Bạn đang gặp khó khi làm bài văn Nhận định về nhà văn Tô Hoài? Đừng lo! Hãy tìm hiểu những bài văn mẫu đã được tuyển chọn và biên soạn với nội dung hay nhất

Bạn đang xem: nha van to hoai

Bạn đang gặp khó khi làm bài văn Nhận định về nhà văn Tô Hoài? Đừng lo! Hãy tìm hiểu những bài văn mẫu đã được tuyển chọn và biên soạn với nội dung hay nhất của Top lời giải dưới đây để nắm được cách làm cũng như bổ sung thêm vốn từ ngữ nhé. Chúc các bạn có một tài liệu có lợi!

Nhận định số 1: “Nhà văn Tô Hoài: Sinh ra là để viết”

      Với 95 năm tuổi trời, hơn 60 năm tuổi nghề và hơn 160 đầu sách đã xuất bản, đến nay, Tô Hoài là một trong số ít nhà văn hiện đại Việt Nam đạt được nhiều con số kỷ lục trong sự nghiệp sáng tác.

1.    Tô Hoài tên thật là Nguyễn Sen, sinh ngày 27.9.1920 tại làng Nghĩa Đô, Từ Liêm thuộc phủ Hoài Đức xưa (nay là phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, TP.Hà Nội). Cách đây 6 năm, ngày 6.7.2014, nhà văn Tô Hoài từ giã cõi đời, khép lại hành trình hơn 70 năm đi và viết.

      Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh có kể mẩu truyện lạ được nghe trong một lần đến thăm Tô Hoài ở Trạm xá Việt Xô: Chuyện “trấn lột quan tài”: “Gia đình một người bệnh vừa qua đời đặt bộ phận dịch vụ của bệnh viên chuẩn cho một cỗ quan để sớm hôm sau thì liệm. Nhưng sớm hôm sau thấy trong chiếc quan tài đã có một xác chết đặt vào đấy từ lúc nào rồi. Ngồi với Tô Hoài một lúc thì biết đủ thứ chuyện linh tinh đại loại như thế” (“Tô Hoài với quan niệm về con người” – Văn nghệ số 25 – 2000). Đó cũng là cảm nhận chung của những ai đã từng tiếp xúc với Tô Hoài. Tất thảy đều thấy ông là một nhà văn từng trải, giàu vốn sống thực tiễn và “biết đủ mọi chuyện trên đời”. Chuyện đời cũng vậy mà chuyện văn cũng vậy.

      Trong “Cát bụi chân ai”, hình ảnh các nhà văn hiện lên thật sinh động bởi họ cũng là những loài người của đời thường như mọi người: Xuân Diệu thì ăn rất khỏe và mắc cái bệnh “tình trai” thật phiền toái, Ngô Tất Tố xỉ mũi quệt ngay vào gốc cây, Nguyên Hồng mắc bệnh tháo dạ và luôn luôn có gói thịt chó ăn dở nhét trong cặp… Đành rằng nhà văn là phải có vốn sống nhưng không phải ai cũng có cái vốn sống đặc biệt, phong phú, sung túc đến từng cụ thể của đời thường như Tô Hoài. Tôi cho rằng, này là năng lực thu nhận cuộc sống của Tô Hoài, một năng lực rất riêng, hình như là bẩm sinh, trời phú cho nhà văn này. Năng lực ấy, trước hết triệu chứng ở đôi mắt ông mà ai mỗi lần gặp cũng phải Note. Nguyễn Đăng Mạnh đã từng nói: “Vâng, tôi rất ấn tượng về đôi mắt của Tô Hoài – đôi mắt hẹp và dài, có đuôi. Tinh quái lắm! Tô Hoài, như đã nói, chỉ viết về đời thường, chuyện thường, vậy mà vẫn có sức hấp dẫn riêng, chính vì ông đã nhìn nhiều cái lạ trong những cái rất thường bằng đôi mắt ấy”. Một đôi mắt sắc sảo, tinh đời, hóm hỉnh, lại có duyện – nó là cái “cửa sổ tâm hồn” của nhà văn để vừa “thu” cuộc sống bộn bề, tươi nguyên vào tâm trí mình, sau này lại “phát” ra cái cuộc sống đã được tinh lọc, thăng hoa ấy trên trang viết.

