Máy bay tàng hình (còn được gọi là phi cơ tàng hình hay không hạm tàng hình) là một loại máy bay, hơn hẳn những máy bay phổ biến khác, ứng dụng công nghệ tàng hình để chống lại việc bị phát hiện từ radar. Máy bay tàng hình đóng vai trò nổi trội nhất trong cuộc Đại chiến vùng Vịnh.
[[Tập tin:USAF B-2 Spirit.jpg|phải|nhỏ|250px|B-2 Spirit máy bay oanh tạc tàng hình của Không lực Hoa Kỳ.]]

Điều kiện tàng hình

Một khuyết điểm lớn của radar này là nó chỉ phát xuất hiện đối phương khi sóng phản xạ (phản xạ lại từ đối phương) cùng phương với sóng tới (là sóng mà radar phát ra) & nếu mặt cát tán xạ thuộc máy bay càng nhỏ thì khả năng phát xuất hiện của radar càng thấp.

Các công thức có thể tàng hình

[2]

Lựa chọn Nguyên liệu

Nguyên vật liệu làm khung của sản phẩm bay tàng hình thì có nhiều, chủ đạo là nguyên liệu phức hợp gồm carbon trộn với nhựa cây. Nguyên vật liệu phức hợp kiểu như vậy này có dấu hiệu là cứng, nhẹ, có thể hấp thụ được sóng của radar.. Còn phải kể thêm rằng máy bay ném bom tàng hình B-2 của Mỹ có vỏ ngoài sử dụng Nguyên liệu kiểu tổ ong làm lớp vải lót để cắt giảm tối đa khả năng phản xạ của sóng radar. Để nhận được hiệu quả tối ưu nhất, người ta còn sơn ngoài cái máy bay một lớp sơn tàng hình bằng bột mịn niken, coban hoặc kim loại-kim loại đã bị oxy hóa. Lớp sơn này có thể làm thương tổn sóng radar, có công dụng làm trong sóng. Không những thế, cũng cần phải nói tới một vật liệu của muối kiềm chuyển sóng radar thành nhiệt năng & chẳng thể phản xạ lại.

[2]

Cấu trúc

Đây cũng là yếu tố chẳng thể không đề cập đến nếu nói về máy bay tàng hình. Phải nhớ rằng, cấu tạo ngoại hình đặc biệt cũng có thể làm máy bay tàng hình được. Thông thường, sườn máy bay có hình trụ tròn & thân, cánh, đuôi tạo ra một cấu tạo link liên tiếp, đều có thể khiến cho sóng radar ra đời quay trở lại radar & thu sóng phản xạ của anten. Các nhà kiến trúc máy bay tàng hình nếu thay đổi hình trụ tròn của sản phẩm bay thành hình mặt cắt, hình chóp nhọn, hoặc biến phần nối giữa cánh & thân thành hình ống tròn, tạo ra sự hòa hợp giữa thân & cánh, không sắp xếp giá thân & cánh theo đạn đạo, bỏ đuôi cánh, sử dụng đuôi chữ V lệch,… thì có thể phá vỡ sự comment sóng radar, khiến cho sóng phản xạ yếu đi, thậm chí hầu hết không có.

[3]

Thoát khỏi con mắt khác ngoài radar

Để có thể tàng hình với tia hồng ngoại, người ta có trí miệng nhận & thoát khí của động cơ máy bay ở phần đỉnh & tại lỗ thoát khí lại lắp đặt máy thải khí & thiết bị hút nhiệt để thải nguồn nhiệt ở miệng động cơ.

Để khắc phục vấn đề này, người ta có thể dùng thiết bị hút âm hoặc kiến trúc loại động cơ có tiếng động rất nhỏ.

Lợi nhuận của những mẫu máy bay tàng hình

Một số lượng máy bay tàng hình nhỏ có thể thay thế một toán lớn những phi cơ bình bình mà vẫn có thể tạo được hiệu quả đại chiến tương tự, có khi còn đang cao hơn. Bí quyết này đôi lúc giúp tiết kiệm đáng kể chi phí quân đội sau một thời gian dài sử dụng.

