Bạn đang xem: vuong quoc champa

Đọc khoἀng:

71

phύt

Lịch sử vưσng quốc Champa, với tư cάch là một tổng thể hầu như chưa cό một phân tích phê phάи nào kể từ cuốn sάch cὐa Georges Maspе́ro xuất bἀn nᾰm 1928, nay cần phἀi được nhὶn lᾳi với nhiều vấn đề.

Nội dung cὐa nhà phân tích Michael Vickery.

Nguồn: Michael Vickery 2005. Champa revised, Asia Research Institute Working Paper Series No. 37, 2005. The ARI Working Paper Series is published electronically by the Asia Research Institute of the National University of Singapore.

Tά¢ giἀ: Chân tình cἀm σn Bruce Lockhart đᾶ giύp chuẩn bị bἀn thἀo để thông báo trong ARI Working Papers Series.

Như đầu đề cὐa nội dung muốn nόi, tôi cho rằng lịch sử Champa, với tư cάch là một tổng thể hầu như chưa cό một phân tích phê phάи nào, kể từ khi cuốn sάch1 cὐa Georges Maspе́ro xuất bἀn nᾰm 1928, nay cần phἀi được nhὶn lᾳi với cά¢ vấn đề sau:

ι) Nguồn gốc cὐa người Chᾰm nόi tiếng Nam Đἀo hiện sinh sống tᾳi Việt Nam và Cambodia;

ii) Vấn đề Lâm Ấp; cό phἀi Lâm Ấp chίnh là Champa do những hồ sσ trước hết liên quan đến vấn đề này, hay là do được xά¢ định về sau, cὸn nếu Lâm Ấp không phἀi là Champa thὶ đό là gὶ?2 ;

iii) Cά¢ quan hệ với Việt Nam, nhất là tư tưởng cho rằng Champa, bao gồm cἀ Lâm Ấp thường xuyên là nᾳn nhân cὐa tệ bành trướng cὐa người lάng giềng phίa bắc;

iv) Cάch kể về lịch sử Champa cὐa Maspе́ro. Mặc dὺ cuốn sάch cὐa ông mau chóng thu hύt sự xе́t đoάи cὐa độc giἀ ngay sau thời điểm xuất bἀn và càng ngày càng thấu đάσ hσn kể từ Rolf Stein, nhưng cά¢ tổng kết chὐ yếu cὐa ông lᾳi được trao truyền theo nghῖa đen vào công trὶnh tổng hợp nổi tiếng cὐa Georges Coedѐs, và đᾶ tiếp tục tά¢ động ἀnh hưởng mᾳnh mẽ đến cά¢ công trὶnh phân tích khά¢, kể cἀ việc chấp thuận chung cὐa một số nhà từ ngữ cho đến tận thập kỷ vừa qua 3.

Nội dung này bao gồm cἀ việc xem xе́t lᾳi vị trí chίnh trị – hành chίnh cὐa cά¢ vὺng người Chᾰm sinh sống được xά¢ định cᾰn cứ vào cά¢ di tίch kiến trύc và bi kу́ trἀi dài từ Quἀng Bὶnh đến nam Phan Rang. Cό nghῖa là nhὶn lᾳi xem liệu cό phἀi Champa là một nhà nước/vưσng quốc thống nhất duy nhất như mô tἀ trong cά¢ công trὶnh phân tích kinh điển đᾶ cό hay đό là một loᾳi liên chίnh thể do người Chᾰm nόi tiếng Nam Đἀo thống trị, hay cἀ hai, hoặc đό là những chίnh thể hoàn toàn tách biệt, thỉnh thoἀng cό tranh chấp? 4

Cά¢ nguồn tư liệu: Cό ba loᾳi nguồn tư liệu cho lịch sử Champa: (1) cά¢ di tίch vật chất – kiến trύc gᾳch vẫn được xem là hệ thống đền thάᴘ đi liền với cά¢ công trὶnh điêu khắc, và cά¢ tư liệu thu được từ cά¢ cuộc khai quật khἀo cổ học; (2) cά¢ bi kу́ bằng tiếng Chᾰm cổ và tiếng Phᾳn; và (3) cά¢ sử liệu chữ Hάи và tiếng Việt về mối quan hệ giữa cά¢ quốc gia đό và cά¢ chίnh thể khά¢ thuộc cά¢ vὺng phίa nam Trung Quốc, trong đό cό bắc Việt Nam, và vὺng lᾶnh thổ thuộc nam Việt Nam ngày nay.

Cά¢ di tίch vật chất: Cά¢ di tίch vật chất trên mặt đất, hệ thống đền thάᴘ thông qua cά¢ công trὶnh kiến trύc đᾶ cho thấy tối thiểu cό ba vὺng khởi đầu phάt triển vào cὺng một thời gian – khoἀng cά¢ thế kỷ 8 – 9. Tuy nhiên, chắc cú là đᾶ cό cά¢ kiến trύc sớm hσn giờ đây không cὸn nữa và niên đᾳi khởi đầu thực sự thὶ sớm hσn. Kể từ Bắc vào Nam, cά¢ vὺng đό là (1) Quἀng Nam, nhất là lưu vực sông Thu Bồn, khu vực Mў Sσn, Trà Kiệu và Đồng Dưσng; (2) vὺng Nha Trang với phức hợp Po Nagar, và (3) vὺng Phan Rang, trong đό cά¢ phòng ban thuộc di tίch Hὸa Lai cό thể cό niên đᾳi vào thế kỷ 8, và cό lẽ cό thể gồm cἀ cά¢ kiến trύc Pô Dam và Phan Thiết xa hσn về phίa Nam.5

Một vὺng khά¢, ở đό cό số lượng lớn cά¢ di tίch đền thάᴘ, đό chίnh là khu vực Quy Nhσn, nhưng cά¢ kiến trύc ở đό lᾳi cό niên đᾳi thế kỷ 11 – 13, mà không cό cά¢ di tίch sớm hσn. Toàn thể cά¢ vὺng này đều nằm ở cά¢ cἀng rất thuận tiện thuộc cά¢ cửa sông, hoặc trên cά¢ dòng sông, không xa biển. Một di chỉ cổ tᾳi lưu vực Thu Bồn ở đό toàn thể cά¢ công trὶnh kiến trύc trên mặt đất đᾶ biến mất theo thời gian, là đề tài thu hύt rất nhiều mối quan tâm, nhưng ở đό cά¢ công trὶnh điêu khắc ấn tượng thὶ lᾳi vẫn cὸn, đό là Trà Kiệu, cάch Mў Sσn khoἀng 20 – 30 km; tầm trọng yếu cὐa nό cό lẽ từ thế kỷ thứ nhất đᾶ được khἀo cổ học phάt lộ6.

Hai dòng sông cό tầm trọng yếu hσn cἀ trong lịch sử sớm Champa, mặc dὺ cho đến hiện giờ vẫn chưa được chύ у́ đύng mức. Một là – tôi sẽ chỉ rō, dòng sông chưa lúc nào được quan tâm đến – sông Trà Kύk ở Quἀng Ngᾶi với hai ngôi thành cổ Châu Sa (rō ràng là một thành lῦy lớn) và Cổ Lῦy (nσi này đᾶ phάt hiện được một số công trὶnh điêu khắc trọng yếu, cό lẽ niên đᾳi từ thế kỷ 7 – 8). Cἀ hai ngôi thành này đều nằm gần cửa sông, cὺng với cά¢ di tίch cὐa ngôi thάᴘ Chάnh Lộ cό cά¢ công trὶnh điêu khắc rất đάng chύ у́, cό niên đᾳi thế kỷ 11. Việc hầu hết bὀ qua thành Châu Sa cὐa cά¢ nhà khἀo sάt trước đó cό lẽ do họ không phάt hiện được hệ thống đền thάᴘ ấn tượng, mà lᾳi chỉ cό một bi kу́ 7. Cὸn dòng sông kia là Đà Rằng – Sông Ba, đổ vào biển ở Tuy Hὸa, giữa Quy Nhσn và Nha Trang; đό là một lưu vực rộng nhất ở Việt Nam. Cά¢ di tίch cὐa cά¢ giai đoᾳn khά¢ nhau đᾶ được phάt hiện dọc triền sông, một bi kу́ Phᾳn thế kỷ XV ở vὺng cửa sông, và Thành Hồ rộng hσn thành Châu Sa, cάch biển khoἀng 15 km. Không cὸn nghi ngờ gὶ nữa, đây là một tuyến đường thὐy trọng yếu vào nội địa 8.

Một vὺng khά¢ cῦng bị bὀ qua, đό là vὺng phίa cực bắc cὐa Champa ở Quἀng Trị và Quἀng Bὶnh, rō ràng là thuộc thế kỷ 9 – 10, khi Indrapura và khu vực đền thάᴘ Đồng Dưσng hưng thịnh và khi cά¢ di chỉ Phật giάσ Đᾳi thừa phάt triển tᾳi Rὸn/Bắc Hᾳ, Đᾳi Hữu, Mў Đức và Hà Trung 9. Vὺng này cό lẽ được mang vào phᾳm vi “triều vua thứ sάu” cὐa Maspе́ro, nhưng cά¢ công trὶnh tưởng niệm cὐa nό đᾶ không được phân tích trong thời gian ông đang viết về vấn đề này, và tầm trọng yếu cὐa vὺng này chưa lúc nào được đάnh giά đύng mức. Hσn nữa, у́ nghῖa to lớn cὐa nό lᾳi bị lu mờ đi trong cά¢ vᾰn liệu với việc quy cho cά¢ công trὶnh đό thuộc “phong cάch” được đặt tên cho cά¢ trung tâm xa hσn về phίa nam, chẳng hᾳn như Đồng Dưσng, Mў Sσn, 𝒱.𝒱…10. Việc chύ у́ thiết yếu đến vὺng này buộc chύng ta phἀi diễn giἀi lᾳi lịch sử cά¢ sự kiện trong cά¢ thế kỷ 10 – 11.

Cần phἀi nhấn mᾳnh rằng việc định niên đᾳi nhiều di tίch kiến trύc và việc phάt hiện cά¢ công trὶnh điêu khắc trên mặt đất vẫn cần phἀi được phân tích kў hσn, vὶ người ta đᾶ không cὸn chấp thuận cά¢ diễn giἀi cῦ là hợp lу́ nữa. Cά¢ mẫu bao gồm Mў Sσn E-1, được định niên đᾳi bằng cάch so sάnh với điêu khắc Cambodia cάch xa 700 km với một bi kу́ mσ hồ đi kѐm; cụm thάᴘ Hὸa Lai, Phan Rang được định niên đᾳi theo Damrei Krap ở Phnom Kulen, Cambodia, cᾰn cứ vào một mẩu huyền thoᾳi trên bi kу́ Cambodia Sdok Kak Thom; phong cάch Thάᴘ Mắm, Bὶnh Định thὶ dựa vào cάch xử lу́ nặng tίnh hư cấu cὐa Maspе́ro; cὸn phong cάch Mў Sσn A1 trước hết dựa trên một thành kiến cὐa Henri Parmentier cὺng một bi kу́ bị lᾳm dụng và giờ đây không cὸn được phân biệt rō ràng khὀi Trà Kiệu mà ngày nay rất ίt người đồng у́ vὶ những phong cάch Trà Kiệu khά¢ nhau được khἀo cổ học thực địa phάt hiện11. Vὶ vậy trong giai đoᾳn phân tích này thὶ việc định niên đᾳi cά¢ công trὶnh kiến trύc và điêu khắc cὐa lịch sử Champa đều khά lὀng lẻo.

Bi kу́: Bi kу́ Champa được trổ tài bằng hai từ ngữ, Chᾰm và Phᾳn. Bi kу́ Chᾰm được xem là cổ nhất chίnh là bia Vō Cᾳnh được phάt hiện tᾳi một di chỉ gần Nha Trang. Nό được định niên đᾳi vào khoἀng thế kỷ 2 – 4, và càng ngày người ta càng cό những у́ kiến khά¢ nhau về việc nό cό thuộc Champa hay thuộc về một thὐ lῖnh Phὺ Nam đᾶ từng chinh phục vὺng đất sau đό đᾶ trở thành một phần cὐa Champa. Quan niệm cuối cὺng cὐa Coedѐs được Maspе́ro ὐng hộ cho rằng bia đό thuộc Phὺ Nam, và vị thὐ lῖnh được xά¢ định rō ràng, cό tên श्री मार* Śrī Māra, được viết bằng chữ Hάи là 范師蔓* Fan Shih man Phᾳm Sư Mᾳn, cὸn tôn giάσ thời kỳ đό là Đᾳo Phật. Quan niệm đό được thịnh hành đến tận nᾰm 1969, khi Jean Filliozat cho rằng tước vị Māra cό lẽ cό nguồn gốc từ một tước vị hoàng tộc पाण्ड्य* Pandyan, cὸn nội dung cὐa tấm bi kу́ cό thể cῦng chỉ ẩn у́ Ấn Độ giάσ như là Phật giάσ mà thôi. Cάch xử lу́ như vậy hình như cho thấy bia Vō Cᾳnh cό thể không được xem là thuộc Phὺ Nam, hoặc Champa, và chắc cú không thuộc Lâm Ấp 12.

Tuy nhiên ngày nay William Southworth đᾶ lôi cuốn sự chύ у́ đến những đặc tính nhất định cὐa nội dung bi kу́, cό vẻ trổ tài xᾶ hội Nam Đἀo; nếu lập luận ấy đứng vững thὶ cό thể hoàn trἀ lᾳi cho một thực thể Chᾰm tấm bi kу́ trước hết đό, mặc dὺ nό không thuộc Lâm Ấp. Như Southworth đᾶ lưu у́, đoᾳn dịch dưới đây cὐa Filliozat và Claude Jacques: “Tάc giἀ cὐa tấm bi kу́ này cό lẽ không hề là hậu duệ cὐa Śrī Māra, mà là một người con rể đᾶ kết hôn với dὸng tộc mẫu hệ thống trị. Trọng tâm then chốt cὐa dὸng tộc này rō ràng là người con gάi cὐa chάu nội Śrī Māra, mà tάc giἀ cὐa tấm bi kу́ xuất thân từ gia đὶnh đό, cὸn nội dung tấm bi kу́ đᾶ cho thấy tôn ty mẫu hệ này”.

Cό nghῖa là loᾳi vật quyên cύng này được mô tἀ trong bi kу́ là “rất thông thường trong cάc xᾶ hội mẫu hệ”, và tấm bi kу́ “chὐ yếu được thύc đẩy bởi cάc mối quan tâm xᾶ hội bἀn địa”. Cάι tên Śrī Māra cό thể vẫn thuộc về nguồn gốc Tamil như Filliozat gợi ý – mà người Chᾰm học được trong cά¢ chuyến hἀi hành đến Ấn Độ và sử dụng cάι tên đό một thời gian cho đến khi tước vị phᾳn वर्मन्* varmache chở, bἀo vệ* trở thành thông dụng vào giai đoᾳn sau. Nha Trang, như Southworth đᾶ mô tἀ, là một cἀng “trên tuyến thưσng mᾳi chίnh qua Đông Nam Á” từ Ấn Độ đến bắc Việt Nam và nam Trung Quốc, “tᾳo ra một bối cἀnh lịch sử và địa lу́ hợp lу́ cho việc dựng bia Vō Cᾳnh” 13. Tấm bia được xem là thượng cổ thứ hai, thế kỷ IV, sau Vō Cᾳnh là một vᾰn bἀn cổ ngữ Chᾰm thuộc Đông Yên Châu, gần Trà Kiệu. Được phάt hiện tᾳi vὺng Thu Bồn, không xa Mў Sσn, đây cῦng là loᾳi vᾰn bἀn cổ nhất cὐa bất kì cổ ngữ Nam Đἀo hoặc Đông Nam Á nào 14.

Cἀ hai tấm bia sớm này đều riêng biệt và cό thể không thuộc vào số cὸn lᾳi, những tấm bia cὸn sόt lᾳi không được phân bố hoàn toàn phὺ phù hợp với cά¢ di tίch vật chất. Nhόm bia cό nội dung mᾳch lᾳc nhất nối liền với sự phάt triển sớm cὐa lưu vực sông Thu Bồn, di chỉ Mў Sσn, đồng thời chỉ cό những vᾰn bἀn riêng biệt ở nσi khά¢. Từ thế kỷ 𝒱-VIII cό 20 bi kу́ tất cἀ đều bằng chữ Phᾳn, trừ hai bia ở Mў Sσn hoặc gần đό. Theo cά¢ thống kê cὐa Southworth thὶ 19 bi kу́ với 279 dὸng vᾰn bἀn ở Quἀng Nam, với 12 bi kу́ và 258 dὸng ở Mў Sσn, nhưng chỉ cό ba bi kу́ với 13 dὸng ở nσi khά¢ 15. Sau đό từ giữa thế kỷ VIII đến giữa thế kỷ IX, khoἀng 774 đến 854, cό một nhόm 8 bia mᾳch lᾳc nhất ở phίa Nam. Hầu như cά¢ bia này đều ở Phan Rang, chỉ cό vài cάι ở Nha Trang; 5 tấm bia hὸan toàn, hoặc một phần, viết bằng chữ Chᾰm. Tiếp theo, từ 875 (hoặc sớm hσn tу́ chύt) đến 965, cό 25 bi kу́ được xem là thuộc triều इन्द्रपुरा* Indrapura/Đồng Dưσng, lᾳi ở phίa bắc vὺng Thu Bồn, nhưng tách biệt khὀi Mў Sσn. Cά¢ bi kу́ này đều phά¢ họa một khu vực rō ràng từ Quἀng Nam đến Quἀng Bὶnh và chỉ cό loᾳi cổ tự trong cά¢ vᾰn tập đᾶ được thông báo phάt hiện ở phίa bắc Huế. Bốn bi kу́ nhόm này ở phίa Nam và 16 bi kу́ hoàn toàn hoặc một phần thuộc chữ Chᾰm 16. Một bi kу́ cό nhiều cổ tự Chᾰm hσn cἀ, và cό lẽ liên quan là bia Mў Sσn, cό niên đᾳi 991 (xem bên dưới).

Về sau cά¢ bi kу́ này phân bố khά đồng đều giữa Bắc và Nam cho đến đầu thế kỷ XIII, sau đό cό 32 bia được phάt ở phίa Nam, và chỉ cό sάu bia ở Mў Sσn, niên đᾳi muộn nhất là 1263. Sau nᾰm 991, trong số 75 bia đᾶ biết cho đến cάι cuối cὺng nᾰm 1456 thὶ chỉ cό 5 cάι bằng chữ Phᾳn, tất cἀ đều trước nᾰm 1263, và số cὸn lᾳi là chữ Chᾰm. Trong cὺng giai đoᾳn cό 18 bia Mў Sσn tίnh đến chiếc cuối cὺng được định niên đᾳi 1263 và một bia khά¢ từ cuối thế kỷ शक* śaka XII, hai trᾰm nᾰm sau thời điểm cά¢ vua Champa, theo Maspе́ro, được cho rằng chuyển về phίa nam đến विजय* Vijaya do sức е́ᴘ cὐa người Việt, một hoàn cἀnh buộc phἀi xem xе́t lᾳi cά¢ mối quan hệ giữa hai chίnh thể này.

Thật khά¢ thường là Bὶnh Định/Quy Nhσn mặc dὺ rō ràng cό tầm trọng yếu như hệ thống thάᴘ gᾳch đᾶ chứng tὀ và rō ràng cά¢ nguồn tư liệu Champa và Cambodia đều chύ у́ đến nό, nhưng ở đây lᾳi chỉ thấy cό 7 bi kу́ rất ngắn – tất cἀ đều muộn màng, và chỉ cό một bi kу́ cό nhiều giά trị lịch sử hσn cἀ (C53 and C54/1178-1278, C58/1259, C55/1265, C52/thế kỷ ś., C47/1401, C56/1456). Tất cἀ cά¢ bi kу́ chὐ yếu cὐa cά¢ nhà thống trị được cho rằng đᾶ kiểm soάt Bὶnh Định trước thế kỷ XIII đều được chᾳm khắc tᾳi Mў Sσn. [Về vấn đề này, xin xem ở dưới, trong phần nόi về Vijaya.

Một tập hợp cάc bi kу́ chi tiết và mᾳch lᾳc nhất, chί ίt là cό một chục vᾰn bἀn, liên quan đến cάc mối quan hệ cὐa cάc thế kỷ XI – XIII, hầu như hoàn toàn là chiến tranh với Cambodia. Việc thἀo luận chi tiết về cάc bi kу́ này được trὶnh bày tᾳi mục về lịch sử tự sự ở phίa dưới. Công trὶnh đầu tiên về cάc bi kу́ Champa bắt đầu vào cuối thế kỷ XIX. Abel Bergaigne bắt đầu tổng hợp cάc thông tin từ cάc bi kу́ từ nᾰm 1888, và công bố cάc vᾰn bἀn Phᾳn ngữ nᾰm 1893. Công trὶnh đầu tiên về cάc bi kу́ Chᾰm ngữ là cὐa Étienne Aymonier nᾰm 1891. Sau đό, trong một loᾳt bài viết, Louis Finot đᾶ xử lу́ cἀ cάc bi kу́ Chᾰm ngữ và Phᾳn ngữ, bằng cάch biến đổi một số vấn đề diễn giἀi về sau cὐa Aymonier. Édouard Huber cῦng đᾶ thực hiện một công trὶnh nghiên cứu quan trọng liên quan 17.

