Phân tích tác phẩm Chiếu dời đô (Thiên đô chiếu)

0
33

Nghiên cứu tác phẩm Chiếu dời đô (Thiên đô chiếu) – Bài số 1

Trước những biến động của nước nhà, đồng loạt các chiếu của nhà vua được ban xuống để giờ đây trở thành những tác phẩm hay có giá trị trong nền viet nam. Cùng với của vua Quang Trung thì tất cả chúng ta còn được biết tới Chiếu dời đô của vua Lý Công Uẩn. Bài chiếu chẳng những có ý nghĩa về mặt lịch sử mà nó còn đưa nhiều nét trong đó. Lý Công Uẩn nổi tiếng là một nhà vua thông minh bác ái có trí lớn & lập được nhiều chiến công hiển hách. Khi vua Lê Ngọa Triều chầu trời, ông được triều thần tôn lên làm vua, xưng là Lí Thái Tổ, lấy niên hiệu là Thuận Thiên. Năm Canh Tuất (1010), Lý Thái Tổ viết bài chiếu thổ lộ ý định dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) ra thành Đại La (tức Hà Nội ngày nay).

Tương truyền khi thuyền nhà vua đến đoạn sông dưới chân tình thì bỗng nhiên thấy có rồng vàng cất cánh lên. Nghĩ rằng điềm lành, Lý Thái Tổ nhân đó đổi tên Đại La thành Thăng Long.

Chiếu là một loại văn bản cổ, bài viết nhắc nhở một quyết định hay một mệnh lệnh nào đó của vua chúa cho thần dân biết. Chiếu thường trổ tài một quan niệm to lớn có tác động đến vận mệnh triều đại, quốc gia. Chiếu dời đô cũng đưa đầy đủ dấu hiệu trên nhưng không những thế, nó cũng có những nét riêng. Đó là thuộc tính mệnh lệnh phối hợp hài hòa với thuộc tính tâm tình. Ngôn từ bài chiếu vừa là từ ngữ hành chính vừa là từ ngữ đối thoại. Cũng như chế & biểu, chiếu được viết bằng tản văn, chữ Hán, gọi là cổ thể; từ đời Đường (Trung Hoa) mới theo lối tứ lục gọi là cận thể (thể gần đây).

Trước tiên Author nêu lên những dẫn chứng, những nền tảng để làm tiền đề cho việc dời đô của mình. Từ cổ chí kim việc dời đô là một việc làm thường xuyên của các nhà vua, cốt là để tìm cho hàng cung một chỗ phong thủy hợp cho sự tiến triển của quốc gia, góp phần hưng thịnh quốc gia. Lý Công Uẩn dẫn ra đồng loạt sự dời đô của những vị vua bên Trung Quốc trước đây. Xưa nhà Thương đến vua Bàn Canh năm lần dời đô; nhà Chu đến vua Thành Vương cũng ba lần dời đô. Phải đâu các vua thời Tam đại theo ý riêng mình mà tự tiện chuyển dời ? Chỉ vì mong muốn đóng đô ở nơi trọng tâm, mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu; trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân nếu thấy thuận lợi thì biến đổi. Thành ra vận nước bền lâu, phong tục phồn thịnh. Có lẽ nói bằng những dẫn chứng trên Author lấy đó làm tiền đề & mở màn cho bản chiếu dời đô của mình. Dời đô không phải là một việc xấu, từ xưa nó đã diễn ra thường xuyên rồi. Mục đích của nó cốt chỉ để làm cho việc mưu sinh thêm thuận tiện, bộ máy hành chính được đặt ở trọng tâm của quốc gia. Dời để hợp ý trời & thuận lòng dân để từ đó quốc gia phồn thịnh kéo dài.

Qua việc mang ra những lí lẽ & dẫn chứng ấy, Author cam kết việc biến đổi kinh đô so với triều đại nhà Lý là một tất yếu khách quan. Ý định dời đô của Lý Công Uẩn xuất phát từ thực tiễn lịch sử song song trổ tài ý chí mãnh liệt của nhà vua cũng như của dân tộc ta hồi đó. Nhà vua mong muốn xây dựng & tiến triển Đại Việt thành một đất nước hùng mạnh trong tương lai.

Kế tiếp Author nghiên cứu nhưng thực tiễn cho thấy kinh đô cũ không còn phù hợp với sự mở đưa của quốc gia nữa cho nền thiết yếu phải dời đô. Ông không ngần ngại phê phán những triều đại cũ “Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng mình, khinh thường mệnh trời, không noi theo dấu cũ của Thương, Chu, cứ đóng yên đô thành ở nơi đây, khiến cho triều đại không được lâu bền, số vận ngắn ngủi, trăm họ phải hao tốn, muôn vật không được thích nghi. Trẫm rất đau xót về việc đó, không thể không dời đổi”. Author bảo rằng các triều đại nhà Đinh nhà Lê đã không nghe theo ý trời nên chỉ đóng đô ở nơi đây chính vì như thế mà triều đại không được bền lâu. Không biết học những cái của thời xưa như nhà Thương, nhà Chu. Vậy nên trái với khách quan thì sẽ bị bại vong, không đi theo quy luật thì sẽ không có kết quả tốt. Tóm lại kinh đô Đại Việt chẳng thể tiến triển được trong một đất nước chật hẹp như vậy. Nhưng thực chất thì ở công đoạn đó hai triều đại chưa đủ mạnh cả thế & lực để tiến hành việc rời đô vùng đồng bằng trống trải nên vẫn phải dựa vào địa thế hiểm trở của rừng núi để chống thù trong, giặc ngoài. Nhưng đến thời Lí, trên đà mở đưa tiến triển của quốc gia thì việc đóng đô ở Hoa Lư không còn thích hợp nữa. Bên cạnh những dẫn chứng thuyết phục như vậy Author còn trổ tài bộc bạch thiện cảm của mình. Điều đó đã làm tăng thêm sức thuyết phục cho bài văn. Cảm hứng ấy chính là xúc cảm mà Author mong muốn tiến triển quốc gia theo 1 hướng tiến triển thịnh vượng hơn, bền lâu & vững chắc hơn.

