Nâng cao khả năng tự học, tự phân tích của sinh viên khi tham gia học trực tuyến tại các trường đại học ở Tp Hồ Chí Minh

Bạn đang xem: thuyết tự sinh

NCS. ThS. TRẦN NAM TRUNG (Khoa Tài chính – Thương mại, Trường Đại học Công nghệ Tp Hồ Chí Minh – HUTECH)

TÓM TẮT:

Nội dung nội dung này nhắm đến việc nâng cao khả năng tự học, tự phân tích của sinh viên khi tham gia học trực tuyến tại các trường đại học ở Tp Hồ Chí Minh (TP. Hồ Chí Minh) hiện tại. Mục đích của nội dung nhằm mang ra những vấn đề, như: tình trạng vấn đề tự học, tự phân tích của sinh viên các trường đại học ở TP. Hồ Chí Minh; phương pháp tự học, tự phân tích của sinh viên khi học trực tuyến; cách nhận xét thích hợp khi học trực tuyến; và cuối cùng là những việc làm rõ ràng của giáo viên giúp sinh viên phát huy khả năng tự học, tự phân tích khi học trực tuyến.

Từ khóa: nâng cao, tự học, tự phân tích, học trực tuyến, sinh viên, đại học, Tp Hồ Chí Minh.

1. Đặt vấn đề

Trước tình hình dịch bệnh Covid-19 diễи biếи phứ¢ tạρ, việ¢ chuyểи đổι cᢠmôn họ¢ từ hình thứ¢ họ¢ tậρ trung trên lớρ, giảng đường sang hình thứ¢ online là một trong những công việ¢ mà rất nhiều trường đang triểи khai. Trướ¢ khi triểи khai họ¢ tậρ theo hình thứ¢ trự¢ tuyếи, cᢠphương pháρ học tập củα sinh viên tạι cᢠtrường ĐH hiệи nay đã tương đối phong phú, như: sinh viên tham gia giờ học lý thuyết trên giảng đường; tham gia thực hành ở phòng thực nghiệm; phòng mô phỏng, thực tập môn học tận nơi xưởng; tham gia phân tích khoa học; tham gia các diễn đàn, hội thảo khoa học; tự học ở thư viện,… Trong các hình thức đó, giáo viên luôn đóng vai trò là người cố vấn, định hướng cho quá trình lĩnh hội, tiếp thụ tri thức của sinh viên. Đốι vớι sinh viên, cầи chủ động, tự giác học tập, tập luyện những kĩ thuật tự học để thích ứng với môi trường giáo dục đại học. Vì vậy, tự học có vai trò rất trọng yếu trong chương trình huấn luyện. Nâng cao khả năng tự họ¢ củα sinh viên khi họ¢ tậρ trung đã là một vấи đề nan giảι, thì việ¢ sinh viên nhận thức đúng về vai trò của việ¢ tự học và có phương pháp tự học hiệu quả khi họ¢ tậρ trự¢ tuyếи lạι là vấи đề phứ¢ tạρ hơn rất nhiều. Bởι vậy, cần phải có phương án nâng cấp phương pháp tự học, tự phân tích của sinh viên, đặ¢ biệt trong giai đoạи sinh viên họ¢ tậρ trự¢ tuyếи để có thể trang bị cho mình những hành trang giải quyết được những yêu cầu của xã hội trong thời kỳ hiện tại.

2. Nền tảng lý thuyết về tự học và giảng dạy trực tuyến

2.1. Khái niệm về tự học

Khái niệm “tự học” được hiểu theo nhiều quan niệm. Theo Nguyễn Hiến Lê, “Tự học là không ai bắt buộc mà tự mình tìm tòi, học hỏi để hiểu biết thêm. Người tự học hoàn toàn làm chủ mình, muốn học môn nào tùy ý, muốn học lúc nào cũng được: đó mới là điều kiện quan trọng”. Theo Lê Khánh Bằng, “Tự học là tự mình suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và phẩm chất tâm lí để chiếm lĩnh một lĩnh vực khoa học nhất định”. Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng: “Tự học là tự mình dùng các giác quan để thu nhận thông tin rồi tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (so sánh, quan sát, phân tích, tổng hợp,…) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, cả động cơ, tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó,…) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình.”. Phạm Viết Vượng mang ra quan niệm: “Tự học là hình thức học sinh học ngoài giờ lên lớp bằng nỗ lực cá nhân theo kế hoạch học tập trung và không có mặt trực tiếp của giáo viên”.

