Nền kinh tế của mỗi quốc gia, bao gồm các nước phát triển hay đang phát triển, luôn phải đương đầu với rất nhiều thách thức tiềm tàng về khủng hoảng tài chính.

Bạn đang xem: khủng hoảng nợ công hy lạp

MỤC LỤC

  • LỜI MỞ ĐẦU
  • 𝓐. GIỚI THIỆU
    • Ι. Nguyên nhân chọn đề tài ………………………………………………………………………………………………
    • II. Mục đích phân tích …………………………………………………………………………………………..
    • III. Tổng quan phân tích đề tài và điểm mới ………………………………………………………….
    • IV. Phạm vi, đối tượng, phương pháp phân tích …………………………………………………….
  • Ɓ. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
    • CHƯƠNG Ι: CƠ SỞ LÝ THUYẾT …………………………………………………………………………………….
      • 1. Nợ công ……………………………………………………………………………………………………..
      • 1. Khủng hoảng nợ công …………………………………………………………………………………
    • CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG HY LẠP ……………………………………
      • 2. Hy Lạp trước khủng hoảng nợ công ……………………………………………………………
      • 2. Hy Lạp trong thời kì khủng hoảng …………………………………………………………….
      • 2. Thúc đẩy của cuộc khủng hoảng nợ công Hy Lạp ………………………………………
      • 2. Nguyên nhân cuộc khủng hoảng nợ công Hy Lạp ………………………………………
    • TAY” ……………………………………………………………………………………………………………………………… CHƯƠNG III: HY LẠP, CHÂU ÂU – DẪU “CẠN TÌNH” NHƯNG KHÔNG THỂ “BUÔNG
      • 3. Về phía Hy Lạp ………………………………………………………………………………………..
      • 3. Về phía Châu Âu ………………………………………………………………………………………
    • NĂM GẦN ĐÂY …………………………………………………………………………………………………………….. CHƯƠNG IV: TÌNH HÌNH CÔNG TÁC QUẢN LÝ NỢ CÔNG CỦA VIỆT NAM NHỮNG
      • 4. Tình trạng nợ công ở Việt Nam những năm gần đây …………………………………
      • 4. Một vài phương án cho công tác quản lí nợ công ………………………………………….
  • ₵. KẾT LUẬN

𝓐. GIỚI THIỆU

Ι. Nguyên nhân chọn đề tài ………………………………………………………………………………………………

Trong hoàn cảnh từng bước tiến của toàn cầu đang ngày càng hội nhập,
thương mại, kinh tế đóng vai trò hết sức trọng yếu so với mỗi cá nhân, tổ chức
và quốc gia. Song song với lợi nhuận mà kinh tế mang lại là nhiều rủi ro tiềm
tàng, rõ ràng và cụ thể là rủi ro về khủng hoảng, trong đó có khủng hoảng về nợ công.
Với guồng quay không ngừng thay đổi của thế kỉ 21, trong vòng 20 năm qua,
tất cả chúng ta đã được nhìn thấy nhiều nền kinh tế của các quốc gia khác nhau lâm
vào tình trạng khủng hoảng nợ, tình trạng quá tải, tình trạng đáng báo động, để
lại hậu quả và thúc đẩy xấu đến đời sống xã hội của người dân. Bên cạnh hiện
trạng về “kíp nổ kinh tế” ấy là những bài phân tích của các nhà kinh tế học,
trang thông tin truyền thông liên tục mang tin và nêu lên quan niệm ở nhiều góc
độ khác nhau nhằm tìm thấy phương án và rút kinh nghiệm cho những đường lối và
quyết sách sai lầm trước đó. Điều này đã minh chứng cho tầm trọng yếu của
việc phân tích về nợ công. Tiếp nối quá trình phân tích đó, nhóm sinh viên
khoa Luật quyết định lựa chọn đề tài “KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG HY LẠP”

  • Quốc gia minh chứng điển hình cho khủng hoảng nợ chính phủ – Để củng cố
    hơn cho tri thức nền tảng về kinh tế vĩ mô và tình hình nền kinh tế toàn cầu.
    Qua đó hiểu được nguyên nhân của những rủi ro về khủng hoảng, diễn ra như
    thế nào và tác động tới quốc gia ra sao, phục vụ cho phân tích lâu dài sau
    này về kinh tế vĩ mô.

II. Mục đích phân tích …………………………………………………………………………………………..

Phân tích toàn cảnh tình tiết cuộc khủng hoảng, thúc đẩy của nó đến với
nền kinh tế và xã hội của quốc gia nói riêng và toàn cầu nói chung như là một bài
học rút kinh nghiệm về đường lối và quyết sách kinh tế vĩ mô. Đồng thời, chúng
tôi tóm tắt sơ lược tình hình công tác quản lý nợ công của Việt Nam những năm
gần đây, gợi ý những biện pháp nhằm khắc phục tình trạng nợ chính phủ của
nước ta.