2.       Cuộc sống ấy đã đi vào tác phẩm của ông như vậy nào? Trước hết, này là cái làng Nghĩa Đô quê ông, nơi ông sinh ra, lớn lên. Cái làng quê ấy đã ào ạt đi vào tác phẩm của ông trên nghìn trang viết, “tôi viết như chạy thi, được năm truyện dài, truyện vừa, ba tập truyện ngắn, còn truyện thiếu nhi như Dế mèn thì mấy chục truyện, cái in, cái chưa in, tôi không nhớ hết…” (Tự truyện). Này là cái truyện dài Quê người (1941), Giang thề (1943), Xóm Giềng ngày xưa (1943), ba tập truyện ngắn Nhà nghèo (1942), Chớp biển mưa nguồn (1942), Σ chuột (1943) và truyện cho thiếu nhi Con dế mèn, Dế mèn phiêu lưu kí (1941)… Vốn sống phải phong phú, sung túc và cái đài thu – phát ấy phải tài giỏi, nhạy cảm biết chừng nào thì cái làng quê bình thường như bao làng khác, với những người nông dân, người thợ dệt cũng bình thường mới tạo thành từng ấy trang viết và để lại cho đời một vệt truyện đầy ấn tượng về vùng Kẻ Bưởi quê ông ven thành Hà Nội, trước Cách mạng tháng Tám. Cái Vệt truyện ấy chỉ toàn chuyện đời tư, đời thường: Vợ chồng đánh nhau, mẹ con chửi nhau, đi tắm đêm nhiều nhất là chuyện tình yêu trai gái ở làng quê và cả chuyện về loại vật. Vậy mà truyện nào cũng hay, cũng thú vị bởi mỗi truyện đều mang đến một điều mới lạ, mê hoặc riêng. Đều viết chuyện vợ chồng đánh nhau, dỗi nhau nhưng Nhà nghèo, Buổi chiều ở trong nhà, Ông dỗi lại không giống nhau, mỗi truyện một nguyện cớ, một sắc thái riêng, để rồi người đọc thấm thía thấy rằng cái nguyên nhân sâu xa của những cuộc cãi nhau đó chính là cuộc sống nghèo khó của một vùng quê đã bị phá sản, bần hàn trước Cách mạng Tháng Tám. Đến chuyện trai gái làng quê yêu nhau thì mới thấy hết cái tài và cái tình của Tô Hoài, cũng chính là ma lực của đôi mắt tinh đời có đuôi ấy. Ông đã viết trong Tự truyện: “Quê người, Giăng thề, Xóm Giếng ngày xưa, trong đó có những mảnh đời, mảnh tình cỏn con của mình”, và hẳn là, những truyện ngắn về tình yêu của ông cũng như vậy. Tô Hoài đã viết một loạt truyện ngắn về tình yêu của ông, yêu nhau mà không lấy được nhau. Không truyện nào giống truyện nào, mỗi truyện là một tình cảnh riêng, một số phận riêng của cuộc sống cũ lúc bấy giờ. Có mối tình dang dở vì so tuổi không hợp nhau (Lụa), có duyên phận không thành do đến phút cuối cùng, người con gái sợ không dám bỏ làng cùng ra đi với người yêu (Một chuyến định đi xa), có mối tình tan vỡ là do bố mẹ tham giàu (Một người đi xa về), lại có mối tình trớ trêu, cay đắng khi anh con trai lọ mọ học viết được Lá thư tình trước hết thì người con gái đã đi lấy chồng, và đau xót biết bao khi chỉ vì bả phù hoa của Kẻ Chợ mà có mối tình đã cất cánh lên trời nhẹ bỗng như không (Vàng phai)… Những chuyện tình thật cảm động mà cũng thật buồn, bởi đằng sau những mối tình tan vỡ đó, là một làng quê cũng đang xáo trộn, phá sản, bần hàn. Người ta rủ nhau đi kiếm ăn xa ở Quê người mặc cho Giăng thề và Xóm Giếng ngày xưa vẫn còn đó. Nhưng làng xóm thì xơ xác buộn thiu, những cô gái làng đẹp nhất đã bị văn mình tỉnh “phỗng” mất và chuyện phụ tình, tham vàng bỏ ngãi cứ nhẹ như không. Vậy là chuyện đời thường đã thành chuyện xã hội, sự việc thường và những loài người thường đã dệt thành bức tranh lịch sử ở một vùng quê khá tiêu biểu cho quốc gia lúc bấy giờ, mặc dầu Tô Hoài không đề cập đến sự kiện gì trọng yếu cũng chẳng có tranh đấu giai cấp, xung đột xã hội stress như trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố hay Chí Phèo của Nam Cao. Phải chăng này là cảm nhận lịch sử, phản ánh lịch sử theo cách riêng của Tô Hoài và một sự cảm nhận như vậy không phải là không mang đến cho người đọc những rung động sâu sắc và thấm thía!

3.       Có ai ngờ ngòi bút tưởng sinh ra chỉ để cắm sâu vào cùng đất ven đô ấy, sau Cách mạng tháng Tám, lại gắn bó với vùng cao Tây Bắc thật sâu nặng. Này là một ngòi bút nhập cuộc, luôn theo sát các trào lưu cách mạng nên đã nhanh chóng bén duyên với núi rừng Tây Bắc và trở thành ngòi bút thân thiết của Miền Tây. Ở đây, ông đã gặt được một lúc cả hai mùa: Mùa tình dân và mùa văn học. Có mùa tình dân thì mới có mùa văn học, như ông đã chân tình ghi nhân: “Hình ảnh Tây Bắc đau thương và dũng cảm lúc nào cũng thành nét, thành người, thành việc trong tâm trí tôi đất nước và người miền Tây đã để thương để nhớ trong tôi nhiều quá, tôi không thể bao giờ quên”. Vâng, ông không thể nào quên được hai tiếng “Chéo lù! Chéo lù!” (Trở lại! Trở lại!) cùng với đôi tay vẫy, lúc vợ chồng 𝓐 Phủ tiễn ông ra khởi dốc núi Tà Quà, lúc vợ chồng Lỷ Nủ Chu tiễn ông dưới chân núi Cao Phạ. Hai tiếng “Chéo lù! Chéo lù!” đã theo ông về tận dưới xuôi và thôi thúc ông phải viết một cái gì đó để trả món nợ lòng cho những người mà ông thương mến. Và Truyện Tây Bắc đã ra đời, trở thành đỉnh cao của văn học viết và miền núi, cùng Quốc gia đứng lên của Nguyên Ngọc về Tây Nguyên đánh Pháp. Với Truyện Tây Bắc (hạng nhất Hội Văn nghệ Việt Nam 1955), Tô Hoài đã góp phần khai phá, đặt nền tảng và mở ra một hướng sáng tạo mới cho các tác phẩm viêt về miền núi, về nhiều phương diện khai thác đề tài, tìm hiểu và chọn lọc hiện thực và nhất là cảnh vật và loài người miền núi trong tiềm năng và xu thế phát triển cách mạng của nó bằng con mắt tin yêu, đồng đẳng và đoàn kết dân tộc. Nhưng ở đây cũng như Miền Tây (giải thưởng Hoa Sen 1970 của Hội Nhà văn Á – Phi), ta vẫn gặp một Tô Hoài của loài người và cuộc sống đời thường, khi ông mô tả một cô Mỵ lùi lũi như con rùa ở xó cửa, ngồi trong căn buồng nhỏ có cái cửa sổ lỗ vuông mờ mờ, trăng trắng và một đêm tình mùa xuân phơi phới, cô muốn đi chơi nhưng lại bị trói đứng vào cột nhà bằng cả một thúng sợi đay; một anh 𝓐 Phủ bị đánh mặt sưng như hổ phù tập tễnh cầm con dao chọc tiết lợn để hầu làng ăn vạ, cuối cùng bị trói đứng vào cột dây mây chờ chết; rồi tiếng sáo gọi bạn tình, việc 𝓐 Châu đọ tay với 𝓐 Phủ vào lễ ăn thề giữa hai người. Khi ông dựng lên một phiên chợ vùng cao ngày xưa, bên gốc cây chồng say rượu, vợ ngồi chờ, người nằm la liệt quanh bàn đèn thuốc phiện, người ngồi quây quần bên nồi “thắng cố”. Toàn bộ đều là những cụ thể của đời thường đã đi vào những trang viết miền núi của Tô Hoài. Này là kết quả của 8 tháng nhà văn thâm nhập vào Tây Bắc, đến với đồng bào các dân tộc vùng cao, đến với vợ chồng 𝓐 Phủ trên đỉnh núi Tà Quà, cùng ăn cơm ngô, canh rau cải nấu với thịt chuột, có lúc ăn cả món “bọ hung xào”, cùng tham gia “cướp vợ” với thanh niên Н’Mông trong những đêm trăng sáng giữa rừng. Và hẳn là, đôi mắt sắc sảo, tinh đời ấy đã nhìn thấy nhiều điều mời lạ, nhiều phong tục thú vị của một vùng đất thơ mộng và những loài người tốt bụng mà ta chưa hiểu hết. Với hai tác phẩm Truyện Tây Bắc và Miền Tây, Tô Hoài đã ghi lại sinh động bằng hình thức văn nghệ những hành trình phát triển của dân tộc vùng cao từ cách mạng dân tộc dân chủ đến cách mxh chủ nghĩa. Này là đóng góp có ý nghĩa so với quê hương văn học thứ hai của ông cũng như so với nền văn học mới sau Cách mạng tháng Tám.