Máy bay tàng hình cho phép người ta tấn công vào những điểm mục tiêu trọng yếu, trong lúc vẫn cất giấu được hành vi của mình. Bởi vì không ai có thể phát xuất hiện hay ít đặc biệt là hiểu rằng kẻ tấn công, những người trong cuộc có thể chối từ comment & từ đó tránh được chiến đấu.

Khả năng đại chiến của sản phẩm bay tàng hình có thể làm tê liệt phòng ban lãnh đạo & reo rắc hoang mang lo lắng cho đối phương vì họ chẳng thể biết liệu những đợt không kích khác đã được tiến hành hay chưa; từ đó mang họ tới việc cân nhắc phương pháp ngoại giao. Dù vậy, lập luận này được một số người bác bỏ là chưa chắc nịch.

Sự sản xuất & vận hành mẫu đại chiến cơ tàng hình này có thể gây động lực cho địch thủ trong quyết định của họ về việc tiến hành chạy đua vũ trang với mục đính tạo thành những máy bay tương đương. Điều này có thể làm suy yếu nền kinh tế (có thể giả sử là yếu hơn) của họ, tức là tạo thuận tiện cho kẻ địch. Chương trình Kế hoạch phòng vệ chiến lược (“Chiến tranh giữa các vì sao”) của Hoa Kỳ thực hiện năm 1980 cũng để đạt mục đính tương đương nhằm chống lại Liên Xô.

Giới hạn của các máy bay tàng hình

[[Tập tin:F-117 Nighthawk flight.jpg|nhỏ|Chiếc F-117 Nighthawk của Không quân Mỹ. F-117 là máy bay tàng hình đầu tiên được vận hành, ngừng phục vụ từ 22 tháng 4 năm 2008.]]

Bất ổn của mẫu kiến trúc

Khi kiến trúc các máy bay tàng hình, người ta thường chăm chú vào việc giảm ít nhất mức độ comment sóng điện từ dị thường của vật thể (Radar Cross Section: mặt cắt ra đa) hơn là hoàn thành chúng về mặt khí động học. Những máy bay tàng hình thượng hạng (như chiếc F-117 & B-2) không ổn định về khí động học trên cả ba trục & đòi hỏi hiệu chỉnh liên tục từ hệ thống điều khiển với giao tiếp được điện tử hóa (fly-by-wire system) để có thể tiếp tục vận hành trên không trung. Phần đông các máy bay đại chiến không tàng hình hiện tại (như F-16 Fighting Falcon, Su-27 Flanker, Eurofighter Typhoon, JAS 39 Gripen, Dassault Rafale) chỉ vận hành không ổn định trên một hay hai trục mà thôi. Máy bay tàng hình cần rất là nhiều hệ thống điều khiển với giao tiếp được điện tử hóa để bảo đảm an toàn nên thường gây tốn thêm ngân sách cùng lúc làm mẫu trước máy bay tăng thêm trọng lượng. Trong trường hợp có xung điện từ mạnh (hiện tượng nổ hạt nhân trong khí quyển), sẽ ảnh hưởng đến các phòng ban điều khiển & có thể gây những hậu quả rất cực kỳ nghiêm trọng cho các phi cơ tàng hình, như rơi máy bay. Nhưng mà, điều này rất khó có thể xảy ra nhờ vào các thiếc kế chống ảnh hưởng của các thiết bị điện tử được tiến hành bởi Không quân Hoa Kỳ.

Khả năng không chiến

Máy bay tàng hình chịu nhiều bất lợi lớn khi bị phát hiện bởi kẻ địch. Các mẫu máy bay tàng hình hoàn toàn hiện tại (F-117 & B-2) thiếu các thùng chất đốt phụ, do nhiệt độ từ khí thải của chúng có thể làm tăng mặt cắt ra đa & các dấu tích nhạy cảm với tia hồng ngoại của sản phẩm bay. Vì bất lợi này mà các phi cơ này chẳng thể vượt mặt vận tốc tiếng động mà tẩu thoát một cách mau lẹ. Điều này khiến chúng dễ bị tấn công bởi các máy bay đánh chặn, loại máy bay có khả năng đạt tới vận tốc Mach 2 (vận tốc siêu thanh 2) hoặc cao hơn nhờ có thùng chất đốt phụ. Hình dạng kỳ dị của các máy bay tàng hình còn hỗ trợ giảm đi sự nhanh nhảu của chúng trong các cuộc không không chiến, & cho nên, làm tăng rủi ro bị bài trừ của chúng bởi pháo auto từ các phản lực cơ truyền thống, cho dù mặt cắt ra đa thấp & lá chắn hồng ngoại có hiệu quả thế nào đi chăng nữa trong việc ngăn chặn khả năng khóa mục tiêu của hoả tiễn. Về hỏa lực, chiếc F-117 có thể đưa theo hai quả hoả tiễn không-đối-không để tự vệ, nhưng thường không hiệu quả (hệ lụy của tính linh động thấp); chiếc B-2 thì chẳng thể đưa theo bất kỳ một loại vũ khí không-đối-không nào.