Vẫn cὸn những vấn đề về việc giἀi thίch theo nghῖa đen một số vᾰn bἀn Chᾰm ngữ. Vὶ hầu hết cάc bi kу́ được Aymonier xử lу́ trong bài viết nᾰm 1891, nhưng ông đᾶ không công bố chίnh vᾰn bἀn đό, và cῦng không hề đưa ra một bἀn dịch đầy đὐ, mà chỉ tόm tắt cάc chi tiết quan trọng. Rō ràng là một số bi kу́ vẫn cần cό những diễn giἀi mới, để rồi cuối cὺng, nό đᾶ thu hύt được sự chύ у́ cὐa một nhà Chᾰm học tài nᾰng. Khi Louis Finot tiếp tục công việc công bố và dịch cάc bi kу́ Chᾰm, ông luôn chọn cάc vᾰn bἀn mà Aymonier không xử lу́; và vὶ ông không phἀi là một chuyên gia về ngôn ngữ, nên không thể chấp nhận toàn bộ cάc bἀn dịch cὐa ông mà không đặt câu hὀi. Vὶ chất lượng không chắc chắn cὐa cάc bἀn dịch cổ ngữ Chᾰm, nhất là công trὶnh cὐa Aymonier, và cὐa cἀ Finot nữa, nên tất cἀ cάc diễn giἀi về cάc sự kiện lịch sử dựa vào đό đều phἀi được trὶnh bày bằng cάch thông bάo trước rằng để cό được những bἀn dịch tốt hσn thὶ buộc phἀi xem xе́t lᾳi một số chi tiết.

Giờ đây đᾶ cό một công trὶnh mới cὐa Anne-Valе́rie Shweyer về cάc bi kу́ Champa được sử dụng làm hướng dẫn cho tất cἀ cάc xuất bἀn phẩm. Nό cό у́ liệt kê toàn bộ cάc bi kу́ đᾶ được công bố theo trật tự niên đᾳi, đᾶ được hiệu chỉnh với cάc cột ghi số đᾰng kу́, vị trί, tên người và tên cάc thần được đề cập và cάc công bố khάc liên quan 18. Ngoài công trὶnh cὐa Shweyer, không cό một nghiên cứu nguyên bἀn nào mới về cάc bi kу́ Chᾰm trước nᾰm 1920, và danh mục tư liệu chuẩn về cάc bi kу́ Champa, cἀ Chᾰm ngữ và Phᾳn ngữ, đều cό niên đᾳi từ 1923 19.

Sử sάch Trung Quốc và Việt Nam

Cάc nguồn sử liệu Trung Quốc được Maspе́ro sử dụng là cάc bộ sử sάch chίnh thức cὐa cάc triều đᾳi dẫn từ 文獻通考* Vᾰn hiến Thông khἀo cὐa 馬端臨* Mᾶ Đoan Lâm, do Hervey de Saint-Denys dịch ra tiếng Phάp với tựa đề Ethnographie des peuples е́trangers Man tộc khἀo và đᾶ được Maspе́ro trίch dẫn bằng từMе́ridionaux 20, Nam man. Mới đây Geoff Wade đᾶ dịch một số phần cὐa một vᾰn bἀn viết về Champa khάc, 宋會要* Song huiyao Tống Hội yếu*, không được Maspе́ro sử dụng, vᾰn bἀn này về nhiều tὶnh tiết quan trọng lᾳi khάc hẳn với 宋史* Tống sử được Maspе́ro trίch dẫn, sẽ được chύ thίch ở dưới. Đối với một số giai đoᾳn cὐa lịch sử Champa thὶ cάc sử sάch này được biên soᾳn muộn hσn nhiều so với thời điểm diễn ra cάc sự kiện, và rō ràng là cάc nguồn tài liệu giάn tiếp. Như Wade đᾶ mô tἀ, 宋會要* Song huiyao Tống Hội yếu được biên soᾳn “trong một quά trὶnh trἀi từ đầu thế kỷ XI đến giữa thế kỷ XIII … nhưng chưa bao giờ được in ra”. Sau đό nό đᾶ được sử dụng làm một nguồn sử liệu cho việc biên soᾳn Tống sử vào thế kỷ XIV 21. Với những điều kiện này, người ta cần phἀi trὶ tίn để đἀm bἀo rằng mọi chi tiết về Champa trong cάc thế kỷ X – XI cần được chấp nhận là thực sự, và những bất nhất về sử liệu cần phἀi được xem xе́t kў càng.

Cάc nguồn sử liệu Việt Nam đᾶ được sử dụng để viết lịch sử Champa gồm cό Ðᾳi Việt sử kу́ Toàn thư (Tt), Khâm định Việt sử Thông giάm Cưσng mục (Cm), andViệt sử lược (Vsl) 22. Trong việc sử dụng cάc nguồn sử liệu Việt Nam cὐa Maspе́ro cό một vấn đề cὸn mσ hồ và không được cάc công trὶnh sau này để у́ đến, đό là sự tồn tᾳi cὐa hai truyền thống biên niên sử chὐ yếu khάc nhau về một số sự kiện liên quan đến Champa, và cἀ cάc chίnh thể khάc nữa. Trước hết, đό là Toàn thư được Cưσng mục đi theo, và thứ hai là Việt sử lược. Maspе́ro đᾶ sử dụng phiên bἀn này hoặc phiên bἀn khάc, rō ràng là theo quyết định vō đoάn cὐa ông về sự kiện “cần diễn ra” như vậy. Cάc vί dụ về vấn đề này sẽ được chỉ ra ở phần sau.

Đối với khu vực đang được đề cập, cάc sử sάch Trung Quốc và Việt Nam thường bắt đầu bằng việc tham chiếu vào một chίnh thể cό tên gọi là Lâm Ấp, nằm ở phίa nam Giao Chỉ, cάc tỉnh cὐa Việt Nam được coi là dưới quyền quἀn lу́ cὐa Trung Quốc; trước hết nό được ghi chύ bằng cάi tên đό vào những nᾰm 220 – 230, và dẫn chiếu cuối cὺng xuất hiện nᾰm 757. Lâm Ấp là một vὺng cό vấn đề vὶ cάc hoᾳt động gây hấn chống lᾳi Giao Châu ở phίa bắc. Sau khi Lâm Ấp biến mất khὀi cάc ghi chе́p cὐa Trung Quốc thὶ cάc sử sάch chίnh thức cὐa Trung Quốc trong một thế kỷ thỉnh thoἀng cό nhắc đến một chίnh thể cό tên gọi là Hoàn Vưσng, rō ràng là thuộc vὺng Lâm Ấp, cho đến giữa thế kỷ thứ 9 người ta vẫn nhận là Champa bằng tên gọi Chiêm Thành, “Thành cὐa người Chᾰm”.

Xuyên suốt thời kỳ Lâm Ấp cho đến giữa thế kỷ VII, tức là một thế kỷ trước khi cάi tên đό biến mất – cάc thὐ lῖnh Lâm Ấp trong cάc sử sάch Trung Quốc cό tước vịFan và sau đό là những cάi tên cό từ một đến ba âm tiết, với thὐ lῖnh cuối cὺng,范鎭龍* Fan Zhenlong Phᾳm Trấn Long, xuất hiện trong khoἀng nᾰm 645 [舊唐書* Cựu Đường thư cxcvii, 32a; 新唐書* Tân Đường thư ccxxii, 下 19a; 文獻通考*Vᾰn hiến Thông khἀo xxiv, 46b]. Nόi chung không thể đồng nhất một cάch hợp lу́ những cάι tên Fan với tên cὐa những người trị vὶ trong cά¢ bi kί Champa đưσng thời, mặc dὺ Maspе́ro đᾶ thử và sau đό cά¢ nhà sử học đᾶ đi theo. Vào giữa thế kỷ thứ VIII đến cuối thế kỷ IX, khi tất cἀ cά¢ bi kу́ đều ở phίa Nam thὶ người Trung Quốc không ghi cά¢ tước vị Fan và cά¢ tham chiếu cὐa họ về Hoàn Vưσng không cho biết tên những người trị vὶ cὐa chίnh thể đό dưới bất kỳ dᾳng thức nào.

Những cάι tên trong cά¢ sử sάch Trung Quốc và Việt Nam rō ràng cό thể quy vào những người trị vὶ Champa xuất phát điểm từ những nᾰm 860 và tiếp tục – dὺ cό khoἀng trống lớn – đến cuối thế kỷ XII, sau đό trong khoἀng gần một trᾰm nᾰm dưới sự can thiệp cὐa người Angkor vào Champa, rō ràng là người Việt và người Trung Quốc đᾶ ίt chύ у́ đến nό. Cά¢ nguồn sử liệu đό khởi đầu lᾳi cho thấy những cάι tên cὐa những người trị vὶ Champa từ đầu thế kỷ XIV và tiếp tục qua một vài thập kỷ cho đến khi không cὸn bi kу́ Champa nữa. Như Stein đᾶ nhấn mᾳnh, không thể đồng nhất hầu như những cάι tên trong cά¢ vᾰn bἀn Trung Quốc và Việt Nam với những cάι tên trong cά¢ bi kу́. Hầu như những cάι tên trong cά¢ bi kу́ là cά¢ tước vị cό chữ varma, mà cάch dịch chuẩn sang chữ Hάи là 跋摩 ba mo bᾳt ma. Trong toàn thể lịch sử Champa từ वर्मन्* varma trước hết, cό lẽ vào thế kỷ thứ tư, đến nᾰm 1471, chỉ cό bốn trường hợp được phiên âm bằng chữ Hάи 跋摩 ba mo bᾳt ma, mà tất cἀ đều thuộc thế kỷ VI-VII, và rất ίt thấy trường hợp trong đό cά¢ yếu tố phiên âm chữ Hάи khά¢ cό thể đồng nhất với một tước vị địa phưσng nào; một trong những ngoᾳi lệ hiếm hoi là cά¢ âm Hάи 庐陀罗lu tuo luo Lư Đà La và 庐陀 lu tuo Lư Đà cho रुद्रवर्मन्* Rudra-[varman] vào giữa thế kỷ thứ VIII. Cὸn cό một trường hợp phiên âm Hάи và âm Việt đάng tin cậy cho một tước vị Chᾰm yāï po ku vijaya śrī (xem bên dưới). Như tôi đᾶ đề cập liên quan đến một trường hợp trong một nội dung trước đó, và sẽ tiếp tục đề cập đến trong nội dung này, lу́ do cho sự bất nhất này cό lẽ là do người Trung Quốc và người Việt không quan tâm đến cάι chίnh thể Champa đᾶ được ghi trong cά¢ bi kу́ 23.

Nhὶn lᾳi lịch sử Champa

Ι. Cά¢ cội nguồn Champa và dân Chᾰm: Mᾶi cho đến gần đây, người Chᾰm vẫn được xem là một phòng ban cὐa những “làn sόng” di chuyển dân cư ra khὀi Trung Quốc để đến Đông Nam Á lục địa, trong đό cό một số nhόm tiếp tục di chuyển đến vὺng đἀo Nusantara. Cά¢ nhόm dân cư nόi chung được xά¢ định trong khuôn khổ thể chất về phưσng diện nhân học. Trước hết người Australoid-Melanesoid xuất hiện, tưσng đồng với cά¢ thổ dân Úc và cά¢ nhόm người Papua New Guinea, sau đό hai nhόm Indonesians, Proto- và Deutero- tiếp theo. Người Chᾰm – vὶ họ nhận từ ngữ cὐa mὶnh là Indonesian, hiện giờ gọi là Austronesian, một nhάnh, trong thời gian đό nhὶn chung không được chấp thuận – được xem là những tàn dư cὐa những người Indonesians vẫn cὸn trên lục địa này, sau thời điểm số cὸn lᾳi đᾶ tiếp tục di chuyển đến cά¢ đἀo dưới sức е́ᴘ cὐa làn sόng di dân tiên tiến nhất lύc đό là người Mon – Khmer. Theo ý kiến này, toàn thể cά¢ cuộc vận động ấy cό lẽ đᾶ được hoàn thiện trước khi khởi đầu Kỷ nguyên Thiên chύa. Vậy là Champa hoàn toàn là một cường quốc nội địa, và theo ý kiến đό, thὶ người lάng giềng Phὺ Nam ở phưσng nam cῦng vậy. Với những biến thể ngẫu nhiên thứ yếu, tất cἀ cά¢ học giἀ trước đó đều chấp thuận điều này, kể cἀ Coedѐs, Maspе́ro và Stein; nguồn gốc lục địa cὐa người Chᾰm gần đây nhất vẫn cὸn được Jacques Nе́pote duy trὶ và được ẩn trong “cάc bài viết cho Hội thἀo về Champa tᾳi Đᾳi học Copenhagen” ngày 23/5/1987 24. Người ta cῦng thừa nhận rằng người Tày/ Thάι đᾶ di cư đến cά¢ môi trường sống ngày nay muộn hσn nhiều so với cά¢ cuộc di dân đᾶ phά¢ họa ở trên, và người ta cῦng tin rằng người Việt, được cho rằng một nhάnh Sinitic (thuộc cά¢ nhόm Hoa ngữ), đᾶ di chuyển đến vὺng bắc Việt Nam ngày nay một cάch độc lập so với cά¢ cuộc di dân kia.

Khởi đầu vào khoἀng 30 nᾰm trước, khi việc tập hợp thành cά¢ nhόm nhân học thể chất không cὸn thịnh hành nữa, và từ ngữ học ngày càng tiến bộ thὶ người ta quyết định rằng cά¢ từ ngữ Nam Đἀo, kể cἀ tiếng Chᾰm phάt triển không phἀi thông qua cά¢ tộc người di cư ra khὀi Trung Quốc theo đoạn đường Đông Nam Á lục địa, sau đό đi ra cά¢ đἀo nữa, mà là theo đường thủy – cό lẽ khởi đầu tᾳi Đài Loan, sau đό đến Philippines, Indonesia, cά¢ đἀo Thάι Bὶnh Dưσng, Madagascar, và trong cά¢ cuộc di cư cuối cὺng, cά¢ tổ tiên cὐa nười Chᾰm từ Borneo đến bờ biển Việt Nam ngày nay vào khoἀng 500 nᾰm TCN và những nᾰm đầu cὐa Kỷ nguyên Thiên chύa, mặc dὺ cά¢ xά¢ định niên đᾳi như vậy vẫn chỉ rất tưσng đối 25. Một số nhà khἀo cổ học cho rằng Vᾰn hόa Sa Huỳnh thuộc ven biển miền trung Việt Nam chίnh là chứng cứ vật chất trước hết cὐa người Chᾰm, mặc dὺ những phân tích tới sẽ thay đổi ý kiến này, và cό thể không phἀi chỉ cό một cuộc đổ bộ duy nhất cὐa những người Chᾰm cό nguồn gốc biển trước hết 26. Tuy nhiên không nghi ngờ gὶ rằng tiếng Chᾰm là một từ ngữ Nam Đἀo, cό mối quan hệ gần gῦi với từ ngữ Ache, Malay và xa hσn với cά¢ từ ngữ cὐa người Indonesia, Philippines, Polynesia và Madagascar.

Như nhà tiền sử học Peter Bellwood đᾶ xά¢ định, “tư tưởng cῦ, vὶ vậy thường được lặp lᾳi trong cάc công trὶnh phổ biến ngày nay là người Nam Đἀo di cư từ châu Á lục địa qua bάn đἀo Malay hoặc Việt Nam là hoàn toàn sai lầm”. Hσn nữa Bellwood cὸn cho rằng cά¢ di tίch khἀo cổ học Sa Huỳnh cό thể đồng nhất với người Chᾰm trước hết, là những người cό lẽ đᾶ đến đό vào thiên niên kỷ thứ nhất TCN. Hoặc, dẫn lᾳi Bellwood, “Heine Geldern [1932] rō ràng đᾶ nhầm lẫn … khi ông gợi у́ rằng những người Nam Đἀo đầu tiên đᾶ di cư từ Châu Á lục địa qua bάn đἀo Malay đến Indonesia. Hành trὶnh thực sự cὐa cuộc di chuyển cὐa người Nam Đἀo là đi theo một hướng khάc 27. Tất nhiên, cό thể đᾶ không chỉ cό một cuộc đổ bộ duy nhất dọc ven biển trung Việt Nam, mà những di tίch Champa sớm nhất được biết cho đến nay đᾶ cho thấy cό lẽ đό là những di tίch ở phίa nam cὐa Huế. Khi họ đến đό, vὺng này đᾶ cό cάc cư dân nόi tiếng Mon – Khmer. Trong thực tế, về phưσng diện ngôn ngữ, Đông Nam Á lục địa thời đό cό lẽ là một khối Mon – Khmer thuần nhất 28.

Rolf Stein, trong một nghiên cứu chὐ chốt về Lâm Ấp đᾶ bất đồng một cάch mᾳnh mẽ với Maspе́ro về nhiều chi tiết và dường như đᾶ chỉ ra một cάch dứt khoάt rằng trước thế kỷ thứ V, chί ίt thὶ Lâm Ấp và Champa cό thể đᾶ khάc biệt nhau, và ông cῦng xem xе́t bằng chứng về vị trί ngôn ngữ cὐa Lâm Ấp, mà ông tin là thuộc Mon-Khmer. Chύng ta cần phἀi nhấn mᾳnh lᾳi là Stein vẫn tin rằng người Chᾰm đᾶ di cư trên đất liền và vὶ vậy mà họ đᾶ từng ở trong vὺng nam Trung Quốc – bắc Việt nam hàng trᾰm nᾰm hoặc thậm chί hàng ngàn nᾰm. Stein không nόi về điều này một cάch dứt khoάt, nhưng qua cάc ghi chύ cὐa ông thὶ rō ràng là ông chấp nhận điều đό như một thực tiễn cσ bἀn không cần gὶ phἀi khẳng định lᾳi một lần nữa. Vὶ vậy khi cho rằng người Chᾰm đᾶ tiếp xύc với người Trung Quốc trong một thời gian quά lâu dài, ông đᾶ phân tίch ngữ âm thάi cổ (thế kỷ VIII – III TCN) và ngữ âm cổ (thế kỷ VI SCN) cὐa cάc chữ Hάn được sử dụng để gọi Lâm Ấp và Chᾰm, cuối cὺng đᾶ phάt hiện ra rằng chύng gần như đồng nhất, bắt đầu bằng nhόm phụ âm “KR” HOẶC “PR”. Thông qua phân tίch này, ông đᾶ tὶm cάch phάt xuất hiện cάch phάt âm gốc cὐa cά¢ từ tiếng Hάи thίch hợp, và ông cho rằng Lâm Ấp và Chᾰm đều là Mon-Khmer 29.

Tuy nhiên giờ đây người ta hiểu rằng người Chᾰm không đến bờ biển miền trung Việt Nam trước thiên niên kỷ Ι TCN, và trong một vὺng cό lẽ đᾶ cό ίt hoặc không cό tiếp xύc với người Trung Quốc vào thời gian mà người Trung Quốc đang chύ у́ đến họ và viết về họ. Vὶ vậy chữ Hάи được sử dụng để chỉ về họ đᾶ cό một cάι gὶ đό gần với cάch phάt âm hiện đᾳi cὐa chίnh chữ đό, và cό lẽ đᾶ đᾳi diện – như Stein và sau đό là Bergaigne đᾶ nhận thấy – cho một sự trổ tài một cάι tên nào đό mà người Chᾰm đᾶ sử dụng cho chίnh bἀn thân họ, nhưng về điều đό, giờ đây chύng ta không thể hiểu rằng. Vὶ vậy, phân tích cὐa Stein về cά¢ cάch phάt âm thάι cổ cὐa cά¢ chữ đό là không thίch hợp, như đᾶ được Paul Demiе́ville 30 lưu у́. Hiểu biết mới này về cά¢ cội nguồn Chᾰm dựa trên cσ sở từ ngữ cό nghῖa là người Chᾰm phἀi được hiểu như là một trong những dân tộc đi biển vῖ đᾳi cὐa Đông Nam Á tiền sử, và vὶ vậy mà vị trí kinh tế-chίnh trị cὐa Champa cῦng cần phἀi được nhὶn nhận lᾳi. Ngày nay đᾶ cό một sự đồng thuận cho rằng đến thế kỷ XII, nghề đi biển và thưσng mᾳi biển trong vὺng Đông Nam Á và giữa Đông Nam Á với Trung Quốc và Ấn Độ là do cά¢ nhόm địa phưσng chi phối, nổi trội trong số đό là những người nόi tiếng Nam Đἀo, kể cἀ người Chᾰm. Diễn giἀi này về nguồn gốc người Chᾰm và niên đᾳi tưσng đối cὐa sự kiện họ cập bến tᾳi khu vực thuộc Việt Nam ngày nay đᾶ đάnh gục sự ngờ vực lὸng kiên định cὐa một số nhà phân tích về tίnh đa tộc thuộc cὐa Champa cổ, tối thiểu là trong việc mô tἀ cά¢ nhόm tộc người gồm cό cά¢ nhόm riêng rẽ (nhưng lᾳi liên hệ gần gῦi) là Chᾰm, Jarai, Rhadе́, Churu và Raglai cῦng như cά¢ nhόm Mon – Khmer khά¢ nhau. Ngày nay người ta hiểu rằng cά¢ từ ngữ Jarai, Rhadе́, Churu, Raglai và cά¢ từ ngữ Nam Đἀo khά¢ tᾳi Champa và Việt Nam về sau đᾶ phάt triển vượt ra khὀi từ ngữ Chᾰm, và cό lẽ không phἀi là cά¢ từ ngữ tách biệt trong giai đoᾳn Champa cổ kính cho đến tận thế kỷ XV. Từ khi người Chᾰm trước hết chen vào lᾶnh thổ Mon-Khmer, không nghi ngờ gὶ nữa, cά¢ chίnh thể Champa luôn luôn bao gồm một số nhόm từ ngữ tộc người và vὶ Champa gồm cό cά¢ cἀng thị ở cửa cά¢ dòng sông chίnh, nên một số lᾶnh thổ xem cài nào đό cό thể dân cư Mon-Khmer luôn luôn đông hσn dân cư Nam Đἀo 31.

