Lào được nhắc đến với tên gọi Triệu Voi hay thường hay gọi là xứ sở Champa, người anh em của Việt Nam, nới về truyền thống văn hóa và nhân loại thì Việt và Lào có khá nhiều nét tương đồng. Đến với Lào là đến với quốc gia của chùa tháp và lễ hội.

Bạn đang xem: van hoa lao

Lào được nhắc đến với tên gọi Triệu Voi hay thường hay gọi là xứ sở Champa, người anh em của Việt Nam, nới về truyền thống văn hóa và nhân loại thì Việt và Lào có khá nhiều nét tương đồng. Đến với Lào là đến với quốc gia của chùa tháp và lễ hội. Đến du lịch Lào khách du lịch không thể bỏ qua những ngôi đền đài, chùa tháp, những hang động kì bí và những thác nước nguy nga, còn tồn tại những dãy núi cao thấp thoáng sương mù và những cánh rừng dày đặc phong phú với hàng ngàn loại thực vật khác nhau.

Nhân dân Lào có nhiều phong tục tốt đẹp được tạo dựng trong quá trình lịch sử. Những phong tục tập quán ấy trở thành lệ làng, được các thành viên trong bản mường thừa nhận và tự giác thực hiện. Thành viên nào làm trái lệ làng sẽ bị phạt, hình thức phạt do các già bản và tập thể bản mường quyết định. Nước Lào nằm sâu trong lục địa châu Á nơi giao tiếp giữa hai nên văn minh thượng cổ là Ấn Độ và Trung Hoa. Bởi vậy trong quá trình lịch sử, nhân dân Lào còn tiếp thụ các xu hướng văn hóa tràn qua các vùng này, tác động sâu sắc nhất là phật giáo và văn hóa Ấn Độ. 

Nước Lào đất rộng, dân không đông lại gồm nhiều dân tộc, bộ tộc. Tuy cùng sinh sống bằng nghề nông nhưng trình độ sản xuất không đồng đều nên phong tục tập quán ở mỗi miền có sự khác biệt. Vì vậy mà phong tục tập quán ở Lào rất phong phú trổ tài rõ trình độ sản xuất sinh hoạt của mỗi nhóm dân tộc, bộ tộc. Nhưng ở đây chỉ đề cập đến những tập quán đa số có tính thông dụng.

1. Văn hóa ăn uống

Ẩm thực Lào mang phong thái tương tự các quốc gia láng giềng là Campuchia và Thái Lan: cay, chua và ngọt. Tuy nhiên, ẩm thực lại mang những phong thái đặc trưng rất riêng.

Người Lào ăn gạo là chính; các món ăn có đặc tính là dùng những gia vị như gừng, me, lá chanh, và nhiều loại ớt khô rất cay. Vị chính trong các món ăn hầu như các món ăn đều có rất nhiều ớt. Chỉ riêng ớt có hàng chục món: từ ớt chiên giòn, ớt muối chua, ớt sa tế, ớt hầm, ớt luộc … Món ăn xài biểu của người Lào là sự pha trộn giữa cay và ngọt, được trung hòa thêm thảo mộc. Mắm cá (pa dek) và mắm Cheo gồm da trâu, ớt nướng, tỏi nướng, riềng nướng, đường cùng rất nhiều gia vị thảo mộc trộn lẫn hoặc mắm Muok gồm lòng cá trộn ớt, sả, củ hành … hầu như nhà nào cũng có và nước mắm (nám pla) được người Lào sử dụng hết sức thông dụng.

