Rùa Việt Nam
Diệp Minh Tâm
2020

Phân hạng bảo tồn chủng loài
Nghị định 03/VBHN-BTNMT
Nghị định 06/2019/NĐ-CP
Công ước về Bán buôn Quốc tế động cây trồng hoang dại khẩn cấp (CITES)
Phân hạng bảo tồn của IUCN
Phân hạng bảo tồn của Sách Đỏ Việt Nam

Rùa nước ngọt & rùa đất

1/ ba ba gai – wattle-necked softshell turtle (Palea steindachneri)
2/ ba ba Nam Bộ – Southeast Asian softshell turtle (Amyda cartilaginea)
3/ ba ba trơn – Chinese softshell turtle (Pelodiscus sinensis)
4/ giải, giải đồ sộ – Asian giant softshell turtle (Pelochelys cantorii)
5/ giải Sin-hoe, rùa Hoàn Kiếm – Yangtze giant softshell turtle (Rafetus swinhoei)
6/ rùa ba gờ – Mekong snail-eating turtle (Malayemys subtrijuga)
7/ rùa Batagur miền Nam – Southern river terrapin (Batagur affinis)
8/ rùa bốn mắt – four-eyed turtle (Sacalia quadriocellata)
9/ rùa câm – yellow pond turtle (Mauremys mutica)
10/  rùa cổ bự – black marsh turtle, Siamese temple turtle (Siebenrockiella crassicollis)
11/  rùa cổ sọc – Chinese stripe-necked turtle (Mauremys sinensis)
12/  rùa dứa – Asian leaf turtle (Cyclemys dentata)
13/  rùa đất lớn – giant Asian pond turtle (Heosemys grandis)
14/  rùa đất Pulkin – Eastern black-bridged leaf turtle (Cyclemys pulchristriata)
15/  rùa đất Sêpôn – Oldham’s leaf turtle (Cyclemys oldhamii)
16/  rùa đất Spengleri – black-breasted leaf turtle (Geomyda spengleri)
17/  rùa đầu to – big-headed turtle (Platysternum megacephalum)
18/  rùa hộp ba vạch – golden coin turtle (Cuora trifasciata)
19/  rùa hộp lưng đen – Asian box turtle (Cuora amboinensis)
20/  rùa hộp trán vàng miền Bắc – Indochinese box turtle (Cuora galbinifrons)
21/  rùa hộp trán vàng miền Trung – Central Vietnamese flowerback box turtle (Cuora bourreti)
22/  rùa hộp trán vàng miền Nam – southern Vietnamese box turtle (Cuora picturata)
23/  rùa núi vàng – elongated tortoise (Indotestudo elongata)
24/  rùa núi viền – impressed tortoise (Manouria impressa)
25/  rùa răng – yellow-headed temple turtle (Heosemys annandalii)
26/  rùa sa nhân – keeled box turtle (Cuora mouhotii)
27/  rùa Trung Bộ – Vietnamese box turtle (Mauremys annamensis)

Rùa biển

28/  đồi mồi – hawksbill sea turtle (Eretmochelys imbricata)
29/  đồi mồi dứa – olive ridley sea turtle (Lepidochelys olivacea)
30/  quản đồng – loggerhead sea turtle (Caretta caretta)
31/  vích, rùa xanh – green sea turtle (Chelonia mydas)
32/  rùa da – leatherback sea turtle (Dermochelys coriacea)

Rùa du nhập vào Việt Nam

33/  rùa bản đồ – common map turtle (Graptemys geographica)
34/  rùa bụng hồng – red-bellied short-necked turtle (Emydura albertisii)
35/  rùa bụng vàng – yellow-bellied slider turtle (Trachemys scripta scripta)
36/  rùa cá sấu – alligator snapping turtle (Macrochelys temminckii)
37/  rùa chân đỏ – red-footed tortoise (Chelonoidis carbonarius)
38/  rùa Châu Phi – African spurred tortoise (Centrochelys sulcata)
39/  rùa common snapping – snapping turtle (Chelydra serpentina)
40/  rùa da báo – leopard tortoise (Stigmochelys pardalis)
41/  rùa gỗ Trung Mỹ – Central American wood turtle (Rhinoclemmys pulcherimma)
42/  rùa Hermann – Hermann’s tortoise (Testudo hermanni)
43/  rùa đồ sộ – Aldabra giant tortoise (Aldabrachelys gigantea)
44/  rùa kim cương – diamondback terrapin (Malaclemys terrapin)
45/  rùa lá mata mata – mata mata (Chelus fimbriata)
46/  rùa lưỡi dao – razor-backed musk turtle (Sternotherus carinatus)
47/  rùa mũi lợn – pig nose turtle (Carettochelys insculpta)
48/  rùa ninja – yellow-spotted river turtle (Podocnemis unifilis)
49/  rùa núi nâu – Asian giant tortoise (Manouria emys)
50/  rùa sao Ấn Độ – Indian star tortoise (Geochelone elegans)
51/  rùa tai đỏ – red-eared slider turtle (Trachemys scripta elegans)
52/  rùa vẽ – painted turtle (Chrysemys picta)

Tổng kết
Ebook đọc qua

Nghị định 03/VBHN-BTNMT của Bộ Tài nguyên & Môi trường ngày 11 tháng 5 năm 2020 “Về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ” có Phụ lục I “Danh mục các loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ”, cũng liệt kê một số giống vật nuôi.

Nghị định 06/2019/NĐ-CP về “quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp” nhằm luật hóa việc bảo vệ chủng loài khẩn cấp, quý giá. Các loài động, cây trồng rừng được chia thành các nhóm chính sau:

22 trong tổng số 25 loài rùa cạn & rùa nước ngọt Việt Nam được liệt kê trong phụ lục II & III của Công ước về Bán buôn Quốc tế Động Cây trồng Hoang dại Khẩn cấp (The Convention on International Trade in Endangered Species of Wild Fauna and Flora – CITES). Việc bán buôn các loài này qua biên thuỳ đất nước bị cấm còn nếu như không có giấy phép của đơn vị làm chủ CITES. Các loài bị cấm bán buôn qua biên thuỳ được liệt kê trong 3 Phụ lục dưới đây, được đo đạc năm 2019.

Việc xuất khẩu bất kỹ mẫu vật (sống hay chết) thuộc ba Phụ lục trên phải được cho phép trước, theo những điều kiện từ nghiêm nhặt ít đến nghiêm nhặt tối đa.

Việt Nam gia nhập Công ước CITES từ năm 1994. Phiên bản CITES đọc qua cho bài này ghi ngày 26-11-2019; đọc qua online https://checklist.cites.org/ tháng 7-2020.

Nhằm nhận định đặc điểm quý giá trên toàn thị trường quốc tế của các chủng loài, ta có thể đọc qua hệ thống phân hạng bảo tồn của Liên hiệp Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên & Tài nguyên Thiên nhiên (International Union for Conservation of Nature and Natural Resources, viết tắt là IUCN) so với các chủng loài chưa tuyệt chủng, tóm lược như sau.

  • Rất khẩn cấp (Critically Endangered – CR): đang có rủi ro tuyệt chủng rất cao trong hoang dại.
  • Khẩn cấp (Endangered – EN): đang có rủi ro tuyệt chủng cao trong hoang dại, kém hơn mức CR.
  • Sẽ khẩn cấp (Vulnerable – VU): đang có rủi ro tuyệt chủng khá cao trong hoang dại.
  • Sắp bị đe dọa (Near-Threatened – NT): có rủi ro tuyệt chủng khá cao trong hoang dại trong tương lai không xa.
  • Ít lo lắng (Least Concern – LC): không có nhiều rủi ro tuyệt chủng.
  • Thiếu dẫn liệu (Data Deficient – DD): chưa đủ thông tin về thực trạng, có thể chuyển hóa thành cấp khác khi có đủ thông tin này.

CR, EN & VU là ba mức độ khẩn cấp khác nhau.

Hệ thống phân hạng bảo tồn của Sách Đỏ Việt Nam 2007 cho các chủng loài ở Việt Nam – để đọc qua theo ý nghĩa khoa học – cũng giống như hệ thống phân hạng của IUCN.

Một trong năm loài rùa mai mềm của Việt Nam, thuộc Họ Ba ba (Trionychidae), gồm 22-25 loài có thân có thể dài đến 1 m, mỗi chân có ba móng, phiến giáp bụng hở, không liền với mai lưng, vỏ phủ một lượt da mềm, hô hấp phụ bằng da suport cho phổi..

Thường dễ bị lầm lẫn với các loài rùa mai mềm khác như: ba ba Nam bộ (Amyda cartilaginea), ba ba trơn (Pelodiscus sinensis), giải (Pelochelys cantorii), nhất là giải Sin-hoe (Rafetus swinhoei). Dấu hiệu phân biệt với các loài ba ba khác: các vết gấp của da sần tạo ra đám sần ở cổ (thấy rõ nhất khi chúng thò cổ dài), rìa trước & trên mai có nhiều nốt sần không đều.

Ba ba gai cái dài đến 44,5 cm; đực chỉ dài đến 36 cm nhưng có đuôi dài hơn. Mai có màu nâu đến xám. Mai của cá thể trưởng thành thường khá nhẵn, không có các gai. Yếm hầu hết trắng toàn thể, có vài vết mờ hoặc lốm đốm. Đầu màu nâu hoặc xám có các đốm màu vàng, mũi dài giống như cái vòi. Con non: một viền trắng bay màu từ sau mắt đến đầu.

Sinh cảnh: Sông hồ, ao đầm đến độ cao 1500 m. Con trưởng thành chủ chốt sống dưới nước & hiếm khi lên bờ phơi nắng. Hoạt động ngày lẫn đêm & quanh năm.

Phân bố: Bắc Bộ & Bắc Trung Bộ.

Đang bị truy lùng ráo riết để làm thực phẩm. Mặt khác, hàng nghìn cá thể được sản xuất hàng năm trong các trại chăn nuôi ở Trung Quốc & Việt Nam.

Phân hạng bảo vệ: Nghị định 06/2019/NĐ-CP Nhóm IIB; CITES Phụ lục II; Sách Đỏ Việt Nam hạng EN; IUCN 2000 hạng EN.

Một trong năm loài rùa mai mềm của Việt Nam, thuộc Họ Ba ba (Trionychidae). Tên khoa học cũ là Amyda cartilaginea.

Thường dễ bị lầm lẫn với các loài rùa mai mềm khác như: ba ba trơn (Pelodiscus sinensis), ba ba gai (Palea steindachneri), giải (Pelochelys cantorii), & nhất là giải Sin-hoe (Rafetus swinhoei). Có thể nhận ra ba ba Nam bộ với các loài rùa mai mềm khác bởi các nốt sần dọc rìa trước của mai, ngay phía sau đầu.

60-100 cm. Đầu màu nâu hoặc xám có các đốm màu vàng, mũi dài giống như cái vòi. Mai màu nâu hoặc xám, khá nhẵn, không có các gai hay nốt sần loại trừ một hàng các nốt sần nhỏ xuôi theo rìa trước. Đầu tròn, màu nâu hoặc xám có các đốm màu vàng, mũi dài giống như cái vòi. Cổ dài. Yếm mềm, tương đối tròn, màu trắng hoặc nâu nhạt. Con non: các chấm hoặc đốm màu vàng nhạt trên mai. Chân có màng, móng chân khỏe & nhọn, đặc biệt ở chân trước. Bụng phẳng, mềm, màu nâu nhạt. Con non: có các chấm hoặc đốm màu vàng trên mai.

Sinh cảnh: Đầm lầy, suối, các khu vực nước rộng, thích nơi nước có bùn. Ăn tạp: cá, ếch nhái, tôm, sâu bọ, cây trồng, & cũng ăn xác chết. Mai mềm & phẳng giúp loài vật dễ vùi thân trong bùn. Cổ dài & đầu hẹp có thể động đậy nhanh để bắt loài thủy sinh, cũng như để vươn lên thở trên mặt nước mà không lộ thân ra. Chân rộng & phẳng có tác dụng như mái chèo để bơi trong nước.

Phân bố: Nam Trung Bộ đến Nam Bộ.

Phân hạng bảo vệ: CITES Phụ lục II; IUCN 2000 hạng VU.

Một trong năm loài rùa mai mềm của Việt Nam, thuộc Họ Ba ba (Trionychidae). Tên khoa học cũ là Trionyx sinensis.

Thường dễ bị lầm lẫn với các loài rùa mai mềm khác như: ba ba Nam bộ (Amyda cartilaginea), ba ba gai (Palea steindachneri), giải (Pelochelys cantorii) & nhất là giải Sin-hoe (Rafetus swinhoei). Có thể nhận ra ba ba trơn dựa theo dấu hiệu mũi dài, các đốm đen trên yếm đối xứng cụ thể ở các con non, không có nếp gấp tạo ra đám sần ở phía cổ như ba ba gai hay các nốt sần dọc phần rìa trước của mai như ba ba Nam Bộ.

Bề dài mai con cháu có thể đến 33 cm; con đực chỉ đến 27 cm. Có chân màng để bơi.

Mai & thân màu ô-liu hoặc nâu, có thể có những đốm sậm, có những gờ nhỏ chạy dọc suốt bề dài mai & một đường gờ hình trụ chạy quanh mai. Có mũi dài giống ba ba Nam Bộ & ba ba gai. Yếm màu trắng hoặc vàng tươi kèm đốm màu đậm đối xứng. Con non: yếm màu cam kèm theo đốm đen đối xứng.

Sinh thái: sống ở ao, đầm lầy, đất ngập nước ở vùng nước nông. Săn mồi về đêm, ăn động vật giáp xác, động vật thân mềm, cá, sâu bọ, các loài lưỡng cư. Lúc nghỉ nằm ở đáy, vùi trong cát hoặc bùn, đầu nhô lên để hô hấp & phát hiện con mồi.

Phân bố: toàn cõi Việt Nam.

Ba ba trơn được nuôi tại các trang trại ở Việt Nam & các khu vực khác ở Châu Á. Đa phần các trường hợp loài động vật này bị mua bán đều có nguồn gốc từ các trang trại.

Phân hạng bảo vệ: CITES không tìm ra phân hạng; IUCN 2000 hạng VU.

Một trong năm loài rùa mai mềm của Việt Nam, thuộc Họ Ba ba (Trionychidae).

Thường dễ bị lầm lẫn với các loài rùa mai mềm khác như: ba ba Nam bộ (Amyda cartilaginea), ba ba trơn (Pelodiscus sinensis), ba ba gai (Palea steindachneri),& nhất là giải sin-hoe (Rafetus swinhoei). Có thể nhận dạng loài này dựa theo dấu hiệu mũi ngắn (không dài như cái vòi ở những loài rùa mai mềm khác), & vùng da quanh cổ kéo dài ra phía sau cùng với phần rìa trước của mai.

Mai dài 70-100 cm (kích cỡ to hơn là do đồn đại), hình tròn, có màu xám-nâu. Mặt giống con ếch. Đầu nhỏ; mắt nhỏ ở gần chót mũi. Toàn thể yếm có màu trắng ngà.

Sinh cảnh: Khu vực sông lớn, tĩnh. Chủ đạo ăn động vật giáp xác, nhuyễn thể & cá. Bắt mồi bằng cách rình rập, nằm bất động khoảng 95% thời gian, chỉ có mắt & mũi nhô lên phía trên bùn hoặc cát.

Hiện trạng: ngày ấy phân bố ở Bắc Bộ (loại trừ Đông-Bắc & Tây Bắc), Trung Bộ (loại trừ cao nguyên), Nam Bộ (loại trừ vùng phía Tây). Hiện tại hầu hết mất hút hoàn toàn ở Việt Nam.

Phân hạng bảo vệ: Nghị định 03/VBHN-BTNMT Phụ lục I; Nghị định 06/2019/NĐ-CP Nhóm IB; CITES Phụ lục II (so với cả chi Pelochelys); IUCN 2000 hạng EN.

Còn gọi là rùa Hồ Gươm, rùa mai mềm đồ sộ Dương Tử – Red River giant softshell turtle, Shanghai softshell turtle hoặc Swinhoe’s softshell turtle, thuộc Họ Ba ba (Trionychidae). Tên khoa học được đặt theo tên nhà loài vật học người Anh Robert Swinhoe, người gửi một mẫu vật giải Sin-hoe cho Bảo tàng Anh quốc năm 1873 để phân tích & miêu tả lần trước hết cho khoa học.

Thường dễ bị lầm lẫn với các loài rùa mai mềm khác như: ba ba Nam Bộ, ba ba trơn, ba ba gai, & giải. Có thể phân biệt giải sin-hoe với các loài khác dựa theo dấu hiệu mũi ngắn hơn, không có nếp gấp tạo ra đám sần ở phía cổ như ba ba gai hay các nốt sần dọc rìa trước của mai như ba ba Nam Bộ.

Đây chính là loài rùa bền chặt với truyền thuyết kể rằng sau thời điểm khuấy tan quân Minh & lên ngôi hoàng đế, nhân một buổi đẹp trời Lê Lợi ngự giá ra chơi Hồ Tả Vọng (còn được gọi là Hồ Lục Thủy vì nước xanh sẫm). Thuyền rồng vừa đến giữa hồ, bỗng dưới nước nổi lên một rùa vàng rất to. Rùa bơi đến trước thuyền rồng, cúi đầu như có ý bái lạy & cất tiếng: “Việc nước đã xong, xin bệ hạ hoàn lại kiếm thần.” Khi đó, nhà vua liền phán: “Khi ta dựng cờ khởi nghĩa, Đức Long Quân cho ta mượn thanh bảo kiếm. Nay việc lớn đã xong, Người sai phái sứ thần đến đòi, ta trao trả lại”. Vua tung gươm, rùa vàng liền đớp lấy gươm lặn xuống nước biệt tích. Từ đó, hồ có tên là Hoàn Kiếm (dân gian quen gọi là Hồ Gươm).

GS Hà Đình Đức, người được xem như là bỏ nhiều công nhất để phân tích rùa Hoàn Kiếm, cho biết trong thời cận đại có 4 cụ rùa. Rõ ràng: cho đến năm 2016 trong hồ sót lại duy nhất một cụ – đang được trị bệnh. Hai cụ bị chết, tiêu bản xác một cụ được triển lẵm ở Đền Ngọc Sơn, bộ xương cụ kia hiện đang được triển lẵm tại Bảo tàng Hà Nội. Một cụ nữa hiện không còn lưu dấu vết nhưng qua lời kể của nhà văn Đào Quang Thép, vào năm 1963, sau một đợt mưa lớn, nước Hồ Gươm tràn bờ, cụ rùa bò lên vườn hoa Chí Linh (nay là vườn hoa Lý Thái Tổ), bị một nhóm tuần tra bắt gặp, tròng dây vào cổ, kéo về hội sở, sau đó làm thịt.

