Luận Văn: Thiên Nhiên Trong Thơ Trung Đại Việt Nam Thời Trung Đại

0
29

(travelerknow.com) – Hình mẫu văn nghệ là các khách thể đời sống được nghệ sĩ tái hiện bằng tưởng tượng ý tưởng trong những tác phẩm văn nghệ. Giá trị trực quan độc lập là dấu hiệu trọng yếu của hình mẫu văn nghệ. Bằng vật liệu chi tiết, nó làm cho người ta có lẽ ngắm nghía, thưởng ngoạn, tưởng tượng. Hình mẫu văn nghệ có lẽ là một đồ vật, một cảnh quan thiên nhiên hay một buổi lễ xã hội được cảm tưởng. Nhưng nói tới hình mẫu văn nghệ người ta thường nghĩ tới hình mẫu con người, bao gồm cả hình mẫu một tập thể người (như hình mẫu nhân dân hoặc hình mẫu Tổ quốc) với những tỉ mỉ triệu chứng cảm tính đa dạng & có lẽ là hình mẫu thiên nhiên phong phú sắc màu phảng phất tâm trạng của Author, của niên đại.

Bạn đang xem: Thiên nhiên trong thơ trung đại việt nam


Thiên nhiên là một hình mẫu trong các tác phẩm văn học. Không những thế trong từng niên đại hình mẫu thiên nhiên lại biểu thị một dấu hiệu riêng, đưa giá trị riêng. Trong nền văn học viet nam, thiên nhiên là hình mẫu xuyên suốt, là xúc cảm vô tận cho các nhà thơ, nhà văn. Đọc những vần thơ, câu văn của các Author ta đơn giản nhận thấy cái đẹp rất đặc trưng cho mỗi công đoạn, đó là vẻ đẹp cổ kính trong nền văn học trung đại & vẻ đẹp đa sắc màu của văn học hiện đại.

*
Author Nguyễn Thị Anh

Từ vẻ đẹp cổ kính trong tác phẩm văn học trung đại…

Thời trung đại, con người sống dựa nhiều vào tự nhiên, khai thác tự nhiên, chính vì như thế thiên nhiên & con người luôn có sự tương hợp, đồng hành máu thịt. Nhìn lại những sáng tác của các Author văn học trung đại ta sẽ thấy bức họa thiên nhiên được cảm tưởng ra sao, song song thấy được cái đẹp tách biệt của mỗi một công đoạn văn học chi tiết.

Thiên nhiên trong các sáng tác của thời Lý luôn là những biểu tượng để truyền tải thông điệp, triết lí hay cảm quan của Phật giáo. Nó không còn là một hình ảnh thiên nhiên đơn thuần để con người diễn đạt, hưởng thụ mà nó là hình ảnh để biểu đạt quy luật của tự nhiên: “Xuân khứ bách hoa lạc/Xuân đáo bách hoa khai” (Cáo tật thị chúng – Mãn Giác Thiền Sư). Hình ảnh thiên nhiên trong bài kệ biểu đạt quy luật của tự nhiên, cây cối thay đổi theo thời gian. Nhà thơ nói “hoa rụng” trước, “nở sau” để cam đoan kiếp luân hồi của tự nhiên, song song cho thấy thái độ xót xa, cô quạnh đau buồn khi con người chẳng thể luân hồi chuyển kiếp giống như cội cây. Không những thế, đằng sau cái đau xót khi thấy được kiếp sống eo hẹp của đời người, qua các hình mẫu thiên nhiên, nhà thơ đem đến sức sống mãnh liệt mà tạo hóa ban cho loài người: “Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận/ Đình tiền tạc dạ nhất chi mai” (Cáo tật thị chúng – Mãn Giác Thiền Sư).

“Cành mai” đưa ý nghĩa biểu trưng rất lớn, hình ảnh cánh mai vàng rung rinh trước sân cho độc giả thấy một sức sống mãnh liệt, nó vượt lên cái quy luật sống – chết, thịnh – suy của cuộc sống để trổ tài cái trí não lạc quan bất biến của con người. “Cành mai” là biểu tượng của nét đẹp, nhưng đó không phải là nét đẹp của bông mai trong bức họa tứ quý “tùng, trúc, cúc, mai” để biểu đạt cái thanh cao, quý phái mà là nét đẹp của trí não lạc quan, khỏe khoắn, kiên trì của những con người có khí phách khi đứng trước những thay đổi của đất trời, thời cuộc.

Qua những vần thơ linh động, uyển chuyển của Mãn Giác Thiền Sư, ta thấy hình mẫu thiên nhiên hiện ra không những là biểu tượng của thời gian, mà nó còn là cái để nhà thơ bộc lộ ý kiến, chính kiến cá nhân. Qua những hình ảnh thơ đặc sắc, đưa giá trị diễn tả cao này ta thêm hiểu con người trong thời nhà Lý – thời kỳ Phật giáo lớn mạnh thịnh vượng, dù họ có xuất gia tu hành nhưng cũng không quay lưng với cuộc sống mà vẫn đầy bản lĩnh, ý chí tham dự tiến trình bảo vệ & xây dựng tổ quốc.

