Xin chào người đọc. Ngày hôm nay, leephan xin góp chút kinh nghiệm cá nhân về mẹo vặt, kinh nghiệm không thể thiếu trong đời sống với bài chia sẽ Quan hệ Trung Quốc – Việt Nam là gì? Cụ thể về Quan hệ Trung Quốc – Việt Nam tiên tiến nhất 2021

Bạn đang xem: quan hệ trung quốc việt nam

Xin chào người đọc. Ngày hôm nay, leephan xin góp chút kinh nghiệm cá nhân về mẹo vặt, kinh nghiệm không thể thiếu trong đời sống với bài chia sẽ Quan hệ Trung Quốc – Việt Nam là gì? Cụ thể về Quan hệ Trung Quốc – Việt Nam tiên tiến nhất 2021

Đa số nguồn đều đc lấy thông tin từ những nguồn website đầu nghề khác nên có thể vài phần khó hiểu.

Mong mọi người thông cảm, xin nhận phản hồi và gạch đá dưới phản hồi

Mong độc giả đọc nội dung này trong phòng riêng tư để có hiệu quả tốt nhất Tránh xa toàn bộ những thiết bị gây xao nhoãng trong các công việc đọc bài Bookmark lại nội dung vì mình sẽ update liên tiếp

Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc

Trung Quốc

Việt Nam

Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc (, tiếng Trung: 中越关系) là mối quan hệ giữa 2 nước láng giềng, chung biên giới trên bộ và trên biển, có quá trình gắn bó tương tác về văn hóa lịch sử, cũng như các trận chiến tranh qua lại. Một chính trị gia Việt Nam tóm gọn mối quan hệ Việt-Trung trong 6 chữ “vừa hợp tác, vừa đấu tranh”.[1]

Quan hệ Việt-Trung trong gần 2.200 năm tồn tại từ Thế kỷ II trước Tây lịch đến nay có thể chia ra 4 thời kỳ cơ bản. Thời kỳ thứ nhất quen gọi là “thời kỳ Bắc thuộc”, dài khoảng 1.000 năm, từ lúc nước Âu Lạc của An Dương Vương thuộc về nước Nam Việt của Triệu Đà (năm 179 tr. TL), khi mối liên hệ địa chính trị trước tiên giữa miền châu thổ sông Hồng với miền Trung nguyên Trung Quốc được thiết lập thông qua quan hệ Hán-Nam Việt, cho đến thời điểm Ngô Quyền thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng (năm 938 sau TL). Thời kỳ thứ 2 gọi chung là “thời kỳ Đại Việt”, dài tương tự, từ khi Ngô Quyền xưng vương (939) đến khi Pháp đặt nền bảo lãnh ở Việt Nam và nhà Thanh thừa nhận chủ quyền của Pháp ở đây (1883). Thời kỳ thứ 3 quen gọi là “thời kỳ Pháp thuộc”, kéo dài khoảng 6 thập niên, từ 1883-1945, khi Việt Nam tuyên bố độc lập. Thời kỳ thứ 4 từ 1945 đến nay. Thời kỳ này gồm 3 thời kỳ: (1) từ cuối thập niên 40 đến cuối thập niên 60, (2) từ đầu thập niên 70 đến cuối thập niên 80, (3) từ đầu thập niên 90 đến nay.[2][3]

Thời kỳ quân chủ

[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Xem thêm: Lịch sử chiến tranh Việt Nam-Trung Quốc

Lịch sử Việt Nam trong thời kỳ hai nghìn năm trước cận đại không thể lý giải đúng đắn nếu không gắn với quan hệ về mặt chính trị với Trung Quốc.

Từ cuối Thế kỷ II TCN đến nửa đầu Thế kỷ Ҳ SCN, Việt Nam chịu sự thống trị trực tiếp của Trung Quốc trong một nghìn năm cho đến khi giành được độc lập. 1.000 năm này trong lịch sử Việt Nam thường được gọi là “thời kỳ Bắc thuộc”.

Từ sau thời điểm thoát khỏi ách thống trị của Trung Quốc giành độc lập vào nửa đầu thế kỷ Ҳ đến trước khi rơi vào ách thống trị của thực dân Pháp vào nửa sau thế kỷ XIX, trong 1.000 năm, Việt Nam đã thiết lập quan hệ bang giao, vừa duy trì quan hệ thân thiện về chính trị vừa đồng thời tiếp nhận văn hóa Trung Quốc trong “trật tự thế giới kiểu Trung Hoa”, theo cách nói của người Trung Quốc. Đây là lúc Việt Nam không đang là quận huyện trong đế quốc Trung Hoa nữa, và Trung Hoa cũng phải chấp thuận cho Việt Nam nằm ngoài cương vực của mình. Lịch sử quan hệ Việt-Trung trong thời kỳ này là lịch sử xung đột và thỏa hiệp, thể chế hóa các xung đột và thỏa hiệp ấy.[4] Việt Nam thực hiện 1 quyết sách ngoại giao 2 mặt. 1 mặt trên hình thức Việt Nam vẫn thừa nhận trật tự toàn cầu của Trung Quốc, cử các sứ đoàn ngoại giao sang Trung Quốc bang giao, mặt khác vẫn duy trì nền độc lập của mình.[5]

Đây cũng là thời kỳ nổ ra rất nhiều cuộc xung đột đẫm máu giữa 2 nước, với phần nhiều các cuộc xâm lược từ Trung Quốc vào Việt Nam.

