Rắn hổ mang chúa

Hiện trạng bảo tồn

Sắp khẩn cấp (IUCN 3.1)[1]

Sắp khẩn cấp

Phân loại khoa học

Giới ()

Animalia

Nghề ()

Chordata

Lớp ()

Reptilia

Bộ ()

Squamata

Họ ()

Elapidae

Chi ()

Loài ()

Danh pháp hai phần

 

 Bản đồ phân bố của loài

Danh pháp đồng nghĩa

Cấp chi:

  • Schlegel, 1837
  • Cantor, 1838 ( Hübner, 1804: đồng nghĩa muộn)
  • Elliott, 1840

Rắn hổ mang chúa, hay còn tồn tại cái tên là rắn hổ mây (danh pháp hai phần: ), là loài rắn độc thuộc họ Elapidae (họ Rắn hổ), phân bố chủ đạo trong các vùng rừng nhiệt đới trải dài từ Ấn Độ đến Đông Nam Á.[2]. Loài rắn này đang bị đe dọa do mất môi trường sống & được liệt kê là loài sắp khẩn cấp trong sách đỏ IUCN từ năm 2010.[1] Hổ mang chúa là loài rắn độc dài nhất toàn cầu với bề dài bình quân từ 3,18 đến 4 mét, cá thể dài nhất từng được ghi nhận là 5,85 mét.[3].

Dù rằng danh từ “” nằm trong cái tên thông thường của loài rắn này nhưng chúng không thuộc chi Naja (). Đây là loài duy nhất thuộc chi .[2] Con mồi của rắn hổ mang chúa chủ đạo là những loài rắn khác, thậm chí loài rắn này còn ăn thịt đồng loại. Khi con mồi chủ đạo khan hiếm, rắn hổ mang chúa sẽ ăn một vài loài nhỏ có xương sống như thằn lằn, gặm nhấm.[4][5]

Rắn hổ mang chúa được nhìn nhận là loài bất trắc & đáng sợ trong phạm vi sinh sống của chúng,[6][7] dù rằng loài rắn này không chủ động tấn công loài người.[8] Rắn hổ mang chúa là biểu tượng nổi trội trong huyền thoại & truyền thống dân gian tại Ấn Độ, Sri Lanka & Myanmar;[9][10] được tôn sùng trong các tín ngưỡng văn hóa Hindu giáo ở tiểu lục địa Ấn Độ.[11] Đây là loài bò sát đất nước của Ấn Độ.[12]

Danh sách

  • 1

    Phân loại

  • 2

    Bề ngoài

    • 2.1

      Kích cỡ

    • 2.2

      Da & sự lột xác

    • 2.3

      Vảy

    • 2.4

      Cấu tạo xương sọ

    • 2.5

      Mang

    • 2.6

      Mắt

    • 2.7

      Tuổi thọ

  • 3

    Phân bố & môi trường sống

  • 4

    Tập tính

    • 4.1

      Săn mồi

    • 4.2

      Thực đơn

    • 4.3

      Phòng ngự

    • 4.4

      Tiếng huýt gầm ghè

    • 4.5

      Sinh sản

  • 5

    Nọc độc

  • 6

    Mối đe dọa tuyệt chủng

  • 7

    Bảo tồn

  • 8

    Trong văn hóa đại chúng

  • 9

    Ghi chú

  • 10

    Đọc qua

  • 11

    Link ngoài

Phân loại

[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Năm 1836 nhà con vật học người Đan Mạch Theodore Edward Cantor diễn đạt bốn mẫu vật rắn hổ mang chúa lần trước hết với danh pháp khoa học là , ba mẫu được bắt giữ ở Sundarbans & một mẫu ở vùng sát bên gần Kolkata.[13] Năm 1837, danh pháp được Hermann Schlegel đề nghị nhằm miêu tả một mẫu động vật học về rắn hổ mang chúa trên đảo Java.[14] Năm 1838, Cantor đề nghị danh pháp cho loài này & diễn đạt rằng loài có dấu hiệu răng miệng trung gian giữa hai chi & .[15] Năm 1840, danh pháp được Walter Elliot đề nghị dành riêng cho một cá thể rắn hổ mang chúa bị tóm gọn ngoài khơi gần Chennai.[16] Năm 1858, danh pháp được Albert Günther đề nghị dành riêng cho những mẫu vật rắn hổ mang chúa tại Philippines & đảo Borneo. Günther suy xét gộp chung cà hai loài & thành .[17] Chi được Günther đề nghị vào năm 1864.[18] Danh pháp được đặt khời nguồn từ khuynh hướng ăn thịt các loài rắn khác của rắn hổ mang chúa.[19] Đến năm 1882, danh pháp được Alexander Willem Michiel van Hasselt đề nghị dành riêng cho một cá thể loài này bị tóm gọn gần Tebing Tinggi tại miền bắc đảo Sumatra.[20]

Năm 1945, đã được Charles Mitchill Bogert đồng ý sử dụng làm danh pháp hợp lệ cho rắn hổ mang chúa, ông nghĩ rằng loài rắn này độc đáo đáng kể với những loài thuộc chi .[21] Một nghiên cứu di truyền sử dụng sắc tố tế bào b[22] & nghiên cứu đa gen cho biết rắn hổ mang chúa là một nhánh ban đầu của dòng dõi di truyền sản chào đời rắn mamba, chứ không phải rắn hổ mang .[23]

Một nghiên cứu phát sinh loài từ DNA ty thể cho biết rằng mẫu vật tại tỉnh Surattani & Nakhon Si Thammarat ở miền nam Thái Lan tạo ra một nhánh độc đáo sâu sắc với mẫu vật tại miền bắc Thái Lan, gộp nhóm với mẫu vật từ Myanmar & Quảng Đông ở miền nam Trung Quốc.[24]

Bề ngoài

[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Kích cỡ

[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Hình ảnh nghiên cứu vùng đầu