Sau đó nhà vua minh chứng & cam kết sự chuẩn xác hợp quy luật & thích hợp của việc dời đô. Đại La là một nơi có toàn bộ các điều kiện để tiến triển quốc gia: “Huống gì thành Đại La, kinh đô cũ của Cao Vương: Ở vào nơi trung tâm trời đất; được cái thế rồng cuộn hổ ngồi. Đã đúng ngôi nam bắc đông tây; lại tiện hưởng nhìn sông dựa núi. Địa thế rộng mà bằng; đất đai cao mà thoáng. Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt; muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi.” Đại La hiện lên đẹp về mọi mặt như địa lý, văn hóa, đầu mối giao lưu, điều kiện của dân cư & sự đa dạng, tốt tươi của cảnh vật. Author đã nhìn từ hướng nhìn của một nhà phong thủy, cho thấy toàn bộ những điều kiện tốt đẹp của thiên nhiên cũng như nơi đây. Thành Đại La ở địa điểm trọng tâm của quốc gia. Có thế rồng cuộn hổ ngồi. Địa hình phong phú có núi có sông, địa thế cao & khoáng đạt, mở ra 4 phương nam, bắc, đông, tây, tiện cho việc tiến triển bền lâu của đất nước. Đây cũng là đầu mối giao lưu chính trị, văn hóa & kinh tế của cả nước. Xét toàn diện, thành Đại La có đủ điều kiện tối ưu để trở thành kinh đô mới của Đại Việt. Bằng chứng nhà vua mang ra có sức thuyết phục rất lớn vì được xem xét kĩ càng trên nhiều ngành nghề. có lẽ nói đây là một vùng đất lý tưởng cho kinh đô & với những điều kiện ấy triều đại sẽ tiến triển hưng thịnh. Nhà vua tự cho là xem cả dải quốc gia Đại Việt thì chỉ có mỗi nơi đây là thánh địa. Có lẽ hiểu thánh địa là một nơi đất đai địa hình tốt đẹp hợp với một sự tiến triển khỏe khoắn.

Chấm dứt bài chiếu Lý Công Uẩn không dùng sức mạnh uy quyền để quyết định rời đô mà dùng một giọng như xem qua quan điểm của nhân dân, bề tôi trung tín “Trẫm muốn dựa vào sự thuận lợi của đất ấy để định chỗ ở. Các khanh nghĩ thế nào?”. Đó như thể hiện sự dân chủ và công bằng cho tất cả những người bề dưới, quyền quyết định đương nhiên thuộc về nhà vua thế nhưng ông vẫn muốn hỏi ý kiến phía dưới để thấy đồng lòng với người dân. Vì chỉ có hợp với lòng dân thì nhà vua cũng nhu đất nước mới trở nên vững bền được.

Như vậy có thể thấy Lý Công Uẩn là một vị vua thông minh, nhân ái hiền từ và rất đổi hợp lòng dân. Ông không chỉ lấy những thực tế dẫn chứng từ các triều đại trước cũng như sự tốt đẹp của địa hình Đại La mà ông còn đánh vào tình cảm để thuyết phục. Tuy là một bài chiếu có ý nghĩa ban bố mệnh lệnh nhưng Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn rất có sức thuyết phục bởi nó hợp với lẽ trời, lòng dân. Tác giả đã sử dụng một hệ thống lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, giọng điệu mạnh mẽ, khỏe khoắn để thuyết phục dân chúng tin và ủng hộ cho kế hoạch dời đô của mình.

Phân tích tác phẩm Chiếu dời đô (Thiên đô chiếu) – Bài số 2

Lý Công Uẩn (974-1028) quê ở Kinh Bắc, là võ tướng cao cấp của Lê Đại Hành, từng giữ chức Tả thân vệ Điện tiền chỉ huy sứ. Ông là người tài trí, đức độ, kín đáo, nhiều uy vọng. Năm 1009, Lê Ngọa Triều chết, ông được giới tăng lữ và triều thần tôn lên làm vua, tức Lý Thái Tổ dựng nên triều đại nhà Lý tồn tại hơn 200 năm (1009-1225).

Năm 1010, Lý Thái Tổ viết “Thiên đô chiếu ” dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) ra thành Đại La, sau đổi là Thăng Long, Kinh đô của Đại Việt.

“Chiếu là lời của vua công bố hiệu lệnh cho thần dân” (Dương Quảng Hàm), thuộc văn xuôi cổ, câu văn có vế đối, từ ngữ trang nghiêm, trang trọng. “Chiêu dời đô” của Lý Công Uẩn là một văn kiện đưa ý nghĩa lịch sử lớn lao. sắp tới đại lể ki niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội (1010-2010), ta càng thấy rõ ý nghĩa lịch sử trọng đại của luận văn này.