Nhưng người Việt vẫn xưng hoàng thượng để ngang hàng với hoàng thượng Trung Quốc qua các thời kỳ

Thời kỳ Pháp thuộc

[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Thời Pháp thuộc, Việt Nam bị chia làm 3 kỳ, nằm trong Liên bang Đông Dương thuộc Pháp: Bắc kỳ và Trung kỳ là xứ bảo lãnh, Nam kỳ là thuộc địa. Với Hiệp ước Pháp-Thanh 1885, Trung Quốc từ bỏ bá quyền của mình và thừa nhận sự bảo lãnh của Pháp so với Việt Nam. Quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc do Pháp đảm nhiệm và trở thành 1 phòng ban của quan hệ Pháp-Trung. Thời kỳ này cũng là thời kỳ mà Trung Hoa phải từ bỏ mô hình toàn cầu truyền thống của mình và ứng dụng mô hình toàn cầu kiểu Âu, 1 kiểu trật tự toàn cầu được thừa nhận ở châu Âu từ sau Hòa ước Westfalen (1648). Sự khác biệt lớn nhất giữa 2 mô hình Trung Hoa và Tây phương là trật tự toàn cầu kiểu Trung Hoa đòi hỏi phải có 1 trung tâm thiên hạ, đại diện là hoàng đế Trung Quốc với tư cách “thiên tử”, xung quanh Trung Hoa là 1 hệ thống các “phiên bang”, “chư hầu”, “thuộc quốc”, tức là 1 sự phân biệt trên dưới rất rõ ràng; trong lúc trật tự toàn cầu kiểu Westfalen không thừa nhận 1 trung tâm quyền lực tối thượng đứng trên các nước khác, thống trị cả toàn cầu dù chỉ trên danh nghĩa. Các nước có chủ quyền tối cao trong vùng lãnh thổ của mình, và do này là ngang nhau trên trường quốc tế.[6] Tuy nhiên, hành xử của các nước Tây phương mang tính 2 mặt. Hình thức ngoại giao là mô hình Westfalen, còn trên thực tiễn là chính trị dựa trên sức mạnh ().

Tại Việt Nam, Pháp dùng vũ lực chiếm Nam Kỳ và ép nhà Nguyễn ký Hòa ước Giáp Tuất (1874) thừa nhận chủ quyền vĩnh viễn của Pháp ở Nam Kỳ. Sau đó, bằng sức mạnh quân sự, Pháp ký với nhà Nguyễn Hòa ước Giáp Thân (1884) đặt Đại Nam dưới sự bảo lãnh của Pháp. Nhà Thanh ký Hòa ước Thiên Tân (1885) với Pháp chấm hết chiến tranh Pháp-Thanh, rút quân Thanh khỏi Bắc Kỳ và thừa nhận nền bảo lãnh của Pháp với Việt Nam. Trên danh nghĩa nhà Nguyễn vẫn thống trị nước Đại Nam nhưng phải chịu sự chi phối của Khâm sứ đại diện cho chính phủ Pháp. Riêng so với Trung Hoa, do nước này quá lớn và còn rất mạnh, không 1 đế quốc phương Tây nào đủ khả năng một mình tuyên chiến và xâm lược Trung Quốc, kể cả nước có nhiều thuộc địa nhất thời này là Đế quốc Anh nên sau năm 1901, khi Trung Quốc thua trận trước liên quân 8 nước và ký Hoà ước Tân Sửu các nước phương Tây bắt Trung Hoa phải tô nhượng cho họ các vùng đất nhỏ ở duyên hải gần đầu mối giao thương làm tô giới cùng với các quyền lợi về kinh tế, đồng thời thiết lập các “vùng ảnh hưởng” (là các khu vực tác động của các đế quốc phương Tây ở Trung Quốc, các vùng ấy hoàn toàn không phải là thuộc địa, Triều đình Nhà Thanh vẫn có quyền lực thống trị tối cao nhưng nằm trong sự kiểm tra của các cường quốc Châu Âu và ở đó các cường quốc có nhiều quyền lợi về thuế quan, thương mại).

Thời kỳ này có nhiều nhà cách mạng chống Pháp của Việt Nam, đặc biệt trong trào lưu Cần Vương, đã sang Trung Hoa nương náu hoặc cầu viện, như Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Thiện Thuật… Năm 1884-1885, chiến tranh Pháp-Thanh nở rộ trên chiến trường miền Bắc Việt Nam.

Thời kỳ hiện đại

[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Thời kỳ 1945-1949

[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Tại Việt Nam xảy ra trận chiến giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Pháp, đồng thời ở Trung Quốc, xảy ra nội chiến giữa 2 bên do Tưởng Giới Thạch và Mao Trạch Đông cầm đầu, quan hệ thời này chia thành quan hệ giữa 4 bên (Pháp, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Trung Hoa Dân quốc và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa).

Thời kỳ 1949-1979

[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Thời kỳ này có thể chia làm các thời kỳ ngắn hơn:

Ngày 18/1/1950, Trung Quốc thừa nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa[7].

Thời kỳ chiến tranh chống Pháp, kết thúc bằng thắng cuộc Điện Biên Phủ. Thời kỳ này Trung Quốc đã viện trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Việt Minh chống Pháp. Quan hệ giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với Trung Quốc được nâng lên cấp đại sứ vào tháng 4/1951.[8]

Cuộc trao đổi này diễn ra vào ngày 13/4/1966, khi những bất đồng về đường lối trong Trào lưu Cộng sản Quốc tế đang phát triển đến đỉnh điểm giữa 2 đảng cộng sản Liên Xô và Trung Quốc. Khi đó Việt Nam phải thực hành 1 quyết sách tạo thăng bằng trong quan hệ với 2 nước Xã hội Chủ nghĩa khổng lồ là Liên Xô và Trung Quốc để tranh thủ được viện trợ của cả hai. Thời kỳ này dù không chính thức ủng hộ miền Bắc Việt Nam phát động chiến tranh tại miền Nam[9], Trung Quốc đã viện trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam chống Mỹ.[10] Trung Quốc khuyên Việt Nam nên đánh lâu dài, đánh du kích và không đánh lớn. Trung Quốc cũng cho Mỹ biết họ sẽ không trực tiếp tham chiến tại Việt Nam nếu Mỹ không mang quân vượt biên giới Việt-Trung vào lãnh thổ Trung Quốc[11]. Do Chia rẽ Trung-Xô nên Trung Quốc không chấp thuận phối phù hợp với Liên Xô ủng hộ cuộc kháng chiến của Việt Nam cũng như không ủng hộ việc thành lập Mặt trận quốc tế thống nhất ủng hộ Việt Nam[12].