Bề dài bình quân của một con rắn trưởng thành đạt khoảng 3,18 đến 4 m (10,4 đến 13,1 ft), còn cân nặng bình quân khoảng 6 kg (13 lb). Trong lịch sử, mẫu vật dài nhất được nghe đến giữ lại tại sở thú London, lớn mạnh bề dài quanh khoảng 5,6 đến 5,7 m (18 đến 19 ft) trước khi chết nhân đạo do đúng thời điểm bùng phát ra Chiến tranh thế giới thứ 2. Vào năm 1951, mẫu vật hoang dại nặng nhất được Câu lạc bộ hoàng tộc quốc đảo Singapore bắt giữ, có cân nặng 12 kg (26 lb) & bề dài 4,8 m (15,7 ft). Đến năm 1972, một mẫu vật nuôi nhốt khác thậm chí nặng hơn được giữ lại tại công viên động vật học New York, đo đạc cân nặng 12,7 kg (28 lb) & bề dài 4,4 m (14,4 ft).[25] Rắn hổ mang chúa là loài lưỡng hình về giới tính, với con đực lớn hơn & đặc biệt là màu sắc nhạt hơn trong mùa sinh sản. Những con đực bị tóm gọn ở Kerala dài tới 3,75 mét (12,3 ft) & nặng tới 10 kg (22 lb). Những con cháu bị tóm gọn có bề dài tối đa 2,75 mét (9 ft 0 in) & trọng lượng 5 kg (11 lb).[26] Con rắn hổ mang chúa lớn nhất được nghe đến dài 5,59 mét (18 ft 4 inch) & bị tóm gọn ở Thái Lan.[27] Nó khác với các loài rắn hổ mang khác ở kích cỡ & mui đầu. Nó to hơn, có sọc hẹp hơn & dài hơn trên cổ.[28][29] Bề dài & khối lượng của loài rắn này lệ thuộc vào môi trường sống cùng một vài yếu tố khác. Dù rằng có kích cỡ lớn lao, rắn hổ mang chúa rất nhanh chóng nhẹn & linh động.[30] Một số loài rắn độc khác, ví dụ như rắn chuông lưng đốm thoi miền đông & rắn hổ lục Gaboon, thường có bề dài ngắn hơn nhiều nhưng thân thể lớn hơn, có khối lượng bình quân ngang ngửa với hổ mang chúa.

Da & sự lột xác

[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Rắn có da sáng màu do sống tại nơi nhiều ánh sáng

Rắn có da tối màu do sống tại nơi ít ánh sáng

Tùy vào môi trường sinh sống mà da rắn hổ mang chúa có màu sắc khác nhau,[31] thông thường rắn sống nơi nhiều ánh sáng, vùng sông suối, ao hồ có da sáng màu; còn rắn sống nơi ít ánh sáng, vùng rừng sâu, núi cao, hang động có da tối màu.[32] Da ở phần đầu & lưng có màu sắc biến thiên theo môi trường sống,[28][29] phạm vi màu sắc từ đen chì, cháy nắng, ôliu nâu đến xám nâu, trắng xám.[33] Các vạch kẻ màu trắng hoặc vàng mờ nhạt chạy xuôi theo bề dài thân thể.[34] Phần bụng có màu kem hoặc vàng nhạt, vảy mịn.[33] Phần cổ có màu vàng sáng hoặc màu kem.[7][35]

Chu kỳ lột da của rắn hổ mang chúa trưởng thành khoảng 4 – 6 lần trong năm, còn rắn con lột da mỗi tháng. Biểu hiện trước hết báo hiệu rắn chuẩn bị bước vào giai đoạn lột da là cặp mắt. Cặp mắt không còn trong suốt mà biến thành màu sữa đục. Đến khi cặp mắt trong trở lại là rắn khởi đầu lột xác. Rắn cọ xát thân thể mình vào mặt phẳng, khía cạnh thô ráp; chúng cần khoảng 10 ngày để lột bỏ hết lớp da cũ.[32] Một làn da nhạy cảm mới hiện ra ngay sau khoảng thời gian chúng lột bỏ lớp da cũ. Đây là những khoảng thời gian nhạy cảm nhất so với loài rắn này. Do da còn non yếu nên rắn không đi săn mồi, nhất là những con mồi có khả năng chống trả cao. Thông thường, khi sống gần khu cư dân, đến giai đoạn lột da, rắn hổ mang chúa sẽ tìm đến khu cư dân (nhất là phòng bếp), tìm nơi trú ẩn tốt, chẳng những vì thức ăn mà còn mong muốn được sưởi ấm. Vì vậy, người dân không quá khó gặp bất trắc nếu tiếp xúc với rắn & rắn cắn trả lại theo phản xạ tự vệ.[36]

Rắn con còn nhỏ có lớp da đen tuyền & những vạch kẻ hẹp hình chữ V màu vàng hoặc trắng[7] (có thể bị lầm lẫn với loài rắn cạp nong, nhưng đơn giản xác nhận nhờ vùng mang cổ khá rộng của loài). Những vạch kẻ này thường mờ dần theo tuổi tác, có thể mất hút hoàn toàn, dù rằng vậy chủ yếu rắn trưởng thành vẫn phô bày những vạch kẻ này trên da suốt đời.[35]

Vảy

[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Vảy rắn bao phủ khắp cơ thể, cấu trúc từ keratin.[32] Vảy lưng xuôi theo trọng tâm thân thể rắn gồm khoảng 15 hàng. Con đực có 235 đến 250 vảy bụng, trong lúc con cháu có 239 đến 265 vảy. Vảy đuôi đơn lẻ hoặc ghép cặp trong mỗi hàng, khoảng 83 đến 96 ở con đực & 77 đến 98 ở con cháu.[30] Số lượng & sự xếp đặt của vảy hầu hết không có gì biến đổi sau mỗi lần thay da. Vảy trên lưng nhỏ & tròn, còn vảy dưới bụng dài, rộng, căng ra toàn thể chiều rộng bụng rắn & xếp thành một cột duy nhất theo khuynh hướng xuống.[2][30][32]

Cấu tạo xương sọ

[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Rắn trưởng thành có phần đầu khá lớn lao & khổng lồ, dù rằng giống như toàn bộ các loài rắn khác, loài rẳn này có thể mở rộng quay hàm nuốt mồi lớn nhờ hai xương khớp nối lỏng lẻo nhau tại hàm dưới.[32] Với cấu tạo bộ răng proteroglyph, nghĩa là sở hữu cặp răng nanh ngắn cố định tại hàm trên, phía trước miệng kèm theo hệ thống tiết nọc độc vào con mồi.[2][8]

Mang

[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Giống như các loài rắn hổ mang khác, rắn hổ mang chúa có khả năng phồng mang, bành rộng phần cổ ra do nếp gấp của lớp da lỏng lẻo hai bên cổ.[32] Rắn phồng mang rộng ra khi gặp bất trắc hoặc bị kích động, xương sườn kéo dài, mở rộng vùng da ra bên ngoài cổ, tạo nên hình dạng như mui xe phía trước thân thể. Với phương pháp này, rắn hổ mang chúa sẽ ngụy trang thân hình của mình lớn hơn bình bình rất là nhiều, giúp rắn uy hiếp kẻ địch.[28]

Không những thế, phần mang cổ của rắn hổ mang chúa hẹp hơn & dài hơn đối với các loài rắn hổ mang khác.[8][32]

Mắt

[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Rắn hổ mang chúa sở hữu cặp mắt đen tròn sáng[32] & mi mắt trong suốt; có nghĩa là rắn hổ mang chúa không khi nào chớp mắt, rất hữu ích khi săn mồi. Khi bị trầy xước, lớp mi này mau chóng bong tróc & được thay thế bằng một lớp khác.