Ẩmthực Lào có những món được xem là đặc sản nổi tiếng như : Món Tam Maak Hung thường hay gọi là nộm đu đủ gồm dưa muối, đu đủ, đậu đũa, cà dĩa giã rồi trộn chung với cùng hàng chục gia vị ăn rất lạ. Ngoài Tam Maak Hung còn tồn tại các món như Thoót mú đẹt điêu , tôm dâm cung, cá nướng… Mỗi món đều có các nguyên liệu khác như Lạp được làm bằng thịt heo, chặt nhỏ, trộn gia vị Lào, ăn với xôi hoặc cơm, trộn chung với ớt cay, cá nướng được ướp muối ngoài da, khi nuớng chín, da cá không cháy nhưng phủ trắng lớp muối, thịt cá không dính vào da, mùi thơm, chấm với nước “chẻo” (đặc chế từ ớt, tỏi, hành, mắm, muối, mì chính và chanh). Món ăn từ sâu bọ là loại thức ăn giàu đạm được tìm thấy rất nhiều trên quốc gia Campuchia và Thái Lan và Lào. Người Lào cũng rất thích dùng sâu bọ để sơ chế nhiều món ăn. Từ dế cơm, trứng kiến đến con cà cuống, nhền nhện trong các món chiên, xào, dồi đậu phộng đến hấp cơm hay ngâm giấm đều rất ngon. Đắt nhất vẫn là con cà cuống – một loại sâu bọ có ích sống nhiều ở đồng ruộng Campuchia với mùi vị thơm cay. Tuy nhiên, món ăn từ sâu bọ của Lào lại ít món hơn người Thái Lan và ít thông dụng hơn.

2. Văn hóa lễ hội

Lào là xứ sở của lễ hội, tháng nào trong năm cũng có. Mỗi năm có 4 lần tết: Tết Dương Lịch, Tết Nguyên Đán (như ở một số nước Á Đông), Tết Lào (Bun PiMay vào tháng 4) và Tết Н’mong (tháng 12). Ngoài ra còn các lễ hội: Bun PhaVet (Phật hóa thân) vào tháng 1 ; Bun VisakhaPuya (Phật Đản) vào tháng 4; Bun BangPhay (pháo thăng thiên) vào tháng 5; Bun Khao PhanSa (mùa chay) vào tháng 7; Bun Khao Padapdin (tưởng nhớ người đã mất) vào tháng 9; Bun Suanghua (đua thuyền) vào tháng 10. Sau đây là một số lễ hội chính tại quốc gia Lào. Lễ hội ở Lào hay còn được gọi là Bun, nghĩa là phước, làm Bun nghĩa là làm phước để được phước. Lào có tết gia truyền Bunpimay (có nghĩa là mừng năm mới), hay thường hay gọi là Tết té nước diễn ra từ ngày 13 đến ngày 16 tháng 4 hàng năm. Vì đạo phật ở Lào có tự lâu đời phát triển mạnh trở thành quốc đạo, các nhà chiêm tinh học tính ngày tháng theo phật lịch, nên năm mới hàng năm khởi đầu vào tháng tư dương lịch. Người Lào gọi tết là vui tết chứ không gọi là ăn tết, toàn bộ các cuộc vui được chuẩn bị theo truyền thống tôn giáo, phù phù hợp với phong tục tập quán của người Lào. Trong những ngày lễ hội vui chơi là đa số, tuy nhiên họ cũng chuẩn bị đồ ăn, thức uống thịnh trọng hơn ngày thường, nhất là không thể thiếu rượu. Ngày tết từ sáng sớm dân làng diện những bộ quần áo đẹp nhất, nhất là chàng trai, cô gái với đủ áo váy màu sắc sặc sỡ, tập trung tại sân chùa để dự lễ tắm phật. Xong lễ tắm phật mọi nhà làm lễ buộc cổ chỉ tay cho những người thân trong nhà, tục lễ này gọi là ( pục khén ) hay thường hay gọi là (xù khoắn) lễ gọi hồn vía. Nhân dịp đầu năm con cháu chúc ông bà, cha mẹ, bạn thân, người thân gặp may mắn hạnh phúc. Cũng vì lẽ đó, lễ mừng năm mới còn gọi lễ té nước (gọi là Bun hốt nậm), trong những ngày lễ, thanh niên nam, nữ thường té nước cho nhau vừa chúc mừng nhưng cũng vừa để tỏ tình. Bun hốt nậm còn tồn tại ý nghĩa về chuyện chuyển năm và cũng là chuyển mùa từ mùa khô sang mùa mưa; sau những tháng ngày hanh khô, những trận mưa rào ùa tới mang nước mát tưới cho núi rừng, cỏ cây, ruộng đồng, màu xanh tươi mát của chồi non vụt nhú lên báo hiệu một mùa làm ruộng, rẫy mới. Người dân té nước để cầu may, cầu bình yên cho cả năm, cầu cho mưa thuận gió hoà, mùa màng tươi tốt. Trong những ngày này, mọi người thăm viếng chúc tụng lẫn nhau, ăn uống vui chơi, múa hát cầu mong quốc thái dân an, nhà nhà hạnh phúc, người người ấm no… Với người Lào, những phong tục trong lễ hội Bunpimay mang ý nghĩa mang lại sự mát mẻ, phồn vinh cho vạn vật, ấm no hạnh phúc cho cuộc sống, là dịp để nuôi dưỡng và nung đúc văn nghệ dân tộc. 

