Tiểu hành tinh (hành tinh nhỏ – tiếng Anh: ) là các thiên thể nhỏ hơn hành tinh nhưng lớn hơn thiên thạch và không phải là sao chổi. Sự khác biệt giữa tiểu hành tinh và sao chổi thể hiện khá rõ: Sao chổi có đầu sao chổi (coma—đầu sao chổi có lớp hơi mờ bao bọc) rất khác so với tiểu hành tinh.

Thuật ngữ

Theo truyền thống thì các thiên thể nhỏ quay quanh Mặt Trời sẽ được xếp vào tiểu hành tinh, sao chổi hoặc thiên thạch, trong đó tất cả mọi thứ có đường kính nhỏ hơn mười mét đều được xếp vào loại thiên thạch. Trong tiếng Anh từ “asteroid” hầu như không rõ ràng. Nó chưa bao giờ có một định nghĩa chính thức, còn thuật ngữ rộng hơn “minor planet”, tức hành tinh nhỏ hay tiểu hành tinh được hội liên hiệp thiên văn quốc tế (International Astronomical Union) định nghĩa năm 2006, cùng lúc đó thuật ngữ “thiên thể nhỏ trong Hệ Mặt Trời” (small Solar System body) cũng được giới thiệu, từ này dùng để chỉ cả hành tinh nhỏ lẫn sao chổi. Nhiều ngôn ngữ khác lại dùng “planetoid” (từ Hi Lạp nghĩa là “giống hành tinh”), và thuật ngữ này cũng thường được dùng trong tiếng Anh để chỉ các tiểu hành tinh lớn. Từ “planetesimal” cũng có nghĩa tương tự nhưng phổ biến nó được dùng để chỉ các hòn đá tạo nên hành tinh vào thời kỳ đang hình thành nên Hệ Mặt Trời. Một từ khác nữa là “planetule” được nhà địa chất William Daniel Conybeare giới thiệu để chỉ các tiểu hành tinh nhưng ít được sử dụng.

Khi được phát hiện, các tiểu hành tinh được xét như là một nhóm các thiên thể khác biệt so với sao chổi, và không hề có một thuật ngữ nào thống nhất cả hai cho đến khi thuật ngữ “thiên thể nhỏ trong Hệ Mặt Trời” được giới thiệu vào năm 2006. Điểm khác biệt chính giữa tiểu hành tinh và sao chổi là sao chổi có một đầu sao chổi do bề mặt băng đá thăng hoa nhờ tác động của bức xạ từ Mặt Trời. Một vài thiên thể lại nằm ở cả hai danh sách do ban đầu nó được xếp vào loại tiểu hành tinh nhưng sau đó nó lại có dấu hiệu tương tự sao chổi. Ngược lại, một vài (có thể là tất cả) sao chổi cuối cùng cũng cất cánh hơi hết lớp băng đá ở bề mặt và trở thành một tiểu hành tinh. Một điểm khác biệt khác nữa là các sao chổi thường có quỹ đạo lệch tâm rất nhiều so với hầu hết các tiểu hành tinh; các “tiểu hành tinh” có một quỹ đạo lệch tâm rõ ràng thì thường có khả năng nó trở thành sao chổi.