Văn bản chữ Hán chỉ có 214 chữ, bản dịch của Nguyễn Đức Vân dài 360 chữ:

1. Phần đầu “Chiếu dời đô” nói lên mục đích sâu xa, tầm quan trọng của việc dời đô là để “Đóng đô ở nơi trung tâm, mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu; trên theo mệnh trời, dưới theo ý dân. Nói một cách khác, việc dời đô là một việc lớn, vừa hợp mệnh trời vừa hợp lòng dân, là để xây dựng đất nước cường thịnh, đem lại hạnh phúc, thái bình cho nhân dân.

a. Mục đích và tầm quan trọng

Việc dời đô không còn là chuyện hi hữu, mà đó là những kinh nghiệm lịch sử, phản ánh xu thế phát triển lịch sử của từng quốc gia, từng thời đại. Tác giả đã nêu lên những dẫn chứng lịch sử đế thu phục nhân tâm. Chuyện ở xa là chuyện bên Tàu: “Xưa nhà Thương đến vua Bàn Canh năm lần dời đố; nhà Chu đến vua Thành Vương cũng ba lần dời đô”. Chuyện gần là ở nước ta thời nhà Đinh, nhà Lê vì chỉ “ theo ý riêng mình, khinh thường, mệnh trời… ”, cứ “đóng yên đô thành” ở Hoa Lư nên dẫn đến thảm kịch: “triều đại không được lâu bền, số vận ngắn ngủi, trăm họ phải hao tổn, muôn vật không được thích nghi”… Sử sách cho biết, Đinh Bộ Lĩnh sau khi dẹp tan 12 sứ quân, năm 968 ông lên ngôi hoàng đế thì đến năm 979 nhà vua bị ám hại. Năm 981, Lê Hoàn lên làm vua, tuy đã đánh thắng giặc Tống xâm lược, nhưng năm 1005, Lê Đại Hành băng hà, thì các thế lực phong kiến, các hoàng tử… lại xung đột, tranh giành ngôi báu, loạn lạc kéo dài “trăm họ phải hao tổn” nhiều xương máu, tiền của. Cái chết của vua Lê Ngọa Triều năm 1009 đã chứng tỏ hai triều đại Đinh, Lê “không được lâu bền, số vận ngắn ngủi”. Hai triều đại Đinh, Lê phải đóng đô là do nhiều lý do lịch sử: nhà nước phong kiến viet nam chưa đủ mạnh, nạn cát cứ của các lãnh chúa hoành hành, giặc giã loạn lạc kéo dài. Do vậy, các vua nhà Đinh, nhà Lê phải nuôi hổ báo ở trong gia đình, phải nấu vạc dầu ở ngoài sân, dựa vào sông sâu núi cao, địa thế hiểm trở vùng Hoa Lư để đóng đô & phòng ngự. Đóng đô ở Hoa Lư là một giới hạn của lịch sử của nhà Đinh, nhà Lê.

Lý Công Uẩn “đau xót” khi nghĩ về “vận số ngắn ngủi” của nhà Đinh, nhà Lê và cảm thấy việc dời đô là một việc cấp thiết “chẳng thể không dời đô”.

“Chiếu dời đô ” trong phần mở màn, lí lẽ sắc bén, dản chứng lịch sử là sự thật tất nhiên, giàu sức thuyết phục lòng người. Author đã lồng xúc cảm vào bài chiếu, tạo thành bao ấn tượng đẹp: “Trẫm rất chua xót về việc đó, chẳng thể không dời đổi.

Cuốn “Lịch sử Việt Nam” của Viện Sử học đã viết:

“Việc dời đô về Thăng Long phản ánh yêu cầu phát triển mới của quốc gia phong kiến tập quyền và chứng tỏ khả năng, lòng tin và quyết tâm của cả dân tộc giữ vững nền độc lập ”…

b. Đại La rất thuận tiện, rất đẹp để đóng đô.

Đại La không có gì xa lạ, là “Kinh đô cũ của Cao Vương”. Cao Vương là Cao Biền, đại quan của nhà Đường, từng làm Đô hộ sứ Giao Châu từ 864-875; năm 866, Cao Biền đã xây thành Đại La, thuộc Hà Nội ngày nay.

Đại La rất thuận lợi.

Về địa điểm địa lí là “ở vào nơi trung tâm trời đất… đã đúng ngôi nam bắc đông tây

Về địa thế, rất đẹp, rất hùng vĩ: “được cái thế rồng cuộn hổ ngồi”, “lại tiện góc nhìn sông dựa núi”, “địa thế rộng mà bằng; đất đai cao mà thoáng”.

Là một vùng đất cư trú lí tưởng cho dân cư, không “ngập lụt ”, “muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi”.

Tóm lại, Đại La là “thắng địa”, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng, “chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước”. Đại La xứng đáng là  “Kinh đô vị trí đầu tiên của đế vương muôn đời”.

2. Phần thứ hai của “Chiếu dời dô” cho thấy tầm nhìn kế sách của Lý Công Uẩn về Đại La, nơi sẽ dời đô đến. Một cái nhìn toàn diện, sâu sắc, đúng đắn về các mặt địa điểm địa lí, địa thế, nhân văn… Sau một nghìn năm, Hà Nội đã trở thành thủ đô hòa bình của đất viet nam, nhân dân ta, ta càng thấy việc dời đô từ Hoa Lư ra Đại La của Lý Công Uẩn là một cống hiến vô cùng vĩ đại “mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu”.