III. Tổng quan phân tích đề tài và điểm mới ………………………………………………………….

Trong quá trình phân tích và tìm hiểu những tài liệu về khủng hoảng nợ
công Hy Lạp, chúng tôi đã tổng hợp được một số bài báo, phân tích trên nhiều
góc độ khác nhau, rõ ràng và cụ thể là:

Vềề nguyên nhân , có “Nợ công Hy Lạp: Nguyên nhân và bản chấất” –
Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam : Cung ¢ ấấ ᴘ thông tin 𝒱 ềề nguyên nhân
của nợ công, bản ch ấấ t nợ công và đ ưa ra những y ềấ u t ốấ chủ quan gây nên cuộc
khủng hoảng tại Hy Lạp. Tuy nhiên, bài báo chưa đề cập tới những nguyên
nhân khách quan bên ngoài – phần yếu tố không nhỏ dẫn tới cuộc khủng hoảng.

Về tình tiết , có “Chặng đường đưa Hy Lạp tới cảnh vỡ nợ” – Báo Điện
tử VnExpress : Tóm tắt sơ lược những mốc thời gian cuộc khủng hoảng. Mặc dù
những mốc thời gian được sắp xếp rõ ràng và cụ thể nhưng những sự kiện điển hình thiếu
cụ thể trọng yếu về số liệu, ngoài ra các cột mốc thời gian còn bị trùng lặp.

Về hậu quả , có “Hậu quả của Hy Lạp vỡ nợ trên thị trường châu Âu” –
Công An TP. HCM : Có đề cập qua tới những tác động tiêu cực cuộc khủng
hoảng về mặt kinh tế. Tuy nhiên lại chưa trình bày toàn diện những phương diện
quốc tế khác cũng như trong nước.

Và còn tồn tại những bài tiểu luận phân tích khác như: Khủng hoảng nợ
công Hy Lạp (Trường ĐH Ngoại Thương – 2011); Vấn đề về khủng hoảng nợ
công tại Hy Lạp; Bồ Đào Nha và bài học rút ra cho Việt Nam ; Khủng hoảng về
nợ công ở Châu Âu; …

 Qua đây, ta có thể thấy vấn đề về nợ công nói chung và khủng hoảng nợ
công Hy Lạp nói riêng đã và đang được phân tích và quan tâm, như là bài học
kinh nghiệm cần được đúc rút và cải tổ. Tuy nhiên trong số những bài nghiên
cứu ấy vẫn còn những hạn chế trên phương diện về tình tiết, nguyên nhân và
tác động. Do đó, bài tiểu luận của nhóm sẽ tổng hợp lại đầy đủ và toàn diện
hơn những phương diện đó.

 Ngoài ra, bằng sự tìm tòi thêm và ứng dụng tri thức vĩ mô vốn có, bài
tiểu luận sẽ mang ra những hướng nhìn lý giải thêm về tình huống khác khi mà Hy
Lạp sẽ rời khỏi khối đồng tiền chung Châu Âu; nguyên nhân vì sao liên minh EU không
thể bỏ rơi con nợ của mình, cố chấp cho Hy Lạp vay đến hơn 500 tỷ euro và
không buông tay một thành viên có nền kinh tế suy thoái gây ra những hậu quả
tiêu cực cho khối đồng tiền chung, ngắt dở ước vọng trở thành một “liên bang
Châu Âu” của những nhà lãnh đạo các quốc gia thuộc EU.

Ɓ. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG Ι: CƠ SỞ LÝ THUYẾT …………………………………………………………………………………….

1. Nợ công

Mỗi một quốc gia đều có bộ máy chính quyền, người dân bầu ra bộ máy này
để điều hành hoạt động của quốc gia, đứng đầu là Chính phủ, tiếp đó là chính
quyền các địa phương. Việc hoạt động của chính quyền quốc gia phải có ngân sách,
và ngân sách này do dân đóng thuế, các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà
nước hay các khoản đóng góp, viện trợ… Và trong một thời điểm nhất định, khi
các khoản thu không giải quyết được nhu cầu tiêu pha, nhà nước cần kêu gọi
nguồn lực ở cả trong và ngoài nước để thực hiện các nhiệm vụ, tính năng của
mình. Vậy nên, nợ công xuất phát từ thâm hụt ngân sách, tổng tiêu pha Chính
phủ to hơn tổng các nguồn thu.

1.1. Khái niệm
“Nợ công” là khái niệm tương đối phức tạp, một cách tổng quan nhất, có thể
hiểu “nợ công” là tổng giá trị các khoản tiền mà chính phủ thuộc mọi cấp từ
trung ương đến địa phương đi vay nhằm tài trợ cho các khoản thâm hụt ngân
sách, vì vậy, nợ chính phủ, nói cách khác, là thâm hụt ngân sách luỹ kế tính đến
một thời điểm nào đó.

1.1.2ân loại
Theo thời hạn đi vay, nợ công được chia thành nợ ngắn hạn (dưới 1 năm), nợ
trung hạn (dưới 10 năm) và nợ lâu dài (trên 10 năm). Theo phạm vi kêu gọi
vốn, nợ công bao gồm nợ vay trong nước và nợ vay nước ngoài.

