Tác giả: Giáo sư Andreas Kappeler Xuất bản: Trung tâm giáo dục chính trị liên bang Đức Biên dịch & tổng hợp: Tôn Thất Thông Giới thiệu: Làm thế nào mà người Ukraine vẫn kiên định đối đầu trước quân đội Nga mạnh hơn gấp nhiều lần? Lịch sử hơn 1000 năm qua của họ có…

Bạn đang xem: thế kỷ 18

Tác giả: Giáo sư Andreas Kappeler

Xuất bản: Trung tâm giáo dục chính trị liên bang Đức

Biên dịch & tổng hợp: Tôn Thất Thông

Giới thiệu: Làm thế nào mà người Ukraine vẫn kiên định đối đầu trước quân đội Nga mạnh hơn gấp nhiều lần? Lịch sử hơn 1000 năm qua của họ có thể cho ta câu trả lời. Đây không chỉ là trận chiến để chọn lựa giữa dân chủ và độc tài, giữa Tây và Đông, mà đang là đấu tranh để bảo vệ bản sắc dân tộc, bảo tồn di sản của cha ông để lại, bảo vệ nền độc lập non trẻ vừa đạt được sau gần một thế kỷ tranh đấu với nhiều biến cố rất đau thương. Họ không muốn quỳ gối khi đã đứng dậy và ngẩng cao đầu. Ký ức về những việc làm vẻ vang, lý tưởng tự do và đồng đẳng của họ vẫn còn tồn tại trong truyền thuyết dân gian. Nghe câu cuối cùng của quốc ca Ukraine, tất cả chúng ta có thể hiểu họ phần nào: “Chúng tôi từ bỏ thể xác và linh hồn vì tự do của mình, và chúng tôi sẽ cho các anh em thấy rằng chúng tôi thuộc bộ tộc Cossack”.

Loạt bài biên khảo sau đây kỳ vọng sẽ làm sáng tỏ những khía cạnh lịch sử trong trận chiến hiện tại.

***

Phần 1 : Từ sơ khai đến cuối thế kỷ 18

 

Lãnh thổ ngày nay của Ukraine vốn đã thuộc về tối thiểu 14 quốc gia khác nhau trong suốt chiều dài lịch sử, bao gồm Vương quốc Ba Lan-Litva, Đế chế Nga, Chính sách quân chủ Habsburg và Liên bang Xô viết. Nằm trong khu vực mệt mỏi giữa Đông và Tây, Ukraine phải thường xuyên tự nhất định mình trước các nước láng giềng.

Đối tượng biên khảo

Lãnh thổ của nhà nước Ukraina ngày nay và các vùng phụ thuộc của nó là một phần của tối thiểu 14 quốc gia khác nhau trong suốt chiều dài lịch sử; trọng yếu nhất trong số này là Vương quốc Ba Lan-Litva, Đế quốc Nga, Chính sách quân chủ Habsburg và Liên bang Xô viết. Vì vậy, chủ thể lịch sử Ukraine không thể được xem là nhà nước, như trường hợp của Pháp hay Nga. Tuy nhiên, điều này không chỉ vận dụng cho Ukraine, mà còn cho nhiều quốc gia hiện đại khác, thí dụ như Đức và Ý.

Do thiếu tính liên tục của nhà nước, thành ra dân tộc Ukraine có thể xem là chủ thể của lịch sử. Tuy nhiên trước đó, khái niệm về dân tộc còn mơ hồ và chỉ mô tả các cộng đồng khác nhau trong các thời kì riêng rẽ. Điều này cũng được phản ánh trong tên gọi của các cộng đồng đó. Điều tương tự cũng vận dụng cho các quốc gia vốn chỉ khởi đầu tạo dựng vào đầu thời kỳ cận đại và được củng cố trong suốt thế kỷ 19 và 20. Việc thành hình quốc gia Ukraine đã bị cản trở và trì hoãn bởi các quốc gia thống trị như Ba Lan và Nga, những nước từ lâu đã phủ nhận sự tồn tại của một quốc gia Ukraine, thậm chí phần nào cho đến hiện giờ cũng thế. Điều này cũng có thúc đẩy đến phong thái viết lịch sử: lịch sử Ukraine đã và đang tiếp tục bị tranh cãi bởi những mẩu truyện lịch sử từ Ba Lan và Nga.

Do đó trong loạt bốn bài biên khảo này, chúng tôi đứng trên quan niệm rằng, chỉ có lãnh thổ của quốc gia độc lập ngày nay là đối tượng phân tích lịch sử Ukraine. Điều này có nghĩa là không chỉ người Ukraine mà còn phải tính đến các nhóm dân tộc khác như người Do Thái, người Ba Lan, người Nga, người Đức và người Tatar Crimea sống trên lãnh thổ này.

Hoàn cảnh địa lý

Tên Ukraine có nghĩa là vùng đất biên giới. Điều này có nghĩa là biên giới với thảo nguyên, ranh giới phân tách giữa người định cư và người du mục, vốn có ý nghĩa rất trọng yếu cho đến thế kỷ 18. Đây là nơi sinh sống của người Cossacks, những người đóng một vai trò vượt trội trong lịch sử Ukraine. Theo cách hiểu hiện đại, Ukraine xuất hiện như một vùng đất biên giới theo ý nghĩa trung gian giữa Đông và Tây, giữa Chính thống giáo và toàn cầu Đạo công giáo La Mã. Nhà thờ St. Sophia ở Kyiv, với các bức bích họa Byzantine bên trong và phong thái Baroque bên ngoài, là một biểu tượng của điều đó.

Lãnh thổ của Ukraine là một phần của vùng đất thấp ở Đông Âu và không có ranh giới tự nhiên trên một dải đất dài. Các trường hợp ngoại lệ duy nhất là Biển Đen ở phía nam và Carpathians ở phía tây, với những ngọn núi duy nhất đáng được nhắc đến. Tuy nhiên, một khu vực nhỏ ngoài Carpathians, như Transcarpathia hoặc Carpathian-Ukraine cũng thuộc quốc gia ngày nay. Ở phía đông và phía bắc, so với Nga, Belarus và Ba Lan, biên giới của Ukraine phần lớn là mang tính chất rộng mở. Do đó, nó luôn là khu vực trung chuyển và là hiện trường của các cuộc xung đột vũ trang.

Sông ngòi là một yếu tố cấu trúc trọng yếu, trước hết là sông Dnepr (tiếng Ukraina: Dnipró), cắt đôi Ukraine. Kể từ đầu thời Trung cổ, Dnepr đã là một tuyến đường thương mại trọng yếu giữa Baltic và Biển Đen, với tp Kyiv là điểm trung chuyển trọng yếu nhất. Tuy nhiên, việc vận tải bị cản trở bởi những thác ghềnh cho đến khi một nhà máy thủy điện trên sông được xây dựng. Bên kia những thác ghềnh này là nơi cư trú chính của những người Cossack thuộc Ukraina, do đó họ có tên là Zaporozhere Cossacks. Chảy vào Biển Đen là sông Bug, sông Dniester (Dnistér), sông Prut ở phía tây, và sông Don ở phía đông, mà nhánh Donets của nó là dòng sông trọng yếu nhất ở miền Đông Ukraine. 

Hầu như các khu vực của Ukraine có đất đen màu mỡ và rất tốt cho các loại thực vật như lúa mì, ngô, hoa hướng dương. Khí hậu lục địa ôn đới cũng góp phần vào ưu thế đó, mặc dù lượng mưa tương đối ít ở các vùng thảo nguyên. Các tài nguyên khoáng sản trọng yếu nhất là các mỏ than đá ở lưu vực Donets (Donbas) và các mỏ quặng sắt ở hạ lưu sông Dnepr, vốn là động lực chính trong quá trình công nghiệp hóa của Đế chế Nga.

Lãnh thổ rộng lớn được chia thành các vùng riêng rẽ theo các tiêu chuẩn tự nhiên và lịch sử. Tây Ukraine bao gồm Galicia (với Lwiw là trung tâm), Bắc Bukovina (Czernowitz) và Carpathian-Ukraine (Uschhorod). Miền Trung Ukraine bao gồm Volhynia, Podolia và khu vực trung lưu sông Dnepr với thủ đô Kyiv. Nam Ukraine là khu vực bờ bắc Biển Đen với cảng Odessa và bán đảo Crimea. Các tiểu vùng của miền Đông Ukraine là Donbas (Donetsk), Sloboda Ukraine (Kharkiv) và Vùng hạ lưu sông Dneper (Dnipropetrovsk).

Thần thoại sáng lập Kyiv Rus

Vào thời xa xưa, lãnh thổ miền Nam Ukraine ngày nay là nơi di cư của các dân tộc thảo nguyên từ châu Á sang châu Âu, và bên bờ Biển Đen, người Hy Lạp và người La Mã đã thành lập các thuộc địa của họ.

Vào cuối thế kỷ thứ 9, các chiến binh và thương nhân Norman, được gọi là Rus, đã thành lập một liên đoàn thống trị ở trung lưu sông Dnepr với trung tâm là Kyiv, và lấy tên là Rus. Tầng lớp thượng lưu của Rus sớm được đồng hóa bởi dân cư Slavic địa phương. Vào cuối thế kỷ 10, Hoàng tử Vladimir (tiếng Ukraine: Volodymyr) cải đạo sang Cơ đốc giáo, và từ đó trở đi, Rus thuộc về toàn cầu của Đế chế Byzantine và Nhà thờ Chính thống giáo. Đồng thời, Kyiv Rus có quan hệ thương mại và huyết thống với các quốc gia bắc, trung và tây Âu, và các công tước của họ thuộc “gia đình của các vị vua châu Âu”.

Đế chế Kyiv là một trung tâm thương mại giữa Baltic và Biển Đen cũng như giữa Trung Âu và châu Á. Ngoài Kyiv, một căn cứ trọng yếu khác là tp Novgorod ở phía bắc, là một trong bốn căn cứ của Hanseatic (tức là chi nhánh của các thương nhân Hanseatic ở nước ngoài vào cuối thời Trung Cổ). Văn hóa chính thống (hội họa, văn học, kiến ​​trúc) trải qua một sự thăng tiến nhanh chóng với tu viện hốc đá Kyiv là trung tâm. Rus là một hiệp hội lỏng lẻo của các thành phần thuộc công tước riêng rẽ dưới nhiều nhánh khác nhau của triều đại cầm quyền Ryurikid. Đứng đầu là công tước Kyiv, các thủ phủ trọng yếu khác là Galicia-Volhynia ở phía tây, Polotsk ở phía tây bắc và Vladimir-Suzdal ở phía đông bắc. Trong nửa đầu thế kỷ 13, toàn thể Rus bị quân Mông Cổ chinh phục và nhiều tp bị phá hủy. Kyiv thất thủ vào năm 1240.

Kyiv Rus bao gồm các khu vực chính của những gì ngày nay là các nước Ukraine, Nga và Belarus (Bạch Nga), và lịch sử của nó là thần thoại khai sinh của cả ba quốc gia đó. Giới sử học Ukraine và Nga vẫn tranh giành di sản đó cho đến ngày nay. Trong truyền thuyết quốc gia Ukraine, việc đề cập đến thời kỳ đầu của nhà nước Kyiv có tầm trọng yếu đặc biệt, trong lúc ở Nga, đế chế Kyiv được xem như là tiền thân của nhà nước Moscow và đế chế Nga. Cuộc tranh cãi lại bùng lên trong những năm gần đây, và mới đây, chính Tổng thống Nga Vladimir Putin đã lên tiếng về điều đó theo cách nhìn lịch sử của mình.

Thiên hướng về phía Tây: Ukraine trong Vương quốc Ba Lan-Litva (thế kỷ 14-18)

Sau cuộc xâm lược của người Mông Cổ, người Rus chia thành các nhóm sắc tộc gồm người Nga, người Ukraine và người Belarus. Trong lúc người Nga vẫn nằm dưới sự thống trị của giống du mục da vàng Mông Cổ, người Ukraine và người Belarus là thần dân của Lithuania và Ba Lan, những người đã được thống nhất trong một liên minh gia tộc từ năm 1386 và trong một liên minh thực sự từ năm 1569. Quyền thừa kế của Kyiv Rus lần trước nhất được truyền cho Đại công tước của Lithuania, người vào thế kỷ 14 đã mang hầu như Ukraine, bao gồm cả Kyiv, vào vòng thống trị của họ. Họ thực hiện quyền thống trị tối cao lỏng lẻo và sử dụng ngôn từ chính thức là Slav. Mặt khác, công quốc Galicia ở phía tây nằm dưới sự thống trị trực tiếp của người Ba Lan vào giữa thế kỷ 14. Hai thế kỷ sau, toàn thể Ukraine được thống nhất vào Vương quốc Ba Lan.