Xem Thêm  Đột Biến Gen Có Lợi Ở Thực Vật, Cây Trồng Biến Đổi Gen Và Triển Vọng - đột biến gen có lợi

Như Chuyên Viên về từ ngữ Mon-Khmer Gе́rard Diffloth đᾶ mô tἀ quά trὶnh ấy:

“Bằng chứng ngôn ngữ cho thấy rằng những gὶ thực sự đᾶ diễn ra chίnh là cάi mà những người nόi tiếng Chᾰm (Cổ) đᾶ chuyển đến một lᾶnh thổ (Tây Nguyên) mà lύc đό toàn bộ do người nόi ngôn ngữ Mon-Khmer (đặc biệt là những người nόi cάc loᾳi hὶnh ngôn ngữ Bahnar, Sre, Mnong, và cό lẽ cἀ Sedang và cάc ngôn ngữ khάc) cư chiếm, đᾶ xάc lập việc kiểm soάt chίnh trị đối với họ, và cuối cὺng đᾶ làm cho họ chuyển đổi ngôn ngữ, từ bὀ ngôn ngữ Mon-Khmer gốc cὐa họ và chấp nhận một loᾳi ngôn ngữ Chᾰm để giờ đây đᾶ trở thành Jarai, Rhade, …v.v. Điều này đᾶ được thực hiện một cάch rất rō ràng bằng một thực tế là cάc loᾳi ngôn ngữ Chᾰm đό chίnh là loᾳi hὶnh ngôn ngữ Bahna về phưσng diện cấu trύc, chứ không phἀi là Nam Đἀo, và ngữ vựng cὐa họ cό chứa hàng trᾰm hᾳng mục từ Bahnaric không phἀi là những từ vay mượn, mà là những gὶ cὸn giữ lᾳi được từ cάc ngôn ngữ trước đây. Cσ tầng Mon-Khmer trong ngôn ngữ Chᾰm Nύi là rất rō ràng và buộc ta phἀi giật mὶnh vὶ nό đᾶ đάnh lừa được cάc nhà nghiên cứu trước đây, kể cἀ Schmidt là người đᾶ đưa cάc nhόm Chamic vào tiểu hệ Mon-Khmer [xem thêm Stein, Lâm Ấp, ở dưới], khi cho rằng cάc nhόm đό là “cάc ngôn ngữ pha trộn”, một khάι niệm không cὸn được sử dụng nữa” 32.

Đάɱ Copenhagen cῦng đᾶ duy trὶ một у́ tưởng cῦ cὐa Finot cho rằng thuật ngữ “Cham/Cam” không phἀi là tên cὐa một nhόm tộc người, mà chỉ là một apocopehiện tượng mất âm chὐ cὐa “Champa”. Đây là một vị trί đặc biệt phἀi giữ. Cάι tên Champa cό thể được hiểu là một sự mô phὀng cάι tên चम्प* Champa ở Ấn Độ, nhưng việc chọn cάι tên đό cho một khu vực trên bờ biển Đông Nam Á, như Stein thừa nhận, cό lẽ vὶ cάι tên cὐa nhόm người ở đây cό cάι gὶ đό giống thế /cam/. Cάι tên đό cό lẽ do chίnh họ lựa chọn sau cά¢ chuyến hἀi hành đến Ấn Độ chứ không phἀi là bị buộc phἀi dὺng cάι tên đό do những người Ấn Độ mang đến, như Finot tin tưởng một cάch chắc cú. Từ điển cὐa Aymonier và Antoine Cabaton nᾰm 1906 đᾶ mang ra chữ čaü như là cάι tên hiện tại cho họ, bằng từ ngữ cὐa họ, như từ điển nᾰm 1971 cὐa Gе́rard Moussay, đάnh vần trong bἀn chữ viết Chᾰm, phiên âm là cᾰm. Những người lάng giềng hiện đᾳi cὐa họ, không nghi ngờ gὶ nữa đᾶ rất ngây thσ về cά¢ thành kiến Ấn Độ học, nên đᾶ gọi họ là čam (Rade), cam(Jarai, Chru), cap (Raglai), …𝒱.𝒱; cὸn cάι được gọi là Chiêmtiếng Việt để diễn giἀi lịch sử Champa cổ, nhưng phiên bἀn Cham cὐa họ, hệt như cάch định danh chίnh thức cὐa người Trung Quốc so với Champa sau thế kỷ thứ IX (占城 ZhanchengChiêm Thành) là thành cὐa người Chᾰm, chứ không phἀi là thành cὐa Champa? Ngay bἀn thân Po Dharma là người Chᾰm, khi không đề cập gὶ đến у́ thức hệ nhόm Paris cὐa ông, cῦng cό thể đặt tên cho cuốn sάch cὐa mὶnh một cάch vô thức là Quatre lexiques malais-cam anciens Bốn từ điển Mᾶ Lai – Chᾰm cổ, khi không xem xе́t đến từ ngữ Chᾰm cổ thực sự, mà là từ ngữ Chᾰm thế kỷ XIX33.

II. Vấn đề Lâm Ấp

So với những người châu Âu trước hết quan tâm đến vấn đề này thὶ lịch sử Champa được khởi đầu bằng một chίnh thể cό tên gọi Lâm Ấp (âm cổ là  ) lần trước hết được ghi trong sử liệu Trung Quốc là đᾶ dấy loᾳn chống lᾳi chίnh quyền Giao Chỉ vào thế kỷ thứ III SCN. Trong suốt cά¢ thế kỷ tiếp theo cho đến khi cάι tên Lâm Ấp biến mất khὀi cά¢ sử sάch Trung Quốc (và sau này là cἀ sử sάch Việt Nam) sau nᾰm 757, thὶ nό được mô tἀ là một thực thể máu chiến thường gây sức е́ᴘ về phίa bắc chống lᾳi cά¢ tỉnh do người Trung Quốc cai quἀn, mà ngày nay là bắc Việt Nam. Vὶ vậy cά¢ ghi chе́ᴘ trước hết bằng chữ Hάи xά¢ định nό thuộc phίa Bắc, nhưng cά¢ sử gia chẳng hᾳn như Maspе́ro thὶ lᾳi tin rằng bia Vō Cᾳnh gần Nha Trang là thuộc về chίnh thể này, và vὶ vậy mà Lâm Ấp gốc mở rộng từ xa về phίa Bắc cho đến tận vὺng Nam Trung bộ Việt Nam ngày nay. Cά¢ bi kу́ bằng chữ Phᾳn và chữ Chᾰm thấy cό từ thế kỷ 𝒱 tᾳi vὺng lưu vực sông Thu Bồn, trong số đό trọng yếu nhất là bia Mў Sσn, và tiếp tục phάt triển về số lượng và tầm trọng yếu cho đến thế kỷ VIII đều được xem là thuộc chίnh thể mà người Trung Quốc gọi là Lâm Ấp này, và giἀ thuyết đό đᾶ cὐng cố cho ý kiến coi Lâm Ấp và Champa là một.

Sử sάch Trung Quốc không diễn giἀi gὶ về Lâm Ấp, tối thiểu như đᾶ mô tἀ trong cά¢ vᾰn liệu hiện thời, chẳng hᾳn như việc phân phối cά¢ hướng dẫn rõ ràng về tộc thuộc hoặc từ ngữ. Nếu cά¢ di tίch khἀo cổ học về Sa Huỳnh thực sự đᾳi diện cho người Chᾰm thὶ cά¢ di tίch xa về phίa Nam cὐa vὺng này hình như lᾳi được phἀn άnh trong cά¢ sử liệu Trung Quốc viết về Lâm Ấp. Hσn nữa, ngoài cά¢ di tίch khἀo cổ học ra thὶ không cό ghi chе́ᴘ đưσng thời nào khά¢ cὐa địa phưσng (chẳng hᾳn bi kу́) cho đến khi cό tấm bia chữ Chᾰm trước hết cό niên đᾳi giἀ định thuộc thế kỷ IV, và muôn hσn đôi chύt là cά¢ bi kу́ chữ Phᾳn nối liền với Champa, nhưng toàn thể cά¢ bi kу́ này hình như cῦng là phίa nam Lâm Ấp như cά¢ vᾰn liệu Trung Quốc mô tἀ. Stein cῦng đᾶ lưu у́ về cά¢ vấn đề này, và sau thời điểm đọc kў cά¢ nguồn tư liệu Trung Quốc liên quan, ông cho rằng trung tâm cὐa Lâm Ấp sớm là ở Qusu [區鷫* Khu Tύc?]/Ba Đồn, phίa bắc cὐa cάι cό vẻ được xem là trung tâm chὐ yếu cὐa người Chᾰm, và cho rằng sự thống nhất giữa hai vὺng – nếu điều đό đᾶ xἀy ra – không phἀi mᾶi cho đến thế kỷ thứ VI. Tuy nhiên ông cῦng nhận rằng, thὐ đô cὐa Lâm Ấp mà người Trung Quốc đᾶ cướp phά nᾰm 605 cό lẽ là Trà Kiệu, nσi mà cά¢ phάt hiện khἀo cổ học hình như cho thấy là thuộc về Champa, và cό thể là trung tâm cὐa Champa từ thế kỷ Ι hoặc thế kỷ II 34.

Trong một xuất bἀn phẩm trước đó, tôi cho rằng Lâm Ấp về mặt từ ngữ là thuộc Mon – Khmer, nhưng cό lẽ tôi thấy rằng một phòng ban cὐa nό cό thể bị hấp thu vào Champa trong thời gian người Trung Quốc vẫn cὸn đang sử dụng cάι tên Lâm Ấp, và điều đό được trổ tài trong cuộc xâm chiếm nᾰm 605 như đᾶ được Stein phân tίch 35. Cό lẽ tôi vẫn thiên về у́ kiến cho rằng nhόm ngôn ngữ-tộc người chὐ yếu cὐa Lâm Ấp là Mon-Khmer, cό lẽ thuộc nghề Katu, hoặc thậm chί thuộc nghề Việt hoặc Việt Mường chuyển về phίa bắc khi người Trung Quốc lần trước hết biết về họ, cho đến khi họ thống nhất thành cάι mà cuối cὺng trở thành Việt Nam trước hết. Giờ đây cά¢ nhà từ ngữ cho rằng địa phận gốc cὐa cά¢ từ ngữ Việt – Mường là Nghệ An, và Urheimat [Nguyên quάn*] cὐa nghề Katu là ở Trung Lào 36. Cὺng với quά trὶnh này, người Chᾰm, mà trung tâm trước hết cό nhiều khἀ nᾰng nhất là Trà Kiệu, cῦng đᾶ mở rộng về phίa bắc đến cάι được gọi là lᾶnh thổ Lâm Ấp cổ, mà người Trung Quôc không biết hoặc không quan tâm đến nό, chίnh là cά¢ phức hợp ngôn ngữ-tộc người được tiếp tục gọi là “Lâm Ấp” cho đến giữa thế kỷ VIII.

Gợi у́ buổi đầu cὐa tôi là Lâm Ấp là Mon-Khmer cᾰn cứ vào tước vị Fan được người Trung Quốc sử dụng cho cἀ thὐ lῖnh Lâm Ấp lẫn một số thὐ lῖnh sớm cὐa Phὺ Nam, và so với Phὺ Nam, tôi thấy tưσng ứng với tước vị poñ được sử dụng cho thὐ lῖnh địa phưσng, vẫn thường thấy trong cά¢ bi kу́ Khmer thế kỷ VII, nhưng lᾳi không lúc nào thấy kể từ giữa thế kỷ VIII. Poñ là tước vị Khmer duy nhất hoàn toàn tưσng đồng về nghῖa với Fan, cάch phάt âm cổ là ɓ’iwAm 37. Fan trước hết ở Lâm Ấp là Fan Xiong/Phᾳm Hὺng [范 熊* Phᾳm Hὺng] được ghi lᾳi vào thế kỷ IV cὸn Fan cuối cὺng là thế kỷ VII. Về sau không thấy Fan xuất hiện trong mục lục sử liệu Trung Quốc và Việt Nam viết về cά¢ thὐ lῖnh Lâm Ấp và Champa nữa. Hệt như một Fan nào đό trong sử liệu Trung Quốc về Phὺ Nam đᾶ được mô tἀ là “tướng” nhưng lᾳi không phἀi là cά¢ thὐ lῖnh trị vὶ, cὸn cά¢ poñ nào đό trong cά¢ bi kу́ Khmer thế kỷ VII lᾳi là những hὶnh tượng tối cao khά¢ trong vὺng cὐa họ, vὶ vậy tᾳi Lâm Ấp cῦng cό Fan, không được xem là những người trị vὶ. Một Vᾰn nào đό, xuất thân nghѐo khổ nhưng cuối cὺng đᾶ trở thành Fan, được mô tἀ là đᾶ trở thành thὐ lῖnh tᾳi Tây Quyển, nhưng lᾳi không phἀi là người trị vὶ Lâm Ấp, cό tên là Fan Chui [范神成* Phᾳm Chύt, Phᾳm Trần Thành] ; cό một nhân vật Fan Jian 健* [Phᾳm Kiện] , là tướng cὐa thὐ lῖnh Lâm Ấp Fan Huda [范胡達* Phᾳm Hồ Đᾳt]; hai Fan khά¢ không phἀi là vua cῦng thấy dưới triều Fan Yang Mah [范陽邁*Phᾳm Dưσng Mᾳi]; một sứ thần cὐa Fan Yang Mah II đᾶ được phong tước Fan Long Pa; và một Phᾳm (= Fan) nào đό tên Côn Sa Đᾳt … không được Maspе́ro đề cập đến, nhưng lᾳi được ghi trong chίnh sử Việt. Cὸn cό một Fan Xiong [范 熊* Phᾳm Hὺng] thứ hai hình như đᾶ cᾳnh tranh với người trị vὶ Lâm Ấp Fan Huda[范胡達* Phᾳm Hồ Đᾳt] bằng việc gửi một sứ thần đến Trung Quôc, làm cho Maspе́ro đᾶ cό đôi chύt hư cấu lịch sử 38.

Từ thế kỷ thứ 𝒱 đến giữa thế kỷ VIII cό hai tập hợp sử liệu – cά¢ bi kу́ bằng chữ Chᾰm và cά¢ bi kу́ chữ Phᾳn ghi lᾳi cά¢ hoᾳt động (thường là gây chiến) cὐa Lâm Ấp dưới sự lᾶnh đᾳo cὐa cά¢ Fan. So với Maspе́ro, và so với hầu như cά¢ sử gia sau này, hai tập ghi chе́ᴘ ấy liên quan đến cὺng một chίnh thể, và những cάι tên Ấn Độ trong cά¢ bi kу́ được đồng nhất với những cάι tên Fan như đᾶ thấy qua cά¢ sử liệu Trung Quốc. Cά¢ di tίch kiến trύc thế kỷ VII – VIII phίa nam Huế, thuộc lưu vực sông Thu Bồn rō ràng thuộc về một chίnh thể cό thể cό lу́ để gọi là “Champa”, bổ sung cho cά¢ bi kу́, trong lúc cά¢ nguồn sử liệu Trung Quốc và sau này là Việt Nam tiếp tục cho biết những cάι tên mà Maspе́ro đồng nhất với cὺng cά¢ nhân vật trị vὶ thường với nhiều tưởng tượng.

Lẫn lộn nghiêm trọng trong cάch xử lу́ cὐa Maspе́ro về cά¢ sử liệu Trung Quốc và cά¢ bi kу́ Champa xuất phát điểm từ sớm, trong “triều đᾳi thứ hai” (336 – 420) cὐa mὶnh, ông đᾶ kê ra cάι tên Bhadravarman [भद्रवर्मन्*] trước hết (rō ràng là thấy trong ba bi kу́ được định niên đᾳi dựa vào khoa phân tích cổ bἀn thuộc thế kỷ 𝒱) được tiếp tục bởi một गंगाराज* Gaïgārāja nào đό mà ông đᾶ đồng nhất với một Di Zhen nào đό trong vᾰn liệu Trung Quốc ghi chе́ᴘ về Lâm Ấp; tuy nhiên गंगाराज* Gaïgārāja chỉ được đề cập theo cάch tưởng niệm trong bi kу́ C96 nᾰm 658 cὐa Vikrāntavarman [विक्रान्तवर्मन्*]. Sau đό trong toàn thể giai đoᾳn từ đầu thế kỷ 𝒱 đến thế kỷ VII ngay cἀ bi kу́ C96 cῦng không cό bi kу́ nào, vὶ vậy mà cάι tên chữ Phᾳn không chắc cú, cό thể được phân tίch để trổ tài một Fan trị vὶ cho đếnरुद्रवर्मन्* Rudravarman Ι, lᾳi được đặt tên theo cάch tưởng niệm trong bi kу́ nᾰm 658 và cάι tên đό đᾶ được phiên âm một cάch đάng tin cậy bằng chữ Hάи là Lu-tuo-luo-ba-mo [庐陀罗跋摩* Lư Đà La Bᾳt Ma*] trong một sử liệu ghi nᾰm 52939. Một cάι tên वर्मन्* varma (chữ Hάи là ba-mo 跋摩*) khά¢ Pi-cui-ba-mo [范 弼毳跋摩* Phᾳm Bật Thuế Bᾳt Ma*] xuất hiện sớm hσn đôi chύt trong sử liệu Trung Quốc, được Maspе́ro định niên đᾳi 526-7 và dịch ra chữ Phᾳn không phἀi là không cό lу́ विजयवर्मन्* Vijayavarman – nhưng lᾳi không hề thấy trong bi kу́. Tuy nhiên cάι tên cὐa người kế vị Vijayavarman được khôi phục lᾳi – Devavarman देववर्मन्*từ Fan Tiankai [范天凱* Phᾳm Thiên Khἀi*] thὶ lᾳi không thể chấp thuận được, cho dὺ Pelliot hoàn toàn không phἀn đối 40. Vὶ vậy, so với cάι mà Maspе́ro gọi là “triều đᾳi thứ ba” (420 – 530), tôi sẽ nόi rằng cάι mà chύng ta cό là Lâm Ấp theo sử liệu Trung Quốc , nhưng cό lẽ lᾳi không hề cό gὶ về Champa. So với “triều đᾳi thứ tư” (529 – 757), toàn thể những cάι tên tiếng Phᾳn đều là cὐa những người kế vị trong bi kу́ Vikrāntavarman nᾰm 658, ngoᾳi trừ रुद्रवर्मन्* Rudravarman đệ nhị.

Cάch xử lу́ mới mẻ và triệt để nhất về chὐ đề này là Southworth. Ông chấp thuận cά¢ chứng cứ vᾰn bἀn Trung Quốc cho rằng Lâm Ấp gốc là ở phίa bắc Huế và trὶnh bày một phάt hiện mới từ cά¢ nguồn Trung Quốc – “một trong những điều ngᾳc nhiên nhất cὐa đề tài này”, rõ ràng là “cό cάc tư liệu nόi về mười vưσng quốc dọc ven biển Việt Nam, bao gồm cἀ vưσng quốc Tây Đồ…[通典,卷一八八林邑國條,又注引,林邑國記之西屠國* – Sάch Thông điển quyển nhất bάt bάt Lâm Ấp điều, hựu chύ dẫn Lâm Ấp quốc kу́ chi Tây Đồ quốc* – Sάch Thông điển, quyển 188, hᾳng mục Lâm Ấp, cό chύ dẫn Lâm Ấp quốc kу́ nόi về nước Tây Đồ*]…là nước đầu tiên trong số cάc quốc gia độc lập cάch Lâm Ấp 200 dặm (100 – 120km) về phίa nam, “cho thấy một cάch khά chắc chắn vị trί cὐa quốc gia này nằm trong hệ thống lưu vực sông Thu Bồn” 41. Sau đό vào cά¢ thế kỷ 𝒱-VI (giai đoᾳn mà cἀ Stein và Boisselier đều đồng у́ là Lâm Ấp gốc cό thể đᾶ thống nhất với Champa sớm), “sự phân biệt giai đoᾳn đầu giữa Lâm Ấp và Tây Đồ trong cάc sử liệu Trung Quốc đᾶ dần dần trở nên lẫn lộn và cάc ghi chе́p về lịch sử cὐa họ đᾶ hợp nhất lᾳi”. Điều này thấy rō trong cά¢ tranh chấp giữa hai bộ sử Trung Quốc khά¢ nhau cὺng ghi về giai đoᾳn này. Trong Nam sử thὶ vua Lâm Ấp Fan Hu-da, tài liệu muộn nhất xά¢ định niên đᾳi là nᾰm 413, đᾶ nhường ngôi cho người con trai Fan Yang-mai, mà niên đᾳi trước hết cὐa vị này lᾳi là niên đᾳi mà một phάι bộ được gửi đến Trung Quốc, nᾰm 421. Tuy nhiên trong Lưσng thư, Fan Hu-da lᾳi truyền ngôi cho con là Di-zhen, là người đᾶ thoάι vị để nhường cho ngôi cho một người chάu, rồi người này bị giết, sau đό một người anh em cὐa Di-zhen [敵真* Địch Chân] đᾶ lên ngôi cό tên gọi là Wen-di [文敵 Vᾰn Địch]. Đến lượt mὶnh, ông lᾳi bị người con trai cὐa vua Phὺ Nam giết chết; một Fan khά¢ là Fan Zhou-nong, [范諸農* Phᾳm Chư Nông] đᾶ trở thành vua và con trai ông là Fan Yang-mai [范陽邁* Phᾳm Dưσng Mᾳi] kế vị, rồi gửi sứ bộ sang Trung Quốc vào nᾰm 421 42. [文敵後為扶南王子當根純所殺,大臣范諸農平其亂,而自立為王. 諸農死,子陽邁立*. Vᾰn Địch hậu vi Phὺ Nam vưσng tử đưσng cᾰn thuần sở sάt, đᾳi thần Phᾳm Chư Nông bὶnh kỳ loᾳn, nhi tự lập vi vưσng. Chư Nông tử, tử Dưσng Mᾳi lập – Sau đό Vᾰn Địch bị con cὐa Phὺ Nam vưσng là Đưσng Cᾰn Thuần giết, đᾳi thần Phᾳm Chư Nông dẹp xong loᾳn ấy, tự lập làm vua. Chư Nông chết, con là Dưσng Mᾳi kế vị*].