Căn cứ Điều 4, Luật Quản lý nợ công 2017 quy định:

“1. Nợ Chính phủ bao gồm:

α) Nợ do Chính phủ phát hành dụng cụ nợ;

ɓ) Nợ do Chính phủ ký kết trao đổi vay trong nước, nước ngoài;

Xem Thêm  Thám tử lừng danh Conan: Bố Shinichi và tiến sĩ Agasa đứng đầu trong top 8 nhân vật có hành tung bí ẩn nhất - phát minh thứ 2 của tiến sĩ agasa cho conan

¢) Nợ của ngân sách trung ương vay từ quỹ dự trữ tài chính của Nhà nước,
ngân quỹ nhà nước, quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách.

2. Nợ được Chính phủ bảo lãnh bao gồm:

α) Nợ của doanh nghiệp được Chính phủ bảo lãnh;

ɓ) Nợ của ngân hàng quyết sách của Nhà nước được Chính phủ bảo lãnh.

3. Nợ chính quyền địa phương bao gồm:

α) Nợ do phát hành trái phiếu chính quyền địa phương;

ɓ) Nợ do vay lại vốn vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài

¢) Nợ của ngân sách địa phương vay từ ngân hàng quyết sách của Nhà nước,
quỹ dự trữ tài chính cấp tỉnh, ngân quỹ nhà nước và vay khác theo quy định của
pháp luật về ngân sách nhà nước.”

1.1.3ác động 2 mặt của nợ công đến nền kinh tế

*) Thúc đẩy tích cực

  • Nợ công làm tăng trưởng nguồn lực Nhà nước, tăng cường nguồn vốn phát triển
    nền tảng hạ tầng và tăng khả năng đầu tư đồng bộ, từ đó tăng trưởng năng lực sản xuất
    cho nền kinh tế.

  • Vay nợ tạo nguồn lực giúp chính phủ chủ động trong cân đối nguồn lực tài
    chính, khắc phục sự thiếu hụt vốn trong các hoạt động thức đẩy kinh tế – xã hội.

  • Nợ công giúp chính phủ tận dụng nguồn tài chính nhàn rỗi của người dân
    thông qua việc phát hành trái phiếu, kêu gọi nguồn lực cho quốc gia, sử dụng
    vào các công việc chung nhằm phát triển quốc gia. Điều này mang lại lợi nhuận kinh
    tế cho cả khu vực công lẫn khu vực tư

  • Kêu gọi nợ công cũng giúp chính phủ tận dụng được nguồn vốn từ nước
    ngoài, từ các tổ chức tài chính quốc tế và các quỹ đầu tư. Nguồn vay nước ngoài
    sẽ là nguồn tài trợ đa số cho các nước đang trong thời kỳ phát triển mà
    không làm thoái lui đầu tư khi đầu tư chính phủ tăng cao

  • Nợ công góp phần bù đắp thâm hụt ngân sách nhà nước, trong lúc việc in tiền
    tác động tiêu cực đến nền kinh tế, tăng thuế, giảm đầu tư cùng các quyết sách
    khác phải được thực hiện trong một khoảng thời gian tương đối dài thì cần vay
    nợ để bù đắp khi các nguồn khác chưa thỏa mãn kịp

  • Nợ công góp phần xúc tiến hội nhập quốc tế. Khi vay nợ từ nước ngoài cần phải có
    sự nỗ lực cải tiến về các mặt trong nền kinh tế của nước đi vay nợ, và việc tiếp
    cận với máy móc, thiết bị, công nghệ của các nước cho vay là thời dịp lớn để học
    hỏi và hội nhập sâu rộng vào kinh tế toàn cầu.

Khủng hoảng nợ công bùng phát khi khoản nợ của chính phủ đã ở mức không
an toàn so với quy mô nền kinh tế đồng thời kinh tế đạt ở mức tăng trưởng thấp.

1.2.2ấu hiệu
Khủng hoảng nợ công thường xuất hiện với những dấu hiệu cơ bản như:

  • Lãi suất trái phiếu do chính phủ phát hành tăng mạnh, việc phát hành
    thêm trái phiếu ngày càng trở nên khó khăn hơn
  • Thâm hụt ngân sách lớn, chính phủ phải tìm kiếm, mời gọi viện trợ từ các
    quốc gia khác hoặc các tổ chức tài chính, tín dụng trên toàn cầu
  • Nợ công tăng trưởng vượt quá ngưỡng an toàn và chính phủ không có khả
    năng chi trả các khoản nợ đến hạn
  • Hệ thống thể chế, giám sát không theo kịp những biến động của thị trường
    tài chính
  • Sự tin tưởng của công chúng, của các nhà đầu tư giảm sút mạnh kéo theo thoái
    lui đầu tư và có khả năng xảy ra các cuộc đình công, biểu tình.