Nếu văn học thời Lý chủ đạo nổi trội với bài viết truyền tải những giáo lý của đạo Phật, thì bước sang thời kỳ nhà Lê văn học lại thuộc về dòng chảy yêu nước. Thiên nhiên trong các sáng tác thuộc công đoạn này đưa trong mình niềm tự hào về truyền thống yêu nước, đề cao những chiến công vang dội. Mỗi lần nhắc đến quê hương quốc gia, mau lẹ giọng điệu hào hùng vang lên, những vần thơ như làm sống dậy những năm tháng oanh liệt, nơi thiên nhiên làm điểm dựa vững chãi để con người ra sức bảo vệ nền độc lập dân tộc. Thiên nhiên gắn bó cùng con người trong những tháng ngày khổ cực, đối mặt với quân thù hung hãn để giữ từng tấc đất cho lãnh thổ non sông. Cuối cùng đến ngày hòa bình tất cả chúng ta tự hào, trân trọng: “Đến Bạch Đằng thuyền bơi một chiều/ Bát ngát sóng kình muôn dặm/ Thướt tha đuôi trĩ một màu/ Nước trời: một sắc, phong cảnh: ba thu/ Bờ lau san sát bến lách đìu hiu” (Phú sông Bạch Đằng – Trương Hán Siêu).

Với giọng đề cao, Trương Hán Siêu đã dựng lại hình mẫu thiên nhiên kì vĩ – sông Bạch Đằng. Đây không những là một thắng cảnh đẹp của quê hương & còn là dòng sông lịch sử – là nhánh sông ghi dấu ấn nhiều chiến công trong quãng đường chiến đấu giữ nước của dân tộc. Nhắc đến Bạch Đằng chẳng thể không nhắc đến chiến công vang dội của Ngô Quyền phá tan quan Nam Hán, Trần Quốc Tuấn đánh quân xâm lược Nguyên – Mông… Sông Bạch Đằng trong Bạch Đằng giang phú được Trương Hán Siêu tái hiện lại qua lời kể của các nhân vật, qua niềm tự hào của chính Author: “Sông Đằng một dải dài ghê/ Luồng to sóng lớn dồn về biển Đông/ Những người bất nghĩa tiêu vong/ Nghìn thu chỉ có anh hùng lưu danh”, Author tự hào về truyền thống người hùng kiên cường, đạo lí nhân nghĩa của dân tộc, tuy nhiên cam đoan chân lí của các cuộc chiến đấu bảo vệ dân tộc của nhân dân ta, song song cho thấy cái kết “tiêu vong” của những kẻ “bất nghĩa”.

Chẳng những triệu chứng niềm tự hào về truyền thống chống giặc ngoại xâm, các Author trong công đoạn văn học này còn thông qua thiên nhiên để diễn đạt cuộc đời sinh hoạt hằng ngày của con người. Đó là thiên nhiên đưa vẻ đẹp thân thiện, phảng phất mùi vị đồng quê. Đó là bức họa ngày hè đưa vẻ đẹp nên thơ, hài hòa, ấm áp, tràn trề sức sống của trong bài thơ Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi: “Rồi hóng mát thuở ngày trường/ Hòe lục đùn đùn tán rợp giương/ Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ/ Hồng liên trì đã tiễn mùi hương”. Bức họa thiên nhiên được ngòi bút tài hoa của tác gia Nguyễn Trãi vẽ lên ở tình trạng động, biến hóa linh động với nhiều gam màu rực rỡ. Sự vận động ở bên trong của sự vật như mong muốn trào ra, trỗi dậy mãnh liệt, toàn bộ đang ở thời điểm cực thịnh của cuộc sống mình.

Trong các tác phẩm của Nguyễn Trãi, hình mẫu thiên nhiên được nhắc đến rất nhiều, hiện ra với tần số rất lớn. Ngoài những hình ảnh thiên nhiên thân thiện với đời thường còn có một số hình mẫu thiên nhiên đưa màu sắc ước lệ như tùng, trúc, cúc, mai, mẫu đơn…, Bức họa ngày hè mà Nguyễn Trãi vẽ trong Bảo kính cảnh giới số 43 cũng không ngoại lệ, thiên nhiên được nhắc tới biểu trưng cho khát vọng, quyết tâm giữ mình trong sạch . Theo văn hóa phương Đông, “cây hòe” là loài cây lộc đại diện cho sự giàu sang may mắn. Người xưa thường trồng “cây hòe” trước nhà để mong con cháu thành danh, vinh hiển. Cây “thạch lựu” tượng trưng cho đa phúc, đa tử đem lại nhiều may mắn, tốt lành. Riêng “hoa sen” là loài hoa nhân sinh trổ tài tư cách cao đẹp của Author. Ba loài cây trong thơ Nguyễn Trãi là ba khát vọng đẹp của Nguyễn Trãi: khát vọng con cháu thành danh, gặp may mắn, giàu có & quyết giữ phẩm giá thanh cao.

Dẫu có gần với cuộc đời hằng ngày nhưng hình ảnh thiên nhiên ở công đoạn nàyVậy thơ trong công đoạn này dù vẫn có tính chất khuôn mẫu, ước lệ & đưa đậm dấu ấn của niên đại nhưng các Author đã linh động khéo léo mang thiên nhiên gần hơn với cuộc đời sinh hoạt của con người, tạo thành những vần thơ hay, ý tưởng & độc đáo đối với niên đại. Thiên nhiên tuy đưa tính biểu tượng cao nhưng kèm theo đó là khát vọng rất đời thường của các Author. Có vẻ thế mà thiên nhiên mới trở nên hài hòa, thân thiện với cuộc đời của con người.

