THIỀN LÀ GÌ?

Thích Nguyên Đăng

Suốt bốn mươi lăm năm
đức Phật chỉ thuyết giảng hai điều: (1) Khổ and (2) con đường mang đến sự diệt
Khổ. Để hủy diệt cái khổ, người ta phải nhận thấy bản chất nội tại của vấn đề
khổ. Mà để được vậy, trước nhất người ta phải phải có một cái tâm an tịnh mà thiền
Phật giáo gọi là samatha (thiền chỉ).

Định
nghĩa Thiền

Thiền
là môt từ thực sự khó khái niệm ở bất kì ngôn ngữ nào and thường gây bối rối
cho bạn đọc. Vậy nó có nghĩa là gì?

Theo
tự điển tiếng anh Oxford, thiền là sự thực hành suy tư sâu sắc trong tĩnh lặng
để cho tâm của người thực hành an tịnh. Còn tư điển Merriam-Webster thì mang ra
hai khái niệm khác nhau: đầu tiên, thiền là ngâm mình trong sự trầm tư mặc
tưởng hay sự phản tỉnh; thứ hai, thiền là tham gia vào việc luyện tâm (như tập
trung vào hơi thở hay trì tụng một câu thần chú lặp đi lặp lại nhiều lần[1])
với mục đích nhắm đến sự tỉnh thức tâm linh ở một cấp độ cao.

&
theo tự điển Cambridge, thiền là hoạt đông hướng sự chăm chú của bạn vào một
đối tượng (có vẻ là một hoạt động có tính chất tôn giáo hoặc một công thức
nào đó để được trầm tĩnh and buông xả).

Nói
chung, toàn bộ những khái niệm này đều đưa cùng một ý nghĩa: đó là sự cố gắng
hết mình để ràng buộc tâm vào 1 điểm duy nhất vì hình như người ta không có
khả năng chăm chú vào hai đối tượng trong cùng một thời điểm.

Suy
cho cùng, tất cả chúng ta thường có xu hướng dùng từ “thiền” để miêu tả những sự
thực tập có tính trầm tư mặc tưởng hay những sự thực hành phản ánh sự suy
nghiệm.

Dựa
trên ý nghĩa này, thiền không khẳng định đưa ý nghĩa tôn giáo. Mà đúng hơn,
thiền là một phần tri nghiệm tự nhiên của con người tất cả chúng ta, and nó có vẻ được
dùng làm đơn thuốc trị liệu để tăng trưởng sức khỏe cũng như chuyên sâu hệ miễn
dịch trong con người tất cả chúng ta.

Bất
kỳ ai chiêm ngưỡng mặt trời lúc hoàng hôn hay ngắm nhìn một bức họa nghệ
thuật mà cảm thấy trầm tĩnh and nội tâm thanh thoát đều ít nhiều hưởng thụ gia
vị của thiền. Nói như thế, thiền Phật giáo là gì? Đầu tiên tất cả chúng ta thăm dò
thiền Phật giáo theo cách hiểu của ngươi bình bình trước.

Một buổi ngồi thiền tại Thiền Viện Chơn Không Vũng Tầu

Thiền
Phật Giáo Theo Quan Điểm Bình Dân

Khi
được hỏi về thiền, ai trong tất cả chúng ta hình như đều có cùng câu trả lời bất cứ
tất cả chúng ta là ai đi nữa. Người bình bình hay liên tưởng đến thiền Phật giáo
theo một trật tự sau đây: đầu tiên, thiền giả phải tìm một nơi thanh vắng như
chùa, hay một góc phòng, hay một khóa tu thiền; nghĩa là người ta phải tách
mình ra khỏi đời sống thường nhật bận bịu.

Điều
kế tiếp họ nên làm là ngồi kiết già, thẳng lưng, and nhắm mắt.

Sau
cùng, họ bố trí sao đó để chăm chú vào một đối tượng chi tiết.

Tại
Vietnam, người Phật tử thường quen với việc Niệm Danh Hiệu của đức Phật A Di
Đà. Họ có vẻ dùng một xâu chuỗi 108 hạt hoặc 18 hạt hay 54 hạt để biết chính
xác số lần niệm Phật.

