Luận văn Quan hệ của đại việt với chân lạp trước thế kỷ XX – Hoạt động ngoại giao có vai trò và vịtrí rất trọng yếu so với mỗi quốc gia.
Các quốc …

Bạn đang xem: nước chân lạp

Hoạt động ngoại giao có vai trò và vịtrí rất trọng yếu so với mỗi quốc gia.
Các quốc gia trên thếgiới không thểtồn tại và phát triển cô lập. Trong xu thếtoàn
cầu hóa hiện tại, việc mởrộng quan hệ đối ngoại, thiết lập mối quan hệ đa phương
đang trởthành một trong những điều kiện phát triển của các quốc gia.
Trong lịch sử, Việt Nam đã thiết lập quan hệvới nhiều quốc gia trong khu vực
và thếgiới trên nhiều ngành nghề. Các mối quan hệnày đều có vai trò nhất định trong
tiến trình xây dựng, bảo vệvà phát triển quốc gia, tùy vào mối quan hệvới từng
quốc gia, trong những thời kì lịch sửcụthể. Vào thời kì phong kiến, trong điều kiện
cách trởvề địa lý, thông tin liên lạc cũng nhưgiao thông chưa phát triển, quan hệ
với các nước láng giềng rất được coi trọng. Mối quan hệvới Chân Lạp đến trước
thếkỉXX, nhất là thời kỳ thếkỉXVII – XIX được các chúa Nguyễn và vua
Nguyễn lưu tâm.
Chân Lạp xưa – Campuchia nay – và Đại Việt xưa – Việt Nam nay là hai quốc
gia láng giềng, có chung đường biên giới và cùng nằm trên bán đảo Đông Dương.
Ngay từrất sớm, Đại Việt và Chân Lạp đã có quan hệvới nhau trên nhiều ngành nghề.
Thời điểmbang giao chính thức giữa hoàng tộc Chân Lạp và Đại Việt là vào đầu
thếkỉXVII dưới triều vua Chey Chettha II (1618 – 1628), chấm hết vào năm 1897
khi người Pháp chính thức đặt nền bảo hộvà khởi đầu khai thác thuộc địa tại đây
[50, tr.315].