XEM THÊM  "Bảo kiếm" giữ trời Hà Nội: Việt Nam đưa tên lửa SPYDER vào trực chiến cùng S-300PMU1

Bước sang thế kỉ XIV đến đầu thế kỉ XVIII, tác phẩm vẫn đưa cái đẹp rất đặc trưng của các công đoạn trước đây nhưng dấu ấn niên đại giờ đây lại đậm nét hơn rất nhiều. Công đoạn lịch sử này đã có những biến động, cơ chế phong kiến khởi đầu rơi vào khủng hoảng, từ đó hệ quan niệm của các sĩ phu cũng có nhiều chuyển biến cầu kỳ. Xã hội phong kiến khởi đầu có triệu chứng khủng hoảng, các tập đoàn phong kiến không còn gắn lợi nhuận với lợi nhuận của nhân dân lao động. Các giá trị đạo đức vững chãi trong xã hội khởi đầu lung lay, có một số nhà nho không đồng ý những biến cố thời cuộc đã phải cáo quan về quê ở ẩn, sống một cuộc đời thanh cao, hòa hợp với thiên nhiên vạn vật dù vẫn nặng lòng với non sông: “Thu ăn măng trúc, đông ăn giá/ Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao” (Nhàn – Nguyễn Bỉnh Khiêm). Các Author chọn cách sống đắm mình trong vẻ đẹp của trời đất, mùa nào thức ấy, rất giản dị nhưng cũng rất thanh cao để xa rời dần chốn nhiễu nhương.

Về ở ẩn với thiên nhiên, nhà thơ hưởng thụ lộc của thiên nhiên bốn mùa Xuân – Hạ – Thu – Đông, hấp thụ tinh khí của trời đất để gột bỏ những lo toan vướng bận riêng tư. Cuộc đời về với thiên nhiên của nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm & các nhà thơ ở đây tiêu biểu cho ý kiến “độc thiện kỳ thân” của các nhà nho, có nét gần với triết lí “vô vi” của đạo Lão, “thoát tục” của Phật giáo. Bỏ qua những triết lí sâu xa, ta nhận thấy thiên nhiên trong công đoạn này phần nào gỡ bỏ được mực thước, khuôn mẫu mà có phần thân thiện. Những hình ảnh bé nhỏ, thân quen như: măng trúc, hồ sen, giá… rất thân thuộc với đời sống nhân dân, & vô cùng bền chặt với phẩm giá thanh cao của các nhà nho.

Các nhà thơ ở đây yêu thiên nhiên bằng cả tấm chân tình, họ chiều chuộng, trân trọng từng cái cây ngọn cỏ, họ trổ tài thiện cảm ấm áp, trong trẻo, song song cũng trổ tài sự đồng hành giữa con người & thiên nhiên, hòa chung vào nhau thân tình giống như tri âm, tri kỉ cùng thỏa thuận để bộc lộ nhân sinh quan: “Rượu đến cội cây ta sẽ uống/ Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao” (Nhàn– Nguyễn Bỉnh Khiêm).

Đến nửa cuối TK XVIII nửa đầu TK XIX, công đoạn này hiện ra các nhà thơ xuất chúng, có nét cá tính rất riêng, song song đây cũng là công đoạn có những tác phẩm kiệt xuất của văn học viet nam nói chung, nền văn học trung đại nói riêng. Hình ảnh thiên nhiên trong các tác phẩm thuộc công đoạn này không đơn thuần là truyền tụng quốc gia mà nó là nơi bộc lộ nỗi niềm riêng, hay nói nên nỗi thống khổ của những con người sống dưới đáy của xã hội. Ta bắt gặp rất nhiều hình ảnh thiên nhiên trong thơ của Đặng Trần Côn, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du… toàn bộ những vần thơ ấy để truyền tải một thông điệp rất nhân văn, đưa giá trị nhân đạo lớn.

Thiên nhiên trong tác phẩm Chinh Phụ ngâm của Đặng Trần Côn do Đoàn Thị Điểm diễn nôm là một hình ảnh đưa giá trị văn nghệ cao. Bức họa thiên nhiên hiện lên gắn với tâm trạng của người chinh phụ, nó là nơi người chinh phụ trút bầu tâm sự. Chính vì vậy thiên nhiên cũng đưa tâm trạng chán nản: “Gà eo óc gáy sương năm trống/ Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên/ Khắc giờ đằng đẵng như niên/ Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa”. Thiên nhiên hiện ra nhưng ở giai đoạn này chỉ là “phất phơ rủ bóng” chứ không phải là thiên nhiên đầy sinh khí như hình ảnh “tán rợp giương” trong bức họa mùa hè của nhà thơ Nguyễn Trãi, nó đã bị tâm trạng u uất của người chinh phụ phủ nên, thiên nhiêm hiện giờ cũng như một sinh thể có hồn, biết buồn, vui, oán trách, lo ngại, sầu thẳm, cô quạnh bởi “cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu, người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” (Nguyễn Du).

