Thứ tự của các hành tinh trong Hệ Mặt Trời: Hành tinh nào gần mặt trời nhất?

0
31

Kể từ khi phát xuất hiện sao Diêm Vương vào năm 1930, trẻ em đến tuổi đi học sẽ được học về 9 hành tinh trong hệ mặt trời của tất cả chúng ta. Từ cuối những năm 1990, toàn bộ đã khởi đầu biến đổi, các nhà thiên văn học tranh biện về việc “Liệu rằng Pluto có phải là một hành tinh hay không?”

Trong một quyết định gây nhiều tranh biện, Hiệp hội Thiên văn Quốc tế (International Astronomical Union) cuối cùng đã mang ra quyết định vào năm 2006, họ gọi sao Diêm Vương (Pluto) là “hành tinh lùn”, loại bỏ nó ra khỏi danh mục các “hành tinh thực” có trong hệ thống năng lượng mặt trời của tất cả chúng ta. Chính vì như thế, chỉ còn 8 hành tinh trong hệ Mặt trời.

Các hành tinh trong hệ mặt trời được mô tả bởi một hình minh hoạ trên máy tính NASA, không hiển thị quỹ đạo và kích thước
Các hành tinh trong hệ mặt trời được miêu tả bởi một hình minh hoạ thuộc máy tính NASA, không hiển thị quỹ đạo & kích cỡ. (Nguồn ảnh: NASA)

Các hành tinh trong hệ mặt trời được miêu tả bởi một hình minh hoạ thuộc máy tính NASA, không hiển thị quỹ đạo & kích cỡ. (Nguồn ảnh: NASA)

Không những thế, ngày nay các nhà thiên văn học đang search một hành tinh khác trong hệ mặt trời của tất cả chúng ta, là một “hành tinh thứ 9 thực sự”, sau thời điểm chứng cớ về sự tồn tại của hành tinh này được thông báo vào ngày 20 tháng Một năm 2016. Các nhà khoa học gọi là “Hành tinh thứ 9”, gấp khoảng 10 lần khối lượng của Trái đất & 5.000 lần khối lượng của sao Diêm Vương.

Dưới đây là thứ tự của 8 (hoặc 9) hành tinh, khởi nguồn từ hành tinh nằm gần nhất với Mặt trời & hoạt động bên ngoài thông qua hệ Mặt trời: sao Thủy, sao Kim, Trái đất, sao Hỏa, sao Mộc, sao Thổ, sao Thiên Vương, sao Hải Vương – & “hành tinh thứ 9” (Planet Nine).

Thứ tự các hành tinh

Dưới đây là một khái quát ngắn gọn về 8 hành tinh chính trong hệ Mặt trời của tất cả chúng ta, theo thứ tự từ trong ra ngoài:

Sao Thủy ( Mercury)

Sao Thủy
Sao Thủy là hành tinh nằm gần nhất với Mặt trời, chỉ to hơn đối với Mặt trăng của Trái đất một tí. Mặt ban ngày của nó bị hơ nóng bởi tia nắng mặt trời, có lẽ đạt 450 độ C (840 độ F), nhưng vào ban tối, nhiệt độ hạ xuống âm đến hàng trăm độ, dưới mức đóng băng. Sao Thủy hầu như không có không khí để hấp thụ các ảnh hưởng của thiên thạch, vì thế mặt phẳng của nó bị “rỗ” với nhiều hố lớn, giống như mặt trăng. Trải qua trách nhiệm bốn năm, tàu vũ trụ MESSENGER của NASA đã bật mý quang cảnh của các hành tinh đó đã thách thức những kỳ vọng của các nhà thiên văn học.

là hành tinh nằm gần nhất với Mặt trời, chỉ to hơn đối với Mặt trăng của Trái đất một tí. Mặt ban ngày của nó bị hơ nóng bởi tia nắng mặt trời, có lẽ đạt 450 độ C (840 độ F), nhưng vào ban tối, nhiệt độ hạ xuống âm đến hàng trăm độ, dưới mức đóng băng. Sao Thủy hầu như không có không khí để hấp thụ các ảnh hưởng của thiên thạch, vì thế mặt phẳng của nó bị “rỗ” với nhiều hố lớn, giống như mặt trăng. Trải qua trách nhiệm bốn năm, tàu vũ trụcủa NASA đã bật mý quang cảnh của các hành tinh đó đã thách thức những kỳ vọng của các nhà thiên văn học.