Xem Thêm  Overcharge – Đình Quang Blog – Đình Quang Blog - overcharge là gì

      Sẽ là thiếu sót nếu không nói đến mảng văn học thiếu nhi, hồi ký và tự truyện của Tô Hoài. Ở đây, ông cũng gặt hái được nhiều thành tựu mà tiêu biểu là ba tác phẩm đã được nhiều thế hệ độc giả yêu thích: Dế mèn phiêu lưu kí, Tự truyện, Cát bụi chân ai. Tô Hoài có thể xem là nhà văn viết cho thiếu nhi nhiều nhất với khoảng hơn 70 tác phẩm truyện, kịch bản phim, kịch nói, kịch múa rối. Những tác phẩm như Đảo hoang, Chuyện nỏ thần, Ông Gióng, Vừ 𝓐 Dính, Kim Đồng, Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ, Con mèo lười sẽ còn được lưu giữ trong tâm hồn tuổi thơ Việt Nam. Ông cũng là người viết hồi ký và tự truyện rất có duyên nhờ trí nhờ kỳ diệu và vốn sống phong phú, từng trải, nhất là ở ông có một tư tưởng viết chân tình và đúng đắn: “Tôi cho viết hồi ký là khó khăn hơn cả sáng tác. Bởi đó là một cuộc đấu tranh tư tưởng để viết ra. Nó chân thành hay dối trá, nó thanh minh hay báo công khoe khoang. Làm thế nào cho khách quan nhất mà lại tình cảm nhất với một dụng ý về chủ đề thật rõ ràng. Đây là một mổ xẻ toàn diện, không phải nhẹ nhàng và chỉ có hứng thú. Với tôi, ở Tự truyện, tôi có ý thức dùng tôi để mổ xẻ một anh tiểu tư sản tri thức nghèo rất phổ biến ở nước ta”. Với Tự truyện và Cát bụi chân ai, ông đã làm được những điều ông nói.

4.      Trong Tự truyện, tôi Note đến một đoạn viết của Tô Hoài khi ông mất việc rồi mà không dám nói với ai, vẫn phải đóng vai đi làm: “Ngày ngày, đúng giờ, tôi cuốc bộ vào thành phố, đi ngồi các vườn hoa. Tôi ngồi xem kiến bò đến tận lúc tôi có thể phân biệt rạch ròi ra từng loại kiên xây tổ khác nhau. Hôm này qua hôm khác, tôi ngắm quả sấu từ hôm rụng mắt cho tới khi nó vàng óng, nó chín”. Có phải cuộc sống 60 năm cầm bút của ông cũng khổ sở, chịu khó, bền chắc như vậy này chăng? Và từ một “mẹt chữ” thành “một thúng chữ”, đến nay, ông đã có hơn 150 tác phẩm trong đó có một số tác phẩm được dịch ra nhiều thứ tiếng nước ngoài để đến với đồng bọn toàn cầu. Nhà xuất bản Văn học đã cho in Tuyển tập Tô Hoài gồm 4 tập từ 1987, Dế mèn phiêu lưu kí và Vợ chồng 𝓐 Phủ đã được mang vào sách giáo khoa phổ thông từ mấy chục năm nay. Nhà văn đã được nhận 3 giải thưởng văn học lớn cho tập Truyện Tây Bắc, tiểu thuyết Quê nhà, tiểu thuyết Miền Tây và năm 1996 nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuất – đợt 1 do Nhà nước phong tặng. Trong tâm thức mọi người, ông là nhà văn ruột thịt của Hà Nội, nhà văn thân thiết của vùng cao Tây Bắc và là nhà văn lớn – người bạn trăm năm thường thân thiện của cả nước.

Nhận định 2: “Nhà văn Tô Hoài, hạt ngọc của văn học”

1.      Nghe tin Tô Hoài mất, ai cũng buồn. Người ta thương tiếc một năng văn học đã ra đi. Nhà thơ Hữu Thỉnh – Chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam nói: “Có những nhà văn, nhà thơ làm vinh dự cho chữ Hán, làm vinh dự cho chữ Nôm. Anh Tô Hoài, cùng với Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố… làm vinh dự cho chữ quốc ngữ. Tôi được gần các thế hệ đi trước, càng hiểu giá trị của những giây phút sống bên cạnh họ, kể cả khi các anh im lặng”. Nhận định về sự nghiệp của nhà văn Tô Hoài, Phạm Xuân Nguyên, Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội nhất định: “Tô Hoài là một nhà văn lớn của Văn học Việt Nam hiện đại, người có 95 năm tuổi đời nhưng đã dành hơn 70 năm đóng góp cho văn học. Ông là nhà văn chuyên nghiệp, bền bỉ sáng tác và có khối lượng tác phẩm đồ sộ. Ông cũng nổi tiếng từ rất sớm với tác phẩm Dế Mèn phiêu lưu ký. Văn chương của ông hướng về những con người, số phận, cuộc đời lấm láp, đời thường. Ông ra đi vì tuổi trời nhưng văn chương của ông vẫn còn nguyên giá trị. Tôi tin rằng ‘chú Dế Mèn’ cùng mảng viết tự truyện của ông sẽ được tìm đọc mãi”. Quả đúng như vậy.. Ông được nhà nước Việt Nam trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học – Văn nghệ (đợt 1 – 1996) cho các tác phẩm: Xóm giếng, Nhà nghèo, Σ chuột, Dế mèn phiêu lưu ký, Núi Cứu quốc, Truyện Tây Bắc, Mười năm, Xuống làng, Vỡ tỉnh, Tào lường, Họ Giàng ở Phìn Sa, Miền Tây, Vợ chồng 𝓐 Phủ, Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ. Kể tên những tác phẩm này ra chúng thấy có tên hai tác phẩm Dế mèn phiêu lưu ký và Vợ chồng 𝓐 Phủ.

