nhiều vị người hùng tiêu biểu. Dưới đây là 14 vị người hùng tiêu biểu nhất trong lịch sử Việt Nam mà chúng ta nên biết.

Những trận đánh nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam

  • Tác giả: nghethuatquansuvn.wordpress.com
  • Nhận xét: 3 ⭐ ( 6732 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Trong lịch sử tranh đấu giữ nước của dân tộc, quân dân ta đã làm ra nhiều chiến công hiển hách. Mỗi chiến công đã để lại một mốc son chói lọi và làm rạng rỡ nền văn hóa quân sự mới lạ Việt Nam. Xin giới thiệu 5 trận thắng tiêu biểu nhất từ…

Những trận đánh nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam

  • Tác giả: www.qdnd.vn
  • Nhận xét: 5 ⭐ ( 7828 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Trong lịch sử tranh đấu giữ nước của dân tộc, quân dân ta đã làm ra nhiều chiến công hiển hách. Mỗi chiến công đã để lại một mốc son chói lọi và làm rạng rỡ nền văn hóa quân sự mới lạ Việt Nam. Xin giới thiệu 5 trận thắng tiêu biểu nhất từ thế kỷ Ҳ đến thế kỷ XVIII…

Xem thêm các nội dung khác thuộc thể loại: Khám Phá Khoa Học

By ads_law