Tuy
nhiên, những ai có trí nhớ tốt không nhất thiết phải dùng xâu chuỗi. Hầu như
bất kỳ sự kiện nào liên quan đến Phật giáo, phật tử viet nam đều Niệm Phật A Di
Đà, and xem việc Niệm Danh Hiệu Phật này là thiền định.

Nói
đúng hơn, đây là tịnh độ trong thiền. Theo phật tử viet nam, niệm danh hiệu
Phật A Di Đà là để tịnh hóa cái tâm khỏi phiền não and vọng tưởng. Tất cả chúng ta
không rõ ý kiến thiền trên bình diện chung có hợp với ý kiến thiền của
đức Phật hay không? Bởi thế, tôi mong muốn dành phần tới để bàn về ý kiến thiền
của đức Phật.

Thiền
Phật Giáo theo ý kiến của đức Phật

Theo
Đại Kinh Saccaka (), mẩu chuyện về cuộc sống đức
Phật tường thuật nhiều tình tiết liên quan đến sự giác ngộ cũng như giáo lý của
ngài.

Lúc
lên bảy tuổi, ngài theo phụ thân dự lễ Hạ Điền, khi ngài rời cung điện lần đầu
tiên, and ngài đã nhìn thấy lễ Hạ Điền. Lúc ấy, ngài nhận thấy đươc tình trạng
đời sống bên ngoài toàn cầu nhung lụa. Nhìn thấy lễ Hạ Điền mở ra cho Sĩ Đạt
Tha () một viễn tượng mới mẻ về toàn cầu bên ngoài. Những gì
diễn ra trong lễ Hạ Điền này đã tạo trong ngài mối ưu phiền sâu thẳm. Ngài chứng
kiến người nông phu quật liên hồi lên thân trâu đang cày cực nhọc. Tại đấy,
ngài nhìn thấy nhiều buổi lễ mà trước đây ngài chưa hề được thấy trong hoàng
cung.

Ngài
lặng thầm thoát khỏi không khí sự kiện and mong muốn được an trú một mình. Rồi ngài cảm
thấy tâm ngài mang ngài về hiện trạng an định. Ngài quán sát tường tận lưỡi cày
cứa từng miếng đất trên thửa ruộng. Rôi ngài nhìn thấy lưỡi cày nghiền nát côn
trùng trên thửa ruộng, and chim chóc mổ xé những sinh vật bé hơn.

Xem Thêm  [Update] Cách trồng xà lách tại nhà cực đơn giản cùng Sfarm | trồng xà lách xoong tại nhà

Ngài
tự hỏi chính mình: vì sao chúng sinh lại khổ đau như thế? Ngài liền nghĩ, nếu phụ
vương ta không làm lễ Hạ Điền, ắt hẳn những loài sinh vật này sẽ không bị sát
hại như vậy.

Ngài
liền nhận chân ra mọi thứ đều có mối tương quan chặt chẽ. Mỗi hành động đều đem
lại kết quả, điều sau này trở thành giáo lý then chốt của ngài.


Đạt Tha chăm chú sâu thẳm vào vấn đề này. Ngài chỉ chuyên tâm vào sự di
chuyển của lưỡi cày trên đám ruộng cùng những hậu quả theo sau của nó; and ngài
đã chứng đắc , một hiện trạng tâm thức trở thành bước trước hết trên
lộ trình giác ngộ của ngài. Theo tự điển Pali-Anh, là một trạng
thái hỷ lạc[2].

Điểm
liên hệ giữa buổi lễ này với Thiền Phật Giáo về sau được hiểu là chuyên nhất
trên một đề mục với sự tĩnh lặng. Tất cả chúng ta cũng có vẻ suy ra rằng chính với
cái tâm tĩnh lặng, đức Phật đã tìm tòi ra một giáo lý trọng yếu khác là học
thuyết Từ Bi () cho trần gian đang khổ đau, khi ngài nhìn thấy
chúng sinh chiến tranh, sâu xé nhau để search sự sống cho mình, phải giết hại
chúng sinh khác.

Một
chi li trọng yếu khác trong cuộc sống đức Phật liên hệ đến thiền là khoảnh
khắc trước khi ngài thành đạo. Sau khoảng thời gian từ bỏ cung điện, ngài theo học với hai
vị thầy trứ danh lúc hiện thời là Āḷāra Kālāma and Uddaka Rāmaputta. Không lâu sau
khi nhận họ làm thầy, ngài chứng đến thiền thứ bảy and thứ tám – Vô Sở Hữu Xứ and
Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ.