  • Phát hiện: Được nghe đến bởi người La Mã & Hy Lạp cổ xưa & có lẽ xem xét bằng mắt thường.
  • Đặt tên theo: Sứ giả của các vị thần La Mã
  • Đường kính: 4.878 km
  • Quỹ đạo: 88 ngày Trái đất
  • Ngày: 58,6 ngày Trái đất

Sao Kim (Venus)

Sao Kim Nam bán cầu của sao Kim, được xem xét trong vùng tử ngoại. Nguồn ảnh: ESA

Nam bán cầu của sao Kim, được xem xét trong vùng tử ngoại. Nguồn ảnh: ESA

Hành tinh thứ hai tính từ Mặt trời, sao Kim là hành tinh cực kỳ nóng, thậm chí còn nóng hơn cả sao Thủy. Bầu không khí của hành tinh này rất độc hại. Áp suất trên mặt phẳng sao Thủy sẽ nghiền nát & giết chết bạn.

Các nhà khoa học miêu tả địa điểm của sao Kim như là một hiệu ứng nhà kính mất kiểm tra (runaway greenhouse effect). Kích cỡ & cấu tạo của sao Kim tương tự giống với Trái đất, bầu khí quyển dày đặc, độc hại giữ nhiệt trong “hiệu ứng nhà kính” mất kiểm tra. Nhưng điều kỳ lạ, sao Kim lại quay chậm theo hướng trái lại với đa phần các hành tinh khác.

Người Hy Lạp cho là sao Kim gồm hai vật thể khác nhau – một là khung trời vào buổi sáng & hai là vào buổi đêm. Bởi vì nó là thường sáng hơn bất kỳ vật thể nào khác trên khung trời – loại trừ mặt trời & mặt trăng – sao Kim đã gây ra nhiều giải trình về vật thể cất cánh không xác nhận (unidentified flying object – UFO).

  • Phát hiện: Được nghe đến bởi người La Mã & Hy Lạp cổ xưa & có lẽ xem xét bằng mắt thường.
  • Đặt tên theo: Nữ thần ái tình & sắc đẹp của La Mã
  • Đường kính: 12.104 km
  • Quỹ đạo: 225 ngày Trái đất
  • Ngày: 241 ngày Trái đất

Trái đất

Trái đấtHình ảnh Trái đất được chụp từ vệ tinh dự đoán thời tiết của Nga Elektro-L No.1.Nguồn ảnh: NTsOMZ

Hình ảnh Trái đất được chụp từ vệ tinh dự đoán thời tiết của Nga Elektro-L No.1.Nguồn ảnh: NTsOMZ

Hành tinh thứ ba tính từ Mặt trời, Trái đất là một hành tinh nước (Waterworld), với hai phần ba hành tinh được bao phủ bởi hải dương & là hành tinh duy nhất được nghe đến có tồn tại sự sống. Bầu khí quyển của Trái đất là giàu nitơ & oxy để duy trì sự sống. Mặt phẳng của Trái Đất quay quanh trục của nó với tốc độ 467 mét mỗi giây – khoảng hơn 1.000 mph (1.600 kph) – tại đường xích đạo. Hành tinh quay một vòng quanh Mặt trời với tốc độ 29 km mỗi giây.

  • Đường kính: 12.760 km
  • Quỹ đạo: 365,24 ngày
  • Ngày: 23 giờ, 56 phút

Sao Hỏa (Mars)

Sao HỏaCác nhà tìm hiểu sao Hỏa đang chăm chú vào hai cảm ứng trên Trái Đất & hành tinh quay chung quanh để am hiểu hơn về các nguồn metan trên hành tinh Đỏ. Nguồn ảnh: Kính viễn vọng không gian.

Các nhà tìm hiểu sao Hỏa đang chăm chú vào hai cảm ứng trên Trái Đất & hành tinh quay chung quanh để am hiểu hơn về các nguồn metan trên hành tinh Đỏ. Nguồn ảnh: Kính viễn vọng không gian.

