Thiên văn Trung Quốc cổ đại

0
94
Ý kiến về vũ trụ của người Trung Quốc cổ đại chịu tác động của Nho giáo & Phật 

Ý kiến về vũ trụ của người Trung Quốc thượng cổ chịu ràng buộc của Nho giáo & Phật giáo. Vũ trụ buổi hồng hoang ởtrạng thái mông lung, mờ mịt gọi là “thái cực” sau đó chào đời “lưỡng nghi” (âm & dương). “Lưỡng nghi” vừa tương khắc vừa phối hợp với nhau tạo nên năm khí chất cốt yếu (ngũ hành) là kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Từquan niệm “thiên địa hai tầng”, tầng trên là trời – toàn cầu vô hình, tầng dưới là đất – toàn cầu hữu hình, đến thế kỷ 5, tạo dựng ba ý kiến vềcấu trúc vũ trụ. Thuyết “cái thiên” hình dung khung trời như một cái nắp hình bán cầu trùm lên mặt đất hình vuông. Thuyết “hồn thiên” (thiên cầu rộng lớn) của Trương Hành (78 – 139) thì nghĩ rằng vòm trời có khí ở trong & bao bọc Trái Đất, chân mây có nước còn Trái Đất nổi trên nước, trời có chín tầng khí với tốc độ & căng thẳng khác nhau, các tại sao được “cương phong” (gió cứng) nâng lên. Thuyết “tuyên dạ” (đêm tối lan tràn, không trung bất tận) lại coi khung trời trống rỗng & vô cùng, vô cực; bảy tinh tú (Mặt Trời, Mặt Trăng cùng năm hành tinh Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ) chuyển động tự do.

Các sự kiện thiên văn được ghi chép ở Trung Quốc từ rất sớm & khá cụ thể. Các hiện tượng nhật thực, nguyệt thực, sao mới hiện ra đã được chép lại từ khoảng 1.500 năm kia Công Nguyên vào đời nhà Thương. Cho đến nay, ghi chép sớm nhất về vết đen Mặt Trời là sách Ngọc Hải , được ghi nhận không lâu sau năm 165 TCN. Hán Thư cũng ghi lại hiện tượng này khi nó hiện ra ngày 10 tháng 5 năm 28 TCN[27]. Thậm chí, dựa vào những lời ghi trong Kinh Dịch, có ebook còn nghĩ rằng người Trung Quốc đã xem xét được vết đen Mặt Trời từ năm 800 TCN[28]. Ở châu Âu, mãi tới đầu thế kỷ 9 mới có ghi chép về vết đen Mặt Trời. Ghi chép sớm nhất vềsao chổi Halley chứng kiến năm 613 TCN cũng được ghi trong Kinh Xuân Thu. Người Trung Quốc cũng ghi lại tỉ mỉ các hiện tượng hiện ra sao mới, sao siêu mới (mà họgọi là “sao khách”), sao băng…Hậu Hán Sử nhắc đến sao mới chứng kiến ngày 7 tháng 12 năm 185.

Vào thế kỷ 11 TCN, người Trung Quốc chia khung trời sao vào hệ thống “tam viên nhị thập bát tú” với 28 chòm sao dựa theo 28 tại sao ở gần hoàng đạo & ba nhóm sao Tử Vi, Thái Vi, Thiên Thị (tam viên) ở chung quanh chòm sao Bắc Đẩu (gồm 7 sao hình cái gàu sòng thuộc chòm Gấu Lớn theo cách chia hiện tại) & thiên cực bắc. Mục lục sao cổ nhất của họ do Thạch Thân đời Chiến Quốc soạn có 122 chòm sao với 809 người nổi tiếng. Trương Hành thời Đông Hán đã sáng chế ra dụng cụ định vị sao gọi là hỗn thiên nghi & đo đạc khoảng 2.500 sao chứng kiến được ở Trung Quốc, chia thành 124 chòm với 320 sao được đặt tên. Đến thời Tam Quốc, Trần Trác đã lập bản đồ & mục lục sao gồm 283 chòm (tinh quan), 1.465 sao. Kết quả xem xét quy mô lớn của Đài Quan Tượng (xây dựng năm 1442 ở Bắc Kinh) đã setup nên hai mục lục sao đồ sộ là “Nghi tượng khảo thành” liệt kê vị trí của của 3.083 người nổi tiếng & “Nghi tượng khảo thành tục biên” với vị trí của của 3.240 người nổi tiếng. Hiện tượng tuếsai cũng được Ngu Hỷ phát hiện vào thế kỷ 4 & ghi lại trong sách “An thiên luận”. Người Trung Quốc cũng có nhiều phát minh về dụng cụ thiên văn như cọc tiêu Mặt Trời, la bàn, đồng hồ mặt trời, đồng hồ nước… Khoảng năm 1100 TCN, Chu Công đã xem xét & đo bóng Mặt Trời lúc buổi trưa để xác nhận độ nghiêng của hoàng đạo đối với xích đạo.