1.2.3ên nhân
Khủng hoảng nợ công bắt nguồn từ các nguyên nhân sau:

  • Tiết kiệm trong nước thấp dẫn tới vay nợ nước ngoài cho tiêu pha công
  • Mức tiêu pha chính phủ tăng cao so với tổng mức thu kéo theo ngân sách
    bị thâm hụt
  • Nguồn thu giảm sút cũng là một nhân tố kéo theo tình trạng thâm hụt ngân
    sách và tăng trưởng nợ công. Trốn thuế và hoạt động kinh tế ngầm là nhân tố
    giảm nguồn thu ngân sách. Hệ thống thuế với mức thuế cao và các điều
    luật vô lý, phức tạp cùng sự điều tiết thiếu hiệu quả cũng là nguyên nhân
    kéo theo trốn thuế và kinh tế ngầm
  • Sự tiếp cận dễ dãi với nguồn vốn nước ngoài và sự dụng, quản lí vốn vay
    thiếu hiệu quả
  • Sự thiếu tính sáng tỏ trong các số liệu thống kê sẽ kéo theo lung lay
    sự tin tưởng của các nhà đầu tư và dễ mang đến làn sóng ồ ạt rút tiền khỏi quốc
    gia này.

1.2.Tác động
*) So với các nước vay nợ

Khủng hoảng nợ công có tác động tiêu cực đến các nước vay nợ, làm
mất độ xếp hạng tín dụng quốc gia, xuất hiện hiện tượng “thoát lui đầu tư”,
tăng trưởng lạm phát, làm tăng lãi suất trái phiếu chính phủ, GDP sụt giảm
nghiêm trọng, thất nghiệp tăng trưởng một cách nhanh chóng, những người
nghèo lại càng thêm nghèo khổ do thắt chặt các quyết sách công để khắc phục
tình trạng nợ, vì vậy gây nên giận dữ lớn trong xã hội, bùng phát các cuộc đình
công và biểu tình.
Nợ công càng nhiều càng khiến các “con nợ” phụ thuộc vào các nước
“chủ nợ”, điều này kéo tụt vị trí chính trị của một quốc gia, lúc này những
nước lớn lại càng có dịp can thiệp sâu vào những nước đang phát triển. Điển
hình như Mỹ đã từng muốn biến Mỹ Latinh thành “sân sau” của Mỹ.
*) So với các nước cho vay
Bức tranh kinh tế – xã hội các quốc gia cho vay nợ trong thời kỳ khủng
hoảng nợ công của các nước đi vay cũng tương đối u ám. Các quốc gia đi vay nợ
rơi vào khủng hoảng, trì trệ, ngừng nhập khẩu từ các nước cho vay gây nên
sự sụt giảm trong kinh tế của quốc gia chủ nợ. Và khi các con nợ lớn tuyên
bố không có khả năng thanh toán nợ, các nước chủ nợ phải chịu thâm hụt
một số vốn đáng kể, đồng thời hệ thống tài chính quốc tế cũng bị lung lay.

CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG HY LẠP ……………………………………

2. Hy Lạp trước khủng hoảng nợ công

Hy Lạp là một quốc gia có chủ quyền thuộc khu vực Nam Âu, là một trong
những nền văn minh rực rỡ nhất của thời kỳ cổ xưa. Năm 1981, quốc gia này gia
nhập Liên minh Châu Âu (EU), tham gia Eurozone (khu vực sử dụng đồng tiền
chung Euro) năm 2001. Dân số Hy Lạp khoảng 11,08 triệu dân (năm 2008).

Trước khủng hoảng, nền kinh tế Hy Lạp khá phát triển với thế mạnh về du
lịch, ngoài ra các nghề kinh tế khác như ngân hàng, tài chính, viễn thông, sản
xuất các thiết bị công nghệ hàng đầu và kinh tế biển cũng phát triển nhanh.

Hy Lạp có nhiều khoáng sản: Boxit, quặng sắt, niken,…
Hy Lạp là quốc gia nhận viện trợ lớn nhất của EU với 3,3% GDP. Cơ cấu
kinh tế của Hy Lạp như sau: dịch vụ chiếm 80,6%, công nghiệp 15,9% và nông
nghiệp 3,5%.

nhiên trong thực tiễn, một kỳ Olympic tiêu tốn đến 8 tỷ 954 triệu bảng Anh (theo
Ủy ban Olympic Hy Lạp) khiến nước này từng bước rơi vào khủng hoảng.

Tháng 2/2009 , thủ tướng Hy Lạp thừa nhận nền kinh tế Hy Lạp đang ở trong
tình trạng cần đặc biệt quan tâm do khoản nợ công tăng cao rất đang lo ngại ở
nước này.

Khi khủng hoảng tài chính toàn thế giới nổ ra, giải trình thâm hụt ngân sách trung
bình của Hy Lạp là 5% so với mức 2% của khu vực châu Âu, thâm hụt tài khoản
vãng lai 9% so với trung bình chung 1% theo thống kê của IMF (Quỹ tiền tệ
quốc tế). Và cho đến năm 2009 nước này lâm vào khủng hoảng, đối mặt với
nhiều thách thức lớn như tăng nợ công (115% GDP), thâm hụt ngân sách ở mức
kỉ lục 13,6%, nguyên nhân do tiêu pha chính phủ quá nhiều, thất nghiệp, lạm
phát, 20% dân số sống dưới mức khổ sở. Cả thâm hụt ngân sách lẫn nợ nước
ngoài đều trên mức cho phép theo qui định của liên minh tiền tệ và kinh tế EU.

