Truật Xích không khi nào tha thứ cho cha mình, và không còn cách nào hơn, là rút khỏi các trận chiến tranh của Mông Cổ sau này, tiến về phía bắc, nơi ông ta từ chối đến gặp Thành Cát Tư Hãn dù thu được lệnh phải đến.[3] Thật ra, trước khi chết, Thành Cát Tư Hãn cũng dự tính một cuộc tấn công người con phản loạn này. Sự cay đắng này chuyển qua con trai của ông ta là Bạt Đô (Batu), nhất là đến cháu ông, và Biệt Nhi Ca Hãn (Berke Khan) (của Kim Trướng Hãn quốc), những người đã chinh phục Rus Kiev.[10] Khi những người Mamluk Ai Cập giáng cho người Mông Cổ một trong những thất bại đáng kể nhất ở trận Ain Jalut năm 1260, hãn Húc Liệt Ngột (Hulegu Khan), một trong những cháu trai của Thành Cát Tư Hãn, con trai của Đà Lôi, người đã cướp phá Baghdad năm 1258, đã không thể trả thù thất bại đó vì người anh em họ của ông là Biệt Nhi Ca Hãn (đã cải sang Hồi giáo), đã tấn công ông ở Ngoại Kavkaz để trợ giúp Hồi giáo, và đây là lần trước tiên người Mông Cổ đánh người Mông Cổ. Những mầm mống của trận chiến đó bắt nguồn từ trận chiến với Khwarezmia khi những người cha của họ tranh đoạt quyền lãnh đạo tối cao.[14]

Bạn đang xem: đế quốc khwarezmia

Trang giành riêng cho người dùng chưa đăng nhập tìm hiểu thêm

 • Kim • Tống (trận Tương Dương • trận Nhai Môn) • Đại Lý
Trung Á (Tây Liêu
 • Khwarezmia)
 • Ấn Độ
 • Volga Bulgaria
châu Âu (Rus’
 • Ba Lan
 • Hungary
 • Dzurdzuketia
 • Bulgaria)
 • Cao Ly
 • Ngoại Kavkaz
 • Tây Tạng
 • Tiểu Á
 • Syria
 • Đại Việt (1258 • 1285 • 1287-1288 • trận Bạch Đằng)

Cuộc xâm lược Khwarezmia khởi đầu từ 1219 đến 1221[1] đánh dấu điểm khởi đầu của quá trình người Mông Cổ chinh phục các nhà nước Hồi giáo. Sự bành trướng của Mông Cổ cuối cùng lên đến cực điểm khi chinh phục hầu hết toàn thể lục địa Á-Âu, ngoại trừ Tây Âu, bán đảo Scandinavia, Đế quốc Đông La Mã, Ả Rập, tiểu lục địa Ấn Độ, Nhật Bản và phần lớn Đông Nam Á.

Điều trớ trêu là, Đế quốc Mông Cổ ban đầu không có ý định xâm lược Đế quốc Khwarezmia. Theo nhà sử học người Ba Tư Juzjani, Thành Cát Tư Hãn trước đó đã gửi một bức thư cho Ala ad-Din Muhammad, người thống trị Đế chế Khwarezmia, đề xuất giao thương và nghênh đón ông như người hàng xóm: “Tôi là chủ nhân của những vùng đất mặt trời mọc, còn ngài cai trị những vùng đất mặt trời lặn. Chúng ta hãy cùng nhau xây dựng một tình hữu nghị và nền hòa bình vững chắc.”[2] Sự thống nhất ban đầu của Mông Cổ của toàn bộ “những người sống trong lều bạt”, đã thống nhất các bộ tộc du mục ở Mông Cổ và sau này là người Turkmen và các bộ tộc du mục khác, tương đối ít đổ máu và hầu hết không thiệt hại vật chất. Ngay cả khi xâm lược Trung Hoa, khi đó Mông Cổ mới tiêu diệt nhà Kim, Thành Cát Tư Hãn cũng không gây ra nhiều đổ máu hơn những cuộc xâm lược của các sắc dân du mục vào đất Trung Hoa trước đó.[3] Shah Muhammad miễn cưỡng chấp nhật hiệp ước hòa bình này, nhưng cũng không kéo dài lâu. Chiến tranh khởi đầu chỉ gần 1 năm sau đó, khi mà một đoàn lữ hành Mông Cổ bị thảm sát ở Tp Otrar của Khwarezmia.

Đế chế Khwarezmia bị tiêu diệt và phá hủy hoàn toàn (trong cuộc xâm lược này) đã làm cho người Mông Cổ nổi tiếng như những kẻ hung bạo khát máu và hình ảnh khắc sâu trong tâm trí những người còn sống sót sau những chiến dịch của người Mông Cổ.[4] Trong trận chiến ngắn này, kéo dài không quá 2 năm, không chỉ một đế quốc rộng lớn bị tiêu diệt hoàn toàn, mà Thành Cát Tư Hãn còn phát hành những chiến thuật tàn bạo – tấn công gián tiếp, khủng bố và tàn sát tàn bạo dân chúng như là những vũ khí của chiến tranh (vũ khí tâm lý).[3]. Và điều này được người Mông Cổ vận dụng triệt để khi xâm lược Nam Tống, tạo ra những cuộc thảm sát quy mô lớn, đến nỗi dân chúng Thiểm Tây sót lại chưa đến một phần mười sau thời điểm quân Mông Cổ giành được vùng này.