Toàn thể khu vực sau đó có người Ukraine sinh sống thuộc về Ba Lan-Litva trong ba đến bốn thế kỷ. Giới quý tộc Ba Lan thu được những điền trang lớn và khiến nông dân Ukraine phụ thuộc vào họ, trong lúc những quý tộc Ukraine sung túc hơn chuyển sang tín ngưỡng Đạo công giáo vào thế kỷ 17 và dần dần bị Ba Lan đồng hóa. Ukraine lúc này chịu ràng buộc của tây Âu thông qua trung gian của Ba Lan, các vùng phía tây sớm hơn và mạnh hơn, còn các vùng trung tâm thì chậm và thấp hơn. Nhiều tp đã được trao quyền tự trị, nhiều người Đức và người Do Thái đến định cư ở Ukraine. Các xu hướng trí tuệ của Chủ nghĩa Nhân bản, xu hướng văn hóa Phục hưng cũng như các nhánh của Cải tiến tôn giáo (Tin Lành) đều đã thâm nhập đến Ukraine.

Là một phần của cuộc đổi mới Đạo công giáo, Chính thống giáo của Ba Lan-Lithuania đã trực thuộc Nhà thờ La Mã trong Liên minh Brest vào năm 1596. Nhà thờ Thống nhất giữ lại phụng vụ Chính thống giáo và hôn phối linh mục, nhưng tiếp nhận các tín điều của Giáo hội Đạo công giáo. Nhiều nhánh Chính thống giáo phản đối sự thống nhất và sớm đạt được sự phục hưng của Giáo hội Chính thống. Dưới thời Tổng giám mục Petro Mohyla, Ukraine đã trải qua một thời kỳ hoàng kim về văn hóa, có thể nhìn thấy ở Kyiv Collegium (từ 1701 được gọi là Hàn lâm viện Kyiv), được thành lập năm 1632 theo mô hình của các trường dòng Tên, phối hợp tính thuần lý của phương Tây với tâm linh Chính thống giáo, tiếng Latinh và tiếng Ba Lan với truyền thống Slavonic của Giáo hội và trở thành một kênh của làn sóng phương Tây hóa trước nhất của Nga.

Mối liên hệ lịch sử với phần còn sót lại của châu Âu góp phần phân biệt trào lưu dân tộc Ukraine với Nga. Như nhà tư tưởng chính trị người Ukraine Mykhailo Drahomanov (1841–1895) đã viết: “Hầu hết sự khác biệt về quốc gia giữa Ukraine và Muscovy có thể được giải thích bởi thực tế là cho đến thế kỷ 18, tức là cho đến khi thành lập chế độ cai trị của Nga, Ukraine đã liên kết chặt chẽ hơn với Tây Âu. Bất chấp những thất bại do các cuộc xâm lược của người Tatar, Ukraine đã tham gia vào quá trình phát triển xã hội và văn hóa của châu Âu”. Trong các cuộc thảo luận hiện tại, những ý tưởng như vậy đóng vai trò là lập luận cho việc tái hòa nhập với Liên Âu. Cần lưu ý rằng phần phía tây và trung tâm của Ukraine thuộc về Ba Lan lâu hơn nhiều so với Nga. Mặt khác, từ quan niệm của Nhà thờ Chính thống giáo và trong truyền thuyết lịch sử của Nga, thời kỳ thuộc Ba Lan-Litva là một thời kỳ bị ngoại bang thống trị và áp bức về xã hội và tôn giáo.

Thời kì của Cossacks Ukraina

Trên biên giới với vùng thảo nguyên và sau các xung đột với người Tatars ở Crimea, quân đội Cossack tạo dựng trên vùng sông Dnepr, sông Don và các dòng sông khác vào thế kỷ 16 từ những người nông dân và nhà thám hiểm di dân. Các quân đoàn máu chiến này phần lớn nằm ngoài tầm với của nhà nước cũng như giới quý tộc và đã thiết lập một trật tự quân sự-dân chủ theo chủ nghĩa đồng đẳng. Nhẫn của toàn bộ dân Cossacks đều có hình người lãnh đạo của họ, Hetman hoặc Ataman, những người mang ra những quyết định trọng yếu nhất. Các đội quân Cossack xuất hiện hầu hết đồng thời ở Nga và Ukraine. Tuy nhiên, chỉ có những người Cossack ở Ukraine mới trở thành những tác nhân trong chính trường lớn.

Rất nhiều nông nô Ukraina và người dân thị xã đã chạy trốn đến hạ lưu sông Dnepr, nơi họ thành lập một căn cứ “bên kia ghềnh thác”, Zaporozher Sich, từ đó họ lấy tên là “Zaporosher Cossacks”. Người Cossacks phục vụ nhà vua Ba Lan với tư cách là lính biên phòng và lính đánh thuê, đồng thời tiến hành các cuộc đột kích bằng thuyền chống lại những người Ottoman “vô đạo”. Trong nửa đầu thế kỷ 17, Zaporozhian Cossacks liên minh với giới tinh hoa chính thống có tri thức của Kyiv và tiếp thụ những ý tưởng quốc gia của họ.

Vào năm 1648, đã có một cuộc nổi dậy lớn của quần chúng chống lại sự thống trị của Ba Lan, điều khiển bởi người Cossack dưới sự lãnh đạo của Hetman Bohdan Khmelnytskyi (1595-1657). Người Cossacks đã giải phóng hầu hết toàn thể Ukraine khỏi sự thống trị của Ba Lan. Trong quá trình này, những người Ba Lan và người Do Thái sống ở Ukraine đã bị giết hoặc bị trục xuất và những nông nô được giải phóng. Zaporozher Cossacks thành lập một quân đoàn cầm quyền độc lập trên thực tiễn, điều được gọi là Hetmanate. Họ thiết lập chính quyền quân sự theo mô hình Cossack, nông nô được thừa nhận là người Cossack tự do, và Nhà thờ Chính thống giáo được có nhiều đặc ân.

Khmelnytskyi và Zaporozhian Cossacks phụ thuộc vào một đồng minh là Sa hoàng Moscow trong trận chiến giành độc lập chống lại Ba Lan và do đó đặt mình dưới sự bảo lãnh của Sa hoàng vào năm 1654. Trong lúc Cossacks coi mối liên hệ với Nga như một quốc gia bảo lãnh tạm thời, thì Sa hoàng Nga coi này là sự phục tùng sự thống trị vĩnh viễn của mình. Những cách giải thích trái ngược này vẫn tồn tại cho đến ngày nay: trong tự sự quốc gia Ukraine họ nhấn mạnh sự độc lập của Hetmanate, quốc gia được xem như là quốc gia trước nhất của Ukraine, trong lúc truyền thuyết Nga coi trao đổi năm 1654 là thời kỳ trước nhất và trọng yếu nhất trong quá trình “tái thống nhất” với quốc gia kể từ cuộc xâm lược của Mông Cổ đã chia cắt Ukraine ra khỏi Nga. Ban đầu, Hetmanate duy trì chính phủ tự trị của mình dưới sự chỉ đạo của một Hetman do mình bình chọn. Moscow đảm bảo các quyền hạn và ưu đãi của người Cossacks và các nhóm sắc tộc khác, nhưng vẫn đóng quân ở Ukraine và giữ được tiếng nói quyết định trong quan hệ đối ngoại.

Sau một trận chiến tranh lâu dài, Nhà nước Moscow và Ba Lan-Litva đã chia cắt Ukraine vào năm 1667: Hetmanate ở tả ngạn Dnepr với Kyiv làm đầu cầu, ở phía bên kia thuộc về Nga. Người Cossacks Ukraine đến định cư ở Sloboda-Ukraine và pháo đài Kharkiv mới được xây dựng nằm dưới quyền thống trị của Nga.

Khi Nga dưới thời Peter Đại đế tăng trưởng sức ép, Hetman Ivan Masepa đã phấn đấu tái lập toàn thể Hetmanate và liên minh với Vua Charles XII của Thụy Điển, người đang có chiến tranh với Đế quốc Nga. Năm 1709, vua Thụy Điển và cùng với ông là Masepa đã bị Peter Đại đế hạ gục trong trận Poltava. Hậu quả là, ông ta đã đối xử nghiêm khắc với Cossacks phản bội. Ở Nga, Masepa được xem như là nguyên mẫu của kẻ phản bội, và những người Ukraine bị nghi ngờ là bất trung. Mặt khác, trong tự sự về quốc gia Ukraine, Masepa được tôn sùng như một vị người hùng.

Trong nửa đầu thế kỷ 18, Hetmanate dần dần mất quyền tự chủ và cuối cùng bị tiêu diệt dưới thời Catherine II. Phòng ban còn sót lại của Zaporozhian Cossacks định cư trên sông Kuban ở phía bắc Caucasus. Những thành viên sung túc hơn của tầng lớp thượng lưu Cossacks, những người trong thời gian đó đã khiến nhiều nông dân Ukraine phụ thuộc vào họ, được chấp thuận vào giới quý tộc của đế chế và sau đó phần lớn bị Nga hóa. Điều này đánh dấu sự kết thúc hoạt động chính trị của Cossacks Ukraina.

Ký ức về những việc làm vẻ vang và lý tưởng tự do và đồng đẳng của họ vẫn còn tồn tại trong truyền thuyết dân gian và sau đó được trào lưu độc lập dân tộc Ukraine tiếp nối. Thần thoại Cossack ngày nay vẫn đóng một vai trò trọng yếu, gần đây nhất là về Majdan ở Kyiv. Quốc ca Ukraine kết thúc với điệp khúc: “Chúng tôi từ bỏ thể xác và linh hồn vì tự do của mình, và chúng tôi sẽ cho các anh em thấy rằng chúng tôi thuộc bộ tộc Cossack!”

Hiện đại hóa và Nga hóa: Ukraine trong Đế chế Nga vào “Thế kỷ 19 dài”

Đế chế Nga là một cường quốc trong thế kỷ 18 và không ngừng mở rộng lãnh thổ của mình. Trong ba lần chia cắt bởi Ba Lan (1772, 1793, 1795), các khu vực phía tây của Hetmanate trước đó thuộc quyền thống trị của Nga, trong lúc Galicia rơi vào tay Áo. Trong một số trận chiến tranh với Đế chế Ottoman, các vùng thảo nguyên ở phía bắc Biển Đen cũng bị chinh phục cùng với Crimea, miền nam Ukraine ngày nay. Odessa được thành lập vào năm 1794, trong vài thập kỷ đã phát triển thành thương cảng trọng yếu thứ hai sau St.Petersburg và là một trong những tp lớn nhất trong Đế chế Nga hoàng với dân số hỗn hợp nhiều sắc tộc (Nga, Do Thái, Ukraine, Hy Lạp).

Miền nam Ukraine, chính thức được gọi là “Nước Nga Mới”, nơi hầu như không có người sinh sống cho đến thời điểm đó, đã được định cư bởi những người nông dân Ukraine và Nga cũng như những người thực dân Đức, Romania và Nam Slav. Một số quý tộc thu được những điền trang lớn. Với đất đen màu mỡ, miền nam Ukraine trở thành vựa lúa trọng yếu nhất của Đế chế Nga hoàng và đóng góp đáng kể vào xuất khẩu ngũ cốc. Thuật ngữ Novorussia được Tổng thống Vladimir Putin phục sinh vào năm 2014 để trợ giúp các tuyên bố chủ quyền của Nga so với miền đông và miền nam Ukraine.

 

Công nghiệp hóa

Phía đông nam của Ukraine ngày nay chỉ mới được phát triển vào cuối thế kỷ 19. Trên nền tảng các mỏ than đá phong phú ở Donbas và các mỏ quặng sắt ở trung lưu sông Dnepr, công nghiệp nặng đã được tạo dựng ở đây trong một thời gian ngắn, trở thành động cơ trọng yếu nhất của quá trình công nghiệp hóa của Nga. Trung tâm khai thác than là khu định cư công nghiệp Yusovka (được đặt theo tên người sáng lập, kỹ sư người Anh Hughes), được đổi tên thành Stalino vào năm 1924 và Donetsk vào năm 1961. Công nghiệp nặng tập trung ở Donbas và hai tp đang phát triển nhanh chóng là Kharkiv và Yekaterinoslav (nay là Dnipropetrovsk). Trong quá trình công nghiệp hóa nhanh chóng, rất nhiều công nhân Nga đã nhập cư vào miền đông Ukraine. Hành chính và thương mại tập trung ở trung tâm hành chính của Kyiv, và ở vùng Kyiv, công nghiệp lọc đường là nghề công nghiệp trọng yếu nhất. Các tuyến đường tàu kết nối các tp lớn với nhau và với miền trung nước Nga. Ba trong số mười trường đại học của Đế chế Nga hoàng nằm ở Kharkiv, Kyiv và Odessa.

Do đó, miền nam và miền đông Ukraine đã trải qua quá trình đô thị hóa và hiện đại hóa nhanh chóng trong thế kỷ 19, với dân số đa sắc tộc, là khu vực năng động nhất của Đế chế Nga hoàng. Tuy nhiên, quá trình hiện đại hóa Ukraine đã diễn ra phần lớn không có người Ukraine, những người đa số vẫn là nông dân nghèo. Khoảng 87% người Ukraine gốc Nga làm việc trong ngành nghề nông nghiệp vào cuối thế kỷ 19. Do sự tăng trưởng dân số nhanh chóng, diện tích canh tác giảm xuống, và nhiều nông dân đã di cư đến các vùng lãnh thổ châu Á của Nga. 68% nam giới Ukraine trên mười tuổi không biết đọc, ở nữ giới thậm chí là 95%. Văn hóa Ukraine vẫn ghi đậm tính chất nông thôn.