Xem Thêm  11 Cách trang trí gầm cầu thang phòng khách đẹp - trang trí gầm cầu thang

Ở phía Nam, quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam Cộng hòa khá stress khi chính phủ Việt Nam Cộng hòa từ chối thừa nhận Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, và đồng thời tìm cách đồng hóa người Hoa ở đây với quy mô lớn. Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cũng không thừa nhận chính phủ Việt Nam Cộng hòa, đồng thời phản đối việc quân đội Mỹ tiến hành chiến tranh ở Việt Nam.

Khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thương thảo với Mỹ để ký kết Hiệp định Paris 1973, Trung Quốc không ủng hộ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mà đe dọa sẽ cắt viện trợ nếu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thỏa hiệp với Mỹ[13]. Từ năm 1969 Trung Quốc đã giảm viện trợ cho Việt Nam 20% so với năm 1968 do Việt Nam tự thương thảo với Mỹ để chấm hết chiến tranh (không mời Trung Quốc)[14]. Cuối thập kỷ 1960, Trung Quốc rút hầu hết toàn bộ quân đội về nước[15].

Năm 1972, Tổng thống Mỹ Nixon sang thăm Trung Quốc. 2 nước ký Tuyên bố chung Thượng Hải, đặt nền tảng cho liên minh sách lược chống lại Liên Xô. Việc Trung Quốc bắt tay với Mỹ làm rạn nứt quan hệ 2 nước, khiến Việt Nam xích lại gần Liên Xô. Khi Trung Quốc thương thảo với Mỹ để bình thường hóa quan hệ giữa 2 quốc gia vấn đề Việt Nam trở thành đề tài thảo luận của 2 bên[16]. Mỹ yêu cầu Trung Quốc chấm hết ủng hộ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa xâm lược Việt Nam Cộng hòa[16]. Trung Quốc đề xuất Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sớm thỏa hiệp với Mỹ để họ rút quân về nước và trao trả tù binh cho Mỹ trong lúc Mỹ muốn có 1 phương án có lợi cho họ và đồng minh Việt Nam Cộng hòa[16] đồng thời giảm viện trợ cho nhà nước này[15]. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho rằng Trung Quốc đã phản bội họ[16]. Quan hệ giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Trung Quốc ngày càng xấu đi nhất là sau sự kiện Hải chiến Hoàng Sa 1974 mà Trung Quốc dùng vũ lực xâm chiếm đảo từ lực lượng Hải quân Việt Nam Cộng hòa. Điều này được xem như là giọt nước tràn ly mà đến nay nhiều người Việt xem là hành động xâm lăng của Trung Quốc và đến giờ vẫn là điều khó phai trong quan hệ 2 nước.

Sau khoảng thời gian Quân đội Nhân dân Việt Nam và Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam tấn công kiểm tra toàn thể miền Nam Việt Nam, thống nhất 2 miền vào năm 1975, quan hệ Việt-Trung ngày càng stress. Trung Quốc giảm bớt mạnh viện trợ cho Việt Nam với nguyên nhân họ đang gặp nhiều khó khăn[15]. Sau khoảng thời gian Việt Nam tham gia Hội đồng Tương trợ Kinh tế, Trung Quốc chấm hết viện trợ cho Việt Nam. 1 mặt do quan hệ Liên Xô – Trung Quốc vẫn ở trạng thái thù địch, mà Việt Nam lại ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên bang Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô Viết khiến Trung Quốc muốn có 1 đồng minh khác tại Đông Nam Á thay thế Việt Nam nên họ trợ giúp toàn diện chính quyền Khmer Đỏ tại Campuchia. Tuy nhiên tới giữa 1978, Trung Quốc vẫn muốn thu hút Việt Nam khỏi quan hệ đồng minh thân thiết với Liên Xô[15]. Nhờ có viện trợ của Trung Quốc nên Khmer Đỏ cảm thấy tự tin hơn và tiến hành quấy phá biên giới phía Nam Việt Nam cũng như Lào và Thái Lan. Khi quân đội Việt Nam lật đổ chính quyền Khmer Đỏ, Trung Quốc càng thù địch với Việt Nam hơn. Năm 1978, chính quyền Việt Nam tôn tạo công thương nghiệp nghiệp tại miền Nam Việt Nam khiến cộng đồng người Hoa ở đây chịu thiệt hại nặng trong lúc đó quan hệ Việt-Trung ngày càng xấu đi khiến người Hoa ồ ạt sơ tán khỏi Việt Nam[15]. Trung Quốc tố cáo Việt Nam đã xua đuổi người Hoa khỏi nước này. Quan hệ giữa 2 quốc gia cực kỳ stress.

Thời kỳ 1979-1991

[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Xem thêm: Chiến tranh biên giới Việt-Trung, 1979

Xem thêm: Hải chiến Trường Sa 1988

Chiến tranh biên giới

[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Một áp phích của Việt Nam năm 1979 cho thấy quan hệ stress giữa hai nước vào thời điểm này.