Bên cạnh đó, những thành quả trọng yếu nhất của thiên văn học Trung Quốc thểhiện ở ngành nghề soạn lịch. Theo truyền thuyết & dã sử thì người Trung Quốc đã có lịch cách đây từ 3.000 đến 4.000 năm. Từ khoảng 600 năm kia Công Nguyên, họ đã có lịch âm dương phối hợp để phục vụ sản xuất nông nghiệp nên có cách gọi khác là nông lịch. Cùng với Ai Cập, Trung Quốc là nơi sử dụng âm dương lịch sớm nhất. Tháng âm lịch (tuần trăng) khởi đầu từ ngày trăng non & có 29,5 ngày & cứ hai năm lại thêm một tháng nhuận cho thích hợp với năm dương lịch (365,25 ngày). Chu kỳ 19 năm (một chương) có bảy tháng nhuận ở các năm thứ 3,6, 8 (hoặc 9), 11, 14, 17 & 19. Những ngày khí được mang vào để thuận tiện cho thời vụ nông nghiệp. Cùng với tiến bộ vềthiên văn học, toán học, lịch Trung Quốc thường xuyên được cải tạo với những nhà soạn lịch nổi tiếng: Lưu Hồng, Hạ Thửa Thiên, Tổ Xung Chi, Lưu Chước, Quách ThủKính… Vào triều đại nhà Tần, Trung Quốc cũng đã có dương lịch với tháng tiết khí bình quân dài 30,44 ngày. Lịch sử dụng phổ biến trong dân gian là lịch can chi, dùng 10 can (Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý) & 12 chi (Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi), 60 năm thì cái tên của một năm (gồm can & chi) lặp lại, chu kỳ đó gọi là 1 hội. viet nam & một số nước Đông Á, Đông Nam Á hiện vẫn đang dùng loại lịch sử dụng hệ đếm Can Chi chào đời cách đây khoảng 2.600 năm này.

HỌC THUYẾT ÂM DƯƠNG


Sự vận động của tự nhiên tuân theo quy luật nào, vận động như vậy nào, đó là điều người Trung Hoa khám phá hàng ngàn năm & rút gọn thành một học thuyết mới lạ: Thuyết Âm Dương. Có lẽ nói đây là lý thuyết cốt yếu, nền móng, lâu đời nhất, bí ẩn nhất & cũng được vận dụng nhiều nhất trong toàn cầu quan phương Đông.

Người Trung Hoa gán nguồn gốc của thuyết Âm Dương Bát quái cho Phục Hi, vị vua Thái cổ huyền thoại. Kinh Dịch chép rằng Phục Hi thấy Long mã hiện lên ở sông Hoàng Hà, trên lưng có bức đồ hình, rồi thấy rùa thần hiện ở sông Lạc, trên lưng cũng có trang chữ. Phục Hi dựa vào đó vẽ lại thành Hà đồ Lạc thư, rồi ngửa đầu xem tượng trời, cúi xuống xem thế đất, mà vẽ nên Bát quái.

Hà đồ Lạc thư thực sự thế nào không ai biết, các thuyết cũng khác nhau, ví dụ cho Lạc thư là do vua Vũ trị thủy mới thấy.


Hình vẽ các chấm đen trắng như ngày nay vẫn thường thấy là do Khổng An Quốc (cháu 12 đời của Khổng Tử) mang ra vào khoảng năm 140-186.

Theo các xem xét có vẻ nhận ra:

Theo thời gian trong ngày: sáng tối đổi nhau, nóng lạnh luân phiên

Theo thời gian trong năm: nhiệt hàn biến đổi, xuân hạ thu đông tiếp nối không dừng

Xét trong muôn loài: có đực có cái, có nam có nữ

Vạn vật: tăng lên suy thoái, lớn lên nhỏ đi, trẻ khỏe già yếu

Trải hàng trăm hàng ngàn năm, quan niệm về hai mặt đối lập, tương hỗ, tranh chấp nhưng thống nhất, triệt tiêu mà tác động nhau, đã giúp người Trung hoa ý tưởng ra định nghĩa Âm – Dương.