2.      Một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của nhà văn Tô Hoài là Dế Mèn phiêu lưu ký, tác phẩm đã nối liền với bao thế hệ thiếu nhi Việt Nam và được dịch ra gần 40 thứ tiếng trên toàn cầu. Dế mèn phiêu lưu ký là tác phẩm văn xuôi rực rỡ và nổi tiếng nhất của Tô Hoài viết về loài vật, giành riêng cho lứa tuổi thiếu nhi. Ban đầu truyện có tên là Con dế mèn (chính là ba chương đầu của truyện) do Nhà xuất bản Tân Dân, Hà Nội phát hành năm 1941. Sau đó, được sự ủng hộ nhiệt tình của độc giả, Tô Hoài viết thêm truyện Dế Mèn phiêu lưu ký. Năm 1955, nhà văn mới gộp hai truyện với nhau để thành truyện Dế Mèn phiêu lưu ký như ngày nay.

      Truyện đã được mang vào chương trình học lớp 6 học kì 2 môn Ngữ văn. Tại cuộc hội thảo kỷ niệm 70 năm Dế Mèn phiêu lưu ký năm 2012, Tô Hoài cho biết, tác phẩm được ông khởi viết năm 17 – 18 tuổi. Theo nhà văn, cục diện cuộc phiêu lưu của Dế Mèn chính là vùng Nghĩa Đô ven sông Tô Lịch, nơi nhà văn dành cả tuổi thơ của mình ở đó với trò chơi đấu dế, đúc dế.

      Thành công của tác phẩm không chỉ nhờ bút pháp vừa sắc sảo vừa sống động mà còn nhờ ông đã khéo léo trổ tài cuộc ra đi và lý tưởng say mê của Dế Mèn chính là sự tỉnh ngộ chính trị của thanh niên trong nước dưới tác động của Mặt trận Dân chủ Đông Dương thời kỳ đó. Các nhân vật loài vật trong truyện có tư tưởng nhắm đến “thế giới đại đồng” – một danh từ mà thời đó ai cũng thích nói. Với Dế Mèn phiêu lưu ký, khi viết về tâm tư của thế hệ mình và phản ánh xã hội của thời kì mình, Tô Hoài chọn thể loại truyện đồng thoại, hướng về tuổi thơ, mà tuổi thơ chính là một triệu chứng của trí não nhân loại. Lựa chọn đó đã mang Tô Hoài đi đúng hướng, viết nên một tác phẩm tiêu biểu nhất cho văn học thiếu nhi. Năm 1969, chia sẻ về tác phẩm, nhà văn cũng nhấn mạnh: “Viết đồng thoại Dế Mèn phiêu lưu ký, tôi không biết phân tích nội dung cũng như cách viết thể loại như bây giờ. Tôi chỉ viết thực tế quanh tôi và tư tưởng lớp thanh niên như tôi. Mọi nhận xét và thói quen cũng như phong tục của con người, tôi đều đem dùng cho việc xây dựng nhân vật”. Theo nhà phân tích Lại Nguyên Ân, Tô Hoài viết truyện hướng về tính loại. Chính điều này làm cho tác có giá trị lâu bền. Ông nhất định: “Trước năm 1945, các tác phẩm văn học thiếu nhi Việt Nam, tiêu biểu là “Dế Mèn phiêu lưu ký”, nhắm đến tính nhân loại, nhờ này mà có giá trị lâu dài. Các tác phẩm về sau của ta không được như vậy”.

      Trong truyện này Tô Hoài trổ tài một phong thái hết sức rực rỡ. Thông qua lời mô tả đầy tự tin, hạnh diễn của Dế Mèn về mình, kết phù hợp với việc dùng từ ngữ mô tả, nhất là tính từ rất chuẩn xác và giàu tính tạo hình, Tô Hoài đã vẽ lên một hình ảnh rất rõ ràng, sống động và mê hoặc của một chàng dế thanh niên cường tráng. Tác giả tả ngoại hình tỉ mỉ từng phòng ban đến kiểu dáng chung, luôn làm nổi trội lên những nét rực rỡ đáng Note trong mỗi phòng ban và đều toát lên sự cường tráng, sung sức không chỉ ở nhân vật Dế Mèn mà những nhân vật khác trong truyện. Ngòi bút mô tả rực rỡ thành thạo của Tô Hoài đã khiến người đọc hiểu rất sâu sắc về toàn cầu loài vật đồng thời có thể bộc bạch thái độ yêu ghét so với nhân vật được kể, được tả. Nét đẹp ấy trông có vẻ dữ tợn với tính nết tự phụ kiêu ngạo và xốc nổi. Nhân vật Dế Mèn là một chàng dế thanh niên cường tráng nhưng kiêu căng tự phụ về vẻ đẹp và sức mạnh của mình. Ngoại hình đẹp, nhưng hung hăng, hống hách và kiêu ngạo, hay bắt nạt kẻ yếu. Dế Mèn trêu chị Cốc kéo theo tử vong thảm thương cho Dế Choắt. Dế Mèn thực sự hối hận, nhận thấy sai lầm và rút ra bài học đường đời trước hết cho mình. Này là bài học “ở đời mà có thói hung hăng bậy bạ… mang vạ vào mình đấy”. Dế Mèn giống một kẻ cà khịa, xốc nổi, ăn uống điều độ, đi đứng oai vệ. Toàn cầu loài vật qua ngòi bút mô tả của Dế Mèn xuất hiện thật sinh động. Tác giả đã xem xét tinh tường bằng con mắt hóm hỉnh, bằng tình cảm yêu mến loài vật và mô tả chúng bằng cả trí tưởng tượng phong phú. Các loài vật vừa giống thực, sống động với những nét ngoại hình, tập tính sinh hoạt đặc trưng của chúng lại mang những nét tâm lý, tính nết, phẩm chất giống loài người nên chúng rất thân thiện với người đọc, nhất là các bạn trẻ.

3.       Một tác phẩm xuất sắc nữa của Tô Hoài cũng được chọn vào chương trình giảng văn của học viên phổ thông trung học là truyện ngắn Vợ chồng 𝓐 Phủ. Truyện ngắn được rút trong tập Truyện Tây Bắc (1953). Trong kháng chiến chống Pháp, ông đi khắp núi rừng Tây Bắc. Kết quả của những năm lặn lội này là tập Truyện Tây Bắc ra đời (1953). Tập truyện gồm ba truyện là Cứu đất, cứu mường, Mường Giơn và Vợ chồng 𝓐 Phủ. Tác phẩm này cùng được trao Hạng nhất tiểu thuyết của Hội Văn nghệ Việt Nam 1954 – 1955. Những năm tháng tiếp theo ông sáng tác nhiều.