Chiến tranh biên giới Việt Trung xảy ra tháng 2/1979 là cực điểm của quan hệ stress giữa Việt Nam và Trung Quốc. Trong thời gian đó, Việt Nam gọi Trung Quốc là “phản động”, “bành trướng”, “bá quyền”. Đồng thời Trung Quốc cũng gọi Việt Nam là “côn đồ”, “tiểu bá”. Việt Nam cũng thường chỉ trích Trung Quốc đã theo sách lược “” và xem này là quốc sách của Trung Quốc trong thời điểm đó, đặc biệt sau thời điểm Việt Nam hiểu rằng những cuộc mật đàm giữa Chu Ân Lai và Henry Kissinger. Trong lúc đó Trung Quốc muốn cải tổ quan hệ Mỹ-Trung để phá vỡ thế bị cô lập trong quan hệ quốc tế và đổi mới kinh tế, mở cửa giao thương với toàn toàn cầu[17]. Tại thời điểm này Việt Nam bị rất nhiều nước trên toàn cầu, nhất là các nước Đông Nam Á lên án vì đã can thiệp quân sự vào Campuchia. Chỉ có Liên Xô và các đồng minh thân cận của nước này ủng hộ Việt Nam.

Chiến tranh biên giới Việt-Trung 1979 xảy ra, kéo dài suốt hơn 10 năm, để lại nhiều hậu quả cho phía Việt Nam. Phía Trung Quốc cho rằng trận chiến 1979 hầu hết để “dạy cho Việt Nam một bài học” vì “xâm lăng Campuchia”, nước khi này là đồng minh của Trung Quốc.[18] Theo Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, Trung Quốc đánh Việt Nam ““[19] Trận chiến với Việt Nam cũng là phương pháp để quân đội Trung Quốc tập luyện sau một thời gian dài không có chiến tranh cũng như xúc tiến quá trình hiện đại hóa quân đội Trung Quốc.

Năm 1988, Hải quân Quân giải phóng Nhân dân Trung Hoa mang quân chiếm đóng bãi đá Colin, bãi đá Len Đao và bãi đá Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa, do 3 bãi đá này không có quân đội đồn trú nên Hải quân Nhân dân Việt Nam phải mang quân ra bảo vệ, đánh trả và trận chiến nổ ra vào ngày 14/3/1988. Phía Việt Nam mất 3 tàu vận tải của hải quân Việt Nam, 64 chiến sỹ hải quân Việt Nam đã hy sinh. Trung Quốc bị hư hỏng tàu chiến, thương vong 24 thủy binh. Kể từ đó Trung Quốc đã sở hữu đóng bãi đá Gạc Ma và 2 nước cùng cho hải quân ra đóng giữ một số bãi ngầm khác mà 2 bên cùng tuyên bố chủ quyền.

Bình thường hóa quan hệ

[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Bài cụ thể: Hội nghị Thành Đô

Năm 1989, với việc rút quân của Việt Nam khỏi Campuchia, quan hệ Việt Trung có nền tảng để bình thường hóa. Hội nghị Thành Đô ngày 3-4/9/1990 là bước ngoặt của quan hệ Trung-Việt. Tại đây, phía Việt Nam có Nguyễn Văn Linh, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, Đỗ Mười, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng và Phạm Văn Đồng, Cố vấn Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Phía Trung Quốc có Tổng Bí thư Giang Trạch Dân, Thủ tướng Lý Bằng. Cuộc gặp mặt này được thực hiện theo gợi ý của Đặng Tiểu Bình. Hai bên ký kết Kỷ yếu Hội nghị đồng thuận bình thường hóa quan hệ hai nước. Nhưng người được cho rằng đóng vai trò liên lạc trong mật nghị là ông Lê Đức Anh, nguyên Bộ trưởng Bộ quốc Phòng, đã có những buổi tiếp bí mật với ông Trương Đức Duy, Đại sứ toàn quyền Trung Quốc tại Việt Nam. Toàn bộ những cuộc gặp mặt bí mật này vẫn còn nằm trong vòng bí mật.

Ngày 5/11/1991, Đỗ Mười, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam và Võ Văn Kiệt, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đến thăm Trung Quốc. Ngày 7/11/1991, Hiệp định mậu dịch Trung – Việt và hiệp định tạm thời về việc xử lý công việc biên giới 2 nước đã được ký tại Nhà khách quốc gia Điếu Ngư Đài, Bắc Kinh.

Thời kỳ sau năm 1991

[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Xem thêm: Vấn đề lãnh thổ biên giới Việt Nam – Trung Quốc

220px Sino Vietnamese border

Cột mốc ở khu vực biên giới Việt Nam – Trung Quốc

Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong những năm đầu thế kỷ XXI phát triển theo hướng Việt Nam ngày càng có quan hệ sâu rộng với Trung Quốc trong hầu như các ngành nghề, nhất là kinh tế và chính trị. Tạp chí Việt Nam những năm gần đây luôn luôn khen ngợi tình hữu hảo 2 nước, cho dù 2 bên có tranh chấp tại khu vực biển Đông mà cả hai nước đều tuyên bố chủ quyền. Dưới thời Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu, Việt Nam ký 2 Hiệp định Biên giới trên bộ và phân tách vịnh Bắc Bộ với Trung Quốc. Theo tạp chí chính thống của Việt Nam, Việt Nam có quan hệ mật thiết “môi hở răng lạnh” với Trung Quốc. Hai nước đều do 2 Đảng Cộng sản lãnh đạo.

Xem Thêm  +30 Hình Ảnh Xe Máy Độ Năm 2022 Cực Chất Dành Cho Máy Của Bạn - ảnh xe máy đẹp

Thời kỳ sau này đánh dấu bằng một số mốc sau:

  • Hiệp định Biên giới trên Bộ Việt-Trung.
  • Hiệp định Phân định Vịnh Bắc Bộ.