216 trang

|

Chia sẻ: vietpd

| View: 1675

| Lượt tải: 20

Bạn đang xem nội dung tài liệu Luận văn Quan hệ của đại việt với chân lạp trước thế kỷ XX, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
————————-
LÊ THỊ MỸ TRINH
QUAN HỆ CỦA ĐẠI VIỆT
VỚI CHÂN LẠP
TRƯỚC THẾ KỈ XX
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Tp Hồ Chí Minh – 2009
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
————————-
LÊ THỊ MỸ TRINH
QUAN HỆ CỦA ĐẠI VIỆT
VỚI CHÂN LẠP
TRƯỚC THẾ KỈ XX
Chuyên nghề: LỊCH SỬ VIỆT NAM
Mã số: 60 22 54
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. TRẦN THỊ THANH THANH
Tp Hồ Chí Minh – 2009
MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Hoạt động ngoại giao có vai trò và vị trí rất trọng yếu so với mỗi quốc gia.
Các quốc gia trên toàn cầu không thể tồn tại và phát triển cô lập. Trong xu thế toàn
cầu hóa hiện tại, việc mở rộng quan hệ đối ngoại, thiết lập mối quan hệ đa phương
đang trở thành một trong những điều kiện phát triển của các quốc gia.
Trong lịch sử, Việt Nam đã thiết lập quan hệ với nhiều quốc gia trong khu vực
và toàn cầu trên nhiều ngành nghề. Các mối quan hệ này đều có vai trò nhất định trong
tiến trình xây dựng, bảo vệ và phát triển quốc gia, tùy vào mối quan hệ với từng
quốc gia, trong những thời kì lịch sử rõ ràng và cụ thể. Vào thời kì phong kiến, trong điều kiện
cách trở về địa lý, thông tin liên lạc cũng như giao thông chưa phát triển, quan hệ
với các nước láng giềng rất được coi trọng. Mối quan hệ với Chân Lạp đến trước
thế kỉ XX, nhất là thời kỳ thế kỉ XVII – XIX được các chúa Nguyễn và vua
Nguyễn lưu tâm.
Chân Lạp xưa – Campuchia nay – và Đại Việt xưa – Việt Nam nay là hai quốc
gia láng giềng, có chung đường biên giới và cùng nằm trên bán đảo Đông Dương.
Ngay từ rất sớm, Đại Việt và Chân Lạp đã có quan hệ với nhau trên nhiều ngành nghề.
Thời điểm bang giao chính thức giữa hoàng tộc Chân Lạp và Đại Việt là vào đầu
thế kỉ XVII dưới triều vua Chey Chettha II (1618 – 1628), chấm hết vào năm 1897
khi người Pháp chính thức đặt nền bảo lãnh và khởi đầu khai thác thuộc địa tại đây
[50, tr.315].
Đề tài Quan hệ của Đại Việt với Chân Lạp trước thế kỉ XX được phân tích
nhằm mục đích góp phần hệ thống hóa một cách đầy đủ các sự kiện lịch sử để dựng
nên bức tranh sinh động, trung thực về quan hệ của Đại Việt với Chân Lạp đến
trước thế kỉ XX, phân phối một cách nhìn toàn diện về quan hệ của hai nước; dựng
lại rõ quá trình mở cõi về phía Nam của người Việt nói chung và chính quyền
phong kiến nói riêng; nhìn nhận lại mối quan hệ Đại Việt – Chân Lạp – Xiêm; đồng
thời qua đó thấy được vai trò và vị trí của Đại Việt trong thời kỳ này trên chính
trường khu vực. Việc phân tích còn góp phần bổ sung nguồn tài liệu cho việc
nhận thức về lịch sử Việt Nam thời Trung đại.
Sang thế kỉ XXI, tình hình toàn cầu và khu vực có nhiều biến động. Xu thế
ngoại giao đa phương trở nên năng động và tích cực. Việt Nam đang bước vào thời
kì tăng cường hội nhập quốc tế, thực hiện đường lối ngoại giao đa phương, đa
dạng; lưu tâm tăng cường mối quan hệ với các nước láng giềng. Vì vậy, việc
phân tích lịch sử ngoại giao nói chung và lịch sử quan hệ Đại Việt – Chân Lạp nói
riêng có ý nghĩa khoa học, thực tiễn và thời sự sâu sắc. Phân tích sự kiện lịch sử
để hiểu đúng bản chất là rất thiết yếu và nhất là những sự kiện quá khứ có liên quan
