Bạn đang xem: lý thường kiệt là ai

Mục Lục [Thu / Mở]

  • Thân thế
  • Dưới triều Thái Tông và Thánh Tông
  • Phụ chính Lý Nhân Tông
  • Ủng hộ Nguyên phi Ỷ Lan
  • Chiến tranh với Tống
  • Tiên phát chế nhân
  • Phòng thủ sông Như Nguyệt
  • Chiến tranh với Chiêm Thành
  • Khai quốc công
  • Cuối đời
  • Bài thơ Nam quốc sơn hà
  • Bản gốc
  • Nhận định
  • Xem thêm
  • Tham khảo
  • Chú thích

Tượng Lý Thường Kiệt trong Đại Nam Quốc Tự

Lý Thường Kiệt1 (chữ Hán: 李常傑; 1019 – 1105) là nhà quân sự, nhà chính trị thời nhà Lý nước Đại Việt, làm quan qua 3 triều vua Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông và Lý Nhân Tông. Ông nổi trội với việc chinh phạt Chiêm Thành (1069), đánh phá 3 châu Khâm, Ung, Liêm nước Tống (1075-1076), rồi hạ gục cuộc xâm lược Đại Việt của quân Tống do Quách Quỳ, Triệu Tiết lãnh đạo (1077). Ông đã làm tể tướng hai lần dưới thời Lý Nhân Tông và là một trong 3 người phụ chính khi vua này còn nhỏ tuổi. Năm 2013, Bộ Văn hóa, Thể và Du lịch liệt ông vào trong những 14 vị người hùng dân tộc tiêu biểu nhất trong lịch sử Việt Nam.

Thân thế

Thông tin thông dụng hiện tại, dựa trên (đến nay vẫn không rõ nguồn gốc uy tín của phả hệ này[]), nguyên danh của ông là Ngô Tuấn (吳俊), biểu tự Thường Kiệt (常傑), sau được ban quốc tính nên có tên là Lý Thường Kiệt. Ông là con của Sùng Tiết tướng quân Ngô An Ngữ, cháu của Ngô Ích Vệ, chắt của sứ quân Ngô Xương Xí và cháu 5 đời của Thiên Sách Vương Ngô Xương Ngập – hoàng tử trưởng của Ngô Quyền2 , người phường Thái Hòa, thành Thăng Long (Hà Nội ngày nay).

Xem thêm: Lý thường kiệt là ai

Tuy vậy, bia (lập năm 1100) và bia (lập năm 1159) thì Lý Thường Kiệt vốn họ Quách, tên Tuấn, biểu tự Thường Kiệt, quê ông là làng An Xá, huyện Quảng Đức (Cơ Xá, huyện Gia Lâm ngày nay). Cha ông làm Thái úy đời Lý Thái Tông, có hai tên khác nhau, theo chép là Thái úy Quách Thạch Ích, còn thì chép là Thái úy Quách Thịnh Dật, quê ở huyện Câu Lậu, Tế Giang (nay thuộc huyện Mỹ Văn, Hưng Yên), được ngọc hoàng ban quốc tính, vì mới có tên là Lý Thường Kiệt. Theo văn bia của Thái úy đời Lý Anh Tông là Đỗ Anh Vũ, thì cha của Anh Vũ gọi Lý Thường Kiệt là cậu ruột3 . Sử sách Trung Quốc thường chép tên ông là Lý Thường Cát hoặc Lý Thượng Cát4 . Trong nhà ông có một người em trên tên Lý Thường Hiến (李常憲), có vẻ như anh, là biểu tự chứ không phải tên thực, thông lệ từ xưa thì biểu tự có ý nghĩa tương đồng hoặc trái nghĩa với tên thực, và dùng để gọi bên ngoài như một hiểu hiện của sự lịch sự, chỉ có trong nhà mới gọi tên thực.

Theo nhận xét của , nhà của ông nối đời làm quan, trú ở phường Thái Hòa của thành Thăng Long. Từ nhỏ Lý Thường Kiệt đã tỏ ra người có chí hướng và nghị lực, chăm học tập, tập luyện cả văn lẫn võ, từng phân tích về binh pháp5 .

Giới thiệu sách

Việt Quốc Công Lý Thường Kiệt

La Sơn Phu Tử

Lê Văn Duyệt – Từ Nấm Mồ Oan Khuất Đến Lăng Ông (Tái Bản 2017)

Dưới triều Thái Tông và Thánh Tông

Cơ Xá Linh Từ – đền thờ Lý Thường Kiệt – ở phố Nguyễn Huy Tụ phường Bạch Đằng (đất làng Cơ Xá cũ) quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.