Hành tinh thứ tư tính từ Mặt trời, sao Hỏa là một hành tinh đất đá & lạnh. Bụi bẩn là một oxit sắt, có mặt rất nhiều trên mặt phẳng hành tinh làm cho mặt phẳng nó hiện lên với màu đỏ đặc trưng. Hành tinh sao Hỏa có những điểm tương đồng với Trái đất: mặt phẳng đất đá, có núi & thung lũng, & hệ thống bão trải dài từ địa điểm những cơn lốc lốc xoáy – giống như cơn gió xoáy đưa bụi – đến những cơn lốc bụi nhấn chìm hành tinh. Bụi phủ kín mặt phẳng sao Hỏa & hành tinh sao Hỏa tràn đầy nước đóng băng. Các nhà khoa học cho là hành tinh sao Hỏa sẽ tràn đầy nước lỏng ngay khi nhiệt độ nóng lên, mặc dù hiện tại nó đang là một hành tinh lạnh & giống sa mạc.

Bầu khí quyển của sao Hỏa quá mỏng để nước lỏng tồn tại được trên mặt phẳng hành tinh trong bất cứ thời gian nào. Các nhà khoa học cho là hành tinh sao Hỏa cổ xưa có điều kiện tồn tại sự sống & mong ước rằng các triệu chứng về sự sống trong quá khứ – thậm chí có trong sinh học ở bây giờ – có lẽ tồn tại được ở Hành tinh Đỏ.

  • Phát hiện: Được nghe đến bởi người La Mã & Hy Lạp cổ xưa & có lẽ xem xét bằng mắt thường.
  • Đặt tên theo: Thần tranh đấu của La Mã.
  • Đường kính: 6.787 km.
  • Quỹ đạo: 687 ngày Trái đất.
  • Ngày: Chỉ hơn một ngày Trái đất (24 giờ, phút 37).

Sao Mộc (Jupiter)

Sao Mộc Ảnh chụp cận cảnh “Vết đỏ lớn – Great Red Spot” của sao Mộc bằng tàu vũ trụ Voyager. Nguồn ảnh: NASA / JPL-Caltech

Ảnh chụp cận cảnh “Vết đỏ lớn – Great Red Spot” của sao Mộc bằng tàu vũ trụ Voyager. Nguồn ảnh: NASA / JPL-Caltech

Hành tinh thứ 5 tính từ Mặt trời, sao Mộc (Jupiter) là một hành tinh rất lớn, lớn nhất trong hệ Mặt trời của tất cả chúng ta. Mộc tinh là một hành tinh khí đồ sộ, chứa cốt yếu là khí hiđrô & heli. Lớp khí quyển ngoài cùng hiện lên với nhiều dải mây ở những độ cao khác nhau, do kết quả của hiện tượng nhiễu loạn khí động & tương tác với những cơn lốc tại biên. Một đặc điểm nhấn là Vết đỏ lớn (Great Red Spot), một cơn lốc đồ sộ được nghe đến tồn tại ít nhất từ hàng trăm năm kia. Sao Mộc có từ trường mạnh, với hàng đống mặt trăng chung quanh, trông nó giống như hệ Mặt trời thu nhỏ.

  • Phát hiện: Được nghe đến bởi người La Mã & Hy Lạp cổ xưa & có lẽ xem xét bằng mắt thường.
  • Được đặt tên: Thần thoại Hy Lạp & La Mã.
  • Đường kính: 139.822 km.
  • Quỹ đạo: 11,9 năm Trái đất.
  • Ngày: 9.8 giờ Trái đất.

Sao Thổ (Saturn)

Sao Thổ Ảnh màu thực tiễn của Sao Thổ. Nguồn ảnh: NASA / JPL / Space Science Institute

Ảnh màu thực tiễn của Sao Thổ. Nguồn ảnh: NASA / JPL / Space Science Institute

Sao Thổ là hành tinh thứ 6 tính theo khoảng cách bình quân từ Mặt trời, được biết nhiều đặc biệt là vành đai của nó. Khi Galileo Galilei lần trước tiên tìm hiểu về sao Thổ, vào đầu những năm 1600, ông cho rằng sao Thổ là một vật thể gồm có ba phần. Vì không biết Galileo Galilei đã chứng kiến một hành tinh có vành đai, các nhà thiên văn học đã bối rối khi nhìn vào bản vẽ thu nhỏ – hành tinh có một vệ tinh lớn & hai vệ tinh nhỏ – trong chú giải của Galileo Galilei, như một danh từ trong câu dùng để miêu tả về tìm hiểu.