Tuổi thọ

[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Rắn hổ mang chúa hoang dại có tuổi thọ bình quân khoảng 20 năm.[37] Tuổi thọ tối đa ước lượng được 30 năm.[38]

Phân bố & môi trường sống

[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Rắn hổ mang chúa phân bố trong tự nhiên tại các đất nước Ấn Độ, Nepal, Bhutan, Bangladesh, Trung Quốc, Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia, Viet Nam, Malaysia, Indonesia, Philippines, Singapore.[1]

Tại bắc Ấn Độ, rắn hổ mang chúa sinh sống ở Garhwal & Kumaon, tại dãy núi Shivalik & khu vực Terai thuộc Uttarakhand & Uttar Pradesh.[39][40][41] Tại đông bắc Ấn Độ, rắn hổ mang chúa ghi nhận tại Tây Bengal, Sikkim, Assam, Meghalaya, Arunachal Pradesh, Nagaland, Manipur & Mizoram.[42][43] Tại dãy núi Ghat Đông, rắn sinh sống tại Tamil Nadu vàAndhra Pradesh đến duyên hải Odisha & cả ở Bihar & miền nam Tây Bengal, đặc biệt là Sundarban.[13][42][44] Tại dãy núi Ghat Tây, rắn sinh sống tại Kerala, Karnataka & Maharashtra, & cả ở Gujarat.[42][45][46][47] Loài này cũng hiện ra trên đảo Baratang trong chuỗi Đại Andaman.[48]

Rắn hổ mang chúa sinh sống tại sinh cảnh rừng rậm cao nguyên,[2][49] hay rừng mưa, đồng cỏ, đồng bằng.[28] Khu vực ưa chuộng rải rác hồ nước hoặc dòng suối. Chúng còn sống tại rừng nhiệt đới ẩm, rừng tre hoặc đầm lầy mọc cây đước,[32] hay những môi trường khác xum xê cây bụi & mưa nhiều. Khoảng từ 2000 m đối với mực nước biển.[50]

Tập tính

[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Săn mồi

[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Rắn hổ mang chúa, giống như những loài rắn khác, phụ trách tín hiệu hóa học thông qua chiếc lưỡi chẻ, đánh hơi (cảm thụ các phân tử mùi thơm trong không khí) bằng các tế bào cảm tưởng trên lưỡi, rắn mang đầu lưỡi chạm vào đơn vị thụ cảm tưởng quan (còn gọi là đơn vị Jacobson) nằm trên vòm họng để truyền các thông tin thu được đến bộ não.[2][29] Giác quan này cũng tương tự với khứu giác loài người. Khi hương vị con mồi được rắn phát hiện, co giật nhẹ ở lưỡi để nhận thấy địa điểm con mồi (các nhánh cùng lúc của lưỡi phát ra tiếng động); rắn cũng sử dụng thị giác xem xét (rắn có thể phát hiện con mồi di chuyển cách nó 100 m (330 feet)), một cách linh động[31] & nhạy cảm với rung động mặt đất nhằm theo dõi con mồi. Dù rằng rắn không có tai ngoài, nhưng chúng “nghe” bằng cách cảm giác rung động sóng âm qua da, cộng hưởng xuyên qua hộp sọ, truyền đến xương vuông (kế bên xương tai), sau đó truyền vào màng nhĩ bên trong.[32]

Rắn hổ mang chúa có khả năng kiềm chế lượng chất độc khi cắn con mồi. Loài rắn này tiết ra chất độc & chứa trong 1 túi cơ của tuyến nọc nằm ở vòm họng. Túi cơ này sẽ co bóp mang nọc độc đến răng nanh khi chúng tấn công con mồi. Trong nọc độc của rắn hổ mang có độc tố ảnh hưởng đến hệ thần kinh, khiến cho con mồi bị tê liệt thần kinh & mê man. Trong một số trường hợp loài rắn này không phóng ra nọc độc khi cắn.

Sau thời điểm cắn vào con mồi, rắn sẽ khởi đầu nuốt con mồi đang giãy giụa trong lúc nọc độc khởi đầu công cuộc tiêu hóa mồi. Rắn hổ mang chúa, giống như toàn bộ các loài rắn, có quai hàm linh động. Bộ xương hàm được connect bởi các dây chằng dẻo dai như dây cao su, cho phép xương hàm dưới di chuyển độc lập. Điều này cho phép rắn nuốt cả con mồi của nó, cũng như cho phép rắn nuốt con mồi to hơn nhiều đối với phần đầu.[2][29]

Rắn hổ mang chúa sống trên mặt đất, nhưng leo cây & bơi lội rất giỏi.[29] Tuy thân hình lớn lao nhưng vận tốc di chuyển của rắn hổ mang chúa khá nhanh. Rắn có thể săn mồi suốt cả ngày, ít khi bắt gặp chúng vào ban tối trong lúc chủ yếu những loài rắn hổ mang khác (thuộc chi Naja) hoạt động về đêm.[7] Nghề bò sát học phân loại rắn hổ mang chúa là động vật hoạt động ban ngày.[2][4]

Thực đơn

[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Loài này thuộc chi , một ngôn ngữ khởi nguồn trong tiếng Hy Lạp cổ có nghĩa là ““. Đúng như vậy, con mồi của rắn hổ mang chúa chủ yếu là những loài rắn khác, bao gồm rắn săn chuột, trăn nhỏ và thậm chí nhiều loài rắn độc khác ví dụ như những thành viên khác nhau thuộc chi Naja (chi rắn hổ mang thật sự), và chi Bungarus (chi rắn cạp nia).[4][5] Khi thức ăn khan hiếm, chúng cũng có thể ăn các loài có xương sống nhỏ khác, chẳng hạn thằn lằn, chim và gặm nhấm. Trong một số trường hợp, rắn hổ mang chúa có thể “siết chặt” con mồi, chẳng hạn chim hay động vật gặm nhấm lớn, sử dụng thân thể bắp thịt của chúng, dù rằng những trường hợp này không thông dụng.[2][5] Sau bữa ăn lớn, con rắn có thể sống trong nhiều tháng mà không cần săn mồi nhờ có một tỷ lệ thỏa thuận chất chậm rãi trong thân thể.[2][28][29] Thức ăn thông dụng nhất của rắn hổ mang chúa là rắn săn chuột; quãng đường đuổi bắt mồi thường mang rắn hổ mang chúa đến gần khu cư dân.