Sử sách còn ghi lại: khi thuyền rồng của nhà vua vừa cập bến sông Nhị Hà ở chân thành Đại La thì có con rồng vàng bay lên, vua cho là điềm tốt mới đổi tên là Thăng Long. Thăng Long là “Rồng cất cánh lên” trổ tài thế nước & phản ánh khát vọng của nhân dân ta xây dựng Đại Việt thành một đất nước cường thịnh có nền văn hiến muôn đời rực rỡ. Ý chí tự lập tự cường & về ngày mai tốt đẹp được cam kết một cách khỏe khoắn.

Về mặt văn chương, phần thứ hai “Chiếu dời đô” rất đặc sắc. Cách viết hàm súc, giàu hình ảnh & biểu cảm, những vế đối rất chính, đọc lên nghe rất thú vị, mặc dù phải qua bản dịch:

“Huống gì thành Đại La… ở vào nơi trung tâm trời đất //; được cái thế rồng cuộn hổ ngồi. Đã đúng ngôi nam bắc tây đông//, lại tiện hướng nhìn sông dựa núi. Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt //; muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi… Thật là chôn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước //; cũng là nơi Kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời.”

3. Phần cuối nguyên tắc “Thiên đô chiếu” chỉ có 14 chữ, bản dịch thành 19 chữ. Nhà vua thổ lộ ý mình về việc dời đô & hỏi quần thần. Đúng Lý Công Uẩn là một người “tài trí, đức độ, kín đáo”.

“Trẫm muốn dựa vào sự thuận lợi của đất này để định chỗ ở. Các khanh nghĩ thế nào ? “

Việc dời đô của Lý Công Uẩn là một kì tích, kì công. Sau gần một ngàn năm Thăng Long – Hà Nội “đất văn vật” đã trở thành thú đô của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trung tâm chính trị, kinh tế, quốc phòng, văn hóa của đất nước ta.

“Chiếu dời đô” là áng văn xuôi cổ mới mẻ, đặc sắc của tiên tổ để lại. Từ ngữ trang trọng, đúng là khẩu khí của bậc đế vương. Nó là kết tinh vẻ dẹp tâm hồn & trí tuệ viet nam. Nó khơi dậy trong lòng nhân dân ta lòng tự hào & ý chí tự cường khỏe khoắn.

Nghiên cứu tác phẩm Chiếu dời đô (Thiên đô chiếu) – Bài số 3

Lí Công Uẩn quê ở Kinh Bắc, là võ tướng có tài của Lê Bại Hành, từng giữ chức Tả thân vệ Điện tiền lãnh đạo sứ. Ông là người tài trí,, đức độ, kín đáo, nhiều hi vọng. Năm 1009, Lê Ngọa Triều chết, Lí Công uẩn được giới tăng lữ & triều thần tôn lên làm vua, lấy hiệu là Lí Thái Tổ & tạo dựng nên nhà Lí tồn tại hơn 200 năm. Năm 1010, Lí Thái Tổ viết “Chiếu dời đô” để dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) về Đại La. Sau thời điểm dời về Đại La, ông đổi tên vị trí này thành Thăng Long, kinh đô của nước Đại Việt, chính là Hà Nội ngày nay.

Chiếu dời đô của Lí Công uẩn là văn kiện có ý nghĩa lịch sử lớn lao. Chính văn bản này đã góp phần khai ra đời kinh đô của viet nam trong quá khứ & .

Phần đầu của Chiếu dời đô nói lên mục đích sâu xa, tầm trọng yếu của việc dời đô. Đó là đểđóng đô nơi trọng tâm, mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu; trên theo mệnh trời, dưới theo ý dân. Nói một cách khác, việc dời dô là một việc lớn, vừa hợp mệnh trời, vừa hợp lòng dân, là để xây dựng quốc gia cường thịnh, đem đến hạnh phúc cho muôn dân.

Việc dời đô không còn là chuyện bấy lâu hiếm, nó đã được thực hiện bởi các vị vua trước đây ở Trung Hoa. Author đã nêu lên những dẫn chứng chi tiết để thuyết phục mọi người. Chuyện các vị vua Trung Hoa dời đô để xây dựng quốc gia phồn thịnh, chuyện các vị vua viet nam thời Đinh – Lê đóng đô ở Hoa Lư làm cho triều đại không kiên cố, nhân dân đói kém… Lí Công uẩn chua xót khi nhìn thấy vận số ngắn ngủi của nhà Đính, nhà Lê & cảm thấy việc dời đô là một việc làm cấp thiết.

Phần mở màn của Chiếu dời đô hợp lí lệ sắc bén, dẫn chứng chi tiết, giàu sức thuyết phục. Author đã lồng xúc cảm vào bài chiếu, tạo thành những ấn tượng đẹp: Trẫm rất chua xót về việc đó, chẳng thể không dời đổi.

Author đã nêu ra được những điểm thuận tiện của kinh đô mới đối với kinh đô cũ. Đại La không có gì xa lạ so với mỗi người dân Việt lúc đó, nó được Cao Biền đời nhà Đường xây dựng vào thế kỉ thứ IX. Những điểm hay của kinh đô đã được Lí Công Uẩn chỉ rõ trong bài chiếu. Địa điểm của nó ở vào nơi trọng tâm của trời đất … đã đúng ngôi nam bắc đông tây. Địa thế của Đại La rất đẹp, rất nguy nga, là thế rồng cuộn hổ ngồi, lại tiện góc nhìn sông dựa núi, địa thế rộng mà phẳng phiu; đất đai cao mà thoáng.