Hơn 40 năm sau, Christiaan Huygens sử dụng kính thiên văn với độ phóng đại to hơn thì ông phát xuất hiện đây là vành đai chứ không phải vệ tinh như Galileo từng nghĩ. Những vành đai được tạo nên từ đá & băng đá. Các nhà khoa học vẫn chưa chắc nịch được rằng sao Thổ được tạo dựng như vậy nào. Hành tinh khí đồ sộ này chứa cốt yếu là hydro & heli. không dừng lại ở đó, Thổ tinh còn có nhiều mặt trăng.

  • Phát hiện: Được nghe đến bởi người La Mã & Hy Lạp cổ xưa & có lẽ xem xét bằng mắt thường.
  • Đặt tên theo: Thần nông nghiệp La Mã.
  • Đường kính: 120.500 km.
  • Quỹ đạo: 29,5 năm Trái đất.
  • Ngày: Khoảng 10,5 giờ Trái đất.

Sao Thiên Vương (Uranus)

Sao Thiên Vương Sao Thiên Vương hiện lên đồng màu qua ảnh chụp của Voyager 2 năm 1986. Màu sắc của Thiên Vương tinh phản ánh sự có mặt của bụi mờ quang hóa học hiđrocacbon trên cao, nằm phía trên các đám mây mêtan. Màu lục-lam là do sự hấp thụ của khí mêtan. Nguồn ảnh: Lawrence Sromovsky, (Đại học Wisconsin-Madison.), Keck Observatory

Sao Thiên Vương hiện lên đồng màu qua ảnh chụp của Voyager 2 năm 1986. Màu sắc của Thiên Vương tinh phản ánh sự có mặt của bụi mờ quang hóa học hiđrocacbon trên cao, nằm phía trên các đám mây mêtan. Màu lục-lam là do sự hấp thụ của khí mêtan. Nguồn ảnh: Lawrence Sromovsky, (Đại học Wisconsin-Madison.), Keck Observatory

Hành tinh thứ bảy tính từ Mặt trời, sao Thiên Vương là một hành tinh độc nhất. Nó là hành tinh khí đồ sộ duy nhất có đường xích đạo vuông góc với quỹ đạo của nó & hầu hết đồng thời với bề mặt quỹ đạo của hành tinh. Các nhà thiên văn cho là hành tinh va chạm với một số vật thể khác có kích cỡ giống hành tinh trước kia, gây nghiêng. Độ nghiêng gây ra các mùa khắc nghiệt kéo dài hơn 20 năm & chu kỳ quỹ đạo của sao Thiên Vương bằng 84 năm Trái Đất. Thiên Vương tinh có kích cỡ giống với Hải Vương tinh. Khí metan trong khí quyển khiến cho sao Thiên Vương có màu lục – lam & có nhiều mặt trăng, vành đai mờ.

  • Phát hiện: William Herschel năm 1781 (trước đó Herschel từng nghĩ đó là một người nổi tiếng).
  • Đặt tên theo: Vị thần khung trời của người Hy Lạp cổ.
  • Đường kính: 51.120 km.
  • Quỹ đạo: 84 năm Trái đất.
  • Ngày: 18 giờ Trái đất.

Sao Hải Vương (Neptune)

Sao Hải VươngVận tốc gió của sao Hải Vương đạt hơn 1.500 mph & những cơn gió hành tinh nhanh nhất trong hệ mặt trời. Nguồn ảnh: NASA / JPL

Vận tốc gió của sao Hải Vương đạt hơn 1.500 mph & những cơn gió hành tinh nhanh nhất trong hệ mặt trời. Nguồn ảnh: NASA / JPL

Hành tinh thứ 8 tính từ Mặt trời, Hải Vương tinh được nghe đến nhờ những cơn gió mạnh nhất – thỉnh thoảng còn mau hơn vận tốc tiếng động. Sao Hải Vương nằm ở xa & lạnh. Hành tinh này nằm xa gấp 30 lần đối với khoảng cách Trái đất tính từ Mặt trời. Hải Vương tinh là hành tinh trước tiên được dự báo sự tồn tại bằng cách dùng toán học, trước khi nó được phát hiện. Sự dị thường trong quỹ đạo của sao Hải Vương dẫn theo việc nhà thiên văn học người Pháp – Alexis Bouvard đã đề xuất một số nhà thiên văn học khác có lẽ gây một lực hút cuốn hút. Nhà thiên văn học người Đức – Johann Galle sử dụng các phép tính để trợ giúp xác nhận Hải Vương tinh bằng kính thiên văn. Sao Hải Vương to hơn khoảng 17 lần đối với Trái Đất.