đến quan hệ hiện tại. Những bài học của mối quan hệ ngoại giao trong lịch sử có
thể góp phần nhận thức và khắc phục mối quan hệ hiện tại về mặt chủ quyền lãnh
thổ, về đường biên giới giữa Việt Nam – Campuchia và việc hoạch định đường lối
ngoại giao cho ngày nay.
Việc phân tích đề tài này cũng góp phần giúp người viết thu thập tư liệu,
phục vụ việc giảng dạy ở trường Trung học phổ thông và mở rộng phạm vi nghiên
cứu về sau.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Mục đích của việc phân tích là tìm hiểu quan hệ của Đại Việt với Chân Lạp
trong lịch sử trên toàn bộ các ngành nghề: chính trị, kinh tế, văn hóa; làm rõ cục diện,
diễn tiến, tình hình và đặc tính, những bài học lịch sử của mối quan hệ đó.
3. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Quan hệ của Đại Việt với Chân Lạp là một trong những mối quan hệ được
chính quyền phong kiến Đại Việt xem trọng, đặc biệt trong thời kỳ từ thế kỉ XVII
đến thế kỉ XIX. Nhìn chung, này là mối quan hệ bang giao hòa hiếu, thân thiện, diễn
ra trên nhiều ngành nghề và có tính liên tục.
Mối quan hệ giữa hai nước đã được ghi lại trong nhiều bộ sử, qua các thời kì
khác nhau. Này là những tư liệu cổ, có thể phân phối cho tất cả chúng ta những sự kiện chủ
yếu trong quan hệ giữa hai nước.
Trước nhất là bộ Đại Việt sử lược, một công trình khuyết danh được hoàn thiện
vào những năm 1377 – 1388. Bộ sách được ghi chép dưới dạng biên niên, gồm ba
quyển: quyển một ghi chép lịch sử từ thời thượng cổ đến hết Tiền Lê (1009), quyển
hai ghi chép từ thời Lý Thái Tổ (1010) đến Lý Nhân Tông (1127), quyển ba ghi
chép từ thời Lý Thần Tông (1128) đến Lý Huệ Tông (1124). Dù chỉ là một bộ sách
nhỏ, song có nhiều cụ thể giúp ích cho việc phân tích lịch sử nước nhà, nhất là
về buổi đầu thời kì tự chủ. Bên cạnh việc ghi chép lại các sự kiện một cách vắn tắt,
tác phẩm còn tồn tại những phần đối chiếu với các tài liệu thư tịch cổ khác, làm tăng
tính chuẩn xác của sử liệu. Nội dung ghi chép rất phong phú, bao gồm: những việc làm
của vua; việc thiết kế thành quách, điện các, chùa tháp; việc bang giao với phong
kiến Trung Hoa; việc bang giao với Champa, Chân Lạp… Phân tích tác phẩm,
người đọc có thể hiểu diện mạo kinh tế – xã hội cũng như vậy thứ các đời vua, quan
hệ bang giao của nước ta với các quốc gia trong khu vực thời kỳ trước triều Trần.
Cũng ghi chép các sự kiện của lịch sử Việt Nam theo dạng biên niên, bộ Đại
Việt sử kí toàn thư do Ngô Sĩ Liên biên soạn dựa trên tác phẩm Đại Việt sử kí của
Lê Văn Hưu và tác phẩm Sử kí tục biên của Phan Phu Tiên. Năm 1665, Phạm công
Trứ chỉnh lý trước tác của Ngô Sĩ Liên và viết thêm phần Bản kỷ tục biên. Năm
1697, các quan Lê Hy, Nguyễn Quý Đức viết thêm và hiệu đính phần Bản kỷ tục
biên, tập hợp toàn thể các trước tác nói trên gọi là Đại Việt sử kí toàn thư. Tác phẩm
ghi chép các sự kiện lịch sử của dân tộc từ thời Hồng Bàng cho đến hết đời Lê Thái
Tổ. Trong tác phẩm, có một số ghi chép về mối bang giao của Đại Việt với các
quốc gia trong khu vực, trong đó có mối quan hệ với Chân Lạp trên nhiều ngành nghề.
Bộ Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn gồm 6 quyển, được viết vào năm 1776,
lúc ông đang giữ chức Tham tán quân cơ ở Thuận Quảng. Bộ sách ghi chép về hai
đạo Thuận Hóa và Quảng Nam trên nhiều mặt từ khung cảnh môi trường, địa lý hành