Giải Sin-hoe là một trong năm loài rùa mai mềm của Việt Nam & thường dễ bị lầm lẫn với các loài rùa mai mềm khác như: ba ba Nam bộ (Amyda cartilaginea), ba ba trơn (Pelodiscus sinensis), ba ba gai (Palea steindachneri), & giải (Pelochelys cantorii). Có thể phân biệt giải Sin-hoe với các loài khác dựa theo dấu hiệu mũi ngắn hơn, không có nếp gấp tạo ra đám sần ở phía cổ như loài Ba ba gai hay các nốt sần dọc rìa trước của mai như loài ba ba Nam bộ.

Kích cỡ khá lớn. Mai mềm, màu nâu đến xám. Đầu tương đối nhỏ & rộng. Mũi ngắn hơn các loài rùa mai mềm khác. Mõm ngắn, tròn, vòi rất ngắn. Lưng màu vàng lục có những đốm vàng. Yếm bụng màu trắng nhạt. Đầu & cằm màu vàng với các đốm hoặc vằn màu đậm, đỉnh đầu có màu tối hơn.

Đẻ nhiều trứng. Một cá thể cái trong Vườn thú Suzhou, Trung Quốc, đẻ 51 trứng (11 bị nứt vỏ) ngày 07-6-2011, 67 trứng (5 bị nứt vỏ) ngày 27-6, & 70 trứng (16 5 bị nứt vỏ) ngày 10-7. Không có trứng nào nở. Hai cá thể có giao phối nhưng có vẻ con đực không có tinh trùng. Việc thụ tinh nhân tạo sau đó cũng không thành công.

Giải Sin-hoe từng sống tại Hồ Gươm. Con cuối cùng chết vào ngày 19 tháng 1 năm 2016.

Theo di thể rùa chết vào thập niên 1960 hiện lưu lại trong đền Ngọc Sơn, cá thể đó cân nặng 250 kg với bề dài 2,1 m & chiều rộng 1,8 m. Cá thể mà Tp Hà Nội bắt để chữa trị vết thương trên thân rùa trong tháng 4 năm 2011 là giống cái, nặng 169 kg, thân dài 185 cm, mai rộng 99 cm, đuôi dài 35 cm.

Sinh cảnh: sông lớn, hệ thống đầm lầy, hồ rộng có kết cấu cầu kỳ.

Ngày 13-4-2019, cá thể cái cuối cùng được biết trên toàn cầu chết ở Trung Quốc (Platt, 2019). Hiện thời trên toàn cầu chỉ sót lại 3 cá thể đực được nghe đến, một nuôi nhốt ở công viên Sơn Phương, Trung Quốc & hai ngoài hoang dại ở Việt Nam: Hồ Đồng Mô & Hồ Xuân Khanh, đều ở Sơn Tây, Hà Nội.

Đây là loài cực kỳ khẩn cấp; có rủi ro tuyệt chủng trên toàn cầu.

Trong phấn đấu tìm kiếm thêm các cá thể rùa Hoàn Kiếm, Hiệp hội Bảo tồn Động vật Hoang dại (Wildlife Conservation Society  WCS) đang tiến hành khảo sát tại nhiều hồ tự nhiên của Việt Nam & gần đây đã xây dựng bộ công cụ di động chẩn đoán phân tử nhằm xác nhận gen của Rafetus swinhoei trong môi trường, đem lại mơ ước mới cho việc tìm kiếm cá thể rùa Hoàn Kiếm ngoài hoang dại.

Trong năm 2019, một số thăm dò dựa theo phỏng vấn được thực hiện ở các khu vực Sông Đà & Sông Hồng ở Bắc Bộ, Sông Mã & Sông Chu ở Việt Nam & Lào. Nhóm phân tích tìm ra vài vị trí có tiềm năng phát hiện giải Sin-hoe. Phân tích vẫn đang được tiếp tục.

Phân hạng bảo vệ: Nghị định 03/VBHN-BTNMT Phụ lục I; Nghị định 06/2019/NĐ-CP Nhóm IB; CITES Phụ lục II [đáng lẽ phải trong Phụ lục I]; IUCN 2000 hạng CR.

Thuộc Họ Rùa đầm lầy (Emydidae) gồm 50 loài.

Dễ phân biệt với các loài khác bởi mai có ba gờ dọc cụ thể trên lưng, đầu khá lớn, có những sọc màu trắng sữa quanh mắt & ở mũi.

Mai dài 21 cm, màu nâu sáng hoặc sẫm, đôi lúc nâu-đỏ, rìa mai màu trắng ngà, bờ sau mai không có răng cưa. Yếm cứng, màu vàng-nâu, có những cặp đốm đen dài khá lớn đối xứng nhau, bờ trước yếm gần thẳng, bờ sau yếm lõm. Đầu to, có sọc màu trắng ngà (một sọc từ mút mõm qua phía trên ổ mắt kéo về phía cổ, một sọc từ mũi qua phía dưới ổ mắt tới cổ), một đốm trắng ở phía sau ổ mắt.

Sinh cảnh: đầm lầy, kênh rạch & con sông tĩnh. Ăn chủ chốt động vật: cua, tôm, sâu bọ, giun, cá nhỏ, đặc biệt thích ăn ốc, trai, hến.

Phân bố: Đồng Nai, Cần Thơ, Kiên Giang, Cà Mau. Số lượng bị giảm sút do săn bắt, nơi cư trú bị ô nhiễm (bón phân hóa học & phun thuốc trừ sâu trên đồng ruộng).

Giá trị: có giá trị khoa học, thẩm mỹ, giúp học viên, sinh viên tìm tòi về tập tính sinh thái của loài này trong tự nhiên. Chúng còn được nuôi ở những nơi vui đùa, tiêu khiển (vườn động vật).

Rùa ba gờ được bán buôn nhiều để làm cảnh.

Phân hạng bảo vệ: Nghị định 06/2019/NĐ-CP Nhóm IIB; CITES Phụ lục II; IUCN 2000 hạng VU.

Thuộc Họ Rùa đầm lầy (Emydidae). Tên khoa học đồng nghĩa: Tetraonyx affinis.

Kích cỡ lớn: mai dài đến 62 cm, gồ lên, khá nhẵn, màu xám pha nâu hoặc xám pha lam. Con cháu dài hơn con đực khoảng 11%. Chân khỏe khoắn, móng có màng bơi, chân trước có 4 móng vuốt. Đầu thon nhỏ đối với thân sót lại.

Sinh thái: sống ở vùng cửa sông nước ngọt hoặc nước lợ có hàm lượng muối dưới 20 ppt. Di chuyển lên vùng thượng nguồn khi triều lên, & di chuyển xuống hạ nguồn trở lại khi triều xuống. Đẻ trứng trên bãi cát dọc bờ sông vào mùa nước bầy rút xuống. Mỗi mùa có thể đẻ vài ổ. Rùa cái cũng đào ổ giả mà không đẻ trứng nhằm đánh lừa các loài thiên địch săn trứng. Rùa con nở ra sau 88 ngày, dài 56-66 mm. Trưởng thành sinh dục sau 25 năm. Ăn tạp động vật lẫn cây trồng.

Từ xưa vẫn được coi là “Rùa Hoàng gia” ở Campuchia do được bảo vệ bởi một chiếu chỉ của hoàng thất & trứng được coi là một món ăn cung đình. Năm 2005, được sướng tên là rùa đất nước của Campuchia nhằm chuyên sâu ý thức bảo vệ loài rùa này.

Năm 2012, Khu Du lịch Văn hóa Suối Tiên (TP HCM) trao tặng rùa Batagur miền Nam về cho Chính phủ Hoàng tộc Campuchia. Năm 1980 Khu Du lịch Văn hóa Suối Tiên mua cá thể này từ một nông dân tìm ra trong thiên nhiên, khi đó rùa khoảng 2 kg; 32 năm sau rùa nặng hơn 45 kg. Tháng 10-2010, trong một lần tham quan Suối Tiên, một cán bộ Trọng điểm Dạy bảo Thiên nhiên (ENV) phát hiện cá thể rùa nước ngọt này có tên khoa học là Batagur affinis & xác nhận đây là giống Rùa Hoàng tộc quý giá. (Hương Thu, 2012)

Các ebook quốc tế giờ đây đều ghi loài rùa này đã mất hút hoàn toàn ở Việt Nam.

Phân hạng bảo vệ: Nghị định 06/2019/NĐ-CP Nhóm IB; CITES Phụ lục I; IUCN 2018 CR.

Thuộc Họ Rùa đầm lầy (Emydidae). Tên khoa học đồng nghĩa: Clemmys bealei quadriocellata.

Kích cỡ nhỏ: con đực dài 12-15 cm, con cháu dài 15-18 cm. Dấu hiệu phân biệt: bốn mắt giả trên đầu ở cả con đực & cái. Mai hình ô-van có màu xám đậm đến nâu, một gờ nổi rất rõ ở sống lưng, viền mai nhẵn. Cổ có 3 sọc màu trắng nhạt ở mỗi bên. Đuôi ngắn. Yếm màu nâu nhạt. Bốn chân mạnh mẽ, có màng để bơi. Con cháu: mắt giả màu vàng tươi; yếm màu vàng nhạt hoặc kem, có thể có những vạch hoặc đốm đen. Con đực: mắt giả màu xanh nhạt, chuyển dần sang màu sậm hơn khi chúng trưởng thành; yếm màu cam, có thể có các đốm hơi đỏ. Con non; mắt giả màu vàng tươi.

Sinh thái: sống ở ao, hồ, suối & đất ngập nước trong rừng thường xanh. Cần thủy vực có nước sạch & chứa nhiều oxy. Khi nước bị ô nhiễm, dễ bị vi trùng & nấm ăn da & mai. Chủ đạo đi trên đáy thủy vực để kiếm mồi. Hoạt động chủ chốt lúc rạng đông & hoàng hôn; ban ngày ẩn thân trong đám thực hoặc phơi nắng trên cát/đá, & khi nào cũng gần bờ nước. Thức ăn là ốc, cua, tôm, loài giáp xác nhỏ.

Phân bố: Lào Cai (Bảo Hà), Quảng Ninh (Tân Ấp), Hà Tĩnh (Vụ Quang), Quảng Nam–Đà Nẵng (Phúc Sơn) ở độ cao 170-500 m. Số lượng ít nên rất hiếm gặp.

Phân hạng bảo vệ: Nghị định 06/2019/NĐ-CP Nhóm IIB; CITES Phụ lục II; IUCN 2000 hạng EN.

Chú thích: Có miêu tả về loài Sacalia pseudocellata, nhưng thật ra đây là chủng lai giữa rùa bốn mắt & rùa hộp ba vạch.

Có tên khác là rùa đẹp hay rùa ao vàng – Asian yellow pond turtle, thuộc Họ Rùa đầm (Geoemydidae, trước đó là Bataguridae), gồm 70 loài loài rùa ao hồ, đầm, sông ngòi tại đại lục Á-Âu cũng như rùa rừng Tân Toàn cầu. Đực cái thường khác nhau. Ngón chân có màng. Cổ thẳng đứng. Mai có 24 tấm.

Mai màu nâu hoặc nâu gụ, đầu màu nâu xám, hai bên má màu vàng nhạt, trên đầu có hai sọc màu vàng nhạt. Yếm màu vàng, có các tấm đen ở mỗi tấm yếm.

Thức ăn chính là giun, ếch nhái, tép, cá.

Theo quan điểm của Đông y, rùa câm là một thảo dược rất quý. Thịt rùa là thức ăn có lợi cho sức khỏe có công dụng cường dương, yếm & mai dùng để nấu cao, huyết rùa có thể chữa một số bệnh đường tim mạch, điều hoà áp huyết. Mai rùa có hàm lượng khoáng chất cao, có giá trị thảo dược quý, là nguyên liệu làm “quy bản”.

Hiện trạng: từng phân bố ở Bắc Bộ & Trung Bộ nhưng đã hầu hết mất hút hoàn toàn ngoài hoang dại, được nuôi thương phẩm ở nhiều nơi để xuất bán sang Trung Quốc. Chỉ có những cặp rùa bắt từ hoang dại mới có thể phối giống, đẻ trứng & ấp thành rùa con. Những thế hệ rùa từ F2 trở đi không cỏn khả năng này.

Được nuôi để giúp nhiều hộ vượt mặt đói nghèo. Ngoài ra, có lúc không có đầu ra, người nuôi rùa câm gặp nhiều khốn khó. Việc này hẳn là do thiếu sự nối kết giữa hai bên cung cầu.

Phân hạng bảo vệ: Nghị định 06/2019/NĐ-CP Nhóm IIB; CITES Phụ lục II; IUCN hạng EN.

Các tên khoa học đồng nghĩa: Emys crassicollis, Pangshura cochinchinensis, Kachuga cochinchinensis, thuộc Họ Rùa đầm lầy (Emydidae).

Kích cỡ mai bình quân 17 cm, hiếm khi quá 20 cm. Dấu hiệu nhận dạng: đầu sẫm màu có một khoang trắng hoặc phớt vàng phía sau mỗi mắt & một vài chấm mờ khác chung quanh miệng & cằm. Đầu rộng. Mỗi bên rìa hàm trên cong hướng lên trên giống như môi đang cười nên tạo thành tên “rùa cười” (smiling terrapin). Mai đen tuyền, rìa mai phía đuôi xẻ răng cưa, một gờ chạy dọc phần giữa của mai. Yếm màu nâu đen & có các chùm tia hình rẻ quạt màu đen, hoặc yếm gần đen toàn thể với các đốm đậm bao phủ mỗi tấm yếm. Con non có các điểm cũng giống như con trưởng thành.

Sinh thái: chủ chốt sống dưới nước nhưng cũng lên bờ phơi nắng để điều hòa thân nhiệt. Thích nơi nước lặng, cạn, đất trũng & có nhiều mầm cây trồng. Di chuyển chậm rì rì, bơi lội kém linh động. Ăn tạp: động vật không xương sống, xác động vật chết & cây trồng thủy sinh.

Rùa cổ bự thường được nuôi làm cảnh & cũng được coi là loài vật linh thiêng nên thường được nuôi ở chùa Phật. Nhưng mà, chúng vẫn bị săn bắt ráo riết để làm thực phẩm & chế phẩm Đông y, trở thành là đối tượng mua bán trên thị trường quốc tế.

Hiện trạng: phân bố ở Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Cà Mau. Số lượng ít nên hiếm gặp.

Phân hạng bảo vệ: Nghị định 06/2019/NĐ-CP Nhóm IIB; CITES Phụ lục II;

Thuộc Họ Rùa đầm lầy (Emydidae). Các tên khoa học đồng nghĩa: Emys sinensis, Emys bennettii.

Khi rụt vào trong mai, loài rùa này có thể bị nhầm với rùa Trung Bộ & rùa câm, yếm của rùa cổ sọc thường tối màu hơn hai loài rùa trên.

Rùa cổ sọc có kích cỡ bình quân: 20-22 cm. Mai hơi phồng, gờ sống lưng rõ, màu xanh-xám đến đen. Đúng như cái tên: nhiều sọc mảnh từ vàng nhạt đến lục nhạt chạy dọc hai bên cổ. Đầu, chân & đuôi có màu từ xanh ô-liu đến xám. Họng có những sọc nâu nhạt hay nâu hồng. Yếm có màu nâu-vàng, mỗi tấm yếm có viền nhạt & có đốm nâu to đối xứng, bờ trước gần phẳng, bờ sau lõm hình chữ V. Chi trước 5 ngón, chi sau 4 ngón, các ngón có màng hoàn toàn. Con non: có 4 gờ, lặn dần theo thời gian.

Hiện trạng: sống ven khe suối, đầm lầy & kênh rạch trong rừng núi, gần vực nước chảy chậm hoặc nước tĩnh có bùn ở đáy. Phân bố ở độ cao 150-600 m đến Quảng Ngãi (Bình Sơn), là hạn chế xa nhất về phía Nam. Ăn tạp: sâu bọ, giun, cá & cây trồng thủy sinh.

Đẻ mỗi năm 3 lứa, mỗi lứa 5-20 trứng, nở sau 60 ngày. Con non dài 3-3,5 cm.

Phân bố: Vĩnh Phúc, Hà Tây, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam & Bình Phước

Hiện trạng: số lượng ngoài tự nhiên ngày càng suy giảm do săn bắt vì vùng phân bố hẹp, số lượng cá thể không nhiều lại bị khai thác quá mức.

Phân hạng bảo vệ: CITES không tìm ra phân hạng, IUCN hạng EN.

Các tên khoa học đồng nghĩa: Emys dentata, Cyclemys oldhami, thuộc Họ Rùa đầm lầy (Emydidae).

Loài rùa nhỏ. Có những mảnh sừng trên mai cùng một kiểu họa tiết. Thường có những sọc màu vàng hay vàng-cam ở đầu & cổ. Một khớp nối ở yếm lớn theo công cuộc tiến triển từ con non đến con trưởng thành. Yếm màu vàng, thường có những sọc ngắn trên các tấm. Đuôi nhỏ & ngắn. Con non: có nhiều đốm rõ, nhạt dần theo tuổi.

Sinh thái: sống thông dụng nhất ở suối trong rừng ở độ cao từ 300-1200 m. Hoạt động từ lúc tảng sáng đến sẩm tối. Thức ăn chính là trái cây, cây trồng có nhiều lá, loài động vật không xương sống & thịt xác chết đang thối rữa. Mỗi lần chỉ đẻ 1-3 trứng lớn có vỏ cứng. Rùa con chớm nở dài khoảng 5,5 cm, hầu hết có kiểu dáng tròn & màu sáng hơn con lớn.

Hiện trạng: phân bố ở Quảng Ninh. Vì có kích cỡ nhỏ đẹp nên thường bị săn bắt & bán buôn để nuôi làm cảnh.

Giá trị: loài có giá trị khoa học, thẩm mỹ, giúp học viên, sinh viên tìm tòi về tập tính sinh thái của loài này trong hoang dại.

