Từ bao đời nay, thần thoại Hy Lạp đã trở thành một giá trị vô cùng quý báu của gia tài văn hóa nhân loại. Những nhân vật, điển tích trong đây liên tục được tái sinh, hiện diện, truyền nguồn xúc cảm tới khắp nơi từ triết học, hội họa, điện ảnh cho… – Sưu tầm – Hoa Xương Rồng

Bạn đang xem: than hy lap

Giới Thiệu

Từ bao đời nay, thần thoại Hy Lạp đã trở thành một giá trị vô cùng quý báu của gia tài văn hóa nhân loại. Những nhân vật, điển tích trong đây liên tục được tái sinh, hiện diện, truyền nguồn xúc cảm tới khắp nơi từ triết học, hội họa, điện ảnh cho đến thiết kế, văn học, thi ca. Cho dù ngày hôm nay, thời kì của niềm tin và tư duy thần thoại đã lùi vào quá khứ, hoàng cung Olympe của các vị thần hẳn đã dời đến một hành tinh nào khác xa xăm, thì những tên gọi như Zeus, Éros, Héraclès… hay Achille vẫn truyền cho loài người những âm hưởng thánh thần để chinh phục ngày mai.
 

TÁC GIẢ

 

Tác giả Nguyễn Văn Khỏa (1932-1988) từng nhiều năm công tác tại bộ môn Văn học phương Tây, Đại học Tổng hợp Hà Nội. Trong cuộc sống giảng dạy và phân tích văn học của mình, một trong những công trình mà ông đã dành nhiều tâm sức biên soạn là Thần thoại Hy Lạp. Giáo sư Đỗ Đức Hiểu từng nhận xét: “Trong khoảng năm mươi năm nữa, sẽ không có ai viết được quyển Thần thoại Hy Lạp hay như cuốn của anh Nguyễn Văn Khỏa”. Ngoài Thần thoại Hy Lạp, nhà giáo Nguyễn Văn Khỏa còn tồn tại nhiều công trình uy tín đã xuất bản:

– Người hùng ca của Hômerơ, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, 1978.

– Từ điển văn học Ι và II (cùng với rất nhiều tác giả), NXB Khoa học Xã hội, 1983 & 1984.

– Iliát (bút danh Huyền Kỳ), NXB Kim Đồng, 1986.

 

LỜI GIỚI THIỆU

Thần thoại Hy Lạp, một di sản văn hóa của nhân dân Hy Lạp, từ lâu đã trở thành một giá trị thông dụng vô cùng quý báu của gia tài văn hóa nhân loại. Thật vậy, hiếm hoi thần thoại của dân tộc nào trên toàn cầu lại luôn luôn được tái sinh như thần thoại Hy Lạp, lại luôn luôn có mặt trong đời sống mỗi ngày như thần thoại Hy Lạp. Ngay trong thời thượng cổ, thần thoại Hy Lạp đã “hóa thân” thành thần thoại La Mã. Sự sơ chế này của nền văn hóa La Mã gần với nguyên mẫu như sao chép đến nỗi khoa thần thoại học hầu như không có sự phân biệt giữa những vị thần Hy Lạp được đổi tên Latinh với những vị thần Hy Lạp chính cống. Người ta vẫn thường dùng Jupiter (Latinh) đề chỉ Zeus (Hy Lạp), Vénus để chỉ Aphrodite, Minerve để chỉ Athéna, Mars để chỉ Ares và trái lại. Nói như vậy không có nghĩa là thần thoại La Mã chỉ là sự sơ chế lại thần thoại Hy Lạp. Thần thoại La Mã cũng có một số sự tích, truyền thuyết về vị thần này, thần khác mang tính chất tách biệt của mình. Nhưng nhìn chung cái vốn thần thoại gọi là đích thực La Mã ấy không lấy gì làm phong phú, đáng được liệt hạng.

 

Trong nền văn hóa nhân loại, từ những bức vẽ, pho tượng của các nghệ sĩ thời thượng cổ, thời Phục Hưng, thế kỷ thứ XVII, XVIII, XIX và cả thế kỷ XX của tất cả chúng ta cho đến một tập khảo luận, một vở kịch, một cuốn truyện… đều đã khai thác đề tài, cốt truyện, nhân vật, sự việc trong thần thoại Hy Lạp. Trong văn chương, trên tạp chí, những thành ngữ, điển tích từ thần thoại Hy Lạp được sử dụng thông dụng như một thứ tín hiệu thân thuộc (đương nhiên tất cả chúng ta vẫn chưa quen lắm với thứ tín hiệu này), nào Con ngựa thành Troie, Quả táo bất hòa, Chiếc giường Procuste, rồi Tai vua Midas, Thói Narcisse, Gã Satyre… Ấy là chưa kể tên các vì sao, chòm sao, đường phố, rạp hát, công viên, quảng trường, lâu đài, dinh thự, tên hàng hóa, vũ khí, con tàu vũ trụ… cũng lấy từ thần thoại Hy Lạp.

 

Đọc những tác phẩm của ₭. Marx, ₣. Engels, 𝒱.Ι. Lénine, tất cả chúng ta thường gặp những ẩn dụ, tỉ dụ bằng thần thoại Hy Lạp. Như vậy thần thoại Hy Lạp không phải là ngành nghề chuyên môn hẹp của những nhà folklore học, thần thoại học, văn học phương Tây, mà là lãnh vực tri thức phổ thông trong toàn cầu hiện đại. Thiếu vốn tri thức phổ thông này là thiếu một phương tiện để hiểu biết. Tiếp xúc, hội thoại với nền văn hóa phương Tây mà không có vốn tri thức phổ thông này thì quả là gặp khó khăn không ít. Làm sao lúc nào cũng có, cũng mang theo bên người một cuốn từ điển để tra cứu điển tích này, điển tích khác? Hơn nữa trong việc miêu tả tư tưởng, một cách viết, một cách nói, việc biết sử dụng những ám dụ, tỉ dụ từ điển tích thần thoại càng làm cho tư tưởng mềm mại hơn, uyển chuyển hơn, duyên dáng hơn, dễ tiếp nhận hơn, nhất là so với toàn cầu phương Tây.

 

***

 

Thần thoại, tiếng Hy Lạp cổ là Mythologia có nghĩa là một tập hợp, một tổng thể những chuyện kể dân gian truyền miệng với những nội dung mà ngày nay tất cả chúng ta coi là hoang đường, kỳ ảo, huyền hoặc. Mythologia được kết cấu bởi hai từ: mythos và logos. Mythos là truyền thuyết, truyện cổ tích, ngày nay tất cả chúng ta dịch là thần thoại. Logos là ngôn từ chuyện kể. Thật ra lúc đầu mythos mang nghĩa là ngôn từ, sau dần mới chuyển thành truyền thuyết, truyện cổ tích hoặc truyện ngụ ngôn. Còn logos lúc đầu mang nghĩa là lời nói xấu xa, nịnh hót, lời nói tinh quái, sau dần mới chuyển thành ngôn từ, lời nói chân chính, và cuối cùng mang nghĩa là lời nói của văn xuôi1 hoặc là thuyết giáo, khoa học. Trong ý nghĩa này, logos đối lập với mythos. Mythos là lời nói của thơ ca, truyền thuyết, truyện cổ tích, nghĩa là lời nói của ảo tưởng, hoang đường, không duy lý, không đáng tin cậy, lời nói chưa có trật tự, ổn định, rõ ràng, minh xác. Còn logos là lời nói của lý trí và đạo lý, lời nói của sự ổn định, trật tự, xác thực, đáng tin cậy, lời nói thông minh về bản chất hoặc bản chất sự vật2. Quá trình chuyển nghĩa trên đây của mythos và logos diễn ra trong hoàn cảnh xã hội Hy Lạp từ cơ chế công xã thị tộc chuyển sang cơ chế chiếm hữu nô lệ. Với logos, nước Hy Lạp bước vào thời kỳ triết học.

 

Mythologia, ngoài nghĩa là một tổng thể những mythos, sau được mang thêm một nghĩa nữa là khoa thần thoại học. Sự ra đời thuật ngữ mythologia trên nền tảng phối hợp, nối liền mythos với logos, biểu lộ một xu hướng muốn kéo mythos lại gần với lý trí, đạo lý. Bởi vì bản thân thần thoại cũng có những chuyện chứa đựng đạo lý, phản ảnh đạo lý, có sự tham gia phần nào của lý trí như là mầm mống của tư duy lý luận. Bởi vì nếu đối lập một cách tuyệt đối mythos với logos thì vô hình trung đi tới chỗ phủ nhận toàn thể vốn liếng tri thức của tổ tiên. Mythologia ra đời lãnh nhiệm vụ điều chỉnh lại mối quan hệ đó. Vấn đề là phải trật tự hóa cái vô trật tự, hỗn độn của thần thoại, tạo ra một sự hài hòa giữa truyền thống thần thoại vốn mơ hồ, trái ngược, tranh chấp, tổ chức chúng lại thành từng hệ, từng khối cho rõ ràng. Trong quá trình ứng tác – trình diễn, những nghệ nhân dân gian aède và rhapsode, đã từng làm công việc đó. Và khi nước Hy Lạp bước vào nền văn minh của cơ chế chiếm hữu nô lệ với sự phân công lao động trí óc và lao động chân tay thì công việc đó chuyển vào tay những người trí thức, những người ghi chép, chỉnh sửa lại những chuyện thần thoại mà tiếng Hy Lạp gọi là: mythographe. Như vậy, với logos, người Hy Lạp không đi tới việc ngoại trừ, phủ nhận mythos. Họ cảm nhận thấy rằng trong thần thoại, có chứa đựng, cất giấu một ý nghĩa nào đó. Thần thoại muốn nói lên, nhắn nhủ, khuyên bảo, giáo dục, giải thích cho nhân loại một điều gì đó. Nhà triết học Platon, người đã trục xuất các nhà thơ ra khỏi tác phẩm Nước Cộng Hòa lý tưởng của mình, – nghĩa là trước hết coi những nghệ nhân dân gian cùng với gia tài thơ ca thần thoại mà họ lưu truyền là vô ích, vô nghĩa – lại cũng là người tiêu dùng thần thoại với ý nghĩa ám dụ, tượng trưng để minh chứng cho ý kiến triết học của mình4. Thật rõ ràng, một xã hội muốn tiến bước vào văn minh không thể không nhất định vai trò của logos, nói theo danh từ hiện đại là tư duy lý luận. Đảy là một xu thế tất yếu của tiến trình lịch sử. Nhưng cũng rõ ràng hơn, không phải nền văn minh nhân loại chỉ là tư duy lý luận, chỉ cần đến tư duy lý luận là đủ.

 

Căn cứ vào sự khảo chứng nói trên của những nhà Hy-Lạp-học, tất cả chúng ta có thể rút ra một tổng kết: Mythologia trước hết là sự xác nhận giá trị và ý nghĩa của thần thoại trong đời sống văn hóa của người Hy Lạp. Đương nhiên, giá trị của thần thoại như vậy nào, đến mức nào, vị trí của nó trong đời sống trí não tư tưởng ra sao, lại là một vấn đề khác, một vấn đề không phải chỉ đưa ra trong quá trình phát triển của xã hội thượng cổ mà còn đưa ra cả với thời hiện đại của tất cả chúng ta, một vấn đề đã từng gây ra – và hiện tại vẫn đang gây nên – những cuộc tranh luận, bút chiến sôi nổi, và hiện vẫn đang thu hút tâm trí của nhiều nhà phân tích trên toàn cầu.