Ngài
vẫn tổng kết rằng đây không phải là con đường đem đến an lạc and giải thoát.
Ngài gia nhập nhóm năm nhà tu khổ hạnh and khởi đầu tu tập theo lối khổ hạnh hành
xác như họ. Ngài nỗ lực tìm thấy đạo lý qua sự tu tập ép xác.

Tuy
nhiên, con đường giác ngộ vẫn xa lánh người tu sỹ trẻ tuổi. Ngài trở nên ốm yếu
and bệnh tật; cơ thể còn chỉ như nắm xương. Ngài nhận chân ra rằng chẳng thể
tìm cầu giác ngộ bằng lối tu khổ hạnh như vậy này.

Ngài
quyết định dùng thức ăn trở lại and một cách tự phát ngài nhớ lại sự chứng
nghiệm lúc ngài tham gia lễ Hạ Điền.

Sau
này Phật kể lại cho Aggivessana như sau: “”. “[3].

Sau
khi nhớ lại sự kiện thưở ấu thơ, nhà tu sy trẻ tuổi Sĩ Đạt Tha không còn tự ép
buộc ngài vào lối tu khổ hạnh hành xác nữa. Ngài bắt đầu quan sát tâm qua sự di
chuyển của từng hơi thở đi vào và hơi thở đi ra. Ngài thấy sự cảm thọ hiện hữu
khắp thân thể cho đến nơi lỗ mũi theo cách thức dần dần đưa tâm đến tĩnh lặng,
an định, buông thư, minh giải và thanh tịnh[4].

Ngài
tiếp tục hành thiền lối này, vượt qua tứ thiền rồi thành Phật.

Tóm
lại, theo quan điểm của người viết, quan điểm thiền của đức Phật có thể được mô
tả theo hai cách sau đây: thứ nhất, hành giả thiền tông phải tìm một nơi thật
thanh vắng, gắn chặt tâm trên một đề mục thiền quán thích hợp với tâm tính của
họ, như đối tượng quán chiếu của Sĩ Đạt Tha là theo dõi sự di chuyển của lưỡi
cày; bước thứ hai là nỗ lực hết mình để an trú tâm trên đối tượng đã được chọn
cho đến khi hành giả khiến tâm an tịnh.

Một
khi tâm đã an tịnh, hành giả sẽ thể nhập sâu lắng vào bản tính của một hiện
tượng nào đó mà họ muốn thấu triệt. Trong trường hợp của đức Phật, khi quán sát
lưỡi cày trên thửa ruộng sâu lắng với cái tâm tuyệt đối an tịnh, ngài nhận chân
rằng hữu tình chúng sinh đấu tranh lẫn nhau để sinh tồn và cam chịu khổ đau.

Chứng
kiến sự khổ đau của chúng sinh với tâm quán chiếu như vậy, có lẽ đây là điểm
khởi thuỷ để đức Phật thuyết giảng học thuyết về Từ Bi. Từ
thường được dịch là hay trong tiếng Anh
(tranquility or calm), và được dịch là
có lẽ cũng bắt đầu từ câu chuyện về cuộc đời đức Phật được chép trong Đai Kinh
Saccaka.

Điều
đáng bàn là quan điểm ban sơ của đức Phật về thiền được phát triển và diễn
giảng rộng hơn dựa những bài kinh nói về thiền trong tạng Pāli.

Thiền
Trong Kinh Tạng Pāli

Giữa
những kinh nói về thiền trong tạng kinh điển Pāli, phải nói rằng Kinh Đại Niệm
Xứ () là Kinh tiểu biểu và quan trọng bậc nhất. Có
thể nói rằng toàn bộ hệ thống thiền phật giáo được cô đọng trong kinh này.
Những Kinh quan trọng khác về thiền như Kinh Quán Niệm Hơi Thở hay Nhập Tức
Xuất Tức Niệm (, Kinh Thân Hành Niệm (hay Kinh Niệm Xứ (S) chỉ là những sự diễn
giảng rộng thêm dựa trên nền tảng của kinh Kinh Đại Niệm Xứ. Bởi tầm quan trọng
của kinh này đối với hệ thống thiền học phật giáo, người viết xin lấy kinh này
để bàn về nội dung của thiền học.