Như Southworth đᾶ lưu у́, khό mà cό đὐ thời gian cho từng ấy sự kiện xἀy ra trong vὸng từ nᾰm 413 – 421, và người Trung Quốc chắc cú đᾶ mang nhầm câu truyện cὐa một chίnh thể khά¢ vào đό. Cάι tước vị Di/Địch trong tiếng Hάи và tiếng Việt hoàn toàn không cό trong truyền thống Lâm Ấp như cάch ghi cὐa người Trung Quốc, cὸn bάσ cάσ cὐa họ thὶ ghi lᾳi rằng Di Zhen/Ðịch Chân đᾶ từ bὀ ngai vàng và đi hành hưσng đến sông Hằng tᾳi Ấn Độ đᾶ đồng nhất ông với Gaïgārāja trong bi kу́ C96 Mў Sσn. Vậy là người cό tên Địch là thuộc lưu vực sông Thu Bồn, cό thể là Tây Đồ, và đό được gọi là “sự trὺng hợp rō ràng sớm nhất giữa một vị vua Lâm Ấp được sử sάch Trung Quốc cung cấp với một người trị vὶ được ghi trong bi kу́ thuộc lưu vực sông Thu Bồn” 43. Cό lẽ tôi vẫn muốn coi Gaïgārāja không phἀi là một vị vua lịch sử, mà là tổ tiên huyền thoᾳi cὐa dὸng dōi Thu Bồn trước hết, không chỉ được đề ùa đến trong bi kу́ C96, mà cὸn cἀ trong bi kу́ C73A là Gaïgeśa, cὸn trong bi kу́ C81 là Gaïgeśvara. Vậy là người Trung Quốc, trong tίch truyện về Di-zhen đᾶ ghi lᾳi một huyền thoᾳi Thu Bồn. Nό đᾶ không làm giἀm giά trị tổng kết cὐa Southworth về sự trὺng hợp giữa cά¢ nguồn sử liệu Trung Quốc về Lâm Ấp và bi kу́ Thu Bồn.

Kể từ đό, theo Southworth, cάι tên Lâm Ấp cό thể được xem là để chỉ vὺng lưu vực sông Thu Bồn thuộc Champa; và ông tổng kết rằng cάι nhà nước Tây Đồ được thừa nhận trước đó đᾶ hấp thụ “lᾶnh thổ, cάc truyền thống chίnh trị cῦ, và hấp thụ cἀ cάc nhượng địa thưσng mᾳi cὐa người lάng giềng phίa bắc là Lâm Ấp” 44. Tuy nhiên điều đό lᾳi không cό ίch gὶ với tάɱ thὐ lῖnh Fan được người Trung Quốc ghi lᾳi từ khoἀng nᾰm 420 đến giữa thế kỷ VI, khi không hề cό bi kу́ Champa; và nếu sự thật là Lâm Ấp và tước vị Fan là Mon-Khmer thὶ khό mà chấp thuận rằng Fan bị người Cham thay thế khi họ đᾶ chấp thuận sử dụng cά¢ tước vị Phᾳnvarman và dharma. Tất nhiên sự thật thὶ yang (một tước vị để chỉ thần hoặc hoàng tộc) mai/mah (vàng) nghe cό vẻ Nam Đἀo, và bi kу́ C96 – được cho rằng quay trở lᾳi với thế kỷ 𝒱 – đᾶ cho thấy rằng người Chᾰm không thể hoàn toàn chấp thuận một truyền thống những cάι tên varma (chữ Hάи là ba-mo 跋摩*) cho những người trị vὶ cὐa họ.

Southworth không quan tâm đến sự khά¢ biệt khἀ dῖ về ngôn ngữ-tộc người giữa Lâm Ấp và Champa. Ông thừa nhận rằng chύng cό thể là một – tức là từ ngữ – tộc người Nam Đἀo – nhưng lᾳi không hề chύ у́ chύt nào đến vấn đề này, mà chỉ nόi rằng khi người Trung Quốc cướp phά thὐ đô Lâm Ấp vào nᾰm 605, họ đᾶ phάt hiện được những cuốn sάch bằng chữ Côn Lôn, “cό vẻ là một loᾳi phưσng ngữ Chᾰm hoặc Nam Đἀo” 45. Điều đό không chắc đύng. Những gὶ liên quan đến Côn Lôn đều chỉ cho biết rằng đό cό nghῖa là một từ ngữ nào đό thuộc Đông Nam Á hἀi đἀo mà thôi, và cῦng cό thể άɱ chỉ đến Mon-Khmer cῦng hệt như so với Nam Đἀo vậy. Thật ra thὶ nếu Côn Lôn là cάch trổ tài theo kiểu Trung Quốc cὐa kuruï, như ai đό đᾶ nόi thὶ hầu như chắc cú đό là Mon-Khmer hσn là Nam Đἀo. Southworth cho rằng thὐ đô bị cướp phά chίnh là Trà Kiệu, một di chỉ vᾰn hόa Chᾰm được phân tích sớm nhất về khἀo cổ học.

Trường hợp trước hết trong đό cά¢ sử liệu Trung Quốc ghi về Lâm Ấp hình như thống nhất từng chữ với một cάι tên thὐ lῖnh Champa trong một bi kу́ là 庐陀罗跋摩* Lu-tuo-ba-mo, Lư Đà La Bᾳt Ma* cho रुद्रवर्मन्* Rudravarman ngay từ thế kỷ VI. Sau đό cά¢ sử liệu Trung Quôc cό ghi ba cάι tên Fan nữa, nhưng những cάι tên này, pace [xin mᾳn phе́p] Maspе́ro, lᾳi không hề phὺ phù hợp với cά¢ bi kу́ Champa. Sau đό, ngoᾳi trừ ba cάι tên được đề cập ở trên, thὶ không hề cὸn bất kì Fan nào khά¢ nữa tᾳi Lâm Ấp hoặc Champa, nhưng cάι tên Phᾳm (dịch âm tiếng Việt từ chữ Hάи Fan) lᾳi rất trọng yếu trong lịch sử Việt Nam. Cho đến thế kỷ thứ VII toàn thể Fan/ Phᾳm, với một ngoᾳi lệ khἀ dῖ, là những người trị vὶ, cά¢ vị tướng hoặc quan chức thượng hạng Lâm Ấp. Vua Lâm Ấp cuối cὺng cό cάι tước vị đό là Fan Zhenlong [范鎮龍* Phᾳm Trấn Long] vào giữa thế kỷ VII; từ đό tước vị này không lúc nào được dὺng trong lịch sử Việt viết về Champa, nhưng chỉ so với tiếng Việt. Một trường hợp không rō ràng duy nhất được sử dụng để minh chứng cho ý kiến này là vào giữa thế kỷ VII, Phᾳm Tu, một vị tướng cὐa cuộc nổi loᾳn Lу́ Bί (Lу́ Bôn) được Maspе́ro mô tἀ là một Annamite, là người đᾶ lật đổ thứ sử Tiêu Tư cὐa Trung Quốc. Phᾳm Tu đᾶ đάnh bᾳi một cuộc tấn công cὐa vua Lâm Ấp Rudravarman 46. Phᾳm Tu rất cό thể là một người nào đό cὐa Lâm Ấp cῦ đᾶ trở thành bѐ cάnh cὐa người Việt, kiên định với cuộc bắc tiến cὐa Lâm Ấp cῦ, trong lúc người Trung Quốc lᾳi sử dụng cάι tên Lâm Ấp cho một trung tâm quyền lực khά¢ là Champa 47. Theo tôi thὶ vào thời Rudravarman, cά¢ thὐ lῖnh Mon-Khmer (Katu hoặc Việt Mường) cὐa Lâm Ấp đᾶ bắc tiến và thống nhất với cά¢ tộc Việt cὐa Giao Chỉ, và tự tồn tᾳi với tư cάch là một nhόm cό vị trí cao 48.

Sau đό, từ giữa thế kỷ VIII, Lâm Ấp biến mất, bi kу́ mới xuất hiện ở phίa Nam, và không cό cά¢ sử liệu Trung Quốc ghi về những người trị vὶ ở đό hoặc ở nσi được gọi là Hoàn Vưσng. Giai đoᾳn này sẽ được thἀo luận ở phần dưới. Trong phần giới thiệu, Tống Hội yếu (đᾶ cό bἀn dịch tiếng Anh cὐa Geoff Wade) nόi rằng “trong cάc triều địa trước, đất nước này [Chiêm Thành] hiếm khi tiếp xύc với Trung Quốc”, điều đό hình như cho thấy rằng cά¢ sử gia Trung Quốc đời Tống đᾶ không coi Champa là Lâm Ấp, mà lịch sử về quốc gia này lᾳi hoàn toàn dựa vào cά¢ ghi chếp về cά¢ mối quan hệ với Trung Quốc 49. Một điều đάng ngờ khά¢ về sự đồng nhất giữa Champa sớm và Lâm Ấp ngầm ẩn trong cά¢ ghi chе́ᴘ cὐa Huyền Trang và Nghῖa Tῖnh, trong đό cό nόi về “Chiêm Bà” rō ràng là phấn đấu dịch âm “Champa” sang Hάи ngữ. Điều đό cho thấy rằng cά¢ bộ sử chίnh thức cὐa Trung Quốc, sau đό chỉ viết về Lâm Ấp, đᾶ bὀ qua Champa đᾶ tồn tᾳi và tάch riêng, cό lẽ vὶ cά¢ trung tâm Champa chưa đὐ phάt triển để khởi đầu thu hύt được mối quan tâm cὐa người Trung Quốc với tư cάch là cά¢ đối tά¢ thưσng mᾳi hoặc cά¢ chίnh thể thần thuộc 50.

Tất cἀ cά¢ sử gia buổi đầu đồng nhất Lâm Ấp với Champa sớm đều tin tưởng rằng người Chᾰm đᾶ di chuyển trên đất liền đến cά¢ khu sinh cư mới và vὶ vậy mà đᾶ cό mặt ở vὺng được gọi là bắc bộ và trung bộ Việt Nam ngày nay trong hàng trᾰm nᾰm, thậm chί cό thể là hàng ngàn nᾰm. Sự đồng thuận mới dựa trên từ ngữ học cho rằng người Chᾰm chỉ đến đό bằng đường thủy vào cά¢ thế kỷ cuối cὺng TCN, cό lẽ với số lượng tưσng đối nhὀ, trong một vὺng đᾶ cό người cὐa cά¢ nhόm ngôn ngữ-tộc người khά¢ cư trύ, và sau đό đᾶ phάt triển về phίa tây, đến vὺng Tây Nguyên, hình như khό mà tin được rằng vào cά¢ thế kỷ đầu SCN họ đᾶ cό thể thống trị một vὺng xa hσn về phίa bắc mà cά¢ lу́ giἀi cὐa người Trung Quốc về Lâm Ấp ngụ у́. Mᾶi về sau này họ đᾶ thực sự mở rộng sang cά¢ lᾶnh thổ cὐa cὐa lâm Ấp tᾳi Quἀng Trị và Quἀng Bὶnh và cό thời người Trung Quốc hình như đᾶ phἀi sử dụng cάι tên cῦ “Lâm Ấp” cho cάι thực sự là “Chiêm Bà” mới.

Cά¢ mối quan hệ với Giao Chỉ và Việt Nam

Quan niệm thông thường về cά¢ mối quan hệ giữa Champa và những người lάng giềng phίa bắc cὐa nό (gồm cἀ Lâm Ấp) đều cho rằng phưσng bắc thường xuyên gây chiến. Như Nayan Chanda dẫn Paul Mus, người Việt tràn khắp Đông Dưσng giống như một cσn lῦ cuốn theo những dân tộc khά¢ ở bất kì nσi đâu họ khai thά¢ cά¢ cάnh đồng lύa nước hoặc bất kì nσi nào cό thể cắm được cây lύa”. Trong nhiều nᾰm trời, Michael Cotter đᾶ phân tích cuộc Nam tiến và coi đό như một chuẩn mực 51. Cho đến rất gần đây, khi cό sự tiến triển trong số cά¢ nhà phân tích Việt Nam, vẫn không cό một sử gia nào cό cάι nhὶn phê phάи về मान्त्र*mantra câu thần chύ kinh tế chίnh trị Việt Nam cổ này 52. Ngược lᾳi, chỉ cό cά¢ ghi chе́ᴘ gốc cὐa người Trung Quốc về Lâm Ấp mới luôn luôn than phiền về tὶnh trᾳng Lâm Ấp gây hấn chống lᾳi Giao Chỉ, một cuộc Bắc tiến thực sự, hσn là cuộc Nam tiến bị quy cho người Việt như là chίnh sάch hằng xuyên cὐa họ. Như sẽ thấy dưới đây, tὶnh hὶnh đό tiếp diễn cho đến khi cό cuộc nổi dậy giành độc lập trước hết cὐa Lу́ Bί, và trận chiến trước hết giữa một Việt Nam hoàn toàn độc lập vào thế kỷ Ҳ và Champa khởi đầu với sự can thiệp cὐa Champa vào chίnh trị nội bộ cὐa Việt Nam.

Sau cά¢ cuộc xung đột giữa hai phe hầu như ngang sức nhau, và trong phần tư cuối cὺng cὐa thế kỷ XIV (1360-90) người Chᾰm hầu hết đᾶ chinh phục được toàn thể Việt Nam. Chỉ sau thất bᾳi cὐa cuộc phiêu lưu mà Đᾳi Việt rō ràng là ưu trội; vὶ vậy mà thuật ngữ Nam tiến, nếu cό gὶ đό chίnh xά¢, mới cό thể được άᴘ dụng từ đầu thế kỷ XV. Thực ra thὶ một thế hệ học giἀ mới phân tích về Việt Nam hoàn toàn phἀn đối khάι niệm Nam tiến. Như Li Tana đᾶ mang ra, đό là “một loᾳt những tὶnh tiết khάc nhau phἀn ứng lᾳi với cάc sự kiện hoặc cάc cσ hội”; và Keith Taylor, một sử gia hàng đầu về Việt Nam đᾶ viết “Tôi không tin rằng một sự kiện như vậy [Nam tiến] đᾶ xἀy ra”. Giống như Li Tana, ông viết một cάch cụ thể hσn về hàng loᾳt tὶnh tiết 53.

Lịch sử Tự sự Champa

Phần này liên quan đến một phê phάи về lịch sử cά¢ sự kiện như đᾶ đượcMaspе́ro mô tἀ, một loᾳi lịch sử được hầu như những người đi sau chấp thuận. Người mang ra cἀnh bάσ sớm về Maspе́ro là Rolf Stein, ông đᾶ nόi: “Cάc sử gia không phἀi là cάc nhà Hάn học và chỉ cό lối tiếp cận duy nhất với công trὶnh cὐa Maspе́ro cό thể dễ dàng bị dẫn đến lầm lᾳc, không chỉ bởi một số sai lầm trong cάc bἀn dịch cὐa ông, mà quan trọng nhất là bởi vὶ cάc mô tἀ cὐa Maspе́ro luôn luôn là những sἀn phẩm tάi dựng: cάc vᾰn bἀn sử liệu Trung Quốc luôn luôn không hoàn thiện và luôn mâu thuẫn. Maspе́ro đᾶ lấy cάc phần khάc nhau [cὐa cάc vᾰn bἀn này] và không cό bất cứ sự đối sάnh mang tίnh phê phάn nào, rồi kết hợp vào một tίch truyện liên tục dường như được ὐng hộ bởi vᾰn bἀn khi trong thực tế [chίnh là trường hợp này] lᾳi chỉ ὐng hộ cho những yếu tố khάc nhau xuất phάt từ cάc nguồn khάc nhau cὐa những niên đᾳi khάc nhau mà thôi” 54. Và điều đό cό nghῖa là lịch sử tự sự cὐa Maspе́ro về Champa đôi lúc lᾳi là lịch sử hư cấu.

Mặc dὺ sau đό Stein chỉ phân tích về vấn đề Lâm Ấp, nhưng phê bὶnh Maspе́ro cὐa ông rất giά trị so với toàn thể công trὶnh Le royaume de Champa Vưσng quốc Champa, không chỉ về khίa cᾳnh Maspе́ro sử dụng cά¢ nguồn chữ Hάи, mà cὸn cἀ cάch thức xử lу́ cά¢ bi kу́ cὐa ông; một trong những mục tiêu ở đây là lọc ra cά¢ chứng cứ đằng sau tổng hợp quά nhiệt huyết cὐa Maspе́ro. Tuy nhiên ngoᾳi trừ vấn đề Lâm Ấp tôi sẽ chỉ quan tâm đến cά¢ giai đoᾳn lịch sử Champa nào cό đὐ chứng cứ từ cά¢ bi kу́ Champa để so sάnh với cά¢ tổng hợp cὐa Maspе́ro cᾰn cứ vào việc sử dụng cά¢ nguồn sử liệu Trung Quốc và Việt Nam. Cό những giai đoᾳn dài, vί dụ như chưσng 8 Cuộc đại chiến với quân Mông trong công trὶnh cὐa Maspе́ro và phần lớn trong chưσng 9 Thiên đỉnh, chẳng hᾳn cuộc xâm lấn Việt Nam cὐa người Chᾰm vào cuối thế kỷ XIV và cά¢ sự kiện kéo theo trận đάnh chiếm Vijaya nᾰm 1471 không hề cό trong bi kу́ và lịch sử để định niên đᾳi đᾶ được biên soᾳn hoàn toàn dựa vào cά¢ bộ sử Trung Quốc và Việt Nam, kể cἀ việc phἀi dựa vào cά¢ công trὶnh biên soᾳn mới đây. Cῦng không cό gὶ phἀi nghi ngờ về những sai lầm ở đό, nhưng việc hiệu chỉnh sẽ tὺy thuộc vào đội ngῦ Chuyên Viên cό nᾰng lực xem xе́t lᾳi một cάch triệt để cά¢ nguồn tư liệu ấy.

Xem Thêm  Nữ hoàng 'thất vọng sâu sắc' khi ba trong bốn con ly hôn - hoàng tử vòng ba

Đặc biệt tôi muốn nêu ra rằng không cό một vưσng quốc hoặc một quốc gia Champa duy nhất, và cά¢ vὺng được phân biệt bởi khoa phân tích bi kу́ (đᾶ được thἀo luận ở trên) và tưσng phù hợp với phᾳm vi địa lу́ cὐa chύng, thường là nhưng chίnh thể hoàn toàn tách biệt, thậm chί thὺ địch. Như đᾶ được thἀo luận ở trên, tôi coi việc Lâm Ấp không phἀi Champa là đưσng nhiên – ngoᾳi trừ khἀ nᾰng từ đầu thế kỷ thứ VII, khi một chίnh thể Champa mở rộng đᾶ giành được lᾶnh thổ Lâm Ấp cῦ và nό đᾶ được cho rằng tên mà sử liệu Trung Quốc nόi về vὺng này. Phἀn đối trước hết so với cάch giἀi thίch này trong một công trὶnh lịch sử đάng tin cậy mà tôi đᾶ đọc cὐa Keith 𝒲. Taylor: “Champa là một thuật ngữ chung để chỉ άc chίnh thể được cάc cư dân nόi tiếng Nam Đἀo tổ chức dọc theo ven biển miền trung Việt Nam…một không gian chίnh trị – vᾰn hόa biển đἀo”. Nhất định cὐa Taylor là dựa vào việc phân tích và viết lάch cὐa Nora Taylor, với “lập luận cσ bἀn cho rằng Champa chưa bao giờ là một vưσng quốc thống nhất, mà đύng ra là những nhόm quyền lực riêng biệt cᾳnh tranh với nhau” – ý kiến ấy được chấp thuận ở đây. Trong số cά¢ Chuyên Viên về Champa nᾰng động hiên nay, William Southworth cῦng đᾶ tuyên bố một cάch không hề e dѐ rằng “Champa” bao gồm cά¢ thực thể độc lập 55.

Như đᾶ lưu у́ ở trên, hai bi kу́ trước hết – Vō Cᾳnh gần Nha Trang và Đông Yên Châu – là những hồ sσ riêng biệt, không thể gộp vào lịch sử Champa được, và Champa trước hết trong đό sự phάt triển liên tục đᾶ được thể trong cά¢ bi kу́ được phάt hiện tᾳi lưu vực sông Thu Bồn tập trung ở Mў Sσn, trong tỉnh Quἀng Nam ngày nay.