XEM THÊM  Tiến bộ trong nghiên cứu không gian đa chiều: Năng lượng tối

Âm – Dương

DươngÂm là hai mặt của một tổng thể, đối lập nhưng chẳng thể tách rời

Tượng trưng cho Dương là một vạch liền

Tượng trưng cho Dương là một vạch liền


Tượng trưng cho âm là một vạch đứt

Vạch Âm hay Dương gọi là một hào. (Khi riêng biệt thì hay nói Dương trước Âm sau, nhưng khi gọi chung về Thuyết thì lại là Âm Dương, cũng chỉ là một thói quen).

Dương đưa tính sáng, nóng, động, tích cực, giống đực, tiến triển, mở rộng, sự sống, thực,…

Âm đưa tính tối, lạnh, tĩnh, tiêu cực, giống cái, suy thoái, thu hẹp, chết chóc, hư…

Khi yếu tố này thịnh thì yếu tố kia suy & trái lại. Điều nhất là trong Dương có Âm & trong Âm có Dương. Không tồn tại yếu tố hoàn toàn Dương hoặc hoàn toàn Âm, vì sẽ không thành một tổng thể hoàn chỉnh.

Nếu trong một tổng thể lớn, phần đưa tính chất Dương khác với phần đưa tính chất Âm. Nhưng khi tách thành từng phòng ban thì mỗi phần lại là một tổng hòa Âm Dương mới.

Giống như cục nam châm có 1 đầu Nam, 1 đầu Bắc. Nhưng khi chặt đôi thì mỗi phần lại có cực Nam cực Bắc riêng, chứ không có phần toàn cực Nam & phần toàn cực Bắc.

Ví dụ nếu xét loài người là một tổng thể, thì phần Dương là Nam giới, Âm là Nữ giới. Nhưng xét các cá thể Nam, thì không phải toàn Dương cả. Trong con người họ có yếu tố Âm là trí não, Dương là thân thể. Trong thân thể Dương thì Cơ bắp xương cốt là Dương, kinh mạch là Âm. Hoặc trong nội tạng thì lục phủ là dương, ngũ tạng là âm. Xét trong ý thức, thì Thiện là dương mà Ác là âm. Trong kiến thức thìthu nhập thông tin (biết, nhớ) là dương, mà loại bỏ thông tin (quên) là âm.

Cứ như thế, Âm Dương là giao hòa tương tác, không khi nào không tồn tại, tuy đối lập nhưng không triệt tiêu nhau, khi yếu tố này mạnh thì yếu tố kia yếu, nhưng không khi nào suy đến hết sạch hoàn toàn cả.

Xét về Vật lý, dễ dàng có vẻ hình dung Dương Âm như là điện tích dương (proton), điện tích âm (electron), dương & âm là hạt & phản hạt, sóng & phản sóng, vật chất & phản vật chất. Dương & âm như là lực đẩy & lực hút, bùng phát & đổ sụp, phát nóng sáng & nguội lạnh. Vật chất sẽ luôn có hai mặt đó tồn tại song hành, có lực đẩy sẽ có lực hút, trong đẩy có hút, có phát nóng thì cũng có nguội đi.

Trong ý kiến Trung Hoa, Âm Dương là hai Khí của Vũ trụ, là hai thực thể mà cũng là động lực của tự nhiên, là hai nguyên lý tạo nên vạn vật.

Tứ Tượng

Âm Dương gọi là Lưỡng Nghi, là 2 nguyên lý. Từ Lưỡng nghi sẽ chào đời Tứ tượng là 4 thể trạng, theo phép tắc chồng hai vạch lên nhau. Xét vạch từ dưới lên, sẽ có tứ tượng lần lượt là


Hai vạch Dương, gọi là Thái Dương

Dương – Âm, gọi là Thiếu Dương

Âm – Dương, gọi là Thiếu Âm

Hai vạch Âm, gọi là Thái Âm

Trong thiên văn tương ứng:

Thái Dương : Mặt trời (Nhật): rất nóng, khung trời sáng

Thái Âm : Mặt trăng (Nguyệt): lạnh, khung trời tối đen

Thiếu Âm : Định tinh (Tinh): không chuyển động, lạnh

Thiếu Dương – Hành tinh (Thần): chuyển động trên khung trời

Chính vì vậy còn gọi Nhật nguyệt trí não là Tứ tượng, & địa điểm của chúng cũng gọi là Tượng trời.