Phân hạng bảo vệ: CITES Phụ lục II (so với cả chi Cyclemys)

Có tên trong dân gian là càng đước, thuộc Họ Rùa đầm lầy (Emydidae).

Xem Thêm  Chia Sẻ Cách Gấp Quần Áo Gọn Gàng Nhanh Chóng Đẹp Mắt - cách xếp quần jean

Rùa đất lớn thường bị nhầm với rùa đất Pulkin & loài rùa đất Sêpôn do giống nhau về ngoại hình. Ngoài ra, trong lúc cả hai loài sau đều có một phần bản lề ở yếm, rùa đất lớn lại không có. Có thể phân biệt rùa đất lớn trưởng thành với các loài tương đương nhờ vào gờ có màu vàng nhạt trên mai. Loài rùa này cũng to hơn đối với các loài rùa mai cứng khác (loại trừ loài rùa răng).

Rùa đất lớn có cỡ lớn: bề dài mai 40-48 cm. Đầu có những chấm màu cam & đen. Mai nhô cao, màu nâu-đen, có một gờ màu vàng nhạt dọc sống lưng, bờ sau mai có răng cưa rõ. Đặc biệt, tấm bìa 1 thường có góc lồi khỏi bờ mai cụ thể & có hình tam giác. Yếm màu vàng nhạt hay nâu nhạt, các tấm yếm có những tia màu nâu sẫm hay đen từ những chấm đen trên từng tấm yếm, bờ trước yếm hầu hết thẳng, bờ sau yếm khuyết. Đuôi rất ngắn.

Sinh thái: sống ở ao, sông, suối, đầm lầy có nước chảy chậm trên nhiều địa hình có độ cao khác nhau. Thức ăn là quả, cây trồng thủy sinh & động vật nhỏ, trong điều kiện nuôi cực kỳ thích ăn chuối chín.

Hiện trạng: phân bố ở Gia Lai, Dak Lak, Đồng Nai, Bình Phước & các tỉnh Nam Bộ. Nơi cư trú bị chia cắt. Số lượng ngoài hoang dại giảm sút do săn bắt.

Giá trị: có giá trị phân tích khoa học & thẩm mỹ. Rùa còn được nuôi ở những nơi vui đùa tiêu khiển như công viên, vườn động vật giúp học viên, sinh viên tìm tòi về tập tính sinh thái.

Phân hạng bảo vệ: Nghị định 06/2019/NĐ-CP Nhóm IIB; CITES Phụ lục II; IUCN hạng VU.

Có tên khác là rùa dứa sọc, thuộc Họ Rùa đầm lầy (Emydidae).

Rùa đất Pulkin & rùa đất Sêpôn rất giống nhau về kích cỡ, kiểu dáng & dấu hiệu bên ngoài. Ngoài ra, rùa đất Pulkin có yếm màu vàng-nâu hoặc vàng-xám với sọc, còn rùa đất Sêpôn lại có yếm màu đen. Rùa đất lớn khi còn nhỏ có thể khá giống hai loài trên, nhưng trên mỗi tấm yếm có hình tia rẻ quạt tạo ra từ các sọc đen & không có bản lề trong lúc cả hai loài tren lại có bản lề không đóng kín.

Rùa đất Pulkin có kích cỡ bình quân. Mai hơi phồng, màu từ xám đến nâu, các tấm có những sọc nâu nhạt. Có các sọc màu cam hay vàng nhạt ở đầu & cổ. Yếm vàng, thường có những sọc ngắn trên các tấm. Có bản lề trên yếm cho phép chúng đóng một phần thể xác trong mai.

Kích cỡ, kiểu dáng bên ngoài rất giống với loài rùa đất Sêpôn (Cyclemys tcheponensis) nhưng các sọc trên mai rùa đất Sêpôn có màu đen. Con non: có nhiều đốm cụ thể, mờ dần khi trưởng thành

Cũng khá giống loài rùa đất lớn (Heosemys grandis) lúc chưa trưởng thành, nhưng trên mỗi tấm yếm của rùa đất lớn có hình tia rẻ quạt tạo ra từ các sọc đen & mai không có bản lề trong lúc các loài thuộc giống Cyclemys có bản lề không đóng kín.

Sinh thái: sống ở suối & đầm lầy, nơi nước chảy chậm hay tĩnh; ăn tạp (sâu bọ, giun, cá & cây trồng thủy sinh).

Hiện trạng: Phân bố hầu khắp quốc gia từ Bắc vào Nam. Mặc dầu có vùng phân bố rộng khắp nhưng số lượng cá thể không nhiều vì bị khai thác quá mức.

Giá trị: loài có giá trị khoa học, thẩm mỹ, giúp học viên, sinh viên tìm tòi về tập tính sinh thái của loài này trong thiên nhiên. Cần tổ chức nhân nuôi ở các khu bảo tồn nhằm nhân giống để thả vào môi trường tự nhiên & giữ lại nguồn gen.

Phân hạng bảo vệ: Nghị định 06/2019/NĐ-CP Nhóm IIB; CITES Phụ lục II (so với cả chi Cyclemys); IUCN không tìm ra phân hạng.

Thuộc Họ Rùa đầm lầy (Emydidae). Có những tên khoa học đồng nghĩa: Cyclemys tcheponensis, Geoemydas tcheponensis.

Rùa đất Sêpôn & rùa đất Pulkin giống nhau về kích cỡ, kiểu dáng & dấu hiệu bên ngoài. Ngoài ra, rùa đất Sêpôn có yếm màu nâu-đen, còn rùa đất Pulkin có yếm màu vàng nhạt hoặc có các sọc. Rùa đất lớn khi còn nhỏ có thể khá giống hai loài trên, nhưng trên mỗi tấm yếm có những tia rẻ quạt tạo ra từ các sọc đen & không có bản lề, trong lúc hai loài trên có bản lề không đóng kín.

Rùa đất Sêpôn có kích cỡ bình quân, dài đến 22 cm. Mai màu xám, nâu tối hoặc đen; có một gờ giữa lưng nhưng không rõ rệt. Có vài sọc màu hồng, vàng nhạt hoặc vàng-cam phía dưới cổ mở rộng về phía dưới ổ mắt đến tận mũi & cằm. Yếm màu nâu-đen, có bản lề như rùa đất Pulkin. Con đực có đuôi dài & dầy hơn con cháu.

Sinh thái: sống ở sông suối bao quanh bởi rừng ở cao độ thấp, di chuyển giữa hai môi trường nước & trên bộ. Thức ăn chủ chốt là giun đất, sâu bọ, cá, tôm & hoa quả, lá xanh. Hiện chưa có số liệu về sinh sản.

Phân bố: Lai Châu (Chà Cang), Hoà Bình (Mai Châu) Hà Tĩnh (Vũ Quang), Quảng Trị, Gia Lai (Sơklang), Đồng Nai (VQG Cát Tiên).

Giá trị: loài rùa có giá trị khoa học, thẩm mỹ, giúp học viên, sinh viên tìm tòi về tập tính sinh thái của loài này trong hoang dại.

Hiện trạng: bị mua bán nhiều trên thị trường toàn thị trường quốc tế.

Phân hạng bảo vệ: Nghị định 06/2019/NĐ-CP Nhóm IIB; CITES Phụ lục II (so với cả chi Cyclemys); IUCN hạng VU.

Thuộc Họ Rùa đầm (Geoemydidae), có tên khoa học đồng nghĩa là Testudo spengleri.

Còn gọi là rùa lá, rùa vàng Tam Đảo, có tên khoa học đồng nghĩa là Testudo spengleri.

Rùa đất Spengler thường bị nhầm với rùa sa nhân lúc nhỏ vì chúng rất giống nhau về màu sắc, cùng có 3 gờ cao ở lưng & viền mai sau có hình răng cưa sâu. Ngoài ra, rùa đất Spenglơ có mai thuôn dài & dẹt hơn, còn con non của rùa sa nhân có mai gồ cao hơn.

Rùa đất Spengler có kích cỡ nhỏ: dài không tới 12 cm. Mai dài, phẳng, hẹp; màu cam, nâu, xám hoặc nâu nhạt. Mắt lồi to, con ngươi tròn màu đen. Yếm màu đen, có hai vạch vàng hai bên, không có bản lề.

Sinh thái: sống trong rừng nguyên sinh & thứ sinh, sườn đồi Bắc Bộ ở độ cao từ 800-1500 m. Thường gặp nằm dưới lớp thảm mục cây trồng hay những khối đá ven bờ suối nhỏ. Thức ăn chủ chốt là động vật nhỏ như ốc sên, giun đất & các động vật không xương sống khác.

Hiện trạng: phân bố ở vùng núi đồi VQG Hoàng Liên, VQG Ba Bể, Khu BTTN Tây Yên Tử, VQG Phong Nha–Kẻ Bàng, VQG Tam Đảo, ở cả khu vực Trung Bộ (Quảng Trị), vào đến Tây Nguyên. Vì có kích cỡ nhỏ đẹp nên thường bị tóm gọn để bán cho người nuôi cảnh nên số lượng giảm sút lập tức.

Giá trị: loài có giá trị khoa học, thẩm mỹ, giúp học viên, sinh viên tìm tòi về tập tính sinh thái của loài này trong tự nhiên.

Phân hạng bảo vệ: Nghị định 06/2019/NĐ-CP Nhóm IIB; CITES Phụ lục II;

Đây là loài duy nhất thuộc Họ (Platysternidae).

Kích cỡ mai 20 cm.Dấu hiệu nhận dạng: đuôi rất dài (bằng bề dài thân), đầu rất to (được phủ bởi các mảnh sừng rất cứng) không thụt vào mai được, hàm trên tạo ra móc (vì vậy nên chúng nói một cách khác là rùa mỏ vẹt). Mai màu từ nâu đến nâu-đen, thuôn dài & dẹt, có gờ dọc giữa mai. Con non có màu vàng cam & có sọc vàng nhạt trên đầu.

Sinh thái: sống ở các khe suối trong rừng nguyên sinh, nơi nước trong & chảy chậm. Ban ngày ẩn dưới các khối đá hoặc phơi nắng trên bờ suối, đi tìm mồi ban tối. Có khả năng bò vượt mặt rào cản giỏi hơn các loài rùa khác, bằng cách sử dụng đuôi dài để chống chọi thân & hàm móc để bấu vào rào cản. Thức ăn là động vật không xương sống, các loài thân mềm hoặc động vật giáp xác nhỏ.

Phân bố: Hà Giang, Cao Bằng, Lào Cai, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Gia Lai.

Bị tiêu thụ làm thực phẩm ở Châu Á, chính vì thế bị bán buôn nhiều. Hiện tại số lượng loài này đang suy giảm cực kỳ nghiêm trọng do rừng nguyên sinh mất dần (ít gặp chúng trong các khu rừng thứ sinh) & nhất là do hiện trạng săn bắt quá mức để mua bán thỏa thuận với nước ngoài. Ngay cả phấn đấu bảo tồn & sinh sản loài này của Chương trình Bảo tồn Rùa ở BQG Cúc Phương cũng gặp khốn khó.

Phân hạng bảo vệ: Nghị định 03/VBHN-BTNMT Phụ lục I; Nghị định 06/2019/NĐ-CP Nhóm IB; CITES Phụ lục I (so với cả Họ Platysternidae); IUCN hạng EN.

Thuộc Họ Rùa đầm (Geoemydidae).

Còn gọi là rùa vàng hay rùa đỏ – Chinese three-striped box turtle. Các tên khoa học đồng nghĩa: Cuora cyclornata, Sternothaerus trifasciatus, Cistudo trifasciata, Cyclemys trifasciata.

Chi Rùa hộp (Cuora) có 12 loài với dấu hiệu là yếm được tạo thành bởi hai mảnh có tấm bản lề tạo khả năng động đậy, khi đầu rùa thụt vào trong mai thì nửa yếm phía trước khép kín đóng một phần thể xác bên trong mai, chính vì thế chúng được gọi là rùa hộp. Mai của chúng cao & gồ lên, có nhiều màu sắc & họa tiết phong phú, chính vì thế chúng được nhiều người hỏi mua để nuôi làm cảnh.

Các loài rùa hộp bị săn bắt mạnh để bán cho người nuôi làm vật cảnh. Do thời gian trưởng thành hơi chậm, kéo dài cả chục năm & khả năng sinh sản kém, chỉ cho khoảng 2-3 trứng trong một năm, nên chúng gặp nhiều khốn khó để duy trì số lượng quần thể ổn định ngay cả khi ít bị săn bắt. Trên toàn cầu, chúng cũng được nuôi nhốt trong các vườn thú hoặc trong các trọng tâm bảo tồn, chúng rất khó nuôi & khó gây giống trong điều kiện nuôi nhốt. Vì các nguyên nhân trên, các loài rùa hộp ở trong hiện trạng khẩn cấp cao.

Rùa hộp ba vạch dài 17-26 cm, gần gấp đôi chiều rộng. Mai có màu nâu-đỏ với 3 gờ (1 gờ sống lưng, 2 gờ bên) chạy dọc. Đỉnh đầu vàng nhạt với các sọc đen hai bên mặt. Các chi & da thường có màu cam. Yếm màu xám-đen, viền đỏ-nâu.

Sinh thái: sống ở ven suối trong rừng rậm ở độ cao trên dưới 1000 m. Ban ngày trốn dưới đống lá cây mục nát dọc sông suối, ban tối ra kiếm ăn. Thức ăn gồm quả, lá cây, rong, bèo mọc ở ven suối & khe rãnh, kể cả côn trùng. Có sức nhịn đói lâu, có thể kéo dài 2 tháng. Thường đẻ 2 trứng vào mùa hè, trứng có hình ô van, kích cỡ 2750mm.

Phân bố ở Bắc Bộ tiếp giáp với Trung Quốc: Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh. (Quần thể phía Nam được coi là loài riêng lẻ Vietnamese three-striped box turtle (Cuora cyclornata).

Rùa hộp ba vạch có lịch sử lâu đời trong truyền thuyết & y học gia truyền của Trung Quốc. Đúng như tên tiếng Anh, có giá trị như vàng bởi tin đồn loài đó là nguyên liệu để sơ chế thuốc chữa ung thư. Bột mai rùa được dùng trong món cao quy linh, là một loại thuốc Đông y dạng thạch, cũng được phục vụ như món tráng miệng đặc sản nổi tiếng. Bị thương lái Trung Quốc thu mua cật lực nên bị săn bắt đến gần hết sạch, trở nên hiếm đến nỗi giá mỗi kg lên đến 300 triệu VND năm 2015 trong lúc giá rùa nuôi nhốt chỉ bằng 1/5. Tuy được nuôi nhiều ở Trung Quốc, nhưng nhu cầu cho rùa hoang dại vẫn cao. Việc nuôi nhốt không giúp ích cho việc bảo tồn do rủi ro lai với loài khác tạo thế hệ thứ hai vô sinh & làm mất nguồn gien.

Đây là một trong những loài rùa bị khẩn cấp nhất toàn cầu.

Phân hạng bảo vệ: Nghị định 03/VBHN-BTNMT Phụ lục I; Nghị định 06/2019/NĐ-CP Nhóm IIB; CITES Phụ lục II;

Thuộc Họ Rùa đầm (Geoemydidae). Các tên khoa học đồng nghĩa: Cistudo amboinensis, Cyclemys amboinensis.

Cỡ bình quân, mai dài khoảng 20 cm. Mai hình vòm giống cái mũ bảo hiểm, màu xám-đen, nhẵn. Gờ sống lưng rõ. Yếm màu trắng đục, thường có chấm đen, bờ sau yếm không khuyết, bờ ngoài các tấm ở yếm có vết xám đen. Có 3 sọc màu vàng nhạt ở bên đầu: 1 sọc chạy dài từ mút mõm qua mí mắt trên tới cổ, 2 sọc khác chạy từ mũi qua ổ mắt tới cổ. Yếm lồi ở rùa cái & lõm ở rùa đực.

Sinh thái: sống ở ao, đầm lầy, kênh rạch, suối, ruộng lúa ngập nước, nơi có nền đất mềm & nước chảy chậm. Thức ăn chủ chốt là cỏ & cây trồng thủy sinh, đôi lúc tôm, giun đất. Mỗi lứa đẻ 2-5 trứng hình bầu dục, kích cỡ trứng 40-46 x 30-34 mm.

Hiện trạng: từng phân bố ở Gia Lai, Đắk Lắk, Bình Thuận, Bà Rịa–Vũng Tàu, Tây Ninh, Long An, Kiên Giang, Cà Mau. Một số vùng phân bố đã bị tuyệt diệt do săn bắt quá mức & sinh cảnh bị phá hủy. Có thể sinh sản trong điều kiện nuôi nhốt.

Giá trị: loài được nuôi ở những nơi vui đùa tiêu khiển, vườn thú, nên thường bị bán buôn làm vật nuôi cảnh ở Việt Nam & quốc tế. Có giá trị phân tích khoa học về sinh thái & tập tính của loài.

Phân hạng bảo vệ: Nghị định 06/2019/NĐ-CP Nhóm IIB; CITES Phụ lục II;

Vietnamese box turtle, or flowerback box turtle Thuộc Họ Rùa đầm (Geoemydidae). Các tên khoa học đồng nghĩa: Cistoclemmys galbinifrons, Cuora galbinifrons, Cyclemus flavomarginata.

Chú thích: có trên 20 tên khoa học cho loài & phân loài, một số phân loài là con lai vô tính.

Ba loài rùa hộp trán vàng miền Bắc, rùa hộp trán vàng miền Nam & rùa hộp trán vàng miền Trung trước đó là ba phân loài của rùa hộp trán vàng (Cuora galbinifrons). Các nhà khoa học cho là ba loài này rất khó phân biệt với nhau nếu chỉ dựa theo sự biến đổi về màu sắc. Ngoài ra, rùa hộp trán vàng miền Bắc (Cuora galbinifrons) có yếm màu đen hoặc gần đen hoàn toàn khác với hai loài rùa sót lại. Cách tốt nhất để phân biệt rùa hộp trán vàng miền Trung & rùa hộp trán vàng miền Nam là dựa theo hình dạng của mai.

Những độc đáo về hình thái giữa ba loài rùa hộp trán vàng được trình bày dưới đây (Xiaoli Liu, 2019):

Dù có pháp quy nghiêm cấm săn bắt & bán buôn, ba loài rùa hộp trán vàng vẫn bị thỏa thuận trên thị trường mạng với giá hàng chục triệu mỗi con vào thời điểm 2020.