Phòng ngự

[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Rắn hổ mang chúa đang nâng 1/3 thân thể lên trong tư thế phòng thủ

Khi gặp bất trắc, rắn hổ mang chúa sẽ nỗ lực trốn thoát mau chóng & tránh cạnh tranh.[34] Không những thế, nếu tiếp tục bị khiêu khích, rắn hổ mang chúa trở nên rất hung tợn.[7][37]

Khi đương đầu, rắn hổ mang chúa sẽ nâng phần trước (thường là 1/3) thân thể lên (khoảng 1,5 m) & nhìn thẳng vào mắt địch thủ, phồng mang rộng, lộ rõ cặp răng nanh & huýt lên ầm ĩ.[8][37][51] Rắn hổ chúa có thể đơn giản bị kích động do đối tượng tiếp cận gần hay chuyển động đột ngột. Khi nâng thân thể lên cao, rắn hổ mang chúa vẫn có thể di chuyển nhanh về phía trước để tấn công dù ở khoảng cách xa[37] & đối phương có thể nhận xét sai phạm vi an toàn. Rắn hổ mang chúa có khả năng cắn nhiều vết trong một lần tấn công duy nhất[6] nhưng rắn trưởng thành biết cách cắn & giữ chặt. Đó là phương pháp phòng thủ của loài rắn này khi sống tại vùng rừng ít cư dân & rừng nhiệt đới xum xê.[8][37] Vì vậy nạn nhân bị hổ mang chúa cắn thường là người thôi miên rắn.[8]

Một số nhà khoa học tin rằng tính khí hung tợn của loài này đã được thổi phồng mức. Chủ yếu chạm trán tại chỗ trong cuộc đời với rắn hổ chúa hoang dại, con rắn hiện ra tính khí khá trầm tĩnh, chúng thường chấm dứt bị giết hoặc khuất phục do bất kỳ những kích động thần kinh khó. Nhiều ủng hộ ý kiến nghĩ rằng rắn hổ mang chúa hoang dại thường có tính khí ôn hòa, dù rằng chúng thường xuất bây giờ khu vực nhà cửa san sát hay bị ảnh hưởng, nhưng rắn rất giỏi tránh loài người. Nhà con vật học Michael Wilmer Forbes Tweedie cảm giác rằng “khái niệm này được dựa trên xu hướng chung nhằm làm lắng dịu tất cả thuộc tính của loài rắn mà ít quan tâm đến sự thật về chúng. Phản ánh tại một thời điểm cho thấy rằng điều này phải được như vậy, đối với loài rắn hổ chúa không phải hiếm, thậm chí trong khu vực dân cư, có ý thức hay vô thức, người dân phải chạm trán rắn hổ mang chúa khá thường xuyên. Nếu con rắn thực sự thường xuyên hung hăng, kết quả rắn cắn người hay xảy ra, do đó cực kỳ hiếm rắn hung hăng”.[52][53]

Nếu rắn hổ chúa gặp một kẻ địch tự nhiên, chẳng hạn như chồn mangut, loài chồn có khả năng kháng nọc độc thần kinh, rắn thường nỗ lực lẫn trốn.[54] Nếu như không thể làm như thế, chúng sẽ phồng mang & phát ra một tiếng huýt, đôi lúc giả vờ ngậm chặt miệng. Những cố gắng này thường minh chứng rất hiệu quả, đặc biệt so với kẻ địch bất trắc hơn nhiều đối với loài chồn, chẳng hạn như các loài động vật có vú nhỏ có thể giết rắn một cách đơn giản.

Một cách phòng thủ an toàn khi loài người tự dưng gặp rắn hổ mang chúa là chầm chậm tháo bỏ áo sơ mi hoặc mũ & quăng nó xuống đất trong lúc đang di chuyển lùi về phía sau.[55]

Tiếng huýt gầm ghè

[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Tiếng huýt của rắn hổ mang chúa có cường độ ít hơn nhiều đối với nhiều loài rắn khác. Nhiều người nghĩ rằng tiếng động mình nghe được từ rắn hổ mang chúa giống như một “tiếng gầm” hơn là một tiếng huýt.[56] Trong lúc tiếng huýt của chủ yếu các loài rắn có tần số khoảng từ 3.000 đến 13.000 Hz với tần số vượt trội gần 7.500 Hz, tiếng gầm ghè của rắn hổ mang chúa có tần số khoảng dưới 2500 Hz, với tần số vượt trội gần 600 Hz, ít hơn nhiều đối với tần số giọng nói người. So sánh hình thái nghiên cứu phẫu thuật học đã dẫn theo một phát hiện rằng túi thừa khí quản có tính năng cộng hưởng tần số thấp trong tiếng gầm của rắn & con mồi, loài rắn chuột vùng rừng ngập mặn, cả hai đều có thể phát ra tiếng gầm ghè cũng giống như nhau.[56]

Sinh sản

[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Rắn con & vạch chữ V trên thân phân biệt với các loài rắn hổ mang khác

Rắn hổ mang chúa giao phối vào khoảng tháng 1-3. Khi di chuyển trong rừng, rắn cái tiết ra chất pheromone. Đây là cách chúng để lại mùi thân thể lôi kéo rắn đực tìm đến giao phối.[28][32] Nếu nhiều con rắn đực cùng hiện ra chúng sẽ vật lộn hay cố xô đẩy địch thủ tranh bạn tình. Khi gặp được rắn cái, việc trước hết của rắn đực là tán tỉnh & dò hỏi phản ứng của đối phương.[29] Chủ yếu rắn cái đều có thói quen dự phòng những con rắn đực lớn. Rắn đực thường ngửi vào thân rắn cái để dò hỏi, biểu lộ ý mong muốn, nhằm bảo đảm an toàn. Rắn đực thường xoa đầu mình vào thân rắn cái. Nếu rắn cái có dấu hiệu dè đặt giao phối thì rắn đực sẽ húc hoặc đẩy nhẹ vào thân rắn cái.[28] Sau thời điểm rắn cái ưng thuận thì cả hai sẽ bước vào công cuộc giao phối. Hai con rắn quấn thân thể vào nhau theo hình xoắn dây. Rắn cái ngẩng cao cái đầu trong lúc rắn đực tiến hành giao phối. Hoạt động này thường kéo dài khoảng vài giờ.[29]

Rắn cái mang thai khoảng từ 50 đến 59 ngày.[57] Chúng đẻ trứng vào khoảng cuối tháng ba đến cuối tháng năm.[58] Rắn hổ mang chúa là loài rắn duy nhất trên toàn cầu biết làm tổ đẻ trứng.[37] Rắn cái dùng lá khô & mảnh vụn để đắp tổ hình gò đất. Chủ yếu các tổ nằm ở gốc cây, chiếc tổ cao 55 cm (22 in) ở trọng tâm & rộng 140 cm (55 in) ở phần gốc.[59] Rắn cái thường đẻ khoảng 20 đến 40 trứng vào tổ.[7][28][32][51] Tổ gồm 2 hốc, hốc thấp bên dưới dùng để chứa trứng, hốc cao bên trên là nơi rắn cái cư trú, bảo vệ trứng. Rắn cái cất giữ trong tổ cho đến lúc trứng nở, kiên định bảo vệ gò tổ, canh chừng dự phòng bất kỳ sinh vật lớn nào đe dọa tiến đến gần, đây là thời điểm rắn cái khá hung hăng.[37][51] Quả trứng có chiều rộng từ 23 đến 33 mm, bề dài từ 31 đến 73 mm & nặng từ 18,4 đến 40 g.[57] Rắn cái tận dụng sức nóng của thảm lá khô, quấn tròn ấp tổ trứng từ 51 đến 79 ngày.[57] Nhiệt độ trong tổ thường rơi vào khoảng 26 đến 29,5 °C (78,8 đến 85,1 °F) với độ ẩm tương đối từ 80% đến 90%.[59] Ngay trước khi trứng nở, bản năng tác động rắn cái rời khỏi tổ đi săn mồi, chấm hết mọi quan hệ với rắn con.[7] Sau một mùa giao phối, rắn cái có thể tích trữ tinh trùng rắn đực trong vài năm, sử dụng như kho lưu trữ để thụ thai cho chính nó vào mùa sau, dù rằng vậy hiện tượng này không thông dụng.[29][32]