Trong gần hai thế kỷ, từ phát hiện tiểu hành tinh đầu tiên, 1 Ceres (hiện nay đã được xếp vào nhóm hành tinh lùn), và năm 1901 cho đến phát hiện nhân mã đầu tiên, 2006 Chiron năm 1977 (centaur—từ dùng để chỉ các hành tinh nhỏ có tính chất vừa giống tiểu hành tinh mà vừa giống sao chổi. Các nhân mã có thể đi qua hoặc đã đi qua quỹ đạo của một hay nhiều hành tinh khí, và có tuổi thọ khoảng vài triệu năm), tất cả các tiểu hành tinh được biết cho đến nay đều phần lớn thời gian đều nằm trên hoặc gần quỹ đạo của Sao Mộc. Khi các nhà thiên văn bắt đầu tìm kiếm những thiên thể nhỏ nằm xa hơn Sao Mộc, bây giờ gọi là nhân mã, họ đã tìm ra rất nhiều tiểu hàn tinh và đã tranh luận có nên xếp chúng vào một nhóm mới hay không. Sau đó, khi thiên thể ngoài Sao Hải Vương đầu tiên được phát hiện, 1992 QB1, vào năm 1992, và đặc biệt có một lượng lớn các thiên thể tương tự được tìm thấy, nhiều thuật ngữ mới xuất hiện để chỉ các thiên thể này: thiên thể vành đai Kuiper (Kuiper Belt object), thiên thể ngoài Sao Hải Vương (trans-Neptunian object), thiên thể đĩa phân tán (scattered-disc object), và còn nhiều nữa. Những thiên thể này nằm ở khu vực lạnh lẽo ngoài rìa Hệ Mặt Trời, ở đó băng giữ được thể rắn của mình và không thể hiện các tính chất của một sao chổi; nếu các nhân mã hay thiển thể ngoài Sao Hải Vương này đi lại Mặt Trời đủ gần, băng của chúng sẽ thăng hoa và theo truyền thống chúng sẽ được xếp vào nhóm sao chổi.

Những thiên thể ở trong cùng của loại này được gọi là thiển thể vành đai Kuiper, dùng từ “thiên thể” để tránh gọi chúng là tiểu hành tinh hay sao chổi. Người ta cho rằng các thiên thể vành đai Kuiper này có thành phần như một sao chổi, mặc dù chúng giống tiểu hành tinh hơn. Hơn nữa, hầu hết trong số đó đều không có quỹ đạo lệch tâm nhiều như sao chổi và nhiều thiên thể có kích thước lớn hơn nhân sao chổi thông thường nhiều (Vùng đám mây Oort xa hơn rất nhiều mới được coi là nơi sản chào đời sao chổi). Những quan sát mới đây như các phân tích bụi sao chổi được thu thập từ tàu thăm dò Stardust càng làm mờ hơn vách ngăn giữa sao chổi và tiểu hành tinh, điều này cho thấy rằng có một dải chuyển biến liên tục từ tiểu hành tinh sang sao chổi chứ không phải là một bước nhảy cóc đột ngột.

Các hành tinh nhỏ (minor planet) bên ngoài quỹ đạo của Sao Mộc rất hiếm khi được coi là các “tiểu hành tinh” (asteroid) đích thực nhưng hầu hết chúng lại được gọi là “tiểu hành tinh” trong các bài viết đưa tính phổ cập. Ví dụ, website của NASA-JPL có đề cập: Chúng tôi gọi các Trojans (các thiên thể nằm ở điểm Lagrange thứ 4 và thứ 5 của Sao Mộc), Nhân Mã (các thiên thể có quỹ đạo giữa Sao Mộc và Sao Hải Vương), và các thiên thể ngoài Sao Hải Vương (có quỹ đạo nằm ngoài so với Sao Hải Vương) là các “tiểu hành tinh”, mặc dù chính xác phải gọi chúng là các “hành tinh nhỏ” chứ không phải gọi là tiểu hành tinh.

Khi hội thiên văn quốc tế giới thiệu các thiên thể nhỏ trong Hệ Mặt Trời vào năm 2006 để gom tất các các thiên thể được xếp vào loại hành tinh nhỏ & sao chổi vào một nhóm, họ cũng mang lại một nhóm các hành tinh lùn để chỉ các hành tinh nhỏ lớn nhất—các thiên thể này có đủ khối lượng để có dạng hình cầu nhờ lực cuốn hút của chính bản thân mình. Theo hội, “thuật ngữ hành tinh nhỏ sẽ vẫn được dung nhưng thuật ngữ ‘các thiên thể nhỏ trong Hệ Mặt Trời’ sẽ được dung phổ biến hơn.” Hiện tại trong vành đai tiểu hành tinh chỉ có một thiên thể là Ceres có đường kính khoảng 950 km được xếp vào nhóm hành tinh lùn, không những thế có vài tiểu hành tinh lớn như Vesta, Pallas & Hygiea có thể được xếp vào nhóm hành tinh lùn nếu tất cả chúng ta biết rõ hơn về hình dạng của chúng.