Thái Dương là Dương cực thịnh, Thiếu Dương là Dương đã suy bớt, nhưng vẫn mạnh hơn Âm. Thiếu Âm là Âm đã mạnh hơn Dương, Thái Âm là Âm cực thịnh.

Bốn Tượng này cũng là bốn công đoạn của một chu trình khép kín. Trong năm, mùa xuân là Thiếu dương, khí ấm áp tăng dần; Mùa hạ là Thái dương, nóng đến cực đại; Mùa thu là Thiếu âm, khí lạnh đang về, Mùa đông là Thái âm, lạnh cực đại.

Trong chu kỳ của một con người hay sinh vật: công đoạn đầu tăng lên chầm chậm, là Thiếu dương, đến thời kỳ tăng lên mạnh khỏe (dậy thì ở con người) là Thái dương, đến cực đại khi trưởng thành vẹn toàn, rồi suy dần dần là Thiếu âm, cuối cùng là suy sụp lập tức, là Thái âm.

Nhưng trong Âm có dương & trái lại. Trong mùa hè, khi nóng nực nhất vẫn có khí lạnh, trong mùa đông, khi lạnh nhất vẫn có hơi ấm. Khi con người tiến triển mạnh khỏe nhất, thì hàng ngày vẫn có hàng triệu tế bào bị suy thoái & chết đi, có điều sự tăng lên mạnh hơn rất nhiều sự suy thoái; tương tự, trong thời kỳ già ốm, vẫn có những tế bào được chào đời, nhưng không thắng được sự triệt tiêu. Có chăng chỉ là làm giảm tiến trình suy sụp.

Trong một con người, có đặc tính Dương & đặc tính âm. Nếu xét theo ý kiến hiện đại, thì mỗi con người đều được phối hợp từ nhiễm sắc thể của mẹ & của cha, đó là cái khởi nguồn Âm Dương, nhưng với sự nổi bật hơn của nhiễm sắc thể X hay Y, mà đứa trẻ chào đời là trai hay gái. Tuy nhiên trong thể xác sẽ không khi nào thiếu yếu tố của cả nam & nữ (hoocmon nam & nữ ví dụ).

Khi tiếp nhận Phật giáo, bốn công đoạn này với con người có vẻ được hiểu là Sinh Lão Bệnh Tử, với sự vật là Sinh Trụ Dị Diệt, với Vũ trụ là Thành Trụ Hoại Không. Tuy nhiên cũng không hoàn toàn đồng nhất, vì đây là hai quan niệm triết học của hai nền văn minh khác nhau.

Như thế Vận động là có tính khép kín, vòng tròn. Chính vì như vậy người phương Tây nghĩ rằng triết học phương Đông có dạng vòng tròn.

Bát Quái

Từ Âm Dương là 2 chào đời Tứ tượng là 4, sẽ tiếp tục nhân đôi thành 8, gọi là Bát quái.

Cách biến đối chính là chồng thêm 1 quẻ nữa lên thành 3 quẻ, mỗi quẻ có vẻ là Âm hoặc Dương.


Bát quái, tính theo vạch từ dưới lên, gồm

3 Dương, 3 vạch liền:             Càn, nghĩa là Trời (Thiên): mạnh, cứng, nam

2 Dương + 1 Âm                     Đoài, nghĩa là Đầm (Trạch): vui vẻ

Dương + Âm + Dương           Ly, nghĩa là Lửa (Hỏa): sáng, ý tưởng

Dương + 2 Âm                        Chấn, nghĩa là Sấm (Lôi): động

Âm + 2 Dương                        Tốn, nghĩa là Gió (Phong): thuận tiện

Âm + Dương + Âm                 Khảm, nghĩa là Nước (Thủy): sâu, hiểm

2 Âm + 1 Dương                     Cấn, nghĩa là Núi (Sơn): an tĩnh

3 Âm, 3 vạch đứt                    Khôn, nghĩa là Đất (Địa), nhu thuận, nữ

Mỗi bộ ba vạch gọi là một Quẻ (Quái). Tên các quẻ có vẻ do Văn vương đời Chu hoặc Chu Công đặt. Một lần nữa, Âm Dương lại biến đổi địa điểm, miêu tả sự vận động của vạn vật. Từ rất rất Dương đến rất rất Âm, những biến đổi được triệu chứng bằng các vạch, là một cách trổ tài hoàn hảo.