Rắn non khi mới nở bình quân dài 37,5 & 58,5 cm (14,8 & 23,0 in) & nặng 9 đến 38 g (0,32 đến 1,34 oz).[58] Có đầy đủ tuyến nọc độc như rắn trưởng thành. Da rắn con có các vạch màu sáng, nhưng những vạch màu sẽ nhạt dần hoặc mất hút khi chúng trưởng thành. Rắn con thường cẩn trọng & dễ bị kích thích, chúng sẽ rất hung tợn nếu bị quấy rầy.[8]

Nọc độc

[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Hộp sọ rắn hổ mang chúa với 2 răng nanh

Nọc độc của rắn hổ mang chúa chủ đạo thuộc nhóm neurotoxin (độc tố thần kinh), được biết như [60] & một vài hợp chất khác.[4][61] Độc tính LD50 phân tích trên chuột biến thiên từ 1,31 mg / kg tại tĩnh mạch[62] & 1,644 mg / kg tại phúc mạc[62] đến 1,7-1,93 mg / kg dưới da.[63][64][65]

Rắn hổ mang chúa có khả năng giáng một vết cắn từ trần & nạn nhân bị tiêm vào thân một lượng lớn nọc độc với liều khoảng 200 đến 500 mg[8][66][67] hoặc thậm chí lên đến 7 ml.[37] Engelmann & Obst (1981) liệt kê liều lượng nọc độc bình quân khoảng 420 mg (trọng lượng thô).[64] Theo đó, một lượng lớn chất kháng nọc độc có thể đủ để đảo ngược sự lớn mạnh dấu hiệu trúng độc khi bị rắn cắn.[6] Nọc độc tấn công hệ thần kinh trung ương của nạn nhân, dẫn theo đau nhức, mờ mắt, chóng mặt, buồn ngủ, & cuối cùng tê liệt. Nếu thực trạng cực kỳ nghiêm trọng, chất độc tiến đến hệ tuần hoàn, nạn nhân rơi vào hiện trạng mê man. Qua đời mau chóng do bị suy hô hấp. Hơn nữa, nạn nhân còn tồn tại thể suy thận theo một vài xem xét vết cắn thử nghiệm dù rằng khả năng này không thông dụng.[68] Vết cắn của rắn hổ mang chúa có thể dẫn theo từ trần mau chóng[6][8] chỉ sau 30 phút.[6][69] Độc rắn hổ chúa thậm chí được ghi nhận có khả năng giết chết một con voi trưởng thành trong vòng vài giờ.[70] Theo ước tính, lượng nọc độc tiết ra trong một vết cắn có khả năng gây từ trần cho khoảng 20 – 30 người trưởng thành còn nếu như không được chữa trị.[37]

Có hai loại huyết thanh kháng độc được dùng điều trị rắn cắn. Hội Chữ thập đỏ Thái Lan sản xuất một loại, Viện phân tích trung ương Ấn Độ sản xuất loại sót lại. Không những thế, cả hai được dùng với số lượng nhỏ, trong khi sẵn có đặt mua, vẫn không được tích trữ nhiều.[71] Ohanin, một thành phần protein của nọc độc, gây ra triệu chứng di động dưới & nhạy đau quá mức ở động vật có vú.[72] Các thành phần khác có cardiotoxic (gây suy tim)[73] cùng cytotoxic (tàn phá tế bào) & neurotoxic (tàn phá thần kinh).[74] Tại Thái Lan, hỗn hợp điều chế gồm alcohol & rễ củ nghệ dùng để ăn, được minh chứng lâm sàng có khả năng hồi phục thân thể khỏe mạnh, chống lại nọc rắn hổ mang chúa & độc tố thần kinh của những loài rắn khác.[75] Cách thức điều trị phù hợp & trực tiếp sẽ rất trọng yếu để tránh từ trần. Tiền lệ thành công được ghi nhận là một nạn nhân phục hồi & xuất viện sau 10 ngày nhờ điều trị bằng huyết thanh chuẩn xác & chăm bệnh trong viện.[69]

Trường hợp bị loài rắn này cắn khá hiếm & chủ yếu nạn nhân kiềm chế được con rắn.[8] Không phải toàn bộ vết cắn đều chứa độc nhưng thường được xem là có tầm trọng yếu y tế.[76] Tỷ lệ từ trần lâm sàng thay đổi giữa các vùng miền & lệ thuộc vào nhiều yếu tố, ví dụ tiến bộ của y tế bản địa. 1 cuộc thăm dò tại Thái Lan giải trình có 10 ca từ trần trên tổng số 35 nạn nhân bị rắn hổ mang chúa cắn, tỷ lệ từ trần đưa ra (28%) cao hơn đối với các loài rắn hổ mang khác.[77] Một giải trình rà soát 6 năm được thông báo của Cơ sở y tế Nam Ấn Độ cho biết 2/3 số nạn nhân bị rắn hổ mang chúa cắn được phân vào loại “nghiêm trọng”, dù rằng cuối cùng không từ trần do điều trị y tế phù hợp.[68] Ban phân tích độc tố lâm sàng tại Đại học Adelaide nêu ra tỷ lệ từ trần do rắn hổ mang chúa cắn khi không được điều trị khoảng 50 – 60%, có nghĩa khoảng một nửa vết cắn không gây từ trần do nọc độc.[63]

Mối đe dọa tuyệt chủng

[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Trong lịch sử, rắn hổ mang chúa được tôn trọng hoặc thậm chí tôn sùng do tín ngưỡng văn hóa địa phương trong phạm vi sinh sống của loài. Không những thế, ngày nay số lượng rắn hổ mang chúa sụt giảm đáng kể tại nhiều nơi phân bố. Do loài người phá rừng khai thác gỗ, lấy đất canh tác hay mở rộng đất an cư. Rắn hổ mang chúa cũng bị săn bắt lấy thịt, da, mật hoặc nọc độc phục vụ cho y học gia truyền Trung Quốc.[1] Loài này còn bị săn bắt bất hợp pháp với mục đích buôn lậu động vật quốc tế.[1][78]

Loài rắn này được liệt kê tại phụ lục II trong Công ước CITES.[50]

Bảo tồn

[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Một con rắn hổ mang chúa khá dài tại khu bảo tồn thuộc Ghats tây, Ấn Độ