Thuộc tính

Các tiểu hành tinh rất có kích cỡ rất khác nhau, dao động từ 975 km so với 1 Ceres & trên 500 km so với 2 Pallas & 4 Vesta xuống đến các hòn đá có đường kính chỉ 10 m. Một vài trong số những tiểu hành tinh lớn nhất có dạng cầu rất giống các hành tinh thu nhỏ. Không những thế đa phần số còn sót lại thì có dạng không xác nhận.

Xem Thêm  Trăng máu ngày 26/5/2021 là dấu hiệu của thảm họa đổ máu?

Thành phần vật chất của các tiểu hành tinh khá khác nhau & đa phần trong số đó còn chưa được tìm hiểu. Ceres có thể được kết cấu từ một nhân đá với lớp băng bao bọc, còn Vesta thì có thể có một nhân sắt-niken, bọc bên ngoài bởi olivine & lớp vỏ bazan, còn 10 Hygiea có nguồn gốc là một thiên thạch cầu có thành phần cacbon không phân biệt được. Nhiều, mà có vẻ là toàn bộ, tiểu hành tinh là một tảng đá được giữ với nhau bằng cuốn hút yếu ớt. Một vài trong số đó có vệ tinh hoặc là những cặp tiểu hành tinh đôi. Cả ba trường hợp, đều được xếp vào gia đình tiểu hành tinh, có vẻ là kết quả của một vụ va chạm giữa các tiểu hành tinh trước đó.

Chỉ có một tiểu hành tinh, 4 Vesta là có thể chứng kiến bằng mắt thường, & nó chỉ có thể thấy được khi khung trời thực sự tối & có địa điểm thuận tiện.

Phân bố trong Hệ Mặt Trời

Trong hàng sa số tiểu hành tinh được phát hiện thì phần đông trong đó chăm chú ở vành đai tiểu hành tinh nằm giữa Sao Hỏa & Sao Mộc, đa phần có quỹ đạo lệch tâm thấp (quỹ đạo gần tròn). Vành đai này hiện tại được liệt kê là chứa khoảng 1,1 đến 1,9 triệu tiểu hành tinh to hơn 1 km, & hàng triệu tiểu hành tinh bé hơn. Người ta nghĩ rằng những tiểu hành tinh đó là phần còn sót lại của đĩa tiền hành tinh & ở khu vực này các planetesimal chẳng thể tăng lên thành hành tinh được do lực cuốn hút lớn của Sao Mộc. Dù rằng có ít tiểu hành tinh Trojan được phát hiện hơn (các tiểu hành tinh nằm trên quỹ đạo của sao Mộc), nhưng người ta nghĩ rằng ở giai đoạn này cũng có nhiều tiểu hành tinh như ở vành đai chính.

Hành tinh lùn Ceres là thiên thể lớn nhất trong vành đai tiểu hành tinh, với đường kính trên 900km. Thiên thể lớn thứ hai là tiểu hành tinh 2 Pallas & 4 Vesta, cả hai đều có đường kính trên 500 km. thôgn thường Vesta là tiểu hành tinh duy nhất có thể thấy được bằng mắt thường nếu có điều kiện hích hợp. Không những thế, trong một só trường hợp hiếm gặp, một tiểu hành tinh gần địa cầu có thể được chứng kiến mà không cần một công cụ trợ giúp nào này là 99942 Apophis.