Sự rò rỉ sóng điện từ & sóng hồng ngoại

Sự điện toán hóa ở mức độ cao cùng một sll các thiết bị điện tử được lắp đặt trong máy bay tàng hình làm chúng dễ trở thành mục tiêu bởi các sự phát hiện bị động. Thiết bị dã chiến di động Tamara được sản xuất bởi Cộng Hòa Séc có thể bắt được những rò rỉ điện từ rất nhỏ, thậm chí là từ các máy bay có lá chắn tốt nhất. Các máy dò Tamara phân phối cự ly tổng quát / thông tin về khoảng cách cho các radar phòng không, để rồi các radar này sẽ tiến hành khóa mục tiêu bằng cách dùng phép quét quy tụ cao.

Máy bay tàng hình được kiến trúc để có mức độ bộc lộ trước radar rất thấp, nhưng mức độ phát ra tia hồng ngoại thì vẫn cũng giống như máy bay thường do đều phải sử dụng động cơ phản lực tỏa ra nhiều nhiệt. Vì vậy, nếu đối phương sử dụng các thiết bị trinh sát, phát hiện tín hiệu hồng ngoại thì vẫn có thể phát hiện máy bay tàng hình (các thiết bị loại này hiện tại đã có thể phát hiện tín hiệu hồng ngoại tỏa ra từ máy bay địch ở cự ly tới vài chục km).

Ngân sách bảo trì

Các máy bay tàng hình là những thiết bị đòi hỏi bảo dưỡng ở mức độ cao. Thuộc tính của vỏ máy bay quyết định hiệu quả tàng hình của nó, bằng cách làm chệch hướng xung lực radar nhờ vào đặc thù hình học của khung máy bay & / hoặc vào sự hấp thụ sóng điện từ nhờ lớp sơn mặt phẳng được cấu trúc từ những vi cầu ferit-than chì. Các cửa sổ buồng lái được dát một lớp kim loại mỏng bằng vàng & idium. Nếu vỏ máy bay bị đâm thủng bởi một viên sỏi bắn lên từ đường băng, hay nếu mưa lớn làm hỏng hóc các lớp sơn trên, mức độ comment sóng điện từ dị thường của sản phẩm bay sẽ có thể tăng đột ngột. Các máy bay tàng hình thường được vận hành từ các căn cứ nhà, nơi có những nhà kho được trang bị điều hòa nhiệt độ có khả năng phân phối những điều kiện bảo dưỡng & giữ lại tối ưu. Dù cho khả năng duy trì & số lượng khung máy bay có lớn mạnh tăng vọt theo chiều tích cực từ những năm cuối thập niên 90, giá cả của sản phẩm bay, ngân sách của việc setup những thiết bị chất lượng đảm bảo ở căn cứ nhà, & của những đợt xuất kích đi xa được thực hiện để chống lại những mục tiêu hải ngoại từ quê nhà vẫn đang là một gánh nặng kinh tế lớn cho những nước đang vận hành máy bay tàng hình.