 

***

 

Thần thoại, tư duy thần thoại là một hiện tượng mang tính lịch sử – rõ ràng và cụ thể như nhiều hiện tượng khác trong tiến trình lịch sử của nhân loại. Tư duy thần thoại là sản phẩm (đúng hơn, vừa là nguyên nhân, vừa là hậu quả) của một trình độ sản xuất hết mức thấp kém, một trình độ hiểu biết và kiềm chế những lực lượng tự nhiên hết sức thấp kém của xã hội công xã thị tộc. Những người nguyên thủy, trong lúc giải thích, “khắc phục”, kiềm chế và tạo thành các lực lượng của tự nhiên trong tưởng tượng và nhờ trí tưởng tượng4, đã di chuyển chủ nghĩa tập thể thô thiển, chặt chẽ, không chia cắt được của mình vào tự nhiên. Chính sự nhận thức “thiên nhiên và toàn bộ thế giới” như là một cái gì đó để thông dụng của chủ nghĩa tập thể công xã thị tộc đã là nguồn gốc của thần thoại. Người nguyên thủy đã di chuyển những quan hệ công xã thị tộc vào tự nhiên, đồng hóa những quan hệ đó với tự nhiên trong một cách nhìn, một trí tưởng tượng, tổng quan sinh động – nghĩa là không phải sự tổng quan trừu tượng hóa bằng khái niệm mà bằng hình ảnh, hình tượng. Tự nhiên và toàn thể toàn cầu được thần thoại hóa bằng những hình ảnh, hình tượng nhân loại mang tính nết, tính cách của nhân loại. Này là quá trình mà tất cả chúng ta thường gọi là sinh động hóa tự nhiên bằng nhân hình hóa và tư cách hóa. Quá trình này tình tiết rất phức tạp và lâu dài.

 

Thần thoại Hy Lạp tạo dựng trong quãng thời gian lịch sử khá dài. Này là một quá trình lịch sử từ thời kỳ nền văn minh Mycènes (2000-1100 TCN) đến những buổi thi trình diễn, đọc, kể người hùng ca của Homère trong những ngày hội Dionysos… Trong quá trình lịch sử khá dài đó, thần thoại Hy Lạp đã trải qua nhiều thời kỳ. Không nói tới những dấu vết của thần thoại Ấn, Âu nguyên thủy và thần thoại Crète, thần thoại Hy Lạp cho tất cả chúng ta biết nhiều nhất về nền văn minh Mycènes. Đọc thần thoại Hy Lạp tất cả chúng ta ghi thu được nhiều cụ thể thích hợp, tương ứng với những dữ kiện khoa học do khảo cổ học và sử học phân phối. Những nơi diễn ra những sự kiện trọng yếu trong thần thoại đều là những vị trí danh tiếng trong nền văn minh Mycènes: thành Mycènes, quê hương của vị chủ tướng Agamemnon, thành Tirynthe, quê hương của người người hùng Héraclès, thành Thèbes có bảy cổng, quê hương của người người hùng Oedipe với chiến công thanh trừ con quái vật Sphinx… Trong người hùng ca của Homère thường nhắc đến thành “Mycènes đầy vàng” thì trong thực tiễn khai quật khảo cổ học ở khu vực này chưa từng có nơi nào người ta đào được nhiều vàng như ở Mycènes (14 kg, tính đến trước năm 1952). Thần thoại Hy Lạp đã phát triển từ những nền tảng thần thoại thời kỳ mẫu quyền ở vùng Thessalie (Bắc Hy Lạp) sang thời kỳ phụ quyền với sự quần tụ thần thoại quanh ngọn núi Olympe, từ những thần thoại cổ Titan-Cyclopes sang thần thoại có tính văn nghệ: thần thoại nhân hình, nhân tính, người hùng. Trong thời kỳ cơ chế công xã thị tộc tan rã, thần thoại, với tư cách là niềm tin ngây thơ, kết thúc số phận của mình và chuyển dần sang loại thần thoại triết học tự nhiên. Bước sang cơ chế chiếm hữu nô lệ, với tư cách là những hình thức văn nghệ, thần thoại đóng vai trò khá trọng yếu trong việc phục vụ hệ tư tưởng của cơ chế chiếm hữu nô lệ (thời kỳ cổ kính), và cuối cùng suy tàn và tiêu vong theo thời thượng cổ (thời kỳ Hy Lạp hóa, đế chế La Mã suy tàn). Sự tạo dựng thần thoại và phát triển thần thoại qua các thời kỳ kể trên diễn ra rất phức tạp. Này là một quá trình phức hợp, từ chỗ là một hình ảnh, một hạt nhân thần thoại thô sơ được mở rộng ra, bồi đắp vào, thêm thắt vào5, đến chỗ thần thoại quần tụ lại thành một hệ (cycle) gắn bó với nhau bằng một sự kiện trung tâm. Vì vậy, chắc cú rằng những gì mà tất cả chúng ta lưu giữ được hiện tại về thần thoại Hy Lạp chỉ là một phần nhỏ và không phải là thần thoại Hy Lạp ở dạng thái cổ nhất. Trong quá trình phát triển, những lớp thần thoại cũ nhiều khi chỉ đóng vai trò tấm áo ngụy trang, một chiếc mặt nạ, để phục vụ cho sức sống của lớp thần thoại mới (lớp Pasiphaé, Minotaure trong truyện người người hùng Thésée).

 

Mặc dù bị mai một đi khá nhiều, gia tài thần thoại Hy Lạp sót lại với tất cả chúng ta ngày nay vẫn là một di sản phong phú của kho tàng văn học nhân loại. Công lao lưu giữ gia tài thần thoại trước hết thuộc về những nghệ nhân dân gian aède, rhapsode. Những nghệ nhân dân gian này đã đóng vai trò sưu tầm và “nhuận sắc”, thậm chí có thể nói tái tạo thần thoại trong quá trình trình diễn… ứng tác lưu động. Nhưng điều may mắn hơn nữa, khi nhà nước chiếm hữu nô lệ ra đời, với sự ra đời của chữ viết, thần thoại Hy Lạp đã được ghi chép lại. Thần thoại Hy Lạp được ghi chép lại, nhưng không phải trong những bản kinh và sự hành lễ thuần túy tôn giáo, điều sẽ làm mất đi tính chất thế tục, hồn nhiên của thần thoại. Thần thoại Hy Lạp được ghi chép lại bằng một đoạn đường khác: đoạn đường trình diễn văn học văn nghệ. Đây là một sự tái tạo thần thoại bằng văn học văn nghệ mà chữ viết chỉ đóng vai trò trước hết là phương tiện cho những người nghệ sĩ miêu tả xúc cảm của mình (so với hoạt động ứng tác, trình diễn; trong trường hợp không trình diễn, chữ viết không thiết yếu), và cuối cũng là phương tiện ghi chép, lưu giữ. Tác phẩm văn nghệ, dù thuộc loại hình nào, muốn thúc đẩy đến công chúng cũng phải thông qua hoạt động trình diễn. Công chúng Hy Lạp xưa kia không ngồi ở nhà đọc người hùng ca, đọc kịch như tất cả chúng ta ngày nay. Ngay đến môn triết học khô khan, văn nghị luận (hùng biện) rắn rỏi, đanh thép ở Hy Lạp xưa kia người ta cũng giảng và đọc ở quảng trường, ngã tư đường phố. Giấy và máy in chưa ra đời, việc thông dụng các tác phẩm văn hóa rất khó khăn. Chí một số ít người có điều kiện mới có thể đọc, “sách” được đọc trên những tấm da bò hoặc vỏ cây. Vì vậy công chúng Hy Lạp xưa kia đi nghe các nghệ sĩ kể người hùng ca, nghe đọc thơ, ngâm thơ, xem diễn kịch. Còn so với văn nghệ tạo hình thì chữ viết không có một ý nghĩa gì. Nó không phải là phương tiện miêu tả xúc cảm của nhà điêu khắc. Thần thoại Hy Lạp được tái tạo bằng đoạn đường văn học văn nghệ, vì vậy, như lời ₭. Marx nói, nó là “vật liệu của nghệ thuật Hy Lạp”, “kho tàng của nghệ thuật Hy Lạp”, “mảnh đất nuôi dưỡng nghệ thuật Hy Lạp”. Thần thoại Hy Lạp được văn học hóa, văn nghệ hóa. Còn văn học văn nghệ thì lại nảy sinh ra từ thần thoại, lại từ cái “mảnh đất nuôi dưỡng” mà cất tiếng ca, cất tiếng hát ra đời, mà lớn lên và trưởng thành. Văn học văn nghệ cũng được thần thoại hóa, Nếu như trước kia trong thời kỳ công xã thị tộc, thần thoại Hy Lạp trong trạng thái truyền miệng đã là “tự nhiên và các hình thái xã hội được trí tưởng tượng dân gian chế biến đi một cách nghệ thuật – không tự giác”6, thì giờ đây lại được trí tưởng tượng của cá nhân người nghệ sĩ sơ chế đi một cách văn nghệ – tự giác. Này là đoạn đường của thần thoại Hy Lạp đi vào nền văn minh cổ kính Hy Lạp: hay nói cách khác, nói trái lại, xã hội chiếm hữu nô lệ ở Hy Lạp – xã hội chiếm hữu nô lệ với cơ chế thành bang (polis) – đã mở đường, trải thảm đỏ để mời thần thoại Hy Lạp từ thời kì dã man tiến bước vào nền văn minh cổ kính của mình. Tuy nhiên, nền văn minh cổ kính Hy Lạp sở dĩ được gọi là văn minh là do ở chỗ trước hết nó nhất định vai trò của logos với thành tựu lớn nhất, tiêu biểu nhất của nó, là triết học; đánh dấu một bước tiến lớn về trình độ tư duy, về khả năng nhận thức tổng quan, trừu tượng của nhân loại bằng lý luận, bằng khái niệm.

 

Thần thoại Hy Lạp đi vào nền văn minh cổ kính Hy Lạp bằng đoạn đường văn học văn nghệ. Những giá trị nhân văn vốn có của nó không chỉ không bị nhấn chìm trong những phép tắc chuẩn mẫu, những giáo điều của hệ tư tưởng tôn giáo, mà lại còn được con mắt của văn học văn nghệ phát xuất hiện và nâng cao lên. Điều đó giải thích cho tất cả chúng ta rõ vì sao thần thoại Hy Lạp được nhìn nhận là giàu tính nhân văn hơn một số thần thoại khác.

 

Thần thoại Hy Lạp đã đi vào nền văn minh cổ kính Hy Lạp vào lúc tư tưởng triết học đã ra đời và phát triển. Tác động của tư duy triết học so với giới trí thức Hy Lạp là rất lớn. Đây là thời kì của logos. Cũng chính vì lẽ đó tất cả chúng ta hiểu vì sao thần thoại Hy Lạp giàu tính duy lý, giàu tính triết học. Đọc những vở bi kịch Hy Lạp tất cả chúng ta thấy điều đó rất rõ. Những nhà viết bi kịch Hy Lạp mà tất cả chúng ta được biết qua tiểu sử đều là những người có kiến thức sâu rộng. Họ là những người có vốn hiểu biết ở trình độ cao nhất có thể có được ở xã hội Hy Lạp thời đó. Thần thoại, qua sự tái tạo của họ, sinh động hẳn lên, giàu ý nghĩa hẳn lên. Kịch của họ viết chặt chẽ, mê hoặc, cho đến ngày nay, từ bố cục đến hội thoại so với tất cả chúng ta vẫn là những mẫu mực, những bài học quý báu. Điều đó cho phép tất cả chúng ta rút ra một tổng kết: logos – tư duy lý luận, tư duy khái niệm, và mythos – tư duy cảm tính rõ ràng và cụ thể, tư duy hình tượng, đã được phối hợp thống nhất, hài hòa để tạo ra những sản phẩm huy hoàng của thời cổ kính.