Xem Thêm  Nhảy mũi là gì? Giải mã điềm báo nhảy mũi theo ngày giờ - giai ma diem bao

Ở toàn bộ các tp lớn, người Nga chiếm đa số, trong lúc người Ukraine chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ: 26% ở Kharkiv, 22% ở Kyiv và 9% ở Odessa (theo điều tra dân số năm 1897). Hầu như trong số họ thuộc tầng lớp nghèo thành thị, một số ít người vươn lên trong xã hội thường sẽ bị Nga hóa. Mặt khác, người Do Thái chiếm một tỷ lệ đáng kể trong dân số của tp, và người Ba Lan vẫn có đại diện trong giới quý tộc, sau người Nga và người Nga gốc Ukraina.

 

Phát triển chính trị 1860–1917

Nhà nước và xã hội Nga không thừa nhận “Người Nga nhỏ”, như tên gọi chính thức của họ, là một quốc gia tách biệt mà chỉ là một phần của quốc gia Chính thống giáo “toàn Nga” bao gồm người Nga vĩ đại, người Nga nhỏ và người Bạch Nga. Trên quan niệm người Nga, ngôn từ Ukraine được xem như là một phương ngữ của Nga, và lịch sử Ukraine là một phần của lịch sử Nga.

Nhà phân tích Nga Mikhail Katkov (1818–1887) viết vào năm 1863: “Ukraine chưa bao giờ có lịch sử riêng, chưa bao giờ có nhà nước riêng, người dân Ukraine luôn là một dân tộc Nga thuần túy, mà nếu không có nó thì dân tộc Nga không thể tiếp tục như bây giờ”.  Khi sự khởi đầu của một trào lưu dân tộc Ukraine trở nên rõ ràng, chính phủ Nga đã phản ứng gay gắt để ngăn chặn sự ly khai đáng sợ của “Người Nga nhỏ” khỏi nước Nga. Năm 1863 và 1876, hai sắc lệnh cấm in ấn các tác phẩm viết bằng tiếng Ukraina, cấm các trường học tiếng Ukraina, các buổi trình diễn sân khấu và các bài diễn thuyết.

Những đổi mới của thập niên 1860 đã tạo điều kiện để hiện đại hóa nhà nước và xã hội với việc giải phóng nông nô, đổi mới tư pháp và đô thị và sự ra đời của các đơn vị tự quản. Nền kinh tế của Đế chế Nga phát triển nhanh chóng, xã hội cũng thay đổi theo. Tranh chấp với sự phát triển này là hệ thống chính trị cứng nhắc: Nga vẫn là một chính sách chuyên chế do Nga hoàng thống trị với quyền lực vô biên, không có hiến pháp, quốc hội, các đảng phái chính trị, tự do tạp chí và tự do tụ họp. Các dân tộc thiểu số và nhất là người Ukraine thậm chí còn ít quyền hơn so với người Nga.

Trong nửa sau của thế kỷ 19, các trào lưu đối lập tự do và xã hội chủ nghĩa tăng trưởng mạnh mẽ trong Đế chế Nga hoàng. Trào lưu đó cũng tác động đến Ukraine, nhưng các nhà lãnh đạo của họ thường là người Nga, người Ukraine theo Nga và người Do Thái. Đỉnh điểm của họ là cuộc cách mạng năm 1905, đã gây ra các cuộc nổi dậy của nông dân và các cuộc bãi công của công nhân lực nghiệp ở Ukraine, cũng như các cuộc tấn công chống lại người Do Thái. Chính sách cũ đang trên đà sụp đổ và Sa hoàng Nicholas II buộc phải nhượng bộ. Hiến pháp được công bố, quốc hội được thành lập, các đảng phái chính trị được phép thành lập, và căng thẳng so với các nhóm dân tộc thiểu số và tôn giáo giảm bớt. Tuy nhiên, sự độc tôn quyền lực của Sa hoàng vẫn còn nguyên, và sau một vài năm, chính trị thực tiễn khởi đầu xuất hiện. Ngày tàn của đế chế Sa hoàng đã được đếm: vào tháng 2 năm 1917, đế chế sụp đổ.

Tây Ukraine trong Chính sách quân chủ Habsburg

Trở lại thế kỷ trước, với sự phân tách trước nhất của Ba Lan vào năm 1772, Galicia, phần lớn là người Ukraine, nằm dưới sự thống trị của Áo. Ottoman Bukovina tiếp theo năm 1775. Transcarpathia, từng là một phần của Vương quốc Hungary từ thời Trung cổ, cũng thuộc chính sách quân chủ Habsburg. Mặc dù những khu vực này chỉ chiếm một phần nhỏ của Ukraine với khoảng 1/8 dân số vào ngưỡng cửa 1900, Galicia nói riêng đã đóng một vai trò trọng yếu trong thế kỷ 19 và 20. So với Galicia, sự thống trị của Áo – vốn đã mở cửa với phương Tây như một phần của Công quốc Galicia-Volhynia và là khu vực duy nhất của Ukraine trực thuộc Vương quốc Ba Lan kể từ thế kỷ 14 – có nghĩa là sự tăng cường hơn nữa đặc tính Trung Âu của nó. Galicia, phần phía đông của đất hoàng triều cùng tên, Bắc Bukovina và Transcarpathia là những khu vực duy nhất bên ngoài Đế quốc Nga có người Ukraine sinh sống và họ cũng không phải là một phần của Liên Xô cho đến năm 1939/45, mà là Ba Lan, Romania và Hungary.

Các thời kỳ trọng yếu trong quá trình phương Tây hóa của Galicia và Bukovina là những đổi mới của hoàng thượng Habsburg Joseph II vào cuối thế kỷ 18, cuộc cách mạng năm 1848 cuối cùng đã giải phóng nông dân, đi kèm với những đổi mới chính trị vào thập niên 1860. Sự ra đời của hiến pháp, hệ thống nghị viện và các phép tắc của nhà nước pháp quyền, sự cho phép thành lập các hiệp hội, đảng phái chính trị và tạp chí tự do, cũng như sự giải phóng của người Do Thái, những người đặc biệt đông ở đây, đã tạo ra một nền chính trị xã hội vốn dĩ rất khác biệt so với ở Nga. Tuy nhiên, ngay trong chính sách quân chủ Habsburg, hoàng đế vẫn giữ quyền lực tối cao.

Trái ngược với người Ukraina của Đế chế Nga hoàng, người Ukraina, được gọi là Ruthenians ở Áo, được thừa nhận là một quốc tịch tách biệt và tiếng Ukraina là ngôn từ hành chính và trong trường học. Nhà thờ Thống nhất thịnh hành ở đây (ngoại trừ Chính thống giáo Bukovina) đã trở thành nhà thờ quốc gia của người Ruthenians với tư cách là Nhà thờ Đạo công giáo Hy Lạp, và các giáo sĩ của nó là những nhà hoạt động chính của trào lưu quốc gia. Tầng lớp thượng lưu ở vương quốc Galicia đa số là giới quý tộc Ba Lan, những người có thể mở rộng vị trí đặc quyền của mình nhờ quyền tự trị được cấp vào năm 1867 và là những người thống trị đời sống xã hội và chính trị. Do đó, các cuộc xung đột giữa người Ruthenians và người Ba Lan đã định hình nên đời sống chính trị của vương quốc Galicia. Galicia, Bukovina và Zakarpattia là những vùng nông nghiệp với nền công nghiệp kém phát triển. Một ngoại lệ là sản xuất dầu ở miền tây Galicia, nơi có thời điểm là nhà sản xuất dầu lớn thứ ba toàn cầu. Đại đa số người Ukraine là nông dân nghèo, và 60% trong số họ mù chữ.

Phần 2 : Từ cuối thế kỷ 19 đến 1991 

Giới thiệu: So với Ukraine, thời gian từ cuối thế kỷ 19 đến 1991 là một thời kỳ lịch sử vô cùng quyết liệt với nhiều biến cố đau thương, nhưng cuối cùng cũng kết thúc bằng một quốc gia độc lập có chủ quyền cho đến ngày hôm nay. Trước hết là tranh đấu để có một nền độc lập ngắn ngủi sau thế chiến Ι, rồi trở thành Cộng hòa Xô viết, rồi nạn đói diệt chủng do Stalin gây ra với 3 triệu người chết, rồi hàng triệu người bị lưu đày vào GULAG, rồi Thế chiến II với 7 triệu người tử vong dưới sự chiếm đóng khắc nghiệt của Đức quốc xã. Chưa kể 2 triệu người bị lưu đày đến Đức làm lao động cưỡng chế. Chưa kể những nỗ lực của Nga để xóa sổ văn hóa, xóa sổ tiếng nói, đồng hóa giới tinh hoa Ukraine. Vì thế, khi họ giành được độc lập năm 1991, nền độc lập non trẻ này là vật báu mà không một người Ukraine chịu buông ra. Hoàn cảnh này giúp tất cả chúng ta hiểu được vì sao ngày nay Ukraine kiên định chống lại trận chiến xâm lược của Nga bằng mọi thủ đoạn.   

***

Giống như nhiều dân tộc châu Âu khác, người Ukraine không có truyền thống liên tục về nhà nước, về giới tinh hoa và văn hóa cao. Tầng lớp quý tộc và văn hóa Ukraine tạo dựng dưới thời Hetmanate đã trải qua thời kỳ Nga hóa ngày càng tăng trưởng trong Đế chế Nga hoàng. Chỉ một số thành viên của tầng lớp thượng lưu Cossack trước đó vẫn giữ được lòng yêu nước, nhờ này mà trào lưu quốc gia của thế kỷ 19 có thể tiếp thụ. Nhưng về cơ bản, chỉ có nông dân Ukraine mới lưu giữ được ngôn từ và ký ức lịch sử của họ. Những đại diện trước nhất của trào lưu dân tộc Ukraine, những người được gọi là những người đánh thức dân tộc, xuất hiện ở vùng Tây Ukraine và tại Đại học Kharkiv vào cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19, do đó đa số tập trung vào việc thu thập văn học dân gian và các nguồn tài liệu lịch sử, viết các tác phẩm văn học và lịch sử trước nhất, và sáng tạo ra một ngôn từ Ukraina.

Trong thời kỳ thứ hai của trào lưu quốc gia, trọng tâm chuyển về Kyiv, nơi một trường đại học (nói tiếng Nga) được thành lập vào năm 1834. Một nhóm nhỏ trí thức, gọi là Hội huynh đệ Thánh Cyril và Methodius, họ gặp nhau tại đó vào giữa những năm 1840 để xây dựng các mục tiêu. Nhà sử học Mykola Kostomarow (1817–1885) đã viết một quyển sách mô tả một bức tranh lãng mạn về tương lai của Ukraine, nhưng chí ít cũng là lần trước nhất họ mang ra các mục tiêu chính trị.

Thi sĩ Taras Schewtschenko

Liên hệ với vòng huynh đệ có nhà thơ trẻ Taras Shevchenko (1814–1861), một cựu nông nô đã viết trường thi và làm thơ bằng tiếng Ukraina, hát đề cao nhân dân Ukraina nhưng cũng giãi bày sự chỉ trích so với nước Nga Sa hoàng. Do có người chỉ điểm, các thành viên của vòng huynh đệ bị tóm gọn, bị kết án tù và đày đi xa. Bản án khắc nghiệt nhất nhắm vào Shevchenko, người đã sống gần một thập kỷ làm lính ở Kazakhstan. Một thời gian ngắn sau thời điểm trở về nước Nga Châu Âu, ông tử vong tại St. Petersburg. Shevchenko nhanh chóng trở thành nhà thơ dân tộc Ukraine, và với cuộc sống và tác phẩm của mình, đã trở thành một thần thoại đoàn kết người dân Ukraine cho đến ngày nay.

Vào đầu thập niên 1860, các vòng nhỏ thân hữu lại tạo dựng ở Kyiv, St.Petersburg và các tp khác, xuất bản tác phẩm tiếng Ukraina và thành lập các trường dạy tiếng Ukraina vào ngày chủ nhật. Một lần nữa chính phủ lại phản ứng gay gắt. Người ta thấy có mối liên hệ với cuộc nổi dậy của người Ba Lan năm 1863 và sai bảo cấm in các tác phẩm bằng tiếng Ukraine. Điều này được lặp lại vào năm 1876 khi các nhóm quốc gia được thành lập trở lại. Theo sau các cuộc đàn áp, vốn gây trở ngại đáng kể cho trào lưu quốc gia của người Ukraine ở Nga, trọng tâm của trào lưu chuyển sang vùng Galicia của Áo.