Các vấn đề còn nổi cộm trong quan hệ giữa hai nước bao gồm:

  • Phân tách biên giới trên biển: Đường lưỡi bò của Trung Quốc trên vùng biển mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền.
  • Chủ quyền 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tháng 1/1974, hải quân Trung Quốc đụng độ với hải quân Việt Nam Cộng hòa tại Hoàng Sa và chiếm đóng các đảo này. Năm 1988, Trung Quốc mang quân chiếm một số đảo tại quần đảo Trường Sa.[20] Năm 2009, Trung Quốc tuyên bố lãnh thổ của họ tại biển Đông (hay Nam Trung Hoa) kéo dài toàn thể vùng biển này, theo hình lưỡi bò. Trái lại, chính phủ Việt Nam cũng tuyên bố chủ quyền với 2 quần đảo, bác bỏ những tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc và gọi này là những tuyên bố vô căn cứ.

Tác động văn hóa

[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Trung Quốc tiếp tục có những tác động về Văn hóa tới Việt Nam kể từ sau thời điểm bình thường hóa quan hệ, cho phép các loại hình văn hóa của Trung Quốc được xuất bản rộng rãi tại Việt Nam. Rất nhiều các loại phim Trung Quốc được dịch và trình chiếu tại các đài truyền hình Trung ương và địa phương.

Quan hệ kinh tế và thương mại

[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Số liệu mậu dịch song phương Việt Nam – Trung Quốc (tỷ USD)[21]

Năm

Tổng lượng nhập từ Trung Quốc

Tổng lượng xuất sang Trung Quốc

2007
12,709
3,646

2008
15,973
4,850

2009
16,673
5,402

2010
20,203
7,742

2011
24,866
11,613

Trong chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh tháng 5/2008, hai bên nhất trí phát triển “quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện”. Hiện tại, Việt Nam mới chỉ thiết lập quan hệ partner hợp tác sách lược toàn diện với Nga và Trung Quốc.

Từ khi bình thường hóa quan hệ năm 1991 đến nay, quan hệ kinh tế thương mại Trung Quốc – Việt Nam được khôi phục và phát triển nhanh chóng. Kim ngạch thương mại giữa 2 nước từ hơn 30 triệu USD năm 1991 lên 22,5 tỷ USD năm 2009, tăng gấp gần 700 lần. Trung Quốc đã trở thành bạn hàng lớn nhất của Việt Nam[22], vừa là nguồn nhập khẩu lớn nhất vừa là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam[23][24]. Lợi nhuận thương mại song phương mang lại cho 2 nước là điều đơn giản nhìn thấy. Hàng hóa xuất khẩu sang Trung Quốc của Việt Nam hầu hết gồm dầu thô, than đá và một số nông sản nhiệt đới, sản phẩm nhập khẩu từ Trung Quốc hầu hết có máy móc thiết bị, thép, sản phẩm hóa chất, thiết bị vận tải, linh kiện điện tử, smartphone, nguyên phụ kiện dệt may, da giày, phân bón, vật tư nông nghiệp, và hàng tiêu dùng. Có thể thấy, những năm gần đây, kết cấu hàng thương mại giữa 2 nước thay đổi không lớn, Việt Nam vẫn dựa vào xuất khẩu khoáng sản, nguyên liệu thô và nông sản là hầu hết trong đó có xuất khẩu bauxite sang Trung Quốc theo trao đổi hợp tác kinh tế giữa hai quốc gia.[25]; còn nhập khẩu từ Trung Quốc hầu hết là nguyên liệu đầu vào cho sản xuất, hàng công nghiệp và hàng tiêu dùng do khả năng đối đầu của hàng Việt Nam so với Trung Quốc còn yếu, nhiều mặt hàng Việt Nam chưa tự sản xuất được nên phải nhập khẩu từ Trung Quốc.[26] Nhưng cùng với thương mại song phương liên tục tăng trưởng, vấn đề mất thăng bằng trong thương mại giữa hai nước đã ngày càng bộc lộ. Việt Nam hết sức coi trọng vấn đề nhập siêu trong thương mại với Trung Quốc.[27] Việt Nam nỗ lực tăng xuất khẩu sang Trung Quốc để thăng bằng cán cân thương mại nhưng cơ cấu hàng xuất khẩu không có sự thay đổi lớn vì hàng công nghiệp của Việt Nam vẫn chưa đủ sức đối đầu trên thị trường Trung Quốc. Đến đầu năm 2018, Trung Quốc đã trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam trong đó kim ngạch xuất khẩu hàng công nghiệp tăng, một số mặt hàng nông nghiệp và dầu thô giảm; Trung Quốc hiện vẫn là thị trường tiêu thụ rau quả lớn nhất của Việt Nam[28][29][30]. Nền kinh tế Việt Nam phụ thuộc rất lớn vào thương mại song phương giữa hai nước[31].

Các doanh nghiệp Trung Quốc cũng tham gia đầu tư nhiều dự án lớn tại Việt Nam. Nhiều dự án lớn được các nhà thầu Trung Quốc thắng thầu và triển khai[32]. Trong các dự án nhiệt điện, nền tảng hạ tầng, vốn vay của Trung Quốc ngày càng tăng trong tổng lượng vốn vay của Việt Nam.[33] Sự tham gia của Trung Quốc trong một số dự án như trồng rừng ở biên giới, dự án khai thác bô xít ở Tây Nguyên gây ra dư luận lo ngại sự hiện diện của họ tại các vị trí này có thể tác động đến an ninh – quốc phòng của Việt Nam[34][35].

Vị trí địa lý nằm phía Nam Trung Quốc, thị trường hơn 1 tỷ dân, là một điều kiện thuận tiện cho phát triển kinh tế mà Việt Nam phải tận dụng nhưng đồng thời cũng là thách thức lớn khi Trung Quốc là nhà xưởng của toàn cầu vì họ có khả năng sản xuất ra hàng hóa với ngân sách thấp, phong phú về mẫu mã và mẫu mã, có sức đối đầu cao.