Rùa hộp trán vàng miền Bắc là một trong những loài rùa lớn nhất thuộc chi Cuora: bề dài mai khoảng 28 cm. Mai cao, gồ hẳn lên. Mai có màu sắc phong phú: hoặc nâu-vàng hoặc màu hạt dẻ, thậm chí hoàn toàn đen. Họa tiết trên mai cũng phong phú: một vệt dài hoặc mảnh hoặc rộng, màu nâu hoặc đen; có một ít đốm đen hoặc chẳng có đốm nào. Da cổ hoặc nâu đen hoặc đỏ. Đầu màu vàng có đốm đen, hoặc pha trộn giữa đen, đỏ, cam, vàng, hồng, có hoặc không có họa tiết. Yếm màu đen, gồm hai mảnh động đậy được, nửa yếm phía trước có thể khép kín lại khi đầu thụt vào trong mai. Hai tấm vảy hậu môn của yếm nối liền làm một.

Sinh thái: sống ở nơi ẩm ướt bụi rậm trong rừng cây gỗ ở vùng trung du & vùng núi. Ăn chủ chốt động vật (giun đất, cá, thịt) & cả cây trồng (hoa, quả, chuối). Trước khi đẻ có tập tính bới đất để vùi trứng.

Phân bố: Lào Cai, Vĩnh Phúc, Hòa Bình, Bắc Giang, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên–Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Kon Tum. Cũng chính vì màu sắc & họa tiết phong phú làm cho nhiều người hỏi mua loài rùa này để nuôi làm cảnh, tạo thành thị trường bán buôn xuyên biên thuỳ tấp nập.

Giá trị: có giá trị khoa học, thẩm mỹ giúp học viên sinh viên tìm tòi về tập tính sinh thái của loài này trong thiên nhiên.

Phân hạng bảo vệ: Nghị định 03/VBHN-BTNMT Phụ lục I; Nghị định 06/2019/NĐ-CP Nhóm IIB; CITES Phụ lục II (zero quota cho mục đích thương mại);

Chú thích: Nghị định 06/2019/NĐ-CP ghi Cuora galbinifrons là rùa hộp trán vàng miền “Trung”, có vẻ là do lỗi in ấn.

Thuộc Họ Rùa đầm lầy (Emydidae). Trước đó được xếp vào loài phụ của loài rùa hộp trán vàng miền Bắc (Cuora galbinifrons), đến năm 2014 được Nhóm Chuyên Viên Phân loại học về các loài rùa của toàn cầu đồng ý là loài riêng lẻ.

Mai thuôn dài, ít họa tiết hơn loài miền Bắc.

Hiện trạng: có phân bốhẹp từ Thừa Thiên–Huế (Khu Bảo tồn Sao la) tới Đắk Nông.

Có thể sống tới 50 năm.

Bị săn bắt ráo riết & bán buôn tại các chợ ở Trung Quốc.

Được nuôi cho sinh sản thành công ở tối thiểu hai vườn thú Châu Âu (Minh Long, 2012) & ở Cúc Phương.

Phân hạng bảo vệ: Nghị định 03/VBHN-BTNMT Phụ lục I; Nghị định 06/2019/NĐ-CP Nhóm IB; CITES Phụ lục I;

Chú thích: Nghị định 06/2019/NĐ-CP ghi Cuora bourreti là rùa hộp trán vàng miền “bắc” – có vẻ là do lỗi in ấn.

Thuộc Họ Rùa đầm lầy (Emydidae). Loài này được ghi nhận lần trước hết vào năm 1998 tại Tp Sài Gòn qua điều tra hoạt động mua bán thú hoang dã. Ban đầu được cho rằng một phân loài của rùa hộp trán vàng miền Bắc (Cuora galbinifrons), đến năm 2014 được Nhóm Chuyên Viên Phân loại học về các loài rùa của toàn cầu đồng ý là loài riêng lẻ.

Kiểu dáng tương đương rùa hộp trán vàng miền Bắc với mai gồ cao & yếm có bản lề. Điểm nhấn là ở màu sắc mai nhạt hơn, ít họa tiết hơn, yếm vàng có chấm đen.

Sinh thái: sống nơi mát, ẩm ướt & có nhiều nước trong các bụi rậm ở rừng vùng núi & trung du. Thức ăn là ốc nhỏ & cây trồng. Trước khi đẻ có tập tính bới đất để vùi trứng. Thường chỉ đẻ 1 trứng.

Hiện trạng: Khánh Hòa, Phú Yên (Rừng đặc dụng Đèo Cả, chỉ bảo vệ cây rừng, không bảo vệ động vật), Cao nguyên Lang Bian.

Giá trị: có khu vực phân bố eo hẹp, vô cùng hiếm, có giá trị về thẩm mỹ & nguồn gien.

Khó nuôi nhốt cho sinh sản, trong lúc nhu cầu trên thị trường quốc tế còn đang cao, chính vì thế gây stress cho các quần thể hoang dại.

Phân hạng bảo vệ: Nghị định 03/VBHN-BTNMT Phụ lục I; Nghị định 06/2019/NĐ-CP Nhóm IB; CITES Phụ lục I;

Còn gọi là con quy, rùa đá, rùa gối, thuộc Họ Rùa cạn (Testudinidae). Các loài rùa cạn, như cái tên, sống trên cạn, hiếm khi xuống nước. Chúng có mai cứng & dầy, gồ lên rất cao, da dầy, chân không có màng bơi. Đa phần ăn cây trồng.

Dài 30 cm, nặng 3,5 kg. Mai dài, gồ cao, đôi lúc hơi thắt ở giữa, giữa mỗi tấm vảy có đốm đen, màu sắc khác nhau theo từng cá thể: màu chủ chốt hoặc là vàng-nâu hoặc xám sẫm. Đầu màu vàng thẫm, có nhiều tấm sừng. Họa tiết trên mai cũng đa dạng. Yếm có màu vàng với những đốm đen, phía trước yếm phẳng, phía sau yếm lõm sâu. Chân hình trụ, ngón chân không có màng. Con cháu có thiên hướng lớn hơn & tròn hơn con đực, trong lúc con đực có đuôi to hơn nhiều đối với con cháu.

Sinh thái: sống gần nơi có nguồn nước với khí hậu nhiệt đới, có đủ điều kiện có thể tắm nắng hoặc cư ngụ trong bóng râm. Vào mùa khô có cá tính trú khô, nằm lì trong bụi & không ăn tức là một cách thức ngủ đông; sang mùa mưa mới ra hoạt động kiếm ăn. Ăn cây trồng như quả rụng. Mỗi lứa đẻ 4-5 trứng, có tập tính vùi trứng vào đất.

Hiện trạng: phân bố ở ở Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Giang, Hà Nội, Hòa Bình, Tây Ninh, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông. Bị săn bắt rất là nhiều để làm thịt & nuôi cảnh (so với những người khởi đầu nuôi rùa), đang dần đến bờ tuyệt chủng.

Giá trị: có giá trị khoa học, thẩm mỹ, giúp học viên, sinh viên tìm tòi về tập tính sinh thái của loài này trong tự nhiên. Chúng còn được nuôi ở những nơi vui đùa, tiêu khiển (vườn động vật).

Phân hạng bảo vệ: Nghị định 06/2019/NĐ-CP Nhóm IIB; CITES Phụ lục II (so với cả Họ Testudinidae);

Còn gọi là rùa xe tăng, thuộc Họ Rùa cạn (Testudinidae). Các tên khoa học đồng nghĩa: Geoemyda latinuchalis, Testudo impressa.

Loài rùa đó là một trong số các loài rùa cạn đẹp nhất. Cỡ bình quân, bề dài mai 18-21 cm. Mai không gồ cao, màu vàng-nâu hoặc xám, vảy có những tia đen to. Phía trước & phía sau mai có những gai hình răng cưa nhọn & cong lên với đường viền. Những tấm vảy ở giữa mai phẳng. Yếm màu vàng, có thể có nhiều vệt đen. Hai chân sau có hai cái cựa rất đặc thù. Phía trước & sau yếm lõm sâu hình chữ V. Đầu lớn, màu vàng nhạt đến xám đen, trên đầu có nhiều tấm sừng. Chân lớn hình trụ, có vảy dày, ngón chân không có màng da. Yếm màu vàng, có những tia màu nâu sẫm.

Sinh thái: sống ở khe rãnh, thung lũng ẩm ướt trên độ cao 1500-2000 m. Hoạt động vào buổi chiều, ban ngày trú trong các hang hốc. Ăn các quả rụng, mầm cỏ, măng non, nấm.

Hiện trạng: phân bố ở Lai Châu, Lào Cai, Nghệ An, Hà Tĩnh, Gia Lai, Kon Tum & Lâm Đồng. Số lượng ngoài hoang dại suy giảm. Dân cư bản địa bắt chủ chốt để làm thịt bởi vì việc nuôi nhốt khốn khó.

Giá trị: loài có giá trị khoa học, thẩm mỹ, giúp học viên, sinh viên tìm tòi về tập tính sinh thái của loài này trong tự nhiên. Chúng còn được nuôi ở những nơi vui đùa, tiêu khiển (vườn động vật).

Phân hạng bảo vệ: Nghị định 06/2019/NĐ-CP Nhóm IIB; CITES Phụ lục II (so với cả Họ Testudinidae);

Có tên khác là càng đước, thuộc Họ Rùa đầm lầy (Emydidae).

Kích thức lớn tới 47-51 cm. Mỏ làm thành 2 mấu nhọn hình răng ở hàm trên. Mai phồng, thuôn dài, màu nâu thẫm hay đen, bờ sau mai không có răng cưa. Yếm màu đen, có dải vàng ở giữa hoặc vàng với vệt đen phía ngoài, bờ trước yếm lồi, bờ sau yếm khuyết, bờ bên phần sau yếm thẳng. Đầu nhỏ, màu vàng nhạt hay xám, có những vết đốm đen & vàng. Cổ màu vàng với những dải sậm. Chân dẹp, ngón chân có màng da dầy. hàm màu vàng.

Sinh thái: sống ở kênh rạch, ao hồ, đầm lầy, kể cả ruộng lúa nước nơi có dòng chảy chậm. Khi bị trêu chọc, rùa thường phản ứng bằng cách khoe mỏ hình răng để dọa. Ăn cây trồng thủy sinh, cỏ; trong điều kiện nuôi còn ăn quả & các loại rau. Đẻ mỗi 4 trứng có vỏ vôi.

Phân bố: Đồng Nai, Kiên Giang, Cà Mau.

Giá trị: có giá trị khoa học, thẩm mỹ giúp học viên sinh viên tìm tòi về tập tính sinh thái của loài này trong tự nhiên. Chúng còn được nuôi ở nơi vui đùa, tiêu khiển (vườn động vật).

Phân hạng bảo vệ: Nghị định 06/2019/NĐ-CP Nhóm IIB; CITES Phụ lục II;

Thuộc Họ Rùa đầm (Geoemydidae). Tên khoa học đồng nghĩa: Pyxidea mouhotii.

Chú thích: ngoài hoang dại rùa sa nhân giao phối với rùa hộp trán vàng miền Bắc, rùa hộp trán vàng miền Nam hoặc rùa hộp ba vạch tạo thành thế hệ lai được đặt tên là phân loài Cuora galbinifrons serrata hoặc loài Cuora serrata. Những phân tích về sau cho thấy các tên khoa học này không hợp lệ. (Gray, 2018)

Rùa sa nhân còn non dễ bị nhầm với loài rùa đất Spengler vì chúng có màu sắc giống nhau, có các gờ trên mai & có các tấm rìa phía cuối mai hình răng cưa. Ngoài ra, mai của rùa sa nhân tròn hơn & gồ cao hơn trong lúc mai rùa đất Spengler lại dài & có hình ôvan.

Mai dài 15-17 cm, hiếm khi quá 20 cm, con cháu to hơn con đực một tí. Mai màu nâu nhạt đến vàng nhạt hoặc xám, dọc mai có ba gờ cụ thể, đỉnh mai phẳng, thường có màu sáng hơn hai bên, cuối mai có rìa răng cưa. Yếm màu vàng có vạch đen ở rìa xen lẫn các vạch tối màu. Con đực: móng dầy & dài hơn con cháu, mắt đen hoặc nâu. Con cháu: mắt màu cam hoặc đỏ.

Sinh thái: sống trên cạn, thường ẩn mình dưới các lớp lá mục, cỏ khô, gỗ mục trong hang động, kẽ đá trong rừng ẩm nhiệt đới, rừng đồi đá vôi ở độ cao thấp. Vào mùa nóng đi xuống thung lũng rừng, vào mùa lạnh ẩn mình trong kẽ đá, một cách thức ngủ đông. Ăn chủ chốt động vật như dế, giun đất, ốc.., cũng ăn nấm, quả rụng. Đẻ mỗi lứa 1-7 trứng dưới lớp lá cây khô hoặc dưới hố đào bằng hai chân sau.

Hiện trạng: phân bố ở Lào Cai, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An.

Được nhân giống với quy mô nhỏ ở Trung Quốc để phân phối cho người nuôi làm cảnh. Rùa có thể sinh sản trong điều kiện nuôi nhốt.

Hiện trạng: số lượng giảm sút trầm trọng.

Phân hạng bảo vệ: Nghị định 06/2019/NĐ-CP Nhóm IIB; CITES Phụ lục II (zero quota cho mục đích thương mại);

Thuộc Họ Rùa đầm (Geoemydidae).

Mai màu nâu đen hình ô-van, không gồ cao, đầu có hai hoặc ba vạch màu vàng, một vạch đi qua mắt, yếm có những vệt đậm màu đối xứng trên từng tấm yếm & có viền vàng chung quanh.

Có thể bị nhầm với rùa câm. Ảnh dưới đây nêu ra sự độc đáo giữa hai loài:

Được miêu tả lần trước hết cho khoa học năm 1941, trong suốt 65 năm tiếp theo các nhà khoa học chẳng hề phát hiện được rùa Trung Bộ trong hoang dại, tuy họ từng thấy một số cá thể bị vận tải & mua bán. Mãi đến năm 2006, các nhà khoa học mới có thể mới bắt được một cá thể trong hoang dại.

Giá trị: loài đặc hữu của Việt Nam, vô cùng hiếm, có giá trị về thẩm mỹ & nguồn gien.

Phân hạng bảo vệ: Nghị định 03/VBHN-BTNMT Phụ lục I; Nghị định 06/2019/NĐ-CP Nhóm IB; CITES Phụ lục I;

Rùa biển có tuổi thọ cao (60-100 năm) & vòng đời cầu kỳ, mỗi công đoạn lại yêu cầu một sinh cảnh sống khác nhau như bãi cát, thảm cỏ biển, rạn san hô, rạn đá, vùng nước sâu. Tuy số lượng ổ trứng & số trứng trong một ổ cao nhưng tỷ lệ qua đời ở công đoạn con non rất lớn (lên đến 60%), nên ước tính chỉ 1/1000 con non có thể sống sót đến công đoạn trưởng thành. Do vậy, nếu rùa trưởng thành bị tận diệt & trứng của chúng bị lấy hết thì quần thể đó sẽ bị hủy diệt sau một vài thập kỷ.

Rùa biển di cư hàng trăm (đôi lúc hàng nghìn) km từ nơi kiếm ăn sinh sống đến bãi đẻ & sau đó quay về. Rùa biển cái bơi qua những ngọn sóng để đẻ trứng trên bãi biển. Chúng chỉ rời khỏi mặt nước lên bờ trong giai đoạn đẻ trứng này. Rùa biển cái đào ổ bằng hai chi sau & đẻ khoảng 70-190 trứng. Trứng rùa cần 6-10 tuần để nở.

Giới tính của rùa con được quyết định bởi nhiệt độ của ổ trứmg: dưới 30°C chủ chốt là rùa đực, trái lại trên 30°C là rùa cái. Rùa con ngay khi ra đời đã có thể định vị phương hướng & bơi ngay về hướng biển, khởi đầu một quãng đường dài.

Chúng chuyển ra sinh sống tại vùng biển sâu cho đến 5-10 tuổi. Khi kích cỡ được khoảng 20 cm, rùa non mới rời khỏi vùng biển sâu, quay lại vùng biển gần bờ & sống ở các rạn san hô hoặc ở những thảm cỏ biển. Do có rất là nhiều mối đe dọa so với rùa con nên chỉ khoảng 1 trong số 1.000-10.000 con sống sót đến lúc trưởng thành.

Khi rùa biển đến độ tuổi trưởng thành, chúng khởi đầu công cuộc sinh sản. Cả rùa đực & cái di cư đến bờ biển gần nơi chúng được ra đời để sinh đẻ. Khả năng định hướng của rùa biển khi di cư, khả năng ghi nhớ địa điểm nơi mình được ra đời, nguyên nhân lựa chọn bãi đẻ của rùa mẹ… vẫn còn có nhiều huyền bí chưa được các nhà khoa học tìm hiểu.

Tại Việt Nam, rùa biển mới chỉ được mang vào trong danh sách các loài cấm khai thác từ thập kỷ 1990s, & giờ đây việc bảo vệ rùa biển ở nhiều bản địa còn nhiều giới hạn. Điều này góp thêm phần khiến cho quần thể rùa biển tại Việt Nam bị thu hẹp cả về số loài cũng như số lượng cá thể trong từng loài. Những lý do chính dẫn theo hiện trạng này như sau (Chu Thế Cường, 2014):

Đánh bắt rùa biển không chủ ý.  Theo tập tục & tín ngưỡng của phần đông ngư dân, nhất là từ các tỉnh miền Trung & miền Bắc, rùa biển là loại loài vật cần kiêng cữ. Trước đó, khi bắt gặp rùa biển hoặc rùa bị vướng lưới, ngư dân thường thả trở lại biển. Rùa biển không phải là đối tượng khai thác mà chỉ là các sản phẩm phụ do bị vô tình mắc lưới & chết. Rùa biển thở bằng phổi, chúng có thể ở dưới nước 4-6 tiếng. Nhưng khi bị mắc vào lưới của ngư dân, chúng sẽ vẫy vùng để thoát ra, điều này tiêu hao nhiều oxy trong khoảng thời gian ngắn & dẫn theo chết trôi.