2. Hy Lạp trong thời kì khủng hoảng

Khủng hoảng nợ công tại Hy Lạp tiềm tàng các rủi ro bùng phát từ trước
năm 2009 , như thâm hụt ngân sách triền miên, nợ công tăng cao, chính phủ chi
tiêu mạnh tay mà không tạo ra giá trị thật cho nền kinh tế và hoàn thiện nghĩa
vụ trả nợ, quyết sách tài khóa lỏng lẻo, thông tin không sáng tỏ.

Xem Thêm  Top 12 cách chụp ảnh 4d mới nhất năm 2022 - ảnh 4d

(Ngòi nổ của cuộc khủng hoảng nợ công tồi tệ nhất châu Âu bắt nguồn vào
năm 2009, khủng hoảng tập trung trong 3 năm 2009, 2010, 2011).

(Có thể thấy, tỷ lệ nợ công / GDP của Hy Lạp những năm 2000 – 2005 đều
ổn định dưới mức 105%, tuy nhiên xuất phát điểm từ năm 2006 – 2009 thì tỷ lệ này đã
tăng vọt, luôn trên mức 105%. Đỉnh điểm là năm 2009 với 112%).

Cuối tháng 9/2009 , chỉ vài tuần trước khi bị hạ gục trong cuộc tổng tuyển
cử ngày 4/10/2009, chính quyền của Thủ tướng Costas Karamanlis cho biết
thâm hụt ngân sách năm 2009 của Hy Lạp ở mức 6-8% so với GDP.

Tháng 10/2009 , niềm tin của các nhà đầu tư vào Hy Lạp khởi đầu lung lay do
sau khoảng thời gian thắng lợi, tân thủ tướng George Papandreou mang ra con số ước tính
thâm hụt ngân sách là 12,9%, gần gấp đôi con số ước tính lúc này là 6,7% và gấp
hơn 4 lần mức cho phép của một quốc gia sử dụng đồng Euro.

Ngày 8/12/2009 , khủng hoảng leo thang khiến mức trái phiếu của Hy Lạp sụt
giảm nhanh chóng sau khoảng thời gian bị tổ chức Fitch hạ bậc tin tưởng về nợ lâu dài từ 𝓐-
xuống BBB+.

Ngày 12/9/2009 , Thủ tướng Papandreou tuyên bố thẳng tay với nạn tham
nhũng, đánh thuế 90% lên các khoản thưởng của giới “cá mập” ngân hàng, cấm
toàn thể các khoản tiền cho quan chức điều hành khu vực công. Sau đó 10 ngày,
Quốc hội thông qua dự thảo ngân sách nỗ lực giảm thiểu thâm hụt ngân sách 4%.
Trước tình hình đó, đã nổ ra các cuộc biểu tình bạo lực của hàng nghìn công
nhân phản đối quyết sách giảm thiểu ngân sách này.

Tới cuối tháng 11 , những lo ngại về tình trạng vỡ nợ của Dubai World lại
dấy lên những quan ngại về khả năng xảy ra tình trạng vỡ nợ quốc gia hàng loạt
của các chính phủ dưới sức ép của khủng hoảng tài chính, mà Hy Lạp với những
khoản nợ nước ngoài lớn (300 tỷ Euro) đã trở thành một mối quan tâm đặc biệt.
Những nghi ngờ về các số liệu thống kê không chuẩn xác, không được giải trình
và hoạt động cải tiến không ổn định đã làm giảm xếp hạng tín dụng của Hy Lạp
vào cuối năm 2009 khiến nước này rơi vào khủng hoảng tài chính. Đáng báo
động hơn, nền kinh tế lớn thứ 27 toàn cầu này rất có thể chính là kíp nổ của toàn
bộ hệ thống tài chính và tiền tệ châu Âu.

Vào ngày 11/2/2010 , Đức phản đối gói cựu trợ nhanh Hy Lạp và cho rằng
quốc gia này cần phải tự mình xoay sở để khắc phục vấn đề.

Đứng trước tình thế bất lợi như vậy, chính phủ Hy Lạp vẫn tiếp tục rao bán
các loại trái phiếu chính phủ nhằm kêu gọi thêm vốn cho tiêu pha. Chính phủ
Hy Lạp đã vay được 10,6 tỉ USD vào tháng 1/2010; 6,7 tỉ USD vào tháng
3/2010 và 2,07 tỉ USD vào tháng 4/2010 cùng mức lãi suất rất cao. Không chỉ
dừng lại ở đó, Hy Lạp còn vay thêm 71,8 tỉ USD bằng các trao đổi trực tiếp
với các nước và các tổ chức quốc tế để thanh toán các khoản nợ sắp đến gần.

ngoái. Hy Lạp tiếp tục đứng trước rủi ro vỡ nợ rất cao, nợ công chiếm 172%
GDP. Hy Lạp cần thêm các khoản vay mới.

Ngày 21/07/2011 , Eurozone và IMF tiếp tục cho Hy Lạp vay 229 tỷ USD với
lãi suất 3,5%/năm, đáo hạn 30 năm và có thể gia hạn thời gian hoàn trả thêm 10
năm, nhắm giúp nước này khôi phục nền kinh tế. Eurozone cũng từng mang ra một
số hình thức bảo lãnh trái phiếu chính phủ của Hy Lạp để các ngân hàng của Hy
Lạp có thể tiếp tục được các Ngân hàng Trung ương châu Âu trợ giúp thanh
khoản.