Theo truyền thuyết, khi mới đặt thành Bát quái, Phục Hi vẽ các quẻ theo một vòng tròn khép kín, tính các vạch từ trong ra. 4 hướng Đông Tây Nam Bắc ứng với bốn mùa (các góc nhìn lên trời nên ngược với trên mặt đất, vòng quay của các mùa nguợc với chiều kim đồng hồ, là hướng quay của Vũ trụ). Các quẻ đối xứng về mặt hình học & ý nghĩa qua tâm vòng, nếu quẻ bên này địa điểm này là dương thì bên kia phải là âm. Ba vạch liền so với 3 vạch đứt, 2 đứt 1 liền so với 2 liền 1 đứt. Như thế các cặp đối nhau là:

XEM THÊM  Hiện tượng siêu trăng tròn tháng 6 tạo bước ngoặt nào cho 12 chòm sao?

Càn – Khôn (Trời – Đất), Tốn – Chấn (Gió – Sấm), Khảm – Ly (Nước – Lửa), Cấn – Đoài (Núi – Đầm).

Đến đời Chu (TK 12 TCN) thì Chu Văn vương vẽ theo một trật tự khác, trong đó quẻ Càn khởi đầu từ hướng Tây Bắc, & theo vòng ngược chiều kim đồng hồ lần lượt là Càn – Khảm – Cấn – Chấn – Tốn – Ly – Khôn – Đoài. Nguyên nhân vì sao đặt như thế thì không ai biết.

Bát quái của Phục Hi được gọi là Tiên thiên Bát quái, Bát quái của Văn vương được gọi là Hậu thiên Bát quái, tên này thời Hán đặt ra.

Trên thực tiễn, cho đến trước đời Ân (cuối Thương đầu Chu), trên các di chỉ đều không thấy có hình Bát quái, nên có vẻ nó là sản phẩm của trí tuệ đời Chu, nhưng được gán cho Phục Hi là nhân vật thần thoại.

Đồ hình Bát quái cũng là công cụ để phân định phương vị. Trong các vận dụng, người ta thường dùng đồ hình Hậu thiên, chính vì như vậy nói phương Chấn là nói phương Đông, & mới có thuyết Trời mở ở tây bắc, Đất mở ở đông nam. Hoặc như phương Nam trở thành phương của quẻ Ly (lửa), phương Bắc của quẻ Khảm (nước), thích hợp với phương vị của Ngũ hành.

Dịch học

Lúc đầu Bát quái chỉ dùng để bói toán, sau tiến triển thành hệ thống Dịch, thành một nền triết học thâm thúy khó hiểu. Với 8 quẻ thì chưa diễn đạt được, nên Văn Vương nhà Chu (hoặc chính Phục Hi – tùy thuyết) chồng các quẻ lên một lần nữa, 8 nhân 8 thành 64 quẻ chồng (trùng quái), mỗi quẻ 6 vạch, tổng cộng 384 hào. Đó là nền tảng cho Dịch học.

Ví dụ: chồng quẻ Càn lên Càn sẽ là Thuần Càn.

Chồng Cấn lên Càn được quẻ Đại Súc

Chồng Khôn lên Càn được quẻ Thái

Theo Kinh Dịch, Phục Hi làm nên Bát quái, hơn 1 nghìn năm sau, Văn vương nhà Chu chồng quẻ & viết đáp án thích cho từng quẻ, tổng cộng 64 câu, gọi là Thoán Từ, nhưng ý nghĩa quá thâm sâu. Con của Văn vương là Chu Công giải thích 384 hào, gọi là Hào từ. Thoán từ & Hào từ là kinh điển, về sau còn có Thập dực & Thoán truyện nói rõ hơn nữa ý nghĩa. Thập dực có thuyết nói là của Khổng tử, chính vì như vậy khi bói Kinh Dịch thì cúng 4 vị: Phục Hi, Văn vương, Chu Công, Khổng tử. Nhưng có thể Khổng tử chỉ tìm hiểu chứ không viết gì vào Kinh dịch, Thập dực do đời sau viết ra.

Toàn cầu quan trong Kinh dịch là nhị phân. Từ Âm Dương (2) chồng thành Tứ tượng (4) chồng tiếp thành Bát quái (8), chồng nữa thành Lục thập tứ quái (64). Thậm chí có người như Tiêu Diên Thọ chồng tiếp thành 4096 quẻ.