Xem Thêm  9 cách diệt cuốn chiếu chậu cây, trong sân nhà hiệu quả nên áp dụng - cuốn chiếu cắn

 

Trong văn nghệ tạo hình, vấn đề lại càng rõ ràng hơn nữa. Một sự hiểu biết về xương cốt, cơ bắp nhân loại để trổ tài được kiểu dáng, phong thái của thân thể nhân loại mà quần áo che phủ bên ngoài chỉ để làm nổi trội lên vẻ đẹp, vẻ khỏe mạnh, uyển chuyển, duyên dáng, mê hoặc của nhân loại, một sự hiểu biết như vậy chắc cú không thể là một sự hiểu biết cảm tính – mythos. Một sự hiểu biết như vậy chỉ có thể là kết quả của tư duy lý luận – logos. Tư duy này đã tóm gọn, tổng quan thành quy luật về sự tương xứng hài hòa, về tỷ lệ, sự chuyển động trong văn nghệ tạo hình. Nhà Hy Lạp học André Bonnard đã có những nhận xét hết sức sâu sắc về văn nghệ tạo hình thời kỳ cổ kính. Những nhận xét này cũng đồng thời soi sáng cho tất cả chúng ta về đoạn đường đi mới lạ của thần thoại Hy Lạp.

 

“… Văn nghệ Hy Lạp, từ những nguồn gốc của nó cho đến thời kỳ cổ kính thật ra là một quãng đường rất dài, đầy rẫy những trở ngại khác nhau. Những trở ngại khó khăn về kỹ thuật, đúng thế, là sự chuyển hóa (adaptation) của mắt và bàn tay, nhưng cũng còn những trở ngại khác; này là những tín ngưỡng và những sự mê tín tin vào ma thuật của thời thượng cổ còn chất đầy trong đầu óc người nghệ sĩ. Nhưng rồi, kết quả như lời Michelangelo7 nói: ‘… Con người ta vẽ bằng óc chứ không vẽ bằng tay. Ai mà không có đầu óc tự do thì thật là xấu hổ…’ Chính là trong trận đấu tranh với những trở ngại này mà nghệ sĩ sáng tạo ra tác phẩm của mình. Mỗi lần anh ta vượt qua một trong những trở ngại này là anh ta hoàn thiện được một tác phẩm giá trị (…).

 

Thân hình người đàn ông và người đàn bà đương nhiên là sự trổ tài tốt nhất, đúng nhất hình ảnh các vị thần. Trong lúc tạo ra các hình tượng như vậy, người nghệ sĩ Hy Lạp đã ban cuộc sống cho những vị thần của nhân dân mình.

 

Những nhà điêu khắc tiến lên bằng ý kiến đó. Cũng với ý kiến đó, các nhà thơ đã tiến xa hơn họ, còn các vị học giả (savants) lại tiến chậm hơn. Các vị đang phân tích tìm cách miêu tả một số quy luật của tự nhiên. Những nhà điêu khắc cũng vậy, trong lúc tạo ra các vị thần họ đã giải thích toàn cầu.

 

Vậy thì sự giải thích này là thế nào? Này là sự giải thích thần thánh bằng nhân loại. Không có một hình thức nào trổ tài đúng nhất sự trổ tài của thần thánh, sự hiện diện không trông thấy được và không tranh luận được trong toàn cầu, bằng thân hình của người đàn ông và người đàn bà. Người Hy Lạp đã nghe đến những pho tượng của nền văn minh Ai Cập và Assyrie8. Nhưng chưa lúc nào họ nghĩ tới việc miêu tả thần linh bằng một người đàn bà đầu bò hay một người đàn ông đầu chó sói (chacal). Thần thoại có thể vay mượn ở Ai Cập một số biện pháp ngôn từ nào đó, một số truyện kể và nhân vật nào đó (Thí dụ: Io, con bò cái bị con ruồi trâu châm đốt trong bi kịch Prométhée bị xiềng của Eschyle). Chiếc đục của nhà điêu khắc từ sớm đã trốn tránh những hình thù quái dị đó, ngoại trừ so với những sinh vật rất gần với những sức mạnh tự nhiên như những Centaure trang trí dưới mái đền Parthénon trổ tài sự tiến công hung tợn của những người Dã Man. Thần, đấy là chàng trai này giản dị và trần truồng. Nữ thần, này là người thiếu nữ kia ăn mặc đẹp đẽ và có khuôn mặt dễ thương (…).

 

Và đây là quy tắc (règle): Nét đẹp nhất thì ban cho các vị thần. Còn gì ở trên thế gian này đẹp hơn vẻ trần truồng của một chàng trai hay vẻ duyên dáng của một thiếu nữ ăn mặc lượt là? Này là điều mà nhân loại hiến dâng cho các vị thần, và đó cũng là cách nhân loại nhìn thấy các vị thần…”9

 

Nhà văn nghệ học Élie Faure gọi nền điêu khắc của thời kỳ cổ kính là nền điêu khắc triết lý (la sculpture philosophique)10. Và André Bonnard trong đoạn phân tích sau đây hình như đã giải thích cho tất cả chúng ta ý nghĩa triết lý đó:

 

“… Sự dũng cảm hiện lên trên vẻ bình thản của khuôn mặt. Sự bình thản này nhiều khi bị người ta coi như là một thiếu sót của kỹ thuật, lại là dấu hiệu của hiện tượng nhân loại đã khắc chế được những dục vọng riêng tư của mình, là dấu hiệu của sức mạnh tâm hồn, của sự thanh thản hoàn toàn (la parfaite sérénité) mà xưa kia chỉ các vị thần mới có. Sự thanh thản cổ kính đáp lại nụ cười thượng cổ. Nụ cười này vốn trổ tài niềm vui ngây thơ được sống ở cõi đời này, ở một thời kì còn mang trong mình bao nhiêu gánh nặng của những trận đấu tranh và là một thời kì tranh đấu, còn vẻ thanh thản trổ tài sự khắc chế của lý trí so với dục vọng, và nó như sự hiến dâng của nhân loại cho cộng đồng công dân duy nhất của mình.

 

Nhưng cái thời kì mới này cũng rất giàu tính người. Nó không phải chỉ hoàn toàn thấm nhuần tính chất thần linh. Thần thánh được nó trổ tài dưới hình dạng người thì ít nhưng nhân loại được nó tán dương tới tầm thước của thần thánh thì lại nhiều hơn.

 

Không một pho tượng cổ kính nào mà ở đó nhân loại lại không toát lên một niềm tự hào cao thượng là đã hoàn thiện trung thực cái tính năng nhân loại của nó hay tính năng thần linh của nó.

 

Chủ nghĩa cổ kính Hy Lạp được xây dựng thành chủ nghĩa hiện thực đã gắn bó chặt chẽ với chủ nghĩa nhân văn. Nó là triệu chứng của một giai cấp đang lên – giai cấp đã thắng lợi trong trận chiến tranh Hy Lạp-Perse (Ba Tư) bằng trí não dũng cảm của mình, là triệu chứng của một giai cấp vừa thâu tóm lại trong tay những lợi nhuận xứng đáng với giá trị của nó. Chủ nghĩa cổ kính là thành tích của một cuộc tranh đấu và nó vẫn sẵn sàng tranh đấu…”11.

 

Những gì là ý nghĩa triết lý của văn nghệ tạo hình Hy Lạp thì trong một mức độ nhất định nào đấy cũng đồng thời là của văn học Hy Lạp. Không phải ngẫu nhiên mà các nhà phân tích ví những vở bi kịch của Sophocle đẹp như những pho tượng cổ kính.

 

Thần thoại Hy Lạp bằng đoạn đường văn học văn nghệ đi vào thời kỳ cổ kính đến lượt mình được trả ơn xứng đáng: văn học văn nghệ của thời kỳ cổ kính cũng từng nuôi dưỡng trở lại thần thoại Hy Lạp bằng tư tưởng nhân văn, bằng ý nghĩa triết lý, bằng tính chất duy lý, bằng hình thức trình diễn.

 

Hầu như những mẩu chuyện thần thoại sót lại với tất cả chúng ta ngày nay đều do những nhà thơ, nhà viết kịch kể lại, sau này là các mythographe. Quá trình kể lại cũng đồng thời là quá trình sắp xếp, biên soạn lại, tái tạo theo một xu hướng nào đó. Cùng một mẩu chuyện về thần Prométhée lấy cắp ngọn lửa trên thiên đình đem xuống cho loài người, nhưng trong thơ ca của Hésiode kể khác, trong bi kịch của Eschyle kể khác. Cùng một mẩu chuyện Oreste giết mẹ để trả thù cho bố, nhưng vở Choéphores12 của Eschyle khác với vở Électre của Sophocle, và cả hai đều khác vở Électre của Euripide13. Ở một số quốc gia phương Đông, thần thoại không phát triển theo đoạn đường của thần thoại Hy Lạp, nghĩa là nó không được các nhà thơ như Homère, Hésiode, các nhà viết kịch như Eschyle, Sophocle, Euripide kể lại, tái tạo lại. Nó bị những nhà thần học và những người biên soạn nghi lễ tôn giáo (ritualiste) xây dựng lại và giải thích lại. Và khi thần thoại đã bị biến thành một yếu tố cấu thành của hệ tư tưởng tôn giáo thì nó phải tuân theo những quy tắc chuẩn mẫu, những khuôn phép của tôn giáo. Những yếu tố thế tục, hồn nhiên, cái chất người phàm tục và cao thượng, người hùng và hèn nhát, dễ hiểu, dễ thương, đáng giận, vốn thân thiện với cuộc sống, vốn là cuộc sống trong thần thoại, bị thanh lọc đi, bị “đưa ra ngoài biên chế” của tôn giáo. Tôn giáo chỉ giữ lại sự sợ hãi, sự khiếp nhược và sự cam chịu khuất phục của nhân loại trước thần thánh. Nó chỉ cần ở nhân loại sự tin tưởng mù quáng, và sức mạnh vạn năng của thần thánh có thể ban phước, giáng họa, điều khiển thế gian và vận mệnh nhân loại một cách tuyệt đối. Còn thần thánh trong tôn giáo thì cũng mất đi tính chất người và những cuộc can thiệp tự do, phóng túng vào cuộc sống của loài người; những cuộc can thiệp “sai nguyên tắc” của tôn giáo làm tác động đến tính chất thiêng liêng, cao thượng và tuyệt đối phải kính trọng so với thần thánh. Thần thoại bị tôn giáo đồng hóa, bị hòa vào tôn giáo. Thần thoại Hy Lạp may mắn hơn, không bị rơi vào cái tai họa đó. Thần thoại Hy Lạp được văn học văn nghệ đồng hóa, được hòa vào trong văn học văn nghệ.

 

Nhưng ở Hy Lạp thượng cổ cũng có tôn giáo và trong một thời gian khá dài, tôn giáo của người Hy Lạp là đa thần giáo-thần thoại, vậy thì tôn giáo này có tác động gì, thúc đẩy gì đến thần thoại?