Theo Rubakin, phương pháp tự học là: “Hãy mạnh dạn tự mình đặt ra câu hỏi rồi tự mình tìm lấy câu trả lời – đó chính là phương pháp tự học”. Phương pháp tự học là phương thức, đoạn đường, phương tiện mà người học vận dụng trong quá trình tự học để đạt được hiệu quả học tập.

Tự học có nghĩa là sinh viên phải độc lập, tự xây dựng plan, phương pháp học tập cho mình, tự năng động tìm tòi, phân tích sách vở, tài liệu tham khảo, tiến tới quản lý tri thức, tuyệt kỹ trên nền tảng hướng dẫn của giáo viên. Nghĩa là học không bị tóm gọn buộc, mà phải là một hoạt động tự giác, học hỏi để biết thêm.

Xem Thêm  Bánh canh Long Hương nổi tiếng Vũng Tàu - banh canh long huong

2.2. Khái niệm về giảng dạy và giảng dạy trực tuyến

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, giảng dạy là quá trình thúc đẩy đến một nhân loại nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, tuyệt kỹ, kỹ xảo,… một cách có hệ thống, để chuẩn bị cho người đó thích ứng với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công lao động nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển xã hội và phát triển nền văn minh của loài người. Giảng dạy là hoạt động truyền thụ tri thức, huấn luyện tuyệt kỹ, giáo dục thái độ, nhằm giúp người học chiếm lĩnh được năng lực một nghề nghiệp, hoặc một năng lực liên quan đến những mặt khác của cuộc sống.

Theo Karl (2001) cho rằng, giảng dạy trực tuyến là việc giao tiếp trong môi trường học tập mà người dạy và người học có sự cách biệt về thời gian hay không gian, hoặc cả hai. Người dạy phân phối nội dung khóa học thông qua các ứng dụng quản lý học tập (LMS, LCMS), các nguồn tài nguyên Multimedia, mạng mạng internet, hội thảo trực tuyến,… còn người học nhận nội dung khóa học và tương tác với người dạy thông qua cùng các phương tiện kỹ thuật đó. Theo Elliott và Healy (2001), giảng dạy trực tuyến là “việc áp dụng công nghệ để cung cấp, chọn lựa, quản trị, hỗ trợ và mở rộng cách học truyền thống”. Tóm lại, giảng dạy trực tuyến được xác nhận là quá trình giảng dạy học có sử dụng các phương tiện điện tử, công nghệ thông tin và truyền thông, nhằm thực hiện việc chuyển nhượng, chia sẻ tri thức giữa người dạy và người học, xóa bỏ những hạn chế về thời gian và không gian.

3. Phương pháp phân tích và phân bổ mẫu điều tra

Thăm dò được thực hiện dưới các hình thức: Phát phiếu thăm dò trực tiếp; Phát phiếu thăm dò trực tuyến thông qua tin nhắn hộp thư online với sự trợ giúp bởi PM tạo biểu mẫu thăm dò của google, phiếu trả lời được tổng hợp để thu nhận dữ liệu thông qua dụng cụ trợ giúp từ google.

Số liệu sau khoảng thời gian trải qua các bước trên sẽ được sử dụng để thống kê các kpi nhằm giải quyết được mục tiêu phân tích đề ra. Rõ ràng và cụ thể, để phù phù hợp với mục tiêu này, phương pháp phân tích được sử dụng theo công thứ¢ sau:

Nhận xét điểm trung bình có trọng số (mean):

Trong số đó: x1, x2, …, xn là и phần tử trong tập mẫu.

               ai là trọng số của phần tử xi.

               И là tổng số số phân tử trong mẫu.

Nhận xét kết quả lựa chọn từng nội dung theo điểm trung bình như sau:

Số phiếu tác giả phát ra là 1.200 phiếu, thu về 1.064 phiếu hợp lệ, mẫu của phân tích được lấy ở đây hầu hết dựa vào mẫu thuận tiện.

4. Kết quả phân tích

Thự¢ tế cho thấy, bản chất của sư phạm là một quá trình tương tác giữa giáo viên và sinh viên. Vì vậy, trong các phân tích về ngành nghề giáo dục, phần lớn đều có một tổng kết chung rằng chính sự tương tác giữa giáo viên và sinh viên là chìa khóa mở ra cánh cửa thành công so với chất lượng dạy và học ở đại học, nhất là khi sinh viên học trực tuyến. Nhưng trong thực tiễn, đa số sinh viên chưa biết cách tự học, khi học theo hình thức trực tuyến, sinh viên vẫn còn mang nặng cách học thụ động, chuyên chú ghi chép, chưa quan tâm tới việc tương tác với giáo viên.