Xem Thêm  Du lịch nhộn nhịp trong kỳ nghỉ lễ 10 3 - nghỉ lễ 10/3

Các ngành gây chết rùa biển nhiều đặc biệt là giã cào, lưới vây & câu cá ngừ hải dương. Ngành giã cào thường hoạt động tại khu vực nước ven bờ, nhất là trong các thảm cỏ biển, còn ngành lưới vây & câu cá ngừ hoạt động ở các khu vực nước sâu xa bờ. Do vậy, phần đông vích thường bị đánh bắt không chủ ý do ngành giã cào, còn các loài khác thường do lưới vây & câu cá ngừ. Tổng số lượng rùa biển có thể bị đánh bắt không chủ ý do ngành câu cá ngừ trên toàn vùng biển Việt Nam khoảng 1000 cá thể/năm.

Thu nhặt trứng & bắt rùa mẹ lên đẻ.  Trong một thời gian dài, người dân sống ven biển (nhất là những người không làm ngành biển) đã coi rùa biển là loại thức ăn thay thế trọng yếu. Việc khai thác trứng rùa ở Châu Á được coi như yếu tố tác động lớn nhất đến sự suy giảm số lượng của chúng. Ở Đông Nam Á việc thu hoạch trứng rùa dẫn theo hiện trạng khiến cho rùa hầu hết không còn đến làm ổ trong khu vực đẻ trứng thời gian trước. Qua kết quả phỏng vấn người dân, hầu hết 100% số rùa mẹ lên đẻ & trứng của chúng (nếu bị phát hiện) đều bị giết thịt & thu gom. Đặc biệt hơn, tại một số nơi còn trực tiếp tiêu thụ thịt rùa & thậm chí trứng rùa cũng là món khoái khẩu của những khách du lịch thập phương.

Thời gian gần đây, do công tác quảng bá chuyên sâu nhận thức của người dân về việc bảo vệ rùa biển nên chúng không còn bị đánh bắt công khai, bên cạnh đó ở nhiều bản địa rùa mẹ & trứng vẫn bị dấm dúi đánh bắt & thu nhặt.

Bán buôn, tiêu thụ bất hợp pháp các sản phẩm từ rùa biển.  Rất là nhiều sản phẩm thương mại được sơ chế từ rùa biển được bày bán khắp mọi nơi, kể cả đồ trang sức, mỹ nghệ & mẫu nhồi. Cùng lúc theo này là các hoạt động trái phép khác như tổ chức xuất, nhập khẩu mai rùa biển nhằm cung cấp cho nhu cầu của du khách. Một số lượng đáng kể các sản phẩm từ mai rùa được bán cho thương lái người nước ngoài ngay tại biển ngoài hải phận quốc tế.

Tiến triển nền tảng hạ tầng ven biển.  Các hoạt động kinh tế như nuôi tôm trên cát, khai thác cát, tiến triển du lịch, xây dựng kè chống xói mòn… là những lý do chính gây nên ảnh hưởng tiêu cực đến nơi sinh sản của rùa biển, làm cho rùa cái không trở lại nữa. Thậm chí, tiếng ồn & ánh sáng nhân tạo từ các khu du lịch ven biển cũng gây ảnh hưởng tiêu cực đến các hoạt động đẻ trứng, di chuyển & kiếm ăn của rùa biển.

Hoạt động du lịch ven biển khiến rùa mẹ không còn lên đẻ trứng. Tại Thái Lan, các bờ biển vắng khách vì phong tỏa do đại dịch Covid-19 tạo cơ hội cho loài rùa da quý giá lên bờ làm tổ đẻ trứng kỷ lục trong 22 năm trở lại đây. Theo Trọng điểm sinh học biển Phuket, Thái Lan, do số lượng khách du lịch đến nước này giảm, các bờ biển du lịch nổi tiếng ở miền Nam Thái Lan nhìn thấy một số lượng kỷ lục rùa biển con sinh sôi nảy nở.

Tương đương, tại Ấn Độ, hơn 70.000 rùa mẹ xuất giờ đây bãi biển Rushikulya trong một sự việc dị thường. Sự việc diễn ra trong lúc bờ biển vắng lặng không bóng người vì trào lưu ở nhà tránh dịch Covid-19 của người dân bản địa. thông thường, sự đông đúc sôi động của du khách & hoạt động của người dân bản địa khiến rùa biển ít khi hiện ra trong khu vực này. (Hoàng Dung, 2020)

Ô nhiễm rác thải. Dầu thải, rác thải (túi ni lông, lưới hỏng…) ảnh hưởng tới các quần thể rùa biển & các loài khác khi chúng ăn, bị vướng phải, bị thương, bị tắc hệ thống tiêu hóa hay làm giảm diện tích nơi kiếm ăn & sinh sản. Những yếu tố này cũng góp thêm phần làm tăng tỷ lệ rùa biển bị qua đời tại Việt Nam.

Rác thải hải dương đóng góp vào nhiều tử vong của rùa biển, nguy hại đặc biệt là túi nilon & các loại rác nhựa khác. Rùa biển thường lầm tưởng những mảnh nhựa & túi nhựa là sứa biển –  thức ăn ưa chuộng của chúng. Rác thải nhựa chặn đường ruột của rùa, dẫn theo một tử vong chậm & đớn đau vì đói. Tại Hawaii người ta tìm ra hơn 1.000 mảnh nhựa trong bao tử một con rùa chết.

Rác thải ở biển chẳng những tác động đến rùa biển mà còn đe dọa đến sức khỏe của hệ sinh thái nơi rùa biển kiếm ăn, đo này lại ảnh hưởng thêm lên rùa biển.

Suy thoái sinh cảnh, suy giảm số lượng & diện tích bãi đẻ của rùa biển. Các rạn san hô ở Việt Nam bị phá hủy do khai thác thủy sản bằng chất nổ & chất độc xyanua, các thảm cỏ biển & rừng ngập mặn bị khai thác hết sạch, cô đọng trầm tích khiến cho rùa biển suy giảm chất lượng sinh sản do không tích góp đủ năng lượng cho chu kỳ sinh sản kế đến: thời gian giữa hai mùa sinh sản tăng trưởng, số lượng trứng & con non giảm đi & chất lượng trứng & con non cũng sẽ bị suy giảm.

Trong những năm gần đây, các đơn vị chính phủ & tổ chức quốc tế, phi chính phủ có những phấn đấu đáng kể nhằm ngăn chặn việc sử dụng các bí quyết khai thác hải sản đưa tính diệt trừ & đã có các giải pháp bảo vệ, sử dụng hợp lý các hệ sinh thái biển & vùng ven biển. Ngoài ra, phải có thời gian rất dài để các hệ sinh thái này có thể khôi phục được hiện trạng ban đầu.

Hoạt động tàu thuyền.  Đây cũng là một lý do gây nên thương vong cho rùa biển. Lưu lượng cao của tàu thuyền các loại còn khiến các loài vật biển lạc hướng trong lộ trình kiếm ăn, đi vào đất liền.

Thay đổi khí hậu & nước biển dâng.  Giới tính của rùa biển lệ thuộc nhiệt độ môi trường trong công đoạn ấp trứng, nhiệt độ ấp càng cao thì càng nhiều con cháu ra đời, nhiệt độ thấp thì nhiều con đực được ra đời. Các quần thể rùa biển có nhiệt độ ấp thăng bằng giới tính là cũng giống như nhau trong 29,3–29,4 độ C. Theo các cốt chuyện thay đổi khí hậu & nước biển dâng tại Việt Nam, đến năm 2100, phần đông rùa biển ra đời tại các bãi đẻ giờ đây (Côn Đảo & Núi Chúa) sẽ đưa giới tính cái. Điều này sẽ tác động cực kỳ nghiêm trọng đến thăng bằng giới tính của quần thể rùa biển ngoài tự nhiên. Tuy nhiên, nước biển dâng làm mất phần đông diện tích các bãi đẻ tại Côn Đảo, nơi có độ cao bãi thấp & là khu vực rùa biển lên đẻ lớn nhất tại Việt Nam.

Chẳng thể bảo tồn bằng cách nuôi nhốt

Thắc mắc được đề ra: Vì sao tất cả chúng ta không nuôi nhốt, đợi cho rùa trưởng thành rồi mới thả chúng ra biển? Tại Côn Đảo, đã từng có một khoảng thời gian ngắn thực hiện công việc này, nhưng này là một cách làm hết sức tai hại, may mà lỗi lầm ấy sớm được phát hiện & sửa chữa. Này là vào khoảng đầu tháng 5-1995, với cách nghĩ như thắc mắc trên, những hồ xi măng rộng khoảng vài mét vuông được xây dựng tại một số trạm kiểm lâm để nuôi nhốt rùa con sau thời điểm nở. Đến tháng 9 năm đó, một đoàn Chuyên Viên quốc tế về rùa biển đến thăm, tìm tòi công tác bảo tồn rùa biển tại Côn Đảo. Nhìn cảnh hàng nghìn rùa con bơi trong bể bé bỏng, đoàn Chuyên Viên bất ngờ & nói “bảo tồn như vậy là sai rồi”. Họ yêu cầu vớt số rùa này lên & thả ra biển ngay tức khắc. Họ giảng giải xong mới biết, là nuôi nhốt kiểu đó sẽ làm rùa đuối sức, & trọng yếu hơn là sẽ giết chết những đặc điểm sinh học về cảm giác hướng biển, tiếng sóng biển cũng như tuyệt kỹ sinh tồn khác của rùa. (Xuân Thọ, 2018)

Riêng người viết bài này có lần đến thăm một nền tảng nuôi rùa biển ở Thái Lan. Khi đến mỗi hồ xi măng nuôi rùa, rùa lớn rùa nhỏ thấy người đến đều trồi lên mặt nước để đòi thức ăn! Với hiện trạng như vậy thì chẳng thể nào thả chúng xuống biển: mỗi khi thấy tàu thuyền chúng lại chạy theo & trồi lên mặt nước để mong cho ăn. Nền tảng nuôi rùa biển nêu trên rất tốn kém nhưng không đạt mục đích bảo tồn, lại không đón tiếp khách du lịch rộng rãi nhằm dạy bảo quần chúng.

Cho dù chỉ nuôi rùa chớm nở vài ngày rồi thả xuống biển vẫn có vấn đề. Kinh nghiệm ở Côn Đảo cho thấy mới nuôi được vài ngày, nhưng khi thả ra, chỉ có một con rùa non nhằm hướng biển bò xuống, sót lại đều bò ngược về hướng núi, nghĩa là chúng mất khả năng định vị. Khả năng của rùa non, là tự định vị được hướng biển, ghi nhận & lưu lại những thông tin nơi mình nở ra & bò xuống biển, để rồi vài chục năm sau đó, khi sống sót & trưởng thành, rùa sẽ quay trở lại chính nơi này để tiếp tục đẻ trứng. Khi mất khả năng định vị đầu đời, rùa khó hoàn thành chu trình sinh sống.

Trên toàn cầu có 7 loài rùa biển thuộc hai họ như sau:

Họ Vích (Cheloniidae):

  • đồi mồi (Eretmochelys imbricata)
  • đồi mồi dứa (Lepidochelys olivacea)
  • quản đồng (Caretta caretta)
  • rùa lưng phẳng (Natator depressus)
  • vích, rùa xanh (Chelonia mydas)
  • vích Kemp (Lepidochelys kempii)

Họ Rùa da (Dermochelyidae):

  • rùa da (Dermochelys coriacea)

Khác với rùa cạn & rùa nước ngọt, rùa biển chẳng thể thu đầu & chân vào trong mai. Chúng có 4 chân (chi) mở rộng & hoạt động như mái chèo. Rùa biển sinh sống ở toàn bộ các vùng biển trên toàn cầu loại trừ vùng Bắc Cực. Riêng loài rùa lưng phẳng chỉ được tìm ra ở vùng biển hướng phía bắc Australia.

Phân biệt các loài rùa biển theo các đặc điểm minh họa dưới đây.

Trong số 7 loài rùa biển, có 5 loài được tìm ra tại các vùng biển ở Việt Nam. Đồi mồi, đồi mồi dứa, vích & rùa da đã từng lên đẻ trứng trên vùng bãi biển Việt Nam. Riêng quản đồng chỉ kiếm ăn chứ không sinh sản tại vùng biển Việt Nam.

Chú thích: các tên tiếng Việt được sử dụng thiếu nhất quán:

  • Nghị định 03/VBHN-BTNMT; Sách Đỏ Việt Nam 2007, Khu Bảo tồn Biển Cù lao Chàm, IUCN-Việt Nam, Viện Tài nguyên & Môi trường Biển, & http://tapchimoitruong.vn/ ghi tên “đồi mồi dứa” cho loài Lepidochelys olivacea & “vích” cho loài Chelonia mydas.
  • Một số website (trong đó có https://www.thiennhien.net/, https://vncreatures.net/ & wikipedia) ghi tên “vích” cho loài Lepidochelys olivacea.
  • Một số website (trong đó có https://www.kiemlamangiang.gov.vn/, https://tongcucthuysan.gov.vn/ & wikipedia) ghi tên “đồi mồi dứa” cho loài Chelonia mydas.

Điều này có nghĩa những CSDL có tên tuổi & những ban nghề chuyên môn sử dụng các tên tiếng Việt độc đáo nhau, gây rườm rà cho người mong muốn tra cứu nếu chỉ dựa theo tên tiếng Việt – trong lúc các tên này khá phổ biến trong dân gian.

Bài này ghi các tên tiếng Việt theo dòng đầu. Các miêu tả là dựa vào tên khoa học.

Thuộc Họ Vích (Cheloniidae). Đây là loài duy nhất trong chi Eretmochelys. Có hai phân loài: ở Eretmochelys imbricata imbricata Đại Tây Dương & Eretmochelys imbricata bissa ở Ấn Độ Dương–Thái Bình Dương.

Phân biệt với đồi mồi dứa: hàm trên mỏ kéo dài ra & quặp xuống làm cho mỏ trông giống mỏ chim ưng (hawk’s bill), & có 2 cặp vảy trước trán (prefrontal scale).

Thân thể tương đối dẹp từ trên xuống dưới. Mai hình ô-van, dài đến 144 cm, 4 tấm sườn (lateral scale) mỗi bên xếp gối lên nhau. Các chi giống mái chèo, chi trước có 2 móng vuốt.

Sinh thái: có bộ hàm mạnh mẽ giúp cắn xé bọt biển (hải miên) trong các rạn san hô, giúp tạo không gian cho ấu trùng san hô an cư, duy trì sự ổn định kết cấu rạn san hô. Sống chủ chốt ở vùng biển cạn & rặng san hô, rạn đá ngầm có nhiều hang để làm nơi trú ẩn, đôi lúc hiện diện ở rừng sát & ngoài đại dương. Có thể thích ứng với môi trường nước ngọt.

Ăn các loại sứa, nhuyễn thể, giáp xác, rong biển & cỏ biển. Sống cô độc ngoài mùa giao phối, hoạt động ban ngày & nghỉ ban tối.

Con cháu bò lên bãi cát ven biển đào lỗ sâu 30–40 cm & đẻ trứng vào đó. Nhờ mặt trời sưởi cát “ấp” cho trứng nở. Đồi mồi non sau thời điểm nở chui lên khỏi cát & bò xuống biển.

Đẻ 2 năm một lứa, mỗi lứa đến 140 trứng. Con non nở sau 2 tháng, dài 2,5 cm, có màu đen-nâu; rìa mai màu nhạt. Sống đến 30-40 năm.

Vào đầu thế kỷ 20, đồi mồi khá thông dụng dọc bãi biển Việt Nam. Các khu vực như Côn Đảo, Cát Bà hoàn toàn không còn loài này lên đẻ trứng từ những năm 2000. Từ năm 2008 đến 2013, hầu hết không còn ghi thu được bất kỳ cá thể nào lên đẻ trứng tại các bờ biển của Việt Nam. (Nguyễn Diệu Thúy, 2016) VQG Núi Chúa (Ninh Thuận) có vẻ là một trong số ít khu vực hiếm có trên đất liền ở Việt Nam có đồi mồi lên đẻ trứng.Việc loài người săn bắt các quần thể đe dọa đồi mồi mất hút hoàn toàn ở Việt Nam.

Công ước CITES cấm săn bắt & bán buôn các sản phẩm từ đồi mồi vì mọi mục đích.

Phân hạng bảo vệ: Nghị định 03/VBHN-BTNMT Phụ lục I; CITES Phụ lục I (so với cả Họ Cheloniidae); Sách Đỏ Việt Nam 2007 hạng EN.

Thuộc Họ Vích (Cheloniidae). Tên khoa học đồng nghĩa: Chelonia olivacea.

Loài rùa biển cỡ nhỏ, mai dài 60-70 cm; cân nặng 25-46 kg, ít khi trên 50 kg. Con đực nhẹ hơn con cháu một tí. Đầu hình tam giác khi nhìn từ trên xuống. Mai hình tim, dẹp từ trên xuống dưới, màu lục-xám đến ô-liu nhưng đôi lúc đỏ nhạt do tảo mọc trên mặt mai,. Dấu hiệu: có số tấm sườn (lateral scute) biến đổi & không đối xứng, từ 5-9 vảy mỗi bên. Một phần vích trưởng thành lưỡng tính. Vích đực có đuôi dài & lớn hơn vích cái. Hai chi trước có 2 móng vuốt.

Sinh thái: giúp duy trì sự ổn định của hệ sinh thái cỏ biển bằng cách tạo thành các luống khi ăn cỏ, làm tăng thỏa thuận hoạt chất trong khu vực có cỏ biển.

Có tập tính đẻ trứng tập thể: hàng nghìn con cháu lên một bãi biển để cùng đẻ trứng. Con non chớm nở có màu xám.

Từng phân bố chăm chú tại Vịnh Bái Tử Long & các tỉnh miền Trung (từ Hà Tĩnh đến Phú Yên). Hiện tại chỉ còn chừng 10 con lên đẻ mỗi năm tại một số bờ biển thuộc khu vực Bái Tử Long (Đảo Quan Lạn, Ngọc Vừng) & Tỉnh Quảng Bình. Đặc biệt tại Bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng), sau thời điểm giải quyết tuyến đường chạy chung quanh bán đảo & tiến triển các khu nghỉ dưỡng tại các bờ biển thì đồi mồi dứa không còn hiện ra nữa. (Chu Thế Cường, 2014)

Phân hạng bảo vệ: Nghị định 03/VBHN-BTNMT Phụ lục I; CITES Phụ lục I (so với cả Họ Cheloniidae); Sách Đỏ Việt Nam 2007 hạng EN.

Còn gọi là đú hay rùa biển đầu to, thuộc Họ Vích (Cheloniidae). Tên khoa học đồng nghĩa: Testudo caretta.