Năm 1041, Lý Thường Kiệt còn ít tuổi, vì vẻ mặt tươi đẹp được sung làm Hoàng môn chi hậu – chức thái giám theo hầu Lý Thái Tông.

Trong mười hai năm làm nội thị trong triều, danh tiếng của Lý Thường Kiệt ngày càng nổi. Năm 1053, ông được thăng dần đến chức khi 35 tuổi.

Năm 1054, Thái tử Lý Nhật Tôn kế vị, sử gọi là Lý Thánh Tông. Thánh Tông phong ông chức Bổng hành quân hiệu uý. Ông thường ngày ở cạnh vua, thường can gián. Vì có công lao, ông được thăng làm Kiểm hiệu thái bảo.

Năm 1061, người Mường ở biên giới quấy rối. Lý Thánh Tông sai ông làm Kinh phỏng sứ vào thanh tra vùng Thanh Hóa, Nghệ An, được toàn quyền hành sự. Ông phủ dụ dân chúng, lấy được lòng người. Toàn bộ năm châu 6 huyện, 3 nguồn, 24 động đều quy phục.

Tháng hai năm 1069, ông theo vua Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành. Lý Thường Kiệt làm tiên phong tiên phong, truy bắt được vua Chiêm là Chế Củ. Cuối cùng Chế Củ phải chịu hàng, dâng 3 châu để được tha về nước.

Phụ chính Lý Nhân Tông

Ủng hộ Nguyên phi Ỷ Lan

Năm 1072, Lý Thánh Tông tạ thế. Thái tử Càn Đức mới bảy tuổi lên ngôi, sử gọi là Lý Nhân Tông. Thái sư Lý Đạo Thành (李道成) tôn Hoàng hậu Dương thị làm Thượng Dương hoàng thái hậu (上楊皇太后), buông rèm cùng nghe chính sự. Mẹ đẻ của Nhân Tông là Thái phi Ỷ Lan không được dự vào việc triều đình, bèn dựa vào Lý Thường Kiệt để nắm lấy quyền nhiếp chính. Lý Thường Kiệt khi đó làm Thái uý, chức vụ ở dưới Lý Đạo Thành.

Tháng 6, năm 1072, tức là 4 tháng sau thời điểm Nhân Tông lên ngôi, Nhân Tông ra chỉ phế truất Thượng Dương thái hậu, giam Thái hậu cùng bảy mươi hai thị nữ trong lãnh cung và bắt chôn theo Thánh Tông. Có thể thấy, ngoài thúc đẩy của Ỷ Lan ở bên trong với Nhân Tông, có sự vai trò của võ tướng Lý Thường Kiệt.

Sau đó Lý Đạo Thành bị giáng chức làm tả gián nghị đại phu, ra trấn thủ Nghệ An. Ỷ Lan được tôn làm Hoàng thái hậu, buông rèm nhiếp chính, điều khiển chính sự. Theo ý kiến của Hoàng Xuân Hãn, việc xử chết Dương thái hậu và giáng chức Đạo Thành, một mình Ỷ Lan không thể thực hiện mà có vai trò của Lý Thường Kiệt, người nắm quân đội trong tay, trong lúc Lý Đạo Thành vốn là quan văn và tuổi tác đã cao6 .

Từ đó Lý Thường Kiệt giữ vai trò phụ chính trong triều đình Đại Việt.

Chiến tranh với Tống

Tiên phát chế nhân

Năm 1075, Vương An Thạch cầm quyền chính nhà Tống, tâu với vua Tống là Đại Việt bị Chiêm Thành đánh phá, quân còn sót lại không đầy vạn người, có thể dùng kế chiếm lấy được. Vua Tống sai Thẩm Khởi, và Lưu Di làm tri Quế Châu ngầm dấy binh người Man động, đóng thuyền bè, tập thủy chiến, cấm các châu huyện không được mua bán với Đại Việt.

Thái hậu Ỷ Lan biết tin, sai ông và Tôn Đản đem hơn 100.000 quân đi đánh. Quân bộ gồm 60.000 người do các tướng Tôn Đản, Thân Cảnh Phúc7 , Lưu Kỷ, Hoàng Kim Mãn, Vi Thủ An lãnh đạo, tổng lãnh đạo là Tôn Đản. Bộ binh tập trung ngay ở các châu Quảng Nguyên, Môn (Đông Khê), Quang Lang, Tô Mậu rồi tràn sang đánh các trại Vĩnh Bình, Thái Bình, Hoành Sơn, châu Tây Bình, Lộc Châu. Một cánh quân khác đóng gần biên giới Khâm châu cũng kéo tới đánh các trại Như Hồng, Như Tích và Đề Trạo, “quân ta tới đâu như vào nhà trống không người”8 .