 

Tôn giáo Hy Lạp tạo dựng trong một hoàn cảnh khác biệt với các xã hội phương Đông thượng cổ. Ở vùng Lưỡng Hà, Ai Cập, Ấn Độ, những công xã nông thôn không trải qua một quá trình tan rã phân hóa như ở xã hội Hy Lạp. Vì vậy những quan hệ cộng đồng thị tộc, bộ lạc được duy trì, bảo tồn qua nhiều năm. Hình thái tôn giáo tôtem của thời kỳ công xã thị tộc do đó được lưu giữ dai dẳng. Những pho tượng của người đàn bà-sư tử, đàn ông-bò mộng, 𝒱.𝒱. là trổ tài ý kiến tôtem giáo chuyển hóa, đồng hóa với những quan hệ thị tộc so với toàn cầu bên ngoài (động vật, thực vật), nghĩa là tập thể thị tộc, bộ lạc được vật hình hóa bằng hình ảnh một loài vật nào đó, còn loài vật đó thì lại được nhân hình hóa, nhân tính hóa như một thành viên của tập thể thị tộc, bộ lạc. Những công xã nông thôn ở Hy Lạp trải qua một quá trình rạn nứt từ bên trong. Ruộng đất bị tư hữu hóa. Quá trình tư hữu hóa ruộng đất cũng là quá trình giải phóng những quan hệ cộng đồng nguyên thủy, quá trình giải phóng những thành viên của thị tộc khỏi những ràng buộc của chủ nghĩa tập thể tự phát thô thiển của thời kì dã man – có nghĩa là nhân loại được lịch sử cắt đứt cuống nhau nối liền với công xã thị tộc, bộ lạc. ₣. Engels đã nhận xét: “Chỉ nơi nào mà các công xã đó đã tan rã thì nhân dân mới tiến bộ, và sự tiến bộ đầu tiên của họ về kinh tế là ở chỗ tăng gia và phát triển sản xuất bằng lao động theo kiểu nô lệ…”14

 

Thần thoại Hy Lạp tạo dựng trong một hoàn cảnh xã hội như vậy (Đúng hơn, đúng đắn hơn, ta phải nói tôn giáo này đã chuyển biến vì những nguyên nhân kinh tế, xã hội như vậy). Vì lẽ đó, những tàn dư tôtem giáo sót lại không nhiều trong thần thoại và bị sơ chế đi, trong lúc đó chất người lại nhiều hơn, phong phú hơn thành một thứ tôn giáo giàu tính thế tục và thẩm mỹ, nếu có thể nói như vậy được. Hơn nữa, và đây là điều đặc biệt, tôn giáo này đồng ý tự do tư tưởng, không thù địch với tự do tư tưởng. Không có những giáo điều nghiêm ngặt, không có đẳng cấp tăng lữ với quyền hành thao túng tạo ra một thứ giáo hội như một nhà nước, một thứ chính quyền của chính quyền, đứng trên chính quyền, có tòa án xét xử những người vi phạm vào những điều ngăn cấm và đức tin tôn giáo15. Nhà triết học Xénophane (khoảng 385-473 TCN) có nói: “… Nếu loài vật cũng giống như con người thì ngựa đã quan niệm thần thánh như hình ảnh con ngựa, bò đã hình dung đấng bất tử như hình ảnh của bò”, cũng như Démocrite (thế kỷ 𝒱 TCN) có thể truyền bá thuyết nguyên tử của mình mà không bị xử tử bằng hình phạt ném đá. Nói như vậy không có nghĩa là trong thời kỳ đó không xảy ra một vụ án tự do tư tưởng nào, một vụ án tôn giáo nào, và tôn giáo-thần thoại không triệu chứng sự phẫn nộ so với một số trường hợp nào đó. Tất nhiên là có, song rất ít, không thông dụng. Các nhà thơ, nghệ sĩ có thể khai thác, cải biên thần thoại một cách tự do mà không bị trừng trị. Ở Hy Lạp xưa kia có một số trung tâm tôn giáo với những đền thờ lớn như Dodone, Olympe, Delphes, Délos… Những người Hy Lạp, kể cả những nhà cầm quyền tối cao, thường tới những nơi này để xin những lời hướng dẫn cho hành động của mình, xin những lời tiên báo cho tương lai của đô thị mình, sự nghiệp mình. Nhưng điều rất thú vị là ngay những trung tâm tôn giáo ấy lại là nơi quy tụ không phải chỉ của những tín đồ ngoan đạo mà đang là nơi quy tụ của các lực sĩ Hy Lạp, nghệ sĩ Hy Lạp, văn võ anh tài. Ngày hội lễ tôn giáo cũng đồng thời là ngày thi đấu thể dục thể thao, thi trình diễn văn nghệ (Hội Olympiques: thi thể dục thể thao, Hội Đionysos: thi diễn kịch). Tôn giáo-thần thoại ở Hy Lạp gắn bó với những lễ nghi, lễ thờ cúng giàu tính chất thế tục, nhân văn và thẩm mỹ như vậy16.

 

Ở Hy Lạp từ thần thoại cho đến tôn giáo đều không có những chuẩn mực, quy phạm. Chính quyền và những người làm nghề tôn giáo không quy định, cố định hóa tôn giáo-thần thoại thành những văn bản chuẩn mẫu. Tôn giáo-thần thoại và văn học, nghệ thuật-thần thoại cùng “tồn tại hòa bình”. Những pho tượng các vị thần đặt ở đền miếu trang nghiêm để thờ cũng là do những nghệ sĩ sáng tạo, là kết quả của một cá tính sáng tạo tự do, của một xúc cảm chân thực, nồng nàn, phóng khoáng chứ không phải là kết quả của xúc cảm tiên định, siêu hình, phi cá thể của tôn giáo. Nó không bị quy định bởi những chuẩn mẫu, khuôn phép, công thức như phong thái của những pho tượng thờ của Thiên Chúa giáo hay Phật giáo sau này. Nó phong phú, sinh động, tươi tắn, lạc quan chứ không rầu rĩ, thống khổ, ưu tư, siêu thoát17. Và cũng thật là thú vị khi ở đền Delphes, người ta vẫn thấy khắc câu châm ngôn đầy tính triết lý-đạo đức của nhà triết học Socrate ở đầu hồi: “… Hãy hiểu biết ngay bản thân mình…”18. Còn đền thờ ở khu vực Olympe thì đúng là một cung văn hóa. Ngoài tượng thờ còn tồn tại tượng của các lực sĩ đã giành giải vô địch trong các kỳ hội Olympiques.

 

Một đặc tính nữa của tôn giáo-thần thoại Hy Lạp là ở mối quan hệ trực tiếp của nó với văn học văn nghệ. Nó chứa đựng trong bản thân mình một toàn cầu folklore nhiều đến nỗi ta thật khó tách biệt rõ ràng đâu là folklore (văn hóa dân gian), đâu là tôn giáo. Đúng hơn ta phải nói rằng nó cũng là một hình thái folklore.

 

Tôn giáo-thần thoại không áp đặt đề tài cho văn học văn nghệ, không ép buộc văn học văn nghệ phải minh họa cho hệ tư tưởng của mình, có nghĩa văn học văn nghệ không bị biến thành tôi tớ, nô lệ ngoan ngoãn của thần học mà mất đi tính độc lập của chính bản thân mình mình, điều mà tất cả chúng ta sẽ thấy diễn ra trái lại sau này trong thời trung cổ Thiên Chúa giáo: thần học là thống soái, mọi khoa học đều là tôi tớ, là nô lệ của thần học. Như quả đất xoay quanh mặt trời nhưng đồng thời lại xoay quanh mình nó, văn học văn nghệ Hy Lạp, trong lúc phục vụ cho hệ tư tưởng của cơ chế chiếm hữu nô lệ, vẫn đảm bảo được sự phát triển của chính bản thân mình mình với tư cách một khoa học độc lập. Cũng chính vì lẽ này mà sân khấu Hy Lạp, văn nghệ tạo hình Hy Lạp, cũng như nhiều nghề khác của gia tài văn hóa thượng cổ, mới sáng tạo ra được những giá trị bất tử và mãi mãi là tài sản vô giá của nhân loại. Tôn giáo-thần thoại không áp đặt đề tài cho văn học văn nghệ, nhưng trong nhiều trường hợp, ở một chừng mực nào đó cấu thành chính ngay loại hình văn học. Thể thơ Hymno có nguồn gốc từ bài ca nghi lễ19. Bi kịch ra đời từ hội đồng ca thờ cúng thần Rượu Nho Dionysos với bài ca Dithyrambe. Hài kịch Hy Lạp ra đời từ đám rước thần Rượu Nho Dionysos với bài ca Phallique20. Giống như thể dục thể thao là một thành tố trong nghi thức thờ cúng ở hội Olympe, văn học văn nghệ trong nhiều trường hợp cùng là thành tố trong nghi thức thờ cúng các vị thần. Như vậy so với văn học văn nghệ, tôn giáo-thần thoại Hy Lạp đóng vai trò tạo dựng cấu thành các loại hình văn học21.

 

***

 

Các nhà phân tích chia gia tài tư liệu gốc về thần thoại Hy Lạp ra làm hai loại. Loại thứ nhất là nguồn tư liệu ở tác phẩm văn học (sources littéraires): các bản người hùng ca, trường ca, thơ, kịch thơ. Loại thứ hai là nguồn tư liệu ở tác phẩm biên khảo (sources érudites) gồm các tác phẩm sưu tầm, biên soạn, comment, khảo chứng viết bằng văn xuôi.

 

Người hùng ca Homère (Iliade và Odyssée) là tác phẩm văn học cổ nhất ra đời vào quãng thế kỷ IX – VIII TCN, tiếp này là Thần Hệ (Théogonie) của Hésiode quãng thế kỷ VII TCN, những bài Hymne kiểu Homère (Les Hymnes Homériques) thế kỷ VII-VI TCN. Gia tài bi kịch Hy Lạp mặc dù mất đi khá nhiều nhưng hơn ba mươi vở kịch thơ sót lại cũng là một nguồn tư liệu khá phong phú trong quãng thế kỷ 𝒱-IV TCN. Thế kỷ II TCN còn để lại một bản trường ca vẹn toàn: Những người thủy thủ của con tàu Argo (Les Argonauteses) của Apollonios thành Rhodes. Ngoài ra còn nhiều tác phẩm khác nữa mà tất cả chúng ta không thể liệt kê ra đây được.

 

Nền văn học La Mã phân phối cho tất cả chúng ta hai tác phẩm trọng yếu đều ở vào thế kỷ Ι TCN. Bản người hùng ca Énéide của Virgile có một quyển (khúc ca) kể lại sự sụp đổ của thành Troie. Trường ca Biến hóa (Les Métamorphoses) của Ovide kể lại nhiều thần thoại truyền thuyết. Đây là một tác phẩm được nhìn nhận rất cao về sự phong phú của nội dung, và nhất là ý kiến tiến bộ của việc viết lại thần thoại. Một tác phẩm trọng yếu nữa của nền văn học La Mã nhưng ở vào thế kỷ II là tập Biến hóa của Apulée. Này là những tác phẩm chính.

Xem Thêm  Isaac Thái – Chàng ca sĩ hát nhạc Thánh Ca và đời tư kín tiếng - isaac thái

 

Về nguồn tư liệu biên khảo, những tác phẩm sớm nhất là của Hécatée, Acousilaos thành Argos, Phérécyde thành Athènes và Hérodote. Những tác phẩm này ra đời vào quãng thời gian từ cuối thế kỷ VI-𝒱 TCN, phần lớn chúng đều bị thất lạc, hiện tại chỉ còn lưu giữ được những đoạn rời rạc. Thế kỷ III TCN, Ératosthène thành Cyrène22 viết cuốn Biến thành các người nổi tiếng (tiếng Hy Lạp: Katasterimoi) ghi chép lại chuyện các người hùng sau thời điểm chết được thần thánh biến thành những người nổi tiếng. Cũng từ thế kỷ III TCN ra đời các bản sưu tầm, (collections), thực chất là các bản tóm tắt những thần thoại mà cho đến nay tất cả chúng ta còn lưu giữ được chút ít. Đầu thế kỷ II TCN, Nicandre, một nhà văn La Mã, trong một tuyển tập văn xuôi mang tên Biến hóa (Métamorphoses) đã ghi lại nhiều chuyện thần thoại! Chính tác phẩm này đã là ngọn nguồn trực tiếp của tập trường ca Biến hóa của Ovide kể trên. Vào nửa sau thế kỷ II TCN ra đời cuốn Tủ sách (Bibliothèque) của Apollodore, một nhà ngữ văn học của thành Athènes. Cuốn Tủ sách chỉnh sửa lại các thần thoại, truyền thuyết từ thủa khai thiên lập địa cho đến sau cuộc Chiến tranh Troie, chia các thần thoại ra thành từng hệ lớn. Theo các nhà phân tích, tác phẩm này không phải đích thực của Apollodore mà có vẻ của một tác giả nào đó ở vào thế kỷ Ι viết lại theo một bản tóm tắt nào đó. Thần thoại trong tác phẩm này chỉ đang là một xác ướp khô quắt, lạnh ngắt. Nhìn chung xu hướng của những người ghi chép, chỉnh sửa lại thần thoại (mythographe) là muốn dựng lại thần thoại theo một trật tự thống nhất, muốn cố định hóa thần thoại và chuẩn mẫu hóa thần thoại. Song công việc của họ không thành tác phẩm quý nhất so với khoa thần thoại. Mô tả nước Hy Lạp (Description de la Grèce) của Pausanias viết vào nửa đầu thế kỷ II TCN. Giá trị tư liệu của quyển sách rất lớn. Nhiều truyền thuyết địa phương được ghi lại cho tất cả chúng ta một bức tranh trung thực về folklore về các biến thể của nó. Tuy còn nhiều địa phương ở Hy Lạp mà tác phẩm không nói đến, song nhờ vào những bản comment, chú thích (scholies) của các nhà học giả thuộc nền văn học Byzance23 mà khoa thần thoại học có thể bổ sung nhiều vấn đề cần biết.