Bên cạnh hình ảnh thiên nhiên nhuốm màu tâm trạng, ta phát hiện đa phần bức họa thiên nhiên vẫn có tính chất ước lệ tượng trưng: “Ngoài rèm thước chẳng mách tin/ trong rèm dường đã có đèn biết chăng”. Hình ảnh “chim thước” là hình ảnh được sử dụng thân thuộc trong thơ ca cổ, nó là loài chim đại diện cho điềm lạnh, báo hiệu nhà có khách, người ở xa về. Không những thế tiếng “chim thước”kia chỉ là mong ước của người chinh phụ mà thôi. Hay hình ảnh núi non cũng chỉ có tính chất ước lệ, nếu Author có sử dụng thì nó cũng chỉ là hình ảnh tượng trưng, nó gắng liền với một tích cũ xa xưa: Lòng này gửi gió đông có tiện/ Nghìn vàng xin gửi đến non Yên”.“Non Yên” ở giai đoạn này là núi Yên Nhiên, núi này găn với tích Hậu Hiến đời Hậu Hán đuổi giắc đến núi Bắc Thiền Vu đến núi Yên Nhiên khắc đá ghi công ở đó rồi trở về. Ở giai đoạn này ta có lẽ hiểu “non Yên” là chiến trận xa xôi đầy khổ cực, bất trắc.

Nếu thiên nhiên trong Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm đưa đậm tính hoài cổ, ước lệ tượng trưng, song song nhuốm màu tâm trạng của nhân vật trữ tình thì thiên nhiên trong thơ Hồ Xuân Hương đưa đậm dấu ấn cá nhân: “Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi/ Này của Xuân Hương đã quệt rồi” (Mời trầu). Trong thơ bà, hình ảnh thiên nhiên rất thật gắn liền với cuộc đời thường ngày, nó trổ tài một cá tính khỏe khoắn, ngạo nghễ của người phụ nữ không theo khuôn phép trong xã hội phong kiến.

Trong tác phẩm Tự tình II thuộc chương trình trung học phổ thông, cũng cho độc giả thấy được hình ảnh thiên nhiên đẹp, nhưng vẻ đẹp đó là vẻ đẹp của nỗi sầu lẻ bóng: “Chén rượu hương đưa say lại tỉnh/ Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn”. Tâm trạng của nữ thi sĩ hòa trong cảnh trăng, nhưng là trăng “khuyết chưa tròn”, tuổi xuân của người con gái sắp qua đi nhưng tình duyên vẫn chưa vẹn tròn.

Tiếp tục hướng tới ngoại cảnh, nhất là thiên nhiên, bởi nơi đây là nơi con người sống thật nhất với lòng mình: “Xiên ngang mặt đất rêu từng đám/ Đâm toạc chân mây đá mấy hòn”, hình ảnh thiên nhiên được Xuân Hương lựa chọn diễn đạt không phải là những hình ảnh cao quý, thanh cao mà lại là những sự vật bé nhỏ, yếu đuổi, mỏng manh: “rêu”, “đá”. Tuy là những sự vật yếu mềm nhưng nó không đồng ý sự thấp bé, vươn lên bằng mọi cách, vượt qua mọi vật cản để chứng tỏ mình. Cách Xuân Hương diễn đạt sức sống tiềm ẩn mãnh liệt của những vật bé nhỏ khiến ta liên tưởng đến một nàng Xuân Hương dám đưa tấm thân mỏng manh của mình ra chống trọi với tất cả lễ giáo phong kiến đương thời.

Qua những vần thơ của Xuân Hương ta nhận thấy càng về sau, những vần thơ viết về thiên nhiên càng độc đáo, nó dần mất đi thuộc tính ước lệ tượng trưng của văn học trung đại mà thay vào đó là một hình ảnh thiên nhiên mộc mạc, thân thiện hơn với cuộc đời của con người.

Nhắc đến thiên nhiên dung dị, ấm áp, thân thiện, thân thuộc ta chẳng thể không nhắc đến Nguyễn Khuyến – nhà thơ của làng cảnh viet nam. Văn chương trong thơ ông hầu hết xóa đi sự mực thước, thay vào đó là hình mẫu thơ gợi cảm, hiền hậu & đậm đà bản sắc Việt: “Ao thu lạnh lẽo nước trong veo/ Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo” (Câu cá mùa thu – Nguyễn Khuyến). Những vần thơ vang ra, vẽ một bức họa vè mùa thu của Bắc Bộ, người thi sĩ hình như đắm mình trong cảnh vật, lặng thầm, mơ màng hưởng thụ vẻ đẹp bạt ngàn của khung trời, áng mây nhè nhẹ trôi: “Tầng mây lơ lửng trời xanh mát/ Ngõ trúc quanh co khách vắng teo” (Câu cá mùa thu – Nguyễn Khuyến). Cảnh đẹp trong thơ Nguyễn Khuyến êm đềm tĩnh lặng nhưng cũng có chút gì đó man mác buồn.

Như thế, thông qua những tác phẩm thuộc chương trình phổ thông, tất cả chúng ta phần nào có cái nhìn tổng quan về hình mẫu hiên nhiên trong văn học trung đại. Tuy cùng là vẻ đẹp mực thước, khuôn mẫu nhưng ở mỗi công đoạn, mỗi nhà thơ hình mẫu thiên nhiên lại đưa một dấu ấn tách biệt. Có vẻ vậy, hình mẫu thiên nhiên luôn là chủ đề bất tận của các nhà thơ trong mọi niên đại, vẻ đẹp thiên nhiên ấy được các nhà văn hiện đại vẽ một tài hoa trong các sáng tác của mình.

XEM THÊM  KGB đã đánh cắp tài liệu bí mật về tàu con thoi của Mỹ như thế nào?