Xem Thêm  Hệ tiêu hóa ở người - hệ tiêu hóa ở người

Lý Thường Kiệt lãnh đạo 40.000 quân thủy cùng voi chiến đi đường thủy từ châu Vĩnh An (Quảng Ninh) đổ bộ lên đánh các châu Khâm, Liêm; Tông Đản vây châu Ung. Ngày 30 tháng 12 năm 1075, quân Đại Việt tiến chiếm thành Khâm Châu, bắt toàn thể quan quân nhà Tống mà không phải giao chiến một trận nào. Ba ngày sau, 2 tháng 1 năm 1076, Liêm Châu cũng thất thủ9 .

Khi được tin hai châu Khâm, Liêm đã mất, nhà Tống rất sợ hãi, lo ngại, các tướng ở địa phương bối rối. Ty kinh lược Quảng Nam tây lộ vội vàng xin viện binh: 20.000 quân, 3.000 con ngựa, xin thêm khí giới, đồ vật và một tháng lương, và xin được điều động các dân khê động, toàn bộ lấy dọc đường từ Kinh châu đến Quảng Tây. Để điều khiển quân được mau chóng, ty ấy cũng xin dời đến thành Tượng, gần phía bắc Ung Châu10 .

Trong lúc bối rối, triều đình Tống ứng phó rất lúng túng. Vua Tống miễn nhiệm Lưu Di và sai Thạch Giám thay coi Quế Châu và làm kinh lược sứ Quảng Tây.

Trên các mặt trận, quân Đại Việt hoàn toàn quản lý. Lý Thường Kiệt cho đạo quân ở Khâm và Liêm Châu tiến lên phía Bắc. Đạo đổ bộ ở Khâm Châu kéo thẳng lên Ung Châu. Đường thẳng dài chừng 120 cây số, nhưng phải qua dãy núi Thập Vạn. Còn đạo đổ bộ ở Liêm Châu tiến sang phía đông bắc, chiếm lấy Bạch Châu, hình như để chặn quân tiếp viện của Tống từ phía đông tới. Hẹn ngày 18 tháng 1 năm 1076, hai đạo quân sẽ cùng hội lại vây chặt lấy Ung Châu.

Ung Châu là một thành lũy vững chắc, do tướng Tô Giám cùng với 2.800 quân kiên quyết cố thủ.

Đô giám Quảng Tây nhà Tống là Trương Thủ Tiết đem quân đến cứu. Lý Thường Kiệt đón đánh ở cửa ải Côn Lôn (nay thuộc tp Nam Ninh, khu tự trị Quảng Tây) phá tan được, chém Trương Thủ Tiết tại trận.

Tham khảo: Nhị Lang Thần Dương Tiễn

Tri châu Ung là Tô Giám cố thủ không hàng. Quân Đại Việt đánh đến hơn 40 ngày. Sau cùng quân Việt dùng hỏa công, bắn các chất cháy như nhựa thông vào thành, trong thành thiếu nước, không thể chữa được cháy. Cuối cùng quân Đại Việt bắt dân Tống chồng bao đất cao đến hàng trượng để họ trèo lên thành. Ngày thứ 42, thành bị hạ, tướng lãnh đạo Tô Giám tự thiêu để khỏi rơi vào tay quân Đại Việt11 . Người trong thành không chịu hàng, nên bị giết hết hơn 58.000 người, cộng với số người chết ở các châu Khâm, Liêm thì đến hơn 100.00011 , tuy nhiên quân Đại Việt cũng tổn thất đến 10.000 người và nhiều voi chiến10 .

Lý Thường Kiệt làm cỏ xong thành Ung, lại lấy đá lấp sông ngăn cứu viện rồi đem quân lên phía Bắc lấy Tân Châu. Viên quan coi Tân Châu, nghe thấy quân Đại Việt kéo gần đến thành, liền bỏ thành chạy trốn12 . Mục tiêu hoàn thiện, Lý Thường Kiệt cho rút quân về.

Lý Thường Kiệt bắt sống người ba châu ấy đem về nước. Nhà Lý cho những người phương bắc đó vào khai phá vùng Hoan – Ái (Thanh – Nghệ).

Phòng thủ sông Như Nguyệt

Do tiền đồn ở Ung châu là căn cứ tập trung quân để nam tiến bị phá tan, nhà Tống phải điều động thêm nhân lực và lương thảo để thực hiện chiến tranh với Đại Việt.