Quan hệ chính trị

[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Bài cụ thể: Tranh chấp chủ quyền Biển Đông

Sau khoảng thời gian bình thường hóa quan hệ, hai nước đã nỗ lực đẩy mạnh quan hệ chính trị. Hai bên tránh nói lại những bất đồng, xung đột trong quá khứ để nhắm đến tương lai. Về mặt ngoại giao chính thức, Việt Nam luôn cam kết tuân theo “Phương châm 16 chữ vàng”, là láng giềng tốt của Trung Quốc. Việt Nam và Trung Quốc sẽ kiềm chế những xung đột, tranh chấp trên biển Đông, không để tác động đến quan hệ giữa 2 nước. Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng họp báo (10/4/2007 tại Bắc Kinh) và tuyên bố: ““.

Kỷ niệm 64 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt-Trung (18/1/1950-18/1/2014) ngày 17/1/2014, Đại sứ quán Việt Nam tại Trung Quốc đã tổ chức đón tiếp trọng thể. Đại sứ Nguyễn Văn Thơ cho biết Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam luôn trân trọng sự ủng hộ quý báu và hiệu quả của Đảng, Nhà nước và nhân dân Trung Quốc so với sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và thống nhất quốc gia của nhân dân Việt Nam trước đó cũng như trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ngày nay. Đại sứ cho biết năm 2013, quan hệ Việt-Trung về tổng thể đã đoạt được nhiều phát triển mới cả chiều rộng lẫn chiều sâu.[36]

Việt Nam tiếp tục học hỏi kinh nghiệm của Trung Quốc trong hoạt động điều hành kinh tế – xã hội do Trung Quốc có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam, hơn nữa Trung Quốc cũng đang trong quá trình chuyển hóa kinh tế như Việt Nam.

Tuy nhiên một số phương tiện truyền thông của Trung Quốc tuyên truyền làm đa số người dân Trung Quốc luôn nhầm lẫn rằng Việt Nam là kẻ thù của nước họ. Báo Trung Quốc viết rằng Việt Nam chiếm đất, chiếm các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Trung Quốc nhằm đoạt nguồn dầu khí và hải sản của Trung Quốc.[37] Còn tại Việt Nam, một số cá nhân, tổ chức luôn nói đến những tranh chấp, xung đột giữa 2 nước trong quá khứ lẫn hiện tại để định hướng dư luận xem Trung Quốc là mối đe dọa an ninh của Việt Nam từ đó chỉ trích chính quyền Việt Nam vì đã duy trì quan hệ tốt đẹp với Trung Quốc, thậm chí lên án chính quyền là tay sai của Trung Quốc. Chính phủ Trung Quốc và Việt Nam luôn ý thức rằng phải kiềm chế những thành phần cực đoan ở mỗi nước, không để họ gây tác động xấu đến quan hệ Việt-Trung.

Nhận định

[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Ngô Sĩ Liên, người biên soạn Đại Việt sử ký toàn thư đã than về việc một ông vua nước Nam Lý Phật Tử (lên ngôi sau chết chóc của Lý Nam Đế, người đã tạo dựng cuộc khởi nghĩa năm 541 chống lại sự chi phối của Trung Quốc) hàng phục nhà Tùy (Trung Quốc) như sau:

.[38]

Vũ Hồng Lâm nhận định:

[39]

Nhận định của Nguyễn Thị Mai Hoa:

[40]

Tướng Quân đội Nhân dân Nguyễn Trọng Vĩnh cho rằng:

” [41]

Nhà thơ Bùi Minh Quốc cho rằng:

” [41]

Nhận định nhân chuyến thăm 3 ngày, từ 25 tới 27/12/2014, của lãnh đạo thượng hạng Trung Quốc, Du Chính Thanh, Chủ tịch Chính hiệp Trung Quốc, gặp mặt các lãnh đạo thượng hạng của Việt Nam từ Tổng bí thư, tới Chủ tịch Nước và Thủ tướng Chính phủ.[42]

  • Về hệ thống quyết sách và sách lược đối nội và đối ngoại của Trung Quốc, nhà phân tích Nguyễn Khắc Mai, nguyên Vụ trưởng Vụ Phân tích thuộc Ban Dân vận Trung ương nói: ““
  • Phó Giáo sư Hoàng Ngọc Giao, nguyên Vụ Phó Ban Biên giới Chính phủ nhận xét: ““

Ông Lê Hồng Hiệp nhận định:

… [43]

Trung Quốc trong mắt công dân Việt Nam

[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Qua kết quả thăm dò của Trung tâm Phân tích Pew có trụ sở tại Mỹ thông báo hôm 14/7, tại Việt Nam, hơn 60% những người được hỏi cho biết họ ‘hết sức lo ngại’ về tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc trong lúc 56% số người được thăm dò ở Philippines cũng cho lời giải tương tự.

Xem Thêm  260,000+ Hình ảnh Con Bò Sữa tải xuống miễn phí - hình ảnh con bò sữa

Dẫn lời từ Thanh Phong (Công dân Việt Nam):

[44]

Đơn vị ngoại giao

[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

– Tại Việt Nam:

  • Hà Nội (Đại sứ quán).
  • Tp Hồ Chí Minh (Lãnh sự quán).
  • Đà Nẵng (Lãnh sự quán).

– Tại Trung Quốc:

  • Bắc Kinh (Đại sứ quán).
  • Quảng Châu (Lãnh sự quán).
  • Nam Ninh (Lãnh sự quán).
  • Hồng Kông (Lãnh sự quán).
  • Côn Minh (Lãnh sự quán).
  • Thượng Hải (Lãnh sự quán).