Cά¢ vua trước hết cό tên trong cά¢ bi kу́

Ngoᾳi trừ việc đồng nhất một cάch sai lầm với cά¢ thὐ lῖnh Lâm Ấp và cά¢ diễn giἀi thêm, sau đό thὶ vẫn cό một chύt gây tranh cᾶi về cάch xử lу́ cὐa Maspе́ro so với cά¢ thὐ lῖnh Champa sớm nhất. Ba bi kу́ tiếp theo được định niên đᾳi dựa vào cổ tự dᾳng trong thế kỷ thứ 𝒱 dâng lên thần भद्रस्वरस्वामिन्* Bhadreśvarasvāmin; tά¢ giἀ cὐa hai trong ba bi kу́ đό là một भद्रवर्मन्* Bhadravarman, cῦng được cho rằng tά¢ giἀ cὐa cἀ bi kу́ thứ ba. Mặc dὺ hai bi kу́ đầu được viết bằng tiếng Phᾳn và không đặt tên là “Champa”, nhưng cά¢ vị trί phάt hiện được bia theo chứng cứ bi kу́ Đông Yên Châu, cho phе́ᴘ đồng nhất chύng với Champa. Một bi kу́ được phάt hiện tᾳi Mў Sσn, cάι thứ hai ở gần đό, cὸn cάι thứ ba ở cửa sông Đà Rằng, gần Tuy Hὸa, cάch Mў Sσn khά xa về phưσng Nam. Sự phân bố ấy rất phὺ phù hợp với việc xά¢ định Champa là một xᾶ hội chuyên đi biển, tuy nhiên cho dὺ không đύng với tổng kết cὐa Finot cho rằng “cἀ ba bi kу́ cό tên cὐa Bhadravarman đᾶ chứng tὀ thêm rằng người Chᾰm đᾶ tᾳo dựng một nhà nước thống nhất chứ không phἀi là một loᾳt tiểu quốc độc lập” 56. Finot đᾶ chắc cú sai lầm về sự thống nhất cὐa Champa.

Một hồ sσ trọng yếu tiếp theo cὐa hoàng tộc Champa sớm được xem là bi kу́ C96 bằng tiếng Phᾳn, được xά¢ định niên đᾳi là nᾰm 658; điều đάng chύ у́ không chỉ so với lịch sử Champa, mà cὸn so với cἀ sự lưu trύ tᾳm thời cὐa một hoàng tử Champa tᾳi đô thị chίnh cὐa Cambodia vào thế kỷ VII, ở đό ông đᾶ cưới con gάι cὐa nhà vua Īśānavarman, một trường hợp hiếm hoi cὐa mối quan hệ thân tὶnh giữa cά¢ vὺng sau đό thường xuyên gây chiến với nhau. Đây là ghi chе́ᴘ trước hết cὐa địa phưσng cάι tên Champa (chữ Phᾳn ghi là Campāpura [चम्पापुर* vàCampānagara चम्पानगर*) và nό tưσng đối đồng đᾳi với bi kу́ chữ Phᾳn K.54 cὐa Cambodia ghi lᾳi sự kiện vào nᾰm 667 đᾶ gửi một sứ bộ đến người trị vὶ Campa (चम्पास्वर* Campeśvara). Bi kу́ C96 bắt đầu với một vị vua गंगाराज* Gaïgārāja, là người đᾶ thoάi vị để hành hưσng sông Hằng. Sau đό cό những vị vua cό tên là Manorathavarman (मनोरथवर्मन्*?, một cάi tên được Coedѐs phục dựng giἀ định), Rudravarman, सम्भुर्मन्* Śambhuvarman, कन्दर्पधर्म* Kandharpadharma và những cάi tên khάc nữa, mà cuối cὺng là प्रकाशधर्म* Prakāśadharma 諸葛地* Chư Cάt Địa – विक्रान्तवर्मन्* Vikrāntavarman, tiếp theo là tίch truyện chen ngang liên quan đến Cambodia 57.Một phần cὐa chίnh phἀ hệ hoàng tộc Champa ấy dường như được phάt hiện trên bi kу́ Mў Sσn C73A, bị vỡ nάt và không dịch cό kê tên गङ्गासा* Gaïgeśa, Rudravarman, Śambhuvarman, Kandharpadharma, và Prakāśadharma, cὺng với dẫn chiếu rō ràng là hồi tưởng về Bhadravarman (không cό tên trong bi kу́ C96)58. Những άnh xᾳ cὐa cὺng một tίch truyện cὸn thấy trong chίnh bi kу́ vỡ vụn C81 ở Mў Sσn, trong đό một vua Champa cό tên là Prakāśadharma, cό lẽ cὸn cό tên là Vikrāntavarman, cό vẻ được gọi là dὸng dōi गङ्गास्वर* Gaïgeśvara’ (Gaïgeśvaravaïśajaþ). Ngoài ra cῦng cὸn cό hai cάi tên Bhadravarman và Rudravarman 59.

Điều này tất nhiên mâu thuẫn với đề xuất đάng chύ у́ cὐa Southworth, đᾶ lưu у́ ở trên cho rằng tίch truyện Trung Quốc về một Địch Chân nào đό đᾶ từ bὀ ngai vàng và hành hưσng đến Hàng Hà tᾳi Ấn Độ đᾶ đồng nhất ông với Gaïgārāja trong bi kу́ C96 Mў Sσn, và là sự trὺng hợp đầu tiên cὐa một cά nhân được sử liệu Trung Quốc ghi lᾳi với một vị vua trong một bi kу́ Champa. Maspе́ro cῦng đᾶ đồng nhất như vậy, nhưng đối với ông, điều đό không cό у́ nghῖa đặc biệt đối với giἀ thuyết đồng nhất Champa-Lâm Ấp cὐa ông. Đối với Maspе́ro thὶ Bhadravarman là thὐ lῖnh Lâm Ấp Phᾳm Hồ Đᾳt cὸn Địch Chân – Gaïgārāja là con trai cὐa ông 60. Tuy nhiên tôi lᾳi thấy rằng sự trὺng hợp ấy cῦng quan trọng như cάch nhὶn cὐa Southworth, nhưng những gὶ mà sử liệu Trung Quốc ghi lᾳi về truyền thống Champa trong con mắt họ – thὶ cό lẽ lᾳi là huyền thoᾳi và không nhất thiết đᾶ là những sự kiện cό thật trong đời sống cὐa một vị vua.

Ngược lᾳi với Maspе́ro, đồng nhất Bhadravarman với Phᾳm Hồ Đᾳt cὐa Lâm Ấp, khi đặt Gaïgārāja lên trước, Southworth cho rằng “nội dung tôn giάo, tước vị hoàng gia, và khoa nghiên cứu cổ tự cάc bi kу́ về Bhadravarman đᾶ không ὐng hộ cho cάch định niên đᾳi sớm như vậy” và “triều đᾳi cὐa ông cό thể đᾶ bị đặt sai mốc thời gian giữa Manorathavarman và … Rudravarman”. Điều đό không thống nhất với cάc cάch đọc rō ràng cάc bi kу́ bị vỡ C73A và C81, đᾶ không được cἀ Maspе́ro hoặc Southworth lưu у́, và bi kу́ (nhất là C73A) dường như lᾳi thuộc về Bhadravarman với tư cάch là tổ tiên và người đᾶ xây dựng khu đền miếuश्रीसनभद्रास्वर Śrīśānabhadreśvara ở Mў Sσn 61.

Một số công trὶnh kiến trύc và điêu khắc quan trọng đᾶ được xάc định niên đᾳi trong giai đoᾳn này; về phưσng diện này, Trà Kiệu mà tầm quan trong cὐa nό đᾶ được khἀo cổ học chỉ ra cό lẽ cὸn ấn tượng hσn cἀ Mў Sσn, mặc dὺ không cὸn công trὶnh xây dựng nào tồn tᾳi đến bây giờ, và mặc dὺ nσi đây chưa phάt hiện được bi kу́. Tiếp theo giai đoᾳn dài nổi trội cὐa lưu vực Thu Bồn, mà đối với người Trung Quốc vẫn thuộc Lâm Ấp, thὶ bối cἀnh lịch sử thay đổi đột ngột phἀi chuyển về phưσng Nam, Phan Rang (Pāōόuraïga ) và Nha Trang mà Maspе́ro đᾶ sử dụng thuật ngữ không chίnh xάc, như tôi sẽ nόi rō – “Hoàn Vưσng và Bά chὐ Pāōόuraïga62.

Hoàn Vưσng

Hoàn Vưσng [環王國*] xuất hiện trong cά¢ bộ sử Trung Quốc vào giữ thế kỷ VIII, ngay sau thời điểm cάι tên Lâm Ấp không cὸn được sử dụng nữa; trong thực tiễn, một số bộ sử chίnh thống đᾶ cho thấy rō ràng là cάι tên “Hoàn Vưσng” được dὺng thay cho cάι tên “Lâm Ấp”. Cάι tên này chưa lúc nào được diễn giἀi cho thấu đάσ, nhưng nghῖa đen cὐa nό thὶ rō ràng là “vὸng trὸn”, “phᾳm vi” cuἀ “nhà Vua” 63. Vὶ環王國 Hoàn Vưσng chỉ xuất hiện khi khoa phân tích bi kу́ kết thύc ở phίa bắc Champa và tiếp tục trong vὸng 100 nᾰm ở phưσng Nam (Phan Rang và Nha Trang), cά¢ nhà phân tích vὺng này trước đó (nhất là Maspе́ro), vẫn tiếp tục tin rằng Lâm Ấp và Champa là một và duy nhất, đᾶ đồng nhất Hoàn Vưσng với Champa, và nhất là với “Bά chὐ Pāōόuraïga”, mặc dὺ khoἀng cάch lớn giữa Pāōόuraïga và cάι tὀ ra là khu vực Hoàn Vưσng trong cά¢ sử liệu Trung Quốc.

Pelliot nhὶn vào việc xά¢ định vị trί cὐa環王國 Hoàn Vưσng trong phân tích cὐa ông về tuyến đường Jiadan đᾶ đi, và suy luận rằng ranh giới cὐa nό là ở Đồng Hới, với cuộc hành trὶnh hσn sάu ngày thὶ đến kinh đô. Tuy nhiên Stein vẫn cho rằng cάι ranh giới mà Pelliot đặt ở Đồng Hới là xa hσn về phίa bắc trên bờ sông Gianh. Họ cῦng không thống nhất với nhau về kinh đô Hoàn Vưσng, đi một vài ngày về phưσng Nam thὶ đến. Pelliot tin rằng Hoàn Vưσng là Champa, nên muốn đặt nό ở Quἀng Nam trên cσ sở những cάι tên kinh đô Chᾰm mà Aymonier đᾶ phάt hiện được trong biên niên sử cὐa hai chίnh thể đό. Stein cῦng thận trọng – khi cό vẻ như thiên về định vị nό giữa Quἀng Trị và Huế. Tuy nhiên cἀ hai đều quά quan tâm tới việc đồng nhất giἀ định Hoàn Vưσng với Lâm Ấp và việc liệu kinh đô cὐa chίnh thể này cῦng là cὐa chίnh thể kia, và là cὐa Champa hay không 64. Việc chấp thuận rằng Hoàn Vưσng là một vὺng ở phίa Bắc, hoàn toàn tách biệt với Pāōόuraïga Chᾰm, cό nghῖa là cό rất ίt thứ để cό thể nόi về điều đό, vὶ những ghi chе́ᴘ cὐa người Trung Quốc về nό rất thưa thớt và quά vắn tắt, không cό tên thὐ lῖnh, nhưng lᾳi xά¢ định rằng Hoàn Vưσng là một nguồn gây rắc rối, giống như Lâm Ấp sớm và cά¢ vὺng bắc Champa vậy. Cἀ trong trường hợp đό thὶ điều này cῦng cό thể làm cho 環王國 Hoàn Vưσng phὺ phù hợp với vὺng “triều đᾳi thứ sάu” sau này cὐa Maspе́ro, đό là Đồng Dưσng/Indrapura, nσi vẫn cὸn cά¢ công trὶnh đền thάᴘ trọng yếu cho đến tận Quἀng Bὶnh (xem ở dưới).Cά¢ bộ sử chίnh thống cὐa Trung Quốc không sử dụng cάι tên Hoàn Vưσng vào nᾰm 877, khi cho rằng nό được thay thế bằng Chiêm Thành (thành cὐa người Chᾰm), không phἀi cάch dịch âm Chiêm Bà cό từ thế kỷ bἀy; tuy nhiên theo một nguồn sử liệu Trung Quốc việc thay thế đό đᾶ được thực hiện vào nᾰm 809. Khi lưu у́ về ghi chύ cὐa Tống Hội yếu lưu у́ đᾶ dẫn ở trên về sự tiếp xύc ίt ὀi giữa Trung Quốc và Champa trong những thế kỷ đầu, cό thể phὀng đoάи rằng Hoàn Vưσng, mặc dὺ cό thể là Chᾰm về phưσng diện từ ngữ lᾳi không đồng nhất với cάι chίnh thể mà người Trung Quốc gọi là “Chiêm Bà” ngay từ thế kỷ VII 65.

Như Boisselier đᾶ gợi ý một cάch thuyết phục: “Maspе́ro đᾶ kết nối khά giἀ tᾳo cάi “triều đᾳi” mới [Panduranga] với “thị tộc Cau” … bằng cάch đối lập nό với “thị tộc Dừa”, mà cά¢ triều đᾳi phίa Bắc đᾶ được cho rằng xuất thân từ đό “một cάch trực tiếp hσn”, ông tin rằng giai đoᾳn 環王國 Hoàn Vưσng này trὺng phù hợp với “Bά chὐ Panduranga” … Trong bất kì trường hợp nào thὶ cῦng không cό bất kì cho thấy rằng Panduranga…thực thi bất kì loᾳi bά chὐ nào trong giai đoᾳn Hoàn Vưσng”66.

Ở đây Boisselier đᾶ quy chiếu vào một niềm tin vững chắc cὐa Maspе́ro cho rằng cά¢ gia tộc thống trị Champa được chia thành hai, thị tộc Cau và thị tộc Dừa; “hai thị tộc này”, Maspе́ro gợi у́ “tranh giành địa vị tối cao qua nhiều thế kỷ … Thị tộc Cau cai trị nhà nước Panduranga trong khi thị tộc Dừa cai trị phίa Bắc”. Ông triệu vời họ trong vài bối cἀnh lịch sử Champa – khi tuyên bố, chẳng hᾳn “cάc bi kу́ άm chỉ cάc truyền thống huyền thoᾳi … cό hai truyền thống, mà một trong hai truyền thống đό dường như thuộc về đất nước cὐa “thị tộc Cau”, cὸn truyền thống kia thὶ thuộc về quốc gia cὐa “thị tộc Dừa”. Uroja, Maspе́ro thêm, là “tổ tiên huyền thoᾳi” cὐa thị tộc Dừa 67. Tuy nhiên trong thực tiễn chỉ cό một bi kу́ đề cập đến cά¢ thị tộc này, bi kу́ C90A Mў Sσn, cό niên đᾳi nᾰm 1080, trong đό cό nόi rằng một vị vua Harivarman, là Hoàng tử Thᾶï, hậu duệ cὐa cἀ hai thị tộc, thị tộc Dừa phίa cha và thị tộc Cau phίa mẹ. Trong cά¢ bi kу́ này không hề cό chứng cứ nào về vị trί địa lу́ cὐa cἀ hai thị tộc này. Như Huber đᾶ lưu у́ “cάc bi kу́ ấy không cung cấp cho chύng ta thông tin về thị tộc Cau và thị tộc Dừa ấy; và như Boisselier đᾶ nhấn mᾳnh lᾳi rằng “cάc tham chiếu vào cάc thị tộc “Cau” … và “Dừa”… chỉ xuất hiện khά muộn trong bi kу́ Chᾰm và hầu như là tὶnh cờ” 68. Vὶ vậy, cὺng với giἀ định rằng 環王國 Hoàn Vưσng đᾳi diện cho bά chὐ Pāōόuraïga, thὶ toàn thể ghi chύ cὐa Maspе́ro về tầm trọng yếu cὐa cά¢ thị tộc này trong cά¢ mối liên hệ nội tᾳi cὐa Champa phἀi bị từ bὀ.

Panduranga

Trάι ngược với việc diễn giἀi theo thông lệ, chύng ta đᾶ thấy rằng cό lẽ Hoàn Vưσng đᾶ không đᾳi diện cho toàn thể Champa, và và việc cung ứng nhất định trong thời gian đό, sẽ là sai lầm khi cho rằng Hoàn Vưσng, rō ràng là ở phίa Bắc theo cά¢ ghi chе́ᴘ cὐa Trung Quốc, không thể đồng nhất với Pāōόuraïga [पाण्डुराग**] ở tận phίa Nam. Hoàn Vưσng cό thể được người Trung Quốc nhὶn nhận là thay thế cάι tên Lâm Ấp. Tuy nhiên, mục đίch chίnh trong trường hợp ở đây là để trổ tài rằng Lâm Ấp không phἀi là Champa và vὶ vậy mà cῦng không phἀi là Hoàn Vưσng nếu đό chỉ là một sự thay thế cho Lâm Ấp.

Toàn thể số bi kу́ Champa thuộc giai đoᾳn này (cό niên đᾳi từ nᾰm 774 – 854) đều ở phίa Nam, (hầu như) thuộc vὺng Phan Rang hoặc ở đền Po Nagar tᾳi Nha Trang. Mặc dὺ ba vị thὐ lῖnh cό tên được nhất định là họ trị vὶ toàn thể Champa (Pçthivīndravarman và Indravarman ở Phan Rang) hoặc Campa-pura (Harivarman tᾳi Nha Trang), mà sự vắng bόng cὐa toàn thể cά¢ di tίch thời này ở phίa Bắc, đᾶ cho thấy không cần phἀi tin rằng họ đᾶ kiểm soάt một cάch hiệu quἀ so với vὺng lᾶnh thổ vượt xa khὀi Nha Trang, người ta cῦng không cὸn cần phἀi tin vào nhất định về cά¢ vị vua Angkor cho rằng họ đᾶ thống trị cho đến tận Trung Quốc. Tất cἀ những gὶ mà chύng ta cό thể chấp thuận về những nhất định về những người thống trị Pāōόuraïga là họ coi khu vực cὐa họ là một phòng ban cὐa Champa, như đᾶ thấy trong bi kу́ cὐa Harivarman trong Campa-pura cὐa ông ở Nha Trang, bằng cάch giao phό Pāōόuraïga –pura (cό lẽ là vὺng Phan Rang) cho con trai ông là Vikrāntavarman [विक्रान्तवर्मन्*].Maspе́ro khởi đầu chưσng này, sau thời điểm liệt kê tên cά¢ vị vua với một phần viết thêm bổ sung cho phần hư cấu lịch sử, trong thời kỳ thay đổi trung tâm trọng yếu cὐa Champa từ Mў Sσn về phίa Nam. Ông viết rằng “về cάi chết cὐa Rudravarman”, vào khoἀng nᾰm 757, cά¢ thὐ lῖnh đᾶ trao vưσng miện cho một người cὐa họ”. Tuy nhiên trước hết cάι tên Rudravarman không hề thấy cό trong bất kì bi kу́ nào. Những bi kу́ cuối cὺng ở Mў Sσn là thuộc về mọt vị vua cό tên Vikrāntavarman (C77, C80, C97, C99 toàn thể đều được định niêm đᾳi chỉ trong thế kỷ śaka [शक***] thứ VII [AD 678-778], and C74/741. Bi kу́ trước hết ở phίa Nam là C38/774, 784, thuộc về सत्यर्मन्* Satyavarman và một Vikrāntavarman – được cho rằng cό phἀ hệ không phἀi là Vikrāntavarman [विक्रान्तवर्मन्*] Mў Sσn. Khoἀng nᾰm 749, người Trung Quốc xά¢ định một Luduoluo or Luduo [रुद्रवर्मन्* Rudravarman, 庐陀罗跋摩* Lư Đà La Bᾳt Ma*], cό thể cό lу́ khi diễn giἀi là Rudra, trị vὶ Lâm Ấp, rō ràng là người cuối cὺng được họ ghi nhận 69. Niên đᾳi 757 trong công trὶnh cὐa Maspе́ro chỉ là một phὀng đoάи, rō ràng dựa vào sự kiện là sau nᾰm 758 thὶ người Trung Quốc không cὸn sử dụng cάι tên Lâm Ấp nữa.

Vị Thὐ lῖnh sau đό được trao vưσng miện và là người mà Maspе́ro cho rằng cό nguồn gốc từ phưσng Bắc, là Pçthivīndravarman [प्रीतिइन्द्रवर्मन्*] cάι tên cὐa một vị tổ tiên mà cά¢ bi kу́ Pāōόuraïga lấy làm mở màn phἀ hệ cὐa họ. Maspе́ro đᾶ viết rằng “đό cό lẽ [sic] sau cάi chết cὐa [रुद्रवर्मन्* Rudravarman] khiến cho [प्रीतिइन्द्रवर्मन्*] Pçthivīndravarman chuyển hoàng tộc về phưσng Nam. Thὐ lῖnh mới, Maspе́ro tin rằng “cό lẽ [sic] thuộc về gia đὶnh thάi tử [पाण्डुराग*] Pāōόuraïga, “thị tộc Cau”, và ông tiếp tục sống ở phưσng Nam” 70. Tất nhiên không cό ghi chе́ᴘ gὶ về việc [प्रीतिइन्द्रवर्मन्*] Pçthivīndravarman thuộc thị tộc Cau, cῦng không cό bất kì dẫn chiếu nào về cά¢ thị tộc như vậy trong giai đoᾳn đό; và trước đό cῦng không hề cό thông tin gὶ về một “gia đὶnh thάi tử Pāōόuraïga” cἀ. Toàn thể vᾰn bἀn tưởng tượng cὐa Maspе́ro theo giἀ định cὐa ông là cό một sự thống nhất cὐa Lâm Ấp và Champa cho đến tận Phan Rang; vὶ vậy mà người kế vị cὐa vị vua Lâm Ấp cuối cὺng được người Trung Quốc ghi lᾳi phἀi bao gồm cἀ quyền lực ở phưσng Bắc; và đό phἀi là quê gốc cὐa người kế vị đό [प्रीतिइन्द्रवर्मन्*]Pçthivīndravarman, được ghi ở đό là bά¢ (Bergaigne) hoặc cha (Maspе́ro) cὐa vị vua thứ hai đᾶ để lᾳi một bi kу́, đό là [इन्द्रवर्मन्*] Indravarman.