Từ sau 2012 , nhờ các biện pháp tài chính thắt chặt, tình trạng nợ công tại
nước này dần hạ nhiệt, tuy nhiên vẫn kéo theo những tác động tiêu cực cho
không chỉ Hy Lạp mà còn cả hệ thống kinh tế tài chính châu Âu.

So sánh thâm hụt ngân sách và nợ của Hy Lạp với một số nước châu Âu
Nguồn: EC
(Mức thậm hụt ngân sách của Hy Lạp đứng thứ hai châu Âu sau UK; nợ
chính phủ trên GDP đứng thứ hai châu Âu sau Ý. Hai số liệu trên cho thấy nền
kinh tế Hy Lạp đang trên đà suy thoái nặng nề và là kíp nổ kinh tế cho toàn khu
vực EU).

2. Thúc đẩy của cuộc khủng hoảng nợ công Hy Lạp

2.3.So với Hy Lạp
Giới đầu tư quốc tế vô cùng quan ngại đến khả năng thanh toán các khoản
nợ khổng lồ của Hy Lạp do thâm hụt ngân sách kéo dài và thường xuyên vay
thêm nợ. Do đó Svàamp;Ρ, Moody’s và Fitch liên tục hạ xếp hạng tín dụng của trái
phiếu chính phủ nước ngoài, có thời kỳ hạ xuống mức CCC (theo Fitch đây là

mức cận kề phá sản) do đó việc Chính phủ Hy Lạp vay thêm nợ mới là hết sức
khó khăn.

Xếp hạng tín dụng giảm, kéo theo đó giá trái phiếu chính phủ cũng giảm
theo, để kêu gọi được vốn chính phủ buộc phải tăng lãi suất của các chứng
khoán chính phủ. Từ năm 1998 – 2011, lãi suất trung bình của trái phiếu chính
phủ Hy Lạp là 5,21% (mức cao nhất là 11,39% vào thời điểm tháng 12/2010 và
mức thấp nhất là 3,23% vào thời điểm tháng 9/2005).

Đứng trước rủi ro vỡ nợ, chính phủ Hy Lạp buộc phải thông qua các
quyết sách khắc khổ, thắt chặt tiêu pha. Quyết sách khắc khổ này đã tạo thành một
làn sóng biểu tình mạnh mẽ từ phía người dân_._

Chính phủ Hy Lạp cần phải giảm thâm hụt ngân sách, và để làm được
điều này cần tăng thuế. Khi tăng thuế, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) sụt
giảm do sức mê hoặc của nền kinh tế đã giảm đi.

Nợ đầm đìa, Hy Lạp có thể mất khả năng tiếp cận thị trường tài chính
quốc tế, những điều kiện ưu đãi kèm theo khoản vay mất đi, lãi suất cho vay sẽ
rất cao thậm chí trong trường hợp xấu nhất không thể kêu gọi được nguồn vốn.

Tác động mạnh mẽ và có thể thấy rõ nhất là sự sụt giảm GDP, khủng
hoảng khiến GDP Hy Lạp liên tục sụt giảm mạnh, kéo nền kinh tế nước này thụt
lùi 16 năm.

Việc giảm thiểu tiêu pha, tăng thuế làm giảm đầu tư, tăng trưởng thất nghiệp, tỉ
lệ thất nghiệp càng tăng trưởng trầm trọng.

2.3.So với hệ thống ngân hàng Châu Âu và trên toàn cầu
Theo Bloomberg, giá dầu và đồng Euro giảm ngay sau khoảng thời gian Hy Lạp thông
báo các biện pháp ngăn chặn dòng tiền chảy ra khỏi hệ thống ngân hàng và gây
căng thẳng cho các chủ nợ nhượng bộ trước khi chương trình cứu trợ hết hạn vào
ngày 29/6. Chỉ số chứng khoán Đức DAX sụt 2,9% xuống 11,41 điểm trong
phiên giao dịch sớm, còn chỉ số chứng khoán Pháp CAC giảm 3,4% xuống
4,69. Chỉ số FTSE 100 của Anh mất 1,6% xuống 6,83.

Hy Lạp là một quốc gia nhỏ của Eurozone, chỉ đóng góp khoảng 2,4%
GDP cho khu vực nhưng nhiều người lo ngại Hy Lạp vỡ nợ sẽ kéo theo hiệu ứng
domino. Sau Hy Lạp là Italia, suy thoái từ 2011 với khoản nợ 130,3% GDP, kế
đến là Bồ Đào Nha với 127,2%, Ireland 125,1%, Tây Ban Nha 88,2%.

tăng trưởng. Mặt khác, vào thập niên 90, tỷ lệ tiết kiệm trong nước trung bình
của Hy Lạp chỉ ở mức 11%, thấp hơn nhiều so với mức 20% của các nước như
Bồ Đào Nha, Ý, Tây Ban Nha và đang có xu thế sụt giảm nhanh chóng. Do
vậy, đầu tư trong nước bị phụ thuộc vào các dòng vốn tới từ bên ngoài, cộng
thêm việc lợi tức trái phiếu liên tục giảm nhờ vào việc tham gia liên minh châu
Âu EU (năm 1981) và làn sóng bán tháo trái phiếu từ dân chúng cho thấy Hy
Lạp đã để vuột khỏi tay một kênh kêu gọi vốn sẵn có buộc chính phủ Hy Lạp
tăng cường vay nợ tài trợ vốn nước ngoài cho tiêu pha công.

