Hải quân Liên Xô trước kia & Hải quân Nga ngày nay vẫn chính yếu lấy tàu mặt nước & tàu ngầm trang bị hoả tiễn chặng đường đối hạm làm nắm đấm thép, đảm nhận vai trò tấn công của hạm đội. Để phục vụ học thuyết quân sự của mình, ngay từ những năm cuối thập kỷ 40 của thế kỷ 20 việc tìm hiểu lớn mạnh các thế hệ hoả tiễn đối hạm đã được triển khai & vẫn tiếp tục kéo dài đến thời điểm bây giờ. Loạt bài “GIA ĐÌNH TÊN LỬA HÀNH TRÌNH ĐỐI HẠM CỦA LIÊN XÔ VÀ NGA ” mơ ước sẽ giúp bạn đọc có cái nhìn rõ hơn về nhóm vũ khí được nhìn nhận là “Sức mạnh vượt trội” của Hải quân Liên Xô & Hải quân Nga trên biển cả.

Thông số kỹ thuật căn bản của hoả tiễn P-15/ P-15U/ P-15M/ P-15TM Termit (SS-N-2 Styx)

Dài: 5,79/ 5,79/ 6,49/ 6,49 m

Đường kính: 780 mm

Sải cánh: 2.500/ 2.500/ 2.400/ 2.400 mm

Tầm bắn: 45/ 75/ 85/ 100 km

Vận tốc: Mach 0,9

Đầu đạn: 453/ 453/ 513/ 513 kg HE

Trọng lượng phóng: 2.125/ 2.300/ 2.500/ 2.500 kg

Tàu trang bị: Tàu hoả tiễn cỡ nhỏ dự án 183R-Komar, dự án 205-Osa, dự án 206MR-Matka, dự án 1241RE-Tarantul; Tàu khu trục dự án 56U-Kildin, dự án 57B-Krupny, dự án 61U-Kashin.

Nước sử dụng Nga, Algeria, Angola, Croatia, Cuba, Ai Cập, Phần Lan, Ấn Độ, Iraq, Bắc Triều Tiên, Libya, Ba Lan, Syria, VN …

Tranh đấu Lạnh nổ ra dẫn đến việc Liên bang Xô Viết phải đua ganh với Mỹ trên biển cả. Do chưa khi nào là một thế lực hải quân, Liên Xô phải tìm một cách nào đó để vượt mặt sự cai trị của Mỹ trong vùng biển xanh & câu giải đáp được đề ra chính là tàu ngầm & hoả tiễn có điều khiển. Như tàu sân cất cánh là biểu tượng cho sức mạnh của hải quân Mỹ, tàu ngầm được trang bị hoả tiễn đã biến thành biểu tượng sức mạnh của hải quân Liên Xô trước kia & nước Nga ngày nay tiếp tục đi theo hướng này với mơ ước khôi phục lại một số quang vinh xưa.

Sau đấu tranh toàn cầu II, việc đạt đến sự cân đối với Hải quân Mỹ tất nhiên là một trách nhiệm quá khó so với Hải quân Liên Xô, nhưng vũ khí & công nghệ mới sẽ phân phối cho họ khả năng đầy đủ. Vì vậy, ba chương trình hoả tiễn chống tàu được tiến hành đồng thời khởi đầu vào năm 1947 gồm: Kometa (NATO – AS-1 Kennel) phóng từ trên không, Shchuka phóng từ biển & Shtorm phóng từ bờ.

Xem Thêm  Tiềm năng nào cho du lịch trong không gian vũ trụ?

Vào thời điểm tháng 2/1953, chỉ chương trình hoả tiễn trước hết là được đồng ý để mang vào biên chế trong lúc những chương trình khác bị hủy vì thiếu những kết quả thoả mãn. Những nghiên cứu sâu hơn cho thấy việc giải quyết hoả tiễn như một khung phi cơ không người lái là cách tiếp cận sai vấn đề. Kết quả là từ đầu năm 1954, toàn bộ các chương trình hoả tiễn của Liên Xô & sau này là của Nga đã được dẫn dắt bởi các nền tảng kiến trúc hệ thống dẫn đường chứ không phải các nền tảng kiến trúc hoả tiễn.