Sau khoảng thời gian Tây Liêu bị tiêu diệt, Đế quốc Mông Cổ của Thành Cát Tư Hãn đã tiến tới biên giới của Đế quốc Khwarezmia, do Shah Ala ad-Din Muhammad thống trị. Vị vua này cũng chỉ mới quản lý được một số khu vực, và ông cũng đang có những tranh chấp với Khalip tại Baghdad. Ông trước đó đã từ chối việc thần phục bắt buộc so với Khalip như là lãnh tụ trên danh nghĩa của Hồi giáo, và ông đã yêu cầu được thừa nhận như là một sultan (quốc vương) của Đế quốc mà không cần bất kì sự mua chuộc hay sự giả cách nào. Chỉ riêng điều này đã gây ra cho ông nhiều rắc rối dọc biên giới phía nam. Đây cũng là khu vực mà Đế quốc Mông Cổ đang mở rộng rất nhanh tới.[5] Các nhà sử học Mông Cổ nhất định rằng Đại hãn lúc đó không có ý định xâm lược Đế quốc Khwarezmia, và ông chỉ muốn giao thương và thậm chí xây dựng mối quan hệ đồng minh.[6]

Shah rất nghi ngờ muốn một trao đổi giao thương của Thành Cát Tư Hãn, và những thông điệp từ sứ giả của shah ở Thượng Đô (Bắc Kinh) ở Trung Hoa đã mô tả thổi phồng những hành vi tàn bạo của người Mông Cổ khi họ tấn công Tp trong trận chiến của họ với nhà Kim.[7] Một điều trọng yếu hơn là Al-Nasir, khalip của Baghdad, đã nỗ lực xúi giục một trận chiến tranh giữa Mông Cổ và Shah vài năm trước khi cuộc xâm lược của Mông Cổ thực sự diễn ra. Một quan hệ đồng minh với Thành Cát Tư Hãn được xây dựng vì sự tranh chấp giữa Nasir và Shah, nhưng các hãn cũng không hứng thú với việc liên minh với bất kì ông vua nào có những tuyên bố về quyền lực tối thượng, dù chỉ trên danh nghĩa hay không, và điều này đã đánh dấu sự sụp đổ của cơ chế khalip mà sau này Húc Liệt Ngột (Hulegu), cháu của Thành Cát Tư Hãn, sẽ gây ra. Ở thời điểm này, nỗ lực này của các khalip có dính líu tới tuyên bố của Shah muốn được xem như là sultan của Khwarezmia, điều mà Nasir không muốn, vì Shah từ chối thừa nhận quyền lực của Nasir, dù quyền lực đó chỉ là danh nghĩa. Tuy nhiên, Thành Cát Tư Hãn cũng không có ý định gây chiến vì ông ta cũng đang đánh Kim và cũng đang hưởng lợi từ những thương vụ với Đế quốc Khwarezmia.

Thành Cát Tư Hãn phái một đoàn lạc đà gồm 500 người Hồi giáo tới Khwarezmia để thiết lập mối quan hệ thương mại chính thức. Tuy nhiên, Inalchuq, người thống trị Tp Otrar của Khwarezmia, đã bắt giam những thành viên người Mông Cổ của đoàn lạc đà, buộc tội đoàn này có mưu mô chống lại Khwarezmia. Tuy nhiên, có vẻ như không có ai trong đoàn thương nhân này là gián điệp. Cũng không có vẻ là Thành Cát Tư Hãn đang muốn khiêu khích một cuộc xung đột với Đế quốc Khwarezmia, vì ông ta lúc này đang phải đánh người Kim ở miền đông bắc Trung Hoa.[6]

Thành Cát Tư Hãn khi đó đã phái một đoàn thứ hai gồm 3 sứ thần (một theo Hồi giáo và hai người Mông Cổ) tới gặp trực tiếp shah và yêu cầu thả tự do cho đoàn lạc đà ở Otrar, và người thống trị Tp này phải bị trừng trị. Shah sai bảo cạo đầu 2 người Mông Cổ và chém đầu người Hồi giáo, rồi trả lại cho Thành Cát Tư Hãn. Muhammad cũng sai bảo xử tử đoàn lạc đà. Đây được xem như là một sự sỉ nhục ghê gớm so với Hãn, ông vốn luôn coi các sứ giả là “thiêng liêng và bất khả xâm phạm”.[8] Điều này dẫn tới việc Thành Cát Tư Hãn tấn công đế quốc Khwarezmia. Người Mông Cổ vượt dãy Thiên Sơn, tiến vào Đế quốc của Shah năm 1219.[9]

Sau khoảng thời gian thu thập các thông tin từ các nguồn tình báo, hầu hết là từ các gián điệp dọc Đoạn đường tơ lụa, Thành Cát Tư Hãn cảnh giác chuẩn bị lực lượng, được tổ chức khác biệt so với những chiến dịch trước đó của ông. Những sự thay đổi trổ tài bằng việc thêm các nhà cung cấp trợ giúp cho lực lượng kỵ binh thiện chiến của ông, cả kỵ binh nặng lẫn nhẹ. Trong lúc vẫn dựa vào những lợi thế truyền thống về tính linh hoạt của kỵ binh du mục, Thành Cát Tư Hãn đã phối hợp nhiều văn nghệ chiến tranh của Trung Hoa, nhất là yếu tố vây hãm. Các trang bị mới bao gồm những dụng cụ vây thành như phiến gỗ nặng để công thành, thuốc súng, máy bắn đá, và một lượng lớn cung tên vây hãm có khả năng bắn những mũi tên dài 20-foot (6 mét). Ngoài ra, mạng lưới tình báo của Mông Cổ cũng rất tốt. Người Mông Cổ không khi nào xâm lược một đối thủ mà kinh tế và quân đội có khả năng chống trả, mà không thám thính cảnh giác và triệt để từ trước. Ví dụ, các hãn Tốc Bất Đài (Subutai) và Bạt Đô (Batu Khan) đã mất một năm tiến hành thám thính vùng Trung Âu, trước khi tiêu diệt quân đội của Hungary và Ba Lan trong các trận chiến tách biệt chỉ cách nhau 2 ngày.[10]