Xem Thêm  Những Điều Cần Kiêng Kỵ Khi Nhà Có Người Mất Nên Biết Tránh Tại Họa - kiêng ra thăm mộ

(Nguồn: Morgan Stanley)

(Đường màu tím đại diện cho Hy Lạp là đường liên tục tăng cao nhất lần lượt
chạm mốc 147% và 172%).

Nguyên nhân thứ hai, tiêu pha công tăng cao kéo theo thâm hụt ngân
sách****.
Sự mất cân đối tài khóa khổng lồ diễn ra trong suốt các năm từ 2004-2009,
trong đó sản lượng danh nghĩa tăng 40%, tiêu pha công tăng 87%, mức tăng của
thu nhập thuế chỉ ở mức 31%. Bộ Tài chính Hy Lạp mang ra mục tiêu khôi phục
cân đối tài khóa bằng cách tăng cường giảm thiểu tiêu pha thường xuyên (mức
tiêu pha chỉ được phép tăng 3,8% trong thời kỳ 2009-2013, thấp hơn mức lạm
phát dự kiến là 6,9%) và tổng thu ngân sách theo plan sẽ tăng 31,5% từ năm
2009 – 2013 bằng cách tăng thu thuế và cải tiến sâu rộng hệ thống thu thuế vốn
không hiệu quả. Trong thời kỳ này, thâm hụt ngân sách của Hy Lạp thường
xuyên vượt quá mức 3% GDP cho phép của Liên minh châu Âu.

  • Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), tiêu pha cho quản
    lý công trong tổng số tiêu pha công của Hy Lạp năm 2004 đã cao hơn nhiều so
    với các nước thành viên OECD khác trong lúc chất lượng và số lượng dịch vụ
    không được cải tổ nhiều. Năm 2008, khủng hoảng tài chính toàn nổ ra đã ảnh
    hưởng khá mạnh đến các nghề công nghiệp then chốt của Hy Lạp. Nghề du
    lịch và vận tải biển, thu nhập đều sụt giảm trên 15% trong năm 2009. Kinh tế
    Hy Lạp cũng lâm vào tình trạng khó khăn, nguồn thu để tài trợ cho ngân sách
    nhà nước bị co hẹp mạnh. Trong lúc đó Hy Lạp lại phải tăng cường tiêu pha
    công để kích thích kinh tế. Tiêu xài kích thích kinh tế sau khủng hoảng năm
    2008 cũng làm trầm trọng thêm vấn đề nợ công. Đến tháng 01/2010, nợ công
    của Hy Lạp ước tính lên tới 216 tỷ Euro và mức nợ lũy kế đạt mức 130% GDP.

  • Sự già hóa dân số và hệ thống lương hưu vào loại phóng khoáng vị trí thứ nhất
    khu vực châu Âu của Hy Lạp cũng được xem như là một trong những gánh nặng cho
    tiêu pha công. Phán đoán tỷ lệ số người trên 64 tuổi của Hy Lạp sẽ tăng từ 19%
    năm 2007 lên 32% năm 2060. Người về hưu được hưởng một khoản tiền tương
    đương với 70-80% mức lương chính thức trước khi về hưu chưa kể những lợi
    ích từ những cơ chế trợ giúp khác với đủ 35 năm hiến dâng so với mức 40 năm ở
    các quốc gia châu Âu khác. Ước tính tổng số vốn chi trả cho lương hưu khu vực
    công của Hy Lạp sẽ tăng từ 11,5% GDP (2005) lên 24% (2050). Theo nhận xét
    của các nhà kinh tế, bộ máy công quyền cồng kềnh và thiếu hiệu quả của Hy
    Lạp chính là nhân tố chính đằng sau sự thâm hụt của quốc gia này.

Nguyên nhân thứ ba là sự dễ dãi khi tiếp cận với vốn nước ngoài và sử
dụng vốn không hiệu quả.
Trong gần một thập kỷ qua, chính phủ Hy Lạp liên
tục bán trái phiếu để thu về hàng trăm tỷ đôla. Số vốn này lẽ ra có thể giúp kinh
tế Hy Lạp tiến rất xa nếu chính phủ có plan tiêu pha hợp lý nhưng thực tiễn bộ
máy quản trị quốc gia đã tiêu pha quá tay (phần lớn cho nền tảng hạ tầng) mà hầu
như không quan tâm đến các plan trả nợ. Sự tiếp cận dễ dãi với nguồn vốn
đầu tư nước ngoài và việc sử dụng nguồn vốn không hiệu quả của chính phủ Hy
Lạp đã kéo theo hậu quả mức nợ công ngày càng tăng.