Năm 1955, chương trình Shchuka được khôi phục dưới mã “KSShch” & được dẫn dắt bởi các nhà kiến trúc hệ thống dẫn đường. Hoả tiễn đã được triển khai với số lượng vừa phải trên các khu trục hạm lớp Kildin-(56EM/ M) & Krupny. Này là một thất bại hoàn toàn, mặc dầu được kiến trúc như một vũ khí tấn công tầm xa với tầm bắn lý thuyết 185 km nhưng phạm vi hoạt động thực tiễn của hoả tiễn chỉ là 30-35 km do hệ thống dẫn đường còn gặp nhiều khiếm khuyết.

Hoả tiễn đối hạm trước hết của Liên Xô P-1 (NATO: SS-N-1 Scrubber) được radar của tàu khu trục kéo theo mục tiêu thông qua sóng radio. Phiên bản KSShch-B với radar chủ động & được chỉ thị mục tiêu thông qua trực thăng Ka-15RC đã không khi nào được trang bị do trọng lượng radar ngắm bắn là quá nặng nề để một trực thăng hạm tàu hạng nhẹ có thể đưa theo. Toàn thể hệ thống đã được thu hồi vào giữa năm 1960.

Toàn bộ các hoả tiễn chống tàu sân cất cánh sau đó được lớn mạnh bởi OKB-52 (NPO Mashinostroyenia kể từ năm 1983) tại Reutovo gần Moscow. Tổ chức này được dẫn dắt bởi nhà kiến trúc nổi tiếng Valdimir N. Chelomey cho đến khi ông từ trần vào năm 1984 & sau đó đến lượt Gerberd A. Efremov. OKB-52/NPO Mashinostroyenia cũng là nền tảng lớn mạnh một số hoả tiễn đạn đạo liên lục địa (ICBM) của Liên Xô & Nga .

Tên lửa đối hạm SS-N-1 Scrubber

Hoả tiễn đối hạm SS-N-1 Scrubber

Năm 1955, Liên Xô khởi đầu triển khai chương trình trang bị hoả tiễn cho các tàu hải quân nhỏ để thay thế ngư lôi với vai trò là vũ khí chống tàu chính. Người ta nghĩ rằng ở cự ly khoảng 35 km một tàu nhỏ có thể phát hiện mục tiêu như tàu tuần dương sớm hơn 15 phút trước khi bản thân nó bị lộ diện do có diện tích phản xạ radar (RCS) nhỏ. Các nhà nghiên cứu phán đoán rằng xác suất bắn trúng của hoả tiễn vào mục tiêu cỡ tàu tuần dương sẽ cao hơn ngư lôi khoảng 10 lần. không chỉ thế, thời gian của cuộc tấn công từ khi được khởi động cho đến lúc chấm dứt là ngắn hơn nhiều đối với ngư lôi làm cho kẻ địch có rất ít thời gian để phản ứng.

Xem Thêm  Tên lửa SAM-2: Dấu ấn Việt Nam

Việc tìm hiểu lớn mạnh một hoả tiễn chống tàu thích hợp để trang bị cho những tàu hải quân nhỏ được thực hiện bởi OKB-155-1 (một phòng ban của OKB-155 Mikoyan-Gurevich) ở Dubna, gần Moscow. Với nguồn gốc MiG của mình, hoả tiễn P-15 Termit (SS-N-2 Styx) có bề ngoài của một máy cất cánh nhỏ với cánh chính delta & cánh đuôi để làm chủ hoạt động. Hoả tiễn sử dụng động cơ nhiên liệu lỏng đi kèm tầng khởi tốc dùng nhiên liệu rắn.

Termit đời đầu có tầm bắn 45 km, vận tốc tối đa 1.150 km/h (Mach 0,9), độ cao chặng đường 150-300m được duy trì bởi một máy đo độ cao, hoả tiễn ổn định đường cất cánh thông qua con quay hồi chuyển công đoạn đầu phối hợp với radar chủ động công đoạn cuối. Tàu chiến trước hết được trang bị P-15 là Komar thuộc dự án 183R với hai bệ phóng. Tàu được trang bị hệ thống làm chủ hỏa lực KLEN với radar điều khiển Rangout cùng thiết bị định hướng quang học bổ trợ PMK-453.