Xem Thêm  Hướng dẫn chi tiết cách vẽ con chim đại bàng đơn giản với 7 bước cơ bản - con chim dai bang

Cũng có nhiều tranh cãi về số lượng quân của Thành Cát Tư Hãn, một đội quân nhỏ khoảng 90.000 lính hoặc một đội quân lớn với 250.000 lính, và Thành Cát Tư Hãn cũng mang theo mình những tướng lĩnh có khả năng nhất để trợ giúp ông. Ông cũng mang một lượng lớn người ngoại tộc, hầu hết là người Hán. Những người này sẽ là các Chuyên Viên vây hãm, xây cầu, cứu thương và là các quân sĩ chuyên biệt.

Trong cuộc xâm lược Transoxiana năm 1219, cùng với quân chủ lực Mông Cổ, Thành Cát Tư Hãn cũng sử dụng các máy bắn đá của người Trung Hoa trong trận chiến; chúng được sử dụng trở lại vào năm 1220 ở Transoxiana. Người Hán có thể dùng máy bắn đá để ném những quả bom thuốc súng, vì họ đã có chúng (thuốc súng) từ trước đó.[11] Trong lúc Thành Cát Tư Hãn chinh phục Transoxiana và Ba Tư, nhiều người Trung Hoa vốn quen với thuốc súng cũng phục vụ trong quân đội của ông.[12] Các sử gia cho rằng cuộc xâm lược của Mông Cổ đã mang các vũ khí thuốc súng Trung Hoa tới Trung Á. Một trong số chúng là hỏa pháo, một loại súng cối Trung Hoa.[13]

Trong cuộc xâm lược này, trước tiên Hãn triển khai việc tấn công gián tiếp mà sau này trở thành một đặc trưng trong các chiến dịch của ông, cũng như của con cháu ông. Hãn chia quân đội của mình ra, và phái một lực lượng chỉ để tìm và diệt Shah – đến nỗi mà một người thống trị một Đế quốc rộng lớn bằng Đế quốc của Hãn, với một lực lượng quân đội lớn, phải liên tục chạy trốn trong chính đế quốc của mình.[5] Các lực lượng Mông Cổ phân tách đó đã tiêu diệt từng phần quân của Shah, và khởi đầu tiến hành sự tiêu diệt tàn bạo cũng như so với các vùng đất khác trong những cuộc xâm lược sau này.

Quân đội của Shah, khoảng 400.000 người, bị phân tán ra nhiều Tp chính. Shah sợ rằng quân của ông nếu được tổ chức thành một nhà cung cấp lớn dưới sự chỉ đạo của một người (hoặc một cấu trúc chỉ đạo), có thể lại quay ra chống lại ông. Ngoài ra, các giải trình mà Shah có từ Trung Hoa nêu ra rằng người Mông Cổ không giỏi trong việc vây thành, và thường gặp những vấn đề khi nỗ lực vây hãm một thành trì vững chắc nào đó. Quyết định triển khai quân đội của shah như vậy sau này được chứng tỏ là một sai lầm tai hại khi chiến dịch tiến triển.

Mặc dù mệt mỏi sau cuộc hành quân, người Mông Cổ vẫn thắng trận trước tiên. Một đội quân Mông Cổ, do Truật Xích (Jochi) lãnh đạo, khoảng từ 25.000 đến 30.000 người, đã tấn công quân của Shah ở nam Khwarezmia và ngăn không cho đội quân này đẩy lui quân Mông Cổ vào sâu trong núi.[14] Lực lượng chính của quân Mông Cổ, do Thành Cát Tư Hãn lãnh đạo, tiến tới Tp Otrar vào mùa thu năm 1219. Sau khoảng thời gian vây Otrar trong 5 tháng, quân của Hãn đã đột kích một cổng không được bảo vệ và tàn phá phần chính của Tp.[14]

Sau đó một tháng, pháo đài của Otrar thất thủ. Inalchuq cố thủ đến giờ phút cuối cùng, thậm chí ông còn trèo lên đỉnh của pháo đài vào giờ phút cuối và ném đá vào quân Mông Cổ đang tiến vào. Thành Cát Tư Hãn giết rất nhiều người dân trong thành, số sót lại bị tóm gọn làm nô lệ, Inalchuq bị xử tử và có thể ông ta đã bị người Mông Cổ dùng vàng hay bạc nóng chảy rót vào họng để trả thù việc đoàn lạc đà của họ bị tóm gọn.