Chuyển đến Galicia

Dưới những điều kiện thuận tiện hơn ở Galicia, các nhà hoạt động quốc gia, trước tiên là những người thuộc hàng ngũ giáo sĩ Đạo công giáo Hy Lạp, sau này là trí thức trẻ – bao gồm cả những người Ukraine nhập cư từ Nga – đã thành lập các hiệp hội, câu lạc bộ đọc sách, hợp tác xã và đảng phái chính trị. Họ xây dựng các chương trình quốc gia và thông dụng trên các tạp chí định kỳ, qua đó đã kêu gọi nhiều phòng ban của tầng lớp nông dân. Các đại biểu Ukraine đã được bầu vào quốc hội bang Galicia và Hội đồng Đế chế ở Vienna. Hai nhân vật hàng đầu ở Galicia là Ivan Franko (1856-1916), nhà thơ thứ hai có tầm vóc quốc gia, cũng là người theo chủ nghĩa xã hội cực đoan, và Mykhailo Hrushevsky (1866-1934), từng học ở Kyiv, được bổ nhiệm làm giáo sư lịch sử tại Đại học Lwiw và trở thành nhà sử học Ukraina danh giá nhất. Nữ văn sĩ Olha Kobylyanska (1863–1942), sống ở Bukovina, có thể được xem như là nhà nữ quyền Ukraine trước nhất.

Hai nhánh của trào lưu dân tộc Ukraine chịu ràng buộc lẫn nhau và xích lại gần nhau hơn. Ở Nga cũng vậy, các đảng trái phép trước nhất xuất hiện vào cuối thế kỷ 19, đa số là theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Xu hướng chủ nghĩa hiện đại trổ tài rõ trong văn học Ukraine, mà ấn tượng nhất được trổ tài trong tác phẩm của nhà thơ Lesja Ukrainka (1871–1913). Quá trình phát triển tự do sau cuộc cách mạng 1905 cho phép việc thành lập các đảng phái chính trị, hiệp hội và hợp tác xã theo mô hình Galicia, và xuất bản tạp chí bằng tiếng Ukraina. Quốc hội được triệu tập vào năm 1906 có sự tham gia của 63 đại biểu Ukraine, những người đã có thể thành lập khối liên minh của riêng mình. Do hậu quả của sự đình trệ kéo dài và phản ứng chính trị khởi đầu trở lại vào năm 1907, vốn có đặc trưng của chủ nghĩa dân tộc Nga, trào lưu quần chúng quốc gia Ukraine khó có thể tự thành lập trong Đế quốc Nga, khác với tình trạng ở Galicia. Trào lưu chỉ được thành lập sau thời điểm Đế chế Nga hoàng sụp đổ.

Chiến tranh, Cách mạng và Cộng hòa Nhân dân Ukraine

Trong Chiến tranh toàn cầu thứ nhất, người Ukraine đã đấu tranh trong quân đội cả hai phe Áo-Hung và Nga. Chiến tranh dẫn theo sự sụp đổ của cả hai đế chế. Vào tháng 2 năm 1917, một cuộc cách mạng đã quét sạch Sa hoàng. Một tuần sau, một đơn vị do Hrushevsky chủ trì, được đặt theo tên của mô hình Cossack là Rada Trung tâm, đã gặp mặt ở Kyiv và vào tháng 6, họ yêu cầu quyền tự trị cho Ukraine. Trong năm 1917, một cuộc cách mạng nông dân đã diễn ra ở Ukraine và nông dân tịch thu các vùng đất của giới quý tộc. Vào tháng 10, những người Bolshevik lên nắm chính quyền, thành lập chính quyền Xô Viết ở Kharkiv và chuẩn bị chinh phục Kyiv. Sau đó, vào ngày 12 tháng 1 năm 1918, Rada tuyên bố độc lập và thành lập Cộng hòa Nhân dân Ukraine.

Vào tháng 2 và tháng 3 năm 1918, quân đội Đức và Áo-Hung chiếm đóng Ukraine và thành lập chính phủ dưới quyền của Pavlo Skoropadskyj (1873–1945) ở Kyiv. Nhiệm vụ chính của nhà nước, được gọi là Hetmanate, là phân phối ngũ cốc cho Đức và Áo-Hung. Tuy nhiên, chính sách bảo thủ không được lòng dân. Trong hiệp ước hòa bình Brest-Litovsk, chính phủ Liên Xô phải thừa nhận nền độc lập của Ukraine. Sau sự thất bại của các cường quốc phe trục, Cộng hòa Nhân dân Ukraine một lần nữa được thông báo tại Kyiv, được điều hành bởi một hội đồng quản trị trong đó nhà dân chủ xã hội ôn hòa Symon Petlyura (1879–1926) được xem là người có nhiều tác động nhất. Hầu hết song song, một nước Cộng hòa Nhân dân Tây Ukraine tuyên bố độc lập, nhưng không thể chống lại quân đội Ba Lan, thành ra Galicia, và thêm nữa là phía tây Volhynia, trở thành một phần của Cộng hòa Ba Lan. Đồng thời, quân Romania chiếm Bukovina, quân Tiệp Khắc chiếm Carpatho-Ukraine.

Chính quyền Cộng hòa Nhân dân Ukraine khởi đầu xây dựng một quốc gia dân tộc, nhưng tình hình quân sự rất cập kênh và họ không khi nào có thể kiểm tra được toàn thể Ukraine và tranh thủ được đồng minh. Chính phủ Liên Xô không còn thừa nhận nền độc lập của Ukraine, và Hồng quân đã sở hữu đóng Kyiv nhiều lần vào những năm 1919 và 1920. Các đội quân “da trắng” phản cách mạng, được ủng hộ bởi phe đồng minh phương Tây (Entente), đã tìm cách tái lập Đế quốc Nga và tỏ ra thù địch với Cộng hòa Nhân dân Ukraine. Anton Denikin (1872–1947), một vị tướng “da trắng”, đã thiết lập chính sách độc tài quân sự ở miền Nam và miền Đông Ukraine và tạm thời chiếm đóng Kyiv vào mùa hè năm 1919.

Chính phủ Cộng hòa Nhân dân ngày càng mất kiểm tra; tình trạng hỗn loạn và vô chính phủ lan rộng. Các nhóm nông dân nổi loạn và quân lính từ quân đội Da trắng và Ukraine đã sát hại hơn 4.000 người Do Thái vào năm 1919 và 1920. Chính trị gia vô chính phủ Nestor Makhno (1888–1934) thành lập một chính phủ tự trị tạm thời ở miền Nam Ukraine. Cuộc nội chiến bùng phát và Hồng quân thắng lợi trong trận chiến đẫm máu đó. Họ chiếm các khu vực trung tâm của Ukraine và tổ chức lại thành một cộng hòa thuộc Liên Xô.

Nhà nước-quốc gia của những năm 1918-1920, dù ngắn ngủi, vẫn chiếm một vị trí trọng yếu trong lịch sử dân tộc. Ukraine ngày nay sử dụng các biểu tượng của thời kỳ đó, tiền tệ (hryvnia), lá cờ màu xanh-vàng và quốc ca. Cuộc trải nghiệm thất bại vì đối thủ mạnh hơn nhiều, nhưng cũng vì những nhược điểm bên trong của chính mình. Quốc gia Ukraine vẫn chưa được củng cố. Tại các tp và khu vực công nghiệp đa số nói tiếng Nga, những người Bolshevik có rất nhiều người ủng hộ. Thất vọng với phòng ban lãnh đạo và suy sụp vì chiến tranh kéo dài, những người nông dân Ukraine cuối cùng đã nhìn thấy sự tồi tệ bên trong sức mạnh của Liên Xô. Không giống như nhiều dân tộc châu Âu khác, người Ukraine đã thất bại trong việc thiết lập một quốc gia ổn định sau Chiến tranh toàn cầu thứ nhất.

Ukraina hóa, nạn đói và khủng bố: Cộng hòa Xô Viết Ukraina cho đến năm 1939

Sau thời điểm kết thúc cuộc nội chiến với hiệp ước hòa bình Riga năm 1921 với Ba Lan và củng cố quyền thống trị của Nga, những người Bolshevik đã xây dựng nhà nước Xô Viết. Họ tái cấu trúc Liên bang Xô viết, vốn được chính thức tuyên bố vào năm 1922, theo các tiêu chuẩn ngôn từ và dân tộc. Theo đó, Cộng hòa Xô viết Ukraina bao gồm các vùng lãnh thổ với đa số dân cư là người Ukraina. Mặc dù quyền lực của nó vẫn còn hạn chế và phải phục tùng sự thống trị của đảng, nó là cốt lõi của nhà nước-quốc gia ngày nay. Trái ngược với Đế chế Nga hoàng, người Ukraine được thừa nhận là một quốc gia tách biệt trong Liên bang Xô viết. Sự vươn lên của những người Ukraine vốn trung thành với giới tinh hoa Xô Viết được xúc tiến trong hệ thống đảng và nhà nước. Tiếng Ukraina đã trở thành ngôn từ hành chính và trong trường học; quyết sách Ukraina hóa được thực hiện vào thập niên 1920 đã củng cố ngôn từ và văn hóa Ukraina.

Chủ nghĩa Stalin

Tuy nhiên, Joseph Stalin, người đã tự xác lập mình là người kế nhiệm của Lenin sau thời điểm ông tử vong, đã sớm thực hiện một sự thay đổi trong quyết sách quốc tịch. Các nước cộng hòa thuộc Liên Xô bị kiểm tra chặt chẽ hơn, và sự ủng hộ giành cho tiếng Ukraine dần dần bị rút lại để chuyển sang tiếng Nga. Tương tự như đế chế Nga hoàng, một phòng ban lớn người Ukraine, vốn dĩ đã vươn lên trở thành một phần của tầng lớp thượng lưu đô thị, phải chịu sự Nga hóa một phần nào đó, và tiếng Ukraine trở lại là một ngôn từ phụ mang tính chất tỉnh lẻ.

Trong các cuộc “thanh trừng” vào thập niên 1930, giới tinh hoa mới bị giảm sút mạnh; người Ukraine và người Ba Lan sống ở Ukraine chiếm tỷ lệ to hơn trong số các nạn nhân của khủng bố Stalin so với người Nga. Điều này khởi đầu với cuộc đàn áp những người được xem là theo chủ nghĩa dân tộc tư sản và cứ thế tiếp tục với “Cuộc khủng bố lớn” năm 1937/38. Trong thời kỳ cầm quyền của Stalin, hàng triệu người Ukraine đã bị đày tới những trại tập trung GULAG, trong đó tối thiểu 500.000 người đã thiệt mạng.

Một quyết sách hiện đại hóa với bạo lực khởi đầu vào cuối thập niên 1920. Công nghiệp hóa cưỡng dâm cùng với quá trình đô thị hóa và xóa nạn mù chữ đã biến Ukraine thành một xã hội công nghiệp hiện đại. Trái lại với thời kì của các Sa hoàng, người Ukraine đã tham gia vào quá trình này, nhưng không thể lấp đầy khoảng cách với người Nga và cuối cùng Ukraine vẫn còn dấu ấn của xã hội nông dân. Nghề công nghiệp nặng của miền Đông Ukraine tiếp tục được mở rộng. Trong số các dự án mới đầy tham vọng, nổi trội nhất là việc xây dựng nhà máy điện Dnepr khổng lồ.

Tập thể hóa cưỡng dâm và nạn đói diệt chủng (Holodomor)

Đồng thời, quá trình tập thể hoá nông nghiệp đã được cưỡng dâm đẩy mạnh trong vòng một vài năm. Stalin muốn kiểm tra nông dân và tăng sản lượng ngũ cốc để nuôi dân tp và tài trợ cho quá trình công nghiệp hóa thông qua xuất khẩu. Đất canh tác bị quốc hữu hóa và nông dân trở thành công nhân nông nghiệp trong các nông trường tập thể. Nhiều nông dân Ukraine đã chống lại các biện pháp cưỡng chế này, trong đó nhiều người bị sát hại hoặc bị lưu đày, những người được gọi là Kulaks. Nhà nước thi hành một cách tàn nhẫn việc cưỡng dâm giao nộp ngũ cốc và cướp đi kho dự trữ và hạt giống ngũ cốc của nông dân. Kết quả là một nạn đói kinh khủng đã giết chết khoảng 3 triệu nông dân Ukraine vào những năm 1932-33. Mặc dù nạn đói cũng hoành hành ở các khu vực khác của Liên Xô, nhưng hơn một nửa tổng số nạn nhân là người Ukraine. Theo thống kê, số lượng người gốc Ukraine ở Liên Xô giảm từ 32 xuống 28 triệu người trong thời kỳ 1926-1939, trong lúc số lượng người gốc Nga tăng từ 78 lên 100 triệu người so với cùng thời kỳ.