Loài rùa mai cứng lớn nhất toàn cầu: bề dài bình quân 1,8 m (cá biệt 213 cm), trọng lượng 300-400 kg (cá biệt 545 kg). Màu da từ vàng đến nâu, mai có màu nâu-đỏ rực rỡ, có 5 tấm sườn (lateral scute) mỗi bên. Đầu to, có 2 cặp vảy trước trán (prefrontal scale). Chi trước có 2 móng vuốt, chi sau có 2-3 móng vuốt. Đuôi rất dài. Đầu được phủ bởi các mảnh sừng rất cứng. Bộ hàm trên tạo ra móc chắc khỏe giúp loài vật có thể ăn được các loài có vỏ cứng như cua, ốc. Không có sự độc đáo giới tính bên ngoài cho đến khi loài này trưởng thành, sự độc đáo cụ thể đặc biệt là con đực trưởng thành có đuôi dày hơn & yếm ngắn hơn đối với con cháu.

Con cháu đẻ đào hố cát trên bờ biển để đẻ trứng, mỗi lần đẻ 170-200 trứng, & 2-3 năm tiếp theo ngưng đẻ trứng. Nhiệt độ quyết định giới tính: con đực nở ra ở 28 độ C, con cháu ở 32 độ C. Sau khoảng 80 ngày, con non nở ra, có màu từ nâu đến hầu hết đen, bò ngay xuống biển. Nhiều con non ẩn núp giữa các bè tảo nâu Sargassum. Con cháu sống trong hải dương khoảng 20 năm rồi trở lại cùng bờ biển nơi chúng nở ra để đẻ trứng. Một con cháu có thể giao phối với nhiều con đực & có khả năng trữ tinh trùng trong tử cung chờ đến khi rụng trứng. Chính vì như vậy, một lứa trứng có thể thụ tinh từ 7 con đực. Con non chớm nở có màu xám.

Ăn tạp, chủ chốt động vật không xương sống.

Sinh thái: cư trú ở vùng cát, vùng triều, vùng khơi, ven đảo.

Phân bố: không sinh sản tại vùng biển Việt Nam; từng xuất giờ đây các vùng biển Cô Tô– Thanh Lân (Quảng Ninh), từ Quảng Ngãi đến Ninh Thuận, & Côn Đảo. Tuy không có đủ thông tin để nhận xét số lượng quản đồng vẫn giữ nguyên hay suy giảm tại vùng biển Việt Nam, nhưng theo những kết quả thăm dò thực địa & phỏng vấn ngư dân, số lượng loài này bắt gặp ngoài hoang dại đang suy giảm đáng kể. (Chu Thế Cường, 2014)

Nhiều Chuyên Viên tổng kết quản đồng hình như không sinh sản tại Việt Nam từ những năm 1970, nhưng chúng vẫn được bắt gặp trong công cuộc ngư dân khai thác trên biển. Đây là những cá thể sinh sản từ các nước khác trong khu vực. (Nguyễn Diệu Thúy, 2016)

Lúc này thu hẹp ở khu vực Đảo Bạch Long Vĩ đến Đảo Cát Bà. VQG Núi Chúa (Ninh Thuận) là một trong số ít khu vực hiếm có trên đất liền ở Việt Nam có rùa quản đồng lên đẻ trứng. Một khu vực khác là Côn Đảo.

Phân hạng bảo vệ: Nghị định 03/VBHN-BTNMT Phụ lục I; CITES Phụ lục I (so với cả Họ Cheloniidae) ; Sách Đỏ Việt Nam 2007 hạng CR.

Còn gọi là tráng bông, thuộc Họ Vích (Cheloniidae). Tên tiếng Anh “rùa xanh” là do lớp mỡ màu lục tích tụ trong thể xác. Tên khoa học đồng nghĩa: Testudo mydas.

Từ trên nhìn xuống, mai hình con tim.

Phân biệt với đồi mồi: mõm không nhọn như mỏ chim ưng, & có một cặp vảy trước trán (prefrontal scale), 4 tấm sườn (lateral scale) mỏng & mỗi bên không xếp gối lên nhau.

Dài bình quân 70 cm, nặng đến 130 kg. Mai trơn láng & rộng, có màu từ nâu nhạt đến nâu pha lục – có khi trông giống đồi mồi. Họa tiết thường là dạng sọc tỏa tròn hoặc có đốm trên vảy. Chi trước cong vừa phải; phía trên chi trước có 1 móng vuốt.

Sinh thái: Thức ăn là các loài nhuyễn thể, giáp xác, cá, giun & cỏ biển. Giống như nhiều loài rùa biển khác, đồi mồi dứa di cư với khoảng cách khá xa giữa khu vực kiếm ăn & nơi sinh sản. Rùa cái tìm địa điểm phù hợp trên bãi biển cát, đào ổ & đẻ trứng vào ban tối. Sau 49-62 ngày trong điều kiện nhiệt đới, rùa con nở ra & bò ngay xuống biển. Con non chớm nở có màu từ xám đến đen.

Có thể sống đến 80 năm trong môi trường thiên nhiên. Chưa được nuôi nhốt.

Phân bố tại khắp các vùng biển nhiệt đới & cận nhiệt đới, với hai quần thể khá độc đáo tại Đại Tây Dương & Thái Bình Dương. Ở Việt Nam, đồi mồi dứa phân bố ở Hòn đảo Hoàng Sa, Hòn đảo Trường Sa, Cát Bà, Côn Đảo, Thổ Chu, Phú Quốc.

Vào đầu thế kỷ 20, vích là loài rùa biển thông dụng nhất dọc bãi biển Việt Nam, kể cả quần thể kiếm ăn & sinh sản. Trước thập niên 1970s có 700 rùa mẹ lên bờ đẻ trứng hàng năm. Con số này hiện giảm xuống còn chừng 300 con lên đẻ tại 7 khu vực là Côn Đảo (Bà Rịa–Vũng Tàu), Núi Chúa (Ninh Thuận), Bái Tử Long & Cô Tô–Thanh Lân (Quảng Ninh), Hòn Cau (Bình Thuận), Hòn Khô–Hải Giang (Bình Định), Hải Lăng (Quảng Trị) & Hòn Cao Cát (Kiên Giang). (Nguyễn Diệu Thúy, 2016)

VQG Núi Chúa (Ninh Thuận) là một trong số ít khu vực hiếm có trên đất liền ở Việt Nam có đồi mồi dứa lên đẻ trứng.

Côn Đảo là vị trí trước hết (từ năm 1994) của Việt Nam thực hiện bảo tồn loài vích. Số lượng vích mẹ làm ổ tại Côn Đảo hàng năm chiếm hơn 80% vích đẻ trứng ở Việt Nam (Nguyễn Đức Thế & Chu Thế Cường, 2013).

Có thể sống đến 80 năm trong môi trường thiên nhiên.

Phân hạng bảo vệ: Nghị định 03/VBHN-BTNMT Phụ lục I; CITES Phụ lục I (so với cả Họ Cheloniidae); Sách Đỏ Việt Nam 2007 hạng EN.

Còn gọi là rùa luýt hay con luýt, là loài duy nhất còn sống thuộc Họ Rùa da (Dermochelyidae).

Rùa da là loài rùa biển lớn nhất, & là loài bò sát lớn thứ tư sau 3 loài cá sấu: dài 1-2 mét, nặng 250-700 kg. Con rùa da to nhất được biết dài 3 mét, nặng 916 kg.

Rất đơn giản phân biệt với các loài rùa biển khác vì không có mai, thay vào đó lưng được bao bọc bởi lớp da & thịt trơn. Chạy dọc lưng là 7 đường gờ tách biệt. Lưng có màu xám sẫm hoặc đen & các chấm, vết màu trắng. Bụng có màu sáng hơn. Không có răng mà chỉ có các điểm trên rìa cắt sắc nhọn thuộc môi trên với các gai mọc ngược trong họng giúp nuốt thức ăn.

Sinh thái: Rùa da giúp duy trì lưới thức ăn của biển. Chúng có thực đơn ăn ưa chuộng là sứa, có thể tiêu hóa được các chất độc từ sứa, với kích cỡ & khối lượng lớn giúp chúng tiêu thụ rất là nhiều sứa trong một ngày. Do vậy, rùa da giúp kiểm tra số lượng sứa trong thiên nhiên, giúp cho trứng cá & cá con (thức ăn chủ chốt của sứa) có thời dịp để tiến triển. Số lượng rùa da giảm đi sẽ dẫn theo sự tăng trưởng của sứa, giảm số lượng cá trong tự nhiên.

Rùa da sống chủ chốt ngoài đại dương. Rùa da trưởng thành thường có đường di cư rất dài. Các nhà khoa học đã theo dõi được một con rùa da bơi từ Indonesia đến Hoa Kỳ trên hành trình khoảng 20.000 km trong vòng trên 647 ngày trong công cuộc nó tìm kiếm thức ăn. Rùa da thích sống ở vùng nước sâu nhưng vẫn bắt gặp trên cạn. Khác với các loài bò sát khác, chúng sống tốt trong nước lạnh, chúng có thể sống ở những vùng lạnh đến 4,5°C. Có thể lặn sâu đến 1200 mét. Là loài bò sát di chuyển nhanh nhất toàn cầu & được ghi nhận năm 1992 bởi sách kỷ lục Guinness với vận tốc 35,28 kilômét trên giờ trong nước.

Hầu hết chỉ ăn sứa. Chính vì như vậy lộ trình di cư phù phù hợp với những vùng phân bố sứa.

Trong lúc các loài rùa biển khác hầu hết chỉ quay lại bờ biển nơi chúng nở để làm ổ thì rùa da cái lại biến đổi nơi đẻ trứng trong vùng mà chúng nở. Các bờ biển được chọn thường có cát mềm vì mai & yếm của chúng rất mềm & dễ bị thương tổn bởi đá. Một con rùa da cái đẻ khoảng 9 ổ trong mỗi mùa sinh sản. Khoảng cách giữa hai lần đào ổ là khoảng 9 ngày. Bình quân mỗi ổ trứng có khoảng 110 quả, 85% có khả năng sống. Trứng nở sau 60-70 ngày. Giống như nhiều loài bò sát khác, nhiệt độ môi trường của ổ trứng quyết định giới tính của con non. Khi đêm xuống, rùa con phá vỡ vỏ trứng & bò về phía biển. Con non có màu sắc & hình thái tương đương con trưởng thành. Rùa da đực không lúc nào rời biển từ khi chúng xuống biển.

Phân bố: Trong số các loài rùa biển còn sinh tồn thì rùa da có khu vực phân bố rộng nhất, trong toàn bộ các vùng biển nhiệt đới & cận nhiệt đới, & còn được tìm ra ở vùng Bắc cực.

Rùa da Thái Bình Dương thuộc về 2 quần thể độc đáo nhau. Một quần thể làm ổ ở các bờ biển của Papua New Guinea, Indonesia & Hòn đảo Solomon, quần thể thứ hai làm ổ ở bờ Thái Bình Dương thuộc Trung Mỹ, khu chăm chú nằm ở Mexico & Costa Rica. Quần thể rùa làm ổ ở Malaysia, với số lượng thấp hơn 100 cá thể vào năm 2006, được đề nghị là quần thể thứ 3 ở Thái Bình Dương.

Vào các thập kỷ 1960-1970 có 500 rùa da mẹ lên các bờ biển Trung Bộ làm ổ hàng năm. Đến 2002 chỉ còn 10 rùa mẹ lên làm ổ. Trong suốt thời gian từ năm 2008 đến 2013, giới phân tích chỉ ghi nhận một cá thể rùa da lên đẻ trên bãi Cát Dài tại Huyện Cam Lâm (Khánh Hòa) & Hải Lăng (Quảng Trị) vào năm 2013. Các bản địa khác từng có rùa lên đẻ như Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên… thì đến nay không còn vết tích của rùa da lên bờ đẻ trứng. (Nguyễn Diệu Thúy, 2016)

Tuy đôi lúc ngư dân vẫn thấy rùa da hiện ra trong vùng biển Việt Nam, thời dịp để rùa da quay trở lại đẻ trứng trên bờ biển Việt Nam là rất nhỏ.

Phân hạng bảo vệ: Nghị định 03/VBHN-BTNMT Phụ lục I; CITES Phụ lục I;

Một số loài rùa được du nhập vào Việt Nam để làm vật cảnh, & việc này đề ra một số vấn đề về sinh thái. Rùa du nhập có thể đưa vào Việt Nam mầm bệnh cho người & gia súc. Chẳng hạn, Chuyên Viên đã thông báo rùa tai đỏ đưa nhiều mầm bệnh, trong đó có vi khuẩn Salmonella – một dạng vi khuẩn gây bệnh thương hàn. Nếu được nuôi rộng rãi, loài người khi tiếp xúc có thể bị nhiễm khuẩn, dẫn theo tiêu chảy, đau bụng dữ dội, sốt cao, thậm chí là qua đời.

Việc du nhập có thể đưa vào Việt Nam loài rùa ngoại lai xâm hại, như đã xảy ra với ốc bươu vàng (Pomacea canaliculata) & cá lau kính (Hypostomus plecostomus). Riêng rùa tai đỏ (rùa mini) là một trong những loài đã được quốc tế thông báo là loài xâm hại bất trắc, ảnh hưởng tiêu cực đến phong phú sinh học & các nghề kinh tế, nhưng cho đến năm 2019 vẫn tiếp tục được nhập khẩu, phát tán & nuôi tự phát tại Việt Nam (Kiều Linh, 2019).

Việc nuôi rùa du nhập cần tuân thủ những điều kiện sau:

  1. Không nuôi loài được pháp quy xác nhận là ngoại lai xâm hại.
  2. Nếu nuôi loài có tên trong các Phụ lục của CITES, phải bảo đảm nhà nhập khẩu hoặc NPP có đủ hồ sơ cho phép hoặc minh chứng nguồn gốc cá thể là từ nền tảng nuôi dưỡng được phê duyệt. Còn nếu không thể bảo đảm việc này thì tốt nhất không nên mua loài có tên trong các Phụ lục của CITES, để không tiếp tay cho việc bán buôn bất hợp pháp xuyên biên thuỳ.
  3. Cần tìm tòi kích cỡ khi rùa lớn lên kẻo gặp phải khốn khó khi rùa quá lớn trong lúc điều kiện tài chính hoặc không gian nuôi nhốt bị giới hạn.
  4. Không lúc nào thả rùa du nhập ra hoang dại. Liên hệ với đơn vị tính năng (ví dụ: cục kiểm lâm bản địa, hoặc vườn thú) để họ có cách khắc phục.

Thuộc Họ Rùa đầm (Geoemydidae). Loài địa phương ở Bắc Mỹ.

Con cháu dài 15-25 cm, con đực chỉ bằng một nửa. Giống như cái tên: mai có những đường nét giống như đường đồng mức trên bản đồ. Mai có màu ô-liu hoặc xám với những đốm màu nhưng thường mờ dần khi loài vật lớn lên, lúc đó chỉ có thể thấy được khi mai bị ướt. Các đường nét trên mai thường có màu vàng, nâu hoặc cam, đều được bao quanh bởi các đường viền sẫm màu. Phía sau mai hơi cong lên, mép mai có răng cưa. Da đầu, cổ & bốn chân màu vàng với những đường vằn vện màu ô-liu. Yếm màu vàng với một vệt đen ở giữa. Con cháu thường có đầu rộng, hàm khỏe, con đực nhỏ & yếu hơn.

Sinh thái: sống chủ chốt trong nước không bị ô nhiễm ở sông, hiện diện thấp hơn ở hồ & suối. Khá rụt rè & khó tiếp cận, thường trượt xuống nước & ẩn náu khi cảm thấy bất trắc. Hoạt động ban ngày. Thường lên bờ phơi nắng cả lũ. Ăn thịt nhiều hơn các loại rùa khác cùng họ: chủ chốt loài nhuyễn thể, cũng ăn sâu bọ, tép, cá… Luôn kiếm ăn trong nước. Giao phối thường niên ở vùng nước sâu.

Xem Thêm  Nên mua xe tay ga dưới 25 triệu của hãng nào tốt nhất hiện nay 2022 - xe may duoi 25 trieu

Rùa cái dùng hai chi sau để đào ổ trên bãi cát không có bóng mát để đẻ 6-20 trứng. Rùa con nở ra sau 50-70 ngày. Ở nhiệt độ 25 độ C đa phần rùa nở ra là con đực; ở nhiệt độ 30-35 độ C đa phần rùa nở ra là con cháu.

Phân hạng bảo vệ: CITES Phụ lục III;

Xuất xứ từ Bắc Mỹ. Tên khoa học đồng nghĩa: Emydura subglobosa.

Mai dài 20 cm, màu nâu hạt rẻ, hoặc xám hoặc ô-liu, & viền mai màu cam, hồng hoặc đỏ. Bụng có màu hồng hoặc màu đỏ cam. Da có màu xám & có một số vệt màu hồng nhạt. Đầu rùa màu xám hoặc ô-liu, có 2 sọc màu vàng ở 2 bên mi mắt.

Con đực có đuôi dài hơn, lớn hơn, dầy hơn con cháu – chỉ thấy rõ khi rùa đạt tới kích cỡ khoảng 10 cm.

Sinh thái: sống trong ao hồ. Ăn các động vật thân mềm, động vật giáp xác, sâu bọ thủy sinh. Rất rụt rè, chỉ cảm thấy an toàn khi có thể ẩn náu dưới nước.

Tuổi thọ nuôi nhốt 30–50 năm.

Phân hạng bảo vệ: CITES không tìm ra phân hạng;

Thuộc Họ Rùa đầm lầy (Emydidae). Xuất xứ từ miền đông-nam Hoa Kỳ, đặc biệt từ Florida đến đông-nam Virginia.

Bề dài mai con đực từ 12–22 cm, con cháu 2 –33 cm. Mai thường là màu nâu với những sọc vàng. Yếm chủ chốt màu vàng, kế bên có những đốm đen to. Da đầu, cổ & chân màu vàng nhạt với những vệt to màu ô-liu.

Sinh thái: sống ở nhiều sinh cảnh phong phú kể cả đầm lầy, ao, sông có nước chảy chậm, & đất ngập trong mùa mưa. Hoạt động ban ngày. Ăn tạp: sâu bọ, cá, tôm cùng các lá xanh.

Giao phối diễn ra trong nước.

Tuổi thọ nuôi nhốt đến 40 năm.