Thành Cát Tư Hãn phái tướng Triết Biệt (Jebe) lãnh đạo một đội quân nhỏ tiến quân về phía nam, với ý định chặn đường rút lui của Shah đến nửa sót lại của vương quốc. Ngoài ra, Thành Cát Tư Hãn và Đà Lôi (Tolui), lãnh đạo một đội quân khoảng 50.000 người, đi vòng qua Samarkand và tiến về phía tây để vây hãm Tp Bukhara trước. Để làm được điều này, họ đã phải thực hiện một công việc có vẻ bất khả thi là vượt qua sa mạc Kyzyl Kum bằng việc đi từ ốc đảo này đến ốc đảo khác, dưới sự dẫn đường của những dân du mục bị họ bắt. Người Mông Cổ đã tới được cổng thành Bukhara trong lúc hầu hết là không bị phát hiện. Nhiều nhà chiến thuật quân sự đề cập đến cuộc tấn công ngạc nhiên vào Bukhara là một trong những cuộc đột kích thành công nhất trong lịch sử chiến tranh.[15]

Bukhara không phải là một Tp được phòng thủ vững chắc, chỉ có một lớp hào rãnh cùng một lớp tường thành và một pháo đài điển hình như các thành trì khác của đế quốc Khwarezmia. Quân đồn trú ở Bukhara bao gồm lính người Turk lãnh đạo bởi các tướng người Turk, những người này đã cố phá vây vào ngày thứ ba của cuộc vây hãm. Nhưng lực lượng phá vây này, có thể gồm 20.000 người, đã bị tiêu diệt trong trận chiến. Các lãnh đạo Tp sau đó đã mở cổng cho quân Mông Cổ, mặc dù một nhà cung cấp phòng thủ người Turk đã cố thủ trong pháo đài của Tp trong 12 ngày tiếp theo. Những người sống sót trong pháo đài bị xử tử, nghệ nhân và các thợ thủ công bị chuyển về Mông Cổ, nam thanh niên không tham chiến bị tóm gọn tham gia quân Mông Cổ và những người dân sót lại thì bị tóm gọn làm nô lệ. Khi quân Mông Cổ cướp phá Tp, một ngọn lửa bùng phát và san bằng hầu hết toàn thể Tp.[14] Thành Cát Tư Hãn triệu tập người dân đến ngôi đền Hồi giáo chính của thị xã, ở đó ông tuyên bố rằng ông là liên gia (cái neo dùng để đập lúa) của Thượng đế, được cử xuống để trừng trị họ vì những tội ác họ gây ra trước đó, và sau đó ông sai bảo xử tử toàn bộ bọn họ.

Sau khoảng thời gian Bukhara thất thủ, Thành Cát Tư Hãn tiến quân tới kinh đô của Khwarezmia là Samarkand vào tháng 3 năm 1220. Samarkand được tổ chức phòng thủ tốt hơn nhiều với khoảng 100.000 quân. Khi Thành Cát Tư Hãn khởi đầu vây thành, các con trai ông là Sát Hợp Đài (Chaghatai) và Oa Khoát Đài (Ogedei) cũng đến hợp quân với ông sau thời điểm chinh phục xong Otrar, và quân Mông Cổ khởi đầu tấn công Tp. Quân Mông Cổ sử dụng tù nhân làm lá chắn. Vào ngày thứ ba của trận chiến, quân đồn trú ở Samarkand mở một cuộc phản công. Giả vờ rút lui, Thành Cát Tư Hãn đã lừa khoảng 50.000 quân ra ngoài pháo đài của Samarkand và tiêu diệt họ trong trận chiến. Shah Muhammad nỗ lực giải vây Tp 2 lần, nhưng đều bị đẩy lui. Vào ngày thứ năm, ngoại trừ khoảng 2.000 lính, số sót lại đã đầu hàng. Những người lính sót lại, trung thành đến chết với Shah, đã cố thủ trong pháo đài. Sau khoảng thời gian pháo đài thất thủ, Thành Cát Tư Hãn đã nuốt lời hứa với những người đầu hàng và xử tử toàn bộ những người lính chống lại ông ở Samarkand. Người dân ở Samarkand được lệnh sơ tán và tập trung ở một khu đất trống ngoài Tp, ở đó họ bị tàn sát và đầu của họ được chất thành một hình kim tự tháp như là biểu tượng thắng cuộc của người Mông Cổ.[16]

Vào khoảng thời gian Samarkand thất thủ, Thành Cát Tư Hãn sai bảo cho Tốc Bất Đài (Subutai) và Triết Biệt (Jebe), hai tướng giỏi của mình, truy bắt Shah. Shah đã chạy trốn về phía tây với một số người lính trung thành và con trai ông là Jalal ad-Din Mingburnu, đến một quần đảo nhỏ trong biển Caspi. Ở đó, vào tháng 12 năm 1220, Shah chết. Hầu như các học giả cho rằng ông chết vì bệnh viêm phổi, một số khác thì cho rằng ông chết vì quá sốc với việc để mất Đế quốc một cách nhanh chóng.

Trong lúc đó, Tp thương mại sung túc là Urgench vẫn nằm trong tay lực lượng Khwarezmia. Trước đó, mẹ của Shah thống trị Urgench, nhưng khi nghe tin con trai mình đã trốn đến biển Caspi, bà ta cũng bỏ trốn. Bà bị tóm gọn và bị chuyển về Mông Cổ. Khumar Tengin, một tướng của Muhammad, tuyên bố ông ta là Sultan (quốc vương Hồi giáo) của Urgench. Truật Xích (Jochi), người đã lãnh đạo ở phía bắc kể từ đầu cuộc xâm lược, đã tiến quân tới Tp theo phía này, trong lúc Thành Cát Tư Hãn, Oa Khoát Đài, và Sát Hợp Đài tiến quân từ phía nam.