Hình: Nạn đói diệt chủng năm 1932/1933 dưới thời Stalin

Cho đến nay, việc giải thích nguyên nhân nạn đói vẫn còn gây tranh cãi. Ở Liên Xô, điều ấy bị giấu kín. Stalin gọi nạn đói này là chuyện hoang đường, và phải đến cuối thập niên 1980, bức màn lặng im mới được vén lên. Các nhà sử học tán thành rằng nạn đói là do Stalin gây ra. Nhưng thắc mắc còn tranh cãi là, có phải ông ta muốn tấn công Ukraine theo cách đặc biệt hay không. Đa số các nhà sử học hiện tại đều cho rằng quyết sách đáng ngờ của Stalin so với những nông dân Ukraine chết đói là đặc biệt tàn nhẫn, điều đó giải thích cho những chết chóc ở Ukraine với tỉ lệ cao hơn ở Nga. Trong nước Ukraine độc ​​lập, Holodomor (chết đói) đã trở thành biến cố trọng yếu nhất để tưởng nhớ lịch sử đau thương của dân tộc. Nó chính thức được gọi tên là tội ác diệt chủng so với người dân Ukraine; việc phủ nhận nó sẽ bị pháp luật trừng trị. Ngày nay, Holodomor cũng là đề tài của các cuộc tranh cãi lịch sử chính trị giữa Ukraine và Nga.

Xem Thêm  Hướng Dẫn Cài Đặt Và Cách Sử Dụng Hamachi Chơi Minecraft Bằng Hamachi (Kèm Ảnh) - cách dùng hamachi

Miền Tây Ukraine trong thời kỳ chiến tranh

Sau Thế chiến thứ nhất, trong lúc phần lớn Ukraine bị sát nhập vào Liên Xô, Bukovina rơi vào tay Romania, Transcarpathia thuộc về Tiệp Khắc và Galicia, khu vực lớn nhất và trọng yếu nhất, cũng như phía tây Volhynia thuộc về Ba Lan. Ở quốc gia Ba Lan, người Ukraine không được thừa nhận là một quốc gia độc lập và phải tuân theo quyết sách thực dân hóa. Những người Ukraina ở Galicia, những người đã có kinh nghiệm chính trị trong thời kỳ Áo, đã phấn đấu chống lại chính trị Ba Lan bằng các biện pháp hòa bình với sự trợ giúp của các đảng phái, hiệp hội của họ và nhà thờ quốc gia Đạo công giáo Hy Lạp.

Các nhóm khác, ví dụ như Tổ chức Quân sự Ukraine (UVO) và Tổ chức những người theo chủ nghĩa dân tộc Ukraine (OUN), đã chọn cách phản kháng bạo lực và ám sát các chính trị gia hàng đầu của Ba Lan. Chính phủ Ba Lan đền đáp bằng các đòn trả đũa và bắt giữ các thủ lĩnh khu vực của OUN, trong số đó có Stepan Bandera trẻ tuổi (1909-1959). OUN tán thành một chủ nghĩa dân tộc rất cực đoan, như thuở đó khá thịnh hành ở hầu như các nước Trung và Đông Âu, đồng thời thu hút được một lượng lớn thanh niên Ukraine ở Galicia.

Ukraine trong Thế chiến II

Ukraine là một trong những chiến trường đẫm máu rộng lớn của Thế chiến II, đã mang lại cho dân tộc này nổi thống khổ khôn lường. Tổng cộng, từ 6,5 đến 7,5 triệu dân cư đã chết, tức là hơn 1/5 tổng số dân, với thương vong của thường dân cao gần gấp đôi so với quân lính.

Sau hiệp ước không-tấn-công giữa Hitler và Stalin, quân đội Liên Xô đã sở hữu đóng miền đông Ba Lan vào mùa thu năm 1939, bao gồm cả miền đông Galicia và miền tây Volhynia. Vào mùa hè năm 1940, Romania bị Liên Xô buộc phải nhượng lại phía bắc Bukovina cho Liên Xô. Người ta khởi đầu thống nhất các khu vực mới vào Liên Xô. Giới tinh hoa cũ, đa số là người Ba Lan ở Galicia, bị lưu đày.

Hợp tác ở miền Tây Ukraine

Việc Đức xâm lược Liên Xô dẫn theo hệ quả là, vào tháng 11 năm 1941, toàn thể Ukraine đã bị quân Đức và Romania (ở phía tây nam) chiếm đóng. Một phòng ban người dân miền tây Ukraine kỳ vọng tình hình của họ sẽ được cải tổ. OUN đã phấn đấu nắm bắt thời cơ để thành lập một nhà nước Ukraine độc ​​lập bằng cách liên minh với Đức Quốc xã. Theo quan niệm của các plan của người Đức về “khu vực phía Đông” và ý thức hệ “giống dân thượng đẳng” chống lại người Slav, nỗ lực của OUN sẽ không khi nào thành công. Tuy nhiên, các nhóm OUN ở miền tây Ukraine đã hợp tác với lực lượng chiếm đóng và cũng tham gia vào việc sát hại người Do Thái. Sau đó, Sư đoàn SS “Galicia” đấu tranh bên phe quân đội Đức. Trong chiến tranh, các thành viên của OUN đã thành lập Quân đội Kháng chiến Ukraine (UPA), đi đầu một trận đấu tranh vũ trang chống lại Liên Xô, nhưng cũng sử dụng bạo lực chống lại những người định cư Ba Lan ở phía tây Volhynia và Galicia. Hàng chục nghìn người đã thiệt mạng. UPA tiếp tục tiến hành chiến tranh du kích chống lại quyền lực của Liên Xô cho đến đầu những năm 1950.

Quyết sách chiếm đóng của Đức và tiêu diệt người Do Thái

Quyết sách chiếm đóng của Đức làm nhanh chóng tiêu tan kỳ vọng thành lập một nhà nước Ukraine. Ukraine được giao cho vai trò là một thuộc địa bị khai thác vì lợi nhuận kinh tế thời chiến của Đức. Erich Koch, Thanh tra Đế chế phụ trách Ukraine, cắt nghĩa vào tháng 8 năm 1942: “Không có cái gọi là Ukraine tự do. Mục đích của chúng ta là, Ukraine phải làm việc cho chúng ta, chứ không phải chúng ta tìm kiếm hạnh phúc cho dân tộc này. Ukraine phải cung cấp những gì chúng ta thiếu. Nhiệm vụ này phải được thực hiện mà không quan tâm đến tổn thất […]. Yếu tố quyết định đến thái độ của chúng tôi trong Hội đồng Thanh tra là quan điểm căn bản rằng, chúng ta đang đối xử với một dân tộc kém hơn về mọi mặt […] Trình độ học vấn của người Ukraine phải được giữ ở mức thấp […] Cũng phải thực hiện mọi chuyện để hủy diệt tỷ lệ sinh đẻ của khu vực này. Quốc trưởng đã lên kế hoạch cho các biện pháp đặc biệt này”.

Hơn hai triệu người Ukraine đã bị lưu đày tới Đức Quốc xã để lao động cưỡng chế. Hàng trăm nghìn người Ukraine đã chết trong các trại tù binh. Hầu như toàn bộ những người Do Thái Ukraine, vốn không thể chạy trốn vào nội địa của Liên Xô, đã bị giết một cách có hệ thống bởi lực lượng SS và các đội sát nhân khác. Việc sát hại hơn 30.000 người Do Thái trong khe núi Babyn Yar ở Kyiv vào ngày 29 và 30 tháng 9 năm 1941 đã trở thành một biểu tượng. Đại đa số dân chúng Ukraine không hề hợp tác với quân Đức và hứng chịu rất nhiều đau thương. Hàng triệu người Ukraine đã đấu tranh trong hàng ngũ Hồng quân chống lại Đức. 

Sau thời điểm lực lượng Liên Xô tái chinh phục toàn thể Ukraine từ tháng 8 năm 1943 (Kharkiv) đến tháng 10 năm 1944 (Transcarpathia), toàn bộ các khu vực sinh sống của người Ukraine được thống nhất thành một nhà nước, Cộng hòa Xô viết Ukraine. Do đó, các khu vực phía tây Ukraine lần trước nhất trở thành một phần của quốc gia do Nga thống trị. Điều này chính thức được đề cao là “sự thống nhất” của người dân Ukraine. Trong khuôn khổ của “thanh lọc sắc tộc”, hầu như người Ba Lan đã được tái định cư trở về Ba Lan và 500.000 người Ukraine từ Ba Lan trở lại Ukraine. Khoảng 200.000 người miền Tây Ukraine, vốn bị Nga xem là không đáng tin cậy về mặt chính trị, đã bị lưu đày đến Siberia.

Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại hay Chiến tranh giải phóng chống Liên Xô?

Chiến tranh toàn cầu thứ hai hiện giờ là một trong những chiến trường lớn của ký ức chính trị. “Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại”, tức thắng lợi của Liên Xô trước Đức Quốc xã, là thần thoại quốc gia trọng yếu nhất ở Nga, thu hút hầu hết toàn thể người dân. Trái lại, một số phòng ban người dân miền Tây Ukraine coi Thế chiến II là trận chiến tranh giải phóng chống Liên Xô. Các nhà lãnh đạo của nó, ví dụ như Bandera, được xem là người hùng. Đây là thời cơ để guồng máy tuyên truyền Nga hạ nhục chính phủ hiện đại Ukraine, vốn được thiết lập vào năm 2014, là “phát xít”. Tuy nhiên, quan niệm này không thu được sự ủng hộ của phần đông người dân Ukraine, mà là ký ức về sự giải phóng người Ukraine, người Nga và các dân tộc Liên Xô khác khỏi chính sách Quốc xã.

Từ cuối chủ nghĩa Stalin đến độc lập: Ukraina thuộc Liên Xô 1945-1991

Trong Thế chiến II, Ukraine bị tàn phá gần hết. Chính phủ đề ra nhiệm vụ trọng yếu nhất sau này là tái thiết các tp và công nghiệp nặng, trong lúc sản xuất hàng tiêu dùng và nông nghiệp bị xếp vào thứ yếu. Người dân, vốn đã bị tàn phá bởi chiến tranh, tiếp tục sống trong cảnh nghèo khổ kinh khủng. Giờ đây, trật tự Xô Viết cuối cùng đã được thiết lập ở các khu vực phía Tây Ukraine. Ở đó, nông nghiệp cũng được tập thể hóa, công nghiệp và hệ thống trường dạy tiếng Ukraina được thành lập. Năm 1946, Giáo hội Đạo công giáo Hy Lạp bị ép buộc phải giải thể, nó chỉ tồn tại trong vòng bí mật và trong tình trạng cư trú tạm bợ.

Chống Stalin hóa và cuộc “thanh trừng” mới

Sau chết chóc của Stalin năm 1953, lãnh đạo đảng mới, Nikita Khrushchev (1894–1971), người từng là Bí thư thứ nhất của Đảng Cộng sản Ukraine trong gần mười năm, tiếp tục quyết sách của thập niên 1920. Người Ukraine giờ đây đã đại diện mạnh mẽ hơn trong các đơn vị nhà nước và đảng, đồng thời cũng vươn lên các vị trí lãnh đạo. Việc trừ khử một phần ý thức hệ Stalin đã làm giảm bớt căng thẳng chính trị và trả tự do cho hầu như các tù nhân. Việc mở rộng chính sách phúc lợi, xúc tiến nghề công nghiệp hàng tiêu dùng và nhượng bộ cho tầng lớp nông dân tập thể dần dần dẫn theo mức sống cao hơn.

Ngành nghề văn hóa cũng phát triển nhiều hơn, và giới trí thức ngày càng vận động mạnh mẽ để nâng giá trị của ngôn từ Ukraine. Những nỗ lực này đã được tăng cường trong thập niên 1960 và thậm chí còn được sự ủng hộ của lãnh đạo đảng cộng sản Ukraina lúc này là Petro Schelest (1908-1996). Vì vậy, vào đầu thập niên 1970, ông đã bị khiển trách công khai về quyết sách này và bị sa thải. Dưới thời người kế nhiệm ông, Volodymyr Shcherbytskyi (1918–1990), một cuộc “thanh trừng” khởi đầu xảy ra giữa các đảng viên và giới trí thức. Đồng thời, xu thế Nga hóa trong các trường học và các ấn phẩm tăng trưởng trở lại. Người dân ở các tp Ukraine lúc đó đa số nói tiếng Nga, và tiếng Ukraine chỉ có thể tự đứng vững ở vùng nông thôn và miền Tây Ukraine.

Sự Nga hóa tiếp tục tăng trưởng là một động lực trọng yếu làm cho phe đối lập có thời cơ cất cao tiếng nói ở Ukraine kể từ thập niên 1960. Này là các thành viên của giới trí thức thành thị, những người đặc biệt đứng vững dưới căng thẳng Nga hóa. Họ là những người muốn cải tổ tình trạng của tiếng Ukraine và chống lại quan niệm thống trị của trường phái lịch sử theo Nga. Những mối quan tâm về văn hóa này ngày càng được kết phù hợp với những đòi hỏi chính trị về dân chủ và nhân quyền. Mặc dù đây chỉ là những nhóm nhỏ, nhưng chính quyền nhà nước đã thẳng tay đàn áp phe đối lập, nhiều thành viên của họ bị tóm gọn và bị kết án tù khổ sai.