Khối lượng của toàn bộ các thiên thể trong vành đai tiểu hành tinh chính, nằm ở giữa quỹ đạo Sao Hỏa & Sao Mộc, là vào khoảng 3,0-3,6×10^21 kg, hay bằng khoảng 4 % khối lượng Mặt Trăng. Trong số đó Ceres là 0,95×10^21 kg, bằng khoảng 32 % khối lượng của vành đai. Thêm ba tiểu hành tinh nặng đặc biệt là 4 Vesta (9%), 2 Pallas (7%) & 10 Hygiea (3%), thì khối lượng của chúng là 51%; trong lúc đó ba tiểu hành tinh kế tiếp là 511 Davida (1,2%), 704 Interamnia (1 %), & 52 Europa (0,9%) chỉ thêm vào tổng khối lượng 3 % mà thôi. Số lượng tiếu hành tinh càng về sau tăng càng nhanh cùng lúc khối lượng cũng giảm cực kỳ nhanh.

Các tiểu hành tinh thuộc các nhóm khác nhau được phát hiện ở ngoài vành đai tiểu hành tinh. Các tiểu hành tinh gần Trái Đất có quỹ đạo gần với quỹ đạo Trái Đất. Các tiểu hành tinh Trojan bị ăn khớp với Sao Mộc bằng lực cuốn hút, chúng đi trước hoặc đi sau hành tinh này trên quỹ đạo của nó. Một cặp Trojan cũng được tìm thầy trên quỹ đạo Sao Hỏa. Một nhóm tiểu hành tinh giả thuyết đưa tên Vulcanoid có quỹ đạo rất gần Mặt Trời, nó nằm trên quỹ đạo của Sao Thủy, không những thế không có tiểu hành tinh nào như thế được tìm ra.

Phân loại

Các tiểu hành tinh đa phần được phân loại dựa theo hai nhân tố: thuộc tính của quỹ đạo & vạch quang phổ của chúng.

Phân loại theo quỹ đạo

Nhiều tiểu hành tinh được đặt vào các nhóm & gia đình dựa theo thuộc tính quỹ đạo của nó. Ngoài các nhóm tổng quan, thông thường một nhóm các tiểu hành tinh được đặt tên theo tên member trước nhất được phát hiện. Các nhóm có mối quan hệ động học yếu còn các gia đình thì có mối gắn kết chặt hơn & chúng là kết quả của những vụ va chạm kinh khủng của các tiểu hành tinh trong dĩ vãng.

Khoảng 30% đến 35% thiên thể trong vành đai chính thuộc vào gia đình động học mà chúng được cho rằng kết quả của các vụ va chạm tiểu hành tinh trong dĩ vãng. Một gia đình cũng có thể liên quan đến hành tinh lùn Haumea.

Nửa vệ tinh & các thiên thể móng ngựa

Một vài thiên thể có quỹ đạo móng ngựa kỳ lạ là do chúng có quỹ đạo link với quỹ đạo của Trái Đất hoặc các hành tinh khác. Chẳng hạn cho các thiên chuyên mục đó là 3753 Cruithne & 2002 AA29. Mẫu quỹ đạo này được phát hiện lần trước nhất là giữa hai vệ tinh sao Thổ là Epimetheus & Janus.

Đôi lúc các thiên thể móng ngựa (horseshoe object) đó lại trở thành nửa vệ tinh (Quasi-satellite) trong vài thập kỷ hay vài thế kỷ, sau đó nó trở lại hiện trạng ban đầu. Cả Trái Đất & Sao Kim đều có các nửa vệ tinh.
Các thiên chuyên mục này nếu chúng thuộc Trái Đất hay Sao Kim hay thậm chí là theo lí thuyết là cả Sao Thủy nữa thì sẽ được xếp & nhóm tiểu hành tinh Aten. Không những thế các thiên thể mang tính chất tương đương cũng có ở các hành tinh bên ngoài nữa.