chính, sản vật, phong tục đến lệ thuế má, nhân vật… Bộ sách ngoài phần điểm lại
quá trình dựng nghiệp của Nguyễn Hoàng ở Thuận Hóa và đối đầu với họ Trịnh ở
Đàng Ngoài, có phần ghi chép về tiến trình mở đất về phía Nam của triều đình
phong kiến Đàng Trong. Tác phẩm được xem là một bộ địa lý – lịch sử phong phú
về hai xứ Thuận – Quảng thế kỉ XVI – XVIII.
Bộ Đại Nam thực lục của Quốc sử quán triều Nguyễn được vua Minh Mạng
cho tiến hành biên soạn vào năm 1821, gồm hai phần: Đại Nam thực lục tiền biên
ghi chép thời kỳ lịch sử từ khi Nguyễn Hoàng vào Nam (1558) đến đời chúa
Nguyễn Phúc Thuần (1777); Đại Nam thực lục chính biên ghi chép thời kỳ từ khi
Nguyễn Ánh bôn ba tìm cách khôi phục quyền lực dòng tộc (1777) đến khi vua
Đồng Khánh mất (1889). Bộ sách là một tập hợp các ghi chép dưới dạng biên niên
về những sự việc rõ ràng và cụ thể, những lời nói, việc làm của vua, lời tâu trình của quần
thần, việc nội trị, ngoại giao; trong đó có quan hệ bang giao của Việt Nam với
Chân Lạp.
Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ là tác phẩm do Nội các triều Nguyễn biên
soạn. Đây là loại sách điển lệ, được biên soạn từ năm 1843 dưới thời vua Thiệu Trị
và hoàn thiện vào năm 1851 dưới thời vua Tự Đức. Nội dung ghi chép tương đối
đầy đủ các chiếu chỉ, phiến dụ của triều Nguyễn và các việc đã đem ra thi hành, các
tấu sớ ở các bộ, các nha từ năm Gia Long thứ nhất (1802) đến năm Tự Đức thứ tư
(1852). Bộ sách gồm 262 quyển, chia thành 6 phần tương ứng với 6 nghề của
công việc quốc gia, do 6 bộ phụ trách. Phần bộ Lễ ghi chép về việc bang giao gồm
các mục: triều cận, quán xá, tuất điển, cứu vớt, cấm ước, phiên dịch, ban cho các
nước phụ thuộc và ban cho thuộc Man, có nhiều tư liệu liên quan đến quyết sách của
triều Nguyễn so với Chân Lạp.
Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ là một kho tư liệu về các chủ trương nội
trị, quyết sách ngoại giao của triều Nguyễn so với các nước, trong đó có Chân
Lạp.
Đại Nam liệt truyện do Quốc sử quán biên soạn năm 1841, hoàn thiện vào
năm 1895 và được khắc in vào 1909. Nội dung đa phần là ghi chép về hàng trăm
nhân vật lịch sử được chia thành các mục: Hậu phi, hoàng tử, công chúa, chư
thần… Bên cạnh việc ghi chép về các nhân vật lịch sử, tập 2 của Đại Nam liệt
truyện còn ghi chép về quan hệ của triều Nguyễn với các nước, trong đó có Chân
Lạp.
Tập hợp các nguồn tư liệu cổ khác nhau về mối quan hệ giữa Đại Việt với các
nước trong khu vực, công trình Thư tịch cổ Việt Nam về Đông Nam Á do tác giả
Nguyễn Lệ Thi biên soạn là một nguồn tư liệu phong phú. Đây là công trình tập
hợp các sự kiện chính trong quan hệ giữa Việt Nam và các nước Đông Nam Á
được ghi chép trong các thư tịch cổ như Phủ biên tạp lục, Đại Nam thực lục, Đại
Nam liệt truyện, Đại Việt sử kí toàn thư, Việt sử thông giám cương mục… Nội
dung tư liệu bao quát trên toàn bộ các mặt trong quan hệ giữa Việt Nam với các nước
Đông Nam Á về kinh tế, chính trị, ngoại giao, văn hóa…
Quan hệ của Đại Việt với Chân Lạp đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên
cứu, được trình bày đa phần trong tiến trình của lịch sử Việt Nam hoặc lịch sử các
nước Đông Nam Á. Cho đến nay, một công trình phân tích mang tính chất
nâng cao và có hệ thống về nhiều ngành nghề trong mối quan hệ đó vẫn là rất cần
thiết.
Trước hết, phân tích về bang giao của Đại Việt qua các thời kì có bộ Bang