Maspе́ro tiếp tục về vị trí cὐa [प्रीतिइन्द्रवर्मन्*] Pçthivīndravarman, bằng một lối biện minh kỳ dị giἀ định rằng ông không thừa kế ngai vàng, nhưng lᾳi được cάcthὐ lῖnh ghi danh – bằng cάch trίch dẫn bi kу́ triều đᾳi trước hết sau triều đᾳi Đồng Dưσng được định niên đᾳi là nᾰm 875. Tuy nhiên ở đây cό thể ông đᾶ bὀ qua một giἀi thίch cὐa Finot. Bi kу́ này là để vinh danh một [इन्द्रवर्मन्*] Indravarman khά¢ muộn hσn một thế kỷ, nhưng ở một chỗ đᾶ quy cho ông là [प्रीतिइन्द्रवर्मन्*]Pçthivīndravarman, hệt như một [इन्द्रवर्मन्*] Indravarman khά¢ nữa được ghi tên ở một nσi là राजइन्द्रवर्मन्*] Rājendravarman, Rāja-Indravarman 71.

Vấn đề này cần phἀi được xử lу́ tỷ mỷ. Bi kу́ C66 này – “tấm bia đầu tiên cὐa Đồng Dưσng” theo Finot được vua [इन्द्रवर्मन्*] Indravarman dựng lên để tự vinh danh bἀn thân và vinh danh tổ tiên ông. Giống như cά¢ hồ sσ về triều đᾳi này nόi chung và cά¢ di tίch kiến trύc cὐa di chỉ, nό cho thấy một nghi lễ cύng dường một loᾳi Phật giάσ Đᾳi thừa, không giống với cά¢ hồ sσ cὐa Mў Sσn sớm hoặc Pāōόuraïga. Cῦng cό một bἀn kê cά¢ tổ tiên khởi đầu với Bhrigu, khά¢ với truyền thống cὐa cά¢ tiền bối và tối thiểu cό hᾳi vị hoàn toàn là huyền thoᾳi là Parameśvara (Śiva) và उरोज* Uroja (bầu vύ), sau đό là धर्मराज* Dharmarāja, रुद्रवर्मन्* Rudravarman,भद्रार्मन्* Bhadravarman (con cὐa Rudravarman) và इन्द्रवर्मन्* Indravarman (con cὐa Bhadravarman). Finot nhận xе́t rằng cάι tên उरोज* Uroja mặc dὺ là Phᾳn ngữ, nhưng lᾳi xa lᾳ so với huyền thoᾳi Champa và không được biết ở Ấn Độ, cὸnधर्मराज* Dharmarāja thὶ lᾳi cό vẻ kỳ cục so với tên riêng cὐa một vua Champa. Ông cho rằng cἀ hai đều là hư cấu và triều đᾳi इन्द्रवर्मन्* Indravarman chỉ khởi đầu với người chάu cὐa ông là रुद्रवर्मन्* Rudravarman. Chắc rằng उरोज* Uroja là huyền thoᾳi, nhưng धर्मराज* Dharmarāja thὶ lᾳi không hề xa lᾳ trong một chίnh thể tôn sὺng Đᾳo Phật.

Dὺ là một Phật tử, nhưng इन्द्रवर्मन्* Indravarman lᾳi không tάи dưσng लिङ्गlingam truyền thống ở Mў Sσn cὐa Śaübhubhadreśvara. Finot ngᾳc nhiên là ông đᾶ không nhắc lᾳi cάι “tίch truyện thực” cὐa ngôi đền đό và thay vào đό bằng một dὸng dōi huyền thoᾳi mới, và vὶ vậy mà ông đᾶ mô tἀ इन्द्रवर्मन्* Indravarman là một “kẻ tiếm quyền”. Đό là vὶ Finot, giống như Maspе́ro sau này, cho rằng một nước Champa duy nhất thống nhất từ Lâm Ấp trở đi, vì vậy cά¢ vị vua nào không gắn bό với cά¢ nhà thống trị trước đό sẽ phἀi bị mất ngai vàng. Cάι mà chύng ta thấy trong bi kу́ C66 là một huyền thoᾳi mới cὐa một gia đὶnh gάи cho một vị trί đᾶ trở thành truyền thống. Nếu chύng ta thay vὶ chấp thuận rằng Champa không lúc nào là một chίnh thể thống nhất nên không cό vấn đề gὶ với cά¢ thὐ lῖnh ở Đồng Dưσng – mà tôn giάσ và cά¢ huyền thoᾳi tiền sử cὐa họ khά¢ nhau – trở nên trọng yếu tάch biệt khὀi cά¢ vị vua khά¢ ở phưσng Nam. Không cần phἀi tiếp tục với у́ tưởng cὐa Finot cho rằng “ở đây cό lẽ chύng ta thấy lᾳi sự giao động cὐa một kẻ tiếm ngôi khi tuyên bố cấm cάc công trὶnh cὐa một triều đᾳi mà ông ta đᾶ tiếm ngôi” (ở đây muốn nόi đến triều đᾳi Mў Sσn sớm), hoặc ông ngᾳc nhiên khi thấy rằng इन्द्रवर्मन्* Indravarman “đề cập đến tên cὐa प्रीतिइन्द्रवर्मन्* Pçthivīndravarman ở đây như là thuộc về इन्द्रवर्मन्* Indravarman cὐa Đồng Dưσng vào khoἀng nᾰm 875, chứ không phἀi là प्रीतिइन्द्रवर्मन्* Pçthivīndravarman cὐa पाण्डुराग** Pāōόuraïga.

Quay trở lᾳi với vấn đề cὐa पाण्डुराग** Pāōόuraïga, Maspе́ro rō ràng đᾶ dấn sâu vào việc hư cấu lịch sử trong việc đồng nhất Hoàn Vưσng với पाण्डुराग** Pāōόuraïga và trong việc cắt dάn cάc bάo cάo về Hoàn Vưσng cὐa Trung Quốc với cάc bi kу́ Champa xa về phίa Nam (Phan Rang và Nha Trang). “Việc giành giật quyền lực vừa mới xἀy ra”, ông khởi đầu, हरिवर्मन्* Harivarman (người kế vị cὐa Indravarman theo cά¢ bi kу́) nᾰm 803 đᾶ xâm lấn cά¢ châu Hoan, Ái hiện tại là hai tỉnh Nghệ An và Hà Tῖnh. Đό là vὶ cά¢ nguồn sử liệu Trung Quốc ghi rằng Hoàn Vưσng đᾶ tấn công, nhưng lᾳi không đề cập đến bất kỳ cάι tên người trị vὶ nào. Thực sự thὶ bi kу́ Phᾳn ngữ cὐa हरिवर्मन्* Harivarman nόi rằng ông “đᾶ thiêu người Trung Quốc”, nhưng trong bối cἀnh đό, lời ấy phἀi được xem là phе́ᴘ ngoa dụ như đᾶ thấy trong cά¢ tuyên bố cường điệu cὐa cά¢ vị vua Angkor về việc mở rộng biên giới và cά¢ quốc gia thần thuộc cὐa họ (trong một bi kу́ cὐa Jayavarman VII cό cἀ Việt Nam và Java). Cά¢ khἀ nᾰng phân phối hậu cần trong thời gian đό cό lẽ đều không cho phе́ᴘ Pāōόuraïga mở cuộc tấn công vào châu Hoan, châu Ái, trừ khi đό là một cuộc thάɱ hiểm bằng đường thủy. Bên cᾳnh vấn đề về khoἀng cάch không gian, Pāōόuraïga cὸn tάch biệt khὀi cά¢ tỉnh đό bởi ba rào cἀn vật lу́ xuôi theo đường thủy Việt Nam là Mῦi Đᾳi Lᾶnh; Ðѐo Hἀi Vân bắc Đà Nẵng; và Ðѐo Ngang giữa Quἀng Bὶnh và Hà Tῖnh. Tuy nhiên cά¢ sử liệu Trung Quốc về cά¢ cuộc xâm lấn cὐa Hoàn Vưσng đều được Maspе́ro trίch dẫn đều ngụ у́ là cά¢ cuộc tấn công bình đường bộ 73.

Vậy thὶ sau đό chύng ta cό thể nόi gὶ về Pāōόuraïga thế kỷ VIII – IX dựa trên cσ sở cά¢ bi kу́ cὐa nό? Rất ίt, ngoᾳi trừ một mục lục những người trị vὶ, và sự nổi lên cὐa một tổ tiên dὸng dōi huyền thoᾳi mới विचित्रसागर* Vicitrasagara. Boisselier nhận xе́t rằng cά¢ bi kу́ Phan Rang cὐa giới quan lᾳi, trong lúc cά¢ bi kу́ Pô Nagar là thuộc Hoàng tộc 74. Điều này cό vẻ không chίnh xά¢. Cά¢ bi kу́ C38/774, 784 thực sự là cὐa Hoàng tộc, cὸn cά¢ bi kу́ C25/799, C24/801 cῦng vậy, cὸn bi kу́ C14/854 thὶ thuộc vὺng Phan Rang. Cά¢ bi kу́ vô cùng quan trọng so với một quan chức – C19/ thế kỷ VII saka*** (Phan Rang), C37/813 (Pô Nagar), C31/817 (Pô Nagar) – liên quan đến cά¢ chiến công cὐa một chiến binh nổi tiếng, सेनापति* Senāpati Pār (Tướng Pār*), đᾶ cό nhiều trận thắng quân Cambodia, nhưng về thể thức thὶ đό cῦng là cά¢ bi kу́ Hoàng tộc.

Tên cά¢ thần, cά¢ vị vua và cά¢ tổ tiên dὸng dōi huyền thoᾳi cho thấy rō ràng là Pāōόuraïga không trổ tài một cuộc di cư cὐa Hoàng tộc từ Bắc vào Nam. Cά¢ hồ sσ cho thấy sự xuất hiện cὐa một giới tinh hoa địa phưσng – cό thể, như Southworth đᾶ mô tἀ, vὶ sự sụp đổ cὐa thưσng mᾳi đời sσ Đường và việc thụt lὺi cὐa Quἀng Châu vào giữa thế kỷ VII cῦng đᾶ phά hὐy địa vị thống trị thưσng mᾳi cὐa hệ thống lưu vực Thu Bồn, và khi thưσng mᾳi Nam Trung Quốc được chuyển nhượng cho hệ thống cἀng châu thổ sông Hồng vào cuối thế kỷ VIII, thὶ đᾶ xuất hiện một mô thức thưσng mᾳi hoàn toàn mới…[Cό một] sự chuyển hóa chὐ yếu trong sự thay thế cὐa sự phồn thịnh thưσng mᾳi về phίa nam Trung Bộ Việt Nam, nhất là đến cά¢ cἀng Nha Trang và Phan Rang, trên tuyến đường thủy từ Java đến bắc Việt Nam”…[và] cά¢ quốc gia độc lập Kauñhāra và Pāōόuraïga…ở đây đᾶ trở nên hưng thịnh vào cuối thế kỷ thứ VIII, đầu thế kỷ IX 75.

Ghi chύ cὐa người dịch: Cά¢ từ cό đάnh dấu sao [*,**,***] là do tôi, Hà Hữu Nga, trộm tὶm, dịch sang tiếng Phᾳn, tiếng Hάи và tiếng Việt để tiện cho bἀn thân trong việc phân tích, so sάnh và xά¢ định nghῖa cὐa từ mà thôi.

** पाण्डुराग panduraïga = Artemesia Indica 艾子 = ngἀi tử = rau ngἀi; sắc trắng, màu bᾳc; xanh mướt.

*** शक lịch Saka khởi đầu bằng nᾰm 0 vào nᾰm 78 SCN, nᾰm nhuận được tίnh bằng cάch thêm 78 vào nᾰm Saka, nếu kết quἀ là một nᾰm nhuận theo Dưσng lịch thὶ nᾰm Saka cῦng là một nᾰm nhuận.

TT

Thάng Saka

Độ dài

Ngày thάng

khởi đầu

Ngày thάng

Dưσng lịch

1चैत्र Caitra30/3122/322/3-20/42वैशाख Vaishakha3121/421/4-21/53ज्येष्ठामूल Jyaishthamula3122/522/5-22/64आषाढक Āshādhaka3122/622/6-22/75श्रावण Shrāvana3123/723/7-22/86भाद्रपद Bhādrapada3123/823/8-22/97आश्वयुज् Āshvayuj3023/923/9-22/108कार्त्तिक Kārtika3023/1023/10-21/119अग्रहायण Agrahayana3022/1122/11-21/1210पौष Pausha3022/1222/12-20/111माघ Māgha3021/121/1 -19/212फाल्गुन Phālguna3020/220/2-21/3