  • Phát hiện: năm 1846.
  • Đặt tên theo: Thần nước của La Mã.
  • Đường kính: 49.530 km.
  • Quỹ đạo: 165 năm Trái đất.
  • Ngày: 19 giờ Trái đất.

Sao Diêm Vương (Hành tinh lùn – Dwarf Planet)

Sao Diêm VươngSao Diêm Vương & các mặt trăng của nó quay quanh mặt trời nằm gần rìa của hệ Mặt trời. Nguồn ảnh: SPACE.com/Karl Tate.

Sao Diêm Vương & các mặt trăng của nó quay quanh mặt trời nằm gần rìa của hệ Mặt trời. Nguồn ảnh: SPACE.com/Karl Tate.

Sao Diêm Vương là hành tinh thứ 9 tính từ Mặt trời, nó không giống với các hành tinh khác ở nhiều dấu hiệu. Diêm Vương tinh bé hơn Mặt Trăng của hành tinh Trái Đất. Quỹ đạo của sao Diêm Vương nằm trong quỹ đạo của sao Hải Vương & sau đó, tách ra khỏi quỹ đạo đó. Từ năm 1979 đến đầu năm 1999, Diêm Vương tinh chính thức được cho rằng hành tinh thứ 8 tính từ Mặt trời. Nhưng sau đó, vào ngày 11 tháng Hai năm 1999, nó đi theo con đường của sao Hải Vương rồi quay trở lại thành hành tinh nằm xa nhất trong hệ Mặt trời – đến tận khi nó bị “giáng xuống” là hành tinh lùn.

Hành tinh lùn Pluto nằm cách Hải Vương tinh 228 năm. Quỹ đạo của Pluto bị nghiêng đối với bề mặt chính của hệ Mặt trời – nơi mà các hành tinh khác quay quanh – khoảng 17,1 độ. Nó là một hành tinh đá, lạnh cùng một bầu không khí rất phù du. Trách nhiệm New Horizons của NASA đã thực hiện chuyến tàu cất cánh vũ tụ trước tiên trong lịch sử lên sao Diêm Vương vào ngày 14 tháng 7 năm 2015.

  • Phát hiện: Clyde Tombaugh năm 1930.
  • Đặt tên theo: Thần địa ngục của La Mã, Hades.
  • Đường kính: 2.301 km.
  • Quỹ đạo: 248 năm Trái đất.
  • Ngày: 6.4 ngày Trái đất.

Hành tinh thứ 9 (Planet Nine)

Hành tinh thứ 9
Hành tinh thứ 9 quay chung quanh Mặt trời với khoảng cách xa gấp 20 lần đối với quỹ đạo sao Hải Vương. Trong số đó, quỹ đạo của sao Hải Vương là 49,530 km tính từ mặt trời đến điểm gần nhất. Quỹ đạo của hành tinh kỳ lạ xa hơn khoảng 600 lần đối với quỹ đạo Mặt trời tính từ người nổi tiếng.

quay chung quanh Mặt trời với khoảng cách xa gấp 20 lần đối với quỹ đạo sao Hải Vương. Trong số đó, quỹ đạo của sao Hải Vương là 49,530 km tính từ mặt trời đến điểm gần nhất. Quỹ đạo của hành tinh kỳ lạ xa hơn khoảng 600 lần đối với quỹ đạo Mặt trời tính từ người nổi tiếng.

Các nhà khoa học chẳng thể xem xét trực tiếp hành tinh thứ 9. Sự tồn tại của hành tinh thứ 9 được xem xét bởi hiệu ứng cuốn hút của nó so với các hành tinh khác trong vành đai Kuiper, một khu vực nằm rìa hệ Mặt trời – nơi các vật thể đóng băng còn sót lại từ sự chào đời của mặt trời & các hành tinh.

Nhà khoa học Mike Brown & Konstantin Batygin tại Viện Công nghệ California ở Pasadena miêu tả chứng cớ về hành tinh 9 trong một tìm hiểu được thông báo trên Báo chí Thiên văn. Tìm hiểu này được dựa trên các mô hình toán học & mô phỏng laptop dựa vào các xem xét trong sáu Thiên thể vành đai Kuiper Belt khác bé hơn đối với quỹ đạo thích hợp trong một vấn đề tương tự.