giao Đại Việt của tác giả Nguyễn Thế Long. Bộ sách gồm 5 tập, tương ứngvới các
thời kì lịch sử như Ngô – Đinh – Tiền Lê – Lý, Trần – Hồ, Lê – Mạc – Lê Trung
Hưng, Tây Sơn, Nguyễn. Quan hệ bang giao giữa Đại Việt với các nước trong khu
vực đã được trình bày cụ thể trong tác phẩm. Trong tập 4 của bộ sách, tác giả trình
bày về bang giao giữa Đại Việt với các nước Tây, Nam và Hải đảo, trong đó có
phần Chân Lạp. Trong mối quan hệ bang giao giữa Đại Việt với Chân Lạp, tác giả
viết về lịch sử vương quốc Chân Lạp, những mẩu chuyện bang giao giữa hai nước,
các thủ tục trong bang giao như lệ triều cống, tiếp đón các sứ bộ… Tác giả chia quá
trình bang giao giữa hai nước làm ba thời kỳ là Lý – Trần – Lê (thế kỉ XI – XVI),
chúa Nguyễn – Tây Sơn, triều Nguyễn. Đây là tác phẩm chứa nhiều sự kiện tiêu
biểu trong quan hệ của Đại Việt với các nước. Tuy nhiên, tư liệu về quan hệ giữa
Đại Việt với Chân Lạp còn rất ít.
Tác giả Đinh Thị Dung phân tích về quan hệ ngoại giao dưới triều Nguyễn
trong Luận án Tiến sĩ Quan hệ ngoại giao của triều Nguyễn nửa đầu thế kỉ XIX.
Tác giả đã đề cập đến quan hệ của triều Nguyễn với nhiều quốc gia như Trung
Quốc, Chân Lạp, Xiêm La, Vạn Tượng. Tác giả đã mang ra những nhận định riêng
và tổng quan về những nỗ lực các vua triều Nguyễn trong quan hệ ngoại giao với
các nước, trong đó có Chân Lạp. Tuy nhiên, phần phân tích về ngoại giao giữa
triều Nguyễn với Chân Lạp còn sơ lược, chưa đi sâu vào từng ngành nghề trong mối
quan hệ đó.
Cuốn Lịch sử Đông Nam Á của 𝓓.₲.E. Hall là tác phẩm phân tích nhiều vấn
đề về lịch sử các nước Đông Nam Á, dựng nên bức tranh sinh động về lịch sử hình
thành, phát triển, suy vong của các quốc gia trong khu vực; đồng thời làm rõ mối
quan hệ giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các nước. Quyển sách chia thành 4 phần theo
tiến trình lịch sử, trong đó có một số nội dung liên quan đến vấn đề phân tích của
luận văn này như:
– Chương thứ 5 của phần Ι phân tích về người Khơme và thời kì Angkor đến
năm 1594, chương thứ 9 phân tích về Việt Nam.
– Chương thứ 24 và 25 của phần II phân tích về Việt Nam và Campuchia,
rõ ràng và cụ thể:
+ Chương 24 phân tích về Việt Nam – Đàng Trong và Đàng Ngoài, (1620 –
1820), gồm các vấn đề như Trịnh – Nguyễn phân tranh (1620 – 1777), sự thiết lập
đế chế nhà Nguyễn (1777 – 1820).
+ Chương 25 phân tích về Chân Lạp với các vấn đề nội trị và ngoại giao như
tình hình Chân Lạp từ thế kỉ XVII đến thế kỉ XIX, cuộc xâm lược của Xiêm, chính
sách đối ngoại của Chân Lạp, tình hình nội chiến tranh giành quyền lực ở Chân
Lạp…
Cũng phân tích về lịch sử các nước Đông Nam Á, tác phẩm Lược sử Đông
Nam Á do Phan Ngọc Liên chủ biên phân phối những tư liệu mang tính tổng quan về
lịch sử các nước trong đó có Đại Việt và Chân Lạp từ lúc mới thành lập đến thời
hiện đại.
Trong cuốn Việt Nam sử lược, tác giả Trần Trọng Kim phân tích về lịch sử
Việt Nam từ thời thượng cổ đến khi Pháp xâm lược và thống trị nước ta; trong đó có
phân tích sơ lược về quan hệ Việt Nam – Cao Miên. Tác phẩm này được viết theo
lối biên niên, ghi nhận lại các sự kiện lịch sử.
Phân tích về quá trình mở rộng lãnh thổ về phía Nam, tác giả Phan Khoang
có cuốn Việt sử xứ Đàng Trong. Tác phẩm là một bản “lược đồ” vẽ lại đường đi
của tiền nhân ta khoảng 400 năm trước trong tiến trình khẩn hoang lập ấp ở miền