Xem Thêm  Khoa Khoa học thể thao - the thao khoa than

Cuộc tấn công Urgench là trận chiến khó khăn nhất của quân Mông Cổ từ đầu trận chiến. Tp được xây dựng dọc sông Amu Darya trong một vùng đồng bằng nhiều đầm lầy. Đất mềm vốn không phải là điều kiện thuận tiện cho việc vây thành, và các máy bắn đá bị thiếu đá. Mặc dù vậy, quân Mông Cổ vẫn tấn công, và thành chỉ thất thủ sau một trận chiến ác liệt với quân phòng thủ kiên định, giành giật từng khối nhà một. Thương vong của quân Mông Cổ cao hơn bình thường, do các chiến thuật của quân Mông Cổ không phù phù hợp với việc chiến tranh trong Tp.

Việc tiếp quản Urgench trở nên phức tạp do sự stress giữa Hãn và người con trai cả là Truật Xích, trước đó Hãn đã hứa là tặng Tp cho ông này. Mẹ của Truật Xích là Bột Nhi Thiếp (Borte), cũng là mẹ của 3 người em của ông. Chỉ những người con của bà ta mới được tính là những con trai và có thể trở thành người kế vị chính thức, so với những người con khác của 500 bà xã và thê thiếp khác của Thành Cát Tư Hãn. Tuy nhiên, việc Truật Xích có phải là con đẻ của Thành Cát Tư Hãn hay không vẫn đang là vấn đề gây tranh cãi; vì vào những ngày đầu khi Thành Cát Tư Hãn tạo dựng quyền lực, Bột Nhi Thiếp đã bị tóm gọn làm tù binh và bị cưỡng hiếp. Truật Xích được sinh ra 9 tháng sau đó. Dù Thành Cát Tư Hãn thừa nhận Truật Xích là con trai cả của ông (hầu hết là do tình yêu với Bột Nhi Thiếp, người mà lẽ ra ông đã từ bỏ và từ bỏ cả con của bà), nhưng những thắc mắc vẫn đề ra về dòng máu thật sự của Truật Xích.[3]

Sự stress xuất hiện khi Truật Xích tìm cách thương lượng với quân phòng thủ, nỗ lực khuyên họ đầu hàng để tránh cho việc Tp bị tàn phá. Điều này làm Sát Hợp Đài tức giận, và Thành Cát Tư Hãn đã tránh một cuộc xung đột giữa các con trai bằng cách chọn Oa Khoát Đài là lãnh đạo lực lượng vây hãm khi Urgench thất thủ. Nhưng việc Truật Xích bị tước quyền lãnh đạo, và việc cướp phá một Tp vốn đã được hứa cho ông đã khiến ông ta tức giận và khởi đầu xa lánh cha và các em mình, và điều này cũng là nhân tố quyết định cho hành động của ông ta sau này, người luôn phải nhìn thấy các em trai của mình được phong cấp cao hơn mình, mặc dù ông cũng có khả năng quân sự rất tốt.[5]

Như thường lệ, các nghệ nhân bị tóm gọn mang về Mông Cổ, phụ nữ trẻ và trẻ em bị tóm gọn làm nô lệ cho lính Mông Cổ, sót lại thì bị thảm sát. Học giả Ba Tư là Juvayni ghi lại rằng mỗi một người lính Mông Cổ được giao nhiệm vụ hành quyết 24 người Urgench, có khoảng 50.000 lính Mông Cổ tức là khoảng 1,2 triệu người bị giết. Có thể đây chỉ là con số thổi phồng, nhưng cuộc cướp bóc ở Urgench vẫn được xem như là một trong những vụ thảm sát đẫm máu nhất trong lịch sử loài người.

Sau đó, đến lượt Tp Gurjang phía nam biển Aral, bị phá hủy. Để bắt Tp phải đầu hàng, người Mông Cổ đã phá đập để làm ngập Tp, sau đó xử tử những người sống sót.

Khi quân Mông Cổ tiến quân đến Urgench, Thành Cát Tư Hãn đã phái con út của mình là Đà Lôi (Tolui) lãnh đạo một đội quân tiến về tỉnh Khorasan ở phía tây của đế quốc Khwarezmia. Khorasan trước đó đã nhận thấy được sức mạnh của quân Mông Cổ. Vào đầu trận chiến, các tướng Triết BiệtTốc Bất Đài đã vượt qua tỉnh này khi truy đuổi Shah. Tuy nhiên, vùng này rất khó bị khuất phục, nhiều Tp chính vẫn nằm ngoài sự kiểm tra của người Mông Cổ, và vùng này có nhiều lực lượng chống lại các lực lượng nhỏ Mông Cổ hiện diện trong vùng, khiến nổi lên một tin đồn là con trai của Shah là Jalal al-Din đang tập hợp quân đội để chống lại Mông Cổ. Quân của Đà Lôi gồm khoảng 50.000 người, bao gồm nòng cốt là lính người Mông Cổ (một số tài liệu ước tính khoảng 7.000[17]), được trợ giúp bởi một lượng lớn quân lính ngoại tộc, như người Turk và những dân tộc bị chinh phục trước đó ở Trung Hoa và Mông Cổ. Đội quân này cũng bao gồm “3.000 máy phóng tên cháy hạng nặng, 300 xe bắn đá, 700 máy bắn đá để bắn đá lửa, 4.000 thang đột kích, và 2.500 bao đất để lấp hào nước.”[8] Những Tp trước tiên thất thủ là TermezBalkh. Tp chính thất thủ trước quân của Đà Lôi là Merv. Juvayni viết về Merv như sau: “Về phạm vi lãnh thổ, nó nổi trội hơn hẳn so với những vùng đất khác của Khorasan, và cánh chim của hòa bình và sự bảo vệ bay trên biên giới của nó. Những con người ưu tú của nơi đây nhiều như những hạt mưa tháng tư, và vùng đất này có thể so sánh với những thiên đường.”[17]