Xem thêm những thông tin liên quan đến đề tài khủng hoảng nợ công hy lạp

EcoNews #3: KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG HY LẠP

  • Tác giả: Science for Economics
  • Ngày đăng: 2022-04-03
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 1445 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: EcoNews là bản tin thời sự về những vấn đề kinh tế nổi trội được thực hiện bởi team bố Gin.
    _____________________

    Khủng hoảng tài chính năm 2007-2008 để lại rất nhiều hậu quả cho các nước tại châu Âu, điển hình là cuộc khủng hoảng nợ công của Hy Lạp. Chính phủ Hy Lạp phải chính thức cầu viện cứu trợ quốc tế vào ngày 23/04/2010.
    Ngày 02/05/2010, chính phủ các nước khu vực đồng Euro và IMF tán thành gói cứu trợ 110 tỷ Euro cho Hy Lạp trong vòng ba năm. Đến cuối tháng 07/2011, các tổ chức xếp hạng tin tưởng quốc tế hạ mức tin tưởng của Hy Lạp gần đến mức thấp nhất là vỡ nợ. Chính phủ các nước khu vực đồng Euro và IMF đã yêu cầu Hy Lạp thực thi nhiều biện pháp khắc khổ, giảm thiểu tiêu pha để thu được gói cứu trợ. Từ đó, chính phủ Hy Lạp đã phải thực thi nhiều quyết sách kinh tế khắc khổ làm cho tổng cầu giảm mạnh, kinh tế rơi vào suy thoái rất sâu và thất nghiệp đạt mức rất cao. Tính đến tháng 01/2010, nợ công của Hy Lạp ước tính lên tới 216 tỷ euro.

    Vậy điều gì đã làm cho quốc gia này rơi vào khủng hoảng nợ công trầm trọng? Bài học nào về quản lý cho Việt Nam để không lặp lại thất bại của Hy Lạp ?

    Hãy cùng đón xem series “Vén màn bí mật” cùng Econews để được trả lời!!!
    _____________________
    Hãy like, share và nhấn đăng ký kênh để ủng hộ GinGinTV và đón chờ những video câp nhật nhất nhé !!!
    like
    share
    hoc
    giaoduc
    phantichdulieu
    Gin
    GinGin
    vloggiadinh
    news
    crisis
    greece

Khủng hoảng nợ công Hy Lạp và những tác động đến Việt Nam

  • Tác giả: vietstock.vn
  • Nhận xét: 5 ⭐ ( 8942 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: (Vietstock) – Khủng hoảng nợ công của Hy Lạp đã làm rung động thị trường tài chính châu Âu và toàn thế giới. Thị trường chứng khoán toàn cầu đã có những phiên giao dịch diễn ra trong hoảng sợ và sự phục hồi kinh tế toàn cầu đang bị đe dọa nghiêm trọng. Vậy khủng hoảng nợ công của Hy Lạp tác động gì đến Việt Nam và bài học nào có thể rút ra từ cuộc khủng hoảng này?

Nhìn lại khủng hoảng nợ công của Hy Lạp và kinh nghiệm so với Việt Nam

  • Tác giả: tapchitaichinh.vn
  • Nhận xét: 5 ⭐ ( 4603 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Khủng hoảng nợ công ở Hy Lạp xuất phát điểm từ cuối năm 2009 đến khoảng tháng 4/2010, được xem như một phần của cuộc khủng hoảng nợ châu Âu thời điểm đó. Khủng hoảng nợ tập trung trong ba năm (2009 – 2011) với những hệ quả rất nghiêm trọng. Nội dung đánh…

Phân tích khủng hoảng nợ công hy lạp và bài học cho việt nam

  • Tác giả: www.tailieudaihoc.com
  • Nhận xét: 3 ⭐ ( 1355 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Download miễn phí Phân tích khủng hoảng nợ công hy lạp và bài học cho việt nam

Một quãng đường đầy gian truân của quốc gia này

  • Tác giả: imdb.com.vn
  • Nhận xét: 3 ⭐ ( 3279 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Cuộc khủng hoảng nợ công Hy Lạp từ năm 2009 đến năm 2011 đã để lại những hệ quả rất nghiêm trọng và đây là một bài học kinh nghiệm dành riêng cho cả toàn cầu. Dưới

Khủng hoảng nợ công Hy Lạp

  • Tác giả: kinhtequantri.com
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 5783 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Nguyên nhân sâu xa của cuộc khủng hoảng có thể bắt nguồn từ việc thành lập Khu vực đồng tiền chung Châu Âu (Eurozone) vào năm 1999. Khu vực đồng tiền chung Châu Âu là một nhóm gồm 17 quốc gia châu Âu (bao gồm cả Hy Lạp) đã tán thành sử dụng chung đồng tiền chung Euro.

Nợ công Hy Lạp: Nguyên nhân và bản chất

  • Tác giả: dangcongsan.vn
  • Nhận xét: 5 ⭐ ( 1017 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm:

Xem thêm các nội dung khác thuộc thể loại: Khám Phá Khoa Học

By ads_law