đất mới. Quá trình xác lập chủ quyền ở vùng đất Nam Bộ, trong đó có vấn đề bang
giao với Chân Lạp được trình bày khá cụ thể trong công trình này.
Cùng nội dung phân tích với cuốn Việt sử xứ Đàng Trong là công trình Góp
phần tìm hiểu vùng đất Nam Bộ trong các thế kỉ XVII, XVIII, XIX của tác giả
Huỳnh Lứa. Tác phẩm phân phối cho người phân tích nhiều tư liệu về tiến trình
chuyển cư, quá trình khai phá của di dân người Việt tại vùng đất Nam Bộ, cơ cấu
sở hữu ruộng đất, tình hình sản xuất nông nghiệp, các nghề nghề thủ công, sự hình
thành làng xã và vai trò của thôn ấp trong tiến trình khai phá… Công trình
phân tích đã góp phần dựng lại bức tranh Nam Bộ trong các thế kỉ từ XVII đến
XIX trên toàn bộ các mặt của đời sống.
Nam Bộ đất và người gồm 6 tập của Hội khoa học Lịch sử Tp Hồ Chí
Minh tập hợp nhiều nội dung của nhiều nhà phân tích nổi tiếng. Công trình đa phần
phân tích về tiến trình khẩn hoang vùng đất Nam Bộ, phân tích về các phong
tục tập quán, đời sống vật chất và trí não của các cộng đồng dân cư sống tại đây.
Tác phẩm phác thảo một cách toàn diện về vùng đất và loài người Nam Bộ.
Quyển Người Việt gốc Miên của Lê Hương được viết năm 1969 có nội dung
đề cập đến nhiều vấn đề của người Miên đang sống ở Nam Bộ: nguồn gốc, dân số,
sinh hoạt, phong tục tập quán, tôn giáo, văn hóa – xã hội, kinh tế. Tác phẩm mô tả
khá sinh động về sinh hoạt kinh tế – văn hóa – xã hội của cộng đồng người Khơme;
qua đó, tất cả chúng ta có thể thấy quá trình dung hợp, tiếp biến văn hóa của hai cộng
đồng dân cư Việt – Miên trên vùng đất Nam Bộ.
Kỷ yếu hội thảo Nam Bộ và Nam Trung Bộ – Những vấn đề lịch sử thế kỉ XVII
– XIX của trường Đại học sư phạm TP. HồChí Minh tập trung nhiều bài phân tích
của các tác giả về vùng đất Nam Bộ và Nam Trung Bộ từ thế kỉ XVII – XIX. Nhiều
bài phân tích liên quan đến đề tài như Quan hệ Việt Nam – Chân Lạp thế kỉ XVII –
XIX, Vấn đề mở rộng lãnh thổ về phía Nam của người Việt, Mối quan hệ tay ba
giữa Việt Nam – Chân Lạp – Xiêm… Qua toàn thể kỉ yếu, người đọc có thể tổng quan
được nhiều vấn đề liên quan đến mối quan hệ của Đại Việt với Chân Lạp trước thế
kỉ XX.
Ngoài ra, các nội dung trong các kỷ yếu hội thảo khoa học như: Hội thảo Nam
Bộ và Nam Trung Bộ những vấn đề lịch sử thế kỉ XVII – XIX, phân tích khoa học
Lịch sử tạo dựng và phát triển vùng đất Nam Bộ, Hội thảo chúa Nguyễn và vương
triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XIX, Hội thảo Vùng
đất Nam Bộ thời kì cận đại… các tạp chí chuyên nghề như Tạp chí Phân tích
Lịch sử, Tạp chí Phân tích Kinh tế, Tạp chí Phân tích Đông Nam Á, Văn hóa
Tập san… cũng là nguồn tư liệu đã đề cập trong nhiều mức độ về vấn đề mà luận
văn phân tích.
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đề tài không đi sâu phân tích về lịch sử của hai quốc gia Đại Việt và Chân
Lạp mà chỉ tập trung tìm hiểu quá trình phát sinh, phát triển và kết thúc mối quan
hệ của Đại Việt với Chân Lạp trước thế kỉ XX. Nguyên nhân, điều kiện lịch sử, tính
chất của quá trình quan hệ này chịu sự chi phối, thúc đẩy của nhiều yếu tố: cục diện
lịch sử khu vực, quá trình lập quốc và phát triển của mỗi nước; nhất là Đại Việt.
Tiến trình mối quan hệ của Đại Việt với Chân Lạp được phân tích đa phần
trên các ngành nghề chính trị, quân sự, ngoại giao cũng như hệ quả thúc đẩy của nó
đến các ngành nghề kinh tế, văn hóa, xã hội.