Tháng 3 năm 1076, nhà Tống sai tuyên phủ sứ Quảng Nam là Quách Quỳ làm chiêu thảo sứ, Triệu Tiết làm phó, đem quân 9 tướng, hẹn với Chiêm Thành và Chân Lạp sang xâm lấn Đại Việt, nhưng quân Chiêm Thành và Chân Lạp không dám tiến vào Đại Việt13 . Quân Tống viễn chinh lên đến 10 vạn quân, một vạn ngựa và hai mươi vạn dân phu, khí thế rất mạnh mẽ, nhất là kỵ binh Tống, nhưng quân Tống muốn phát huy kỵ binh thì phải làm sao qua khỏi vùng hiểm trở, tới chỗ bằng, thì ngựa mới tung hoành được.

Tuyến phòng thủ của quân Đại Việt, Lý Thường Kiệt dựa vào sông núi, các đèo hiểm trở, các sông rộng và sâu. Từ trại Vĩnh Bình vào châu Lạng, phải qua dãy núi rậm, có đèo Quyết Lý, ở trên đường từ tỉnh Lạng Sơn đến Đông Mô ngày nay, vào khoảng làng Nhân Lý, ở phía bắc châu Ôn. Rồi lại phải qua dãy núi lèn (đá không phá đất), đá đứng như tường, ở giữa có đường đi rất hiểm: này là ải Giáp Khẩu, tức là ải Chi Lăng, ở phía bắc huyện Hữu Lũng thuộc Lạng Sơn ngày nay. Về đường thủy, để chặn địch qua sông, quân Nam chỉ cần đóng thuyền ở bến Lục Đầu thì đi đường nào cũng rất tiện và chóng10 .

Các tướng lĩnh thuộc Man Động như: Nùng Quang Lãm, Nùng Thịnh Đức coi ải Hà Nội, Hoàng Kim Mãn và Sầm Khánh Tân giữ châu Môn, Vi Thủ An giữ châu Tô Mậu, Lưu Kỷ coi Quảng Nguyên khi quân Tống sang đã đầu hàng10 . Duy có phò mã Thân Cảnh Phúc giữ châu Quang Lang (Lạng Sơn) không những không chịu hàng mà còn rút vào rừng đánh du kích, giết rất nhiều quân Tống. Những tướng lĩnh này trước kéo quân qua đất Tống, đánh rất giỏi. Nhưng sau quân Tống tràn sang đánh báo thù, lúc đầu họ cự chiến, sau vì thất trận và vì sự dụ dỗ, nên đã đầu hàng, thậm chí như Hoàng Kim Mẫn còn chỉ đường bày mưu cho Tống. Sách Quế Hải Chí kể: “Viên tri châu Quang Lang là phò mã, bị thua, bèn trốn vào trong rừng Động Giáp, rồi du kích hậu phương quân Tống. Rình lúc bất ngờ đánh úp quân địch làm chúng rất sợ hãi”10 .

Quân Tống tràn xuống, theo đường tắt qua dãy núi Đâu Đỉnh, tới phía tây bờ sông Phú Lương; trong lúc đó, một cánh quân tách ra, vòng sang phía đông đánh bọc hậu quân Nam ở Giáp Khẩu (Chi Lăng) và thẳng tới sông Cầu.

ngọc hoàng Lý Nhân Tông sai Lý Thường Kiệt đem quân đón đánh, lập chiến lũy sông Như Nguyệt để chặn quân Tống. Sông Cầu từ địa phận Cao Bằng chảy đến Lục Đầu, phù hợp với sông Bạch Đằng. Từ Lục Đầu ra đến biển, là một cái hào tự nhiên sâu và rộng, chở che cho đồng bằng nước Việt để chống lại toàn bộ mọi cuộc ngoại xâm đường bộ từ Lưỡng Quảng kéo vào. So với đường sá từ châu Ung tới Thăng Long, thì sông Bạch Đằng không can hệ, vì đã có sông Lục Đầu, là cái hào ngăn trước rồi. Trái lại, sông Cầu rất trọng yếu. Thượng lưu sông Cầu qua vùng rừng núi rất hiểm. Chỉ có khoảng từ Thái Nguyên trở xuống là có thể qua đơn giản, và qua rồi thì có đường xuôi. Nhưng sau sông, ở về phía tây có dãy núi Tam Đảo, là một cái thành không thể vượt. Chỉ có khoảng từ huyện Đa Phúc đến Lục Đầu là phải phòng vệ bờ nam mà thôi. Trong khoảng ấy, lại chỉ khúc giữa, từ đò Như Nguyệt đến chân núi Nham Biền, là có bến, có đường qua sông để tiến xuống miền nam một cách đơn giản thẳng và gần10 .