Các mẫu bay dễ bị công kích

Các máy bay tàng hình vẫn có rủi ro bị phát hiện một cách tức thì trước, trong lúc & sau thời điểm nó sử dụng vũ khí. Bởi vì các đầu đạn tàng hình (các loại bom có giảm mặt cắt ra đa & hoả tiễn chặng đường) nói chung là vẫn chưa có sẵn, nên toàn bộ các loại quân trang cho máy bay đều phải được đưa ở bên trong thân của sản phẩm bay để tránh việc tăng mặt cắt ra đa. Ngay khi cửa chứa bom được mở ra, chỉ số RCS của sản phẩm bay sẽ tăng gấp nhiều lần & thậm chí một hệ thống radar đời cũ cũng có thân thể định được địa điểm của nó. Các phi công điều khiển máy bay tàng hình thu được một khoá đào tạo đặc biệt để cắt giảm sự comment sóng của vũ khí trong vòng 15-25 giây. So với các oanh tạc cơ (bán tàng hình) thể hệ thứ 4 & thứ 5, vũ khí không đối đất được đưa chủ đạo trên các khoang chứa vũ khí bên ngoài, đồng ý rủi ro bị phát hiện cao hơn. Khoang vũ khí bên trong được dành cho các loại hoả tiễn chống máy bay khác nhau.

Hạn chế về sức tải

Bởi vì toàn bộ các máy bay tàng hình hoàn toàn đều đưa vũ khí ở bên trong thân nên lượng đầu đạn vũ trang có thể sử dụng được là giới hạn. Chiếc F-117 chỉ đưa được hai quả bom laser trên thân, đòi hỏi tin tức tình báo phải ở mức độ tin cậy cao để có thể thực hiện thành công phi vụ. Bên ngoài phạm vi chiến đấu truyền thống, các máy bay này còn tồn tại thể thả các lực lượng đặc biệt xuống vùng địch, các nhà cung cấp này sẽ thâm nhập cương vực của địch & nhận diện các mục tiêu có giá trị kế hoạch cho việc tấn công bình bom laser bởi các máy bay tàng hình.

Chiếc B-2 Spirit tải theo một lượng lớn bom, nhưng cũng chính vì vậy mà nó có vận tốc thấp (gần vận tốc tiếng động), kéo theo việc kéo dài thời gian thực hiện phi vụ. Chẳng hạn sẽ là 18 – 24 tiếng đồng hồ nếu nó bay nửa vòng địa cầu để tấn công các mục tiêu ở hải ngoại. Do đó việc lên chiến lược cụ thể & thu thập các thông tin tình báo một cách đúng lúc là tối trọng yếu cho sự thành công của mỗi lần xuất kích. Trong trường hợp các mục tiêu di động có thể bị tấn công, chiếc Spirit sẽ phải tin vào các thông tin từ vệ tinh hay học theo hướng dẫn của các hoa tiêu để bảo đảm thực hiện thành công chặng đường bay.

Ngân sách

Các máy bay tàng hình thường có một khả năng vận hành tối đa giới hạn. Dù chiếc B-2 Spirit có thể năng thả quân khí tiếp tế lên bất kể một dặm vuông nào trên mặt phẳng trái đất trong vòng 12 giờ, về phương diện vận hành, nó trở nên bất tiện bởi hai nhân tố: giá thành thay thế quá cao (khoảng 2 tỷ $/chiếc). Các loại máy bay mới như F-22 Raptor tuy có giá thấp hơn nhưng vẫn lên tới 200-400 triệu $/chiếc, vượt ngoài tầm cho phép của nền kinh tế phần đông các đất nước, điều này kéo theo một sự nghiên cứu đầy thách thức về hiểm họa / thuận tiện khi cân nhắc việc triển khai của nó.

Máy bay tàng hình vẫn có thể được thấy bởi mắt thường, khiến tiến trình triển khai của nó lệ thuộc nào thời tiết & thời điểm trong ngày. Những bổ phận tầm xa & đặc điểm tránh xa các thiết bị radar khiến cho không quỹ đạo, quỹ đạo bay xuống & bay của nó có thể được phán đoán một cách đơn giản hơn. Trong lúc cái máy bay có thể ngụy trang tốt, các đồ dùng tiếp tế rất có thể làm lộ sự hiện diện của nó.

Các bí quyết chống máy bay tàng hình

Xét về phương diện lý thuyết, tồn tại một số công thức phát hiện máy bay tàng hình từ xa. Các công ty tư vấn du học phát ngôn là đã lớn mạnh được những hệ thống như thế nhưng chưa thể thực nghiệm sản phẩm của mình trên những cái máy bay tàng hình thật sự (hoặc đã thực nghiệm nhưng kết quả được quân đội các nước giữ âm thầm).