 

Những tài liệu biên khảo (scholies) của hai học giả Johannès và Issaac Tzétzès phân phối cho khoa học rất nhiều sự kiện, trong đó có một số thuộc vào thời kỳ khá cổ, thành ra rất quý. Này là tóm tắt và lược thuật những nguồn tư liệu gốc của thần thoại Hy Lạp.

 

Những cuốn thần thoại Hy Lạp và từ điển thần thoại Hy Lạp mà tất cả chúng ta sử dụng của các nhà Hy Lạp học Pháp hoặc Xôviết, Anh… trong vốn sách của tất cả chúng ta đều biên khảo chỉnh sửa, phóng tác lại dựa trên những nguồn tư liệu gốc này.

 

Lịch sử những lý thuyết về thần thoại chỉ thực sự xuất phát từ thời kỳ Hy Lạp hóa (thế kỷ III TCN). Những cách giải thích này, khác với trước đó, đã đóng vai trò đặt vấn đề, thể nghiệm cho những lý thuyết sau này được xây dựng một cách có lập luận và có phương pháp hơn. Những nhà triết học của thời kỳ Hy Lạp hóa trong lúc nhận xét những mẩu chuyện cổ tích, truyền thuyết là sự trổ tài những quá trình lịch sử hoặc tự nhiên đã đưa ra vấn đề mới về tương quan giữa thần thoại với thực tại. Nhìn chung, có thể tóm tắt những lý thuyết về thần thoại trong thời kỳ thượng cổ thành ba loại:

 

1 – Loại thứ nhất cho rằng thần thoại là sự phản ánh những hiện tượng tự nhiên hoặc trí não, đạo đức bằng hình thức tượng trưng và ám dụ.

 

2 – Loại thứ hai cho rằng thần thoại chỉ là sự tưởng tượng dông dài, tùy tiện, vô tích sự của các nhà thơ, hoặc chỉ là sự lừa bịp có ý thức của những người làm nghề tôn giáo, những viên tư tế.

 

3 – Loại thứ ba cho rằng thần thoại là lịch sử của những nhân vật kiệt xuất từ thời thượng cổ sau thời điểm được thần thánh hóa (lý thuyết của Évhémère)24. Sau này khi Thiên Chúa giáo ra đời, lý thuyết của Évhémère đã được Giáo Hội sử dụng để chống lại những dị giáo – đa thần.

 

So với những nhà triết học thượng cổ, nhìn chung thần thoại không được thừa nhận; các nhà duy vật đã đành, nhưng ngay đến cả những nhà triết học duy tâm tin vào việc có một nguyên lý trí não tồn tại bên ngoài toàn cầu vật chất, cũng gạt bỏ thần thoại.

 

Thời Trung Cổ, Thiên Chúa giáo là hệ tư tưởng thống trị, thần thoại Hy Lạp bị kết án, các vị thần Hy Lạp bị coi như là quỹ dữ, đối lập với vị thần đích thực, chân chính, duy nhất là Chúa Cứu Thế.

 

Thời kì Phục Hưng, với trào lưu khôi phục lại gia tài văn học thượng cổ, thần thoại Hy Lạp trở thành một lãnh vực trí thức thiết yếu so với nhân loại có học vấn của thời kì. Thần thoại Hy Lạp một lần nữa trở thành vật liệu của văn học văn nghệ, phân phối cho các nhà văn, thơ, nhà thiết kế, điêu khắc, hội họa một nguồn đề tài và xúc cảm vô tận để sáng tạo ra những tác phẩm văn nghệ mà cho đến nay nhiều tác phẩm đã trở thành giá trị vĩnh cửu của nền văn minh nhân loại.

 

Không riêng gì thần thoại thượng cổ, thần thoại Thiên Chúa giáo cũng trở thành một kho tàng vật liệu cho sáng tác văn học văn nghệ. Tuy nhiên điều khác nhau là ở chỗ: thần thoại Thiên Chúa giáo nằm trong đức tin nghiêm ngặt của tôn giáo, còn thần thoại thượng cổ nằm trong ngành nghề văn học văn nghệ. Và hai thần thoại vốn đối lập nhau về cơ bản này, vì lẽ đó, có thể cùng tồn tại trong hòa bình. Quá trình phân tích thần thoại thượng cổ chỉ đến thời kì này mới khởi đầu.

 

Lịch sử của việc phân tích thần thoại cũng như lịch sử các lý thuyết về thần thoại ghi nhận thế kỷ XVIII như vậy kỷ có công lao mang việc phân tích thần thoại tiến lên một bước thực sự khoa học. châu Âu từ trước chỉ biết có thần thoại Hy Lạp, cho đến thời kỳ này đã mở rộng tầm mắt nhìn sang thần thoại Ai Cập, thần thoại các dân tộc ở phương Đông, ở châu Mỹ… và từ đó dẫn theo việc phân tích so sánh thần thoại. Nhà triết học người Ý Giambattista Vico (1668-1744) là người trước hết đã có những kiến giải về thần thoại theo ý kiến lịch sử. Ông nêu ra rằng thần thoại được tạo dựng trong sự cảm thụ trực giác của người nguyên thủy. Thần thánh chẳng qua chỉ là sự sợ hãi và ngu dốt của nhân loại không giải thích được các hiện tượng của tự nhiên.

 

Chủ nghĩa duy lý trong thời kì Ánh sáng ở Pháp, từ tổng kết của Vico, đã đi tới chỗ coi thần thoại như sản phẩm của sự ngu dốt và lừa dối, một thứ mê tín dị đoan lạc hậu và phản động [Bernard Le Bovier de Fontenelle (1657-1757), Francois Maria Arouet tức Voltaire (1694-1778), Denis Diderot (1713-1784), Charles-Louis de Secondat, tức Nam tước xứ La Brède và xứ Montesquieu (1689-1755),…], nhưng trái lại, nhà thơ Anh James Macpherson (1736-1796), nhà văn và nhà triết học Đức Johann Gottfried de Herder (1744-1803) và khá nhiều nhà phân tích khác coi thần thoại như là sự trổ tài tài năng sáng tạo và trí tuệ tuyệt vời của nhân dân. Ta không thể không nhắc đến vai trò của chủ nghĩa lãng mạn Đức so với thần thoại mà đặc tính nổi trội là sự trân trọng đến mức lý tưởng hóa so với những sáng tác dân gian. Chính ở Đức trong thời kỳ này đã tiến hành sưu tầm và xuất bản nhiều truyện cổ tích, truyền thuyết… Một trong những người cầm đầu chủ nghĩa lãng mạn Đức là Clemens Bretano (1778-1842) cùng với anh em Grimm [Wilhelm Garl Grimm (1786-1859) và Jacob Ludwig Garl Grimm (1785-1863)]… tạo dựng một tổ chức phân tích lấy tên là “Trường phái thần thoại”. Trên nền tảng những thành tựu phân tích của thế kỷ XVIII, nhất là của trường phái thần thoại Đức, bước sang thế kỷ XIX nhiều lý thuyết thần thoại ra đời, triệu chứng những phấn đấu của những nhà khoa học muốn đem ánh sáng của trí tuệ rọi chiếu vào lãnh vực phức tạp và huyền bí này.

 

Lý thuyết thần thoại khí tượng-mặt trời với những đại biểu là hai nhà thần thoại học người Đức: Adalbert Kuhn (1812-1881), Max Müller (1823-1900)… giải thích thần thoại như là sự phản ánh ám dụ tượng trưng những hiện tượng thiên văn và khí tượng. Lý thuyết “thần thoại hạ cấp” mà đại biểu là 𝒲. Schwartz và 𝒲. Mannhardt… coi thần thoại như là sự phản ánh bản thân những hiện tượng thông thường trong cuộc sống. Lý thuyết thần thoại-vật linh giáo coi thần thoại là biểu tượng của tâm hồn nhân loại so với toàn cầu tự nhiên. Đại biểu của lý thuyết này là nhà thần thoại học người Anh Edward Tylor (1832-1917), nhà triết học tiến hóa luận người Anh Herbert Spencer (1820-1903), Friedrich Lenger… Một lý thuyết được phát triển hết sức rộng rãi và thu hút được khá nhiều sự nhất trí của giới phân tích là lý thuyết ngữ văn-lịch sử. Các nhà phân tích theo trường phái này như Udơnơ, Mônlendơrphơ, 𝒱. Belinsky, Giebelep, ɭ. Tolstoy… đã vận dụng phương pháp phân tích ngôn từ văn học vào việc phân tích thần thoại. Nhìn chung những lý thuyết thần thoại nói trên xét về cụ thể và cục bộ có những điểm có thể đồng ý được, nhưng xét về toàn thể, về cơ bản thì những lý thuyết đó không đủ sức thuyết phục khoa học. Về lập trường, ý kiến, phương pháp phân tích của những nhà khoa học thuộc các trường phái lý thuyết nói trên tuy có khác nhau nhưng lại có một quan điểm giống nhau nhất giống nhau là toàn bộ đều ít nhiều chịu ràng buộc của xu thế triết học thực chứng hoặc xã hội học-thực chứng luận.

 

Một nhà phân tích thần thoại trong thế kỷ XIX mà tất cả chúng ta không thể không nhắc đến là Bachofen, người Thụy Sĩ. Mặc dù ông chưa thoát khỏi ý kiến duy tâm thần bí coi tôn giáo như động lực quyết định tiến trình lịch sử toàn cầu như những kiến giải của ông về thần thoại Oreste giết mẹ để trả thù cho cha và được xử trắng án như là một thần thoại phản ánh trận đấu tranh thắng lợi của cơ chế mẫu quyền là hoàn toàn xác đáng. Cách giải thích của ông đã gắn thần thoại vào một hoàn cảnh lịch sử xã hội rõ ràng và cụ thể, một trình độ phát triển nào đó của lịch sử-xã hội nhân loại25.