Xem Thêm  Top 10 vị vua trong lịch sử phong kiến Trung Hoa - các vị vua trung quốc

3. Văn hóa ca múa nhạc

Nhân dân các dân tộc Lào rất thích ca múa, nhất là các làn điệu dân ca truyền thống. Không chỉ trong những ngày lễ hội, vui chơi hợp quần… người Lào còn hay ca hát trong sản xuất ngoài ruộng nương, đi hái lượm trong rừng, xuôi ngược trên các dòng sông.

 

Dân ca Lào rất phong phú, giàu âm điệu, mang đậm bản sắc dân tộc được thông dụng rộng rãi trong nhân dân từ nông thôn đến thành thị. Người có công lớn trong việc sưu tầm, thông dụng và nâng cao các làn điệu dân ca là các “mỏ-lăm” (ca sĩ), “mỏ khen” (nhạc công, thổi khèn bè). Đội ngũ “mỏ lăm, mỏ khen” ngày càng phát triển trước yêu cầu thưởng thức ca múa của nhân dân ở các bản mường, trong đó có nhiều nghệ sĩ tài ba nổi tiếng vừa có thể sáng tác vừa trình diễn được đông đảo nhân dân ưu ái, mến mộ. “Mỏ lăm” ở Lào có vị trí thật đặc biệt trong xã hội. Họ sống thân thiện nhân dân, đi đến bản làng nào cũng được tiếp đón nồng nhiệt. Họ hiểu rõ sâu sắc cuộc sống, xã hội Lào, nắm bắt được tình cảm, ước mong của các tầng lớp nhân dân. Có thể nói, họ là một tri thức, một nghệ sĩ của nhân dân, được nhân dân nuôi dưỡng.

Dân ca của Lào có nhiều loại như lăm, khắp, xỡng, kạp, ăn nẳng-xử… Mỗi loại lại mang sắc thái riêng của từng miền, từng dân tộc, từng địa phương. “Lăm” sử dụng nhiều thể loại thơ nhất được quần chúng ưa thích nhất và thông dụng trong cả nước.

Múa ở Lào cũng thông dụng rộng rãi, từ thành thị đến nông thôn. Trong những ngày lễ hội lớn nhỏ ở Lào đều tổ chức vui chơi hợp quần trong đó không thể thiếu tiết mục múa. Có điệu múa một người, hai người hoặc tập thể vài chục người (lăm-vông). Những đêm hội, già trẻ, gái trai đều tham gia múa ca một cách tự nhiên thoải mái. Các điệu múa của Lào thường uyển chuyển, nhịp nhàng theo nhịp trống, động tác khá tự do, mang đậm màu sắc dân tộc.