Sau thời điểm thoát khỏi ách đô hộ của phong kiến phương Bắc, mở ra kỉ nguyên
độc lập dân tộc, với lòng yêu nước nồng nàn và ý thức dân tộc mạnh mẽ, các vị vua
các vương triều Đại Việt đã đặt quốc hiệu mới. Đinh Bộ Lĩnh là vị vua trước hết đặt
quốc hiệu mới cho nước nhà với tên Đại Cồ Việt. Tháng 10 năm 1054, Lý Thánh
Tông lên ngôi, đổi quốc hiệu Đại Cồ Việt thành Đại Việt, với ý nghĩa là đứng
ngang hàng với nhà Tống ở phương Bắc. Tháng 2 năm 1400, sau khoảng thời gian cướp ngôi nhà
Trần, Hồ Quý Ly lập ra nhà Hồ và đặt quốc hiệu mới là Đại Ngu. Từ năm 1407 đến
năm 1427, nước ta nằm dưới ách đô hộ của giặc Minh nên không có quốc hiệu.
Tháng 2 năm 1428, sau khoảng thời gian quét sạch bóng quân thù, giải phóng dân tộc, Lê Lợi lên
ngôi hoàng đế và khôi phục quốc hiệu Đại Việt. Trên danh nghĩa chính thống, quốc
hiệu này được dùng đến đầu thế kỉ XIX, rõ ràng và cụ thể là năm 1804 mới được thay bằng
quốc hiệu Việt Nam.
Như vậy, Đại Việt là quốc hiệu của quốc gia. Này là kết quả quá trình lập quốc,
phát triển quốc gia ngày càng vững mạnh của quốc gia Đại Việt sau khoảng thời gian thoát khỏi
thời kỳ ngàn năm Bắc thuộc.
Tên gọi Chân Lạp (Chenla) xuất hiện lần đầu trong các thư tịch cổ Trung Hoa
vào khoảng cuối thế kỉ 𝒱 đầu thế kỉ VI. Đây là khoảng thời gian Chân Lạp lập quốc
và từng bước thoát khỏi sự phụ thuộc của Phù Nam. Tên gọi này được dùng cho đến
năm 1807. Năm 1807, dưới triều vua Gia Long ở Đại Việt, vua Chân Lạp là Nặc
Chăn đã xin đổi quốc hiệu từ “Chân Lạp” thành “Cao Miên”. Tên gọi này được sử
dụng đến thời Pháp thuộc. Tên gọi Campuchia khởi đầu sử dụng từ thời Pháp, được
đặt theo tên của nhân vật trong truyền thuyết “Kambu – Mera”1 của người Chân
Lạp. Như vậy, theo lịch sử, tên gọi Chân Lạp được sử dụng lâu nhất trong suốt quá
trình tạo dựng và phát triển của Chân Lạp.
Như vậy, đề tài phân tích quan hệ Đại Việt với Chân Lạp trước thế kỉ XX
được xét trong xuyên suốt quá trình lịch sử lâu dài. Đây là khoảng thời gian quốc
1 Đây là truyền thuyết Khơme được ghi lại trên một văn khắc vào thế kỉ Ҳ, mô tả nguồn gốc hoàng tộc. Này là
cuộc hôn phối giữa tu sĩ tên Kambu Svayambhuva và nữ thần tên Mera, do thần Siva ban cho ông.
hiệu hai nước có sự thay đổi. Trong số đó, Đại Việt là nước cũ của Việt Nam ngày
nay. Chân Lạp là nước cũ của Campuchia ngày nay. Cả hai quốc hiệu Đại Việt và
Chân Lạp đều là những quốc hiệu được dùng dài nhất và thông dụng nhất trong thư
tịch của cả hai quốc gia. Đề tài sử dụng hai thuật ngữ Đại Việt và Chân Lạp không
đơn thuần chỉ mang tính chất quốc hiệu mà nó còn chỉ bộ máy nhà nước, trí não
truyền thống văn hóa của hai cộng đồng dân tộc.
Không những thế, luận văn cũng đề cập đến hai cộng đồng Việt và Khơme. Hai
khái niệm này không đơn thuần được dùng để chỉ hai tộc người mà mang ý nghĩa
bao quát hơn. Này là cộng đồng dân cư sinh sống trên một lãnh thổ nhất định, có
cùng vận mệnh lịch sử trong quá trình dựng nước và giữ nước. Cộng đồng dân cư
này được xem là một thực thể xã hội mà tên Đại Việt hay Chân Lạp được chọn làm
đại diện để chỉ thực thể đó. Đó chính là hai quốc tộc Việt và Khơme trong thời kì
phong kiến.
Cộng đồng dân cư Việt bao gồm các tộc người khác nhau, cùng sinh sống trên
lãnh thổ Đại Việt; trong đó, tộc người Việt là chủ thể.
Cộng đồng dân cư Khơme bao gồm các tộc người sinh sống trênlãnh thổ
Chân Lạp; trong