Xem thêm

[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

  • Lịch sử chiến tranh Việt Nam-Trung Quốc
  • Chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc
  • Phản ứng về việc thành lập tp Tam Sa

Chú thích

[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

  1. ^

    “Thủ tướng: ‘Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc là vừa hợp tác vừa đấu tranh’ – VnExpress”. VnExpress – Tin nhanh Việt Nam .

  2. ^

    : Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh, Lịch sử Việt Nam, Tập 1. Hà Nội: Nhà xuất bản Đại học và Trung học Chuyên nghiệp, 1981.

  3. ^

    Lịch sử quan hệ Việt-Trung nhìn từ góc độ đại sách lược | Vũ Hồng Lâm

  4. ^

    Lịch sử quan hệ Việt Nam – Trung Quốc thế kỷ XIX thể chế triều cống, thực và hư

    []

    , Insun Yu, Tạp chí Phân tích Lịch sử, Số 9 (2009)

  5. ^

    Văn hóa ứng xử của Việt Nam trong quan hệ với Trung Hoa thời kỳ Trung đại – Nhìn từ vấn đề “sách phong – triều cống”, Trần Nam Tiến, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Science & Technology Development, Vol 15, No.X1-2012

  6. ^

    Trật tự toàn cầu Lưu trữ 2016-04-08 tại Wayback Machine, Đoàn Hưng quốc, Văn hóa Nghệ An

  7. ^

    Thông tin cơ bản về các nước, khu vực và quan hệ với Việt Nam, Bộ Ngoại giao Việt Nam

  8. ^

    “VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA TRANH THỦ SỰ ỦNG HỘ, VIỆN TRỢ CỦA TRUNG QUỐC, LIÊN XÔ TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP [1950 – 1954]”. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 11 năm 2016 .

  9. ^

    Sự thật về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc trong 30 năm qua, trang 41-42, Nhà xuất bản Sự Thật, 1979

  10. ^

    Discussion between Zhou Enlai, Deng Xioaping, Kang Sheng, Le Duan and Nguyen Duy Trinh, Dự án Lịch sử Chiến tranh lạnh quốc tế (Cold War International History Project), Trung tâm Tổng thống Woodrow Wilson tài trợ.

  11. ^

    Sự thật về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc trong 30 năm qua, trang 45-47, Nhà xuất bản Sự Thật, 1979

  12. ^

    Sự thật về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc trong 30 năm qua, trang 48-49, Nhà xuất bản Sự Thật, 1979

  13. ^

    Sự thật về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc trong 30 năm qua, trang 51-53, Nhà xuất bản Sự Thật, 1979

  14. ^

    Sự thật về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc trong 30 năm qua, trang 53, Nhà xuất bản Sự Thật, 1979

  15. ^

    Biên giới tháng 2/1979: Sòng phẳng với lịch sử, Vietnamnet, 12/02/2019

  16. ^

    Sự thật về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc trong 30 năm qua, trang 55-60, Nhà xuất bản Sự Thật, 1979

  17. ^

    Quan hệ Trung – Mỹ từ năm 1949 đến nay, Nguyễn Thị Thanh Vân, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 5(90) – 2015

  18. ^

    BBC Vietnamese – Việt Nam – Vì sao Đặng Tiểu Bình đánh Việt Nam năm 1979?

  19. ^

    “BBC Vietnamese – Việt Nam – Tướng Vĩnh nói về cuộc chiến biên giới”. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 3 năm 2011 .

  20. ^

    1988年南沙海战(α sea battle Spratly Islands in 1988,China-Vietnam) – YouTube

  21. ^

    “Vietnamese Politics: China-Vietnam Relations and TPP”

  22. ^

    Trung Quốc là partner thương mại lớn nhất của Việt Nam, 07/02/2018, Báo Dân trí

  23. ^

    QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – TRUNG QUỐC: THỰC TRẠNG, VẤN ĐỀ VÀ GIẢI PHÁP, Lê Đăng Minh, VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE, VOLUME 4, NUMBER 3

  24. ^

    TQ trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của VN, 23 tháng 2 năm 2018, BBC Tiếng Việt

  25. ^

    « Tuyên bố chung Việt Nam – Trung Quốc nhân chuyến thăm hữu nghị chính thức nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Nông Đức Mạnh » ngày 3.12.2001

  26. ^

    Hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc tăng mạnh trở lại, Trung Tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại – Bộ Công Thương (VITIC)

  27. ^

    Viện phân tích Trung quốc -> Đặc trưng của thương mại Trung – Việt và phân tích nguyên nhân của nó

  28. ^

    Trung Quốc là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, Báo Thanh niên, 23/02/2018

  29. ^

    Xuất khẩu sang Trung Quốc tăng mạnh, VnEconomy, 24/02/2018

  30. ^

    Xuất khẩu sang Trung Quốc tăng mạnh: Mối lo hiện hữu, 12/11/2017, Báo Đất Việt

  31. ^

    Kinh tế Việt Nam lún sâu vào phụ thuộc Trung Quốc, Kinh tế Sài Gòn, 27/11/2019

  32. ^

    Bộ Plan nêu nguyên nhân Trung Quốc trúng thầu nhiều dự án lớn của Việt Nam, Dân Trí, 26/05/2017

  33. ^

    Chuyên Viên Phạm Chi Lan: Vốn Trung Quốc đang tạo gánh nặng nợ phát sinh lớn, Dân trí, 30/11/2016

  34. ^

    “BBC Vietnamese – Việt Nam – Các dự án bauxite: tiến độ chậm”. Bbc.co.uk .

  35. ^

    Cho Trung Quốc thuê rừng biên giới, RFA, 2010-02-12

  36. ^

    Kỷ niệm 64 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt-Trung, Lao động, 18/01/2014

  37. ^

    “Việt Nam có thể tự tin trên biển Đông”. Báo điện tử Dân Trí. 9 tháng 7 năm 2012 .