… đến vẻ đẹp nhiều sắc màu trong tác phẩm văn học hiện đại

Bước sang đầu thế kỉ XX việc diễn đạt thiên nhiên không còn những hình ảnh ước lệ tượng trưng, diễn đạt cảnh vật theo quy ước mà thiên nhiên được các Author dựa vào hiện thực đời sống thật để diễn đạt.Ở trào lưu thơ Mới, đã có những biến đổi rất căn bản trong việc diễn đạt thiên nhiên. Thiên nhiên được diễn đạt rất chân thực, đó có lẽ là bức họa thôn Vĩ với không gian đẹp, tràn trề trong nắng sớm, có hàng cau, có khóm trúc, có cả vườn cây trái “xanh như ngọc” & còn có người con gái yêu kiều nào đó: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?/ Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên/ Vườn ai mướt quá xanh như ngọc/ Lá trúc che ngang mặt chữ điền” (Đây thôn Vĩ Dạ – Hàn Mặc Tử). Đây là bức họa thiên nhiên tươi đẹp, là nơi Author yêu thương tha thiết, là sự yêu mến của thi nhân với cuộc đời, với vùng đất kinh kì hằn in cả một thời hoa mộng.

Đâu đó là bắt gặp bức họa thiên nhiên tràn đầy nhựa sống: “Của ong bướm này đây tuần tháng mật/Này đây hoa của đồng nội xanh rì/ Này đây lá của cành tơ phơ phất/ Của yến anh này đây khúc tình si/ Và này đây ánh sáng chớp hàng mi/ Mỗi sáng sớm, thần vui hằng gõ cửa/ Tháng giêng ngon như một cặp môi gần” (Vội vã – Xuân Diệu). Author Xuân Diệu chi tiết, cảm tưởng bằng nhiều giác quan để cảm tưởng bức họa non tơ, tươi mới & đầy sức sống. Những vần thơ về thiên nhiên của Xuân Diệu rất mới, rất lạ, khác hoàn toàn với lối diễn đạt cũ trước kia.

Nếu đọc thơ Thế Lữ ta bị cuốn theo hình ảnh suối đào, hạc trắng, kim đồng, ngọc nữ, chốn bồng lai… thì đến với Xuân Diệu ông đã “đốt cảnh bồng lai và xua ai nấy về hạ giới” (Hoài Thanh – Hoài Chân, 1988). Đúng vậy, cảnh bồng lai của tiên giới được ngòi bút tài năng của Xuân Diệu mang về thế gian, cần có một ái tình mãnh liệt với mới có lẽ thốt lên “tháng giêng ngon như một cặp môi gần”. Author yêu mến, thiết tha với cuộc đời, tâm hồn nhà thơ luôn mở rộng giao cảm với đời với mọi người, thiên nhiên chính là phương tiện để nhà thơ bộc bạch ý kiến, thiện cảm của mình.

Cảnh vật nông thôn cũng được diễn đạt rất đẹp trong thơ của Nguyễn Bính, Anh Thơ. Giữa những cách tân khỏe khoắn của thơ Mới từ bài viết đến cách thức, giữa những xô bồ hỗn tạp của văn hóa Đông – Tây, người ta vẫn hướng tới một không gian đưa bản sắc của người Việt trong thơ Nguyễn Bính: “Nhà em có một giàn trầu/ Nhà anh có một hàng cau liên phòng” (Tương tư – Nguyễn Bính). Chính những vần thơ về cảnh vật nông thôn của Nguyễn Bính chứng minh cho tất cả chúng ta một điều: con đường đưa tính vững bền & sâu sắc đặc biệt là biết thừa kế những giá trị truyền thống của cha ông tự ngàn xưa.

Tìm hiểu thêm: Thủ Tục & Kinh Nghiệm Xin Visa Du Lịch Úc Tự Túc Visa 600 Úc Năm 2021

Riêng trong thơ của nữ thi sĩ Anh Thơ, ta bắt gặp những hình ảnh về miền quê thân thuộc, thơ bà luôn đầy ắp những sự vật. Chỉ riêng bài Chiều xuân, với 12 câu thơ là 11 hình ảnh thiên nhiên & 1 hình ảnh con người: “Mưa đổ bụi êm êm trên bến vắng/ Đò biếng lười nằm mặc nước sông trôi/ Quán tranh đứng im lìm trong vắng lặng/ Bên chòm xoan hoa tím rụng tơi bời/ Ngoài đường đê cỏ non tràn biếc cỏ/ Đàn sáo đen sà xuống mổ vu vơ/ Mấy cánh bướm rập rờn trôi trước gió/ Những trâu bò thong thả cúi ăn mưa/ Trong đồng lúa xanh rờn và ướt lặn/ Lũ cò con chốc chốc vụt bay ra/ Làm giật mình một cô nàng yếm thắm/ Cúi cuốc cào cỏ ruộng sắp ra hoa” (Chiều xuân – Anh Thơ). Bức họa thiên nhiên hữu tình mà Anh Thơ tạo thành được liệt kê, tiếp nối nhau. Tất cả tác phẩm là sự liên ứng hài hòa giữa ba mảng không gian: mặt đất, khung trời & dòng sông. Cách xử lí không gian của nữ thi sĩ Anh Thơ cho lạ đi bằng cách đặt thêm các hình ảnh không gian khác vào không gian đó. Chính sự phối hợp này tạo thành sự độc đáo, tạo được lực cuốn hút cho cảnh vật cũ.