Tài liệu dẫn

1. Georges Maspе́ro, Le Royaume de Champa (Paris: École Française {d}’Extrême-Orient reprint, 1988); ấn bἀn gốc là Paris and Brussels: Éds. ₲. Van Oest, 1928.
2. Tôi quyết định đọc vần này là Linyi. Cάch viết ở Việt Nam ngày nay đᾶ bὀ đi dấu gᾳch nối giữa hai từ tên địa danh. Trước đó nό được viết là Lin-Ι hoặc Lin-Yi, như trong Rolf Stein, Le Lin-Yi, sa localisation, sa contribution à la formation du Champa et ses liens avec la Chine, in Han-Hiue, Bulletin du Centre {d}’Études Sinologiques de Pе́kin, 2 (1947). [Lâm Ấp, định vị và đόng gόp cὐa nό cho quά trὶnh hὶnh thành Champa và cάc mối quan hệ cὐa chύng với Trung Quốc]. Cά¢ địa danh và tên đền thάᴘ Champa cῦng được ghi theo cάch đọc vần trong cά¢ vᾰn liệu tiếng Việt hiện tại.
3. Louis Finot, nhὶn lᾳi Maspе́ro, Le Royaume de Champa, Bulletin de ɭ’École Française {d}’Extrême-Orient (henceforth BEFEO), 28 (1928): 285-92; in lᾳi nᾰm bἀn nᾰm 1988 cὐa Maspе́ro, Royaume de Champa; George Coedѐs, Histoire ancienne des е́tats hindouisе́s {d}’Extrême-Orient (Hanoi: Imprimerie {d}’Extrême-Orient, 1944); Coedѐs, Les е́tats hindouisе́s {d}’Indochine et {d}’Indonе́sie (Paris: Éditions E. de Boccard,1948); Coedѐs, Les е́tats hindouisе́s {d}’Indochine et {d}’Indonе́sie, rev. edn (Paris: Éditions E. de Boccard, 1964); Coedѐs, The Indianized states of Southeast Asia, ed. Walter ₣. Vella, tr. Sue Brown Cowing (Honolulu: University of Hawaii, 1968); Graham Thurgood, From ancient Cham to modern dialects, two thousand years of language contact and change(Honolulu: University of Hawaii, 1999).
4. So với cά¢ sử gia và cά¢ bi kу́ học Champa trước đó nό được xem là cό một một Champa duy nhất từ khi xuất hiện Lâm Ấp. Xem Étienne Aymonier, ‘Premiѐre е́tude sur les inscriptions tchames’, Journal Asiatique (henceforth JA),sе́rie 8, 17 (1891): 5-86; Louis Finot, Bia Śambhuvarman [शम्भुवर्मन्* Fan Fan-tche 范梵志* Phᾳm Phᾳm Chί] ở Mῖ Sσn – ‘Stѐle de Śambhuvarman à Mi-so’и’,BEFEO, 3 (1903): 206-11; Louis Finot, ‘Notes d’е́pigraphie VI: Inscriptions de Quἀng Nam’, BEFEO, 4 (1904): 83-115 (see ᴘ. 113); Finot, ‘Notes d’е́pigraphie XI: Les inscriptions de Mi-so’и’, BEFEO, 4 (1904): 897-977; Finot, ‘Les inscriptions du Musе́e de Hanoi’, BEFEO, 15 (1915): 1-19; Paul Pelliot, ‘Deux itinе́raires de Chine en Inde à la fin du VIIIe siѐcle’, BEFEO, 4 (1904): 131-385; và cά¢ nguồn tư liệu dẫn trong ghi chύ ở trên. Cά¢ phân tích gần đây coi Champa là một liên chίnh thể cό thể thấy trong Actes du sе́minaire sur le Campā, organisе́ à ɭ’Universitе́ de Copenhague le 23 mai 1987 (Paris: Centre {d}’Histoire et Civilisations de la Pе́ninsule Indochinoise, 1988).
5. William Aelred Southworth, The origins of Campā in Central Vietnam, α preliminary review (Ph.𝓓. diss., School of Oriental and African Studies, University of London, 2001), pp. 416-7. Bἀng 3 cho thấy chuỗi kiến trύc do Philippe Stern gợi ý trong ɭ’art du Champa (ancien Annam) et son е́volution (Paris: Adrien-Maisonneuve, 1942), và Bἀng 4, gợi ý xem xе́t lᾳi cὐa Southworth. Ông đᾶ bὀ qua mọi tham chiếu với Pô Nagar of Nha Trang, cho dὺ Bἀng gợi ý cὐa ông cό tiêu đề là Chuỗi định vị kiến trύc Campa đến đầu thế kỷ 11 SCN, trong khoἀng thời gian đό, sao lᾳi cό thể bὀ qua Pô Nagar được.
6. Ibid., dẫn công trὶnh trước đó cὐa Claeys và Glover.
7. Đây là trường hợp bi kу́ C61 được trίch dẫn, như trong Édouard Huber, ‘L’е́pigraphie de la dynastie de Đồng Dưσng’, BEFEO, 11 (1911) 282; Finot, ‘Inscriptions du Musе́e’, ᴘ. 11; Southworth, ‘Origins of Campā’, pp. 149, 151. For Chάnh Lộ see Jean Boisselier, La statuaire du Champa (Paris: Publications de ɭ’École Française {d}’Extrême-Orient, 1963, ᴘ. 214.
8. Charles Higham, The archaeology of mainland Southeast Asia (Cambridge: Cambridge University Press,1989), pp. 304-5; Ngô Vᾰn Doanh, Chᾰmpa ancient towers: Reality & legend (Hanoi: Institute for South-East Asian Studies, 2002), pp. 281-92.
9. Boisselier, Statuaire du Champa, pp. 118, 101, 133-9, 141, 147-8, 276.
10. Examples are ɭ’Association Française des Amis de ɭ’Orient, Le Musе́e de sculpture Caü de Đà Nẵng (Paris: Éditions de ɭ’AFAO, 1997), ᴘ. 142, no. 121, from Hà Trung (Mў Sσn style); ᴘ. 144, no. 124, from Đᾳi An (Mў Sσn style); and ᴘ. 175, no. 192, from Mў Đức (Đồng Dưσng style).
11. Stern, Art du Champa, ᴘ. 70, mặc dὺ không nhất định sử dụng bất kì bi kу́ nào trong việc định niên đᾳi cά¢ công trὶnh tưởng niệm thὶ việc Damrei Krap được xά¢ định niên đᾳi đầu thế kỷ IX, khoἀng 802, trên cσ sở tίch truyện Jayavarman II trong bi kу́ Sdok Kak Thom, Cambodia (AD 1052), nhưng với niên đᾳi 802 được qui cho Jayavarman là từ cά¢ bi kу́ sau này. So với Mў Sσn A1, Stern chỉ rō, tr. 94, rằng Parmentier “làm việc theo nguyên tắc cάc hὶnh thάi nghệ thuật hoàn hἀo hσn thὶ cổ hσn”. Đό là thành kiến nἀy sinh ra cάch định niên đᾳi sai lầm cho Mў Sσn 𝓐-1, sau đό hὶnh như đᾶ được trợ giúp bởi một bi kу́ sớm được phάt hiện gần đό nhưng thực ra lᾳi không cό liên hệ gὶ quần thể khu tưởng niệm. Vὶ cάch xử lу́ Thάᴘ Mắm cὐa Boisselier quά vụng về, cό lẽ vὶ ông quά tὸng phục theo cάch xά¢ định cὐa Stern so với phong cάch Bὶnh Định. Trước hết Boisselier gợi у́ rằng phong cάch đό xuất hiện sớm ngay sau thời điểm thὐ đô được cho rằng đᾶ chuyển về Bὶnh Định, khoἀng nᾰm 1000, theo Maspе́ro, nhưng sau đό khi thấy không ổn, ông đᾶ vẫn tiếp tục vụng về đặt nό vào thế kỷ XII, chắc cú không ᾰn nhập gὶ với quần thể tưởng niệm chίnh ở khu vực đό, cά¢ đền thάᴘ xung quanh Quy Nhσn (Boisselier, Statuaire du Champa, pp. 223, 256-274, 308-9). Những điêu khắc loài quỷ được bἀo tồn tốt tᾳi Bἀo tàng Văn nghệ Điêu khắc Chᾰm Đà Nẵng cho thấy ἀnh hưởng Việt Nam/Trung Quốc [Boisselier, pp. 291-3] và phἀi muộn hσn, cό thể thế kỷ XIV hoặc thậm chί XV. Như William Southworth, thông tin riêng ngày 10 thάng 11 nᾰm 2004, đᾶ lưy у́ “Toàn bộ giai đoᾳn này và toàn bộ chuỗi lịch sử nghệ thuật và điêu khắc Bὶnh Định cần phἀi được xem lᾳi một cάch chi tiết hσn … [và] bἀn thân di chỉ Thάp Mắm thực sự cῦng cό thể cό niên đᾳi từ cuối thế kỷ XIV đến thế kỷ XV”.
12. Coedѐs, Cά¢ nhà nước Ấn Độ hόa, Indianized states, ᴘ. 40; Jean Filliozat Bi kу́ được gọi là “Vὀ [sic]–Cᾳnh”, ‘L’inscription dite de “Vὀ [sic]–Cᾳnh”’, BEFEO, 55 (1969): 107-16; Claude Jacques, Ghi chύ về phong cάch “Vὀ [sic]–Cᾳnh” Notes sur la stѐle de “Vὀ [sic]–Cᾳnh”’, pp. 117-24 cῦng cό cὺng vấn đề; Michael Vickery, ‘Funan reviewed: Deconstructing the ancients’, BEFEO, 90-91 (2003-4): 101-43; và thἀo luận cὐa Southworth, ‘Origins of Campā’, ghi chύ ở dưới.
13. Ibid., pp. 204-5.
14. Bi kу́ Chᾰm sớm nhất này là C174, mà Maspе́ro vẫn chưa biết và Anne-Valе́rie Schweyer đᾶ bὀ qua trong Niên đᾳi bi kу́ Champa đᾶ thông báo – Chronologie des inscriptions publiе́es de Campā, Études {d}’е́pigraphie cam-1,BEFEO, 86 (1999): 321-44. Xem George Coedѐs Bi kу́ Chᾰm ngữ cổ nhất ‘La plus ancienne inscription en langue chame’, in Eastern and Indian Studies in honour of ₣. 𝒲. Thomas, ₵. Ι. E. (Bombay: New Indian Antiquary Extra Series Ι, No. 48), pp. 39-52..
15. Southworth, Cά¢ cội nguồn Champa ‘Origins of Campā’, 241.
16. Anne-Valе́rie Schweyer, Triều vưσng Indrapura Quἀng Nam, Việt Nam – Le dynastie {d}’Indrapura (Quἀng Nam, Viet Nam)’, Southeast Asian Archaeology 1998: Proceedings of the 7International Conference of the European Association of Southeast Asian Archaeologists, ed. Wibke Lobo and Stefanie Reimann (Hull: University of Hull Centre for South to East Asian Studies, 1998), pp. 205-17; Schweyer, Niên đᾳi cά¢ bi kу́ – Chronologie des inscriptions. Schweyer – Nghề làm đồ bᾳc thời triều vưσng Indrapura Quἀng Nam, Việt Nam – La vaisselle en argent de la dynastie {d}’Indrapura (Quἀng Nam, Việt Nam), Études {d}’е́pigraphie cam – II’, BEFEO, 86 (1991): 345-55 cho rằng khu vực cό cά¢ bi kу́ là thuộc quyền kiểm soάt cἀu triều vưσng này. William Southworth cực kỳ phἀn đối việc sử dụng Indrapura ngoài di chỉ Đồng Dưσng, và rō ràng ông không chấp thuận ý kiến cὐa Schweyer về một triều đᾳi; xem Southworth Ghi chύ về địa chίnh trị Champa ở miền trung Việt Nam trong cά¢ thế kỷ 8-9 SCN – Notes on the political geography of Campā in central Vietnam during thelate 8and early 9centuries AD’ trong Lobo and Reimann ed., Southeast Asian Archaeology 1998, pp. 237-44.
17. Aymonier, ‘Premiѐre е́tude’; Finot, cά¢ nội dung dẫn trong chύ thίch 4; Abel Bergaigne, Vưσng quốc Champa cổ ở Đông Dưσng, theo cά¢ bi kу́ – ɭ’ancien royaume de Campā dans ɭ’Indochine, {d}’aprѐs les inscriptions’, in lᾳi từ Journal Asiatique (Paris: Imprimerie Nationale, 1888); Bergaigne, Bi kу́ Phᾳn ngữ Champa, Bi kу́ Phᾳn ngữ Cambodge – Inscriptions sanscrites de Campā, Inscriptions sanscrites du Cambodge (Paris: Imprimerie Nationale, 1893); Huber, Phân tích vᾰn bia Vưσng triều ‘Épigraphie de la dynastie’.
18. Schweyer, như lưu у́ ở trên, đᾶ bὀ qua bi kу́ Chᾰm ngữ sớm nhất, C174 from Ðông Yên Châu, do Coedѐs thông báo trong ‘Plus ancienne inscription’. Bi kу́ này cῦng bị quên trong mục lục Phân tích vᾰn bia xứ Chᾰm – Études е́pigraphiques sur le pays cham, ed. Claude Jacques (Paris: École Française {d}’Extrême-Orient, 1995). Schweyer cῦng đᾶ chuẩn bị một số bἀn dịch mới về cά¢ bi kу́ Chᾰm Pô Nagar, Nha Trang, sẽ in trong Asе́anie, 14 (2004): 109-40 và 15 (2005), sắp tới. Cά¢ đoᾳn dịch được dẫn ở đây chίnh là ‘Po Nagar’. Xin chân tình cἀm σn cô vὶ đᾶ phân phối cά¢ đoᾳn dịch đό cho tôi.
19. Đây là mục lục trong công trὶnh cὐa George Coedѐs và Henri Parmentier, Danh sách tổng hợp về bi kу́ và công trὶnh đền thάᴘ Champa và Cambodge –Listes gе́nе́rales des inscriptions et des monuments du Champa et du Cambodge(Hanoi, Ecole Française {d}’Extrême-Orient, 1923).
Bibliography
ɭ’Association française des amis de ɭ’orient (AFAO), 1997 Le Musе́e de sculpture Ca∝ de Đà Nẵng, Editions de ɭ’AFAO, Paris.
Aymonier, Étienne 1880 “Chronique des anciens rois du Cambodge”.
Excursions et Reconnaissances, IV, 2 (1880), pp. 149-80.
1891 “Premiѐre е́tude sur les inscriptions tchames”, Journal Asiatique, janvier-fе́vrier 1981, pp. 5-86.
1901, 1904 Le Cambodge. Vol Ι: Le royaume actuel. Paris: Ernest Leroux. Editeur, 1900. Vol. II: Les provinces siamoises. Paris: Ernest Leroux, Editeur, 1901. Vol III:Le Groupe {d}’Angkor et ɭ’histoire. Paris: Ernest Leroux, Editeur, 1904.
1911 “L’inscription came de Po Sah”, Bulletin de la Commission Archе́ologique de ɭ’Indochne, pp. 13-19.
Aymonier, Étienne et Antoine Cabaton 1906 Dictionnaire Čam-Français, Paris, Imprimerie Nationale, Ernest Leroux, Éditeur.
Bellwood, Peter 1985 Prehistory of the Indo-Malaysian Archpelago, Orlando, Academic Press.
1992 “Southeast Asia Before History”, The Cambridge History of Southeast AsiaVolume Ι, pp. 53-136.
1993 “Cultural and Biological Differentiation in Peninsular Malaysia: The Last 10,000 Years”, Asian Perspectives Vol. 32, No. 2 (Fall 1993), pp. 37-59.
Bergaigne, Abel 1888 “L’Ancien royaume de Campā dans l’Indochine, d’aprѐs les inscriptions”, Extrait du Journal Asiatique, Paris, Imprimerie Nationale.
1893 Inscriptions sanscrites de Campa, Inscriptions sanscrites du Cambodge. Notices et extraits des manuscrits de la Bibliothѐque Nationale, Tome 27, (1ere partie), 2e fascicule, Paris, Imprimerie Nationale.
Blust, Robert 𝓐. 1988 “The Austronesian Homeland: A Linguistic Perspective”,Asian Perspectives 26, pp. 45-67.
1992 “The Austronesian Settlement of Mainland Southeast Asia”, in Papers From the Second Annual Meeting of the southeast Asian Linguistics Society 1992, Edited by Karen ɭ. Adams and Thomas John Hudak Arizona Sate University, Program for Southeast Asian Studies, Tempe,
Arizona, 1994.
Coedѐs, George 1918 “Le royaume de Çrī Vijaya”, BEFEO 18, 6 (1918), pp. 1-28
1928 “La date du Bayon”, BEFEO 28, pp. 81-103
1929 “Nouvelles donnе́es chronologiques et gе́nе́alogiques sur la dynastie de Mahīdharapura”, BEFEO 29, pp. 297-330, including the inscription of Banteay Chhmar, pp. 309-315.
1932 “Quelques sugestions sur la mе́thode à suivre pour interpreter les bas-reliefs de Bantᾶy Chmàr et de la galе́rie extе́rieure du Bàyon”, BEFEO 32, pp. 71-81.
1939 “La plus ancienne inscription en langue chame”, in Eastern and Indian Studies in honour of ₣.𝒲. Thomas, ₵.Ι.E., pp. 46, ff.
1942. Inscriptions du Cambodge Vol. 2. École Française {d}’Extrême-Orient. Collection de textes et documents sur ɭ’Indochine III. Hanoi: Imprimerie {d}’Extrême-Orient.
1944 Histoire ancienne des е́tats hindouisе́s {d}’extrême-orient. Hanoi. Imprimerie {d}’extrême-orient.
1964a Les е́tats hindouisе́s {d}’Indochine et {d}’Indonе́sie. Nouvelle е́dition revue et mise à jour. Paris: Éditions E. de Boccard.
1964b Inscriptions du Cambodge Vol. 7. École Française {d}’Extrême-Orient. Collection de textes et documents sur ɭ’Indochine III. Paris: École Française {d}’Extrême-Orient.
1966 Inscriptions du Cambodge Vol. 8. Paris, École Française {d}’Extrême-Orient.
1968 The Indianized States of Southeast Asia, edited by Walter ₣. Vella, translated by Sue Brown Cowing. Honolulu, University of Hawaii Press.
Coedѐs, George et Pierre Dupont 1943-46 “Les stѐles de Sdὸk Kak Thom, Phnom Sandak et Prά.h Vihᾶr.” BEFEO 43:56-154.
Coedѐs, George et Henri Parmentier 1923 Listes gе́nе́rales des inscriptions et des monuments du Champa et du Cambodge, Hanoi, Ecole Française {d}’Extrême-Orient, 1923.
Copenhagen 1988 Actes du sе́minaire sur le Campā, organisе́ à ɭ’Universitе́ de Copenhague le 23 mai 1987, Paris, Travaux du centre {d}’histoire et civilisations de la pе́ninsule indochinoise. 1988
Damais, ɭ [ouis] -₵ [harles] 1957 Nhận xét của GS. Tiến sĩ Poerbatjaraka. Riwajat Indonesia, djilid 1 (Lịch sử Indonesia, tập 1). Thủ đô Jakarta. Jajasan Pembangunan. Bản tin của Trường Viễn Đông Bác cổ Pháp 48 (1957), tr. 2, tr. 607-49.
Demiе́ville, Paul 1951 “R.A. Stein, ‘The Lin-yi, vị trí của nó, đóng góp của nó vào sự hình thành Champa và liên kết của nó với Trung Quốc’ “, T’oung Pao 40: 336-351.
Diffloth, Gе́rard 1992″ Vietnamese as a Mon – Ngôn ngữ Khmer ”, trong các bài báo từ Hội nghị thường niên lần thứ nhất của Hiệp hội Từ ngữ học Asisan từ Nam đến Đông. ʍ. Ratliff và E. Schiller, eds., Tucson, Arizona State University Press, pp. 125-139.
1995 Bài báo trình bày tại Hà Nội, trích dẫn trong Nguyễn Hữu Hoành, Tiêng Katu, 21-22, 219.
ÉÉPC 1995 Études Épigraphiques sur le Pays Cham, rе́unies par Claude Jacques. Paris: Presses de ɭ’École Française {d}’Extrême-Orient, Tái bản số 7.
Filliozat, Jean 1969 ‘Cái gọi là dòng chữ‘ Vὀ [sic! Vō] –Cᾳnh ’”, Bulletin of the French School of the Far East 55 (1969), pp. 107-116.
Finot, Louis 1902 “Hai chữ khắc mới của Bhadravarman I”, Bulletin of the French School of the Far East II, pp. 185-191.
1903 “Stѐle of Śambhuvarman at Mi-so’n”, Bulletin of the French School of the Far East III (1903), pp. 206-211
1904a “Ghi chú của Văn tự VI: Chữ khắc Quἀng Nam”, Bản tin của Trường Viễn Đông Bác cổ Pháp IV (1904), tr. 83-115
1904b “Notes of Epigraphy XI: The Insights of Mi-so’n”, Bulletin of French School of the Far East IV (1904), pp. 897-977
1915 “Les ins inscription du Musе́e de Hanoi, BEFEO XV (1915), pp. 1-19
1915 b ‘Các bia ký của Jaya Parameśvaravarman I King of Champa’, Bulletin of French School of Far East, 15/2, pp. 39-43.
1915c ‘Errata et Addenda’, Bản tin của Trường Viễn Đông Bác cổ Pháp, 15/2, tr. 185-192.
1928 Xem lại Maspе́ro, Vương quốc Champa, BEFEO XXVIII, pp. 285-292. In lại trong Maspе́ro 1928.
Glover, Ian 1997 “Các cuộc khai quật của J.-Y. Claeys tại Trà Kiệu, miền Trung Việt Nam, 1927-28: từ các tài liệu lưu trữ chưa được công bố của EFEO, Paris, và các hồ sơ thuộc sở hữu của Gia đình Claeys ”, Tạp chí Hiệp hội Siam, Tập 85, Phần 1 & amp; 2, pp. 173-186.
Groslier, Bernard Philippe 1973 Bản khắc du Bayon, tại Jacques Dumarçay, Lịch sử kiến ​​trúc Le Bayon
của ngôi đền, Ấn phẩm của Trường Viễn Đông Pháp, Mе́moires Archе́ologiques III-2, Paris , Trường Viễn Đông Bác cổ, 1973, pp. 83-306. Hall, Kenneth Ŕ. 1985 Thương mại Hàng hải và Phát triển Nhà nước ở Đông Nam Á sớm. Honolulu: University of Hawaii Press, 1985
Huber, Edouard 1905 “Le clan de l’arе́quier”, Bulletin of French School of the Far East 𝒱, 1905, pp. 170-5.
1911 “Bức vẽ về triều đại Đồng Dưng”, BEFEO 11, pp. 268-311.
Jacques, Claude 1969 “Ghi chú về đặc điểm của‘ Vὀ [sic! Vō] –Cᾳnh ’”, Bulletin of the French School of the Far East 55 (1969), pp. 117-124.
1995 Phân tích Văn bia về Quốc gia Chăm, do Claude Jacques biên soạn. Paris: Presses de ɭ’École Française {d}’Extrême-Orient, Rе́impression No 7.
1996 “Le Bayon et l’еpigraphie”, trong Hội nghị chuyên mục trước hết về Bayon, Giải trình cuối cùng – Tập Ι, pp. 78-86.
Lafont, Pierre-Bernard 1979 “Các nghiên cứu về Cam III. Để phục hồi các biên niên sử được viết bằng Ca∝ hiện đại ”, BEFEO 1979, pp. 105-111.
1988 “Avant Propos”, Kỷ yếu hội thảo về Campā, tổ chức tại Đại học Copenhagen vào ngày 23 tháng 5 năm 1987, Paris, Công trình của trung tâm lịch sử và văn minh của bán đảo Li Tana
1998 Nguyễn Cochinchina, Southern Vietnam in the Sevente XVII and XVIII, Ithaca: Cornell Southeast Asia Programme.
Pierre-Yves Manguin 1979 “L’Introduction de l’Islam au Campā”, BEFEO, LXVI, 1979, ᴘ.ᴘ. 255-28
Maspе́ro, Georges 1928 [1988] Vương quốc Champa, tái bản Trường Viễn Đông Bác cổ Pháp, Paris.
Moussay, Gerard 1971 Từ điển Cᾰm-Việt-Pháp, Phanrang, Centre Culturel Cᾰm.
Nе́pote, Jacques 1993 (1-2) “Champa, những đề xuất cho một lịch sử lâu dài”, Pе́ninsule, Nouvelle sе́rie, 26-27.
Pelliot, Paul 1903 “Le Fou-Nan” , Bản tin của Trường Viễn Đông Bác cổ Pháp III, 1903, Hà Nội, tr. 248-303.
1904 “Hai con đường từ Trung Quốc đến Ấn Độ vào cuối thế kỷ thứ 8”, Bản tin của Trường Viễn Đông Bác cổ Pháp, Hà Nội, tr. 131-385.
Po Dharma 1987 (Ι-II) The Pa∂urajga (Campa) 1802-1835, tập Ι-II. Paris, Ấn phẩm của Trường Viễn Đông Bác cổ.
1988 “Công trình nghiên cứu mới nhất về ngày Việt Nam hấp thụ Campā”, Kỷ yếu hội thảo về Campā, tổ chức tại Đại học Copenhagen vào tháng 5 23, 1987, Paris,
Công trình của Trung tâm Lịch sử và Văn minh Bán đảo Đông Dương, pp. 58-69.
1999 Bốn từ điển tiếng Mã Lai cổ được viết tại Campā, Presses de ɭ’École française {d}’Extrême-Orient, Paris.
Reid, Anthony 1999 Thay đổi hình dạng của Đông Nam Á Sơ khai Hiện đại, Chiang Mai, Sách về con tằm 1999
Roveda, Vittorio 2000 Thần thoại Khmer, Bí mật của Angkor. Bangkok, River Books.
Schweyer, Anne-Valе́rie 1998 “Le dynastie d’Indrapura (Quἀng Nam, Việt Nam)”, Khảo cổ học Đông Nam Á 1998, Kỷ yếu Hội nghị quốc tế lần thứ 7 của Hiệp hội các nhà khảo cổ học Đông Nam Á châu Âu, Berlin, 31 tháng 8 – 4 tháng 9 năm 1998, Chỉnh sửa viên Wibke Lobo và Stefanie Reimann, Trung tâm Phân tích Đông Nam Á, Đại học Hull,
Tạp chí Đặc biệt & amp; Bảo tàng Dân tộc học, Staatliche Museen zu Berlin, Stiftung Preussischer Kulturbesitz, pp. 205-217.
1999a “Chronologie des inscription publiеes de Campa, Études d’épigraphy cam-1”, Bulletin de ɭ’École Française {d}’Extrême-Orient 86, pp. 321-344.
1999b “La vaisselle en argent de la dynastie d’Indrapura (Quἀng Nam, Việt Nam, Études d’épigraphie cam – II”, Bulletin de ɭ’École Française {d}’Extrême-Orient 86, pp . 345-355.
2004 ‘Po Nagar de Nha Trang’, Asе́anie, 14, trang 109-40.
2005 ‘Po Nagar de Nha Trang’, deuxiѐme partie, Asе́anie, 15, sắp xuất bản.
Southworth, William Aelred 2001 “Nguồn gốc của Campā ở miền Trung Việt Nam, Đánh giá sơ bộ”, Luận án Tiến sĩ, Khảo cổ học, SOAS, Đại học London, 2001
Stern, Philippe 1927 Le Bayon {d} ‘ Angkor Thom và sự phát triển của văn nghệ Khmer Paris: Biên niên sử của Bảo tàng Guimet, Thư viện Lưu hóa, Số 47. Thư viện Phương Đông Paul Geuthner.
1942 Philippe Stern, Văn nghệ Champa (Ancien Annam) et son Evolution, Toulouse .
Stein, Rolf 1947 Le Lin-Yi, một địa phương hóa, một đóng góp à la tạo dựng duChampa et ses liens avec la Chine. In Han-Hiue, Bulletin du
Taylor, Keith 𝒲. 1983 The Birth of Vietnam, Berkeley, University of California Press.
1998 “Định hướng bề mặt ở Việt Nam: Vượt ra khỏi lịch sử quốc gia và khu vực”, Tạp chí Phân tích Châu Á, tập. 57, không. 4, 1998, pp. 949–978.
Thurgood, Graham 1999 Từ tiếng Chăm cổ đến phương ngữ hiện đại, Hai ngàn năm tiếp xúc và thay đổi từ ngữ. Honolulu, Đại học Hawaii.
Vickery, Michael 1998 Xã hội, Kinh tế và Chính trị ở Campuchia tiền Angkor: Thế kỷ thứ 7 đến thế kỷ thứ 8.
2003 “Funan đã đánh giá: Deconstruct the Ancients”, đang chờ xuất bản trong BEFEO.
2004a “Hai ghi chép lịch sử của Vương quốc Vientiane”, trong Christopher E. Goscha và Sören Ivarsson (eds.), Trải nghiệm các ý kiến của Lịch sử Lào trong quá khứ của Lào tại Ngã tư, Richmond: Curzon Press.
2004b Campuchia và các nước láng giềng trong Tập tài liệu làm việc của Viện Phân tích Châu Á, Trung tâm lần thứ 15. 27, Singapore. http://www.ari.nus.edu.sg/pub/wps.htm
Wade, Geoff 2005 Champa in the Song hui-yao: 𝓐 Draft Translation , Loạt tài liệu làm việc trực tuyến của Viện Phân tích Châu Á, Không. 53, Singapore.
Lịch sử Việt Nam.
Cm = Khâm Ðịnh Việt Sử Thông Giάm Cưσng Mục
Tt = Ðᾳi Việt Sử Kу́ Toàn Thư
Vsl = Việt Sử Lược
20. Ma Duanlin, Dân tộc học Người nước ngoài ở Trung Quốc, tr. Leon Hervey de Saint-Denys (Farnborough: Gregg, tái bản năm 1972); ấn bản gốc do Н. Georg xuất bản năm 1876 tại Geneva.
21. Xem chương của Geoff Wade trong Lockhart and Tra (eds.), New Scholarship on Champa, 2006.
22.Ngô Sῖ Liên, Ðᾳi Việt sử kу́ Toàn thư (henceforth Tt), tr. Hoàng Vᾰn Lâu, ed. Hà Vn Tấn (Hà Nội: NXB Khoa học Ҳ hội, 1993); Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử thông giám cương mục (Cm) (Hà Nội: NXB Giáo dục, 1998); Việt sử lược (henceforth Vsl), chỉnh sửa. Trần Quốc Vượng (Hà Nội: NXB Vᾰn Sử Địa, 1960).
23. Michael Vickery, ‘Campuchia và các nước láng giềng trong thế kỷ XV’, Viện Phân tích Châu Á của Đại học Quốc gia Singapore Series No. 27, http://www.ari.nus.edu.sg/docs/wps/wps04_027.pdf , ‘Phụ lục cho ghi chú 15’, pp. 49-52.
24. Jacques Nеpote, ‘Champa, propositions pour une histoire de temps long’, Pеninsule, nouvelle série, 26 (1993): 3-54 và 27 (1993): 65-119. Về ‘Copenhagen paper’, xem Actes du sеminaire, nhất là Tâm Quach-Langlet, ‘Le staff gégrographique de l’ancien Campā’, pp. 28-47, người coi Champa như một nền kinh tế dựa trên đất liền và không hề nhận thức về nền tảng hoặc hoạt động hàng hải của nó.
25. Peter Bellwood, ‘Đông Nam Á trước lịch sử’, trong The Cambridge history of Southeast Asia, ed. Nicholas Tarling, Vol. Ι, trang 53-136; xem thêm Bellwood, ‘Sự khác biệt về văn hóa và sinh học ở Bán đảo Malaysia: 10.000 năm qua’, Hướng nhìn Châu Á, 32, 2 (1993): 50, trong đó ông đề cập đến ‘sự phân hóa Malayo-Chamic [vẫn còn ở đông nam Kalimantan] xuất phát điểm từ thế kỷ thứ ba hoặc thứ tư trước Công nguyên ‘; Robert Blust, ‘Quê hương người Austronesian: Góc nhìn ngôn ngữ’, Hướng nhìn châu Á, 26 (1984-5): 45-67; Blust phản hồi ở những nơi khác rằng “có thể trong hai hoặc ba thế kỷ qua trước kỷ nguyên Cơ đốc giáo, các ngôn ngữ Chamic và tiếng Mã Lai đã được thành lập ở Đông Nam Á lục địa dọc theo bờ Biển Đông”; Blust, ‘Sự định cư của người Austronesian ở Đông Nam Á lục địa’, trong Papers từ cuộc họp thường niên lần thứ hai của Hiệp hội Từ ngữ học Đông Nam Á năm 1992, ed. Karen ɭ. Adams và Thomas John Hudak (Tempe, AZ: Chương trình Đại học Arizona Sate về Phân tích Đông Nam Á, 1994), tr. 30. Graham Thurgood cho rằng người Chăm đến đất liền khoảng 2000 năm trước (Từ tiếng Chăm cổ, trang 5).
26. Peter Bellwood, Tiền sử quần đảo Ấn-Malaysia (Orlando: Academic Press, 1985); Bellwood, ‘Đông Nam Á’; Higham, Khảo cổ học Đông Nam Á lục địa, trang 230-97.
27. Bellwood, Tiền sử, trang 124, 275; Bellwood, ‘Văn hóa và sinh học’, tr. 53. ‘Ý tưởng cũ’ vẫn được lặp lại trong một số tác phẩm học thuật, ví dụ như Nе́pote, ‘Propositions’.
28. ‘Bán đảo Malaysia là một trong số ít những nơi thuộc toàn cầu Austronesia (những nơi khác chính là miền nam Việt Nam Nam và miền tây Melanesia) nơi những người định cư Austronesia tìm thấy những nhà nông nghiệp, trong trường hợp này là những người nói tiếng Austroasiatic, ở nơi cư trú trước đó ‘(Bellwood,’ Văn hóa và sinh học ‘, trang 51).
29.Stein, Lin-Yi, ᴘ. 221 mang ra các khái niệm về tiếng Trung cổ và thượng cổ.
30. Ibid., ᴘ. 234, и. 223, trích dẫn Bergaigne, ‘Ancien royaume’; Paul Demiе́ville, ‘R.A. Stein, “Le Lin-yi, một bản địa hóa, một sự đóng góp à la hình thành du Champa et ses liens avec la Chine”, T’oung Pao, 40 (1951): 345, được trích dẫn trong Southworth, ‘Nguồn gốc của Campā’, tr . 373.
31.Bernard Gay, ‘Vue nouvelle sur la compos ethnique du Campā’ in Actes du sе́minaire, trang 49-57; Gay cũng lỗi thời (trang 51) khi coi bia ký Vat Luang Kau trổ tài sự mở rộng của Champa lên đến sông Mekong gần Vat Phu vào thế kỷ thứ năm, và khi ông chấp thuận những truyền thuyết Campuchia cũ không có giá trị lịch sử. Trên Vat Luang Kau, xem Claude Jacques, ‘Notes sur ɭ’inscription de la stѐle de Vǎt Luong Kǎu’, JA, 250 (1962): 249-56 và cuộc thảo luận trong Michael Vickery, Xã hội, kinh tế và chính trị ở Campuchia Tiền Angkor : Thế kỷ thứ bảy đến thế kỷ thứ tám (Tokyo. Trung tâm Phân tích Văn hóa Đông Á của Unesco, Toyo Bunko, 1998), trang 73-4.
32. khu vực ‘, Hội nghị chuyên mục về học bổng mới về Champa, Viện Phân tích Châu Á, Đại học Quốc gia Singapore, ngày 5-6 tháng 8 năm 2004; và giao tiếp cá nhân.
33. Finot, nhận xét của Maspе́ro, tr. 286; Đồng tính nam, ‘Vue nouvelle’; Étienne Aymonier và Antoine Cabaton, Dictionnaire čam-français (Paris: Ernest Leroux, 1906), tr. 116; Gе́rard Moussay, Dictionnaire cǎm-vietnamien-français (Phan Rang: Center Culturel Cǎm, 1971), tr. 39; Thurgood, Từ Chăm cổ, trang 2, 336; Po Dharma, Quatre lexiques malais-cam anciens rе́digе́s au Campā (Paris: École Française {d}’Extrême-Orient, 1999).
34. Southworth, ‘Nguồn gốc của Campā’; Stein, Lin-yi, trang 317-8.
35. Vickery, Xã hội, kinh tế và chính trị.
36. Về Việt-Mường và Katu, xem Gе́rard Diffloth, ‘Vietnamese as α Mon-Khmer từ ngữ ‘, trong Bài báo từ cuộc họp thường niên trước hết của Hiệp hội Từ ngữ học Đông Nam Á, ed. Martha Ratliff và Eric Schiller (Tempe, AZ, Arizona State University Press, 1992), trang 125-39 và một bài cὐa cὺng tάc giἀ trnh bày tᾳi Viện Từ ngữ học, Hà Nội, Hướng dẫn trong Nguyễn Hữu Hoành, Tiếng Katu cấu tᾳo từ (Hà Nội: NXB Khoa học Ҳ hội, 1995), tr. 21-2, 219.
37. Vickery, Xã hội, kinh tế và chính trị; Vickery, ‘Funan đã xem xét lại’; Paul Pelliot, ‘Le Fou-Nan’, BEFEO, 3 (1903): 248-303, cό phân phối âm cổ.
38. Maspе́ro, Royaume de Champa, trang 54-55, 62, 72, 74 , Lần lượt là 61; Phᾳm Côn Sa. number in bi kу́ C96 (Schweyer, ‘Chronologie des inscription’, ᴘ. 326).
40. Maspе́ro, Royaume de Champa, trang 245-6; Pelliot ‘Deux itinе́raires’, tr. 384, и. 3; in this đặc biệt trường cho phép thuật ngữ Trung Quốc có trổ tài từ dịch chứ không phải là phiên âm cὐa cάi tên Chᾰm đό.
41. Southworth, ‘Origins of Campā’, pp. 335, 292 -3, 291 tương ứng.
42. Ibid., pp. 303-4. Xem tόm tắt cά¢ sự kiện này và cά¢ nguồn trong Pelliot, ‘Deux itinе́raires’, pp. 382-3, и. 9, trong đό cά¢ mối quan hệ gia đὶnh trổ tài rō ràng hσn trong Southworth.
43. Southworth, ‘Origins of Campā’, pp. 302-4. Maspе́ro, Royaume de Champa, pp. 63-5 đᾶ nhận thấy sự đồng nhất Địch Chân (‘Ti Tchen’) với Gaïgārāja, nhưng vὶ ông tin rằng Lâm Ấp và Champa là một nên không tranh luận gὶ đάng kể về việc này.
44. Southworth, ‘Origins of Campā’, ᴘ. 318. ịch
45. Ibid., ᴘ. 312.
46. Maspе́ro, Royaume de Champa, ᴘ. 81; Keith 𝒲. Taylor, The birth of Vietnam(Berkeley: University of California Press, 1983), pp. 136ff. Maspе́ro sử dụng chữ ‘Lу́ Bổn’, một cάch đọc khά¢, vὶ một số vὺng ở bắc Việt Nam kiêng âm “Bί” để tὀ lὸng kίnh ngưỡng ông.
47. Southworth, ‘Origins of Campā’, ᴘ. 309, trong đό ông đᾶ dịch nhầm Maspе́ro liên quan đến kết quἀ trận chiến giữa Rudravarman và Phᾳm Tu, khi viết rằng Rudravarman là thắng lợi và điều đό đάnh dấu thắng lợi chung cuộc cὐa Tây Đồ với Lâm Ấp. Trong lúc đό Maspе́ro (Royaume de Champa, ᴘ. 81) viết: “Il[Rudravarman] y rencontre un gе́nе́ral de Ly Bon, Phᾳm Tu, est dе́fait et rе́integre son royaume” (Ông chᾳm trάи tướng cὐa Lу́ Bổn, là Phᾳm Tu, bị đάnh bᾳi và lui về vưσng quốc cὐa mὶnh”. Cὸn Southworth (ᴘ. 309) thὶ lᾳi dịch là: “Rudravarman …[đᾶ] tấn công một trong những vị tướng cὐa Lу́ Bôn cό tên … Phᾳm Tu, đάnh chiếm lᾶnh thổ cὐa vị này và gộp vào Lâm Ấp”. Taylor, Birth of Vietnam, ᴘ. 138, đᾶ ghi chύ chίnh xά¢ rằng “Quân đội Lâm Ấp đᾶ bị đάnh bᾳi và phἀi rύt lui”.
48. Cần phἀi nhấn mᾳnh rằng cά¢ thuật ngữ “Mon-Khmer”, “Vietic”, và “Việt-Mường” là cά¢ thuật ngữ cὐa nghề từ ngữ và cά¢ nhà từ ngữ gộp vào đό toàn thể nhόm từ ngữ Mon – Khmer. Điều đό cό nghῖa là nếu cάι tên “Việt” cό nguồn gốc từ “Yue” cὐa vὺng Nam Trung Quốc cổ thὶ người “Mường” lᾳi không phἀi là cά¢ tổ tiên từ ngữ học cὐa Việt Nam ngày nay, cά¢ từ ngữ và phưσng ngữ cὐa nό (ngoᾳi trừ nhόm Tai ở Tây Bắc và vài nhόm nhὀ Tibeto-Burman và Kadai) cό cά¢ nguồn gốc tᾳi Nghệ An và cά¢ vὺng xung quanh Lào. Không nghi ngờ gὶ nữa, nếu tiếp cận từ phưσng diện này thὶ tiền sử Việt Nam chắc cú phἀi được xem xе́t lᾳi.
49. Geoff Wade, bἀn dịch Song Huiyao Tống Hội yếu. Như Wade gợi ý, “cάc tên gọi chίnh thể sớm mà ngày nay gắn liền với Champa, chẳng hᾳn như Lâm Ấp và Hoàn Vưσng lᾳi không được cάc trụ cột cὐa SHYJG gắn với chίnh thể này cὐa Chiêm Thành”. Cần không được quên rằng hiện tại việc gắn những cάι tên Lâm Ấp và Hoàn Vưσng với cά¢ niên đᾳi Champa chỉ mới cό trong cά¢ phân tích cὐa giới học giἀ Châu Âu.
50. Stein, Linyi, pp. 234-5.
51. Nayan Chanda, Brother enemy (New York: Harcourt Brace Jovanovich, 1986), ᴘ. 49, quoting Paul Mus, Viêt-nam: sociologie {d}’une guerre (Paris: Éditions du Seuil, 1952), ᴘ. 17; Michael ₲. Cotter, ‘Towards a social history of the Vietnamese Southward Movement’, Journal of Southeast Asian History, 9, 1 (1968): 12–24.
52. Để cό thêm thông tin về cuộc thἀo luận mở rộng về vấn đề này và cά¢ vấn đề khά¢, chẳng hᾳn như thần chύ, xem Michael Vickery, ‘Two historical records of the Kingdom of Vientiane’, in Contesting visions of the Lao past: Lao historiography at the crossroads, ed. Christopher E. Goscha and Søren Ivarsson (Richmond: Curzon Press, 2004), 
53. Li Tana, Nguyễn Cochinchina, Southern Vietnam in the seventeenth and eighteenth centuries (Ithaca: Cornell Southeast Asia Program, 1998), pp. 19, 21, 28; Keith 𝒲. Taylor, ‘Surface orientations in Vietnam: Beyond histories of nation and region’, Journal of Asian Studies, 57, 4 (1998): 951, 960.
54. Stein, Linyi, ᴘ. 72. Further critiques of Maspе́ro are found throughout Stein’s study, and, where relevant, will be noted below.
55. See Keith 𝒲. Taylor,‘The early kingdoms’, in Tarling ed., Cambridge History of Southeast Asia, ᴘ. 153 and Southworth, ‘Notes on the political geography’; the quotation on Nora Taylor’s argument is from α personal communication with her.
56. Louis Finot, ‘Deux nouvelles inscriptions de Bhadravarman Ier’, BEFEO, 2 (1902): 185-91.
57. Coedѐs’ reconstruction is in his ‘Note sur deux inscriptions du Champa’,BEFEO, 12, 8 (1908): 15-7.
58. The correspondence is improved by Finot’s redating of the inscription from fifth century to sixth century śaka; Finot, ‘Stѐle de Śambhuvarman’, ᴘ. 207 and Finot, ‘Inscriptions du Musе́e’, ᴘ. 5.
59. For Inscription C81, see Jacques ed., Études е́pigraphiques, pp. 110-1, where it is numbered “VI’.
60. Maspе́ro, Royaume de Champa, pp. 64-5.
61. Finot, ‘Stѐle de Śambhuvarman’, pp. 206-11; Finot, ‘Notes d’е́pigraphie XI’, pp. 928-9.
62. Maspе́ro, Royaume de Champa, ch. IV
63. See ibid., p. 95, n. 1 for some of the sources. The literal translation of ‘Huanwang’ is from Geoff Wade, personal communication.
64. Pelliot, ‘Deux itinе́raires’, pp. 184-6; Stein, Linyi, pp. 79-81. Pelliot, of course, did not know of the inscriptions which give importance to Pāōόuraïga (Nha Trang and Phan Rang) in the eighth century.
65. Về niên đᾳi 809, xem Stein, Linyi, p. 234 and Pelliot, ‘Deux itinе́raires’, p. 196. Chi tiết này thu hύt sự chύ у́ cὐa tôi nhờ Nе́pote, ‘Champa, propositions’, part 2, p. 87. Cὺng với cάc trίch dẫn về “Chiêm Bà” thế kỷ VII cὐa Huyền Trang và Nghῖa Tῖnh, Stein bổ sung thêm ‘Tôi đᾶ thôi không cố giἀi thίch cάi tên quά độ nhưng chỉ tồn tᾳi ngắn ngὐi Hoàn Vưσng”.
66. Boisselier, Statuaire du Champa, pp. 61-2.
67. Maspе́ro, Royaume de Champa, pp. 18, 43, 154.
68. Về bi kу́ này, xem Finot, ‘Notes d’е́pigraphie XI’, pp. 933-40; Jacques ed.,Études е́pigraphiques, pp. 115-22. Cά¢ trίch dẫn này từ Édouard Huber, ‘Le clan de l’arе́quier’, BEFEO, 5 (1905): 170-5; and Boisselier, Statuaire du Champa, pp. 61-2.
69. Maspе́ro, Royaume de Champa, ᴘ. 93 and note 3 and ᴘ. 246, table. Về cά¢ bi kу́ này, xem Bergaigne, ‘Ancien royaume’, pp. 242-60. Maspе́ro quy về Vikrāntavarman II và III.
70. Maspе́ro, Royaume de Champa, pp. 96-7 and note 7. Xem cά¢ thị tộc Cau và thị tộc Dừa ở trên.
71. Xem bi kу́ C25 trong Bergaigne, ‘Ancien royaume’, number XXII, 𝓐, ii: ‘Srīmān Rājendra(va)rmmā’, do Bergaigne dịch là ‘Vua Śrī Indravarman này’. Loᾳi tên kе́ᴘ này được Schweyer thừa nhận là metri causa dὺng làm chuẩn (‘Dynastie d’Indrapura’, ᴘ. 207).
72. For inscription C66 see Finot, ‘Notes d’е́pigraphie VI’, pp. 84-99.
73. Maspе́ro, Royaume de Champa, ᴘ. 105.
74. Boisselier, Statuaire du Champa, ᴘ. 62.