  38. ^

    Đại Việt sử ký toàn thư – Quyển thượng, tr.?

  39. ^

    Vũ Hồng Lâm, “Lịch sử quan hệ Việt-Trung nhìn từ góc độ đại chiến lược”, , số 2 – tháng 7/2004

  40. ^

    SỰ TRỞ LẠI ĐÔNG NAM Á CỦA LIÊN BANG NGA VÀ TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI VIỆT NAM, NGUYỄN THỊ MAI HOA, Tạp chí Văn hóa Nghệ An, Chủ nhật, 09 Tháng 2 2014 14:51

  41. ^

    Vinashin chỉ là chuyện nhỏ?

  42. ^

    ‘Đảng CS cần xoay trục về phía nhân dân’, BBC, 29.12.2014

  43. ^

    Sách về Việt Nam ‘không ngại làm phật ý Hà Nội’, BBC Tiếng Việt, 4 tháng 4 năm 2018

  44. ^

    “Trung Quốc là mối lo lớn nhất của người Việt”.

Tham khảo

[

sửa đổi

|

sửa nguồn mã

]

  • . Nhà xuất bản Sự thật (Bộ chính trị).

    , xuất bản năm 1979

Bên ngoài link

[

sửa đổi

|

sửa nguồn mã

]

  • Quan hệ Việt Trung và vấn đề Biển Đông
  • Phỏng vấn Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị Lưu trữ 2014-05-12 tại Wayback Machine
  • Thảo luận giữa Chu Ân Lai, Đặng Tiểu Bình, Khang Sinh, Lê Duẩn và Nguyễn Duy Trinh – Thái độ Trung Quốc với Chiến tranh Việt Nam
  • Lê Duẩn nói về tiếng động chống Việt Nam của lũ lũ phản động Trung Quốc
  • Sự thật về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc 30 năm qua (Nhà xuất bản Sự Thật T10 / 79)
  • Xung Việt – Trung tại Trường Sa năm 1988


Xem thêm những thông tin liên quan đến đề tài quan hệ trung quốc việt nam

Tăng cường quan hệ song phương Việt Nam – Trung Quốc

alt

  • Tác giả: Truyền Hình Nhân Dân
  • Ngày đăng: 2021-09-10
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 5507 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Tăng cường quan hệ song phương Việt Nam – Trung Quốc | Truyền Hình Nhân Dân
    Website: https://nhandantv.vn
    Xem Tin Tức mê hoặc, Tổng Hợp Video Tiên tiến nhất về thoitiet – Tin Thế Giới tiên tiến nhất đang diễn ra trong thời gian qua trên kênh truyền hình nhân dân – Kênh Tin Báo Nhân Dân sẽ update đến các bạn các thông tin đầy đủ nhất tại đây. Mời bạn đón xem nhé !
    Đăng Ký Xem Video tintuc Miễn Phí: http://goo.gl/dVkSzA
    1. Dự Báo Thời Tiết Hôm Nay : https://bit.ly/2sNoeGo
    2. Bản Tin Sáng : https://bit.ly/2tAM882
    3. Bản Tin Trưa : https://bit.ly/2N2HHJJ
    4. Bản Tin Tối : https://bit.ly/35yEjwX

Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc tiếp tục phát triển ổn định

  • Tác giả: www.qdnd.vn
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 2001 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Thay mặt Chính phủ Việt Nam, đồng chí Nguyễn Thanh Long gửi đến nhân dân Trung Quốc bài phát biểu chúc mừng bằng hình thức ghi hình.

  • Tác giả: www.tapchicongsan.org.vn
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 6958 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm:

Nhìn lại quan hệ Việt Nam-Trung Quốc năm 2021

  • Tác giả: baoquocte.vn
  • Nhận xét: 5 ⭐ ( 5672 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Nhân dịp kỷ niệm 72 năm thiết lập quan hệ Việt Nam-Trung Quốc (18/1/1950-18/1/2022), Báo Toàn cầu & Việt Nam xin điểm lại một số nét nổi trội trong hợp

70 năm quan hệ Việt Nam-Trung Quốc: Hữu nghị, hợp tác là dòng chảy chính

  • Tác giả: baochinhphu.vn
  • Nhận xét: 3 ⭐ ( 4293 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: (Chinhphu.vn) – Nhân kỷ niệm 70 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam-Trung Quốc (18/1/1950 – 18/1/2020), đồng chí Phạm Bình Minh, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Ngoại giao, Chủ tịch phân ban Việt Nam trong Ủy ban chỉ đạo Hợp tác song phương Việt Nam-Trung Quốc đã có nội dung về sự kiện này. Xin trân trọng giới thiệu cùng độc giả.

Trung Quốc thời Covid-19

  • Tác giả: www.rfi.fr
  • Nhận xét: 5 ⭐ ( 3740 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Dịch Covid-19 thúc đẩy trực tiếp và gián tiếp đó quan hệ ngoại giao, kinh tế giữa Việt Nam và Trung Quốc, nhất là tình hình ở Biển Đông. Sau một thời gian tạm ngừng, trao đổi thương mại giữa hai…

Quan hệ Trung Quốc – Việt Nam

  • Tác giả: nguoikesu.com
  • Nhận xét: 3 ⭐ ( 4308 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc (Quan hệ Việt Trung) là đề tài nóng bỏng trong hơn 4.000 năm lịch sử của Việt Nam, cho dù thời kì nào và chính sách nào, giống hay khác nhau đều mang tính thời sự. Là hai nước láng giềng, chung biên giới trên bộ và trên biển, lại có quá trình gắn bó tương tác về văn hóa lịch…

Xem thêm các nội dung khác thuộc thể loại: Khám Phá Khoa Học

By ads_law