Perestroika và trào lưu độc lập

Sau thời điểm Mikhail Gorbachev khởi xướng trào lưu đổi mới Perestroika của Liên Xô vào năm 1985, ở Ukraine vẫn có rất ít thay đổi trong thời gian đầu. Lãnh đạo Đảng Schcherbytzkyj vẫn tại vị cho đến năm 1989. Tuy nhiên, thảm họa ở nhà máy điện hạt nhân Chernobyl ở phía bắc Kyiv đã tạm thời kêu gọi lực lượng rộng rãi hơn kể từ đầu năm 1986. Chỉ khi hệ thống Xô Viết khởi đầu lung lay vào cuối thập niên 1980, các trào lưu đối lập chính trị mới xuất hiện công khai. Ban đầu họ tới từ miền Tây Ukraine, nơi Giáo hội Đạo công giáo Hy Lạp được phép hoạt động trở lại. Năm 1989, các nhóm đối lập khác nhau đã tập hợp lại thành một “Phong trào Nhân dân” (Ruch), do cựu tù nhân chính trị Vyacheslav Chornovil (1937–1999) quản lý tịch. Trào lưu Nhân dân đã tổ chức một chuỗi người gồm hơn 400.000 người nối tay nhau từ Kyiv đến Lwiw vào năm sau. Trong cuộc bầu cử tự do trước nhất vào tháng 3 năm 1990, một liên minh do Trào lưu Nhân dân lãnh đạo đã giành được khoảng một phần tư số phiếu so với 70 phần trăm cho những người cộng sản.

Ngày 8/12/1991, các nguyên thủ quốc gia ɭ. Kravtschuk (Ukraine, thứ 2 từ trái sang), Ş. Schushkevich (Belarus, thứ 3 từ trái sang) và Ɓ. Yeltsin (Nga, thứ 2 từ phải sang) quyết định giải thể Liên Xô. (© Ria Nowosti / Getty Images)

 

Trào lưu đối lập lúc này đang dần dần chuyển thành trào lưu độc lập dân tộc. Họ được đi đầu bởi các đại diện của đảng cộng sản do Leonid Kravchuk lãnh đạo, người được bầu quản lý tịch quốc hội. Cùng với hầu như các nước cộng hòa khác thuộc Liên Xô, Cộng hòa Ukraine tuyên bố chủ quyền vào tháng 7 năm 1990 và vào ngày 24 tháng 8 năm 1991, họ tuyên bố độc lập và rời Liên Xô sau cuộc đảo chính thất bại của các lực lượng phản động ở Moscow. Trong cuộc trưng cầu dân ý vào ngày 1 tháng 12 năm 1991, 90 phần trăm dân số bỏ phiếu ủng hộ nền độc lập và đồng thời bầu Kravchuk làm Tổng thống Ukraine với tỷ lệ 61 phần trăm phiếu thuận; đối thủ của ông ta là Tschornowil được 23 phần trăm. Vài ngày sau, Tổng thống Nga Boris Yeltsin, cùng với Tổng thống Belarus Stanislau Shushkevich và Ukraine quyết định giải thể Liên Xô. Chính Kravchuk là người đã đạo diễn hoàn hảo cho biến cố lịch sử mang tầm vóc toàn thị trường quốc tế này.

Phần 3 : Quốc gia độc ​​lập  

Hình: Ba nguyên thủ ký thỏa ước giải thể Liên Xô

Năm 1991 Ukraine giành độc lập. Trong những thập kỷ sau đó, quốc gia này phấn đấu củng cố chính trị và kinh tế cũng như tạo mối quan hệ rộng rãi với các nước láng giềng EU và Nga. Trong cuộc Cách mạng Cam năm 2004, những xung đột nội bộ trong xã hội được bộc lộ rõ ràng.

Thời kỳ trước Euro-Majdan và sự can thiệp vũ trang của Nga.

Một nhà nước Ukraina độc lập đã tồn tại từ tháng 12 năm 1991. Nó có diện tích 603.628 km vuông, trở thành quốc gia lớn thứ hai ở châu Âu sau Nga. Lãnh thổ của nó giống hệt lãnh thổ của Cộng hòa Xô viết Ukraina và có biên giới với Nga, Belarus, Ba Lan, Slovakia, Hungary, Romania và Moldova.

Ukraine là một nước cộng hòa tổng thống theo chính sách nghị viện. Nó được chia thành 24 khu vực về mặt hành chính, Cộng hòa tự trị Crimea có một qui chế đặc biệt riêng.

Ukraine có dân số 45,4 triệu người vào năm 2014. Năm 1991 là 51,7 triệu. Sự sụt giảm dân số hơn 11 phần trăm này đa số là do tỷ lệ sinh sản rất thấp và tỷ lệ tử vong cao so với các nước Tây Âu. Tuổi thọ trung bình giảm từ 72 xuống 68 tuổi trong thời kỳ hậu Xô Viết; năm 2012 là 63 so với nam và 74 so với nữ.

Các nhóm dân tộc và ngôn từ

Nhóm dân tộc lớn nhất vào năm 2001 là người Ukraine với 77,8%, tiếp theo là người Nga với 17,3%. Mặt khác, ở các vùng Donetsk và Luhansk, người Nga chiếm 40% dân số, và ở Crimea thậm chí là 58%. Việc thu thập dữ liệu về nguồn gốc dân tộc được thực hiện theo mô hình chính thức ở Liên Xô, vốn không tồn tại ở hầu như các quốc gia khác. Nó không giống với tính chất ngôn từ. Khoảng một nửa dân số đa số sử dụng tiếng Ukraina, nửa còn sót lại là tiếng Nga sử dụng trong ngôn từ mỗi ngày. Hầu như mọi người nói cả hai ngôn từ, vì vậy Ukraine là một quốc gia song ngữ. Tiếng Ukraina là ngôn từ nhà nước duy nhất, nhưng tiếng Nga vẫn giữ vị trí thống trị ở các khu vực phía nam và phía đông cũng như các tp lớn, ngoại trừ phía Tây Ukraina.

Những vấn đề này đã trở nên nổi trội vào năm 2014, khi Nga biện minh cho sự can thiệp vũ trang của mình với nhu cầu bảo vệ “đồng bào” của mình khỏi “những kẻ phát xít” Kyiv theo chủ nghĩa dân tộc, những kẻ bị cho rằng đàn áp tiếng Nga và đàn áp dữ dội những người nói tiếng Nga. Những lập luận này không đứng vững, bởi vì không hề có vấn đề ngược đãi người nói tiếng Nga hoặc sự phân biệt đối xử so với tiếng Nga. Vào năm 2012, Quốc hội Ukraine đã thông qua luật cho phép mang ngôn từ trở thành chính thức trong khu vực, bao gồm cả tiếng Nga, nếu tỷ lệ người bản ngữ nói những ngôn từ này chiếm hơn mười phần trăm trong khu vực liên quan. Như vậy ở chín khu vực, tiếng Nga đã trở thành ngôn từ chính thức của khu vực, bên cạnh tiếng Ukraina. Năm 2014, việc phấn đấu huỷ bỏ luật này đã thất bại. Hơn nữa, mối liên hệ về dân tộc và ngôn từ không trùng khớp với xu thế chính trị. Đa số người gốc Nga và người Ukraine nói tiếng Nga là những công dân trung thành với quốc gia, và đa số người dân, theo toàn bộ các cuộc thăm dò, đều chống lại việc sáp nhập vào Nga.

Kinh tế và xã hội

Ukraine, vốn từ lâu mang tính chất nông thôn, giờ đây đã phát triển, có tỷ lệ đô thị hóa là 70%. Trái ngược với phía đông nghiêng về công nghiệp, phía Tây Ukraine vẫn phát triển mạnh về nông nghiệp. Thủ đô Kyiv có 2,81 triệu dân vào năm 2012, tiếp theo là Kharkiv (1,44 triệu), Odessa và Dnipropetrovsk (1,0 triệu mỗi nơi), Donetsk (955.000), Zaporizhia (773.000), Lwiw (Lwiw; 730.000) và chín tp khác với dân cư nhiều hơn 300.000.

Ukraine là quốc gia nghèo thứ hai ở châu Âu với tổng sản phẩm quốc nội (GDP) (đã được điều chỉnh theo sức mua – PPP) vào khoảng 7700 đô la Mỹ trên đầu người (2010). Nó chỉ đứng trước Moldova, nhưng rõ ràng là xếp sau Nga. Công nghiệp chiếm 31% GDP năm 2010, nông nghiệp chiếm 9% và dịch vụ chiếm 60%. Nghề công nghiệp trọng yếu nhất, như truyền thống hơn một trăm năm trước, là nghề công nghiệp nặng với trụ cột là khai thác than đá ở Donbas và khai thác quặng sắt ở lưu vực Dnepr từ Kryvyi Rih và các tp công nghiệp của Kharkiv, Dnipropetrovsk , Zaporizhia, Donetsk và Mariupol. Ngành nghề cốt lõi là sản xuất thép: Ukraine đứng thứ 8 trên toàn cầu; 80% thép được xuất khẩu, chiếm 40% tổng kim ngạch xuất khẩu. Thêm vào này là nghề công nghiệp máy móc và vũ khí, nghề công nghiệp hóa chất, nhất là sản xuất phân đạm. Công nghệ thông tin tỏ ra là phát triển rất năng động.

Các mặt hàng xuất khẩu trọng yếu khác là máy cất cánh, xe tăng và tên lửa. Đồng thời, nhu cầu của lực lượng vũ trang của chính họ lại bị lãng quên. Tiêu xài cho quân đội chỉ bằng khoảng 5% của Nga. Các partner thương mại nước ngoài trọng yếu nhất là Nga và Liên minh châu Âu với tỷ trọng gần bằng nhau. Trong ngành nghề năng lượng, Ukraine phụ thuộc vào khí đốt tự nhiên và nhập khẩu dầu từ Nga. Điều này khiến Moscow liên tục gây sức ép với Kyiv, đe dọa cắt nguồn phân phối khí đốt tự nhiên của Ukraine.

Nông nghiệp trở nên trọng yếu hơn so với thời kỳ Xô Viết. Ukraine là một trong những nước xuất khẩu lúa mì hàng đầu trên toàn cầu và một lần nữa nhất định danh tiếng là “vựa thóc của châu Âu”. Thêm vào này là nghề canh tác củ cải đường, ngô và hoa hướng dương.

Như ở hầu như các quốc gia hậu Xô Viết khác, nền kinh tế đã sụp đổ vào thập niên 1990, và vào cuối thập kỷ đó, tổng thu nhập quốc dân chỉ bằng 40% mức năm 1989 và mức lương trung bình hàng tháng chỉ là 67 euro. Một phòng ban đáng kể dân cư, nhất là người già, người tàn tật và thanh niên sống trong cảnh nghèo khổ và chịu nhiều khó khăn về mặt xã hội. Tuy nhiên, trong bảy năm đầu của thế kỷ 21, Ukraine đã trải qua sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ và những thiệt hại của những năm 1990 hầu hết đã được bù đắp.

Sau đó, vào năm 2008-2009, cuộc khủng hoảng tài chính toàn thị trường quốc tế đã tấn công toàn diện nền kinh tế Ukraine, GDP thực tiễn giảm 15% và sản xuất công nghiệp giảm 22%. Nền kinh tế sau đó đã phục hồi, mặc dù không đạt được mức như năm 2008. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đã cấp cho Ukraine các khoản vay lớn để đổi lấy việc nước này phải thực hiện các đổi mới sâu rộng như củng cố ngân sách, tăng giá khí đốt và nâng tuổi nghỉ hưu. Tuy nhiên, những việc này đã bị trì hoãn trong một thời gian dài và chỉ dần dần được thực hiện từ năm 2011 trở đi. Các nhà tài phiệt riêng rẽ đóng một vai trò trọng yếu trong kinh tế và chính trị. Người Ukraine giàu nhất là Rinat Akhmetov, người sở hữu một đế chế công nghiệp bao gồm luyện kim, hóa chất, sản xuất điện và truyền thông với Donbas là căn cứ trung tâm.

Mặc dù tiền lương hiện đã tăng trưởng, nhưng tình hình xã hội của nhiều phòng ban dân cư vẫn còn cập kênh. An sinh xã hội và dịch vụ y tế còn nhiều bất cập. Tham nhũng thông dụng và có mặt khắp nơi, được sử dụng như một “chất bôi trơn” trong kinh tế, công an, tư pháp, và thậm chí trong hệ thống y tế và giáo dục.

Trong nước Ukraine độc ​​lập, văn hóa tự giải thoát khỏi xiềng xích của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa. Văn học Ukraine nói riêng phát triển mạnh mẽ và lần trước nhất trong lịch sử, đã gây được tiếng vang ở nước ngoài. Các tác phẩm của Yuri Andrukhovych, Oksana Zabushko và Serhii Shadan đã được dịch ra nhiều thứ tiếng, cũng như các tiểu thuyết và truyện ngắn viết bằng tiếng Nga của Andrei Kurkov.

