Thiên Tự văn Bài 1: Thiên địa huyền hoàng ⇒by tiếng Trung Chinese

0
59

Thiên Tự văn Bài 1: Thiên địa huyền hoàng là 1 trong 25 nội dung trong bộ sách hán ngữ cổ Trung Quốc Thiên Tự Văn & là một trong những quyển sách dạy vỡ lòng của người xưa thuộc cấp “Tiểu học”của người Trung Quốc.

Thiên Tự văn Bài 1: Thiên địa huyền hoàng

天地玄黃,宇宙洪荒 Thiên địa huyền hoàng, vũ trụ hồng hoang.

日月盈昃,辰宿列張 Nhật nguyệt doanh trắc, thần tú liệt trương.

寒來暑往,秋收冬藏 Hàn lai thử vãng, thu thâu đông tàng.

閏餘成歲,律呂調陽 Nhuận dư thành tuế, luật lữ điệu dương.

雲騰致雨,露結為霜 Vân đằng trí vũ, lộ kết vi sương.

Giải nghĩa

Thiên địa huyền hoàng

Vũ trụ hồng hoang

Nhật nguyệt doanh trác

Thần Tú liệt trương

Tạm dịch là:

Trời đất mù mịt giữa đen vàng

Vũ trụ hoang vu nước tràn đầy

Đứng xế, mặt trờ theo bóng hình

Vơi, đầy, vầng nguyệt vơi thời gian

Các vì tinh tú như lũ xếp

Phân định đặt tên đã rạch ròi

Chú giải:

– Huyền: màu đen. Huyền, Hoàng nói về màu sắc của trời đất

– Hồng: to, lớn. bước này nói về nước lớn, hồng thủy. Hoang, tức là hoang vu, cổ cây mọc xum xuê. Hồng hoang tức là nói về tình trạng hỗn độn, tăm tối mù mịt

– Doanh: Mặt trăng tròn gọi là doanh

– Trắc: Quá trưa mặt trời đã xế bóng về tây

– Thần: Mặt Trời, mặt Trăng cùng gặp nhau gọi là thần, hay còn gọi tên chung các tại sao.

– Tú: Có nghĩa là ngừng lại. Các địa điểm của các tại sao gọi là tú.

– Liệt trương: Bày biện, xếp đặt, phân bổ rải rác khắp khung trời.

Dịch theo đáp án:

Khi mới khai thiên lập địa, toàn cầu chào đời, thì Trời là màu đen, đất là màu vàng. Trong khoảng trời đất bạt ngàn, nước dâng lên tràn đầy, cỏ cây xum xuê, một dải hỗn độn.

Khi toàn cầu chào đời như vậy nào? Lúc ấy không có văn tự ghi chép lại, nên cũng chẳng có ai nhắc nhở lại được rạch ròi. Song hàng ngàn năm nay, các dân tộc có rất nhiều truyền thuyết khác nhau về khai thiên lập địa, nó rõ lý do của toàn cầu. Trung Hoa thì nói: Khi đất trời chưa mở ra, trên toàn cầu chỉ là một mảng hỗn độn giống như một quả trứng gà đồ sộ. Trong quả trứng gà này đã thai nghén một người đồ sộ, tên ông ta là Bán Cổ. Một hôm ông ta tỉnh dậy, nâng mạnh một cái, tách ra được một ít giữa trời với đất, rồi ông vung mạnh lưỡi búa lớn lên, bổ vào chỗ cồn dính liền giữa trời & đất.Sau thời điểm bổ xong, cái gì nhẹ thì bốc lên, đó chính là trời, cái gì nặng thì đi xuống, đó chính là đất. Khi mới tách chia ra trời & đất, khắp mọi nơi hơi sương mù mịt, ánh sáng của mặt trời khó soi rọi xuống mặt đất, vì vậy nhìn trời lúc ấy chỉ là màu đen u ám.