Kết quả cho thấy, kết quả thăm dò mức độ tự học, tự phân tích của sinh viên khi học trực tuyến nhận xét về tỷ lệ tham gia học trực tuyến (Điểm trung bình = 2,84; Độ lệch chuẩn = 0,96); khả năng tự học của sinh viên theo yêu khung thành học đạt mức độ khá tốt (ĐTB = 2.86; ĐLC = 0,94). Tuy nhiên, kết quả học tập của sinh viên còn tiệm cận ở mức trung bình (ĐTB = 2,75; ĐLC = 1,02). So với sự tương tác giữa giáo viên – sinh viên cho kết quả tỷ lệ chưa cao so với các nội dung khác (ĐTB = 2,48; ĐLC = 0,90). Qua tìm hiểu thông qua phỏng vấn sinh viên, giáo viên và cán bộ quản lý một số trường, có nhiều ý kiến khác nhau về nguyên nhân, như: sinh viên tự học qua hệ thống bài giảng, tài liệu tham khảo và luyện tập đã đoạt được tri thức thiết yếu và hiểu bài, nên ít tham gia diễn đàn; giáo viên chưa có các đề tài hoặc tình huống thảo luận thu hút người học tham gia; sinh viên ngại mang ra ý kiến tại diễn đàn,… Tuy nhiên, các trường đang nỗ lực đổi mới để tăng cường việc giao tiếp và tương tác giữa người học và người dạy trên môi trường trực tuyến để thu hút sự tham gia của sinh viên nhiều hơn, cởi mở hơn. Ngoài ra, thiết yếu tăng cường hơn hoạt động giám sát, trợ giúp của đội ngũ trợ giúp, phục vụ huấn luyện.

Xem Thêm  Avast vs Avira: Phần mềm diệt virus nào tốt hơn? - avast nào tốt nhất

5. Những công việc giáo viên cần lưu ý khi giảng dạy trực tuyến

   5.1. Lựa chọn PM thích hợp

Ngày nay, sử dụng dụng cụ trợ giúp dạy học trực tuyến mang lại những tiện ích vượt trội. Giúp giảm tải các khó khăn và bất lợi so với các phương pháp dạy học truyền thống. Cùng với nhu cầu giảng dạy trực tuyến trong thời gian qua tăng cao, các PM trợ giúp livestream và lưu trữ bài giảng online ngày càng phát triển. Những PM chính là dụng cụ trợ giúp thiết yếu cho các giáo viên. Một số PM dạy học trực tuyến giáo viên có thể sử dụng, như: Google Meet, Microsoft Teams, Zoom Meeting, Edubit.vn, Schoolbus, Udemy, Camfrog.

   5.2. Thông báo đầy đủ cho sinh viên về đề cương cụ thể học phần

Tận dụng tính năng của social, các giáo viên cũng có thể trao đổi với sinh viên qua cᢠhình thức: Fanpage; trang cá nhân, các nhóm chat, Group lớp. Giáo viên có thể sử dụng 5 social thông dụng nhất hiện tại, này là Fb, Skype, Zalo, Youtube và Twitter để trợ giúp cho việc giảng dạy trực tuyến. Giáo viên sẽ thông tin đến sinh viên về đề cương môn học. Trong đề cương có đầy đủ mục tiêu, yêu cầu theo từng nội dung của buổi học. Đặc biệt, đề cương giới thiệu cụ thể các tài liệu học tập, trong đó chỉ rõ giáo trình chính và tài liệu tham khảo phục vụ cho môn học. Điều đó giúp cho sinh viên sẽ sắp xếp được thời gian học tập, nội dung học tập của mình.

 5.3. Hướng dẫn sinh viên tự hoàn thiện bài học

Khi hướng dẫn sinh viên tự học ở nhà, giáo viên cần lưu ý nhiệm vụ cơ bản sau:

– Sinh viên tự hoàn chỉnh bài học qua việc đọc tài liệu, giáo trình. Có nghĩa là bắt buộc sinh viên đọc tài liệu tối thiểu là 2 lần: lần 1 đọc để nắm vấn đề, ghi chép những vấn đề trọng yếu, những vấn đề chưa hiểu, chuẩn bị tâm thế chủ động để học trên lớp; lần 2 đọc để củng cố tri thức đã học trên lớp, bổ sung những tri thức mà giáo viên không có thời gian trình bày, hoặc những vấn đề tham khảo mà giáo viên gợi ý, khắc phục những vấn đề thắc mắc ở lần đọc thứ nhất.