 

Hiến dâng có ý nghĩa to lớn so với lý thuyết thần thoại là những ý kiến của ₭. Marx và ₣. Engels. Những ý kiến của Engels viết trong lời tựa cuốn Nguồn gốc của gia đình, của cơ chế tư hữu, và của nhà nước đã giải thích thần thoại bằng ý kiến duy vật lịch sử và biện chứng. Những ý kiến của Marx trong cuốn Góp phần phê phán chính trị-kinh tế học đã nêu cho tất cả chúng ta thấy ý nghĩa lịch sử của thần thoại: thần thoại như một hình thái ý thức xã hội đã phản ánh thực tại (tự nhiên và xã hội) với toàn bộ bản chất năng động của ý thức nhân loại. Marx nêu ra rằng cái hay, nét đẹp, cái kỳ lạ, huyền diệu của thần thoại là sản phẩm của một hoàn cảnh xã hội trong đó có những điều kiện tất yếu đẻ ra thần thoại. Này là trình độ hết sức thấp kém của sản xuất, tri thức làm cho nhân loại sống hầu hết phụ thuộc vào tự nhiên, không giải thích được những hiện tượng tự nhiên và xã hội diễn ra trong đời sống mỗi ngày. Và khi nhân loại không có khả năng giải thích, kiềm chế những sức mạnh tự phát của tự nhiên và xã hội bằng năng lực thực tiễn, khoa học kỹ thuật, thì nó giải thích và kiềm chế những sức mạnh đó bằng những ảo tưởng thần thoại. Như vậy, Marx đã coi thần thoại như “một hình thức chiếm lĩnh thực tại, chiếm lĩnh bằng trí tưởng tượng dân gian, bằng sự chế biến đi một cách nghệ thuật-không tự giác”. Những ý kiến đó của Marx là sự tiếp thụ những thành tựu của những nhà phân tích tiền bối hoặc cùng thời, từ anh em Grimm đến Morris, Schelling [Friedrich Wilhelm Joseph Schelling (1775-1854): nhà triết học duy tâm người Đức], và nâng cao lên trên những ý kiến triết học của mình. Đương nhiên những ý kiến của Marx và Engels chỉ khắc phục một mặt nào đó rất cơ bản của thần thoại chứ không phải là toàn diện và hệ thống, bởi vì, như tất cả chúng ta đã biết, hai ông không phải là những nhà folklore học hoặc dân tộc học.

 

Thế kỷ XX với những thành tựu to lớn của những nghề khảo cổ học, dân tộc học, folklore học… đã tạo dựng nên một bức tranh hết sức phong phú và cực kỳ phức tạp của lý thuyết thần thoại. Những công trình phân tích khổng lồ của nhiều nhà bác học trên toàn cầu đưa ra nhiều vấn đề mới. Trong số những nhà phân tích nửa đầu thế kỷ XX, trước hết ta phải nói tới nhà folklore học người Anh James George Frazer (1854-1941). Ông viết một bộ sách gồm 12 tập mang tên Nhành lá vàng (Le Rameau {d}’or). Với công phu điều tra, sưu tầm tỉ mỉ, mô tả rõ ràng và cụ thể, bộ sách của ông trước hết là một kho tư liệu khổng lồ. Ông cho rằng ma thuật, tôn giáo và khoa học là ba thời kỳ tiếp theo nhau đóng vai trò làm nền tảng cho sự tạo dựng và phát triển của toàn cầu quan nhân loại. Thần thoại, theo ông, cũng nằm trong hành động ma thuật. Thiếu sót lớn nhất của tác giả là đã nhìn nhận mọi hiện tượng không trên ý kiến lịch sử. Sự thăm dò của tác giả đã không phân biệt được các kiểu loại thần thoại tạo dựng trong những xã hội khác nhau vào những thời điểm khác nhau. Tiếp đó là những công trình phân tích của Wilhelm Wundt, một nhà bác học Thụy Sĩ26. Ông tự đặt cho mình nhiệm vụ xây dựng một khoa học về “tâm lý các dân tộc”. Hiến dâng của ông là đã phân tích Hy Lạp với ý kiến tâm lý-xã hội học, nêu ra sự liên hệ, gắn bó của thần thoại với những xúc cảm trong đời sống, với những sự “kích động mạnh”. Ông coi thần thoại như sự trổ tài những ảo tưởng vô thức của nhân loại nguyên thủy. Đối lập với lý thuyết của Wundt là lý thuyết tư duy nguyên thủy của nhà dân tộc học người Pháp Lévy-Bruhl (1857-1939). Ông là môn đệ của trường phái xã hội học-thực chứng của nhà xã hội học người Pháp Emile Durkheim (1858-1917). Tiếp tục phát triển những kiến giải của Frazer và Wundt, Lévy-Bruhl nêu lên luận điểm: tư duy nguyên thủy là nguồn gốc của thần thoại. Tư duy này có một quy luật nhất là sự “cùng tham dự” (hiện diện). Nó là tư duy tiền logic, tư duy của tập thể người nguyên thủy. Về cuối đời ông từ bỏ ý kiến cho rằng tư duy nguyên thủy tiền logic là một trình độ phát triển tất yếu của lịch sử. Và ông đã bổ sung đính chính lại rằng tư duy nguyên thủy và tư duy logic cũng tồn tại đồng thời với nhau. Tác động của Lévy-Bruhl trong nửa đầu thế kỷ XX rất lớn.

 

Một lý thuyết giải thích thần thoại khá kỳ khôi là lý thuyết phân tâm học của nhà phân tâm học người Áo Sigmund Freud (1856-1939) và những môn đệ của Freud. Lý thuyết này giải thích những hiện tượng thần thoại từ nền tảng tâm lý tiềm thức và cá nhân, trong đó những đòi hỏi của bản năng nhục dục là đa số (Tự ti Oedipe – Le complexe {d}’Oedipe). Thật ra thì lý thuyết của Freud hoàn toàn bất lực trong việc giải thích thần thoại, bởi vì nó phiến diện, và rõ ràng qua thực tiễn thăm dò nó không giải thích được điều gì hết. Lý thuyết của Freud tuy không thu hút được sự nhất trí của giới phân tích nhưng trong lãnh vực sáng tác văn học văn nghệ nó đã sở hữu lĩnh được một vị trí khá đặc biệt ở phương Tây. Hình như lý thuyết này đã phân phối một “cơ sở khoa học khách quan” cho những hành động dâm bạo, loạn luân và đủ thứ chuyện trong cái chuyện “làm tình” cũng như những hành động bạo lực, tàn nhẫn trong loại truyện tiểu thuyết và điện ảnh suy đồi ở phương Tây.

 

Nửa sau thế kỷ XX nổi lên lý thuyết cấu trúc-loại hình học thần thoại và người đề xướng là nhà bác học người Pháp Claude Lévi-Strauss (1908-2009). Ông coi thần thoại như một trường hoạt động của những thao tác logic vô ý thức. Tất cả chúng ta cũng không thể không nhắc đến lý thuyết văn hóa-lịch sử mà người mở màn là Bronisław Malinowski (1884-1942) và những người kế tục hiện tại là nhà phân tích người Pháp Georges Dumézil (1898-1986).

 

Nhìn chung, những lý thuyết thần thoại của nền khoa học tư sản đã có những hiến dâng to lớn về nhiều mặt27 song vẫn chưa có một lý thuyết nào giải thích và làm sáng tỏ được bản chất xã hội của thần thoại.

 

Khoa thần thoại học, folklore, dân tộc học Xôviết vận dụng ý kiến và phương pháp duy vật lịch sử và duy vật biện chứng của triết học Marxisme-Léninisme, tiếp thụ những thành tựu của nền khoa học tư sản, đã phấn đấu phân tích, giải thích thần thoại theo ý kiến lịch sử văn hóa bằng cách nối liền sự phân tích, giải thích đó với việc phân tích, so sánh, phân tích theo ý kiến lịch sử thể loại tự sự trong nền văn hóa toàn cầu. Những công trình phân tích của các nhà bác học Xôviết như 𝓐.₣. Lossev, Ş.𝓐. Tokarev, Iu.Ρ. Frantsev, 𝒱.Ia. Propp, E.ʍ. Meletinsky… đã có những hiến dâng đúng đắn tích cực vào nền khoa học toàn cầu. So với khoa học folklore, thần thoại học còn non trẻ của tất cả chúng ta, những thành tựu của nền khoa học Xôviết là một điểm dựa vững chắc để tất cả chúng ta có thể tiếp xúc với các đại dương mênh mông của các loại lý thuyết thần thoại28.

 

Thật ra vấn đề huvền thoại là gì? Đặc tính và bản chất của tư duy thần thoại cũng như ý nghĩa, nội dung phản ánh giải thích toàn cầu của thần thoại vẫn đang là vấn đề lớn và hóc búa so với các nhà phân tích. Nhà phân tích ʍ.Ι. Shakhnovich (Liên Xô cũ) tổng kết hiện có hơn 500 khái niệm về huyền thoại29.

 

Còn nhà bác học Tenase, một Chuyên Viên lỗi lạc về lịch sử văn hóa, Viện trưởng Viện Triết học của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Rumani cho tất cả chúng ta biết: “… Huyền thoại là một hiện tượng văn hóa hết sức phức tạp, chính vì vậy rất khó có một nghĩa sao cho bao quát được mọi kiểu mẫu (type) và chức năng của huyền thoại trong tất cả các xã hội thượng cổ (công xã nguyên thủy) và xã hội truyền thống (phương thức sản xuất châu Á…)”30.

 

Cũng chính vì lẽ đó nên ngày nay khái niệm thần thoại cũng được sử dụng với tính đa nghĩa của nó. Khi thì thần thoại được hiểu là một mẩu chuyện hoang đường, phi lý, không đúng với sự thật (thần thoại về sức mạnh vô địch của không lực Hoa Kỳ), khi thì được hiểu là một chiến công kỳ diệu, một năng lực sáng tạo phi thường, phong phú, cất cánh bổng, đa nghĩa, giàu sức tưởng tượng-biểu hiện (Hãy sáng tạo những thần thoại mới trên quốc gia tất cả chúng ta, thơ ca-huyền thoại, tiểu thuyết-huyền thoại, thần thoại mới ở sông Đà…)

Xem Thêm  THIÊN LÔI, THẦN SẤM, THẦN SÉT: VAI TRÒ VÀ Ý NGHĨA TRONG TAM GIỚI - thần sấm sét

 

Vấn đề thần thoại trong nửa đầu thế kỷ XX chỉ là vấn đề của ngành nghề phân tích, lý luận folklore học, thần thoại học, dân tộc học nhưng bước sang nửa sau thế kỷ XX đã trở thành vấn đề lý luận mỹ học, lý luận sáng tác. Người trước hết mang vấn đề thần thoại vào lý luận sáng tác, mỹ học một cách ồn ào, nhiệt liệt là Garaudy, một nhà triết học người Pháp. Trong cuốn Chủ Nghĩa Marx Thế Kỷ XX31, Garaudy đề cao thần thoại tới mức hình như là đỉnh cao, là thành tích tuyệt vời nhất của năng lực sáng tạo của nhân loại… Ông chỉ nhìn thấy ở thần thoại, trong thần thoại, chứa đựng những gì tốt đẹp nhất, tích cực nhất của trí tuệ loài người. Từ đó, ông mời chào phải sáng tạo thần thoại, vì thần thoại không chỉ phản ánh cái đã qua, cái hiện tại, mà còn tiên báo tương lai… Những ý kiến cúa Garaudy như vậy là đã thoát ly khỏi ý kiến lịch sử và xem xét vấn đề thần thoại một cách phiến diện. Tất cả chúng ta có thể tiếp thụ, học tập những gì gọi là tích cực, những biện pháp kỹ thuật có hiệu quả gây xúc động thẩm mỹ mạnh mẽ của thần thoại, nhưng như vậy không có nghĩa là tất cả chúng ta phải quay trở lại với tư duy thần thoại và nền văn học của thế kỷ XX chỉ có thể đạt được những thành tựu vĩ đại khi nó đặt cho bản thân mình nhiệm vụ sáng tạo thần thoại. Hơn nữa, trong thực tiễn không phải bất kể mẩu chuyện thần thoại nào cũng có giá trị tích cực và một sức tổng quan, tượng trưng-biểu hiện như nhau…

 

Trong cuộc hội thảo quốc, tế tổ chức hai năm một lần, lần thứ năm về đề tài thơ ca và thần thoại tổ chức ở Knokke32, Vương quốc Bỉ 1961, những nhà phân tích đã nêu ra tính chất mơ hồ, tính chất song nghĩa đối lập nhau của thần thoại là một vùng đất đặc biệt thuận tiện cho thơ ca. Nhưng đồng thời cũng có những nhà phân tích đề cao thần thoại quá mức như Garaudy, thậm chí còn hơn hết Garaudy33. Có một loại ý kiến coi thần thoại như “người phát hiện ra những sức mạnh của nhân loại đã từng bị chèn ép”, và ngày nay “… đứng trước mối đe dọa của khoa học và kỹ thuật, những sự thất bại của nền văn minh đang bị giằng xé bởi lo âu và mâu thuẫn; (tất cả những điều đó) cho phép con người ta nghĩ rằng cái lý trí hay suy luận (la raison raisonnante) có thể cũng là một thói quen điên rồ khác và cũng là sự tha hóa nguy hiểm. Vì thế, con người đã bị hạ thấp xuống quá nhiều. Giờ đây cần phải để cho bản thân mình lắng nghe tiếng hát toát lên từ những cõi sâu thẳm, tiếng niệm thần chú (l’incantation) của những sức mạnh ẩn tàng khi bớt bận rộn và không lý thuyết dông dài nữa (verbiage…)”.