Xem Thêm  Cầu Dừa Đủ Xoài - cầu dừa đủ xoài

      Truyện Vợ chồng 𝓐 Phủ cũng như tập Truyện Tây Bắc nói chung bộc lộ sắc nét phong thái của Tô Hoài: màu sắc dân tộc đậm đà; chất thơ, chất trữ tình đằm thắm, lời văn giàu tính tạo hình.

      Đọc xong truyện ngắn Vợ chồng 𝓐 Phủ của Tô Hoài, gấp trang sách lại rồi mà tất cả chúng ta vẫn không quên được gương mặt “buồn rười rượi” của Mị. Này là gương mặt mang nỗi đau của một kiếp người không bằng ngựa trâu. Này là gương mặt tưởng như cam chịu, mất hết sức sống. Không, đằng sau gương mặt ấy, vẫn chứa đựng một sức sống tiềm tàng không dễ gì dập tắt. Tô Hoài nói với Phan Thị Thanh Nhàn:“Muốn viết văn, điều quan trọng nhất là chi tiết. Mà chi tiết thì không thể phịa ra được. Phải chịu khó quan sát, ghi chép, đọc và tiếp xúc càng nhiều càng tốt”.

      Gương mặt buồn rười rượi ấy không phải là gương mặt trước hết của cuộc sống Mị. Mị lớn lên, xinh tươi với bao nhiêu khát vọng hạnh phúc. Gương mặt Mị phơi phới trong những đêm tình mùa xuân với tiếng sáo thiết tha và tình tứ. Có bao nhiêu người đã mê Mị. Có bao nhiêu chàng trai đã đứng nhẵn cả chân vách buồng Mị… Gương mặt trước hết của đời Mị là một gương mặt đầy hi vọng.

       Nhưng vì món nợ của bố mẹ mà Mị phải trở thành con dâu gạt nợ nhà thống lí Pá Tra. Mị bị tóm gọn theo tục lệ cướp vợ của người Mèo và khi ngồi trong nhà thống lí Pá Tra, nghe tiếng nhạc sinh tiền cúng ma rập rờn nhảy múa, Mị mới biết mình đã trở thành vợ 𝓐 Sử. Tiếng nhạc sinh tiền cúng ma được tác giả mô tả thật ai oán. Nó như tiếng nức nở chấm hết cuộc sống đang phơi phới xuân thì của một thiếu nữ.

      Những ngày làm dâu với Mị là những ngày thống khổ. Là người phụ nữ có chồng mà Mị không được sống cuộc sống làm vợ. Mị chỉ là một thứ nô lệ. Đêm nào Mị cũng khóc. Mô tả cuộc sống của Mị, tác giả cũng lên tố cáo tội ác của phong kiến miền núi. Và cái ý thức phản kháng trước hết so với Mị là không đồng ý cuộc sống nô lệ ấy. Cô tìm đến lá ngón để tự tử. Đây là phản ứng đầy tiêu cực, song không phải không minh chứng khát vọng sống của Mị. Muốn chết, nghĩa là muốn chống lại một cuộc sống không ra sống, nghĩa là còn tha thiết với cuộc sống, đương nhiên là cuộc sống khác chứ không phải cuộc sống nô lệ này.

       Nhưng Mị đã không chết được. Sự phản kháng của Mị đã bị dập tắt. Mị chết mà món nợ vẫn còn đó thì bố Mị lại khổ hơn bao nhiêu lần hiện tại nữa. Mị không đành chết, đành trở lại nhà thống lí Pá Tra sống kiếp ngựa trâu.

      Mấy năm sau bố Mị mất nhưng Mị không nghĩ tới việc ăn lá ngón tự tử nữa vì ở lâu trong cái khổ “Mị quen khổ rồi”. Hiện tại Mị cũng tưởng mình là con trâu, con ngựa. Khổ đau, đọa đầy đã làm cho Mị tê liệt. Còn đâu cô Mị phơi phới xuân sắc, xuân thì ngày xưa. Hiện tại chỉ còn một cô Mị “ ngày càng không nói, lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa”. Mị như loài người vô cảm với cuộc sống, mất ý thức về không gian, về thời gian. Buồng Mị ở chỉ có một lỗ bàn tay, trông ra trăng trắng không biết sương hay nắng. Mị làm việc quần quật trong cái điều độ của thời gian “bao giờ cũng thế, suốt đời, suốt năm như thế”… Tâm hồn Mị đã tê liệt đi với kiếp sống ngựa trâu.

      Tất cả chúng ta tưởng rằng thế là hết. Nhưng không, sức sống tiềm tàng một lần nữa lại bùng cháy trong tâm hồn Mị. Mị muốn sống với những tháng năm của những đêm tình mùa xuân. Cái gì đã làm phục sinh một cô Mị “đầy xuân sắc, xuân tình” nơi một người đàn bà đang mòn mỏi bên tàu ngựa nhà thống lí ?

      Có phải  vì Tết năm ấy đầy không khí rạo rực của ngày xuân. Này là những xuân gió rét dữ dội làm ửng vàng sắc cỏ tranh, làm đổi màu hoa thuốc phiện và cũng đánh thức lòng người.

      Tết năm ấy, Mị lén uống rượu. Mị uống ực từng bát như cho hả giận, như nuốt vào lòng sự căm hờn. Men say của hơi rượu ngày xuân đã mang Mị trở về những ngày xuân thủa trước. Mị như quên đi hiện tại đắng cay để sống với ngày xưa.

      Và có vẻ đánh thức Mị nhiều hơn hết là âm vang của tiếng sáo gọi bạn tình ngày xuân: “Mị nghe tiếng sáo vọng lại tha thiết bồi hồi, rồi Mị thấy phơi phới trở lại, lòng đột nhiên vui sướng như những đêm Tết ngày trước”. Trong cái nồng nàn của hơi men, trong âm vang thiết tha của tiếng sáo, Mị nhận thấy mình còn trẻ, trẻ lắm. Mị muốn đi chơi. Không còn cô Mị mòn mỏi bên tàu ngựa nữa mà cô Mị đã thức tỉnh. Không khí mùa xuân, men rượu và tiếng sáo đã thức tỉnh Mị. Nhưng đó chỉ là những tác nhân. Những tác nhân ấy làm sao có thể đánh thức tâm hồn Mị nếu như tâm hồn ấy đã chết. Những khổ đau của cuộc sống làm cho tâm hồn Mị chai sạn đi, nhưng bên trong vẫn âm ỉ ngọn lửa của lòng khao khát được sống, được hạnh phúc. Và những tiếng gọi kia của cuộc sống đã làm bùng cháy sức sống tiềm tàng ấy.