Quân đồn trú ở Merv chỉ khoảng 12.000, và Tp tràn ngập những người chạy trốn từ phía đông của đế quốc Khwarezmia. Trong 6 ngày, Đà Lôi vây hãm Tp, và đến ngày thứ bảy, ông ta tấn công. Tuy nhiên, quân đồn trú đã chống trả lại cuộc tấn công và phản công lại quân Mông Cổ. Lực lượng đồn trú bị đánh bật trở lại phải lui vào trong Tp. Ngày ngày sau, thành chủ của Tp đầu hàng với lời hứa của Đà Lôi sẽ đảm bảo mạng sống cho dân cư. Tuy nhiên, ngay khi nắm quyền kiểm tra Tp, Đà Lôi tàn sát hầu như những người đầu hàng, trong một cuộc thảm sát thậm chí có thể còn to hơn cuộc thảm sát ở Urgench. Sau khoảng thời gian công hạ Merv, Đà Lôi tiến về phía tây, tấn công các Tp NishapurHerat.[18] Nishapur thất thủ chỉ sau 3 ngày; ở đây, Thoát Hốt Sát Nhi (Tokuchar), con rể của Thành Cát Tư Hãn bị tử trận, và Đà Lôi giết toàn bộ những sinh vật sống trong Tp, không tha cả chómèo, với vợ góa của Tokuchar quản lý trì cuộc giết chóc.[17] Sau khoảng thời gian Nishapur thất thủ, Herat đầu hàng không kháng cự và được tha chết. Với trường hợp những người Bamia ở Hindukush thì lại là một cảnh giết chóc khác, sự kháng cự mạnh mẽ ở đây đã làm cho một cháu trai của Thành Cát Tư Hãn tử trận. Tiếp theo là các Tp Toos và Mashad. Đến mùa xuân năm 1221, tỉnh Khurasan đã hoàn toàn nằm trong tay quân Mông Cổ. Để một lượng quân đồn trú ở lại, Đà Lôi quay trở lại phía đông để hội quân với cha ông ta.

Sau khoảng thời gian chiến dịch của quân Mông Cổ kết thúc ở Khurasan, quân đội của Shah đã tan rã. Jalal ad-Din Mingburnu, người kế vị sau tử vong của Shah, khởi đầu tập hợp tàn quân ở phía nam, trong vùng thuộc Afghanistan ngày nay. Thành Cát Tư Hãn phái các lực lượng truy lùng quân đội do Jalal al-Din tập hợp, và hai bên chạm trán ở thị xã Parwan vào mùa xuân năm 1221. Cuộc đụng độ này là một thất bại nhục nhã so với các lực lượng Mông Cổ. Thành Cát Tư Hãn tức giận, tự mình cầm quân tiến về phía nam, và tiêu diệt quân của Jalal al-Din trên sông Ấn. Jalal al-Din chạy trốn vào Ấn Độ. Thành Cát Tư Hãn truy lùng vị Shah mới này ở bờ phía nam sông Ấn một thời gian, nhưng không tìm được. Đại hãn quay trở lại phía bắc, mặc kệ Shah ở Ấn Độ.

Sau khoảng thời gian những trung tâm đối kháng sót lại bị tiêu diệt, Thành Cát Tư Hãn trở lại Mông Cổ, đặt một đội quân đồn trú Mông Cổ ở lại. Sự phá hủy và sáp nhập Đế quốc Khwarezmia là một rủi ro so với toàn cầu Hồi giáo, cũng như so với Đông Âu.[14] Vùng đất mới này là một bàn đạp trọng yếu cho quân Mông Cổ dưới thời Oa Khoát Đài, con trai Thành Cát Tư Hãn, để ông ta xâm lược Rus KievBa Lan, và những chiến dịch sau này đã mang quân Mông Cổ tới tận Áo, biển BalticĐức. So với toàn cầu Hồi giáo, sự sụp đổ của Khwarezmia đã mở đường cho quân Mông Cổ tiến vào Iraq, Thổ Nhĩ KỳSyria. Cả ba nhà nước này đều bị các Hãn về sau chinh phục.

Trận chiến với Khwarezmia cũng mang đến một thắc mắc trọng yếu so với việc kế vị. Khi chiến tranh khởi đầu, Thành Cát Tư Hãn đã không còn trẻ, và ông ta có bốn con trai, họ đều là những chiến binh mạnh mẽ và ai cũng có những kẻ trung thành theo mình. Tranh chấp đã xảy ra lần trước tiên trong cuộc vây hãm Urgench, và Thành Cát Tư Hãn buộc phải dựa vào người con thứ ba, Oa Khoát Đài, để kết thúc trận chiến. Sau khoảng thời gian Urgench bị tiêu diệt, Thành Cát Tư Hãn chính thức chọn Oa Khoát Đài là người kế vị, cũng như ra luật rằng các Hãn về sau phải là hậu duệ trực tiếp của Hãn trước đó. Dù luật này được thiết lập, nhưng 4 người con cuối cùng cũng tranh chấp, và những cuộc tranh chấp này trổ tài sự bất ổn trong Hãn quốc mà Thành Cát Tư Hãn tạo dựng.