Rạch ròi đây là một mảnh đất lí tưởng phù hợp cho việc đóng đô & quần tụ cư dân. Nó không bị ngập lụt mà muôn vật cũng rất mực đa dạng, tốt tươi.

Tóm lại, Đại La là thắng địa, là trọng tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của cả nước. Đại La xứng đáng là kinh đô vị trí đầu tiên của đế vương muôn đời.

Phần thứ hai của Chiếu dời đô cho thấy tầm nhìn kế sách của vị vua mở màn triều Lí, một cái nhìn toàn diện, sâu sắc & đúng đắn về toàn bộ các mặt. Điều này hoàn toàn không phải là một quan điểm chủ quan mà chính là khả năng nhìn nhận & tính toán một cách đúng đắn, quả quyết. Sau một nghìn năm, Thăng Long bấy lâu là Hà Nội đã trở thành kinh đô của chủ yếu các triều đại trong lịch sử phong kiến viet nam. Đây chính là cống hiến vĩ đại của Lí Công Uẩn cho lịch sử viet nam như câu nói của ông lúc dời đô: mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu.

Về mặt văn chương, phần thứ hai của Chiếu dời đô rất đặc sắc. Cách viết hàm súc, giàu hình ảnh & biểu cảm. Vế đối trong các câu rất chuẩn & đạt hiệu quả cao về mặt văn nghệ.

Phần cuối của bài Chiếu là lời thổ lộ của nhà vua trước quần thần về ý định dời đô, điều này cho thấy nhà vua rất công minh, đức độ trong việc trị nước:

“Trẫm muốn dựa vào sự thuận lợi của đất ấy để định chỗ ở. Các khanh nghĩ thế nào?”

Việc dời đô của Lí Công uẩn là một kì tích, kì công so với quốc gia. Sau một ngàn năm, Thăng Long – Hà Nội đã trở thành kinh đô của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa viet nam; là trọng tâm kinh tế, quốc phòng, văn hóa lớn của cả nước.

Chiếu dời đô là áng văn xuôi cổ mới mẻ, đặc sắc của tiên tổ để lại. Từ ngữ trang trọng đúng như khẩu khí của bậc đế vương. Nó là kết tinh vẻ đẹp tâm hồn & trí tuệ viet nam. Nó khơi dậy trong nhân dân ta lòng tự hào & ý chí tự cường khỏe khoắn.

Nghiên cứu tác phẩm Chiếu dời đô (Thiên đô chiếu) – Bài số 4

Chiếu, chế, hịch, cáo nói chung là những văn bản hành chính, công vụ, thường là những mệnh lệnh hoặc lời mời chào, nhắc nhở từ trên ban xuống. Author của nó, hoặc người ở vào tư thế tuyên bố phải là bậc vua chúa hoặc chủ soái thông báo một đường lối, chủ trương mà những thần dân hoặc tướng sĩ dưới quyền phải hết lòng thực hiện hoặc tường trình một buổi lễ lịch sử nổi trội để mọi người cùng nghe.

Tuy bài viết đề cập đến những vấn đề rất rộng nhưng cái đích phải đạt tới là sự thống nhất mang tính chất toàn dân. Còn phương tiện, mẹo trình bày, nó phải là một bài , phải dựa vào lí lẽ, lập luận để thuyết phục trăm họ, muôn dân. Với những văn bản nói trên, trong tình hình văn sử bất phân (nghệ thuật & học thuật là những định nghĩa chuyên mục chưa phải đã rõ ràng), cho đến nay nhìn lại chẳng thể trước tác nào cũng gọi là văn chương. Hoặc chỉ có giá trị văn chương đến một mức nào đó, nhưng văn bản lại gắn liền với một buổi lễ lịch sử to lớn ví dụ thì cũng không nên nhất loạt bỏ qua. Chiếu dời đô nằm trong tình hình ấy, nhưng đầy chất văn chương, đặc biệt là văn xuôi trong hành trình lập quốc. Nó cũng là khí phách của dân tộc Đại Việt đang trên đà tiến triển. Sức thuyết phục của nó là ở chỗ tuy là tiếng nói của một người nhưng hội tụ tấm chân tình của hàng triệu người, của toàn dân tộc. Để có lẽ đi vào lòng người còn cần phải có lí lẽ, có lập luận, cách trình bày sao cho mạch lạc, rạch ròi. Tính hùng biện mong muốn được phát huy phải gắn với tính trữ tình nhằm tạo được sự mang ơn, cảm hoá.