Việc dùng các vạch liền & đứt rất tương đồng với hệ nhị phân 0 – 1 ngày nay, đặc biệt hệ nhị phân trong tin học. Trong tin học, 0 là mạch đứt, 1 là mạch liền, giống Âm & dương. Do vậy có vẻ thấy các quẻ đơn cũng là các số đếm, khởi đầu từ 0 cho đến 7, tương tự, 64 quẻ chồng là từ 0 đến 63.

Với hệ đếm nhị phân, ngày nay ta có vẻ miêu tả được thông tin về mọi sự vật hiện tượng. Một bức họa số hóa cũng là chuỗi 0 – 1, một thiên thể bất kỳ cũng tạo dựng từ các yếu tố Có & Không các thuộc tính. Do vậy có vẻ nói có vẻ dùng vạch Âm Dương phản ánh được mọi sự vật.

Người Trung Hoa cũng dùng các trùng quái để miêu tả về các tháng, hay là địa điểm của trái đất trên quỹ đạo. Tháng giêng là khi Âm dương cân đối, sang tháng hai Dương thêm 1 vạch, khí ấm tăng thêm một mức, sang tháng ba Dương thêm 1 vạch, cứ như thế, khí Dương đầy nhất trong tháng tư, rồi khí Âm hiện ra trong tháng năm, tăng dần cho đến tháng mười là cực đại, rồi khí Dương lại tràn vào. Đối chiếu Âm dương lịch, thì Tháng 4 âm lịch ứng với tiết Lập hạ, & tháng mười ứng với Lập đông.

Chu trình 12 công đoạn trên không những đưa ý nghĩa trong các tháng, mà còn miêu tả sự vận động thành rồi hủy, hủy rồi thành, thêm vào rồi bớt đi, vận động mãi không ngừng. Các hiện tượng trong tự nhiên phải chăng đều vận động theo tiến trình đó.

Thái Cực

Âm Dương Bát quái 64 quẻ là tác phẩm từ cổ đại đến thời Chu, nên có cách gọi khác là Chu Dịch.

Âm Dương Bát quái 64 quẻ là tác phẩm từ cổ đại đến thời Chu, nên có cách gọi khác là Chu Dịch.

Theo Chu Dịch này, nguồn gốc vạn vật, Vũ trụ là Dương Âm, Càn Khôn. Càn vận động, Khôn ẩn chứa, như Cha & Mẹ, từ đó mới có mọi thứ.

Âm Dương là nguồn gốc vạn vật, nên có vẻ bảo rằng nguồn gốc của Vũ trụ là Nhị nguyên. Bản thân hai yếu tố nguyên lý đó đã là khởi thủy của mọi vật chất & biến chuyển. Nhưng đến thời Chiến Quốc hoặc Hán, ý kiến nhị nguyên đã chuyển thành Nhất nguyên khi có định nghĩa Thái Cực. Trong Hệ từ thượng truyện viết “Thái Cực sinh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng, Tứ tượng sinh Bát quái”.

Thái Cực nghĩa là hơn hết tất thảy, đầu tiên tất thảy, trong lòng nó ẩn chứa toàn bộ những nguồn gốc cho sự vận động, trong nó có cả Âm lẫn Dương, nhưng là Âm Dương chưa riêng biệt, mà vẫn còn nhất thể. Thái Cực là cái nguồn bất tận khởi thủy, là khí tiên thiên, linh căn bất sinh bất tử ẩn chứa Âm Dương.

Hình vẽ miêu tả Thái Cực là một vòng tròn gồm hai nửa, đen là Âm, trắng là Dương phối hợp chặt chẽ với nhau để tạo dựng nên một tổng thể. Trong Âm có Dương & trong Dương có Âm, Dương thịnh thì Âm suy, Âm thịnh Dương suy. Nhưng trong lúc thịnh nhất của Dương thì Âm đã hiện ra, & trái lại. Âm thăng còn Dương giáng.

Có lẽ nói đây là hình ảnh súc tích nhất của Văn hóa phương Đông.

Phối hợp với Bát quái, có Thái Cực đồ.

Bước này là Thái cực đồ Tiên thiên, vì sử dụng Tiên thiên bát quái.

Quan niệm về Vũ trụ đã hoàn chỉnh. Vũ trụ khởi nguồn từ Thái Cực.

Vũ trụ vận hành theo cơ số 2.

Thái Cực – Lưỡng Nghi – Tứ Tượng – Bát Quái  – Các quẻ – Biến hóa vô cùng.