Xem Thêm  Nguồn gốc thực vật hạt kín, đặc điểm, phân loại, vòng đời / Sinh học - thực vật hạt kín

Lý Thường Kiệt đem chủ lực chặn đoạn đường từ trại Vĩnh Bình đến sông Nam Định (sông Cầu) bằng cách đặt những doanh đồn và phục binh ở hai ải tiếp nhau: ải Quyết Lý ở phía bắc châu Quang Lang và ải Giáp Khẩu (Chi Lăng) ở phía nam châu ấy. Nếu hai phòng tuyến ấy bị tan, thì phải cố thủ ở phòng tuyến thứ ba, tức là nam ngạn sông Nam Định. Để cản quân Tống qua sông, Lý Thường Kiệt sai đắp đê nam ngạc cao như bức thành. Trên thành, đóng tre làm giậu, dày đến mấy từng. Thành đất lũy tre, nối với dãy núi Tam Đảo, đã đổi thế sông Nam Định và bờ nam ngạn ra một dãy thành hào, chở che cả vùng đồng bằng Giao Chỉ. Thành hào ấy dài gần trăm cây số, khó vượt qua và nhưng lại dễ phòng thủ hơn là một thành lẻ như thành Thăng Long.

Song song đó thuỷ binh Tống do Hòa Mân và Dương Tùng Tiểu lãnh đạo đã bị thủy quân Đại Việt do Lý Kế Nguyên điều động, chặn đánh ngoài khơi lối vào Vĩnh An. Quân Tống có kỵ binh mở đường tiến công quyết liệt, có lúc đã chọc thủng chiến tuyến quân Đại Việt tràn qua sông Như Nguyệt, nhưng quân Nam đều kịp thời phản kích, đẩy lùi quân Tống. Lý Thường Kiệt còn dùng chiến tranh tâm lý để khích lệ trí não quân Nam tranh đấu. “Đang đêm, nghe tiếng vang trong đền đọc bài thơ ấy, quân ta đều phấn khởi. Quân Tống sợ, táng đảm, không đánh đã tan”14 .

Quân Tống tiến không được, thoái không xong, hao mòn vì chiến sự và khí hậu, không được thủy quân tiếp viện. Quân Đại Việt lại tập kích, doanh trại của phó tướng Triệu Tiết bị phá, dù quân Tống cũng giết được hai tướng Đại Việt là Hoàng Chân và Chiêu Văn11 . Quân Tống 10 phần chết đến 6, 7 phần.

Lý Thường Kiệt biết tình thế quân Tống đã lâm vào thế bí, mà người Việt bị chiến tranh liên miên cũng nhiều tổn thất, nên sai sứ sang xin “nghị hoà” để quân Tống rút về. Quách Quỳ vội chấp thuận giảng hòa và rút quân. Sách của Trần Xuân Sinh dẫn cổ sử nói về nội tình của nhà Tống về sự kiện này: Triều thần nhà Tống cho rằng .

Hoàng Xuân Hãn, tác giả sách đã bình phẩm:

Chiến tranh với Chiêm Thành

Chiến tranh Việt-Chiêm 1069‎ Nhà Lý màu vàng, Chiêm Thành màu xanh lá cây, Nhà Tống màu xám, AngKor màu tím.

Dưới thời Lý Thánh Tông, Lý Thường Kiệt đã tham gia cuộc tấn công Chiêm Thành năm 1069. Ông cầm quân truy đuổi và bắt được vua Chiêm là Chế Củ (Rudravarman 4).

Dưới thời Lý Nhân Tông, ngoài việc cầm quân đánh Tống, ông còn tiến công Chiêm Thành vào năm 1075 nhưng không thu được thắng lợi.

Những năm cuối đời, ông còn cầm quân đi đánh Lý Giác ở Diễn Châu (1103). Năm 1104, vua Chiêm Thành là Chế Ma Na (, 1086-1113) đem quân đánh và lấy lại 3 châu Địa Lý 𝒱.𝒱. mà vua Chế Củ đã cắt cho Đại Việt. Đến đây, Lý Thường Kiệt một lần nữa kéo quân đi đánh, phá tan quân Chiêm, Chế Ma Na lại nộp đất ấy cho Đại Việt.

Khai quốc công

Vì có công, ông được ban “quốc tính”, mang họ vua (do đó có họ tên là Lý Thường Kiệt), và phong làm , tước Khai quốc công. Sau lại có công nữa, ông được phong làm Thái úy. Ông là vị thái giám trước hết của nền quân chủ Việt Nam có công đức và đóng góp cho quốc gia.