Thiên nhiên trong thơ Mới là sản phẩm của trí tưởng tượng, thấm tâm trạng của Author. Chỉ riêng với hình ảnh vầng trăng, ánh trăng trong thơ Hàn Mặc Tử cũng khiến độc giả thấy xúc cảm trào dâng. Hình ảnh ánh trăng được diễn đạt rất gợi cảm, từ ánh trăng xanh trong vườn khuya của ái tình đôi lứa, đến một không gian kì ảo tràn trề ánh trăng: “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó/ Có chở trăng về kịp tối nay” (Đây thôn Vĩ Dạ – Hàn Mặc Tử). Qua những vần thơ kì ảo, Hàn Mặc Tử mang độc giả cập vào một bến mộng ảo nhìn thấy thuyền trăng lướt đi vào miền lo âu, mơ hồ vừa được đánh thức.

Hình ảnh thiên nhiên trong thơ Mới được các nhà thơ khắc họa một cách tinh tế. Mỗi một cảnh vật đều là tâm huyết của các nhà thơ, nó là lòng yêu quê hương, quốc gia thầm kín, thiết tha & trí não dân tộc sâu sắc. Mỗi hình ảnh thiên nhiên là một cái đẹp của quê hương mộc mạc, nồng hậu & thân thuộc.

Nếu trong thơ Mới mang đến xúc cảm lãng mạn thoát li thì thơ cách mạng hướng tới lãng mạn cách mạng. Bắt nguồn từ dấu hiệu tính cách phẩm chất người Việt luôn lạc quan, tín nhiệm dù trong bất kỳ bối cảnh nào cùng với tâm hồn nên thơ giàu xúc cảm “Lưng đeo gươm tay mềm mại bút hoa”, “Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc/ Nguyễn Du viết Kiều đất nước hóa thành văn” đã tạo thành sự lãng mạn trong đời sống trí não của người Việt.

Công đoạn lịch sử 1945 – 1975 có lẽ coi là công đoạn kịch liệt, máu lửa, đau thương của dân tộc viet nam. Con người trong bối cảnh này tuy đứng ở lúc này đầy khổ cực nhưng tâm hồn luôn hướng tới tương lai. Chính vì vậy, những vần thơ trong công đoạn thường trổ tài trí não lạc quan, tín nhiệm nên bức họa thiên nhiên của các Author công đoạn này cũng được nhìn một cách lãng mạn hóa. Đó cũng là triệu chứng của dấu hiệu văn học công đoạn này: Đưa thiên hướng sử thi & xúc cảm lãng mạn. Bởi công đoạn văn học này gắn liền với hai cuộc kháng chiến với những chiến công lẫy lừng của dân tộc ta nên xúc cảm lãng mạn khác với văn học công đoạn trước đây, là cái tôi tràn trề xúc cảm hướng đến lí tưởng cách mạng, là ước mong khát vọng về tương lai tươi sáng của dân tộc. Thiên nhiên trong thơ công đoạn này gắn liền với cuộc hành quân khổ cực của các chiến sĩ, vừa là cảnh đẹp hút hồn người chiến sĩ, vừa là kẻ thù bất trắc đe dọa đến tính mạng con người: “Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm/ Heo hút cồn mây, súng ngửi trời/ Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống/ Nhà ai Pha Luông mưa xã khơi” (Tây Tiến – Quang Dũng). Những nét vẽ gân guốc, khỏe mạnh, cách kết hợp thanh bằng trắc đầy ý tưởng đã vẽ lên bức họa thiên nhiên kì vĩ, to lớn mà cũng đầy bất trắc, cam đoan được tầm vóc ngang tầm đất trời, vũ trụ của người lính Tây Tiến. Thiên nhiên nguy nga cũng là con đường khổ cực mà người lính phải vượt qua trên bước đường hành quân.

Không những thế ta cũng bắt gặp những nét vẽ nên thơ, hiền hòa, đậm chất lãng mạn của núi rừng sông nước Tây Bắc. Đó là hình ảnh thấp thoáng bóng nhà, bóng người, bóng “ai” sau màn “mưa xa khơi” (“Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”). Hoặc hình ảnh ấn tượng & giàu chất “lính” “Mường Lát hoa về trong đêm hơi” khi đoàn quân Tây Tiến hành quân trong đêm. & tâm hồn người lính, những người đa phần xuất thân từ lớp thanh niên trai trẻ của Hà Thành có lúc lại xao xuyến trước vẻ đẹp thiên nhiên Tây Bắc hoa mộng: “Người đi Châu Mộc chiều sương ấy/ Có nhớ hồn lau nẻo bến bờ/ Có nhớ dáng người trên độc mộc/Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”.

Thiên nhiên trong văn học kháng chiến còn “phát huy sức mạnh, truyền thống” theo dòng lịch sử, sát cánh với con người khi đánh đuổi kẻ thù: “Nhớ khi giặc đến giặc lùng/ Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây / Núi giăng thành luỹ sắt dày/ Rừng che bộ đội rừng vây quân thù. Nếu dòng Bạch Đằng năm xưa trong Bạch Đằng giang phú (Trương Hán Siêu) là thế trận để bao lần ta thắng địch, trong cuộc kháng chiến chống Pháp hào hùng, núi rừng là điểm tựa vững chắc để quân và dân ta đánh giặc, là nơi chở che, bao bọc khiến kẻ thù phải khiếp sợ. Thiên nhiên đồng sức đồng lòng cùng con người để đánh tan giặc ngoại xâm.