Tại Ấn Độ, rắn hổ mang chúa được bảo vệ tại mục II của Luật bảo vệ thú hoang dã (1972) (đã sửa đổi) & ai giết rắn hổ mang chúa sẽ bị phạt tù đến 6 năm.[28][79] Tại hướng phía tây nam Ấn Độ, mảnh đất Ghats tây rộng rộng lớn, bao quanh dãy núi chạy dọc bãi biển. Mảnh đất này rộng đến 16.000 km2, được UNESCO thừa nhận là di sản thiên nhiên toàn cầu. Đây là mảnh đất cực kỳ phong phú sinh học. Ghats tây là nơi ẩm ướt nhất hành tinh. 40% lượng nước của Ấn Độ được phân phối cho sông, suối xuất phát điểm từ Ghats tây. Hiện Ghats tây là nơi mà số lượng loài rắn hổ mang chúa còn nhiều nhất toàn cầu. Nhiều khu bảo tồn rắn hổ mang chúa được quy hoạch tại đây để bảo tồn loài rắn này. Những cố gắng trọng yếu nhất để bảo tồn loài này được cài đặt tại Trạm phân tích rừng mưa Agumbe. Được thành lập do nhà phân tích bò sát Rom Whitaker & tài trợ bởi quỹ “Whitley Fund for Nature”, trạm hoạt động tác động bảo tồn rừng nhiệt đới khu vực, sử dụng rắn hổ mang chúa là loài biểu trưng. Trạm phân phối nền tảng cho phân tích sinh học loài này, thông tin hoạt động bảo tồn, liên quan đến sự gia nhập của những tổ chức phi chính phủ bản địa, cũng như chương trình dạy bảo tại trường học bản địa.[78] Việc bảo tồn rắn ở giai đoạn này rất thuận tiện, bởi người dân địa phương rất tôn trọng rắn hổ mang chúa, xem chúng như thần linh, không khi nào giết loài rắn này. Môi trường sống thích hợp, được bảo vệ nghiêm ngặt, nên rắn hổ mang chúa tại Ghats tây có điều kiện lớn mạnh rất tốt, đạt kích cỡ cực đại. Chúng sống được đến 30 năm & không khi nào ngừng lớn mạnh. Các nhà khoa học phân tích về rắn hổ mang chúa từ khắp toàn cầu đã tới mảnh đất này & ghi nhận rắn ở giai đoạn này có thể đạt kích thước dài 7m, nặng đến 35 kg.[80]

Tại miền nam Viet Nam, theo một số nguồn tạp chí thì rắn hổ mây là cái tên khác của loài rắn này, bởi vì tuy thân hình lớn lao, khổng lồ nhưng rắn di chuyển nhanh như mây gặp gió.[81] Rắn hổ mang chúa được cho là một món ăn có nhiều giá trị dinh dưỡng & bị săn bắn hơi nhiều trong tự nhiên. Đây là loài bị đe dọa tuyệt chủng ở mức khẩn cấp, quý giá nhóm IB quy định tại Nghị định 32/2006 của Chính phủ, hiện còn rất ít ngoài tự nhiên do bị săn bắt & bán buôn bất hợp pháp.[82]

Trong văn hóa đại chúng

[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Tại Myanmar, rắn hổ mang chúa thường được các nữ nghệ nhân múa rắn thôi miên trong nghi lễ. Nghệ nhân thôi miên thường là một nữ tu sĩ, thường xăm ba chữ tượng hình & hôn đỉnh đầu con rắn khi chấm dứt nghi lễ.[5][10] Tộc người Pakkoku xăm mình bằng mực trộn với nọc độc rắn hổ chúa trên thân thể trong một tuần, điều này có khả năng bảo vệ họ khỏi những con rắn, dù rằng không có chứng cớ khoa học xác thực.[83]

Rắn hổ mang chúa được chọn là biểu tượng động vật bò sát đất nước của Ấn Độ. Tại các nước thuộc tiểu lục địa Ấn Độ, theo văn hóa đạo Hindu, rắn hổ mang nói chung được link đến hai vị thần chính, là Shiva & Vishnu. Shiva, chiến binh “hủy diệt” khổ hạnh, quấn một con rắn xoay quang cổ thần. Vishnu được bảo vệ khỏi tia nắng mặt trời nhờ một con rắn hổ mang đồ sộ năm đầu được gọi là Kaliya, sinh vật từng là kẻ địch của thần. Dân cư rắn của toàn cầu ngầm, được gọi là , cũng chủ đạo tương đương rắn hổ mang. Theo huyền thoại, rắn hổ mang chúa được cho sở hữu bộ nhớ lưu trữ đặc biệt, hình ảnh kẻ giết rắn nằm trong mắt của con rắn đó, về sau khoảng thời gian điều tra, tìm kiếm thủ phạm giết rắn thần nhằm trả thù chỉ cần nhìn vào mắt. Bởi vì tin vào huyền thoại này, đặc biệt tại Ấn Độ, bất kì bao giờ một con rắn hổ mang chúa bị giết, phần đầu rắn hoặc bị nghiền nát hoặc đốt cháy để hủy hoại cặp mắt hoàn toàn.[11]

Ghi chú

[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

  1. ^

    Stuart, B.; Wogan, G.; Grismer, L.; Auliya, M.; Inger, R. F.; Lilley, R.; Chan-Ard, T.; Thy, N.; Nguyen, T. Q.; Srinivasulu, C.; Jelić, D. (2012). “”. . IUCN. 2012: e.T177540A1491874. doi:10.2305/IUCN.UK.2012-1.RLTS.T177540A1491874.en.

  2. ^

    Mehrtens, J. (1987). “King Cobra, Hamadryad ()”. . New York: Sterling. tr. 263–. ISBN 0-8069-6461-8.

  3. ^

    Ebook của các nhà khoa học nước ngoài đã đi thăm dò nhiều nơi sinh sống các loại rắn độc, đặc biệt là các loài hổ mang.

  4. ^

    Capula, Massimo; Behler (1989). . New York: Simon & Schuster. ISBN 0-671-69098-1.

  5. ^

    Coborn, John (tháng 10 năm 1991). . TFH Publications. tr. 30, 452. ISBN 978-0-86622-749-0.

  6. ^

    Davidson, Terence. “IMMEDIATE FIRST AID”. University of California, San Diego .

  7. ^

    Young, D. (1999). “Ophiophagus hannah”. . the King Cobra is undoubtedly a very dangerous snake (“Behavior” section)

  8. ^

    O’Shea, Mark (2008). . London, Cape Town, Sydney, Auckland: Bloomsbury Publishing Plc. ISBN 9781847730862.

  9. ^

    Minton, S.A., Jr. and M.R. Minton (1980). . New York: Charles Scribner’s Sons.

  10. ^

    Platt, S.G.; Ko, W.K. and Rainwater, T.R. (2012). “On the Cobra Cults of Myanmar (Burma)”. . 47 (2): 17–20.

  11. ^

    Taylor, David (1997). “King Cobra”. National Geographic Magazine. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 8 năm 2007 .

  12. ^

    “King Cobra – National Reptile of India”. indiamapped.

  13. ^

    Cantor, T. E. (1836). “Sketch of an undescribed hooded serpent, with fangs and maxillar teeth”. . 19: 87–93.

  14. ^

    Schlegel, H. (1837). “Le Naja Bongare. ”. . Amsterdam: Schonekat. tr. 476.

  15. ^

    Cantor, T. E. (1838). “A notice of the Hamadryas, a genus of hooded serpent with poisonous fangs and maxillary teeth”. . 6: 72–75.