Nếu nhấn mạnh vào việc có cả sao Diêm Vương thì hành tinh đó sẽ nằm sau sao Hải Vương (Neptune) trong danh mục. Diêm Vương tinh thực sự đã ra khỏi danh mục này vì “độ nghiêng quá lớn”, có quỹ đạo hình elip (hai trong số những nguyên nhân khiến nó bị loại ra khỏi danh mục). Trên thực tiễn, điều thú vị là hành tinh Pluto từng là hành tinh thứ tám. Để am hiểu hơn, hãy đọc tiếp thông tin dưới đây:

Các hành tinh trái đất (Terrestrial planets)

Các hành tinh trái đất

Bốn hành tinh nằm bên trong được gọi là “các hành tinh trái đất”, bởi giống như Trái đất, mặt phẳng của các hành tinh này tất cả là đá. Sao Diêm Vương cũng có một mặt phẳng rắn (& mặt phẳng này rất lạnh) nhưng không lúc nào được vào cùng nhóm với bốn hành tinh trái đất còn lại.

Các hành tinh kiểu Sao Mộc (Jovian planets)

Các hành tinh kiểu Sao Mộc

Bốn hành tinh lớn nằm bên ngoài – sao Mộc, sao Thổ, sao Thiên Vương & sao Hải Vương – được nghe đến như là “các hành tinh kiểu sao Mộc” (có nghĩa là “giống với sao Mộc” – Jupiter-like). Do bởi, toàn bộ các hành tinh này đều rất lớn đối với các hành tinh trái đất & có khí trong tự nhiên, chứ không phải mặt phẳng đá (“Mặc dù một số hoặc tất cả trong số chúng có thể có lõi rắn”, các nhà thiên văn bật mý.) Theo NASA cho biết, “hai trong số các hành tinh nằm bên ngoài quỹ đạo sao Hỏa – sao Mộc (Jupiter) và sao Thổ (Saturn) – được gọi là hành tinh khí khổng lồ, xa hơn là sao Thiên vương và sao Hải Vương được gọi là hành tinh nước đá khổng lồ”. Điều này là bởi vì hai hành tinh đầu tất cả là khí, còn hai hành tinh cuối cùng là băng đá. Toàn bộ bốn hành tinh này chứa cốt yếu là khí hydro & heli.

Các hành tinh lùn

Các hành tinh lùn

Theo khái niệm của Hiệp hội Thiên văn Quốc tế (IAU) về chuyển động một hành tinh chính thức như vậy này: Một hành tinh vòng quanh Mặt trời mà không phải là vệ tinh của hành tinh khác, đủ lớn để có lẽ làm tròn bằng trọng tải riêng (nhưng được không quá lớn khi khởi đầu trải qua phản ứng thống kê hạt nhân, như một người nổi tiếng ví dụ) & đã “dọn sạch các vùng lân cận” của đa phần các vật thể quỹ đạo khác. Vâng, đó là một “miếng”.

Vấn đề so với hành tinh lùn Pluto, bên cạnh kích cỡ nhỏ & quỹ đạo khác thường của nó, đó là việc nó chia sẻ không gian của mình với rất nhiều vật thể khác trong vành đai Kuiper, ngoài Hải Vương tinh. Không những thế, việc “cách chức” sao Diêm Vương ra khỏi danh mục vẫn còn gây tranh biện.

Khái niệm mà Hiệp hội Thiên văn Quốc tế IAU mang ra so với hành tinh tròn nhỏ khác trong các hành tinh lùn, bao gồm Thiên thể Vành đai Kuiper – Kuiper Belt objects, Eris, Haumea & Makemake (là các hành tinh đủ lớn).

không dừng lại ở đó vẫn còn một hành tinh lùn nữa là hành tinh Ceres, một vật thể tròn trong vành đai tiểu hành tinh nằm giữa sao Hỏa & sao Mộc. Trên thực tiễn, hành tinh lùn Ceres chỉ được coi là một hành tinh khi được phát xuất hiện vào năm 1801 & sau đó nó được gọi là một tiểu hành tinh. Một số nhà thiên văn học mong muốn xem xét hành tinh lùn Ceres là hành tinh thứ 10 (không nên lầm lẫn với hành tinh Nibiru hoặc hành tinh X), nhưng nếu theo nhận xét này thì có khả năng hệ Mặt trời có 13 hành tinh, với nhiều bị ẩn để tìm hiểu.

Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Khoa học vũ trụ
XEM THÊM  Nga sản xuất lượng lớn tên lửa Proton-M nhằm mục đích gì?