Dò tìm xung động trong không khí

Úc & Nga phát ngôn rằng họ đã lớn mạnh được một kỹ thuật giải quyết cho phép có thể bắt được các chấn động trong không khí phát ra từ máy bay ở một tầm xa tương đối (có thể chống lại công nghệ tàng hình). Chẳng hạn, Chương trình radar vượt quá đường chân mây Jindalee của Australia được cho rằng có thể phát xuất hiện máy bay tàng hình thông qua sự hỗn loạn không khí yếu do một máy bay tạo thành mà không cần nghe đến những công nghệ tàng hình của nó [1].

Dò tìm tín hiệu điện từ

Để tác chiến, máy bay tàng hình vẫn sử dụng các thiết bị điện tử (radar, laptop, máy thông tin liên lạc…) Như thế, nếu dò tìm được địa điểm phát ra các tín hiệu điện từ thì có thể phát hiện được địa điểm máy bay tàng hình.

Radar bị động, radar bán tĩnh & nhất là hệ thống đa tĩnh được tín nhiệm là có thể phát hiện máy bay tàng hình tốt hơn đối với các radar đơn tĩnh thường, bởi vì công nghệ tàng hình comment năng lượng các bước sóng của sản phẩm phát, điều này mặt khác làm tăng mặt cắt ra đa một cách hiệu quả, nó là thứ mà các radar bị động tìm kiếm. Một hệ thống có thể sử dụng các tín hiệu từ cả sóng TV băng tần thấp & sóng radio FM (các giải tần thấp này có thể gây ra sự cộng hưởng mặt cắt ra đa) hoặc Smartphone.

Radar bước sóng dài

Radar bước sóng dài cỡ mét có khả năng phát hiện máy bay tàng hình tốt hơn nhiều đối với radar thường (sử dụng bước sóng cỡ cm). Một hệ thống SA-3 của Nam Tư, dù cũ kỹ nhưng nhờ sử dụng radar loại này đã bắn hạ thành công một chiếc F-117 của Mỹ vào năm 1999.

Phát hiện tín hiệu hồng ngoại (IRST)

Máy bay tàng hình được kiến trúc để có mức độ bộc lộ trước radar rất thấp, nhưng mức độ phát ra tia hồng ngoại thì vẫn cũng giống như máy bay thường do đều phải sử dụng động cơ phản lực tỏa ra nhiều nhiệt. Vì vậy, nếu sử dụng các thiết Tìm kiếm & theo dõi bằng tia hồng ngoại thì vẫn có thể phát hiện máy bay tàng hình (các thiết bị loại này hiện tại đã có thể phát hiện tín hiệu hồng ngoại tỏa ra từ máy bay địch ở cự ly tới vài chục km).

Những máy bay sử dụng hệ thống IRST hiện đại nhất được nghe đến là các phiên bản Sukhoi Su-27 của Nga. Hệ thống OLS-35 trang bị trên Su-35 được phát ngôn có thể phát hiệu tín hiệu hồng ngoại phát ra từ máy bay địch ở cự ly tới 90 km, trong lúc những hệ thống mạnh hơn vẫn đang được lớn mạnh liên tục. Với tia hồng ngoại comment cùng hoả tiễn “bắn và quên”, máy bay sử dụng công nghệ này có thể nhắm bắn máy bay tàng hình mà không phải sử dụng tín hiệu radar dò tìm.

Tìm kiếm bằng quang học

Máy bay tàng hình “biến mất” trước radar nhưng nó không tàng hình về quang học, tức là vẫn xem xét được bằng mắt thường. Vì vậy, các máy bay trang bị hệ thống tìm kiếm mục tiêu bằng quang học, các trạm xem xét sử dụng kính viễn vọng vẫn có thể phát xuất hiện máy bay tàng hình từ cự ly vài km tới vài chục km (tùy thuộc vào vào điều kiện thời tiết, ngày hoặc đêm).

Vận dụng của không hạm tàng hình

Các mẫu máy bay tàng hình

Xem qua

Chuyên mục:Máy bay
Chuyên mục:Quân sự

Xem Thêm  Tìm Hiểu Về Hiện Tượng Bóng Đè Khi Ngủ Trưa Và Cách Khắc Phục - hiện tượng bóng đè và cách khắc phục

By ads_law

Trả lời