Các điệu múa xuất hiện sớm nhất ở Lào là múa “Bẵng-phay”, “Lăm phen”, rồi đến điệu múa “Xỉ-nuôn”, “Kò-thạt”, Đoọc-bua (hoa sen)… Múa “Bẵng-phay” là điệu múa tập thể trong ngày lễ hội pháo thăng thiên (Bẵng-phay). Múa “Lăm-phen” giống múa tiên ở Ấn Độ, Cam-pu-chia, In-đô-nê-xia. Múa “Kò-thạt” là múa tập thể xung quanh ngọn tháp trong các ngày lễ hội tôn giáo. Nhất là múa “lăm-vông” (múa vòng tròn) tuy xuất hiện sau nhưng được thông dụng rộng rãi từ Bắc xuống Nam, từ nông thôn đến thành thị và được xem như điệu múa tập thể tiêu biểu của dân tộc. Múa “lăm-vông” xuất hiện vào thời điểm nào của lịch sử, đến nay chưa có lời trả lời thống nhất của các nhà phân tích văn hóa Lào, nhưng nó đã tồn tại nhiều thập kỷ qua và ngày nay nó vẫn có vai trò thật đặc biệt. Trong các ngày lễ hội, dịp vui chơi tập thể, các buổi liên hoan của một đơn vị, nhà trường, nhà cung cấp vũ trang đều mở màn và kết thúc bằng “lăm-vông”. Từng đôi nam nữ (có thể cả hai đều là gái hoặc trai) múa vòng tròn theo nhịp trống (nhịp 2/4 hoặc 4/4). “Lăm-vông” dễ múa, động tác sinh động, duyên dáng, uyển chuyển. Có thể “lăm-vông” xuất phát từ điệu múa “lăm-thôn” (múa 1 người).

Xem Thêm  Top 5 Phần Mềm Mô Phỏng Android Tốt Nhất, 10 Phần Mềm Giả Lập Android Tốt Nhất Cho Windows - phan mem hay android

Múa cung đình có múa đơn, múa đôi hoặc tập thể. Các vũ nữ múa cung đình được tuyển chọn kỹ và tập luyện khá công phu do một số nghệ sĩ được huấn luyện ở nước ngoài (thường ở Ấn Độ hoặc Khơ-me) hướng dẫn. Khi trình diễn các vũ nữ được ăn mặc hết sức lộng lẫy, tráng lệ. Múa cung đình ít di chuyển, mà thường múa tại chỗ, phối hợp trình diễn nhiều động tác mềm mại, dịu dàng, uốn lượn của ngón tay, bàn tay, cánh tay, vai, cổ, đầu, bàn chân cho đến ánh nhìn, nụ cười, nét mặt theo tiếng đàn “la-nát”. Múa cung đình là dịp mua vui cho nhà vua, hoàng tộc và số quan chức thân thiện nhà vua. Một số điệu múa cung đình Lào được mô phỏng theo các điệu múa cổ Ấn Độ, Khơ-me và xoay quanh đề tài đề cao, chúc tụng, sùng bái nhà vua.

Về nhạc cụ người dân Lào thường dùng các loại sau:

– Khèn bè (khen): Là loại nhạc cụ thông dụng nhất ở các bản làng từ Bắc xuống Nam. Khèn bè dễ làm, dùng nguyên liệu ngay trong rừng, dưới sự hướng dẫn của “mỏ-khèn”, các tràng trai trong bản có thể tự làm được. Nhưng để có chiếc khèn bè tiếng động chuẩn phải tìm mua ở các chợ phiên, do các nghệ nhân chuyên sản xuất bày bán. Từ lúc còn tuổi thiếu niên con trai Lào đã học thổi khèn.

– Trống (kong): Trống cũng là nhạc cụ thông dụng ở Lào. Có thể nói rằng không có bản làng nào ở Lào không có trống và không ngày nào vắng tiếng trống, tiếng mõ ngân vang (bản có chùa). Có nhiều loại trống như trống cái, trống cơm, trống con…

Trống cơm (koong-tũm): Trống cơm được đánh cùng với một số nhạc cụ khác để múa tập thể trong ngày lễ hội “bẵng-phay” (pháo thăng thiên). Trống con (Koong kình) được đánh trong các sự kiện cầu phúc.