XEM THÊM  Vấn đề ô nhiễm môi trường từ các phương tiện giao thông vận tải

Không chỉ sát cánh với con người trong những cuộc hành quân gian khổ, thiên nhiên còn cùng con người lao động sản xuất trong những ngày kháng chiến gian lao: “Ta về mình có nhớ ta/ Ta về, ta nhớ những hoa cùng người/ Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi/ Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng/ Ngày xuân mơ nở trắng rừng/ Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang/ Ve kêu rừng phách đổ vàng/ Nhớ cô em gái hái măng một mình/ Rừng thu trăng rọi hoà bình/ Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung” (Việt Bắc – Tố Hữu), cùng đớn đau xót xa khi quê hương bị giày xéo: “Ôi những cánh đồng quê chảy máu/ Dây thép gai đâm nát trời chiều” (Quốc gia – Nguyễn Đình Thi), căm hận khi nhân dân lầm than: “từ gốc lúa bờ tre hồn hậu/ Đã bật lên những tiếng căm hờn”.

Rồi thiên nhiên lại hòa với niềm vui thắng lợi, độc lập của dân tộc: “Tin vui chiến thắng trăm miền/ Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về/ Vui từ Đồng Tháp, An Khê/ Vui lên Việt Bắc đèo De, núi Hồng” (Việt Bắc – Tố Hữu), hân hoan khi ta được kiểm soát: “Trời xanh đây là của chúng ta/ Núi rừng đây là của chúng ta/ Những cánh đồng thơm ngát/ những ngả đường bát ngát/ Những dòng song đỏ nặng phù xa” (Quốc gia – Nguyễn Đình Thi). Thiên nhiên trong công đoạn này là sự lấp lánh giao thoa của nguồn xúc cảm hiện thực & lãng mạn, lãng mạn & bi đát, nó là những vần thơ gieo vào lòng độc giả một lòng tin thiết yếu trong một bối cảnh nghiệt ngã.

Đến với những vần thơ Xuân Quỳnh, ta nhận biết Author dựa vào hình ảnh thiên nhiên để nói lên nỗi lòng của người phụ nữ trong ái tình, đó là cảm tưởng lưỡng lự, loay hoay lí giải ái tình: “Sóng bắt đầu từ gió/ gió bắt đầu từ đâu/ Em cũng không biết nữa/ Khi nào ta yêu nhau”, thỉnh thoảng lại bộc bạch những cung bậc xúc cảm khác nhau trong ái tình: “Dữ dội và dịu êm/ Ồn ào và lặng lẽ”, như nỗi nhớ luôn thường trực: “Con sóng dưới lòng sâu/ Con sóng trên mặt nước/ Ôi con sóng nhớ bờ/ Ngày đêm không ngủ được” (Sóng – Xuân Quỳnh). Cái kết của bài thơ thật đẹp, là hình ảnh con sóng – hiện thân của “em”, mong muốn được tan ra, hòa nhập giữa biển cả muôn trùng: “Làm sao được tan ra/ Thành trăm con sóng nhỏ/ Giữa biển lớn tình yêu/ Để ngàn năm còn vỗ”. Đặt bài thơ trong bối cảnh sáng tác là những năm tháng ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, khi những lớp người con gái con trai “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” mới thấy được nỗi khát khao cháy bỏng về ái tình. “Em” hòa trong hình mẫu “sóng”, ước ao hòa chung cái “tôi” trong cái “ta” chung của dân tộc, cá nhân với cộng đồng để ái tình mãi trường tồn vĩnh cửu.

Có vẻ nói hình mẫu thiên nhiên hiện ra trong thơ ca kháng chiến đã thoát khỏi những điển cố, thoát khỏi những ước lệ đưa tính khuôn sáo. Hình mẫu thiên nhiên trong công đoạn này đưa hơi thở của cuộc chiến đấu chống giặc ngoại xâm, chưa khi nào ta cảm thấy thiên nhiên kì vĩ, to lớn mà cũng rất đỗi thân thiện, thân thương như trong công đoạn này.

Cùng lúc với cuộc kháng chiến chống Mỹ, nhân dân miền Bắc còn tiến lên xây dựng một cuộc đời mới, con người mới. Họ sẵn sàng theo lời vẫy gọi của tổ quốc yêu thương để đến những mảnh đất khác, để tiếp tục lao động, đại chiến. Nguyễn Tuân, người nghệ sĩ tài hoa đã bắt gặp chân lí đó để đến với vùng Tây Bắc yêu thương, với con sông Đà dữ dội, hung bạo & cũng nên thơ, trữ tình. Con sông là biểu tượng cho sức mạnh thiên nhiên mà con người cần phải chinh phục. Vì lẽ đó, thiên nhiên vừa là người bạn ân tình, là kẻ thù ngang sức, để từ đó nhà văn Nguyễn Tuân truyền tụng “chất vàng mười” Tây Bắc: Là bản lĩnh, ý chí, khát vọng chinh phục thiên nhiên của con người – những người lái đò tài hoa.