Cuối đời

Non sông sạch bóng quân thù. Lúc này vua mới 12 tuổi. Lý Thường Kiệt lại tiếp tục gánh trách nhiệm lớn của triều đình trong tiến trình xây dựng quốc gia, chăm sóc đời sống nhân dân. Ông đã cho tu bổ đê điều, đường sá, đình chùa hư hỏng trong chiến tranh và tiến hành nhiều biện pháp nhằm cải tổ bộ máy hành chính trong toàn quốc.

Năm 1082, ông thôi chức Tể tướng và được cử về trị nhậm trấn Thanh Hóa. Làm việc ở đây suốt 19 năm trời, đến năm 1101 thì vua Lý Nhân Tông lại mời ông trở lại về triều giữ lại chức Tể tướng. Lúc này ông đã 82 tuổi.

Già rồi, nhưng ông vẫn tự nguyện cầm quân đi đánh giặc Lý Giác ở Diễn Châu (năm 1103), dẹp giặc Chiêm Thành quấy nhiễu ở Bố Chính (năm 1104). Ông còn tổ chức lại quân đội, duyệt đổi lại các nhà cung cấp từ cấm binh đến dân quân.

Tham khảo thêm: Hé lộ danh tính cô hot girl nhất toàn cầu năm 2021

Tháng 6 năm Ất Dậu (1105), Thái úy Lý Thường Kiệt mất, thọ 86 tuổi. Lý Nhân Tông ban cho ông chức , tước Việt quốc công, thực ấp một vạn hộ, cho người em là Lý Thường Hiến (李常憲) được kế phong tước hầu.

Bài thơ Nam quốc sơn hà

là bài thơ chưa rõ nguồn gốc tác tác giả mà nhiều tài liệu dân gian cho rằng của ông đang đêm sai người tâm phúc đọc vang trong đền thờ Trương Hống, Trương Hát (thuộc địa phận sông Như Nguyệt, khúc sông Cầu, huyện Yên Phong, lộ Bắc Ninh, nay là huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh). Bài thơ như một bản tuyên ngôn độc lập hùng tráng trước hết trong lịch sử dân tộc để động viên trí não tranh đấu của quân Đại Việt chống lại quân Tống lần thứ 2.

Bản gốc

Nguyên bản chữ Hán:南國山河南 國 山 河 南 帝 居截 然 定 分 在 天 書如 何 逆 虜 來 侵 犯汝 等 行 看 取 敗 虛 Bản phiên âm Hán-Việt:Nam quốc sơn hàNam quốc sơn hà Nam đế cư,Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư. Dịch thơ: Sông núi nước NamSông núi nước Nam, vua Nam ởRành rành định phận tại sách trờiCớ sao lũ giặc sang xâm phạm?Chúng cất cánh sẽ bị đánh tơi bời.

Nhận định

Trong Bài bia ký chùa Báo Ân núi An Hoạch, Chu Văn Thường – một quan chức ở quận Cửu Chân, trấn Thanh Hóa đời Lý Nhân Tông truyền tụng Lý Thường Kiệt

“ ” — Chu Văn Thường

Bia chùa Linh Xứng núi Ngưỡng Sơn cũng truyền tụng ông:

“ ” — Bia chùa Linh Xứng

Sử thần nhà Lê trung hưng Ngô Thì Sĩ, trong sách Việt sử tiêu án, đã đề cao Lý Thường Kiệt qua việc so sánh chiến công đánh Tống của ông với các thắng lợi của Ngô Quyền, Lê Đại Hành và Trần Hưng Đạo:

Xem Thêm  100 Khuôn mặt đẹp nhất thế giới: Hoàn hảo KO “Góc Chết” - mặt đẹp

“ ” — Việt sử tiêu án

Sử gia đời Nguyễn Phan Huy Chú trong sách , quyển IX, có nhận xét về vị trí của Lý Thường Kiệt so với các nhà chính trị, quân sự khác của Đại Việt thời Lý:

“ ” — Phan Huy Chú15

Xem thêm

  • Nhà Lý
  • Lý Thánh Tông
  • Lý Nhân Tông
  • Ỷ Lan
  • Đỗ Anh Vũ
  • Nam quốc sơn hà
  • Phạt Tống lộ bố văn
  • Chiến dịch đánh Tống, 1075-1076
  • Chiến tranh Tống – Việt, 1075-1077

Tham khảo

  • Hoàng Xuân Hãn (1996), , Nhà xuất bản Hà Nội
  • Trần Trọng Kim, , bản điện tử
  • Lý Tế Xuyên, , Bản điện tử
  • James Anderson (2007). . Univ of Washington Press. ISBN 0295986891.