Xem Thêm  Đặng Tiểu Bình một trí tuệ siêu Việt - đặng tiểu bình 1 trí tuệ siêu việt


Xem thêm những thông tin liên quan đến đề tài nước chân lạp

Tóm tắt lịch sử quốc gia Campuchia – Đế chế Khmer – Dã Sử Truyện

  • Tác giả: Dã Sử
  • Ngày đăng: 2020-05-25
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 3920 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Chào mừng mọi người đã quay trở lại với Dã Sử Truyện.
    Ngày ngày hôm nay tất cả chúng ta sẽ cùng tìm hiểu lịch sử tạo dựng quốc gia Campuchia hiện đại – Đế chế Khmer – Một khúc ca bi tráng.
    Series lịch sử các quốc gia Đông Nam Á: https://www.youtube.com/playlist?list=PLzk2Q9O5QNlqCoOWlAIXk8E_cb6rirBNM
    Nội dung trên Blog: https://bloglachong.com/tom-tat-lich-su-hinh-thanh-dat-nuoc-campuchia-khuc-ca-bi-trang-da-su/
    Fanpage: https://www.facebook.com/lachongblog
    Liên hệ: bloglachong@gmail.com
    —————————————————————————————————————
    Khởi đầu lịch sử trên vùng đất này là sự tồn tại của vương quốc Phù Nam.
    Vương quốc này được tất cả chúng ta biết tới thông qua những thư tịch Trung Quốc cổ xưa. Qua Lương thư của triều nhà Lương chép “Nước Phù Nam ở phía Nam quận Nhật Nam, trong một vịnh lớn ở Tây biển. Nước cách Nhật Nam chừng 7000 lý và cách Lâm Ấp hơn 3000 lý vê phía Tây Nam.
    Đô thành cách biển 500 lý. Có một con sông lớn từ Tây Bắc chảy về Đông và đổ ra biển.
    Nước rộng hơn 3000 lý. Đất thấp và bằng phẳng.Khí hậu và phong tục giống Lâm Ấp”
    Vê bản chất Phù Nam là tập hợp của hàng loạt các tiểu quốc nhỏ, có quan hệ mật thiết với nhau. Vương quốc trung tâm Phủ Nam nằm ở địa vị tôn chủ mà các tiểu quốc kia phải cống nạp, thần phục.
    Phù Nam tồn tại được 5 thế kỷ, đến thế kỷ thứ 6 thì theo thư tịch Trung Quốc, Phù Nam bị một nước khác ở phía Bắc hạ gục.
    Nước đã hạ gục Phù Nam chính là Chân Lạp. Thực chất Chân Lạp là một tiểu quốc chư hầu của Phù Nam. Địa phận Chân Lạp nằm ở Sae Mun Thái Lan đến Champasack Lào. Quốc gia này do vua Bhavavarman sáng lập, nên tục gọi là nước Bhavapura, Chân Lạp.
    Trong thời gian trị vì Chân Lạp, vua Bhavavarman đã chấm hết sự phụ thuộc vào Phù Nam và đến thời con trai ông, Chân Lạp đã tấn công Phù Nam.
    Sau thời điểm thắng cuộc Phù Nam, người Chân Lạp đã ồ oạt di cư xuống phía Nam, chiếm cứ các vùng lãnh thổ màu mỡ.Và những người Chân Lạp ấy chính là dân tộc Khmer.
    —————————————————————————————————————————————-
    Thêm cụ thể
    00:00 Giới thiệu quốc gia Campuchia
    00:26 Vương quốc Phù Nam
    01:59 Vương quốc Chân Lạp
    05:08 Vương quốc Khmer
    11:39 Cao Miên thuộc quốc
    13:46 Campuchia trong thế kỷ 20
    18:07 Cảm ơn mọi người đã đón xem Video
    ———————————————————————————————————————————————-
    Campuchia ĐôngNamÁ DãSửTruyện
Xem Thêm  Lý thuyết trò chơi - trò chơi giải toán

Chủ quyền Việt Nam trên vùng Nam Bộ, Kỳ 2: Chân Lạp – chủ nhân sau của Nhà nước Phù Nam

  • Tác giả: tuyengiao.travinh.gov.vn
  • Nhận xét: 3 ⭐ ( 4205 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Chủ quyền Việt Nam trên vùng Nam Bộ, Kỳ 2: Chân Lạp – chủ nhân sau của Nhà nước Phù Nam

Chân Lạp – Là gì Wiki

  • Tác giả: wiki.edu.vn
  • Nhận xét: 5 ⭐ ( 7137 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm:

Công nữ Ngọc Vạn và mối liên hôn trở thành Vương hậu xứ Chân Lạp

  • Tác giả: www.yan.vn
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 2746 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Trong sử sách được ghi chép lại, nàng Công nữ Ngọc Vạn rất nổi tiếng với cuộc hôn phối cùng vua xứ Chân Lạp, trở thành Vương Hậu được tôn quý và có công trong việc mở mang lãnh thổ Đại Việt – Đàng Trong ngày ấy.

Chân Lạp – Là gì Wiki

  • Tác giả: cdspvinhlong.edu.vn
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 4300 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm:

Chân Lạp phong thổ ký

  • Tác giả: khaocohoc.gov.vn
  • Nhận xét: 5 ⭐ ( 7254 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm:

Chân Lạp phong thổ ký

  • Tác giả: lib.hpu.edu.vn
  • Nhận xét: 5 ⭐ ( 5847 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm:

Xem thêm các nội dung khác thuộc thể loại: Khám Phá Khoa Học

By ads_law