Tàu tên lửa cao tốc dự án 183R Komar

Tàu hoả tiễn cao tốc dự án 183R Komar

Lần thực nghiệm trước hết của Termit diễn ra trong thời điểm tháng 10/1957 trên biển Đen & những vụ thử kế tiếp đều có kết quả rất tốt kéo theo việc hoả tiễn được đồng ý mang vào biên chế cuối những năm 1950. Khoảng thời gian từ 1958 đến 1965, có không ít hơn 112 tàu Komar được đóng mới, nhiều chiếc được xuất khẩu & sử dụng trong nhiều trận đánh.

Vào ngày 21/10/1967, hoả tiễn P-15 của Ai cập bắn từ tàu Komar đã nhấn chìm khu trục hạm Eliat của Israel, đây là chiến công trước hết của một hoả tiễn chống tàu & điều đó cho thấy những hạm đội hải quân cỡ vừa đang phải đương đầu với một rủi ro thực sự lớn.

Trong nửa cuối những năm 1960, 427 tàu hoả tiễn dự án 205 Osa II đã được đóng, mỗi chiếc vũ trang với bốn hoả tiễn P-15. Mặc dầu chúng không còn phục vụ trong hải quân Nga nhưng khoảng 150 chiếc Osa II vẫn còn phục vụ cho đến ngày nay trong lực lượng hải quân của nhiều đất nước khác. Vào cuối những năm 1950, Trung Quốc thu được những hoả tiễn P-15 trước hết từ Liên Xô & họ đã sớm lớn mạnh phiên bản sao chép Type-601 Silkworm của riêng mình, Silkworm được sử dụng trong đấu tranh Iran-Iraq cũng như trong trận chiến vùng Vịnh lần đầu tiên & đã nhận được kết quả khá tốt.

Xem Thêm  Tài liệu Lý thuyết tương đối rộng pdf

Tên lửa đối hạm Type 601 Silkworm

Hoả tiễn đối hạm Type-601 Silkworm

Mùa hè năm 1958, đầu dò hồng ngoại công đoạn cuối Kondor được thực nghiệm để phục vụ mục đích hiện đại hóa P-15. Đầu dò có tầm hoạt động 10 km vào ban ngày, 5 km ban tối & có góc quét 2,50. Sau đó, phiên bản Snegir tiên tiến hơn đã được sản xuất để lắp trên phiên bản hiện đại hóa P-15U.

Vào cuối những năm 1960, một phiên bản mới của P-15 đã hiện ra với cánh gấp được cho phép giảm thiểu kích cỡ của bệ phóng. Hoả tiễn được sản xuất thành hai phiên bản P-15U dùng radar chủ động & P-15T sử dụng đầu dò hồng ngoại Snegir, chúng có 2 phiên bản xuất khẩu tương ứng được định danh P-21 & P-22. Những hoả tiễn này được sử dụng trên tàu hoả tiễn Osa-U & thế hệ tàu chiến Tarantul mới hơn, cùng lúc cũng được sử dụng để hiện đại hóa một vài khu trục hạm lớp Kynda & Kashin.

Tàu hộ vệ tên lửa lớp Tarantul

Tàu hộ vệ hoả tiễn cỡ nhỏ dự án 1241RE Tarantul

Trong Hải quân Liên Xô, hoả tiễn P-15U/T đã được thay thế bằng P-15M & P-15TM vào năm 1970, hai phiên bản này sử dụng đầu dò hồng ngoại tôn tạo Snegir-M & radar tìm mục tiêu mới. Hoả tiễn sử dụng hệ dẫn đường quán tính công đoạn đầu thay thế con quay hồi chuyển, tầm bắn tăng trưởng 85 km & độ cao chặng đường được giảm xuống dưới 100m thông qua sự làm chủ của một radar đo cao, phiên bản xuất khẩu của P-15M & P-15TM tương ứng là P-26 & P-27.

P-15 Termit là hoả tiễn đối hạm tầm ngắn đi vào phục vụ từ cuối những năm 1950 & là hoả tiễn đối hạm trước hết được đồng ý mang vào biên chế, nó cũng được ghi nhận là hoả tiễn đối hạm trước hết đã đánh chìm được tàu chiến. Mặc dầu đã rất cũ nhưng các phiên bản P-15 vẫn miệt mài phục vụ trong hải quân Nga & hải quân nhiều nước khác cho đến tận ngày nay.

Hoả tiễn đối hạm P-15 Termit

By ads_law

Trả lời