 

Thế là văn minh và khoa học kỹ thuật bị kết án như là một tai họa của loài người, đã tha hóa nhân loại, hạ thấp nhân loại. Và cách giải trừ tai họa ấy là quay về với thần thoại, vì “tác phẩm của nhà thơ có thể xem như một sự chiêu hồn (évocation), một sự kiếm tìm lại cái mythos đã mất…”34

 

Một ý kiến như vậy rõ ràng so với tất cả chúng ta thật xa lạ, khó thu hút được sự nhất trí. Tất cả chúng ta tin ở nền văn minh nhân loại, tất cả chúng ta tin ở khoa học kỹ thuật và tương lai của nhân loại. Nếu như có một nền văn minh làm tha hóa nhân loại, hạ thấp nhân loại, một nền khoa học kỹ thuật đe dọa nhân loại thì cách sửa chữa những tệ nạn, khuyết tật ấy của nó hẳn rằng phải nhắm ngay vào những quan hệ xã hội-kinh tế, quan hệ quyền lực-chính trị vốn là nền tảng của nền văn minh đó và nền khoa học kỹ thuật đó vốn đang điều hành nền văn minh đó và nền khoa học kỹ thuật đó… Kết tội cái lý trí hay suy luận của nhân loại thật là oan uổng cho lý trí của nhân loại. Loài người đã là một động vật có lý trí thì làm sao nó lại không dùng lý trí của mình để tư duy, để suy luận! Còn nếu thơ ca quay về với thần thoại, nghĩa là quay về với quá khứ để chiêu hồn, để tìm kiếm lại cái mythos đã mất thì không chỉ không chống lại được sự tha hóa nhân loại, hạ thấp nhân loại; không cứu vãn được nền văn minh, không ngăn ngừa được mối đe dọa của khoa học kỹ thuật… mà rút cục cũng không kiếm tìm lại được cái mythos đã mất, đúng hơn lại biến mình thành một thứ mythos!

 

Tai họa không phải ở ngọn lửa mà thần Prométhée đã ban cho loài người, ngọn lửa là ngọn nguồn của văn minh và khoa học kỹ thuật, ngọn lửa của tư duy và lý trí, ngọn lửa sinh ra niềm trông mong luôn bập bùng cháy trong trái tim nhân loại. Tai họa là ở những vị thần trong cõi tục điều hành nền văn minh ấy, nền khoa học ấy để chống lại loài người.

 

***

 

Ngày nay thời kì của niềm tin thần thoại và tư duy thần thoại đã lùi vào quá khứ. Hoàng cung Olympe của toàn cầu thần thánh chắc hẳn đã phải dời đến một hành tinh xa xăm nào đó vì lẽ không chịu đựng nổi tiếng động cơ máy cất cánh phản lực siêu âm. Nhưng tất cả chúng ta vẫn lưu giữ trân trọng tài sản thần thoại như lưu giữ một chiến công hiển hách của loài người trong tiến trình lịch sử. Tất cả chúng ta vẫn lưu giữ trân trọng gia tài thần thoại như lưu giữ một kỷ niệm sâu sắc và hào hùng, cao quý và đẹp đẽ của đời người cũng như một kỷ niệm vất vả, đắng cay, đau xót của đời người. Và tất cả chúng ta, nhân loại, vẫn tiếp bước tới tương lai ngày càng tốt đẹp hơn. Tất cả chúng ta vẫn mang theo quá khứ của mình để tiến tới tương lai chứ không phải quay về quá khứ, quay về niềm tin thần thoại và tư duy thần thoại để chinh phục tương lai, tương lai của thời kì tư duy khoa học và cách mạng. Nhiều ước mong của nhân loại xưa kia đã trở thành hiện thực. Biết bao chàng Dédale và Icare của thế kỷ XX đã đi đi, về về trong không gian bạt ngàn của vũ trụ làm cho thần Zeus dù có nổi trận lôi đình, dồn mây mù sấm sét cũng không ngăn cản được. Nhân loại sống đã khác xưa rất nhiều. Tuy nhiên trong đời sống của nhân loại lại nảy sinh ra những mối đe dọa kinh khủng của một thứ “số mệnh mới” cùng với các vị thần mới, ma quỷ mới, bạo chúa mới tiêu diệt loài người, muốn xóa bỏ những thành tựu văn hóa, văn minh mà loài người phải đổ biết bao xương máu, mồ hôi, nước mắt của biết bao thế hệ mới có được. Nhân loại vẫn đang đứng trước một thắc mắc, một lời thách đố của một con Sphinx, con Sphinx-Lịch sử. Cũng chính vì lẽ đó nhân loại còn cần đến những Prométhée, Héraclès, Thésée, Oedipe… bởi vì nhân loại phải sống tranh đấu với Số phận để thắng lợi Số phận. Và để sống, thắng lợi thì không thể để mất Sự tin tưởng và Kỳ vọng, không thể thiếu Mong ước, hơn nữa lại càng phải biết yêu cái Chân, cái Thiện, cái Mỹ thật sâu sắc để biết cái Ác, cái Gian dối, cái Ti tiện, cái Hèn nhát thật sâu sắc. Có thế mới thắng lợi được Số phận, Số phận. Cũng chính vì lẽ đó thần thoại Hy Lạp vẫn rất đáng quý so với tất cả chúng ta. Hình như nó vẫn đang mỗi ngày hàng tiếng đồng hồ nhắn nhủ loài người tất cả chúng ta; “Hãy sống nhân ái và cao thượng hơn nữa! Hãy sống tốt hơn nữa, đẹp hơn nữa, yêu công lý và trọng danh dự hơn nữa! Hãy lập chiến công vì dân vì nước nhiều hơn nữa! Hãy sống trung thực dũng cảm và hiểu biết hơn nữa!” Bởi vì thần thoại là nhân loại của tuổi thơ hồn nhiên và trong sáng, ngây thơ vụng dại song tràn ngập tin yêu; hiểu biết chưa nhiều, giản đơn song thông minh một cách ngộ nghĩnh và tràn ngập ước mong đẹp đẽ, tràn ngập khát vọng táo bạo.

 

Còn tất cả chúng ta ngày nay với ngọn lửa và niềm tin, niềm trông mong bất tử của Prométhée, với dũng khí và tài năng của Persée, Héraclès, Dédale, Thésée, và hơn nữa với trí tuệ của Oedipe, tất cả chúng ta sẽ tiếp tục sáng tạo ra những thành tích văn minh với một sức mạnh hiện thực phi thường. Tất cả chúng ta sẽ quản lý thiên nhiên, quản lý xã hội, không bằng trí tưởng tượng thần thoại mà bằng sức mạnh xã hội của Cách mạng Khoa học kỹ thuật. Tất cả chúng ta sẽ trả lời và phải trả lời đúng, trả lời thắng lợi bất kỳ một thắc mắc nào, lời thách đố nào của con Sphinx-Lịch sử. Bởi vì lịch sử của nhân loại là một quá trình trả lời liên tục những thắc mắc, những lời thách đố, những bài toán của lịch sử.

 

Ngày 19 tháng 4 năm 1982

 

NGUYỄN VĂN KHỎA

 

Toàn thể danh từ phiên âm ở bản gốc của Nguyễn Văn Khỏa được thay thế bằng danh từ gốc trong tiếng Pháp.

Có tham khảo nội dung từ sách tái bản năm 2014 của NXB Văn Học link xuất bản với Công ty tư vấn du học Cổ phần Văn hóa Đông 𝓐, cùng với rất nhiều nguồn tham khảo khác.

Tài liệu này không giống hệt với bất kể bản sách in nào.

 

[1] Tiếng Hy Lạp logographe: người viết văn xuôi, kết cấu từ logos và graphe: viết; khác với aède: ca sĩ.

[2] Félix Gaffiot, Dictionnaire illustré Latin-Français. Hachette Paris, cho biết logos đã từng được sử dụng với những ý nghĩa sau đây: 1) Ngôn từ, lời nói ba hoa, diễn văn vô ích, bài hát, lời nói tế nhị, thông minh, truyện ngụ ngôn; 2) Lý trí (raison).

[3] Theo Ρ. Frutiger, sự phân biệt logos và mythos trong Platon không thật rõ ràng. Ở các tác phẩm Timée, pháp luật, ông sử dụng mythos với ý nghĩa: trình bày (exposé), lý thuyết (théorie), mệnh lệnh (prescription), khích lệ (exhortation). Nhìn chung thần thoại thấm đượm tính duy lý (rationalité) tới mức nhân loại ta có thể nhầm lẫn với tính biện chứng, nếu có thể nói như vậy được… (Ρ. Frutiger, Les Mythes de Platon. Aican, 130, ρ. 4, chuyển dẫn từ Pierre Brunei, Le Mythe de la métamorphose. Paris, 1974, ρ. 24).

[4] ₭. Marx, Góp phần phê phán chính trị – kinh tế học. NXB Sự Thật, Hà Nội, 1971, tr. 312.

[5] 𝓐.₣. Losev, Antichnaja mijologija vee istoricheskom razvtii. Uchpedgisz, Moskva, 1957, tr. 17-23. Losev nêu ra hai quan hệ phức hợp: phức hợp thêm thắt (complexe {d}’interpolation) và phức hợp góp nhặt (complexe de compilation). Phức hợp góp nhặt dẫn tới phức hợp nguyên khối văn nghệ (complexe de monolithe artistique).

[6] ₭. Marx, Góp phần phê phán chính trị – kinh tế học. NXB Sự Thật, Hà Nội, 1971, tr. 312-314.

[7] Michelangelo Buonarroti (1475-1564), nhà điêu khắc, họa sĩ, thiết kế sư danh tiếng người Ý, thời Phục hưng.

[8] Assyrie là một vương quốc thuộc nền văn minh Lưỡng Hà (Mésopotamie).

[9] André Bonnard, La civilisation grecque (𝓓’Antigone à Socrate) 10/18, Chap II: Sculpter la pierre – Fondre le bronze. Paris, 1963. Có tham khảo thêm: Ρ. Devambez, Le style grec (ɭ’Esprit grec). Larousse, Paris ρ. 9-11.

[10] E. Faure, Histoire de ɭ’Art Antique. Livre de poche, Paris. 1964, ρ. 205.

[11] André Bonnard, La civilisation grecque.