Vì sao lại gọi là vũ trụ? Trong bộ sách “Hoài Nam Tử” của Trung quốc có bảo rằng: Trên dưới 4 phương gọi là Vũ. Từ xưa đến nay gọi là Trụ. Nhà khoa học Anh – stanh cho là: Vũ trụ chính là không ian cộng với thời gian. Điều đó hoàn toàn hợp lý.

Thời gian không có cái mở màn & cái chấm dứt. Còn không gian thì sao? Ngoài trời đất ra còn có cái lớn vô cùng, vô biên không có cái gì nhận xét & lường tới được. Từ thời cổ đại đâu đâu cũng chỉ là một vùng hoang vu rét mướt, không có sinh mệnh, không có dấu vết của con người.

Mặt Trời mặt Trăng vận hành trong khung trời. Mặt Trời mọc, mặt trời nặn. Mặt Trăng tròn, mặt trăng khuyết, đều có qui luật khẳng định. Còn các tại sao có tên gọ khác nhau, đều được gọi theo địa điểm của những tại sao đó bày biện, xếp đặt, phân bố rải rác trong khung trời rộng lớn bạt ngàn.

Quy luật về sự tiến triển của Trời của con người & muôn vật nhân gian là thống nhất. Đó chính là đạo lý của thiên nhân hợp nhất. Chẳng hạn mặt trời có lúc thịnh có lúc suy, mặt trăng có khi đầy khi khuyết, nhân gian của con người cũng vậy, dù là người hay việc, thịnh quá rồi cũng sẽ tới chỗ suy, ngược lại, quá suy rồi cũng đi tới chỗ thịnh. Cái khuyết rồi sẽ đầy, cái đầy rồi sẽ khuyết đi. Trong đây đã bao hàm một đạo lý đối lập thống nhất đó sao?

Các tại sao tinh tú, thiên văn học cổ xưa đã phân tách thành 28 khu, gọi là nhị thập bát tú (28 tại sao), xem xét các địa điểm các tại sao trên trời để xác nhận tiết khí của bốn mùa (một trong 24 tiết trong một năm, theo lịch á Đông). Còn Nhị thập bát tú là: 4 phương: Đông, Tây, Nam, Bắc mỗi phương có 7 tại sao như: Phương Động: Giốc, Khanh, Thị, Phòng, Tâm, Vĩ, Cơ. Phương Bắc: Đẩu, Ngưu, Nữ, Hư, Nguy, Thất, Bích. Phương Tây: Khuê, Lâu, Vị, Mão, Tất, thủy, Sâm. Phương Nam:Tỉnh, Quỉ, Liễu, tinh, trương, Dực, Chẩn.

Giải nghĩa

Hàn lai Thử Vãng

Thu thu Đông tàng

Nhuận dư Thành tuế

Luật lã điều dương

Tạm dịch là:

Rét đến rồi đi nóng tiếp sang

Tiết thu gặt hái một mùa màng

Đông thì lưu lại lương ăn đủ

Cho tới xuân về dạ mới an

Năm nhuận tháng ngày dư cộng lại

Điều hòa Luật lã ống âm dương

Chú giải:

Hàn: Là nghiêm Đông, mùa Đông giá rét căm căm

Thử: Là thịnh Hạ, Màu Hè nắng nóng dữ dội

Thu thu: Chữ Thu thứ đặc biệt là mùa Thu, chữ thu thứ hai là thu hoạch, thu hái, gặt hái.

Tàng: Là lưu lại, giữ lại, bảo tồn.

Nhuận dư: là số ngày thừa trong một năm, là sai số thời gian của lịch pháp ghi hàng năm của trái đất quay quanh mặt trời. Cứ cách mấy năm lại bố trí ngày nhuận, tháng nhuận

Luật lã: Là dụng cụ để hiệu chỉnh âm luật của đời xưa, được làm bằng 12 ống trúc khác nhau.