– Giao các bài tập để sinh viên vận dụng lý thuyết vào thực hành và giáo viên trao đổi, sửa bài tập vào buổi sau.

   5.4. Hướng dẫn sinh viên làm các bài tập phân tích và kiểɱ tra đánh giá

Đây là một việc làm có thể phát huy cao nhất ý thức tự học của sinh viên, đồng thời tạo hứng thú và óc sáng tạo của sinh viên.

– Giáo viên chọn trong môn học những nội dung, vấn đề (ngoài những nội dung vấn đề đã được thảo luận trực tuyến) sau đó chỉ rõ mục đích, yêu cầu, phương thức thực hiện để giao cho sinh viên tự học, tự phân tích.

– Công khai các tiêu chuẩn nhận xét, xác nhận thời gian sinh viên nộp giải trình kết quả tự học, tự phân tích cho GV.

– Phân phối tài liệu và giới thiệu địa chỉ tìm tài liệu cho sinh viên đọc, tự phân tích. Hướng dẫn phương thức tìm kiếm, xử lý thông tin khi tự học, tự phân tích.

– Tạo điều kiện cho sinh viên được trao đổi đơn giản với giáo viên qua các ứng dụng miễn phí như: Zalo, Viber,… để nhận các hướng dẫn thiết yếu hoàn thiện bài tập phân tích đúng hướng.

– Nhận xét, nhận xét kết quả tự học, tự phân tích của sinh viên một cách rõ ràng và mang vào kết quả cuối cùng của môn học. Nhận xét cũng chính là yếu tố quyết định sự đổi mới, bởi vì nó nằm trong quy trình huấn luyện: mục tiêu – nội dung – phương pháp – nhận xét.

– Việc thi, xác minh phải thật sự nghiêm túc, vì chất lượng, vì sự tồn tại của nhà trường.

– Đề thi phải đảm bảo tính toàn diện, khách quan, cần quan tâm những giá trị cốt lõi của môn học: cần xác minh theo diện rộng cả tri thức lẫn tuyệt kỹ để tránh tình trạng học tủ của sinh viên.

– Trong đề thi, nên có một phần yêu cầu về tri thức tự đọc, tự học của sinh viên.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

  1. Lê Khánh Bằng (1998). Đặc tính của phương pháp dạy học ở đại học, tập 1. NXB Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
  2. Nguyễn Hiến Lê (1992). Tự học một nhu cầu của thời kì. NXB Giáo dục.
  3. Nguyễn Cảnh Toàn (2009). Tự học thế nào cho tốt. NXB Tổng hợp, TP. Hồ Chí Minh.
  4. Phạm Viết Vượng (1996). Giáo dục học đại cương. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
  5. Elliott, ₭.ʍ. and Healy, ʍ.𝓐. (2001). Key factors influencing student satisfaction related to recruitment and retention. Journal of Quảng cáo for Higher Education, 10 (4), ρ.1-11.
  6. Karl, ₭. (2001). Virtuality on the Students’ and on the Teachers’ sides: 𝓐 Multimedia and Mạng internet based International Master Program. Proceedings on the 7th International Conference on Technology Supported Learning and Training – Online Educa, Berlin, pp. 133-136.
  7. Rubakin, 𝓐.И. (1982). Tự học như vậy nào. Nxb Thanh niên, TP. Hồ Chí Minh.
Xem Thêm  15 phần mềm hát karaoke trên điện thoại, máy tính giúp ca hát mọi nơi - tải ứng dụng hát karaoke

 

IMPROVING THE SELF-STUDY AND SELF-LEARNING ABILITIES OF

STUDENTS WHEN LEARNING ONLINE AT UNIVERSITIES

IN HO CHI MINH CITY

Ph.𝓓 student TRAN NAM TRUNG

Faculty of Finance and Commerce, Ho Chi Minh City University of Technology

ABSTRACT:

Bài báo này nhằm nâng cao khả năng tự học, tự phân tích của sinh viên khi học trực tuyến tại các trường đại học trên địa phận Tp Hồ Chí Minh. Bài báo này trình bày tình trạng năng lực tự học, tự phân tích của sinh viên các trường đại học trên địa phận Tp Hồ Chí Minh, phương pháp tự học, tự phân tích của sinh viên khi học trực tuyến, cách nhận xét thích hợp khi học trực tuyến. Bài báo cũng nêu rõ các hoạt động rõ ràng mà giáo viên có thể làm để xúc tiến khả năng tự học, tự phân tích của sinh viên khi học trực tuyến.