Nhắc nhở: Vì tập tính ăn tạp & khả năng thích ứng với nhiều sinh cảnh khác nhau, rùa bụng vàng có thể trở thành loài ngoại lai xâm hại nếu được phóng thích ra hoang dại.

Phân hạng bảo vệ: CITES không tìm ra phân hạng; IUCN 2010 LC (so với loài Trachemys scripta).

Thuộc Họ Chelydridae. Xuất xứ từ Bắc Mỹ, được du nhập vào Việt Nam vào khoảng năm 2013.

Đây là loài rùa nước ngọt lớn nhất ở Bắc Mỹ: dài 35-81 cm & nặng đến 80 kg (một vài cá thể trên 100 kg); rùa cái bé hơn, nặng trên dưới 30 kg. Mai có nhiều vỏ gai nhọn, hàm răng sắc, đuôi dày. Thân thể có mầu xám, đen, nâu, ít khi màu ô-liu. Đầu to đối với thể xác sót lại. Có thể há miệng to tạo thành góc 120 độ. Trong miệng có một phòng ban phụ trên lưỡi nhìn giống như con giun đỏ ngoe nguẩy. Lực của hàm rất mạnh, từng cắn đứt ngón tay của người sơ ý.

Trông cũng giống như rùa common snapping cùng họ nhưng rùa cá sấu có mai gồ lên cao hơn, những hàng gai trên mai cũng cao hơn, & đuôi ngắn hơn.

Sinh thái: chủ chốt sống trong thủy vực nước ngọt; chỉ con cháu mới lên bờ khi đẻ trứng. Ăn hầu hết bất kỳ thứ gì tìm được: động vật không xương sống, thịt động vật thối rữa, rắn, tôm tép, chim nước, rùa nhỏ, cá sấu nhỏ, thậm chí sóc & chồn khi các loài vật này xuống uống nước. Ngư dân bản địa than phiền rùa cá sấu làm giảm số lượng cá trong vùng, nhưng thật ra không đúng. Rùa săn mồi bằng cách phục kích: nằm bất động, được ngụy trang bởi rong rêu trên mai, há miệng để lộ hình con giun đỏ ở trong miệng ngo ngoe ra nhằm lôi kéo cá & động vật khác đến bắt mồi. Khi con mồi hiện ra đi vào miệng chúng sẽ bị giết như chớp với vận tốc & lực của hàm rùa. Việc săn mồi như vậy chẳng thể bắt được nhiều cá đối với việc ăn tạp những thứ khác.

Sinh sản khi trưởng thành ở độ tuổi 12-13 tuổi. Mỗi ổ đẻ 10-50 trứng. Sau 100–140 ngày trứng nở; giới tính của con non được xác nhận do nhiệt độ của ổ trứng.

Tuổi thọ đến 80-120 năm trong hoang dại & 20-70 năm trong nuôi nhốt.

Nhắc nhở: Khi thả ra hoang dại, rùa cá sấu có khả năng trở thành loài ngoại lai xâm hại do tính hung hãn giết hại các loài thủy tộc. Điều này thường xảy ra khi rùa trở nên quá lớn & người nuôi không còn tồn tại đủ điều kiện về tài chính hoặc không gian để tiếp tục nuôi dưỡng loài vật. Hệ sinh thái ở một số nước Châu Âu đã lâm vào hiện trạng bị xâm lấn bởi rùa cá sấu.

Điều trái khoáy là vì bị săn bắt quá nhiều, số lượng rùa cá sấu hoang dại ở Mỹ giảm mạnh, & thiết yếu có bí quyết bảo tồn.

Phân hạng bảo vệ: CITES Phụ lục III; IUCN 1996 VU.

Kích cỡ bình quân: dài 30 cm, cá biệt 40 cm. Mỗi vảy sậm trên mai có viền xám sậm hoặc nâu sậm, trọng tâm nâu sáng. Chân màu sậm với vảy màu sáng từ vàng đến đỏ.

Xuất xứ từ vùng Amazon, được nuôi thông dụng nhất tại Mỹ. Chủ đạo ăn cây trồng: quả, cỏ, hoa, nấm, cũng ăn thêm động vật không xương sống. Hoạt động chững dần vào mùa khô & nóng với sự chuyển đổi chậm trong thể xác.

Tuổi thọ: 50-100 năm.

Loài rùa này được du nhập về Việt Nam từ khoảng 2014, chủ chốt từ Thái Lan & Trung Quốc. Ngoài ra, một trang trại ở Hà Nội nhập loài đồ sộ này về từ chính quê hương của nó, với những cá thể 30-50 kg.

Bị săn bắt mạnh để bán làm thú cảnh. Chính vì như vậy, nuôi làm cảnh càng khích lệ việc săn bắt loài rùa này.

Phân hạng bảo vệ: CITES Phụ lục II; IUCN không tìm ra phân hạng.

Còn gọi là rùa cạn Sulcata đồ sộ, thuộc Họ Rùa cạn (Testudinidae).

Rùa Châu Phi là một trong những loài rùa cạn lớn nhất toàn cầu: đạt đến bề dài 83 cm & nặng 105 kg. Loài rùa này có xuất xứ từ miền nam hoang mạc Sahara ở Châu Phi, nhưng có khả năng thích nghi với những điều kiện khí hậu khác nhau.

Con chưa trưởng thành có họa tiết đẹp gồm màu nâu sậm trên nền nâu nhạt. Càng lớn lên, họa tiết càng nhạt rồi thành màu xám xỉn.

Lớn khá nhanh: từ con chớm nở dài 5-7 cm, đạt 15-25 cm sau ít năm. Sống thọ đến 70 năm.

Sinh thái: trong vùng khô hạn, đào hang rất sâu: dài đến 30 m & sâu đến 15 m để khi trời nóng nhất trong ngày trú ẩn dưới hang. Ăn cây trồng, chủ chốt gồm các loại cỏ có nhiều chất xơ & đạm thấp, cũng ăn các loại xương rồng. Hầu hết không uống nước vì nước được hấp thụ từ thức ăn là đủ so với sự chuyển đổi trong thể xác.

Con cháu đào ổ để đẻ 15-30 trứng. Con non nở ra sau 90-120 ngày.

Phân hạng bảo vệ: CITES Phụ lục II (so với cả Họ Testudinidae); IUCN 1996 VU.

Thuộc Họ Chelydridae.

Loài rùa này được nuôi làm cảnh hơi nhiều ở Việt Nam nhưng vẫn chưa có tên tiếng Việt; người bán & người nuôi đều gọi theo tên tiếng Anh.

Dài 20-36 cm, kỷ lục 49 cm; trọng lượng 4,5–16 kg, kỷ lục 39 kg. Mai từ nâu sậm đến đen, có 3 hàng gai chạy xuôi theo bề dài với các tấm vảy sừng nhô cao như vảy cá sấu, mõm như hình mỏ chim, thân. Đầu to đối với mai. Đầu & cổ có nhiều gai nhọn. Đôi chân chắc khỏe, cũng có gai. Trông cũng giống như rùa cá sấu cảnh cùng họ nhưng rùa common snapping có mai dẹt hơn, những hàng gai trên mai ít hơn, riêng đuôi dài hơn nhiều.

Xuất xứ ở vùng đông-bắc nước Mỹ, bao gồm cả Nam Carolina & Georgia. Có thể thọ hơn 100 tuổi.

Sinh thái: thích sống ở khu vực nước ngọt có nước sâu. Đôi lúc lên bờ phơi nắng. Ăn tạp: động vật không xương sống, cá, chim, động vật có vú, cây trồng, cũng thường ăn xác động vật chết lâu ngày.

Được sử dụng nhiều làm thực phẩm. Cũng chính vì có hình thù kỳ dị nên rất được yêu thích nuôi làm cảnh, nhưng khi cầm nắm người nuôi có thể bị loài vật cắn do mỏ bén & cổ linh động. Một số trang trại ở Trung Quốc nuôi loài rùa này.

Nhắc nhở: Khi thả ra hoang dại, rùa common snapping có khả năng trở thành loài ngoại lai xâm hại do tính hung hãn giết hại các loài thủy tộc.

Phân hạng bảo vệ: CITES Phụ lục III; IUCN 2010 LC.

Thuộc Họ Rùa cạn (Testudinidae).

Kích cỡ khá lớn: dài 40 cm & nặng 13 kg, cá biệt dài 70 cm & nặng 40 kg. Khi còn non, mai có họa tiết đẹp với màu đen trên nền trắng ngà hoặc nâu-đỏ trên nền hồng. Khi lớn lên, họa tiết mờ dần thành màu nâu & xám. Mai gồ cao, hai bên hầu hết thẳng đứng. Đầu & bốn chân có màu đồng đều vàng hoặc nâu.

Sinh thái: xuất xứ ở thảo nguyên miền đông & nam Châu Phi, sống ở đồng cỏ, bụi cây gai vùng bán khô hạn đến độ cao 2900 m; không sống ở vùng trung Châu Phi ẩm ướt. Di chuyển nhanh, bơi giỏi. Ăn các loại cỏ, cây mọng nước.

Con cháu đào ổ để đẻ 5-30 trứng, mỗi mùa sinh sản có thể đẻ 5-7 ổ. Con non nở sau 8-15 tháng tùy nhiệt độ môi trường & trưởng thành sinh dục sau 12-15 năm. Tuổi thọ bình quân 80 năm.

Được nuôi nhốt cho sinh sản để phục vụ người nuôi rùa cảnh, giúp giảm stress cho quần thể hoang dại.

Phân hạng bảo vệ: CITES Phụ lục II (so với cả Họ Testudinidae); IUCN 2014 LC.

Thuộc Họ Rùa đầm (Geoemydidae). Xuất xứ ở Trung Mỹ, từ Mexico đến Brazil.

Dài 20 cm. Con đực bé hơn nhưng có đuôi dài hơn con cháu. Mai thường có gờ chạy dọc trên đỉnh, có họa tiết & màu sắc sặc sỡ phong phú, nhưng cũng có những cá thể với mai màu xám hoặc nâu trơn. Đầu có những vằn nhỏ màu cam hoặc hồng. Các họa tiết & màu sắc dần mờ nhạt khi loài vật lớn lên.

Sinh thái: thích sống gần nguồn nước ở rừng hoặc lùm bụi ẩm với cao độ thấp. Ăn tạp: quả, sâu bọ, giun đất… Mỗi mùa đẻ vài ổ 3-5 trứng. Trứng ngủ đông khi nhiệt độ xuống thấp, & phôi tiến triển khi nhiệt độ tăng. Khi đó, nhiệt độ quyết định giới tính: toàn bộ là con đực với 24-27 độ C, toàn bộ là con cháu với trên 30 độ C.

Tuổi thọ hơn 20 năm.

Bị mua bán nhiều xuyên đất nước để phục vụ nhu cầu nuôi làm cảnh.

Phân hạng bảo vệ: CITES không tìm ra phân hạng; IUCN không tìm ra phân hạng.

Thuộc Họ Rùa cạn (Testudinidae).

Kích cỡ độc đáo tùy phân loài: dài 18-28 cm. Điểm nổi trội của loài rùa đó là phần đuôi & móng sắc nhọn. Con chưa trưởng thành có mai với họa tiết đẹp màu đen & vàng, khi lớn lên họa tiết nhạt dần thành màu xám, nâu nhạt hoặc vàng không sắc nét.

Xuất từ vùng nam Châu Âu, chính vì thế thích nhiệt độ mát ở mức 26–27 độ C. Các cá thể được chào bán ở Việt Nam được cho rằng nhập từ Trung Quốc, Thái Lan & Mỹ.

Rùa Hermann Tortoise thích leo trèo, đào hang.

Phân hạng bảo vệ: CITES Phụ lục II (so với cả Họ Testudinidae); IUCN 2004 NT.

Còn gọi là rùa đảo cổ xưa, thuộc Họ Rùa cạn (Testudinidae).

Một trong những loài rùa lớn nhất toàn cầu: dài bình quân 122 cm & nặng bình quân 250 kg. Mai gồ cao. Con non có màu nâu nhạt hoặc sậm, lớn lên thành xám sậm. Cổ rất dài, giúp loài vật ăn cành lá cao 1 m khỏi mặt đất.

Sinh thái: sống ở đồng cỏ, lùm bụi, rừng ngập mặn, đồi cát ven biển, Xuất xứ ở Hòn đảo Aldadbra của Seychelles. Ăn cây trồng kể cả cành cây thân gỗ. Do sự thích ứng ở vùng khô hạn, lấy nước chủ chốt từ thức ăn.

Được nuôi nhiều ở các vườn thú trên toàn cầu.

Tuổi thọ lên tới 255 năm.

Phân hạng bảo vệ: CITES Phụ lục II (so với cả Họ Testudinidae); IUCN không tìm ra phân hạng.

Thuộc Họ Rùa đầm lầy (Emydidae).

Đực dài 19 cm & nặng 300 g, cái dài 23 cm & nặng 500 g. Nhìn từ trên xuống, mai mở rộng về phía đuôi. Màu mai biến đổi từ nâu đến xám, xanh lục & đen. Da có màu xám, hoặc nâu, vàng, trắng. Mỗi cá thể có họa tiết khác nhau gồm những gợn sóng & đốm đen hoặc nâu trên đầu & thân.

Sinh thái: thích sống trong khu vực có nhiệt độ từ 27–29 độ C. Có thể thích ứng trong nước với những độ mặn khác nhau thậm chí mặn như nước biển. Khi sống trong những mặn, uống nước ngọt bằng cách uống lớp nước mặt ít mặn, hoặc nhô đầu lên khỏi mặt nước khi trời mưa để uống nước mưa.

Tuổi thọ của rùa kim cương lên tới 20 năm.

Phân hạng bảo vệ: CITES Phụ lục II; IUCN 2018 VU.

Thuộc Họ Rùa cổ Úc-Nam Mỹ (Chelidae), chứa khoảng 60 loài sống dưới nước, chân có màng bơi.

Dài tới 45 cm & nặng tới 15 kg. Kiểu dáng đặc biệt: đầu to & bè, cổ rất dài, mũi nhọn hướng tới phía trước giống như mũi tên, mai có kiểu dáng giống như lá cây, có màu vàng hoặc nâu vừa đến nâu sậm.

Sinh thái: xuất phát điểm từ sông Amazon & khu Orinoco Nam Mỹ. Sống trong môi trường nước có độ pH 5-6. Ăn động vật: cá, tôm, ốc, cua.

Phân hạng bảo vệ: CITES không tìm ra phân hạng; IUCN không tìm ra phân hạng.

Thuộc Họ Kinosternidae, gồm 25 loài có bề dài 10–15 cm, sống trong vùng nước chảy chậm có đáy mềm, lầy lội & thảm cây trồng đa dạng. Đa phần các loài trong họ này có kích cỡ nhỏ.

Rùa lưỡi dao có mai dài 15 cm, màu nâu với những vệt đen. Trên đỉnh mai có một sống bén chạy dọc. Cổ dài, chân ngắn, mỏ bén.

Xuất xứ từ miền nam nước Mỹ. Tuổi thọ 20 năm.

Sinh thái: sống trong suối nước chảy chậm, ao, đầm lầy có nền cát hoặc đá, không sống ở vùng nước lợ, thường lên bờ để phơi nắng. Ăn chủ chốt động vật: tôm, cua, ốc, sâu bọ kể cả xác chết.

Phân hạng bảo vệ: CITES không tìm ra phân hạng; IUCN 2010 LC.

Thuộc Họ Carettochelyidae.

Xuất xứ từ miền bắc Úc & miền nam Papua New Guinea.

Dài 70 cm, nặng trên 20 kg. Hình thái không giống với bất kỳ loài rùa nước ngọt nào: mũi giống mũi lợn, bốn chi mở rộng thành mái chèo như rùa biển. Mai màu xám hoặc ô-liu giống như da, mai màu kem.

Sinh thái: không sống hoàn toàn trong nước, có tính bảo vệ bờ cõi mạnh hơn phần đông các loài rùa khác. Ăn tạp: quả, lá, loài giáp xác, loài nhuyễn thể, & sâu bọ.

Con cháu trưởng thành sinh dục lúc 18 tuổi, con đực lúc 16 tuổi. Rùa mẹ đẻ trứng trên bờ cát. Ngay cả khi con non tiến triển đầy đủ trong trứng, chúng vẫn ngủ đông cho đến khi có điều kiện phù hợp mới chui ra khỏi trứng. Một yếu tố phù hợp là có nhiều sự chuyển động của rùa con trong trứng, khi đó toàn bộ rùa con hàng loạt chui ra, được an toàn nhờ số đông.

Do hình thái kỳ lạ, rùa mũi lợn được yêu thích để nuôi làm vật cảnh. Có phân bố hẹp trong hoang dại.

Phân hạng bảo vệ: CITES Phụ lục II; IUCN 2017 EN.

Thuộc Họ Podocnemididae. Xuất xứ từ các hệ thống sông ở Nam Mỹ & vài nhánh sông ở Bắc Mỹ,

Kích cỡ khá lớn: dài đến 45 cm & nặng đến 8 kg. Con cháu có thể lớn gấp đôi con đực. Mai màu đen hoặc nâu. Đầu có những đốm lớn màu vàng, dần phai đi khi rùa lớn lên. Đầu không rút được thẳng vào mai, cổ phải uốn qua một bên để đặt đầu dưới rìa mai.

Sinh thái: sống ở sông hồ có nước tĩnh lặng. Ăn tạp: quả, cỏ, cá, động vật không xương sống.

Con cháu đẻ mỗi năm hai ổ, mỗi ổ 4-35 trứng. Đẻ trứng trên bãi cát dọc bờ sông vào mùa khô để ổ trứng không bị nước bầy cuốn đi. Rùa con nở sau 66-159 ngày. Con đực nở khi nhiệt độ dưới 32 độ C, con cháu nở khi nhiệt độ trên 32 độ C. Chỉ ít ngày sau khi nở, rùa con khởi đầu kiếm ăn.

Phân hạng bảo vệ: CITES Phụ lục II; IUCN 1996 VU.

Thuộc Họ Rùa cạn (Testudinidae). Các tên khoa học đồng nghĩa: Geochelone emys, Testudo phayrei, Manouria fusca, Testudo emys.