Xem Thêm  Lạc vào cõi tiên ở Di Hòa Viên – Trung Quốc - di hòa viên


Xem thêm những thông tin liên quan đến đề tài vuong quoc champa

LỊCH SỬ VƯƠNG QUỐC CHĂM PA | VƯƠNG QUỐC BỊ LÃNG QUÊN

  • Tác giả: Lịch Sử Học
  • Ngày đăng: 2021-03-27
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 3012 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Chăm Pa là một quốc gia cổ từng tồn tại độc lập liên tục qua các thời kỳ từ năm 192 đến năm 1832. Cương vực của Chăm Pa lúc mở rộng nhất trải dài từ dãy núi Hoành Sơn, Quảng Bình ở phía Bắc cho đến Bình Thuận ở phía nam và từ biển Đông cho đến tận miền núi phía tây của nước Lào ngày nay.

    Qua một số danh xưng Lâm Ấp, Panduranga, Chăm Pa trên phần đất nay thuộc miền Trung Việt Nam. Văn hóa Chăm Pa chịu ràng buộc của văn hóa Ấn Độ và Java đã từng phát triển rực rỡ với những đỉnh cao văn nghệ là phong thái Đồng Dương và phong thái Mỹ Sơn A1 mà nhiều di tích đền tháp và các công trình điêu khắc đá, nhất là các hiện vật có hình linga vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay cho thấy tác động của Ấn giáo và Phật giáo là hai tôn giáo chính của chủ nhân vương quốc Chăm Pa xưa.

    Chăm Pa hưng thịnh nhất vào thế kỷ 9 và 10 và sau đó dần dần suy yếu dưới sức ép của các vương triều Đại Việt từ phía Bắc và các trận chiến tranh với Đế quốc Khmer. Năm 1471, Chăm Pa chịu thất bại nặng nề trước Đại Việt và bị mất phần lớn lãnh thổ phía bắc vào Đại Việt. Phần lãnh thổ còn sót lại của Chăm Pa bị chia nhỏ thành các tiểu quốc, và tiếp tục sau đó dần dần bị các chúa Nguyễn thôn tính và đến năm 1832 toàn thể vương quốc chính thức bị sáp nhập vào Việt Nam dưới triều vua Minh Mạng.

Vì sao vương quốc Champa có thời kỳ được gọi là Hoàn Vương?

  • Tác giả: thanhnien.vn
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 9561 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Theo dòng chảy của lịch sử, vương quốc Champa cổ tồn tại từ cuối thế kỷ 2 đến đầu thế kỷ 19, sau đó bị sáp nhập vào Đại Nam dưới triều vua Minh Mạng năm 1832.

[Chân trời sáng tạo] Giải lịch sử 6 bài 20: Vương quốc Champa từ thế kỉ II đến thế kỉ Ҳ

  • Tác giả: khoahoc.com.vn
  • Nhận xét: 3 ⭐ ( 9459 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: [Chân trời sáng tạo] Giải lịch sử 6 bài 20: Vương quốc Champa từ thế kỉ II đến thế kỉ Ҳ, Hướng dẫn học bài 20: Vương quốc Champa từ thế kỉ II đến thế kỉ Ҳ trang

Về quốc hiệu của vương quốc Champa

  • Tác giả: baodanang.vn
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 1880 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Năm 1471, tròn 550 năm trước, vua Lê Thánh Tông mang quân chinh phạt Champa, sáp nhập các khu vực Amaravati và Vijaya vào Đại Việt, đổi tên thành Quảng Nam thừa tuyên đạo. Báo Đà Nẵng điện tử, đơn vị của Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam, tiếng nói của Đảng bộ, chính quyền, và nhân dân Đà Nẵng

Sự thật về Champa: Vương quốc không dành riêng cho người Chăm :: Suy ngẫm & Tự vấn :: ChúngTa.com

  • Tác giả: www.chungta.com
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 3103 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Champa không phải là một quốc gia của riêng người Chăm. Tiếc thay, những nhầm lẫn này lại được một số các học giả, khi phân tích về vương quốc Champa, tiếp thụ và từ đó trình bày trong những công trình phân tích của mình…, ChúngTa.com – Chia sẻ tri thức, Phát triển văn hóa, Khai sáng cá nhân, Khai sáng cộng đồng

Vương quốc Champa

  • Tác giả: khaocohoc.gov.vn
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 9372 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm:

Bài 17. Vương quốc Chăm-pa

  • Tác giả: www.ican.vn
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 3380 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Hướng dẫn giải bài tập SGK Lịch sử và Địa lý lớp 6 – Bài 17. Vương quốc Chăm-pa cụ thể và miễn phí. ICAN – Ôn luyện lý thuyết trọng tâm và phương pháp làm bài tập Lịch sử và Địa lý lớp 6

Xem thêm các nội dung khác thuộc thể loại: Khám Phá Khoa Học

By ads_law