       Nhưng lại một lần nữa Mị bị vùi dập. Thấy Mị muốn đi chơi, 𝓐 Sử đã trói đứng Mị vào cột nhà trong buồng. Trong mớ dây trói cay nghiệt ấy Mị vẫn sống với ngày xưa. Chỉ đến khi bước đi theo tiếng sáo như một người mộng du thì mới đắng cay nhận thấy mình đang bị trói. Đời Mị bị trói buộc vào bao nhiêu sợi dây trói hữu hình và vô hình. Trước cái thực tại đắng cay ấy, Mị ngày càng câm lặng như con rùa nuôi trong xó cửa, cúi đầu tê tái trong thân phận của kiếp ngựa trâu.

      Đến đây tất cả chúng ta tưởng Mị sẽ cam chịu với số phận nghiệt ngã của mình. Nhưng không, cái sức sống tiềm tàng nơi Mị một  lần nữa nâng cô đứng dậy, vùng lên thoát khỏi kiếp đọa đầy.

      Như một sự run rủi của số phận, 𝓐 Phủ bị tóm gọn về làm nô lệ của nhà thống lí Pá Tra. Hình tượng 𝓐 Phủ tượng trưng cho sức sống bị đọa đày. Năm ấy rừng động, hổ về bắt mất một con bò nên 𝓐 Phủ bị trói vào góc nhà như Mị ngày nào. Nhưng với Mị, 𝓐 Phủ bị trói hay có bị chết cô cũng không mảy may quan tâm. Những lần trở dậy sưởi lửa vào ban tối, đi qua nơi 𝓐 Phủ bị trói, Mị thờ ơ như không có 𝓐 Phủ ở đó. Thậm chí như nhà văn viết: “Nếu A Phủ là cái xác chết đứng đấy cũng thế thôi”… Tâm hồn Mị đã giá lạnh, đã tê dại đi đến mức nào !

      Vậy mà tâm hồn ấy đã thay đổi. Lòng Mị đã không thờ ơ nữa khi lé mắt nhìn sang thấy “một dòng  nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xạm đen lại” của 𝓐 Phủ. Giọt nước mắt vô vọng và cay đắng của 𝓐 Phủ đã đánh thức tâm hồn Mị. “Mị chợt nhớ lại A Sử trói Mị cũng trói đứng thế kia. Nhiều lần khóc, nước mắt chảy xuống miệng, xuống cổ không biết lau đi được”. Từ giọt nước mắt của người, Mị nhớ đến giọt nước mắt của mình. Từ nỗi đau của mình, Mị nghĩ đến nỗi đau của người. Mị nhận thấy có mình trong cái bóng hình của 𝓐 Phủ đang bị trói kia. Mị thương mình ngày xưa nên cũng thương 𝓐 Phủ hiện tại, thương 𝓐 Phủ “việc gì phải chết”… Chính tình thương ấy đã nâng Mị đứng dậy, truyền cho Mị lòng dũng cảm cắt dây trói cho 𝓐 Phủ và cũng chính là cắt dây trói cho mình. Nhiều ý kiến cho rằng hành động cắt dây trói của Mị là hành động tự phát, ngẫu nhiên. Này là hành động không hề tự phát mà có ý thức, ý thức từ nỗi đau của chính mình.

      Sau lần thức tỉnh này Mị không còn bị mang trở lại kiếp ngựa trâu như trước nữa. Mị đã cùng 𝓐 Phủ bước vào cuộc sống tự do để trở thành “Vợ chồng A Phủ”, cuộc hôn phối của sự vùng lên.

      Tô Hoài đã mô tả sâu sắc và cảm động sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị. Sức sống ấy như ngọn lửa âm ỉ cháy không dễ gì có thế dập tắt được. Mô tả ngọn lửa của lòng ham sống vẫn nồng nàn và mãnh liệt nơi một tâm hồn tưởng đã tê liệt vì những đọa đầy về thể xác cũng như trí não cho thấy một niềm tin mãnh liệt vào loài người của nhà văn. Thắp sáng ngọn lửa của khát vọng sống ấy, Tô Hoài cũng làm bừng sáng giá trị nhân văn cao thượng của tác phẩm.

      Tô Hoài được nhiều người biết có phần nhờ hai tác phẩm trong trường học: Dế mèn phiêu lưu ký và Vợ chồng 𝓐 Phủ. Hai tác phẩm ấy là những hạt ngọc quý hiếm của hơn 150 tác phẩm của ông. Tất cả chúng ta tin này là những viên ngọc sẽ sáng mãi trong đời.

Nhận định 3: Nhà văn Tô Hoài – nhà văn của mọi lứa tuổi

      Suốt cuộc sống gần 80 năm sáng tạo bền chắc của mình, Tô Hoài đã để lại một lượng tác phẩm khổng lồ với gần 200 đầu sách, trong đó có hơn 60 đầu sách viết cho thiếu nhi ở nhiều thể loại khác nhau.

      Nhắc đến Tô Hoài, nhiều người nghĩ ngay đến “Dế mèn phiêu lưu ký”. Hơn hai mươi tuổi, Tô Hoài đã tạo được một kiệt tác ở thể đồng thoại. Theo Phó giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Đăng Điệp, “Dế Mèn phiêu lưu ký” được ông viết cho thiếu nhi, nhưng cũng là viết cho người lớn vì ẩn trong tác phẩm này là những bài học nhân sinh sâu sắc. Tại đây, ta nhận thấy sự mẫn cảm và óc xem xét tinh tế của Tô Hoài. Ông tả loài vật nào đúng với bản chất và đặc tính của loài vật ấy.

      “Ống kính của Tô Hoài vừa sắc nét trong việc tái hiện lại các chi tiết, vừa có khả năng tạo ra sự lưu chuyển hợp lý giữa các trường đoạn, màu sắc du ký và màu sắc tự truyện hòa vào nhau hết sức sống động. Với ‘Dế Mèn phiêu lưu ký’, Tô Hoài thực sự là cây bút hàng đầu về nghệ thuật miêu tả thế giới loài vật”, Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Đăng Điệp nhận xét.