  16. ^

    Elliot, W. (1840). “Description of a New Species of Naga, or Cobra de Capello”. . 11: 39–41.

  17. ^

    Günther, A. (1858). . London: Printed by order of the Trustees. tr. 219.

  18. ^

    Günther, A. C. L. G. (1864). “, Gthr.”. . London: Ray Society. tr. 340–342.

  19. ^

    O’Shea, Mark. . New Jersey, USA: Princeton University Press. tr. 96-97. ISBN 978-0-691-12436-0.

  20. ^

    Van Hasselt, A. W. M. (1882). “Eene Monster-Naja”. . 2. 17: 140–143.

  21. ^

    Bogert, C. M. (1945). “ Preoccupied for the King Cobra”. . 1945 (1): 47. doi:10.2307/1438180. JSTOR 1438180.

  22. ^

    Slowinski, J. B.; Keogh, J. S. (2000). “Phylogenetic Relationships of Elapid Snakes Based on Cytochrome b mtDNA Sequences”

    (PDF)

    . . 15 (1): 157–164. doi:10.1006/mpev.1999.0725. PMID 10764543.

  23. ^

    Figueroa, A.; McKelvy, A. D.; Grismer, L. L.; Bell, C. D.; Lailvaux, S. P. (2016). “A species-level phylogeny of extant snakes with description of a new colubrid subfamily and genus”. . 11 (9): e0161070. Bibcode:2016PLoSO..1161070F. doi:10.1371/journal.pone.0161070. PMC 

    5014348

    . PMID 27603205.

  24. ^

    Suntrarachun, S.; Chanhome, L.; Sumontha, M. (2014). “Phylogenetic analysis of the king cobra, in Thailand based on mitochondrial DNA sequences”. . 8 (2): 269–274. doi:10.5372/1905-7415.0802.289.

  25. ^

    Wood, . Sterling Pub Co Inc (1983), ISBN 978-0-85112-235-9

  26. ^

    Shankar, Pogiri Gowri; Whitaker, Romulus Earl; Ganesh, S.R. (Tháng 1 năm 2013). (bằng tiếng Anh).

  27. ^

    (bằng tiếng Anh). v.49 (1950-1951) . Ấn Độ: Bombay, Bombay Natural History Society. 1886. tr. 561. ISSN 0006-6982.

  28. ^

    “The Mystical King Cobra and Coffee Forests”. (bằng tiếng Anh). ngày 2 tháng 1 năm 2013.

  29. ^

    Jay Sharp. “The King Cobra”. (bằng tiếng Anh).

  30. ^

    . Cosmos Books Ltd. ISBN 988-211-326-5.

  31. ^

    Philadelphia Zoo – King cobra. philadelphiazoo.org

  32. ^

    “King cobra”. (bằng tiếng Anh).

  33. ^

    Capula, Macdonald (1990). . London and Sydney: Macdonald and Co Ltd.

  34. ^

    Cornett, Brandon (2012). King Cobra – . Reptile Knowledge

  35. ^

    Burnie, D. (2001). Animal. London: Dorling Kindersley.

  36. ^

    “Đến nơi rắn hổ mang chúa khổng lồ sống thành vương quốc”. . ngày 19 tháng 7 năm 2015.

  37. ^

    “National geographic- KING COBRA”. They are fiercely aggressive when cornered (line 28–29); average life span in the wild: 20 years (fast facts)

  38. ^

    “Đột nhập lãnh địa loài hổ mang chúa khổng lồ nặng… 30 kg”. . ngày 17 tháng 7 năm 2014 .

  39. ^

    Singh, A.; Joshi, R. (2016). “A first record of the King Cobra (Reptilia: Squamata: Elapidae) nest from Garhwal Himalaya, northern India”. . 31: 9–11.

  40. ^

    Dolia, J. (2018). “Notes on the distribution and natural history of the King Cobra ( Cantor, 1836) from the Kumaon Hills of Uttarakhand, India”. . 11: 217–222.

  41. ^

    Kanaujia, A., Kumar, A.; Kumar, A. (2017). “Herpetofauna of Uttar Pradesh, India”. . 9 (1): 118–130.

  42. ^

    Wallach, V.; Williams, K.L.; Boundy, J. (2014). . Florida: CRC Press, Taylor and Francis Group. tr. 507–508. ISBN 9781482208481.

  43. ^

    Bashir, T.; Poudyal, K.; Bhattacharya, T.; Sathyakumar, S.; Subba, J. B. (2010). “Sighting of King Cobra in Sikkim, India: a new altitude record for the northeast”. . 2 (6): 990–991. doi:10.11609/JoTT.o2438.990-1.

  44. ^

    Murthy, K.L.N.; Murthy, K.V.R. (2012). “Sightings of King Cobra in northern coastal Andhra Pradesh”. . 14: 29–32.

  45. ^

    Yadav, O. V.; Yankanchi, S. R. (2015). “Occurence [] of Cantor, 1836 (Squamata, Elapidae) in Tillari, Maharashtra, India”. . 8: 493–494.

  46. ^

    Shankar, P. G.; Ganesh, S. R.; Whitaker, R.; Prashanth, P. (2013). “King Cobra (Cantor, 1836) encounters in human-modified rainforests of the Western Ghats, India”. (36): 62–68.

  47. ^

    Palot, M. J. (2015). “A checklist of reptiles of Kerala, India”. . 7 (13): 8010–8022. doi:10.11609/jott.2002.7.13.8010-8022.

  48. ^

    Manchi, S.; Sankaran, R. (2009). “Predators of swiftlets and their nests in the Andaman and Nicobar Islands”. . 5 (4): 118–120.

  49. ^

    Miller, Harry (tháng 9 năm 1970). “The Cobra, India’s ‘Good Snake

    ”. . 20: 393–409.

  50. ^

    “CITES List of animal species used in traditional medicine”

    (PDF)

    .

  51. ^

    Piper, Ross (2007).

    (PDF)

    . Westport, Connecticut: Greenwood Press. tr. 156–158. ISBN 0-313-33922-8.

  52. ^

    Greene, HW (1997). . California, USA: University of California Press. ISBN 0520224876.

  53. ^

    Tweedie, MWF (1983). . Singapore: Singapore National Printers Ltd. OCLC 686366097.

  54. ^

    Takacs, Zoltan. “Why the cobra is resistant to its own venom” .

  55. ^

    Hauser, Sjon. King Cobras, the largest venomous snakes. sjonhauser.nl

  56. ^

    Young, Bruce A. (1991). “Morphological basis of “growling” in the king cobra, ”. . 260 (3): 275–87. doi:10.1002/jez.1402600302. PMID 1744612.

  57. ^

    Chanhome, L.; Cox, M. J.; Vasaruchapong, T.; Chaiyabutr, N.; Sitprija, V. (2011). “Characterization of venomous snakes of Thailand”

    (PDF)

    . (3): 311–328.