[12] Choéphores: những người thiếu nữ viếng mộ.

[13] Jacqueline de Romilly, ɭ’évolution Pathétique {d}’Eschyle à Euripide. Ρ.ᑗ.₣. Paris.

[14] ₣. Engels – Chống Dühring, Chương IV: Lý luận về bạo lực. NXB Sự Thật, Hà Nội, 1959, tr. 304.

[15] “Một tôn giáo tự nhiên rất mờ nhạt trong những tín ngưỡng dân gian, có thể lại còn khá thô thiển nữa, nhưng lại được những ca sĩ cũng như những nhà triết học khai thác ở những ngọn nguồn rất đỗi trong trẻo và rất đỗi thơ mộng. Khi những nhà thơ và nhà triết học tin rằng họ đấu tranh chống lại tôn giáo thì họ chỉ làm toát lên từ tôn giáo cái quan niệm duy lý về thế giới bị những biểu tượng tôn giáo bao phủ. Đúng là con người sợ thần thánh. Nhưng vì các vị thần giống con người nên các vị thần không đảo lộn được cuộc sống của những quan hệ bình thường và tự nhiên vốn gắn bó với cuộc sống của con người. Vị trí của nghề tư tế chẳng quan trọng là bao. Nước Hy Lạp có thể là nước duy nhất trong số những xứ sở cổ xưa mà ở đó đẳng cấp tăng lữ không sống tách biệt với nhân dân để thay mặt cho nhân dân trong nghi lễ diễn xuất-tôn giáo thầm kín (mystère) như một lãnh vực dành riêng cho họ…” (Elie Faure, ɭ’Art antique. ρ. 185).

[16] Ở Việt Nam tất cả chúng ta hình như cũng có hiện tượng tương tự. Nhiều khi ngày hội, ngày giỗ thường kèm theo những trò vui như đánh vật, bơi chải, thổi cơm thi, diễn chèo tuồng… Hội đền Hùng Giỗ Tổ, hội đền Kiếp Bạc, hội Phủ Giày, hội giỗ thành hoàng làng đều có những trò vui như vậy. Ngay đến hội có tính chất Phật giáo như hội chùa Keo (Hành Thiện, Xuân Trường, Nam Định) cũng có phần mê hoặc nhất là bơi chải. Hội Lim là hội thi hát.

[17] Những pho tượng ở chùa Tây Phương của tất cả chúng ta có thể là một ví dụ thân thiện. Nghệ sĩ giữ lại một số quy phạm của tôn giáo như tai to và dài, ngón tay dài… song đó chỉ là hình thức. Xúc cảm siêu thoát và khô cứng – công thức của tôn giáo – bị phá vỡ. Xúc cảm thẩm mỹ, hiện thực, trần thế đã lấn át xúc cảm tôn giáo. Cũng chính vì lẽ đó nên trong số rất nhiều tượng thờ chùa chiền của tất cả chúng ta thì chỉ có tượng thờ ở chùa Tây Phương và một đôi nơi khác được xem là di sản văn nghệ.

[18] Socrate (468-400 TCN), “… connais-toi, toi-même”.

[19] Bài hát khen ngợi, suy tôn các vị thần; tiếng Hy Lạp: hymno; còn dịch là bài ca tán mỹ. Ngày nay hymno là một bài ca trang trọng.

[20] Tiếng Pháp chant phallique: bài ca dương vật. Tiếng Hy Lạp phallos: dương vật.

[21] Σ. Freidenberg, Mif ι literatura drevnosti. Izd. Nauka, ʍ. 1978, tr. 12.

[22] Ératosthène de Cyrène. Cyrène là một đô thị ở bờ biển Bắc Phi gần Ai Cập, thuộc địa của Hy Lạp.

[23] Một đô thị xưa là thuộc địa của người Hy Lạp, sau là thủ đô của Đế quốc Đông La Mã (Le Bas-Empire). Từ thế kỷ III, Byzance hình như thay thế vai trò của Rome. Thế kỷ IV, ngọc hoàng Constantin lên cầm quyền đã đổi tên Byzane thành Constantinople. Sau này người Turc (Thổ) đổi tên thành Istanbul. Hiện tại là thủ đô nước Thổ Nhĩ Kỳ.

[24] Évhémère, cuối tk. IV – đầu tk. III TCN. Lý thuyết của ông trở thành một trường phái gọi là évhémèrisme.

[25] Xem ₣. Engels, Nguồn gốc của gia đình, của cơ chế tư hữu, và của nhà nước, Lời tựa lần xuất bản thứ tư. NXB Sự Thật, Hà Nội. 1961, tr 11-15.

[26] Có vẻ tác giả nhầm; Wilhelm Maximilian Wundt (1832-1920) là người Đức (Chú thích của Nguyễn Tuấn Linh).

[27] Trong bài Những vấn đề lý thuyết folklore, и.Ι. Kravtsov đã nhấn mạnh: “Không nên để những nhược điểm che lấp những gì có giá trị trong các công trình của các nhà bác học trước cách mạng”, “… cần chú ý nghiên cứu một cách có phê phán những thành tựu khoa học của nước ngoài, kể cả các nước tư bản. Viết về những điều mà nước ngoài đã làm được về lý luận folklore là một việc làm bổ ích…” (Problemy Folklora. Izd Nauka, Moskva, 1975).

[28] Trong Lịch sử văn học và thần thoại của Robert Weimann, một nhà phân tích nổi tiếng của Cộng hòa Dân chủ Đức, tác giả phân tách các loại lý thuyết thần thoại thành bốn xu hướng chính: Thần thoại và tượng trưng – Thần thoại và nghi lễ – Thần thoại và nguyên mẫu cổ (archéttypea) – Thần thoại và cấu trúc. (Robert Vejman, Istorija literatury ι niologija. Izd Progress, Moskva, 1975).

[29] ʍ.Ι. Shakhnovich, Pervobytnaya mifologiya ι filosofiya (Stanovleniye grecheskoy filosofii). ɭ. 1971, s. 19.

[30] 𝓐. Tenase, Kultura ι religja (dịch từ tiếng Rumani). Izd Politizdat, ʍ. 1975.

[31] Roger Garaudy, Le Marxisme du XXe siècle. Paris, 1966.

[32] Cinquième biennale internationale de poésie: La Poésie et le Mythe, Knokke. 7 au 11 Septembre 1961… imprécision, ambivalence, sorte histoire flottante dont la signifiration change avec le temps… (trích trong tham luận của Roger Caillois, đại biểu của UNESCO).

[33] Xem tham luận của Marie-Madeleine Machet.

[34] Xem tham luận: Mythe, Póesie của Georges Cusdorf.


Xem thêm những thông tin liên quan đến đề tài hơn hy lap

200 cụm từ – Tiếng Hy Lạp – Tiếng Việt

alt

  • Tác giả: Learning Phrases with Chris & Friends
  • Ngày đăng: 2020-01-14
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 8788 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: 200 cụm từ – Tiếng Hy Lạp – Tiếng Việt
    === Đăng ký === http://www.learningphrases.com
    ▼▼▼ Nhiều video hơn ▼▼▼ https://www.youtube.com/playlist?list=PLtXj4U74pNC6UpihvxJpP6tFblav_pkVT

    LearningPhrases

    Hãy giúp tôi và đăng ký
    ========================================================
    https://www.youtube.com/learningphrases?sub_confirmation=1
    https://www.youtube.com/usefulgerman?sub_confirmation=1
    https://www.youtube.com/usefulfrench?sub_confirmation=1
    https://www.youtube.com/usefulchinese?sub_confirmation=1
    https://www.youtube.com/usefuljapanese?sub_confirmation=1
    https://www.youtube.com/usefulspanish?sub_confirmation=1
    https://www.youtube.com/usefulrussian?sub_confirmation=1
    https://www.youtube.com/usefulitalian?sub_confirmation=1

    ▼▼▼ Nhiều video hơn ▼▼▼

    ==Tiếng An-ba-ni==
    https://www.youtube.com/watch?v=fLbuhNiNDfU

    ==Tiếng Ả rập==
    https://www.youtube.com/watch?v=3rvv36vpiMo

    ==Tiếng Bun-ga-ri==
    https://www.youtube.com/watch?v=QxdOtrhEo5M

    ==Tiếng Đức==
    https://www.youtube.com/watch?v=Ruo7Hvy3awI

    ==Tiếng Anh==
    https://www.youtube.com/watch?v=TwnFMi1hRAc

    ==Tiếng Tây Ban Nha==
    https://www.youtube.com/watch?v=tB0_Q-c0ZJc

    ==Tiếng Pháp==
    https://www.youtube.com/watch?v=VfAU1g7IUh4

    ==Tiếng Italia==
    https://www.youtube.com/watch?v=W_ccsbeZss4

    ==Tiếng Nhật==
    https://www.youtube.com/watch?v=uexA3XJV6w4

    ==Tiếng Bồ Đào Nha==
    https://www.youtube.com/watch?v=_-13LH78D50

    ==Tiếng Ru-ma-ni==
    https://www.youtube.com/watch?v=L4ZtIgM0W-M

    ==Tiếng Nga==
    https://www.youtube.com/watch?v=KVuMHj0zwKM

    ==Tiếng Trung==
    https://www.youtube.com/watch?v=EVISB8DQJ74

Thủ đô Athens – nơi đến du lịch hàng đầu của Hy Lạp và châu Âu

  • Tác giả: immgroup.com
  • Nhận xét: 5 ⭐ ( 2655 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Athens là thủ đô và là Tp lớn nhất Hy Lạp, một trong những Tp cổ nhất toàn cầu với lịch sử được ghi chép hơn 3000 năm.

Tác dụng của sữa chua dẻo Hy Lạp với sức khỏe và sắc đẹp

  • Tác giả: www.bachhoaxanh.com
  • Nhận xét: 5 ⭐ ( 3454 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Sữa chua Hy Lạp là tên gọi được tìm đến khá nhiều thời gian gần đây. Ngày hôm nay, tất cả chúng ta cùng tìm hiểu về sữa chua Hy Lạp là gì và nguyên nhân vì sao nó lại được nhiều người tìm mua đến vậy nhé!

Sữa chua Hy Lạp có thực sự tốt hơn sữa chua thông thường?

  • Tác giả: suckhoecong.vn
  • Nhận xét: 5 ⭐ ( 2151 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Sữa chua Hy Lạp hay thường hay gọi là sữa chua kiểu Hy Lạp rất tốt cho sức khỏe, đặc hơn và dẻo quánh hơn so với sữa chua thông thường. Lợi nhuận sức khỏe của sữa chua Hy Lạp?

Tiêu chuẩn chọn mua máy tính làm đồ họa 2D tốt nhất cho dân thiết kế

  • Tác giả: www.thegioididong.com
  • Nhận xét: 5 ⭐ ( 7791 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Cùng xem qua những tiêu chuẩn chọn mua máy tính làm đồ họa 2D tốt nhất cho dân thiết kế để lựa chọn cho mình chiếc máy tính trợ giúp việc thiết kế thích hợp nhé. Click ngay!

Trung Quốc nguy hơn Hy Lạp

  • Tác giả: dantri.com.vn
  • Nhận xét: 5 ⭐ ( 1056 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Bắc Kinh “đang hoảng loạn và thiếu niềm tin vào thị trường tài chính của chính mình”.

Top 11 Máy tính xách tay đồ họa dưới 20 triệu cấu hình “Ngon” đáng mua

  • Tác giả: didongviet.vn
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 5764 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Nếu đang trên đoạn đường trở thành những designer chuyên nghiệp thì chúng ta nên tham khảo top những chiếc máy tính đồ họa dưới 20 triệu đáng mua.

Xem thêm các nội dung khác thuộc thể loại: Khám Phá Khoa Học

By ads_law