Sự phát triển chính trị từ năm 1991 đến năm 2013

Lúc ban đầu, nhà nước Ukraina độc lập phải thực hiện nhiệm vụ củng cố về đối ngoại. Quan hệ với các quốc gia láng giềng được quy định trong các hiệp định song phương, bao gồm cả quan hệ với Nga, qua đó một hiệp định hữu nghị đã được ký kết vào năm 1997, trong đó hai quốc gia đảm bảo sự vẹn toàn lãnh thổ của nhau. Ukraine đã từ bỏ vũ khí hạt nhân ngay từ năm 1994. Đổi lại, Mỹ, Anh và Nga cam kết tôn trọng chủ quyền của Ukraine. Ukraine là một thành viên của Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG) trong đó Nga có vai trò thống trị, nhưng cộng đồng này vẫn có tầm trọng yếu thứ yếu. Đồng thời, quan hệ hợp tác với phương Tây đã được tiến hành, khởi đầu bằng một trao đổi partner với EU được ký kết vào năm 1994 và được thu nhận vào Hội đồng Châu Âu một năm sau đó.

Xem Thêm  Top 33 phim zombie (xác sống) hay nhất mọi thời đại - xác sống

Hình: Trào lưu Euro-Majdan năm 2014

Về đối nội, quá trình tạo dựng nhà nước diễn ra. Trong gần 20 năm, sự ổn định chính trị đã đoạt được với các cuộc bầu cử nghiêm chỉnh cho quốc hội và tổng thống, cũng như tự do truyền thông được thừa nhận rộng rãi. Sự phát triển chính trị trong nước được định hình bởi sự kế vị của các tổng thống thông qua bầu cử. Tổng thống trước nhất Kravchuk (1991-1994) nổi lên như một người đại diện cho lợi nhuận quốc gia Ukraine. Theo sau ông là giám đốc công nghiệp Leonid Kuchma (1994-2004), người đã cải tổ quan hệ với Nga và mang ra các đổi mới kinh tế thị trường tự do. Về quyết sách đối ngoại, ông theo đuổi đường lối “đa phương” nhằm tạo khoảng cách đồng đẳng (công bình) với Nga và EU.

Trong nhiệm kỳ thứ hai của mình, ông đã thống trị theo phương thức ngày càng độc đoán, làm gây nên một trào lưu chống đối. Về người kế nhiệm, ông ủng hộ Viktor Yanukovych, cựu thủ tướng và thống đốc vùng Donetsk, người cũng được Nga ủng hộ. Mặt khác, đối thủ của ông, Viktor Yushchenko, cựu Chủ tịch Ngân hàng Quốc gia, lại ủng hộ dân chủ hóa và quay sang phương Tây. Đầu tháng 9 năm 2004, Yushchenko là nạn nhân của một vụ tấn công bình chất độc ngay trong thời kỳ tranh cử. Yanukovych đã giành thắng lợi trong vòng bầu cử cuối cùng ngày 21 tháng 11, nhưng kết quả rõ ràng là gian lận. Một trào lưu quần chúng tự phát đã nổi lên chống lại kết quả đó. Hàng trăm nghìn người đã đổ về Quảng trường Độc lập của Kiev, Majdan, trong điều gọi là Cách mạng Cam, và đạt được việc tổ chức lại cuộc bầu cử, qua đó Yushchenko đã giành thắng lợi.

Tuy nhiên, hai nhân vật chính của Cách mạng Cam, Tổng thống mới và Thủ tướng Yulia Tymoshenko của ông, đã nhanh chóng đánh mất uy tín chính trị khi vắt kiệt sức mình trong các cuộc tranh giành quyền lực thay vì tiến hành các đổi mới thiết yếu. Họ đã thu được sự trừng trị cho điều này trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2010, mà Yanukovych đã thắng sát sao Tymoshenko trong lần bỏ phiếu thứ hai. Trong cuộc bầu cử này và các cuộc bầu cử trước đó, phần lớn dân số ở miền đông và miền nam đã bỏ phiếu ủng hộ ứng cử viên có xu hướng thân Nga (Yanukovych), trong lúc đa số cử tri ở miền tây và trung tâm bỏ phiếu cho Yushchenko hoặc Tymoshenko thân phương Tây và các đảng của họ.

Tổng thống mới Yanukovych nhanh chóng mở rộng quyền lực, hạn chế các quyền dân chủ và đàn áp các đối thủ chính trị của mình, bao gồm cả Tymoshenko đã bị ông giam giữ. Ông ta cũng lợi dụng địa vị của mình để làm giàu cho bản thân và gia đình. Mối quan hệ với Nga, vốn đã xấu đi dưới thời Yushchenko, đã được cải tổ trở lại. Tổng thống Putin đã không thành công khi phấn đấu thuyết phục Ukraine tham gia Cộng đồng Kinh tế Á-Âu, được tạo ra để đối trọng với EU. Đồng thời, Yanukovych tiếp tục mang Ukraine xích lại gần hơn với Liên minh châu Âu. Sau các cuộc thương thảo kéo dài, một trao đổi link đã được phê duyệt vào năm 2012, và đúng ra sẽ được chính thức ký kết vào ngày 28/29 tháng 11 năm 2013 tại thủ đô Vilnius của Litva, nhưng một tuần trước ngày đó, chính phủ Ukraine, dưới căng thẳng của Nga, đã rút lại cam kết của mình. Điều này đã làm nảy sinh một trào lưu quần chúng mới, Euro Majdan.

Phần 4 :  Cách mạng Majdan và cuộc can thiệp vũ trang của Nga

Vào tháng 11 năm 2013, Tổng thống Yanukovych đã từ chối ký một hiệp định link với EU, mặc dù đã được phê duyệt trước đó một năm. Các cuộc biểu tình của nhiều phòng ban dân chúng đã dẫn theo sự thay đổi chính phủ với hậu quả là Nga đã sáp nhập Crimea bỏ mặc pháp luật quốc tế, ngấm ngầm ủng hộ lực lượng ly khai thân Nga ở phía Đông Ukraine.

 Sau thời điểm chính phủ Ukraine ngày 21/11/2013 tuyên bố sẽ không ký hiệp định link với EU, các cuộc biểu tình phản đối quyết định này đã nổ ra trên Quảng trường Độc lập (Majdan) của Kyiv vào tối cùng ngày. Các cuộc biểu tình nhanh chóng lan rộng: hàng chục nghìn người đã xuống đường vào ngày 24 tháng 11 và hàng trăm nghìn người vào ngày 1 và 8 tháng 12. Euro-Majdan là trào lưu xã hội dân sự quần chúng lớn nhất ở châu Âu kể từ cuộc cách mạng năm 1989.

Các nhà chức trách đã phản ứng với việc sử dụng tàn bạo lực lượng an ninh, và vì vậy, các cuộc biểu tình ôn hòa ban đầu dần trở nên cực đoan hơn. Cuộc biểu tình hiện giờ nói chung là chống lại Tổng thống Yanukovych với chính sách độc tài của ông ta và mang tính cách mạng. Các cuộc biểu tình lan sang các tp khác, đa số ở miền Tây Ukraine, trong lúc các cuộc biểu tình theo xu thế trái lại, với số lượng người thấp hơn, diễn ra ở miền Đông Ukraine. Trong mùa đông lạnh giá, hàng chục nghìn người đã ở lỳ tại Majdan ở Kyiv. Họ được người dân phân phối thực phẩm, trà nóng, chất đốt để sưởi và thuốc men.
Khi chính phủ không lùi bước mà thay vào đó công bố đạo luật nguy cấp, thì có một sự leo thang mới vào tháng 1 năm 2014, dẫn theo những chết chóc trước nhất vào cuối tháng đó. Các cuộc đụng độ vũ trang đạt đến đỉnh điểm vào ngày 19 và 20 tháng Hai. Sinh mạng của khoảng 100 người, trong đó có 16 công an, đã bị cướp đi. Trong số các nhà hoạt động Majdan cũng có các nhóm dân tộc chủ nghĩa như “Cánh hữu” tham gia. Kết quả của các sự kiện bạo lực là phe chính phủ bị thu hẹp tác động và phe đối lập giành được đa số trong quốc hội; Các nhà cung cấp công an, quân đội và một số ông trùm sung túc đứng về phía Majdan. Với sự trung gian của các ngoại trưởng Đức, Ba Lan và Pháp, một thỏa hiệp đã đoạt được giữa Yanukovych và các nhà lãnh đạo của ba đảng đối lập. Tuy nhiên, Majdan đã không chấp thuận thỏa hiệp này. Yanukovych sau đó bỏ cuộc và trốn sang Nga.

Quốc hội vốn được bầu vào năm 2010 nay chủ động, miễn nhiệm tổng thống và bầu Oleksandr Turchynov làm tổng thống lâm thời vào ngày 23 tháng 2 và Arseniy Yatsenyuk làm Tổng thống lâm thời vào ngày 27 tháng 2; và ngày 21 tháng 3 cử Arsenij Jazenjuk làm Thủ tướng để thành lập chính phủ lâm thời. Chính phủ này đã ký kết phần chính trị của hiệp định link với EU. Yêu cầu trung tâm của cuộc cách mạng dân chủ Euro-Majdan về cơ bản đã được thỏa mãn. Tuy nhiên, phần lớn người dân ở miền đông và miền nam không tham gia và tỏ thái độ chờ đợi.

Nga không chỉ lên án trao đổi link với EU mà còn cả Euro-Majdan và mô tả việc chuyển nhượng quyền lực ở Kyiv là một “cuộc đảo chính của một tập đoàn phát xít” và là một mưu mô của phương Tây nhằm chống lại Nga. Những luận cứ đó thực ra là vô căn cứ, nhưng chúng phản ánh sự ngờ vực của Tổng thống Putin so với EU và NATO, những cơ chế đã phấn đấu mở rộng tác động về phía đông tới các biên giới của Nga và đe dọa lợi nhuận an ninh của Nga. Có vẻ nguyên nhân quyết định cho sự can thiệp của Nga là sự lo sợ rằng, các sự kiện ở Majdan có thể trở thành gương mẫu cho phe đối lập trong nước, vốn đã tổ chức các cuộc biểu tình lớn chỉ hai năm trước đó. Do đó, vấn đề cần thiết là phải ngăn chặn sự thành công của Ukraine trong việc thiết lập một quốc gia dân chủ, nối liền với các giá trị châu Âu. Nga giả vờ tuyên bố rằng, họ phải bảo vệ “đồng bào” của mình ở Ukraine khỏi sự đàn áp của chính quyền mới ở Kyiv để xâm nhập vào Ukraine. Đây là nguyên nhân để biện minh cho một cuộc can thiệp vũ trang nhanh chóng leo thang thành một trận chiến tranh không tuyên chiến giữa Nga và Ukraine.

Thâu tóm Crimea

Mục tiêu trước nhất là Crimea, khu vực Ukraine duy nhất có đa số dân cư là người Nga, vốn trước đó là vùng đất của người Nga, nhưng đã được Liên Xô cho phép chính thức sáp nhập vào Cộng hòa Xô viết Ukraine vào năm 1954. Nga vẫn còn duy trì căn cứ hải quân Sevastopol ở Crimea. Cuối tháng 2/2014, những người lính không mang quốc hiệu đã sở hữu giữ quốc hội, tòa nhà chính phủ và sân cất cánh ở thủ phủ Simferopol. Chính phủ mới được thành lập vào ngày 6 tháng 3 thông báo rằng Crimea sẽ được sáp nhập vào Nga, điều đã được xác nhận trong một cuộc trưng cầu dân ý gây tranh cãi vào ngày 17 tháng 3. Liên bang Nga thừa nhận Crimea vào ngày 20 tháng 3 năm 2014.

Bằng cách sáp nhập Crimea, chính phủ Nga đã phá vỡ pháp luật quốc tế và một số trao đổi song phương và đa phương thừa nhận sự vẹn toàn lãnh thổ của Ukraine. Lần trước nhất kể từ Thế chiến thứ hai, một quốc gia châu Âu thâu tóm lãnh thổ của một quốc gia láng giềng. Cộng đồng quốc tế hầu hết nhất trí lên án hành động này, và Mỹ cũng như EU đã áp đặt các biện pháp trừng trị so với các cá nhân và công ty du học ở Crimea và Nga.

Sự can thiệp của Nga cũng mở rộng đến miền Đông Ukraine. Họ trợ giúp lực lượng dân quân ly khai với các thiết bị quân sự, các nhà cung cấp nhỏ quân đội và sĩ quan. Họ chiếm các tp trọng yếu nhất của Donbass và thiết lập một chính sách thống trị tùy tiện ở đó. Vào tháng 4, “các nước cộng hòa nhân dân có chủ quyền” Donetsk và Luhansk được công bố, và đã tuyên bố độc lập vào ngày 11 tháng 5 năm 2014 sau một cuộc trưng cầu dân ý không sáng tỏ. Trong số các thủ lĩnh phe ly khai có một số công dân Nga trước đó đã tham gia các tổ chức dân tộc chủ nghĩa.

Các cuộc biểu tình ủng hộ Nga cũng diễn ra ở Kharkiv, Dnepropetrovsk và các tp khác ở phía nam và phía đông quốc gia, nhưng ở đây công an Ukraine đã duy trì được quyền kiểm tra. Tại Odessa ngày 2/5, những người biểu tình thân Ukraine và thân Nga đã đụng độ, phóng hỏa một tòa nhà khiến hơn 40 nhà hoạt động thân Nga thiệt mạng.