Ưu điểm khác biệt của Chiếu dời đô là sự chăm chú cao độ vào bài viết cần bàn: Tại sao việc biến đổi kinh đô “không thể dời đổi”? Trong việc biến đổi ấy chỉ một nơi có lẽ định đô, đó là “Nơi kinh đô bậc nhất của đê vương muôn đời”. Trên trí não ấy, lập luận không thừa một ý, diễn tả không hoang phí một câu, bài viết & cách thức gần với một thứ văn bia vô cùng hàm súc. Đây cũng là một thứ mẫu mực cho bút pháp cổ văn. Tất cả bài văn tạo dựng hai luận điểm lớn:

1. Việc biến đổi kinh đô so với triều đại nhà Lí là một tất yếu khách quan:

Việc biến đổi ấy mang tính chất quy luật, chẳng thể bo bo bảo thủ chủ quan “theo ý riêng mình”. Cái ý khách quan ấy trổ tài ở cả hai yếu tố: “trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân”. Cả hai yếu tố hội tụ được lợi nhuận bền lâu: chỉ có “đóng đô ở nơi trung tâm” mới có khả năng “mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu” bền lâu. Mục đích của việc dời đô là như vậy. Song nhận thức được nó hay không còn tuỳ thuộc vào nhãn quan, tầm nhìn chật hẹp hay xa rộng của mỗi thời, của mỗi triều đại.

Nhại lại người xưa mà không nệ cổ, ấy là một cách nghĩ phóng khoáng, canh tân. Sự lựa chọn nên hay không nên, lập luận của Author dựa vào thực tiễn xưa & nay. Sự đối lập giữa hai cách hành động, hai cách nghĩ khác nhau, tự nó bật lên chân lí: xưa không hẳn đã là cổ hủ, nay tuy là mới, nhưng chưa hẳn đã thức thời. Vậy xưa & nay, chẳng cần phân biệt, cứ đúng mà làm “nếu thấy thuận tiện thì thay đổi”. Lấy cái đúng của từ bây giờ mà soi vào quá khứ, Lí Công Uẩn đã bắt gặp cách nghĩ của người xưa. Kế tục truyền thống, phát huy truyền thống cần phải có một sự tỉnh táo chắt lọc, đó là một phương châm, phương hướng nên làm. Toàn bộ những sự nên hay không nên, lập luận diễn ra ba bước: hành động dời đô hay “đóng yên đô thành” một chỗ, mục đích của việc dời đô & kết quả của việc dời đô. Xưa, nhà Thương, đến đời vua thứ mười bảy (Bàn Canh) có đến năm lần dời đô. Nối tiếp nhà Thương, đến Chu Thành Vương cũng làm như vậy tính đến ba lần. Những quyết định bạo gan ấy phải đâu là hiếm có, chỉ làm trong muôn một? Mục đích & kết quả của việc dời đô ấy đã rất nhỡn tiền, mắt thấy tai nghe, không ai không xác nhận. Vì đã được thừa nhận, Author chỉ nhắc qua “Cho nên vận nước lâu dài, phong tục phồn thịnh”. Không tán đồng cách làm “Không noi theo dấu cũ của Thương, Chu” của hai nhà Đinh, Lê, lập luận mang tính chất phê phán chỉ còn hai bước của suy nghĩ được nhấn mạnh nhiều hơn. Cái lỗi của hai nhà Đinh, Lê có đến bốn điều cần phủ nhận là “lại theo ý riêng mình, khinh thường mệnh trời, không noi theo dấu cũ của Thương, Chu, cứ đóng yên đô thành ở nơi đây”. Sức thuyết phục của lối văn bàn cãi không phải ở sự dài lời. Bốn vế đầu của câu văn như những mũi tên trí tuệ bắn ra nhằm vào một cái đích: ấy là sự lẽ ra phải đổi thay của hai nhà Đinh, Lê trong bây giờ. Hậu quả của nó, thông qua phép đối, dưới cách thức biển văn, sự hô ứng thật muôn lần minh bạch được thể nghiệm tức thời bằng bốn vế kế tiếp đầy thuyết phục “khiến cho triều đại không được lâu bẽn, số vận ngắn ngủi, trăm họ phải hao tốn, muôn vật không được thích nghi”.

2. Thành Đại La là một nơi định đô lí tưởng:

Ngay khi nhìn ngắm vào hai tấm gương phải trái khác nhau, Author đã lộ rõ ý mình: chẳng thể không bao giờ thay đổi cách nghĩ, cách làm. Nhưng tỏ ra tinh tế, khiêm nhường, Author chỉ bộc bạch cách cảm: “Trẫm rất đau xót về việc đó”, nhưng mà không phái không ngầm ý quả quyết, một quả quyết không gì cưỡng được vì nó hợp với mệnh trời: “không thể không dời đổi”. Phủ định một điều phủ định chính là sự cam kết. Ấy là chân lí của suy nghĩ.