Xem Thêm  Cầu thang bộ và buồng thang bộ trên đường thoát nạn – Trung tâm ứng phó sự cố An Toàn Môi Trường - cầu thang bộ

Truật Xích không khi nào tha thứ cho cha mình, và không còn cách nào hơn, là rút khỏi các trận chiến tranh của Mông Cổ sau này, tiến về phía bắc, nơi ông ta từ chối đến gặp Thành Cát Tư Hãn dù thu được lệnh phải đến.[3] Thật ra, trước khi chết, Thành Cát Tư Hãn cũng dự tính một cuộc tấn công người con phản loạn này. Sự cay đắng này chuyển qua con trai của ông ta là Bạt Đô (Batu), nhất là đến cháu ông, và Biệt Nhi Ca Hãn (Berke Khan) (của Kim Trướng Hãn quốc), những người đã chinh phục Rus Kiev.[10] Khi những người Mamluk Ai Cập giáng cho người Mông Cổ một trong những thất bại đáng kể nhất ở trận Ain Jalut năm 1260, hãn Húc Liệt Ngột (Hulegu Khan), một trong những cháu trai của Thành Cát Tư Hãn, con trai của Đà Lôi, người đã cướp phá Baghdad năm 1258, đã không thể trả thù thất bại đó vì người anh em họ của ông là Biệt Nhi Ca Hãn (đã cải sang Hồi giáo), đã tấn công ông ở Ngoại Kavkaz để trợ giúp Hồi giáo, và đây là lần trước tiên người Mông Cổ đánh người Mông Cổ. Những mầm mống của trận chiến đó bắt nguồn từ trận chiến với Khwarezmia khi những người cha của họ tranh đoạt quyền lãnh đạo tối cao.[14]

Một tháp (Hồi giáo) tại Tashkent

Trận Vâliyân (1221). Jami’ al-tawarikh, Rashid al-Din.

Di chỉ hoàng cung của Muhammad tại Urgench.


Xem thêm những thông tin liên quan đến đề tài đế quốc khwarezmia

Top 3 Quốc gia đả bại Đại đế chế Mông Cổ ? Dã Sử Truyện | Quá trình mở rộng lãnh thổ Mông Cổ #3

  • Tác giả: Dã Sử
  • Ngày đăng: 2020-03-01
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 5813 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Các tập trước Đại đế chế Mông Cổ: https://www.youtube.com/watch?v=_YCm_TPS5p0&list=PLzk2Q9O5QNlrbCParXgF1TH4eZQFOVjc_
    Mọi người xem thêm nội dung tại Blog https://bloglachong.com/top-3-quoc-gia-danh-bai-de-che-mong-co/
    Fanpage: facbook.com/lachongblog
    —————————————————————————————————————————-
    1. Đại Việt.
    Đại Việt trong thế kỷ 13 dưới sự lãnh đạo của nhà Trần là quốc gia trước tiên đánh hạ Mông Cổ, khiến Mông Cổ không thể thôn tính, buộc phải rút quân.
    Này là vào năm 1258, Đại Hãn Mông Cổ bấy giờ là Mông Kha trong chiến dịch thôn tính Nam Tống. Ông chia quân làm 4 lộ tấn công Nam Tống. Trong số đó cánh quân phía Tây Nam do người em Mông Kha là Hốt Tất Liệt cùng tướng Ngột Lương Hợp Thai, cánh quân này có nhiệm vụ đánh thọc hậu Nam Tống.
    Lộ quân này xuất phát từ thuộc quốc Đại Lý, quốc gia đã bị Mông Cổ thôn tính năm 1253. Lộ quân này được chia làm hai cánh. Cánh quân chính do Hốt Tất Liệt đánh thẳng vào vùng Tứ Xuyên, Trung Quốc. Trong lúc cánh quân sót lại được lãnh đạo bởi tướng Ngột Lương Hợp Thai con trai danh tướng Tốc Bất Đài, một trong tứ đại tướng quân của Thành Cát Tư Cãn.
    Ngột Lương Hợp Thai có nhiệm vụ dẫn quân men theo sông Hồng, tiến xuống phía Nam, thu phục vương quốc Đại Việt. Lấy Đại Việt làm bàn đạp để tấn công Quảng Nam Tây Lộ và Quảng Nam Đông Lộ.
    Quân Mông Cổ cùng 3 mặt giáp công, giày xéo nhà Tống.
    Cuối năm 1257, 4,5 vạn quân trong đó có 2,5 vạn kỵ binh Mông Cổ cùng 2 vạn quân Đại Lý, tràn vào Đại Việt theo hướng Tây Bắc.
    Trước tình hình đó, Đại Việt dưới sự lãnh đạo của nhà Trần, mà rõ ràng và cụ thể là Thái Tông Trần Cảnh, vua điều tướng Trần Quốc Tuấn ra biên giới phía Bắc trấn ải, còn tự mình ngự giá thân chinh chặn đánh giặc tại Bình Lệ Nguyên, Vĩnh Phúc. Tổng quân số Đại Việt bấy giờ có 10 vạn quân bao gồm 2 vạn cấm quân và 8 vạn sương binh ở các lộ. Tuy nhiên đa số các lộ sương binh đều phải trấn thủ tại địa phương nên để tập trung cho trận chiến, nhà vua Thái Tông không điều động quá 6, 7 vạn quân được. Tuy vậy, lực lượng Đại Việt vẫn gấp đôi so với quân Mông Cổ.
    Mặc dù có quân số đông hơn, cùng địa hình thân thuộc nhưng Bình Lệ Nguyên là một thất bại lớn của Đại Việt, vua Trần Thái Tông thoát hiểm trong gang tấc trước lưỡi giáo Mông Nguyên.
    Sau trận Bình Lệ Nguyên, Đại Việt thất thủ liên tục dọc tuyến thành trì ven sông Hồng, quân dân Đại Việt phải bỏ thành Thăng Long, thực hiện kế thanh dã để chặn bước tiền kẻ thù. Cũng chính vì vậy vó ngựa Mông Cổ không thể tung hoành như trước nữa.
    Sau một thời gian, bằng quyết sách “ngụ binh ưu nông” quân Đại Việt hồi phục nhanh chóng, nhà Trần bổ sung được lực lượng chất lượng. Trong lúc đó quân Mông Cổ ngày càng sa lầy tại chiến trường, không thể thanh toán nhanh Đại Việt. Kế sách thôn tính Đại Việt để làm bàn đạp đánh Tống bị phá sản. Thuỷ thổ không hợp, bệnh tật bùng phát trong quân lính, quân lương không đủ, lại thường xuyên bị quân Đại Việt tập kích. Tình cảnh quân sĩ vô cùng khốn khó. Cộng với này là tâm lý chủ quan khi quân Mông cho rằng, quân Trần đã kiệt quệ sau những trận thua lớn.
    Ngạc nhiên, cuối tháng 1 năm 1258, Đại Việt tung quân ồ ạt phản công quân Mông.
    Nửa đêm ngày 28 tháng 1, Thái Tông hoàng đế dẫn quân đánh thẳng vào Đông Bộ Đầu, Thăng Long. Quân Mông thua to, chết vô số kể, Ngột Lương Hợp Thai phải vội vàng rút quân về Đại Lý. Trên đường quân Mông Cổ còn bị tập kích khắp nơi, hơn 4 vạn lính đi chỉ còn chưa tới 1 vạn người trở về.
    Đại Việt trở thành quốc gia trước tiên quật ngã đế chế Mông Cổ hùng mạnh, buộc Mông Cổ phải tính đường khác để đánh Tống.
    Sau này, quân Mông Cổ còn tiến đánh Đại Việt thêm hai lần nữa vào các năm 1285 và 1288 với quy mô to hơn nhiều. Nhưng hai cuộc xâm lược ấy đều bị đập trước Hào khí Đông Á của quân và dân Đại Việt.
    Đại Việt trở thành quốc gia duy nhất bất khả chiến bại, quật ngã tới 3 lần Đại đế chế Mông Cổ.