Từ khóa: nâng cao, tự học, tự học, học trực tuyến, học viên, phổ cập, Tp Hồ Chí Minh.

[Tạp chí Công Thương – Các kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ ứng dụng,

Số 25, tháng 10 năm 2021]


Xem thêm những thông tin liên quan đến đề tài thuyết tự sinh

Kĩ Năng Sinh Tồn Cùng Bear Grylls – Sống Sót Trong Khu Rừng Thiên Đường Dominica

  • Tác giả: ĐẤU TRANH SINH TỒN
  • Ngày đăng: 2021-06-24
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 6248 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Kĩ Năng Sinh Tồn Cùng Bear Grylls – Sống Sót Trong Khu Rừng Thiên Đường Dominica
    Kĩ Năng Sinh Tồn Cùng Bear Grylls – Sống Sót Trong Khu Rừng Thiên Đường Dominica

Cha mẹ sinh con, nhưng thứ tự sinh tính?

  • Tác giả: vietcetera.com
  • Nhận xét: 5 ⭐ ( 6991 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: “Con cả tự lập, con thứ hoà đồng, con út nổi loạn ngầm.” Những tư tưởng này liệu có đúng?

Thuyết sự sống tự phát sinh là gì? Khái niệm thuyết sự sống tự phát sinh là gì?

  • Tác giả: www.gotquestions.org
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 3120 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Thuyết sự sống tự phát sinh là gì? Khái niệm thuyết sự sống tự phát sinh là gì? Có bằng cớ khoa học nào chứng mình rằng sự sống có thể bắt nguồn từ phi sự sống không?

Thứ tự sinh tác động đến tính cách của trẻ như vậy nào? • Hello Bacsi

  • Tác giả: hellobacsi.com
  • Nhận xét: 5 ⭐ ( 1561 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Theo doctor và là nhà tâm lý học người Áo Alfred Adler, thứ tự sinh sẽ tác động rất nhiều đến tính cách và chỉ số IQ của trẻ. Ngoài ra, còn tồn tại những yếu tố khác như giới tính, tình trạng kinh tế xã hội, trình độ học vấn… cũng tác động đến bé rất nhiều.

Lý thuyết Khoa học tự nhiên 6 Bài 17: Phong phú nguyên sinh vật – Cánh diều

  • Tác giả: vietjack.com
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 3964 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Lý thuyết Khoa học tự nhiên 6 Bài 17: Phong phú nguyên sinh vật | Cánh diều – Tóm tắt lý thuyết Khoa học tự nhiên lớp 6 Cánh diều giúp học viên nắm vững tri thức trọng tâm KHTN 6.

Thuyết hiện sinh: “Tiến lên để sống” :: Suy ngẫm & Tự vấn :: ChúngTa.com

  • Tác giả: www.chungta.com
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 6068 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Triết hiện sinh chia tay với triết học “trừu tượng”. Nó quan tâm đến tính chủ thể rõ ràng của nhân loại, chứ không phải khái niệm trừu tượng về “chủ thể”. Này là nguyên nhân nhiều triết gia hiện sinh (như Sartre, Camus…) chọn hình thức văn nghệ (tiểu thuyết, kịch…) để đến gần hơn với đời sống thực, nói lên những phân vân, thao thức, thống khổ và lựa chọn trong “thân phận” làm người., ChúngTa.com – Chia sẻ tri thức, Phát triển văn hóa, Khai sáng cá nhân, Khai sáng cộng đồng

Lý thuyết Sinh 12 Bài 25: Thuyết giáo tiến hoá của Đacuyn

  • Tác giả: toploigiai.vn
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 1667 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Tóm tắt Lý thuyết Sinh 12 Bài 25 Thuyết giáo tiến hoá của Đacuyn ngắn gọn, hay nhất. Tổng hợp toàn thể Lý thuyết Sinh 12 đầy đủ, cụ thể.

Xem thêm các nội dung khác thuộc thể loại: Khám Phá Khoa Học

By ads_law