Sáng tạo của nhà vua trong việc định đô ở Đại La thuyết phục người nghe ở cả hai yếu tố: lí lẽ & thiện cảm, bài viết & cách thức diễn tả, trình bày về lí lẽ, lợi thế của Đại La được trình bày rất kĩ lưỡng với một số lượng câu không ít, nó như nốt nhấn của bài văn. Bốn câu văn đầy trọng lượng này lại được nhân lên gấp đôi bởi mỗi câu có đến hai vế, mỗi vế lại có sức ảnh hưởng riêng bổ sung cho nhau, thật là tầng tầng lớp lớp. Bài viết của đoạn văn dựa vào thuyết phong thuỷ mà phát xuất hiện vẻ đẹp muôn mặt của Đại La: nào là vị trí địa lí, vị trí văn hoá, đầu mối giao lưu, điều kiện dân cư & sự tốt tươi cho muôn vật. Đại La như một viên ngọc, nếu có ánh sáng của nhận thức soi vào, nó lấp lánh lên bao điều mến mộ. Thiện cảm của người viết dù không mong muốn lộ ra vẫn tràn trề trong tiết tấu, nhịp điệu, trong từng chữ, từng câu “lời lời châu ngọc hàng hàng gấm thêu” như vậy. Yêu mến Đại La là bắt nguồn từ ý đồ “mưu toan nghiệp lớn”, là một tầm nhìn xa rộng đến mai sau, vì lợi nhuận của muôn dân trăm họ. Bài viết đầy chất trí tuệ & tâm hồn ấy được biểu đạt bằng cách thức biền văn chuẩn mực. Cách thức này đã góp phần không nhỏ vào hiệu quả của đoạn văn. Thử nêu một chẳng hạn về phép đối, ví dụ, đối ý, đối lời, đối thanh, đối nhịp. Ở giai đoạn này, Author đã khá dụng công, chẳng hạn: ngay ở câu đầu hai vế: “Ở vào nơi trung tâm trời đất; được cái thế rồng cuộn hổ ngồi”, mỗi vế có bảy chữ, bằng trắc thay nhau thật du dương trầm bổng. Ấy là chưa nói xen giữa những câu dài là những câu ngắn có công dụng bắc cầu cho câu dài nối tiếp cái mạch văn đầy hứng khởi trào dâng. Ví dụ như câu: “Địa thế rộng mà bằng; đất đai cao mà thoáng”, sau đó tiết tấu dãn ra: “Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt; muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi”. Để sơ kết, cũng là để nhấn mạnh về ưu điểm tuyệt vời của thế đất Đại La, Author sử dụng nhịp văn dồn dập với những cách tôn vinh không đơn điệu: đã là nơi “thắng địa”, “chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương” còn là “nơi kinh đô bậc nhất”,… Lập luận & lí lẽ đến mức ấy thì cấu kết của bài dù chỉ là bỏ ngỏ (“Các khanh nghĩ thế nào?”) tưởng như chưa có hồi âm, nhưng thực ra thì đáp số đã nằm ngay trong đó.

Buổi lễ dời đô tuy trong sử sách là một công việc bình bình, tuỳ thuộc vào yếu tố khách quan (ý trời, vận nước), vào yếu tố chủ quan (tầm nhìn của người chèo chống), nhưng ở vào thời điểm Lí Cống Uẩn dời đô thì đó là một cái mốc, một bước đột phá to lớn, một buổi lễ phi thường. Cần có tiềm lực (vật chất, trí não đến một mức mà thời Đinh, Lê chưa có), cần phải có một khát vọng, một ý chí, đất nước đó mới đủ sức vươn lên bằng cách thoát ra cái vỏ bọc giam mình trong cái thế giậm chân tại chỗ. Nếu trong truyền thuyết có một Phù Đổng vươn vai đánh giặc giữ nước thì hành động của Lí Công uẩn chẳng phải là hành dộng đó hay sao, trong sự nghiệp dựng nước thời bình? Sự nghiệp ấy & bài vãn ấy như hai hiện tượng sóng đôi đã đi vào lịch sử & văn chương như một sự kế tục & khơi nguồn để con sông “đỏ nặng phù sa” của lòng yêu nước thêm sâu, thêm rộng.

Nghiên cứu tác phẩm Chiếu dời đô (Thiên đô chiếu) – Bài số 5

Trong những áng văn nghị luận trung đại, Chiếu dời đô của Lí Công Uẩn có một địa điểm trọng yếu. Nó là áng văn bắt đầu cho nền văn học thời Lí – Trần. Hơn nữa, nó là áng văn trước tiên trổ tài khát vọng về một quốc gia độc lập, thống nhất, hung cường & khí phách của dân tộc Đại Việt đang trên đà tiến triển.

Chiếu dời đô chào đời trong cục diện lịch sử khá đặc biệt. Tuy không phải là cục diện giặc thù đang lăm le ngoài biên ải, vận mệnh Tổ quốc lâm nguy như cục diện chào đời của . Cũng không phải không khí bừng bừng rộn ràng của cả dân tộc đang ca khúc khải hoàn như cục diện chào đời của Bình ngô đại cáo. Đây là cục diện quốc gia đã thái bình. Nhưng nền thái bình ấy còn mong manh, rủi ro giặc giã thôn tính Đại Việt chưa phải là hết. Đây là thời điểm dân tộc ta đã chiếm được chủ quyền, có núi sông riêng, cơ chế riêng, nhưng các triều đại Đinh- Tiền Lê tiếp nối nhau chào đời rồi cũng lập tức bại vong. Nhà Lí thành lập. Một trọng trách nặng nề đè nặng trên đôi vai vương triều họ Lí. Làm sao mà giữ yên giang sơn cương vực, bảo tồn được thành tích của cha ông đã chiếm được? làm sao để tiến triển quốc gia ngày càng hùng cường? Niềm trằn trọc ấy đã biến thành quyết định dời đô của Lí Thái Tổ(Lí Công Uẩn), & bài Chiếu đã chào đời. Hơn ai hết, Lí Công Uẩn thấu hiểu lí do phải dời đô cũng như lợi nhuận của việc dời đô.