    2. Vương triều Hồi giáo Ai Cập – Mamluk Sultanate
    Nói đến những thất bại thảm hại của đế chế Mông Cổ, bên cạnh 3 lần ngã ngựa trước Đại Việt kiên định, thì sau đó tại phía Tây, quân Mông Cổ cũng thua đau đội quân Hồi giáo của vương triều Mamluk Ai Cập….
    3. Thần Phong Nhật Bản Kamikaze
    Cùng với thất bại bại Ai Cập, Đại Việt, Nhật Bản cũng là một trong những thảm hoạ so với người Mông Cổ……
    ————————————————————–
    DãSửTruyện đếchếMôngCổ khángchiếnchốngquânMôngNguyên

Mông Cổ xâm lược Trung Á – Là gì Wiki

  • Tác giả: wiki.edu.vn
  • Nhận xét: 5 ⭐ ( 6550 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm:

3 vạn quân của Thành Cát Tư Hãn tràn vào Afghanistan, bị đánh thua tan tác ra sao?

  • Tác giả: www.24h.com.vn
  • Nhận xét: 3 ⭐ ( 3481 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Được mệnh danh là “mồ chôn của các đế chế”, Afghanistan nổi tiếng trong lịch sử toàn cầu là vùng đất khó bị chinh phục. Ngay cả Thành Cát Tư Hãn – người được

Đế Chế La Mã Thần Thánh

  • Tác giả: diendanseovietnam.edu.vn
  • Nhận xét: 5 ⭐ ( 7551 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: The Holy Roman Empire at its greatest extent during the Hohenstaufen dynasty (1155–1268) superimposed on modern state bordersCapitalVienna (Reichshofrat from 1497)Regensburg (Reichstag (Imperial Diet) from 1663)Wetzlar (Reichskammergericht from 1689)For other imperial administrative centres, see below, LanguagesLatin (administrative/liturgical/ceremonial)VariousReligionRoman Catholicism (800–1806)Evangelical Lutheranism (1555–1806)Calvinism (Reformed) (1648–1806)see detailsGovernmentElective ɱ

Cuộc thảm sát của Thành Cát Tư Hãn khiến đế quốc Trung Á sụp đổ

  • Tác giả: www1.kynangsong.org
  • Nhận xét: 3 ⭐ ( 9024 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: https://ift.tt/evyWO7N Sau khoảng thời gian thôn tính rất nhiều quốc gia, Thành Cát Tư Hãn đã mở rộng lãnh thổ sát tới vùng Trung Á. Lúc đầu vị Đại Hãn …

Fb

  • Tác giả: www.facebook.com
  • Nhận xét: 3 ⭐ ( 6977 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm:

Cuộc thảm sát của Thành Cát Tư Hãn khiến đế quốc Trung Á sụp đổ

  • Tác giả: trithucvn.org
  • Nhận xét: 5 ⭐ ( 9184 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Lúc đầu Thành Cát Tư Hãn có thiện ý muốn giao dịch thương mại với Đế quốc Khwarezm, nhưng Đế quốc đã phạm sai lầm khi giết…

Xem thêm các nội dung khác thuộc thể loại: Khám Phá Khoa Học

By ads_law