Xem Thêm  [Update] Thầy Thích Trúc Thái Minh | cung sao hoi mung 8 tet

Theo
trình tự và cấu trúc của Kinh Đại Niệm Xứ, thiền gồm có bốn thành phần chính
yếu: thứ nhất là quán niệm thân (thứ hai là quán cảm thọthứ ba là quán niệm tâmvà thứ
tư là quán niệm pháp

Quán
thân gồm có quán niệm hơi thở ra vàoquán bốn hành động của
thân – đi, đứng, nằm, ngồiliễu triquán
bất tịnh của thân thểquán các giới – đất,
nước, lửa, gióquán chín giai đoạn thối rữa của thân
thể

Nói
ngắn gọn, có tất cả mười bốn thành phần về quán thân.

Quán
thọ bao gồm có ba loại: lạc thọkhổ thọvà
bất khổ bất lạc thọ ().

Quán
tâm bao gồm quán tâm tham và tâm vô tham, tâm sân và tâm vô sân (
and ), tâm si và tâm vô si, tâm tán loạn và tâm thâu nhiếp, tâm
quảng đại và tâm không quảng đại, tâm hữu hạn và tâm vô lượng, tâm có định và
tâm không định, tâm giải thoát và tâm không giải thoát. Có tất cả mười sáu
thành phần quán về tâm nhưng chúng thường được xem là một thành phần duy nhất
là .

Quán
pháp gồm có quán năm triền cái – tham dục, sân hận, hôn trầm thụy miên, trạo
hối và nghi (năm thủ uẩnsắc, thanh, hương, vị, và
xúc , sáu nội ngoại xứ (, bảy giác chi –
niệm, trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, định, và xả (, bốn
sự thật hay bốn thánh đế – khổ đế, tập đế, diệt đế, và đạo đế (.
Nói tóm lại, có tất cả năm thành phần về quán pháp ([6].

Bài
viết này không phải dành riêng để bàn về nội dung của Kinh Đại Niệm Xứ, mà chỉ
dựa vào nó để trình bày ngắn gọn phương pháp hành thiền. Theo nhận định của
người viết, có hai điểm chính yếu đáng quan tâm trong Kinh Đại Niệm Xứ cũng như
trong nền thiền học phật giáo của kinh tạng Pāli.

, tất cả bốn phép
quán (thân, thọ, tâm, và pháp) đều dựa trên nền tảng chính niệm. Hay nói khác,
thiền được hiểu là nói đến những sự thực tập nhất định được y cứ bằng việc
thiết lập chính niệm. Từ “” xuất phát điểm từ tiếp đầu ngữ có nghĩa là chính niệm, and tiếp vị ngữ , có nghĩa là nền
tảng[7].

Một
cách rạch ròi, đưa nghĩa là nền móng của chính niệm. Chính
niệm cấu thành bốn thành phần tu tập mang đến sự giác ngộ, and nó được nhận thức
là kim chỉ nam cho toàn bộ các công thức thực hành thiền định.

Bốn
thành phần quán niệm không gì khác hơn là quán thân, quán cảm thọ, quán tâm, and
quán pháp.

người viết mong muốn nhấn
mạnh là, toàn bộ giáo pháp của đức Phật () đều có liên đới với
thiền định. Những gì được dạy trong Kinh Đại Niệm Xứ bao hàm toàn bộ những gì
đức Phật đã thuyết giảng trong suốt bốn mươi lăm năm. Kinh Đại Niệm Xứ không
chỉ nói về thiền định mà còn trình bày tất cả hệ thống giáo lý của Phật giáo.


do để tất cả chúng ta cam đoan điều này là những gì đức Phật thuyết giảng cho thế
gian đều xuất phát điểm từ sự tìm tòi, chứng nghiệm, and nếm vị ngọt của chính pháp
một cách thực tế and thí nghiệm từ bản thân ngài qua sự thực hành thiền định
hơn là những học thuyết có tính lý thuyết suông and siêu hình.

&
tất cả chúng ta không rõ giáo lý thiền được giải thích như vậy nào trong văn học and
luận tạng Phật giáo về sau. Cho nên, phần tới sẽ được dành để thăm dò thiền dựa
theo ý kiến trong Thanh Tịnh Đạo Luận (của Buddhaghosa
(Phật Âm).