1 (= 20)  ® 2 (= 21) ® 4 ( = 22) ® 8 (= 23) ® 64 (= 26) ® …

Việc cố gán các quan niệm Đông Tây với nhau là điều không hợp lý. Bên cạnh đó khi so sánh đối chiếu thuyết này với Vật lý học hiện đại ngày nay thì có những tương đồng khẳng định.

Theo thuyết của Vật lý hiện đại, Vũ trụ khởi nguồn từ Big Bang, Vụ nổ Lớn. Tại thời điểm Big Bang, chỉ trong một chất điểm kích cỡ vô cùng nhỏ, trong một khoảng thời gian vô cùng ngắn, với không gian bị uốn cong đến vô cùng, đã ẩn chứa vật chất cho toàn bộ Vũ trụ này. Trong số đó có các hạt, phản hạt, sóng, lực hút đẩy,…

XEM THÊM  Mặt trăng là một hành tinh rỗng

Đó là Thái Cực.

Khi Thái Cực phát sinh, những yếu tố đưa tính đối lập, điện tích âm & dương, hạt & phản hạt, sóng & phản sóng, vật chất & phản vật chất, lực hút, lực đẩy,… được giải phóng, tương ứng với Lưỡng Nghi.

Vũ trụ co giãn với một vận tốc nhanh, công đoạn Thái dương bùng phát, tạo nên các thiên thể.

Sự co giãn chậm lại, là công đoạn Thiếu dương, đến một cực đại

Rồi sẽ dần co lại, là Thiếu âm, cho đến thời điểm co lại cực đại, là Thái Âm.

Hoặc như xét chu kỳ sống của một người nổi tiếng: Lúc đầu người nổi tiếng tạo dựng từ đám bụi khí co lại, tức là Thái Cực, & rồi bùng phát, phát xạ dữ dội, khởi đầu công đoạn Thái dương, để rồi nguội dần, qua các công đoạn thiếu dương, thiếu âm, cuối cùng sụp đổ. & theo thuyết của Einstein & Hawking thì nó sẽ thành một Lỗ đen, là công đoạn Thái Âm, để rồi ta không còn nhận thức về nó được nữa vì không còn thông tin nào từ đó thoát ra.

Một con người cũng như thế. Thời điểm khi thụ thai, con người chỉ là 1 tế bào duy nhất, trong đó có yếu tố Dương của cha & Âm của mẹ, đó là Thái cực. Chỉ khi có được cả Lưỡng nghi đó, tế bào mới là một thể xác sống hoàn chỉnh. Tế bào tăng theo phép tắc nhân đôi, phép tắc của Dịch. Trong mỗi kết cấu nhỏ nhất của thể xác, đều gồm yếu tố Âm dương. Trong tổng thể thì cá thể đó phải đưa tính chất Dương hoặc Âm, nam hoặc nữ chi tiết, nhưng bản chất đều có cả hai. Yếu tố nào nổi bật hơn sẽ cho tổng thể tính chất nổi bật đó. Khi biến đổi giới tính, là sự biến đổi tình trạng đang có sang tình trạng đối lập.

Hình ảnh của Thái Cực đồ rất giống với phương pháp để đo các Tiết khí bằng cách thức đo bóng mặt trời.

Khi xem xét bóng mặt trời tạo bởi một chiếc cột thẳng đứng tạo nên trên mặt đất, cùng với xem xét đuôi sao Bắc Đẩu, họ phân tách vòng năm thành 24 cung ứng với 24 tiết trong năm, với 4 địa điểm trọng yếu là Xuân phân, Thu phân, Hạ chí, Đông chí. Với 6 vòng tròn đồng tâm tại chân cột, & đo bóng hàng ngày, bóng ngắn nhất vào Hạ Chí, dài nhất vào Đông Chí, nối các điểm lại, sẽ có được đồ hình bóng mặt trời, có vẻ đây là nguồn gốc cho Thái Cực đồ, với Âm là phần từ Hạ chí đến Đông chí.


Vô Cực

Thái Cực hình như là cội nguồn đầy đủ cho Vũ trụ quan. Nhưng các nhà Dịch học Ngoài ra. Khi đối chiếu với Vũ trụ quan Đạo giáo, với câu “Đạo sinh Một, Một sinh Hai, Hai sinh Ba, Ba sinh vạn vật” của Lão tử, họ cảm thấy thiếu một cái gì đó.

Nếu Hai là Lưỡng nghi, Một là Thái Cực, thì Đạo phải là cái có trước cả Thái Cực.

Nghĩ suy về cái có trước khi có Thái Cực, trước khi có Vật chất đã khiến Chu Đôn Di đời Tống (TK 13) đề nghị thuyết: Vô Cực, hay Hư Vô.