Chú thích

  1. ^ Theo Tạ Chí Đại Trường trong sách , về xuất xứ của tên gọi Lý Thường Kiệt, ông cho biết trong sách Tàu, viên tướng lãnh đạo quân Nam đánh Ung Châu là Lý Thượng Cát. Tên này vốn có hàm nghĩa không đẹp, nên người ta gọi chệch đi là Lý Thường Kiệt (dẫn theo sách Mộng khê bút đàm của Thẩm Hoạt)
  2. ^ ncvanhoa.org.vn/hanoiwebs1/vn/huongtoi1000nam/group6/page6_12.htm
  3. ^ Theo văn bia “Cồ Việt quốc Thái úy Lý công thạch bi minh tính tự” (大瞿國太尉李公石碑銘并序 – ) trên bia mộ của Đỗ Anh Vũ (thời đại phỏng đoán là 1159) tại làng Yên Lạc, tỉnh Hưng Yên
  4. ^ Hoàng Xuân Hãn, sách đã dẫn, tr 76-77
  5. ^ ĐVSKTT:
  6. ^ Hoàng Xuân Hãn, sách đã dẫn, tr 75-76
  7. ^ Họ Thân vốn là tù trưởng Giáp động, mang họ Giáp, nhưng vì mấy đời kết thông gia với nhà Lý, cưới công chúa nhà Lý nên đổi họ sang họ Thân
  8. ^ Việt Sử Lược
  9. ^ Hoàng Xuân Hãn, sách đã dẫn, tr 174
  10. ^ Hoàng Xuân Hãn, Lý Thường Kiệt
  11. ^ Trần Trọng Kim – Việt Nam sử lược
  12. ^ – Trần Xuân Sinh, Nhà xuất bản Hải Phòng, 2004
  13. ^ Hoàng Xuân Hãn, sách đã dẫn, tr 221-222
  14. ^ Sách Việt Điện ᑗ Linh
  15. ^ Lịch triều hiến chương loại chí, tập 1, các trang 367-368.

(Nguồn: Wikipedia)

Ҳ

  • Chú Thích
  • Nhân Vật
  • Địa Danh
  • Đ
  • Đỗ Anh Vũ
  • Н
  • Hoàng Xuân Hãn
  • ɭ
  • Lê Đại Hành
  • Lê Phụng Hiểu
  • Lý Anh Tông
  • Lý Đạo Thành
  • Lý Kế Nguyên
  • Lý Nhân Tông
  • Lý Nhật Tôn
  • Lý Tế Xuyên
  • Lý Thái Tông
  • Lý Thánh Tông
  • и
  • Ngô Quyền
  • Ngô Thì Sĩ
  • Ngô Tuấn
  • Ngô Xương Ngập
  • Ngô Xương Xí
  • nhà Hán
  • nhà Lê
  • nhà Lý
  • nhà Tống
  • Ρ
  • Phan Huy Chú
  • Ƭ
  • Tôn Đản
  • Trần Hưng Đạo
  • Trần Trọng Kim
  • Triệu Tiết
  • Trương Hát
  • Trương Hống
  • chùa Báo Ân
  • Н
  • huyện Gia Lâm
  • и
  • núi Tam Đảo
  • nước Nam
  • nước Tàu
  • nước Tề
  • nước Tống
  • nước Việt
  • 𝒬
  • quận Hai Bà Trưng
  • Ş
  • sông Bạch Đằng
  • sông Cầu
  • sông Lục Đầu
  • sông Nam Định
  • sông Như Nguyệt
  • Ƭ
  • thành Thăng Long
  • tỉnh Bắc Ninh
  • tỉnh Hưng Yên
  • tỉnh Lạng Sơn

1 ^ Theo Tạ Chí Đại Trường trong sách , về xuất xứ của tên gọi Lý Thường Kiệt, ông cho biết trong sách Tàu, viên tướng lãnh đạo quân Nam đánh Ung Châu là Lý Thượng Cát. Tên này vốn có hàm nghĩa không đẹp, nên người ta gọi chệch đi là Lý Thường Kiệt (dẫn theo sách Mộng khê bút đàm của Thẩm Hoạt)

2 ^ ncvanhoa.org.vn/hanoiwebs1/vn/huongtoi1000nam/group6/page6_12.htm

3 ^ Theo văn bia “Cồ Việt quốc Thái úy Lý công thạch bi minh tính tự” (大瞿國太尉李公石碑銘并序 – ) trên bia mộ của Đỗ Anh Vũ (thời đại phỏng đoán là 1159) tại làng Yên Lạc, tỉnh Hưng Yên

4 ^ Hoàng Xuân Hãn, sách đã dẫn, tr 76-77

5 ^ ĐVSKTT:

6 ^ Hoàng Xuân Hãn, sách đã dẫn, tr 75-76

7 ^ Họ Thân vốn là tù trưởng Giáp động, mang họ Giáp, nhưng vì mấy đời kết thông gia với nhà Lý, cưới công chúa nhà Lý nên đổi họ sang họ Thân

8 ^ Việt Sử Lược

9 ^ Hoàng Xuân Hãn, sách đã dẫn, tr 174

10 ^ Hoàng Xuân Hãn, Lý Thường Kiệt

11 ^ Trần Trọng Kim – Việt Nam sử lược

12 ^ – Trần Xuân Sinh, Nhà xuất bản Hải Phòng, 2004

13 ^ Hoàng Xuân Hãn, sách đã dẫn, tr 221-222

14 ^ Sách Việt Điện ᑗ Linh

15 ^ Lịch triều hiến chương loại chí, tập 1, các trang 367-368.


Xem thêm những thông tin liên quan đến đề tài lý thường kiệt là ai

LÝ THƯỜNG KIỆT qua nhận xét của Sư hổ mang sư hổ lửa Thích Chân Quang

  • Tác giả: Vien Nguyen
  • Ngày đăng: 2017-02-10
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 5078 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Sư thầy Thích Chân Quang nổi lên trong dư luận như một hiện tượng đặc biệt. Sư thầy tự do đi mọi nơi giảng những điều mà khó nhà sư nào dám giảng, thầy giảng về kinh tế CNXH, về quan hệ quốc tế, về lịch sử…

    Thầy gọi Trung Quốc là anh, Việt Nam là em…em phải lễ phép với anh. Chỉ có Lý Thường Kiệt là hỗn dám đem quân đánh Trung Quốc. Thầy giảng đúng lúc người dân Việt Nam đang sục sôi muốn phản đối mạnh mẽ hành động xâm lược của Trung Quốc.

    https://vimeo.com/150236546

    Một điều rất lạ là việc tuyên truyền tôn giáo được cơ chế kiểm tra rất ngặt, nhưng so với Chân Quang thì hình như ông ta không hề bị rào cản nào của ban tôn giáo, an ninh tôn giáo, ban tuyên giáo trung ương. Ông ta có thể đi khắp nơi và tụ tập mọi người nghe ông ta diễn thuyết những mẩu chuyện luôn nối liền với đời sống chính trị, nhưng ở hàm ý truyền tụng cơ chế CSVN.

    Một người tu hành có tiếng như Thích Chân Quang nhận mình là cháu của chủ tịch Hồ Chí Minh, việc này là lớn. Nhưng hình như các cấp chính quyền đều làm ngơ, không nhất định và cũng không ai phản bác.
    Hiện tượng Thích Chân Quang.
    NGƯỜI BUÔN GIÓ
    Thứ Sáu, 10 tháng 2, 2017

Lý thường kiệt là ai

  • Tác giả: lgvanquatet.com
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 2110 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Trong lịch sử, thái giám chỉ được xem là kẻ hạ đẳng phục dịch chốn hoàng cung, Nhưng nếu là thiên tài thì từ thái giám vẫn có thể trở thành người hùng kiệt xuất

Lý Thường Kiệt

  • Tác giả: edu.viettel.vn
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 6665 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Lý Thường Kiệt (1019–1105) là một danh tướng, một thái giám đời nhà Lý có công hạ gục quân nhà Tống vào năm 1075-1077.Thân …

Lý Thường Kiệt: 19 năm ổn định và phát triển vùng đất Thanh Hóa

  • Tác giả: vanhienplus.vn
  • Nhận xét: 3 ⭐ ( 7813 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm:

LÝ THƯỜNG KIỆT

  • Tác giả: mdtq.vn
  • Nhận xét: 5 ⭐ ( 1668 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Trình duyệt của các bạn đã tắt tính năng trợ giúp JavaScript, Website chỉ làm việc khi bạn bật nó trở lại

Lý Thường Kiệt – Wikipedia tiếng Việt

  • Tác giả: muahanghoa.com
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 7506 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm:

Lý Thường Kiệt là ai?

  • Tác giả: aokieudep.com
  • Nhận xét: 3 ⭐ ( 9913 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Lý Thường Kiệt: Ông vốn họ Ngô, tên là Tuấn, người ở làng An Xá, huyện Quảng Đức (Cơ Xá, Gia Lâm – Hà Nội), con của Sùng Tiết Tướng Ngô An Ngữ. Về sau, ông

Xem thêm các nội dung khác thuộc thể loại: Khám Phá Khoa Học

By ads_law