Tranh đấu đã đi ngang qua, sau niềm vui thắng lợi con người lại trở về với cuộc đời đời thường, phải đối mặt với khổ cực khổ cực, thiếu thốn về vật chất, bừa bộn với những ngang trái bất công của cuộc đời hằng ngày. Sau năm 1975, người ta từ giã cái tháp quang vinh trở về với cái dung dị vốn có. Từ chỗ thiên về cái cao thượng, phi thường, kì vĩ, quốc gia, dân tộc, hiện giờ văn nghệ trở về với cuộc đời, với đời tư của mỗi cá nhân trong xã hội. Điểm dựa của công đoạn này không còn là biến cố lịch sử mà là những chuyện hằng ngày, những quan hệ nhân sinh muôn thuở.

Với xúc cảm đời tư, thế sự sau năm 1975, thiên nhiên trong các tác phẩm này cũng gắn với xúc cảm cá nhân, thấm chất thế sự. Sau những năm tháng tranh đấu, con người dùng hết ái tình cho quê hương quốc gia, đến lúc này họ về sống với bản ngã của mình, trải lòng để rồi khát khao mãnh liệt tới hạnh phúc cá nhân, hạnh phúc đời thường.

Đến với những sáng tác của Author Nguyễn Minh Châu, nhà văn dù trước hay sau mốc thời gian lịch sử 1975 đều bỏ công kiếm tìm những “hạt ngọc ẩn sâu trong tâm hồn con người, ta nhận thấy thiên nhiên muôn màu muôn vẻ. Thiên nhiên trong sáng tác của ông đôi lúc chỉ là bức nền cho những số phận nhỏ bé bất hạnh, tất cả ẩn nấp sau cái vẻ đẹp tuyệt mĩ của tạo hóa. Đằng sau bức tranh “đắt giá”, “trời cho”, “bức tranh mực tàu của danh họa thời cổ”, bức họa với “mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu sương mù trắng như sữa có pha chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào” trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa là một mẩu chuyện nhức nhối của một gia đình làng chài, cảnh tượng đánh đập dã man của người nam giới so với vợ mình khiến tất cả những ai cũng phải giật mình. Bức họa thiên nhiên thứ đặc biệt là buổi rạng đông trên biển, khi con thuyền ẩn hiện trong màn sương sớm trên biển bạt ngàn, khiến người nghệ sĩ thăng hoa trước nét đẹp của ngoại cảnh. Nhưng khi con thuyền cập vào bờ, đằng sau cảnh đẹp ảo huyền đó là cả một nỗi xấu số của những con người khó khăn bởi cuộc đời sau tranh đấu.

Thiên nhiên khi nào cũng đẹp, bức họa thiên nhiên luôn gắn liền với tâm hồn của người nghệ sĩ. Thiên nhiên là đối tượng của văn học văn nghệ, để nhà văn gửi gắm tâm tư, thiện cảm, ý kiến của mình. Từ ngàn xưa đến nay, thiên nhiên đến với thơ ca như một người bạn của thi sĩ, dẫu nó có đưa cái đẹp của niên đại, đưa dấu ấn riêng của Author thì thiên nhiên vẫn hồn nhiên, trong sáng, giản dị như nó vốn có. Thiên nhiên có đẹp thì thơ mới sáng, cảnh có tình thì vần thơ mới thực, điều này đã được các nhà thơ từ xưa đến nay minh chứng qua vô vàn những thi phẩm, nên hình mẫu thiên nhiên trong văn học luôn đưa một vẻ đẹp ước lệ, thuần khiết, thanh cao trong văn học trung đại, song song đưa vẻ đẹp tươi mới, kì vĩ mà cũng rất đời thường trong văn học hiện đại.

Nguyễn Thị Anh(Lớp Cao học VHVN K20, ĐH Quy Nhơn)

Ebook đọc qua:

<1vàgt; Lại Nguyên Ân (1993), Cuộc cải tiến của trào lưu Thơ Mới & công cuộc thơ ca viet nam, Báo chí Văn học, số 1 – 1993.<2vàgt; Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, NXB Đại học Đất nước, Hà Nội.<3vàgt; Lê Huy Bắc ( 2001), Thẩm bình tác phẩm văn chương (2,3), NXB Đất nước Hà Nội, Hà Nội.<4vàgt; Nguyễn Sĩ Cẩn (1984), Mấy vấn đề bí quyết dạy thơ văn cổ viet nam, NXB Dạy bảo, Hà Nội.<5vàgt; Hoàng Minh Châu (1990), Bàn về thơ, NXB Văn học, Hà Nội.<6vàgt; Nguyễn Viết Chữ (2005), Bí quyết dạy học tác phẩm văn chương(theo chuyên mục), NXB Đại học Sư phạm.<7vàgt; Nhật Chiêu (1998), Thơ ca Nhật Bản, NXB Dạy bảo, Hà Nội.<8vàgt; Phan Huy Dũng (2009), Tác phẩm văn học trong gia đình trường phổ thông một hướng nhìn, một cách đọc, NXB Dạy bảo viet nam, Hà Nội.<9vàgt; Nguyễn Văn Đấu (2014), Nghiên cứu tác phẩm văn làm theo đặc trưng thi pháp, ebook bồi dưỡng thường xuên, Trường Đại học Quy Nhơn, Bình Định.<10vàgt; Phan Cự Đệ (1996), Trào lưu thơ mới, NXB KHXH, Hà Nội.

Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Khoa học vũ trụ