Thiền
Phật Giáo trong Luận Tạng

Trong
Thanh Tịnh Đạo Luận, Buddhaghosa trình bày thiền dưới bốn mươi đề mục (.

Đó
là (10 : đất, nước, lửa, gió, xanh,
vàng, đỏ, trắng, không gian, and ánh sáng.

(10 ):
tướng phình trướng, tướng bầm xanh, thây chảy mủ, tướng nứt ra, tướng bị gặm
khói, tướng rã rời, tướng phân tán rã rời, tướng máu chảy, tướng trùng ăn, and
tướng bộ xương.

(10 ):
niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Giới, niệm Thí, niệm Thiên, niệm chết,
thân hành niệm, niệm hơi thở, and niệm an yên.

(4 ):
từ, bi, hỷ, and xả.

Các
Vô Sắc Xứ : không vô biên xứ, thức vô biên xứ, vô sở hữu
xứ, and phi tưởng phi phi tưởng xứ. Tưởng về Bất Tịnh trong thức ăn (1) and phân
tích Bốn Đại (1).

Giữa
bốn mươi đề mục thiền, mười biến xứ () được tìm ra trong tạng
kinh (thuộc tam tạng hệ Pāli[8] được
tìm ra trong Kinh Đại Niệm Xứ, Kinh Niệm Xứ, Kinh Quán Niệm Hơi Thở and Kinh
Thân Hành Niệm. được chép trong Kinh Tăng Chi (Tập I);
trong , Từ and Bi được nói đến trong Kinh Từ Bi ( and trong phần (thuộc
Kinh Tiểu Bộ; hỷ and xả được bàn đến trong
phần (
) thuộc Kinh Đại Niệm Xứ. được tìm ra trong kinh Tăng Chi (tập IV); cũng được tìm ra trong kinh Tăng Chi (tập IV); and phần Phân
Tích Bốn Đại được nói đến trong Đại Kinh Dấu Chân Voi (

Xem Thêm  Ong mặt quỷ

Nhìn
lướt qua danh mục bốn mươi đề mục thiền, tất cả chúng ta thấy rằng Buddhaghosa làm
được một công trình rất to lớn là hệ thống hóa bốn mươi đề mục thiền theo một
trình tự có tính học thuật cao.

Cho
dù toàn bộ bốn mươi đề mục đều được tìm ra trong kinh tạng Pāli, thiền Phật
giáo, theo Buddhaghosa, vẫn khác rất nhiều với thiền được đề cập trong kinh
tạng Pāli nói chung and kinh Đại Niệm Xứ nói riêng. Không ai biết chắc nịch tại
sao Buddhaghosa lại phân loại bốn mươi đề mục theo cách như thế. Theo sự miêu tả
trong Thanh Tịnh Đạo Luận (), Buddhaghosa gợi ý rằng hành
giả thiền tông nên chọn đề mục thiền nào thích hợp với căn tính của họ.

Buddhaghosa
bảo rằng có sáu loại căn tính khác nhau: đó là tánh tham, sân, si, có niềm tin,
thông minh, and phỏng đoán (greed, hate, delusion, faith, intelligence, &
speculation)[9]. Đơn cử là, Buddhaghosa phát ngôn rằng những ai có tính khí tham
nên quán tưởng bất tịnh and thực hành Thân Hành Niệm; những ai có tính sân nên
quán tưởng bốn biến xứ – xanh, vàng, đỏ, and trắng cũng như bốn phạm trú – từ,
bi, hỷ, and xả; những ai có tánh si and phỏng đoán nên quán niệm hơi thở; những
ai có niềm tin nên quán tưởng sáu Tùy Niệm – Niệm Phật, Niệm Pháp, Niệm Tăng,
Niệm Giới, Niệm Thí, and Niệm Thiên; những ai có tính khí thông minh nên quán
niệm an yên, niệm Chết, sự Bất Tịnh trong thức ăn, and bốn đại – đất, nước,
lửa, and gió.