Ngoài ra còn nhiều loại nhạc cụ khác được dùng thông dụng trong các ngày lễ hội sản xuất, tôn giáo, ma chay như: “khoọng” (chiêng), “xình” (rạo bạt), “pì” (sáo), “khùi” (tiêu), “mạc chặp pì” (đàn), “xo” (nhị), “pôông” (mõ), “xèng” (thanh la)…

4. Văn hóa trang phục

Từ lâu trong mỗi bản mường, nhân dân có khả năng tự túc được các loại chăn, vải. Khi chưa có thuốc nhuộm, người Lào dùng các loại quả rừng, củ rừng. Các cô gái thích mặc vải hoa, vải kẻ có màu đậm, tươi tắn như màu cỏ cây hoa lá tự nhiên trong rừng núi bát ngát trùng điệp của quê hương mình. Kiểu áo quần, màu sắc cũng được lưu ý sao cho tiện lợi, phù phù hợp với từng mùa, từng hoàn cảnh rõ ràng và cụ thể khi đi lao động sản xuất, dự lễ hội, cưới xin, ma chay…

Thanh niên Lào thường cắt tóc ngắn, mặc áo cổ tròn tay ngắn, quần đùi, bên ngoài quấn chiếc khăn gọi là “phạ-xà-rông” màu, kẻ ô vuông. Khi đi lao động ngoài ruộng rẫy, nam giới mặc quần đùi hoặc quần dài nhuộm chàm. Những ngày lễ hội trang trọng, nam giới mặc y phục dân tộc. Này là chiếc áo sơ mi cổ tròn, khuy vải, cài về phía tay trái. Bên ngoài chiếc quần đùi giản dị, các chàng trai Lào quấn chiếc khăn dài rộng gọi là “phạ nhạo nếp tiêu” màu sắc sặc sỡ (rộng hơn phạ-xạ-rông, khi mặc cuốn qua háng rồi nhét vào cạp sau). Gia đình khá giả mặc loại toàn tơ tằm. Một số thanh niên còn quàng loại khăn màu chéo qua ngực gọi là “phạ-biềng”. Đi dự những ngày lễ hội trong bản mường người thanh niên có thể mặc bộ y phục dân tộc cũ nhưng nếu mặc áo quần ngắn thì bị dân bản nhận xét thiếu sự tôn trọng cộng đồng, phong tục truyền thống của dân tộc. Trong lễ hội cũng như lúc bình thường, nam giới ở Lào hay đeo nhẫn, một số địa phương ở Nam Lào còn đeo dây chuyền. Trong cuộc sống lao động mỗi ngày, người Lào còn thường dùng một loại khăn gọi là “phạ-phe” (giống khăn rằn ở miền Nam). Ở Lào khăn rằn được sử dụng một cách thông dụng trong cả nước, ở mọi lứa tuổi. Chiếc khăn vải kẻ ô vuông màu trang nhã thường được dùng làm khăn tắm, trùm đầu che nắng che sương, quàng cổ khi trời giá rét. Đi lao động ngoài ruộng rẫy, đi đường xa “phạ-phe” dùng để gói bộ quần áo thắt ngang lưng rất ngăn nắp.

Xem Thêm  Cách Để Vẽ Xe Ô Tô Bay - xe mô tô bay

Lúc còn nhỏ, phụ nữ Lào để tóc hoặc hớt tóc. Trên mười tuổi thường búi tóc, một số địa phương như ở Luổng-pha-bang có tục búi tóc lệch hoặc thẳng để phân biệt giữa các cô gái có chồng và chưa có chồng. Ngoài năm mươi tuổi, phụ nữ Lào thường hay cắt tóc ngắn với tư tưởng đã về già cần ăn mặc giản dị, ngăn nắp, làm gương cho con cháu. Xưa kia cũng như ngày nay phụ nữ Lào thường mặc váy. Theo tập quán gia truyền, phụ nữ Lào mặc váy có cạp, có gấu, không quá ngắn hoặc quá dài. Ai không mặc như trên hoặc dùng vải quá mỏng, quần chẽn bó lấy thân bị coi là không đứng đắn, trái với cách ăn mặc truyền thống của phụ nữa Lào. Các em bé gái dưới mười tuổi có thể châm chước trong cách ăn mặc nhưng vẫn kỵ mặc đảo ngược gấu váy lên trên. Đi lao động ngoài ruộng rẫy như gặt hái, làm cỏ, hái lượm trong rừng, phụ nữ mặc áo tay dài nhuộm màu chàm hoặc đen. Người lớn tuổi hay quấn trên đầu chiếc khăn rằn (phạ-phe). Đi dự lễ hội, phụ nữ Lào ăn mặc theo truyền thống dân tộc. Này là váy toàn tơ, chân váy có những đường hoa văn mang màu sắc dân tộc, chiếc áo tay ngắn được may phức tạp hơn, có những đường viền hoặc thêu hình hoa lá, chim muông. Có cô gái mặc áo đính bằng khuy đồng hay khuy bạc, quàng chéo trước ngực chiếc khăn “phạ-biềng” màu. Bó sát lưng làm nổi thân hình thon thả của các cô gái là chiếc dây thắt lưng bằng đồng hay bạc gọi là “khểm-khắt”. Đi dự các ngày lễ hội các cô gái Lào thích đeo đồ trang sức như hoa tai, dây chuyền, nhẫn bằng vàng hay bạc. Nhưng thông dụng nhất là đôi hoa tai và chiếc thắt lưng, này là những vậy kỷ niệm của người con gái được cha mẹ sắm cho từ thưở nhỏ.