Xem Thêm  Chuột sợ mùi gì nhất? 10 Mẹo đuổi chuột ra khỏi nhà nhanh nhất - rết sợ mùi gì

      Ngoài “Dế Mèn phiêu lưu ký” nổi tiếng, ông có hàng loạt sáng tác được trẻ em nhiều thế hệ yêu thích như: “Mực tàu giấy bản”, “Nói về cái đầu tôi”, “Ngọn cờ lau”, “Thằng phó”, “Chuyện ông Gióng”, “Võ sĩ Bọ Ngựa”, “Ba anh em”, “Ba bà cháu”, “Câu chuyện ngày chủ nhật”, “Con mèo lười”, “Đám cưới chuột”, “Đảo hoang”, “Chuyện nỏ thần”, “Chim chích lạc rừng”… Ở mảng sáng tác này, dù là đề tài sinh hoạt, cổ tích hay lịch sử, ngay cả khi tuổi tác không còn trẻ, Tô Hoài vẫn có được cách cảm nhận và trổ tài đời sống qua trang văn phù phù hợp với tâm hồn, nhận thức của tuổi thơ. Và ông đã dẫn dắt các em đến với một toàn cầu có vô vàn điều kỳ thú, góp phần bồi đắp tư cách, nuôi dưỡng vẻ đẹp và sự trong sáng, cao thượng cho những tâm hồn thơ bé.

      Theo Phó giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Đăng Điệp, trong các sáng tác giành riêng cho thiếu nhi của Tô Hoài, yếu tố đặc biệt nhất là ông không giả giọng trẻ con để kể chuyện trẻ con như nhiều cây viết khác từng làm. Ông rất hiểu tư duy trẻ thơ, kể với chúng theo cách nghĩ của chúng, lý giải sự vật theo lô gíc của trẻ. Hơn thế, với biệt tài mô tả loài vật, nhà văn đã dựng lên một toàn cầu thân thiện với trẻ thơ. “Truyện thiếu nhi của Tô Hoài không rơi vào tình trạng dạy dỗ cho con trẻ những bài học luân lý cứng nhắc, không bắt chúng tập làm người lớn từ thuở còn bé thơ. Từng bước một, lũ trẻ sẽ hiểu dần được đời sống từ những bài học đường đời đầu tiên”, Phó giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Đăng Điệp nói.

      Là một tài năng lớn của văn học văn nghệ nước nhà, Tô Hoài đã đoạt nhiều giải thưởng sáng tác như Giải Nhất của Hội Văn nghệ Việt Nam năm 1956 với tập “Truyện Tây Bắc”; Giải 𝓐 – Giải thưởng Hội Văn nghệ Hà Nội năm 1970 với tiểu thuyết “Quê nhà”; Giải thưởng của Hội Nhà văn Á – Phi năm 1970 với tiểu thuyết “Miền Tây”; Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Văn nghệ đợt 1, năm 1996 và Giải thưởng Bùi Xuân Phái – Vì tình yêu Hà Nội năm 2010. Tác phẩm của Tô Hoài đã được dịch ra nhiều thứ tiếng và giới thiệu tại nhiều quốc gia như Nga, Anh, Trung Quốc, Pháp, Ba Lan, Séc, Đức, Bungari, Cu Ba, Mông Cổ, Nhật Bản…/.

Nhận định 4: Nhà văn Tô Hoài – Người hóm lẹm vị trí thứ nhất văn đàn Việt

      Nhà văn Tô Hoài có tên khai sinh là Nguyễn Sen. Ông sinh ngày 7-9-1920 tại xã Kim An, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây (cũ). Nhưng tuổi thơ ông sống ở quê ngoại nối liền với dòng sông Tô Lịch ở làng Nghĩa Đô, thuộc huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây (cũ), nên ông lấy bút danh là Tô Hoài. 

      Ngoài ra ông còn tồn tại nhiều bút danh khác như: Mai Trang, Mắt Biển, Thái Yên, Vũ Đột Kích, Hồng Hoa, Phạm Hòa. Ông bước lên văn đàn Việt Nam từ cuối những năm 30 của thế kỷ XX, đến nay đã hơn 80 năm cầm bút. Ông đã được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học- Văn nghệ, đợt Ι, năm 1996, cho cụm tác phẩm: Dế mèn phiêu lưu ký, Truyện Tây Bắc, Vợ chồng 𝓐 Phủ, Miền Tây, Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ… 

      Nhà văn Tô Hoài có biệt tài xem xét tập tính các loài vật hơn bất kể nhà văn Việt nào từ trước tới nay. Ông mô tả loài chuột gồm đủ mặt từ chuột nhắt, chuột cống, đến chuột cộc, chuột bạch, chuột xù… Toàn bộ bọn chúng đều ngơ ngác nhìn quanh quẩn. Như là họ hít phải cái không khí lạ. Như là họ chẳng quen bò giữa nơi khoáng đãng. Và họ lại nối đuôi nhau, tha thẩn, từ từ bò vào, cũng như lúc bò ra. 

      Ông viết giản dị đến mức tự nhiên, như là hít thở khí giời, cơm ăn, nước uống. Có vẻ trời đã phú cho ông một bộ óc xem xét tinh tế, một con mắt tình đời. Từng có người nhận xét nhà văn Tô Hoài là người hóm hỉnh. Tôi nghĩ, như vậy đúng nhưng chưa đủ, mà phải là một nhà văn hóm lẹm. Tính từ lẹm dùng để chỉ sự sắc, tuy nhiên sắc ngọt của một vật dụng nào đấy như dao, cuốc, xẻng, rìu, đục, cưa… 

      Về nghĩa bóng cụm từ hóm lẹm được dùng để chỉ một người vừa có khiếu khôi hài, vừa sắc xảo nhưng rất ngọt ngào như nhà văn Tô Hoài. Ông chỉ cần viết ra những cái ông xem xét thấy, như không cần làm văn chương chút nào, không cần hư cấu, thêm mắm thêm muối gì cũng từng là văn rồi, một thứ văn vừa khôi hài, sắc xảo và sâu cay, nhưng vẫn thân thiện với cuộc sống. 