Theo
đánh giá của người viết, thiền Phật giáo theo ý kiến được miêu tả trong Thanh
Tịnh Đạo Luận như sau:

Để
đem lại lợi lạc and thành công trong việc hành thiền, hành giả phải nhận thấy
được tính khí của chính mình. Có vẻ đây là nguyên nhân vì sao Buddhaghosa setup
and hệ thống hóa bốn mươi đề mục thiền quán. Buddhaghosa cũng giải thích thêm
rằng trong trường hợp hành giả không nhận thấy căn tính của chính mình, họ phải
phải có một thiền sư hay một pháp lữ giỏi and có kinh nghiệm để chỉ dẫn (), yếu tố cũng được nhắc đến trong Thanh Tịnh Đạo Luận.

Theo
người viết, hệ thống của Buddhaghosa là 1 điểm thật sự lôi cuốn nhưng cũng
khá thách đố. Nói như thế là bởi vì hành giả vẫn hoàn toàn đối diện với thất bại
cho dù có sự chỉ dẫn của minh sư hay thiện hữu kiến thức. Minh sư hay thiện
hữu kiến thức không ít lần đọc sai quan niệm của người khác.

Cần
nhấn mạnh lại rằng đại ý trọng yếu nhất trong công thức thiền của
Buddhaghosa là, người ta nỗ lực nhận thấy căn tính của mình. Tất cả chúng ta không đoan
chắc nịch hệ thống thiền này có phản ánh đúng những gì đức Phật dạy hay không.
Bốn mươi đề mục thiền đã có mặt trong kinh điển Pāli.

Điểm
đáng cảnh báo là không phải toàn bộ kinh điển trong tạng Phật giáo nguyên thủy đều
do Phật thuyết giảng, có vẻ do chư thánh đệ tử của Phật nói and được Phật chấp
thuận. Theo dòng thời gian, như Phật giáo nói chung, giáo lý về thiền cần tự
bố trí để thích ứng với nhiều nền văn hóa khác nhau mà nó du nhập.

Lời
Kết

Chúng
ta thấy không có nhiều biến đổi trong công thức hành thiền từ thời đức Phật
cho đến ngày bây giờ. Điểm then chốt của thiền Phật giáo vẫn còn được lưu hành.

Một
cách tổng quan, hành giả thiền tông cần vận hành hai bước trọng yếu: thứ
nhất, cố gắng để an tịnh cái tâm của mình; thứ hai, cái tâm an tịnh sẽ giúp hành
giả tuệ tri sâu thẳm vào những gì mà họ thực sự mong muốn tìm tòi.

Trong
ý nghĩa này, thiền là trọng tâm trong hệ thống giáo lý của đức Phật. Bất kỳ học
thuyết nào mà đức Phật đã thuyết giảng trong kinh điển Phật giáo nguyên thủy
đều có liên đới đến thiền như tất cả chúng ta đã bàn khi nói về Kinh Đại Niệm Xứ.

Nói
một cách khác, suốt bốn mươi lăm năm đức Phật chỉ thuyết giảng hai điều: (1)
Khổ and (2) con đường mang đến sự diệt Khổ. Để hủy diệt cái khổ, người ta phải
nhận thấy bản chất nội tại của vấn đề khổ. Mà để được vậy, trước nhất người ta
phải phải có một cái tâm an tịnh mà thiền Phật giáo gọi là (thiền
chỉ).

Như
mặt hồ bình lặng, với cái tâm an tịnh, người ta có vẻ nhìn thấu suốt những gì
bên dưới nó. Đây là điều Phật giáo gọi là (thiền
quán).


[1]
Trì niệm chú không được đề cập trong văn học Pali. Có vẻ đây là một sự phát
triển về sau của Niệm Phật (, Recollection of the Buddha).

[2]
Nyanatiloka (1952). . Sri Lanka: Buddhist Publication Society

[3]
Đại Kinh Saccaka (bản dịch ht Thich Minh Châu).

[4]
BBC movie- the Life of The Buddha.

[5]
Nyanatiloka (1952), Sđd, trang 292 and 364.

[6]Maurice
Walshe (trans) (1987). (A Translation
of the Digha Nikaya). Boston: Wisdom Publications trang 335-50.

[7]
Nyanatiloka (1952). Sđd, trang 307.

[8]
http://en.wikipedia.org/wiki/Kasina

[9]
Nyanamoli, Bhikkhu (1956). ). Singapore:
Singapore Buddhist Meditation Centre, trang 102.

By ads_law

Trả lời