Chiến tranh ở Donbass

Quân đội Ukraine, vốn được trang bị kém và thiếu kinh nghiệm đấu tranh, có rất ít khả năng chống lại lực lượng dân quân do Nga hậu thuẫn. Một “chiến dịch chống khủng bố” được phát động vào giữa tháng 4 năm 2014 cũng từng thất bại, mặc dù quân đội được tăng cường Vệ binh Quốc gia và các tiểu đoàn tự nguyện được thành lập từ một phần của các nhóm dân tộc chủ nghĩa.

Petro Poroshenko, một triệu phú và chính trị gia sung túc, đã giành thắng lợi trong cuộc bầu cử tổng thống vào ngày 25 tháng 5 trong trong vòng bầu cử trước nhất. Như vậy, Ukraine đã có một Tổng thống được bầu cử hợp pháp. Hai ngày sau, Ukraine ký hiệp định thương mại tự do với EU. Một cuộc tấn công quân sự đã thành công trong việc tái chiếm một số tp, bao gồm cả tp cảng Mariupol trên Biển Azov. Vào ngày 17 tháng 7, toàn bộ các thông tin hiện có đều cho rằng phe ly khai thân Nga đã bắn nhầm một máy cất cánh của hãng hàng không Malaysia Airlines, khiến toàn bộ 298 người trên máy cất cánh thiệt mạng.

Vào cuối tháng 7, quân đội Ukraine đã phát động một cuộc tấn công mới và tiến về Donetsk và Luhansk, các trung tâm của “Cộng hòa Nhân dân” tự xưng. Sự thất bại bị đe dọa của phe ly khai đã khiến Nga gửi thêm quân sĩ và thiết bị chiến tranh hạng nặng qua biên giới Ukraine mà không chính thức xác nhận điều này. Tình hình quân sự giờ đây đã thay đổi theo hướng có lợi cho phe ly khai, những người đã phong bế các nhà cung cấp to hơn của quân đội Ukraine gần Ilovaisk. Xe tăng Nga tiến vào bờ phía bắc của Biển Azov, làm dấy lên lo ngại ở phương Tây rằng một dải đất trên bộ sẽ được thiết lập giữa Donbass và Crimea. Điều đó được củng cố bởi thực tiễn là phe ly khai tự mô tả họ là những người đấu tranh cho “Nước Nga mới” – một thuật ngữ từ thời Nga hoàng để chỉ toàn thể miền Nam và miền Đông Ukraine.

Sự can thiệp quân sự của Nga đi kèm với tuyên truyền rằng, chính phủ Ukraine là phát xít và tay sai của phương Tây. Trận chiến được dàn dựng như một phần tiếp theo của “Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại” chống lại Đức Quốc xã. Thông tin sai lệch, bao gồm cả những lời nói dối hoàn toàn, liên tục được thông dụng trên truyền hình nhà nước. Đa số người dân Nga tin vào lời tuyên truyền này, và sự nổi tiếng của Putin đã tăng vọt lên trị số cao nhất. Thất bại quân sự buộc phía Ukraine phải thương thảo và một lệnh ngừng bắn đã được trao đổi tại Minsk vào ngày 3 tháng 9 năm 2014, do OSCE làm trung gian. Điều này tỏ ra mong manh ngay từ đầu, và giao tranh ác liệt tiếp tục nổ ra xung quanh sân cất cánh Donetsk.

Cuộc bầu cử Nghị viện Ukraine được tổ chức vào ngày 26 tháng 10 năm 2014, qua đó các lực lượng ủng hộ châu Âu đã giành thắng lợi rõ rệt. Các đảng xung quanh Tổng thống Poroshenko và Thủ tướng Yatsenyuk cùng giành được 203 trong số 317 ghế. Đảng Svoboda theo chủ nghĩa dân tộc, vốn đã ngạc nhiên giành được 10% số phiếu bầu trong cuộc bầu cử năm 2012, lần này không lọt vào quốc hội và không còn đại diện trong chính phủ. Đảng Dân túy cánh hữu của Oleh Lyashko đã phụ trách tối thiểu một phần vai trò của họ. Tuy nhiên, các cuộc bầu cử không thể được tổ chức ở hai “Cộng hòa Nhân dân” ở Donbass. Sau một tuần, cuộc bầu cử đã được lặp lại ở đó trong những điều kiện không bình thường.

Khi giao tranh ở Donbass leo thang trở lại, một lệnh ngừng bắn mới đã được tán thành tại Minsk vào ngày 12 tháng 2 năm 2015, dưới sự thương thảo trung gian của Thủ tướng Đức Angela Merkel và Tổng thống Pháp François Hollande, có hiệu lực vào ngày 15 tháng 2. Việc sáp nhập Crimea không được thảo luận, và vấn đề trọng tâm là kiểm tra biên giới Nga-Ukraine bị hoãn lại cho đến cuối năm 2015. Phe ly khai ban đầu tiếp tục các cuộc tấn công và giành được điểm trung chuyển đường tàu Debaltseve do quân đội Ukraine trấn giữ. Sau đó, lệnh ngừng bắn hầu như được tuân thủ, nhưng Donbass không khi nào yên tĩnh trở lại. Vào mùa hè, các trận chiến lại tiếp tục.

Triển vọng: Ukraine, Nga và Liên minh Châu Âu

 Nội chiến và sự can thiệp quân sự của Nga đã khiến Ukraine mất ổn định lâu dài và làm xấu đi mối quan hệ giữa EU và Nga. Nhà nước Ukraine đang đấu tranh vì sự sống còn của nền độc lập non trẻ, điều này chỉ có thể được đảm bảo nếu các nước láng giềng sẵn sàng giữ thế thăng bằng.

Tình hình ở Donbass vẫn còn mong manh. Nhà nước Ukraine bị mất ổn định lâu dài và mất quyền kiểm tra một phần đáng kể lãnh thổ của mình. Nền kinh tế bị tàn phá và hơn 6.000 người đã thiệt mạng do hậu quả của các cuộc giao tranh. Hơn một triệu người Ukraine đã phải rời bỏ nhà cửa của họ. Phần lớn các vùng của Donbass đã bị phá hủy và tình hình nhân đạo đã và đang vô cùng thảm khốc.

Trận chiến ở miền đông Ukraine đã củng cố vị trí quyền lực của Putin, nó kích hoạt tình đoàn kết yêu nước trong xã hội Nga và tối thiểu là vào lúc này, ngăn chặn rủi ro nước Nga bị “lây nhiễm” bởi hiệu ứng Majdan. Mặt khác, các phản ứng của Liên minh châu Âu và Mỹ đã cô lập Nga trên bình diện quốc tế và làm suy yếu nước này về mặt kinh tế. Tuy nhiên, sự thống nhất vẫn mong manh và Moscow đang phấn đấu chia rẽ EU một cách có hệ thống.

Mục tiêu của chính phủ Nga trong việc sử dụng biện pháp can thiệp vũ trang để ngăn Ukraine quan hệ trở lại với EU không đạt được. Trái lại, trận chiến do Nga áp đặt đã tăng trưởng xu thế theo phương Tây của quốc gia và nâng cao sự gắn kết của người dân trong quốc gia song ngữ Ukraine. Điều này đã được trổ tài rõ ràng qua kết quả của cuộc bầu cử tổng thống và quốc hội năm 2014.

Tuy nhiên, một phòng ban đáng kể người dân ở phía đông và nam quốc gia vẫn hoài nghi về trào lưu Euro-Majdan và việc Ukraine tiến tới EU. Ở đây, thiên hướng về ngôn từ và văn hóa Nga cũng như quá khứ của Liên Xô được thông dụng rộng rãi. Nhưng điều đó không có nghĩa là đa số ủng hộ sự ly khai cho khu vực của họ, hoặc thậm chí liên minh với Nga. Tuy nhiên, chính phủ Ukraine cảm thấy phải quan tâm nhiều hơn đến nhu cầu của người dân miền Đông và miền Nam Ukraine để họ hòa nhập vĩnh viễn vào quốc gia thống nhất. Những đổi mới nguy cấp cần được thực hiện: Phi tập trung hóa, tăng cường nhà nước pháp quyền, chống tham nhũng, kiểm tra giới đầu sỏ sung túc và chỉnh đốn nền kinh tế.

Chiến tranh Nga-Ukraine đã khiến quan hệ giữa người Nga và người Ukraine xấu đi nhanh chóng. Tuyên truyền của Nga đã mang lại hiệu quả trong các phòng ban người gốc Nga ở phía đông quốc gia. Rạn nứt đã được mở ra, đôi lúc ngay cả trong nhà, sẽ không đơn giản được hàn gắn trở lại – một kịch bản làm gợi nhớ đến những cuộc xung đột thời hậu Nam Tư.

Trong nhiều thế kỷ, Ukraine đã bị kẹt giữa Nga và phần còn sót lại của châu Âu, có lúc thì link chặt chẽ với phương Tây và lúc khác lại chặt chẽ hơn với Nga. Bất kể kết quả của cuộc xung đột hiện tại như vậy nào, tình hình địa chính trị này vẫn sẽ là một điều bất biến trong lịch sử Ukraine. Về trung hạn, phải tìm kiếm một sự thăng bằng với Nga mà toàn bộ các bên liên quan đều có thể chấp thuận.Tuy nhiên, để đạt đến điều này, Moscow phải nhượng bộ, từ bỏ sự can thiệp quân sự và thừa nhận Ukraine là một partner đồng đẳng, một quốc gia độc lập tự chủ.

./.

Tác giả: Giáo sư Andreas Kappeler là Chuyên Viên về Lịch sử Đông Âu tại Đại học Vienna và thành viên của Viện Hàn lâm Khoa học Áo và Ukraina. Trung tâm phân tích của ông là lịch sử của Đế chế Nga và Ukraine.

Nguồn:

https://www.bpb.de/shop/zeitschriften/izpb/info-aktuell/209820/die-majdan-revolution-und-das-bewaffnete-eingreifen-russlands/

https://www.bpb.de/shop/zeitschriften/izpb/info-aktuell/209821/ausblick-die-ukraine-russland-und-die-europaeische-union/

Loạt biên khảo này được biên soạn vào năm 2015, lúc chưa có trận chiến tranh trực tiếp hiện tại giữa Nga và Ukraine (2022). Một dịp khác, chúng tôi sẽ bổ sung thêm thời kỳ 2014-2022.

Chia sẻ:

Thích bài này:

Thích

Đang tải…


Xem thêm những thông tin liên quan đến đề tài thế kỷ 18

Thế Kỷ 18 Pháp Đã Mang “Nàng Tiên Nâu” Vào Ru Ngủ VN Ta Như Thế Nào

  • Tác giả: Việt Sử Giai Thoại
  • Ngày đăng: 2018-05-22
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 8093 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Thế Kỷ 18 Pháp Đã Mang “Nàng Tiên Nâu” Vào Ru Ngủ VN Ta Như Thế Nào
    Vào những năm 1869 của thế kỷ 18, ở thời pháp thuộc, dân VN ta đã được Pháp ru ngủ bằng “ Nàng Tiên Nâu”. Hãy cũng xem lại đoạn đường nàng tiên nâu vào Vn và phát triển như vậy nào nhé

Sự ra đời của chủ nghĩa tư bản trong thế kỷ 18

  • Tác giả: kmacle.duytan.edu.vn
  • Nhận xét: 3 ⭐ ( 3482 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: This is CMS DTU

Lịch sử việt nam cuối thế kỉ 18 đầu thế kỉ 19

  • Tác giả: aloanhoi.com
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 4135 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Lịch sử việt nam cuối thế kỉ 18 đầu thế kỉ 19 Lịch sử việt nam cuối thế kỉ 18 đầu thế kỉ 19 Chính sách phong kiến bộc lộ dấu hiệu của sự suy yếu

Chương III: Việt Nam Từ Thế Kỉ XVI Đến Thế Kỉ XVIII

  • Tác giả: hoc247.net
  • Nhận xét: 3 ⭐ ( 8563 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm:

Thời Trang Phục Châu Âu Thế Kỷ 18, Lịch Sử Quần Áo: Trang Phục Thế Kỷ 18

  • Tác giả: zipit.vn
  • Nhận xét: 5 ⭐ ( 9670 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Ở châu Âu, vào đầu thế kỷ XVIII là khởi điểm của thời kì Khai sáng (Enlightenment) khi người ta cho rằng chính lý trí và khoa học (chứ không phải tôn giáo)

Bài 23. Kinh tế, văn hóa thế kỉ XVI – XVIII

  • Tác giả: hoc24.vn
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 5448 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Bài 23. Kinh tế, văn hóa thế kỉ XVI – XVIII, môn Lịch sử, lớp 7

Thế kỷ 18

  • Tác giả: nld.com.vn
  • Nhận xét: 3 ⭐ ( 7860 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: THẾ KỶ 18 – Báo Người Lao Động update tin tức, hình ảnh, Clip thời sự trong nước, quốc tế Mới & Nóng nhất về đề tài THE KY 18

Xem thêm các nội dung khác thuộc thể loại: Khám Phá Khoa Học

By ads_law