  58. ^

    Whitaker, N.; Shankar, P. G.; Whitaker, R. (2013). “Nesting ecology of the King Cobra () in India”. . 36 (2): 101–107.

  59. ^

    Hrima, V. L.; Sailo, V. H.; Fanai, Z.; Lalronunga, S.; Lalrinchhana, C. (2014). “Nesting ecology of the King Cobra, , (Reptilia: Squamata: Elapidae) in Aizawl District, Mizoram, India”. Trong Lalnuntluanga; Zothanzama, J.; Lalramliana; Lalduhthlana; Lalremsanga, H. T. (chỉnh sửa). . Aizawl: Mizo Academy of Sciences. tr. 268–274. ISBN 9788192432175.

  60. ^

    “King Cobra venom may lead to a new drug”. United Press International. ngày 10 tháng 3 năm 2010.

  61. ^

    Roy, A; Zhou, X; Chong, MZ; d’Hoedt, D; Foo, CS; Rajagopalan, N; Nirthanan, S; Bertrand, D; Sivaraman, J; Kini, R. M. (2010). “Structural and Functional Characterization of a Novel Homodimeric Three-finger Neurotoxin from the Venom of (King Cobra)”. . 285 (11): 8302–15. doi:10.1074/jbc.M109.074161. PMC 

    2832981

    . PMID 20071329.

  62. ^

    Séan Thomas; Eugene Griessel – Tháng 12 năm 1999. “LD50”. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 2 năm 2012.

  63. ^

    “Ophiophagus hannah”. University of Adelaide.

  64. ^

    Engelmann, Wolf-Eberhard (1981). . Leipzig; English version NY, USA: Leipzig Publishing; English version published by Exeter Books (1982). tr. 222. ISBN 0-89673-110-3.

  65. ^

    . 236. USA: CRC Press. 1995. ISBN 0-8493-4489-1.

  66. ^

    . Singapore: Venom and toxins research group. ISBN 9971-62-217-3.

  67. ^

    Carroll, Sean B. (ngày 25 tháng 10 năm 2010). “science-the king cobra”. .

  68. ^

    “Snake-bite Envenomation: A Comprehensive Evaluation of Severity, Treatment and Outcome in a tertiary Care South Indian Hospital”. . 5. 2009. doi:10.5580/11c0.

  69. ^

    PMID 1754675 (PMID 1754675)

  70. ^

    Dr Debra Bourne MA VetMB PhD MRCVS. “Snake Bite in Elephants and Ferrets”. Twycross Zoo. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 4 năm 2017 .

  71. ^

    “Munich AntiVenom Index: Ophiophagus hannah”. . MAVIN (Munich AntiVenom Index). ngày 1 tháng 2 năm 2007 .

  72. ^

    Pung, Y.F., Kumar, S.V., Rajagopalan, N., Fry, B.G., Kumar, P.P., Kini, R.M. (2006). “Ohanin, a novel protein from king cobra venom: Its cDNA and genomic organization”. . 371 (2): 246–56. doi:10.1016/j.gene.2005.12.002. PMID 16472942.

  73. ^

    Rajagopalan, N., Pung, Y.F., Zhu, Y.Z., Wong, P.T.H., Kumar, P.P., Kini, R.M. (2007). “β-Cardiotoxin: A new three-finger toxin from (King Cobra) venom with beta-blocker activity”. . 21 (13): 3685. doi:10.1096/fj.07-8658com.

  74. ^

    Chang, L.-S., Liou, J.-C., Lin, S.-R., Huang, H.-B. (2002). “Purification and characterization of a neurotoxin from the venom of (king cobra)”. . 294 (3): 574–8. doi:10.1016/S0006-291X(02)00518-1. PMID 12056805.

  75. ^

    Ernst, Carl H. and Evelyn M. (2011). . JHU Press. tr. 44–45. ISBN 978-0-8018-9875-4.

  76. ^

    Mathew, Gera, JL, T. “Ophitoxaemia (Venomous snakebite)”. .

  77. ^

    Norris MD, Robert L.,. “Cobra Envenomation”. Medscape .

  78. ^

    Halliday, T. and Adler, K. (2002). . Oxford: Oxford University Press.

  79. ^

    Sivakumar, B (ngày 2 tháng 7 năm 2012). “King cobra under threat, put on red list”. . Bennett, Coleman & Co. Ltd. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 2 năm 2013 .

  80. ^

    “Giải mã bí ẩn vùng đất của bầy hổ mang chúa khổng lồ”. . ngày 12 tháng 12 năm 2015.

  81. ^

    Nam Giao – Dương Phạm (10 tháng 4 năm 2012). “Giải mã sự thật về rắn hổ mây khổng lồ”. .

  82. ^

    “Nghị định chính phủ ban hành ngày 30 tháng 3 năm 2006”

    (PDF)

    . Bản gốc

    (PDF)

    lưu trữ ngày 14 tháng 10 năm 2017 .

  83. ^

    John C. Murphy (2010). . iUniverse. ISBN 978-1-4502-2127-6.

Đọc qua

[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

  • Cantor, 1836: Asiatic Researches, Calcutta.
  • Günther, 1864: (texte intégral).
  • tại Hệ thống Thông tin Phân loại Tích hợp (ITIS).
  • tại trang Trọng tâm Thông tin Công nghệ sinh học đất nước Hoa Kỳ (NCBI).
  • Thông tin loài trên SVRVN (tiếng Việt)
  • Cox, Merel J., 1991. The snakes of Thailand and Their Husbandry. Krieger Publishing Company, Malabar, Florida.
  • Gharpurey, K.G., 1962. Snakes of India & Pakistan. B.G. Dhawale at Karnatak Printing Press, Chira Bazar, Bombay 2.
  • Jacob, Udo Dr. Obst, Fritz Jurgen Obst, and Dr. Klaus Richter. 1984. The Completely Illustrated Atlas of Reptiles and Amphibians For The Terrarium. Edition Leipzig.
  • Mehrtens, John M. 1987. Living Snakes Of The World. Sterling Publishing Co., Inc. New York. Blanford Press. Dorset, England.
  • Minton, Sherman A., and Madge Rutherford Minton. 1973. Giant Reptiles. Library of Congress.
  • Pitman, R.S., 1974. A Guide To The Snakes of Uganda. Wheldon & Wesley, Ltd.
  • Reitinger, Frank F., 1978. Common Snakes of South East Asia and Hong Kong. 1978. South China Printing Company Limited.
  • Schneider, Greg., 1997. The University of Michigan Department of Herpetalogy.

Link ngoài

[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

  • Rắn hổ mang chúa tại Từ điển bách khoa Viet Nam
  • King cobra (Reptile) tại (tiếng Anh)
  • Thông tin trên arkive.org Lưu trữ 2014-03-03 tại Wayback Machine
  • Ophiophagus hannah Research and Information

Xem Thêm  [Update] Top 5 Các Loại Nấm Linh Chi Rừng Tự Nhiên Ở Việt Nam Và Công Dụng Của Từng Loại | các loại nấm linh chi rừng - Verified

By ads_law

Trả lời