Vô Cực đồ miêu tả tiến trình dịch chuyển của Vũ trụ. Từ Hư Vô – Vô Cực, không có gì, đã có tượng hình của Thái Cực – hình tròn. Thái Cực đã có trong lòng nó Lưỡng Nghi. Lưỡng nghi phân tách, chồng lên nhau để thành Tứ tượng. Trong đồ hình Tứ tượng thì có đủ cả:    Lưỡng nghi ở tầng dưới, Tứ tượng tầng thứ 2, & thêm tầng 3 thì đủ Bát quái.

Ví dụ 3 bậc đen cả là Càn; 2 bậc đầu đen, bậc 3 trắng là Đoài; bậc đầu đen, bậc hai trắng, bậc 3 đen là Ly,…, & cuối cùng Bát quái riêng biệt trong đồ hình cuối.

Bàn luận về Vô Cực hay Hư Vô là một đề tài có vẻ gây nhiều bàn cãi.

Vô Cực theo Chu Đôn Di – cũng như các Đạo gia, hiểu là cái nguồn đưa tính tĩnh, là cái ẩn chứa nhưng chưa phát lộ, khởi thủy tiềm phục.

Ví dụ với một người nổi tiếng, trước khi nó thực sự tạo dựng thì nó vốn dĩ là các tinh vân. Tinh vân chưa phải là sao, mà chỉ ẩn chứa cái sẽ trở thành sao, là cái nguồn mà không phải vật. Chỉ khi đám bụi khí đó tụ lại, & dưới ảnh hưởng của các lực, các sóng, nổ bùng thành một tân tinh, thì thời điểm đó mới là Thái Cực.

Hoặc như một con người, trước khi Tinh cha gặp Noãn mẹ, thì cấu thành sự sống vốn đã có sẵn, nhưng vẫn chưa thể là vật. Chỉ khi có sự thụ tinh thì những gì tiềm phục trong nội tại Âm Dương mới giao hòa để phát lộ thành Thái Cực là tế bào khởi thủy duy nhất.

Thậm chí có vẻ hiểu Vô Cực là không có cả các nguồn, không có những cái thường có trong bất kỳ vật nào, trong mọi nhận thức, quan niệm. Từ cái nguồn Vô đó mới sinh Có là Thái Cực. Vô Cực là cảnh giới nguyên thủy mà khi đã là vật, đã thành, thì chẳng thể đạt đến hoặc quay lại. Trong Vô Cực có gì? Không phải là không có, mà là chẳng thể phản ánh được, cũng như “trước” BigBang có gì, hoặc sau Lỗ đen có gì, thì chẳng thể phản ánh, nhận thức được, bởi lúc đó Thời gian cũng không còn hoặc bị triệt tiêu.

Cùng với việc không đồng ý Đấng sáng thế, mà coi tự nhiên tự vận động, Vũ trụ quan phương Đông đưa tính khoa học & tổng quan cao. Tự nhiên là cao nhất, định nghĩa Trời là cái nguồn uyên nguyên bất tận của các quy luật. Các vị thánh thần huyền thoại như Phục Hi cũng chỉ tìm cách phản ánh & hội nhập vào cái nguồn đó, hiểu được nó & sử dụng nó như là con đường sống cho mình chứ không ý tưởng thêm được điều gì cho tự nhiên. Hà đồ Lạc thư do Trời gửi đến, nhưng Trời không phải là một người chi tiết nào, mà là tự nhiên vô cùng bất tận, tuy có bắt đầu nhưng thay đổi không ngừng.

Như thế, trải qua hàng ngàn năm, thuyết Âm Dương đã tạo dựng & tiến triển để hoàn thành như ngày nay. Thậm chí ngay đến hiện tại vẫn luôn có những học giả khám phá ý nghĩa của nó. Đó là một nguồn sâu rộng để khám phá về Toàn cầu & con người. Vũ trụ quan trong Dịch học phản ánh khá đầy đủ & khoa học hiện thực mà hiện tại khoa học hiện đại vẫn đang khám phá, đương nhiên là ở một tầm tổng quan chứ không chi tiết rạch ròi.


Thuyết Âm Dương không đứng riêng lẻ một mình. Trong tiến trình tiến triển, nó đã được phối hợp với các Ngũ hành, Can Chi để tạo nên một hệ thống hoàn chỉnh, làm nền móng cho suy nghĩ phương Đông.

Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Khoa học vũ trụ