 

Xem thêm: Du lịch Lào từ Hà Nội

 

Nếu bạn đang có plan đi du lịch Lào để hòa mình vào văn hóa, ẩm thực & nhân loại nơi đây hãy cũng Phuonghoangtour trải nghiệm chùm tour du lịch Lào do công ty tư vấn du học tổ chức.

Mọi thông tin liên hệ hotline để được tư vấn miễn phí.


Xem thêm những thông tin liên quan đến đề tài van hoa lao

Tổng hợp 9 bài khiêu vũ lớp 3-Cung Văn Hóa lao động Hồ Chí Minh năm 2018

alt

  • Tác giả: Khieu vu giao tiep
  • Ngày đăng: 2018-08-03
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 8713 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm:

Top 100 công trình trăm tuổi nổi tiếng Việt Nam (Ρ.52): Cung Văn hóa Lao động Tp. Hồ Chí Minh

  • Tác giả: kyluc.vn
  • Nhận xét: 3 ⭐ ( 2167 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: HỘI KỶ LỤC GIA VIỆT NAM – TỔ CHỨC KỶ LỤC VIỆT NAM (VIETKINGS)

Nhà Văn Hóa Lao Động

  • Tác giả: congdoanquantanbinh.org.vn
  • Nhận xét: 5 ⭐ ( 5042 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm:

Toàn cảnh hoạt động văn hóa văn nghệ dịp lễ 30-4 và 1-5

  • Tác giả: nld.com.vn
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 8034 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Nhiều chương trình văn hóa văn nghệ, tiêu khiển tại TP HCM đã sẵn sàng để người dân lựa chọn trong những ngày nghỉ lễ

Những cảm nhận về quốc gia, nhân loại và văn hóa Lào-nhung cam nhan ve dat nuoc con nguoi va van hoa lao

  • Tác giả: dbnd.quangngai.gov.vn
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 8384 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm:

KEO DÍNH CHUỘT – VĂN HOÁ VIỆT

  • Tác giả: tilado.edu.vn
  • Nhận xét: 3 ⭐ ( 6464 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: KEO DÍNH CHUỘT – VĂN HOÁ VIỆT | CUỘI OFFICIAL | Tilado.edu.vn

Kết nối du lịch Kon Tum – Nam Lào

  • Tác giả: www.baokontum.com.vn
  • Nhận xét: 5 ⭐ ( 2733 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Thông thương Quốc lộ 18B qua cặp cửa khẩu Quốc tế Bờ У – Phu Cưa là điều kiện thuận tiện để tỉnh Kon Tum và các tỉnh Nam Lào (gồm Attapư, Sê Kông, Champasak, Salavan) tăng cường giao lưu, hợp tác, thắt chặt tình đoàn kết gắn bó Việt – Lào. Trong số đó, kết nối du lịch giữa các tỉnh láng giềng thân thiết góp phần mở hướng mang kinh tế các địa phương cùng đi lên.

Xem thêm các nội dung khác thuộc thể loại: Khám Phá Khoa Học

By ads_law