      Qua các tác phẩm, Tô Hoài đã trổ tài rõ sự hóm lẹm của mình. Ví dụ như chú Dế Mèn, Dế Trũi chơi với nhau như anh em kết nghĩa kiểu Lưu- Quan- Trương trong truyện Tam Quốc của Trung Quốc. Họ sẵn sàng quên mình vì bạn, vì nghĩa lớn. Còn chú Xiến Tóc trầm lặng, nhưng tính tình thì sáng nắng chiều mưa, yêu đời đấy, mà cũng chán đời ngay. Rồi đến chị Cào Cào ồn ào và duyên dáng luôn thích khoe bộ cánh thời trang. Chim Chả Non đích thị là một tay công tử bột, chỉ được cái mẽ bên ngoài, còn đầu lại rỗng tuếch, chẳng làm ra tích sự gì… 

      Ông mô tả về các loài vật thì không ai có thể viết hay hơn. Đây là chú mèo mướp lừ đừ nghiêm nghị tựa một thầy dòng, trên mình có khoác bộ áo thâm. Hắn có cái cốt cách quý phái và trưởng giả. Lúc nào cũng nghĩ ngợi như sắp mưu toan một việc gì ghê gớm lắm. Còn cậu gà trống ri bé nhỏ sống côi cút một thân, một mình khi còn trẻ nhỏ. Ấy vậy mà lớn lên lại có diện mạo khinh khỉnh ta đây… Hóm lẹm đến thế này thì không biết đây là cuộc sống của loài vật hay của loài người. Nhưng dù là loài nào vẫn khiến người đọc cảm thấy vừa ngậm ngùi, vừa xót xa cho phận kiếp làm CON (vật/ người) (!?).

      Sự hóm lẹm của nhà văn Tô Hoài không chỉ trổ tài ở việc mô tả dáng vẻ bên ngoài, tập tính của những loài vật đã từng gắn bó với cuộc sống ông từ tuổi thơ dại, như một sự hóm hỉnh ở những người có khiếu khôi hài, mà còn trổ tài rất rõ ở cách nhận xét, nhận định về loài người, sự việc và tác phẩm văn chương của đồng nghiệp. Có vẻ điều ấy đã khiến một người vừa sắc xảo, vừa uyên bác như Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh cũng không dễ gì nhận thấy tư tưởng của ông là gì. 

      Nguyễn Đăng Mạnh cho biết: “Về Tô Hoài, tôi cứ nghĩ mãi không biết tư tưởng của ông là  gì. Nhiều tác phẩm của ông tôi thích, nhưng không tìm ra một tư tưởng chung. Tư  tưởng Nguyên Tuân là lòng yêu nước, tinh thần dân tộc gắn với những giá trị văn hoá cổ truyền của dân tộc; Nam Cao là nỗi đau đớn trước tình trạng con người không giữ nổi nhân tính, nhân phẩm vì miếng cơm manh áo và cái chất hèn, chất nô lệ đã thấm vào trong máu không biết từ kiếp nào… Còn tư tưởng Tô Hoài là gì? Tôi lúng túng quá”.

      Theo tôi, hầu như các tác phẩm của nhà văn Tô Hoài đều có chung một đặc tính nổi trội là viết rất tự nhiên về những cái đời thường, mà ông xem xét thấy, bằng một lối diễn tả nôm na và dân dã, đến mức người đọc rất khó nhận ra ông định nói gì, nên nhầm tưởng rằng ông không có tư tưởng, chỉ nói tếu táo cho vui. Nhưng nếu xâu chuỗi lại toàn bộ những điều ông nói thì mới thấy ông giấu tư tưởng vào những chuyện đời thường, khá đơn giản và rất tinh tế.

—/—

Như vậy  đã trình bày xong bài văn mẫu Nhận định về nhà văn Tô Hoài. Kỳ vọng sẽ giúp ích các em trong quá trình làm bài và ôn luyện cùng tác phẩm. Chúc các em học tốt môn Văn!


Xem thêm những thông tin liên quan đến đề tài nha van to hoai

KHÁI QUÁT TÁC GIẢ TÔ HOÀI – TÓM TẮT VỢ CHỒNG 𝓐 PHỦ – NHẬN ĐỊNH VỀ TÁC GIẢ TÁC PHẨM

  • Tác giả: Văn học trong nhà trường
  • Ngày đăng: 2020-05-17
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 4507 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: – Tổng quan về cuộc sống, vị trí và phong thái nhà nhà văn
    – Vị trí xuất xứ và hoàn cảnh sáng tác tác phẩm
    – Tóm tắt phối hợp bình giảng
    – Trích dẫn những nhận định hay của các nhà phân tích về tác giả, tác phẩm

Tóm tắt tiểu sử nhà văn Tô Hoài

  • Tác giả: dongdo.edu.vn
  • Nhận xét: 3 ⭐ ( 1283 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Thắc mắc: Tóm tắt tiểu sử nhà văn Tô Hoài

Đôi nét về Nhà văn Tô Hoài

  • Tác giả: quytohoai.com
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 2987 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Tô Hoài tên thật là Nguyễn Sen sinh ngày 07 – 9 – 1920 tại làng Nghĩa Đô, phủ Hoài Đức – tỉnh Hà Đông (nay ɭ&

Tiểu sử nhà văn Tô Hoài: Sự nghiệp sáng tác văn học của ông

  • Tác giả: freetuts.net
  • Nhận xét: 3 ⭐ ( 2226 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Giới thiệu nhà văn Tô Hoài và Sự nghiệp sáng tác văn học của ông, Tô hoài là một trong những cây viết xuất sắc nhất của nền văn xuôi hiện đại Việt Nam

Tìm hiểu nhà văn Tô Hoài – Tiểu sử, sự nghiệp sáng tác

  • Tác giả: xemsach.com.vn
  • Nhận xét: 5 ⭐ ( 6838 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Là một trong những nhà văn lớn của nền văn học Việt Nam. Nhà văn Tô Hoài đã để lại những tác phẩm để đời, Để có thể hiểu thêm về cuộc sống và sự nghiệp sáng tác văn chương của Tô Hoài mời bạn cùng theo dõi nội dung dưới đây!

Nhà văn Tô Hoài: Sinh ra là để viết

  • Tác giả: laodong.vn
  • Nhận xét: 5 ⭐ ( 1882 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Với 95 năm tuổi trời, hơn 60 năm tuổi nghề và hơn 160 đầu sách đã xuất bản, đến nay, Tô Hoài là một trong số ít nhà văn hiện đại Việt Nam đạt được nhiều con số kỷ lục trong sự nghiệp sáng tác.

Tiểu Sử Và Cuộc Đời Sự Nghiệp Sáng Tác Của

  • Tác giả: doanhnhan.edu.vn
  • Nhận xét: 5 ⭐ ( 1246 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Tô Hoài được nghe đến là cây cổ thụ của nền văn học Việt Nam với những đóng góp cho nền văn học nước nhà. Để có thể hiểu thêm về cuộc sống và sự nghiệp sáng

Xem thêm các nội dung khác thuộc thể loại: Khám Phá Khoa Học

By ads_law