Điều dương: Là điều tiết âm dương

Dịch theo đáp án:

Câu 1:Hàn lai Thử Vãng

Một năm có 4 mùa. Vẫn là mùa Đông giá lạnh đến rồi lại qua đi. Mùa Hạ qua đi rồi trở lại

Câu 2: Thu thu Đông tàng

Mùa màng gieo trồng ngoài đồng ruộng, thường thu hoạch gặt hái vào mùa Thu. Mùa Đông thì lưu lại, giữ lại, bảo tồn.

Một năm có 4 mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Bốn mùa này cứ hết rồi lại khởi đầu, tiếp nối nhau có quy luật. Do ôn độ & mặt Trời soi rọi khác nhau, đã tạo dựng sự biến hóa nóng lạnh. Người xưa nói: Xuân sinh, Hạ trưởng, Thu thu, Đông tàng. Đó là những kinh nghiệm đã được người xưa kết luận.

Câu 3. Nhuận dư Thành tuế.

Người ta cộng số ngày thừa ra trong mỗi năm, khi đủ một tháng thì lại cộng vào một năm nào đó để thành một tháng nhuận.

Câu 4. Luật lã điều dương.

Lại dùng một dụng cụ có tên là Luật Lã để phân biệt tiếng động trong đục (thanh trọc) cao thấp, điều hòa âm dương, khiến cho tháng & quí điều hòa lẫn nhau. Tương truyền lịch pháp của Trung Quốc được sáng lập ra từ đời nhà Hạ, nên gọi là Hạ lịch. Vì lịch này phù hợp với sự canh tác của nông dân, vì vậy còn được gọi là nông lịch (Lịch nhà nông).

Nông lịch của Trung quốc lấy mặt Trăng xoay quanh Trái đất một vòng làm thành một tháng, Trái đất quay quanh mặt Trời một vòng làm một năm. Một năm có 12 tháng, trong 12 tháng có tháng đủ & tháng thiếu, tháng đủ 30 ngày, tháng thiếu 29 ngày, cả năm có 354 ngày. Nhưng thực tiễn Trái đất quay quanh mặt Trời một vòng là 365 ngày, như thế là một năm thừa ra 11 ngày. 3 năm thừa ra 33 ngày, 5 năm thừa ra hơn 2 tháng, nếu là 8 năm thì phải thừa ra hơn 3 tháng. & hiện giờ khí hậu đã bước sang mùa Hạ, mà nhật lịch vẫn là ở mùa xuân. Người ta tính sau 17 năm, thừa ra 6 tháng thì mùa Đông vừa khít thay đúng vào mùa Hạ. Như thế, rạch ròi là không được. Vậy là người làm nên lịch pháp liền sửa đổi thêm, quy định trong 3 năm cần phải có một năm nhuận, trong năm nhuận ấy có 13 tháng, như thế khiến cho cái tên & thực tiễn thích hợp với nhau.

Sau thời điểm đã xác nhận được 4 mùa, còn sợ có sai sót, người ta dùng Luật Lã xác nhận âm điệu để trắc lượng âm dương của 12 tháng. Luật Lã làm bằng 12 ống trúc dài ngắn khác nhau. 6 ống điều về dương gọi là Luật, 6 ống điều về âm gọi là Lã. Theo truyền thuyết, người ta đặt ống Luật & ống Lã lên bàn, lấy màng mỏng trong ống lau sậy đốt thành tro rồi cho vào trong ống Luật Lã, khi gặp thời tiết tương ứng thì tro trong ống nhạc cất cánh ra. Dùng công thức này đối chiếu sửa lại kết quả thì sẽ không có lỗi lầm.

Video Thiên Tự văn Bài 1

***Xem tiếp bài 2: Kim sanh Lệ Thủy

Chúc các bạn học tốt tiếng Trung. Cám ơn các bạn đã ghé thăm trang web của chúng tôi

Nguồn: www.chinese.com.vn
Bản quyền thuộc về: Trọng tâm tiếng Trung Chinese
Vui lòng không sao chép khi chưa được sự chấp nhận của Author

.

Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Khoa học vũ trụ
XEM THÊM  Tên lửa và dưa