Loài rùa lớn lao này có các mảnh sừng kỳ lạ ở ngực trên phần yếm, đứng biệt lập hẳn. Mỗi bên sườn có các vảy to có gai. Mai & các phòng ban mềm màu nâu hoặc xám, đôi lúc có các vệt màu vàng mờ ở trung tâm mỗi mảnh sừng trên mai. Con đực gần giống như con cháu. Rùa con có các mảnh sừng ít nhô ra hơn, & các mảnh sừng ở sống lưng & cạnh rìa có thể hơi lõm vào.

Sinh thái: sống ở rừng thường xanh nhiệt đới, thích nơi thoát nước tốt ở độ cao 600-1500 m. Thức ăn chủ chốt là cây trồng (quả, nấm). đôi lúc thịt động vật chết thối rữa. Đẻ mỗi lần khoảng 30 trứng.

Hiện trạng: loài bị săn bắt mạnh để làm thực phẩm & cũng để bán xuyên biên thuỳ cho người nuôi làm cảnh nên số lượng giảm sút lập tức trong hoang dại.

Phân hạng bảo vệ: CITES Phụ lục II (so với cả Họ Testudinidae); IUCN 2018 CR.

Các tên khoa học đồng nghĩa: Testudo actinoides, Testudo elegans, Testudo stellata.

Cái tên khởi đầu từ những họa tiết màu cam-vàng tỏa ra như người nổi tiếng giữa các tấm mai màu đen-lam. Khi chớm nở, mai rùa con khá nhẵn; càng lớn, mai càng gập ghềnh.

Xuất xứ từ những vùng khô cằn & rừng cây bụi ở Ấn Độ & Sri Lanka. Những năm gần đây, loài rùa này đã được nhập vào Việt Nam.

Mặc dầu được được nhân nuôi rộng rãi tại nhiều đất nước để bán làm vật cưng, nhưng giá trị lớn cùng nhu cầu cao từ thị trường khiến rùa sao Ấn Độ bị săn bắt ráo riết ngoài thiên nhiên.

Phân hạng bảo vệ: CITES Phụ lục I; IUCN 2018 VU.

Thuộc Họ Rùa đầm (Geoemydidae).

Còn được giới bán buôn thú cảnh gọi là rùa mini, có nguồn gốc từ Mexico & Hoa Kỳ.

Kích cỡ bình quân: mai dài 12,5-29 cm. Điểm nhận dạng: sau hai mắt có vệt đỏ dài & rộng. Mai màu lục, vàng-xám hoặc hoặc thẫm tối với nhiều họa tiết, da đầu & cổ có những vệt lượn sóng xem kẽ màu ô-liu  & vàng hoặc xám & trắng. Yếm màu vàng, có các đốm tối trên mỗi tấm yếm. Cá thể non có màu lục nhạt.

Phân loài rùa này được du nhập vào Việt Nam khoảng năm 1994 & mau chóng rất được yêu thích làm vật cảnh vì có màu đẹp. Chẳng bao lâu rùa tai đỏ có mặt tại nhiều ao hồ ở Việt Nam do việc phóng thích rùa nuôi nhốt. Đây là loại rùa được ưa chuộng nhất trong việc mua bán thú cưng, với trên 52 triệu cá thể được xuất khẩu từ Mỹ đến các thị trường nước ngoài trong công đoạn 1989-1997. Sự thích nghi với nhiều sinh cảnh khác nhau & sự ăn tạp hung hãn, ăn toàn bộ các loài cá nhỏ hơn nó & các động vật thủy sinh khác, làm cho rùa tai đỏ có khả năng gây ảnh hưởng xấu trên hệ sinh thái bản địa.

Trứng hình o-val, dài 3-4 cm, ngang 1,9-2,6 cm, nặng 6,1-15,4 g.

Đây là một trong những loài xâm thực bất trắc. TS Nguyễn Đình Hòe, Hội Bảo vệ Thiên nhiên & Môi trường Việt Nam, cho là rùa tai đỏ gây hại cả về mặt thủy sản & trồng trọt, bởi nó ăn cả động vật & cây trồng nước. Mức độ phá hủy của nó thì khủng khiếp hơn ốc bươu vàng rất là nhiều vì rùa lớn hơn, khoẻ hơn, sống lâu hơn & ăn tạp. Thậm chí, rùa tai đỏ còn ăn thịt cả loài rùa khác. (Ngọc Yến, 2010)

Phụ lục I Thông tư liên tịch 27/2013/TTLT-BTNMT-BNNPTNT ngày 13 tháng 11 năm 2008 xác nhận rùa tai đỏ là loài ngoại lai xâm hại.

Phân hạng bảo vệ: CITES không tìm ra phân hạng; IUCN 2010 LC (so với loài Trachemys scripta).

Còn gọi là rùa sơn, có xuất xứ từ Bắc Mỹ, thuộc Họ Rùa đầm (Geoemydidae).

Dài 10-20 cm; con đực bé hơn con cháu. Mai nhẵn, có màu sậm, không có gờ mai. Da có màu từ ô-liu đến đen với những vằn màu cam, hoặc đỏ, vàng trên đầu & bốn chân, trông như được vẽ.

Các phân loài được phân biệt bởi những độc đáo trên mai:

  • rùa vẽ Đông – Eastern painted turtle (Chrysemys picta picta): các đường thẳng trên mai & yếm vàng trơn, không có hoa văn
  • rùa vẽ Nam – Southern painted turtle (Chrysemys picta dorsalis): có một đường màu đỏ hoặc hồng hoặc trắng ngà chạy dọc trên đỉnh mai
  • rùa vẽ Tây – Western painted turtle (Chrysemys picta bellii): có họa tiết màu đỏ dưới yếm
  • rùa vẽ Trung du – Midland painted turtle (Chrysemys picta marginata): yếm màu hồng hoặc trắng ngà có một vệt rộng không đều màu sậm chạy dọc trung tâm.

Rùa vẽ thường bị lầm lẫn với rùa tai đỏ. Trong lúc rùa tai đỏ có 2 viền màu đỏ ngắn ngay phía sau mắt, thì các sọc đỏ & vàng ở rùa vẽ kéo dài đến cổ & tứ chi.

Sinh thái: sống ở các thủy vực nước ngọt có nước chảy chậm, không bị hạn vào mùa khô, & có nhiều thủy cây trồng. Thích lên bờ sưởi dưới tia nắng hàng tiếng đồng hồ. Ăn thảo mộc, tảo, sâu bọ, loài giáp xác, & cá. Vào mùa đông, ngủ đông dưới lớp bùn của ao hồ.

Tuổi thọ ngoài hoang dại đạt 55 năm.

Nhắc nhở: có rủi ro chứa vi khuẩn Salmonella, đe dọa người già & trẻ con trong gia đình có nuôi rùa vẽ làm vật cảnh.

Phân hạng bảo vệ: CITES không tìm ra phân hạng; IUCN 2010 LC.

Việt Nam được xem như là một trong những điểm nóng trọng yếu về phong phú rùa ở Châu Á vì là nơi sinh sống của 27 loài rùa nước ngọt & rùa cạn. Việt Nam đang là quê hương của tối thiểu 2 loài rùa đặc hữu là rùa hộp trán vàng miền Nam (Cuora picturata) & rùa Trung Bộ (Mauremys annamensis). Cả hai loài được xếp ở mức cực kỳ khẩn cấp với số lượng trên đà suy giảm trầm trọng.

Hiện giờ trên phân nửa các loài rùa nước ngọt & rùa cạn có rủi ro tuyệt chủng. Việt Nam nằm trong điểm nóng Đông Dương-Miến Điện về phong phú các loài rùa với khoảng 36 loài & phân loài rùa. Rất là nhiều loài rùa trong đó đang phải đương đầu với rủi ro tuyệt chủng cao như: giải sin-hoe tức rùa Hoàn Kiếm (Rafetus swinhoei), nhóm rùa hộp (Cuora ssp.). Rùa Hoàn Kiếm là một trong những loài có rủi ro tuyệt chủng cao nhất hiện tại: tính đến tháng 6/2019 trên toàn cầu chỉ xác nhận được ba cá thể rùa còn đang sống: một cá thể đực ở Trung Quốc & hai cá thể ở Việt Nam chưa xác nhận được giới tính, độ tuổi, hiện trạng sức khỏe & khả năng sinh sản.

Theo Liên hiệp Bảo tồn Rùa (2018), có 3 loài rùa ở Việt Nam nằm trong mục lục 25 loài rùa có rủi ro tuyệt chủng cao nhất trên toàn cầu là rùa Hoàn Kiếm, rùa Trung bộ & rùa hộp ba vạch. Lý do dẫn theo sự suy giảm các quần thể rùa là do săn bắt trái phép & mất môi trường sống.

Thảm cảnh rùa hoang dại ở Việt Nam nằm ở hai phương diện: vào nồi nấu cao & lên bàn nhậu. Trước sức hút đồ sộ của thị trường Trung Quốc, nhiều tư thương thu gom rùa của thợ săn rồi chở xe tải qua biên thuỳ, xuất bán. Đặc biệt, khi đường biên buộc chặt hơn, họ tiến hành thu gom rồi đun cao rùa bán ở trong nước. Lại có đường dây hợp thức hóa rùa rắn ngoài hoang dại vào “rửa” nguồn gốc động vật trong các trang trại. Toàn bộ là mua bán “rửa nguồn gốc” bằng danh hiệu trang trại, chứ động vật cũng không hề… bò qua trang trại!

Vẫn tồn tại một thị trường đáng kể về rùa quý giá ở Việt Nam phục vụ nhu cầu làm thú cưng, đặc sản nổi tiếng & làm thuốc. Thị trường này đang tăng lên, tạo thành stress kịch liệt vào công tác bảo vệ phong phú sinh học & thượng tôn pháp luật.

Số liệu của Hiệp hội Bảo tồn Động vật Hoang dại Quốc tế (WCS): Gần 1/3 trong số hơn 26.000 phòng ban thú hoang dã bị tịch thu từ năm 2013 đến 2017 là rùa. Thăm dò trong số 1.504 vụ bắt giữ liên quan đến thú hoang dã, thì có đến 10,31% vụ việc liên quan rùa. Rùa trở thành nhóm loài lớn thứ hai trong số các vụ bắt giữ thú hoang dã ở Việt Nam. (Tâm Am, 2019).

Ngày càng có thêm nhiều giải trình về hiện trạng buôn lậu tình tiết cầu kỳ, mang Việt Nam vào mục lục những đất nước đe dọa tuyệt chủng rùa biển cao nhất toàn cầu hiện tại. Theo kết quả phân tích tiên tiến nhất về hiện trạng buôn lậu rùa biển ở 3 đất nước Indonesia, Malaysia & Việt Nam, thông báo tháng 9-2019, Việt Nam là nơi phân phối nguồn rùa chính để thỏa mãn nhu cầu trong nước & ngày càng bị liên lụy là nguồn phân phối rùa nhập lậu cho các nước như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật, Pháp trong vai trò là một thị trường tiêu thụ & là tuyến đường quá cảnh trong việc bán buôn rùa biển (Kim Thùy, 2020).

VQG Cúc Phương có Trọng điểm Bảo tồn Rùa (TCC) nuôi dưỡng các loài rùa được giải cứu để hồi phục sức khỏe rồi thả lại vào hoang dại. Trong năm 2017, có 9 loài rùa được ấp nở thành công tại đây: rùa bốn mắt, rùa cổ bự, rùa cổ sọc, rùa đất lớn, rùa hộp trán vàng miền Trung, rùa núi vàng, rùa răng rùa sa nhân, & rùa Trung bộ. Nhưng những phấn đấu này như muối bỏ bể.

Về rùa biển, theo kết quả phân tích do IUCN & Viện Phân tích Môi trường Biển (IMER) thực hiện, số lượng rùa lên đẻ trứng tại Việt Nam đã giảm từ 10.000 cá thể mỗi năm (những năm 1980) xuống còn 450 cá thể (năm 2019). Điều đáng lo lắng là các bãi đẻ của rùa biển ngày càng bị xóa sổ: số liệu của IUCN cho thấy, đa phần số lượng rùa lên đẻ trứng chăm chú ở Côn Đảo (425 cá thể/năm) & đa phần là vích. (Lan Anh, 2019)

Chu Thế Cường (2014). “Những thách thức đối với bảo tồn rùa biển tại Việt Nam”, Báo chí Môi trường, số 7.

Environment Canada; CITES Secretariat & TRAFFIC North America (1999). CITES Identification Guide – Turtles & Tortoises.

Gray, J. (2018). “Keeled box turtle (Cuora mouhotii)”, Species Spotlight, 13. http://turtlesurvival.nonprofitsoapbox.com/blog/1-blog/519-species-spotlight-vol-13#.Xy3jCIgzapo

Hạnh Nguyên (2018). Huyền bí loài rùa đắt như vàng ròng: Bị truy lùng đến tận diệt. https://vietnamnet.vn/vn/kinh-doanh/thi-truong/bi-an-loai-rua-dat-nhu-vang-rong-bi-sang-lung-den-tan-diet-495760.html

Hendrie, D.B. et al. (2010). Sách chỉ dẫn thi hành luật về định dạng các loài rùa cạn & rùa nước ngọt Việt Nam. Humane International, Taronga, ATCN.

Hoàng Dung (2020). 70.000 rùa biển hiện ra dị thường trên bãi biển vắng bóng người. https://infonet.vietnamnet.vn/chuyen-la/70-000-rua-bien-xuat-hien-bat-thuong-tren-bo-bien-vang-bong-nguoi-60220.html

Hương Thu (2012). Việt Nam tặng lại rùa quý cho Campuchia. https://vnexpress.net/viet-nam-tang-lai-rua-quy-cho-campuchia-2245040.html

Kiều Linh (2019). Quốc tế thông báo rùa tai đỏ gây tổn kinh hoàng tế nhưng Việt Nam vẫn nhập. https://vn.investing.com/news/latest-news/news/commodities-news/quoc-te-canh-bao-rua-tai-do-gay-ton-that-kinh-te-nhung-viet-nam-van-nhap-1900927

Kim Thùy (2020). Việt Nam: Rủi ro tuyệt chủng rùa biển cao nhất toàn cầu. https://nhipcaudautu.vn/phong-cach-song/bao-ve-bao-ton/viet-nam-nguy-co-tuyet-chung-rua-bien-cao-nhat-the-gioi-3332378/

Lan Anh (2019). Một số loài rùa biển công nhận đã mất hút. https://baotainguyenmoitruong.vn/mot-so-loai-rua-bien-xac-nhan-da-bien-mat-294672.html

McCormack, T.  Turtle field skill training manual. Asian Turtle Program (ATP software).

Minh Đức (2019). Ao ước hồi phục quần thể rùa Hoàn Kiếm chỉ còn ở Việt Nam. http://baoquangngai.vn/channel/2031/201909/hy-vong-phuc-hoi-quan-the-rua-hoan-kiem-chi-con-o-viet-nam-2966024/index.htm

Minh Long (2012). Rùa hiếm của Việt Nam sinh ra tại Anh. https://vnexpress.net/rua-hiem-cua-viet-nam-ra-doi-tai-anh-2242025.html

Ngọc Yến (2010). Bộ Nông nghiệp chỉ đạo cấm nuôi rùa tai đỏ. http://cand.com.vn/Xa-hoi/Bo-Nong-nghiep-chi-dao-cam-nuoi-rua-tai-do-165106/

Nguyễn Diệu Thúy (2016). Việt Nam có nhiều hơn một ‘cụ rùa’ cần được bảo vệ. http://thuvien.mard.gov.vn/san-pham/diem-bao/viet-nam-co-nhieu-hon-mot-cu-rua-can-duoc-bao-ve-1654/

Nguyễn Đức Thế & Chu Thế Cường (2013). “Một số chỉ tiêu sinh học của quần thể vích (Chelonia mydas) sinh sản tại Côn Đảo, Việt Nam”, Hội nghị Khoa học Toàn quốc về Sinh thái & Tài nguyên lần thứ 5.

Nguyễn Hoài (2020). Hình ảnh tiên tiến nhất về rùa Hoàn Kiếm ở hồ Đồng Mô. https://www.tienphong.vn/cong-nghe/hinh-anh-moi-nhat-ve-rua-hoan-kiem-o-ho-dong-mo-1654064.tpo

Nhật Vũ (2020). Xu thế nuôi rùa cạn đồ sộ làm thú cưng dịp Tết Nguyên đán. https://laodong.vn/photo/trao-luu-nuoi-rua-can-khong-lo-lam-thu-cung-dip-tet-nguyen-dan-777640.ldo

Platt, J.R. (2019). The last known female yangtze giant turtle has died — What happens next? https://therevelator.org/last-female-yangtze-turtle-died/

Seateun, S; Karraker, NE; Stuart, BL; Aowphol, A. (2019). “Population demography of Oldham’s leaf turtle (Cyclemys oldhamii) in protected and disturbed habitats in Thailand”. PeerJ 7:e7196 https://doi.org/10.7717/peerj.7196.

Tâm Am (2019). Thảm cảnh rùa hoang dại ở Việt Nam: Vào nồi nấu cao, lên bàn nhậu. https://laodong.vn/xa-hoi/tham-canh-rua-hoang-da-o-viet-nam-vao-noi-nau-cao-len-ban-nhau-775258.ldo

Trung Hiếu (2020). Bờ biển Thái Lan vắng khách, rùa lên bờ đẻ trứng kỷ lục trong 22 năm. https://zingnews.vn/bai-bien-thai-lan-vang-khach-rua-len-bo-de-trung-ky-luc-trong-22-nam-post1075414.html

Viết Tuân (2019). Việt Nam thành lập ba khu bảo tồn rùa khẩn cấp. http://www.baodongthap.vn/moi-truong/viet-nam-thanh-lap-ba-khu-bao-ton-rua-nguy-cap-86638.aspx

Việt Pet Garden (2018). Thống kê 35 loại rùa nước ngọt được nuôi nhiều nhất tại Việt Nam. https://vietpetgarden.net/cac-loai-rua-nuoc-ngot/

Xiaoli Liu;  Wei Li;  Zhaoyang Ye;  Yanyu Zhu;  Xiaoyou Hong;  Xinping Zh (2019). “Morphological characterization and phylogenetic relationships of Indochinese box turtles—The Cuora galbinifrons complex”, Ecology and Evolution, 9(23).

Xuân Thọ (2018). Chặng đường rùa biển – Bài 1: Những “công dân” tự do. http://baoquangnam.vn/phong-su-ky-su/hanh-trinh-rua-bien-bai-1-nhung-cong-dan-tu-do-63079.html

By ads_law

Trả lời