Trong lịch sử nhân loại , đã có không ít những lần dời đô. Không xét đâu xa lạ, chỉ riêng một đất nước cận kề với Đại Việt là Trung Hoa, chỉ ở hai triều đại thôi cũng đã có tới vài lần phải biến đổi kinh đô: Xưa nhà Thương đến vua Bàn Canh năm lần dời đô, nhà Chu đến vua Thành Vương cũng ba lần dời đô. Việc dời đô của các vị đế vương Thương, Chu ấy phải đâu là những việc làm tùy tiện, theo ý riêng của mình. Đó là những việc làm có suy tính đến sự thiệt hơn, đến sự hưng thịnh, tồn vong của giang sơn, xã tắc, đến hạnh phúc bền lâu của trăm họ, muôn dân. Thật là một việc làm trên theo mệnh trời, dưới theo ý dân, đáng là tấm gương để đời sau noi theo.

Từ bài học của các đế vương Trung Hoa, đi sâu vào thực tiễn của Đại Việt, Lí Thái Tổ càng thấy giận dữ, trằn trọc: Kinh Đô của Đại Việt đóng ở Hoa Lư, nơi đất hẹp hè thưa, địa thế tuy có hiểm trở nhưng đâu phải là nơi thuận lợi cho việc giao lưu tiến triển, làm sao vận nước có lẽ bền lâu, phong tục có lẽ phồn vinh như các triều đại Thương, Chu bên Trung Quốc? & thực tiễn là số vận của hai nhà Đinh, Lê không được lâu bền, số vận ngắn ngủi & trăm họ phải hao tổn, muôn vật không được thích ứng há chẳng phải là điều đang diễn ra đó sao?

Không những giận dữ, trằn trọc, nhà vua còn cảm thấy rất chua xót về việc đó. Thiện cảm chân tình của ông là khát vọng về quốc gia độc lập, thống nhất, hùng cường. Khát vọng ấy biến thành ý chí hành động chẳng thể chuyển dời.

Khởi đầu từ một khát vọng to lớn, cao thượng, với một địa điểm mẫn tiệp, với tầm nhìn xa, trông rộng của một bặc thiên tài kiệt xuất, vị đế vương nhà Lí đã tìm được cho dân tộc ta một địa danh lí tưởng để định đô bền lâu. Đó là thành Đại La.( Hà Nội ngay nay). Nhà vua chỉ rõ các bá quan văn võ, cho thần dân cả nước thấy được những lợi thế vô cùng lớn của thành Đại La mà không nơi nào trên đất nước Đại Việt có được.

Đầu tiên, về địa điểm địa lí ở vào nơi trọng tâm trời đất, được cái thế rồng cuốn hổ ngồi. Đã đúng ngôi nam bắc đông tây, lại tiện góc nhìn sông dựa núi. Địa thế rộng mà bằng, đất đai cao mà thoáng. Dân cư khỏi phải chịu cảnh khốn khổ ngập lụt, muôn vật cũng rất mực đa dạng, tốt tươi.

Thứ hai, về chính trị, văn hóa thật là chốn hội tụ quan trọng của bốn hướng, cũng là nơi kinh đô vị trí đầu tiên của đế vương muôn đời.

Đóng đô ở một nơi như vậy hỏi làm sao vận nước có lẽ ngắn ngủi, trăm họ có lẽ hao tổn, muôn vật có lẽ không được thích ứng? Chắc rằng là vận nước sẽ được bền lâu, phong tục sẽ được phồn vinh, trăm dân muôn họ sẽ được an hưởng thái bình hạnh phúc. Hỏi có còn mơ ước gì hơn? Một khát vọng thật đẹp. Khát vọng của Lí Thái Tổ cũng là khát vọng của những người dân Đại Việt lúc ấy & cả sau này.

Chiếu dời đô đã đánh trúng vào niềm khao khát xây dựng một quốc gia độc lập, thống nhất, hùng cườngcuar cả dân tộc nên nó được mọi người nồng nhiệt hưởng ứng. Một kinh đô mới đã chào đời & tồn tại trọn đời.

Chiếu dời đô chẳng những trổ tài một khát vọng lớn, nó còn trổ tài được khí phách của dân tộc Đại Việt đang trên đà tiến triển.

Do thế & lực còn yếu, chưa đủ sức để đối phó với nạn ngoại xâm nếu định đô ở đồng bằng, nên hai nhà Đinh, Lê phải chọn Hoa Lư làm kinh đô mong dựa vào địa thế hiểm trở để bảo tồn vương triều, giữ vững chủ quyền. Bởi chưa tiến triển nên số vận ngắn ngủi, trăm họk phải hao tổn là lẽ dĩ nhiên.

Nhưng nay, nhà Lí là sự kế tục sự nghiệp của các triều đại cha anh,có thế đã tiến triển hơn. Nhưng dù có tiến triển hơnhay chưa thực sự tiến triển thì quyết định dời đô của vị Thái Tổ họ Lí cũng đã cam kết được khí phách người hùng, dám chống chọi với mọi thử thách, vững tin vào khả năng của mình. Khí phách của vị đế vương trước tiên của nhà Lí cũng là khí phách của cả một vương triều, của cả một dân tộc đang trên đà tiến triển.

Ngày nay, càng đọc kĩ Chiếu dời đô, càng suy ngẫm kĩ về quan niệm bài Chiếu, ta càng thấy thấm thía sự sang suốt & quyết định chuẩn xác của một bậc đế vương hào kiệt, càng thêm nhớ ơn ông đã đặt nền tảng cho sự vững chắc, hưng thịnh bền lâu của quốc gia, càng thêm cảm phục & quý mến ông.

Nguyễn Tuyến đo đạc

Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Khoa học vũ trụ
XEM THÊM  Luận giải Sao Phục Binh ở mệnh và cung khác