Phân loại theo quang phổ

Năm 1975, một hệ thống phân loại tiểu hành tinh dựa theo màu sắc, suất phân chiếu (albedo), & dạng quang phổ được cài đặt bởi Clark R. Chapman, David Morrison, & Ben Zellner. Những thuộc tính này được nghĩ rằng chúng có liên quan đến thành phần vật chất mặt phẳng của tiểu hành tinh. Hệ thống phân loại ban đầu có ba nhóm: loại C cho các thiên thể cacbon màu tối (chiếm 75% số tiểu hành tinh được biết hiện tại), loại S cho các thiên thể đá (chứa silicat) (chiếm 17% tiểu hành tinh được biết) & U cho các thiên thể không thuộc loại C & S. Các phân loại này sau đó được nới rộng ra để thêm nhiều loại tiểu hành tinh khác. Số lượng loại tiếp tục tăng khi có ngày càng nhiều tiểu hành tinh được tìm hiểu.

Hai phép tắc phân loại được sử dụng thông dụng hiện tại là phân loại Tholen & SMASS. Người sang tạo nên là David J. Tholen vào năm 1984, & dựa theo dữ liệu của 1 cuộc thăm dò tám màu về tiểu hành tinh trong những năm 1980. Kết quả cho ra 14 nhóm tiểu hành tinh. Năm 2002, 1 cuộc thăm dò quang phổ nhỏ các tiểu hành tinh trong vành đai chính đã khiến cho phiên bản của Tholen tăng trưởng 24 loại. Các hai các h phân loại đều có ba nhóm chính là C, S & X, trong đó X chỉ các tiểu hành tinh có kim loại chiếm phần đông, tương đương loại M. Song song trong đó còn tồn tại các nhóm bé hơn.

Xem Thêm  Nhật thực là gì - Nhật thực xảy ra khi nào - Nhật thực toàn phần 9/3/2016 ở Việt Nam - Mạng Đời Sống

Ghi nhớ rằng tỷ lệ các tiểu hành tinh nằm trong các loại quang phổ khác nhau không biểu thị tỉ lệ của toàn bộ các tiểu hành tinh thuộc loại đó trong tự nhiên; một vài loại dễ phát hiện hơn loại khác nên mới tạo nên tỉ lệ này.

Vấn đề của cách phân loại quang phổ

Về căn bản, cấc phân loại quang phổ dựa theo thành phần kết cấu của tiểu hành tinh. Không những thế việc phậ loại các nhóm quang phổ không phải bao giờ cũng đúng đắn & nó biến đổi dựa theo cách phân loại đang được dùng, điều này dễ kéo theo nhầm lẫn. Các tiểu hành tinh thuộc các nhóm khác nhau thì có thành phần vật chất khác nhau, không những thế lại không ai dám cam kết các tiểu hành tinh thuộc các nhóm giống nhau lại có thành phần vật chát giống nhau.

Hiện tại, việc phân loại theo quang phổ vẫn dựa theo những kết quả từ các cuộc thăm dò quang phổ vào những năm 1990. Các nhà khoa học vẫn chưa thể tìm thấy cách phân loại hiệu quả hơn, phần đông là do khổ cực trong việc thống nhất các thống kê đúng đắn ở một lượng lớn tiểu hành tinh mẫu.

Tìm tòi

Tiểu hành tinh được đặt tên trước nhất là 1 Ceres được phát hiện vào năm 1801 bởi Giuseppe Piazzi, & ban đầu nó được xem như là một hành tinh. Sau đó các thiên thể tương đương được phát hiện, với các kính thiên văn, chúng lại có dạng những chấm sáng như các tại sao chứ chẳng hề có dạng đĩa như các hành tinh, không những thế chúng lại khác với các tại sao do có tốc độ lớn. William Herschel đã đặt cho chúng tên gọi asteroid, dựa theo từ Hi Lạp αστεροειδής, có nghĩa giống sao, dạng sao.

Lịch sử các bí quyết

Cách thức phát hiện tiểu hành tinh có bước tiến vượt bậc trong vòng hai thế kỷ trước.

Vào những năm cuối thế kỷ 18, Baron Franz Xaver von Zach đã tổ chức ra một nhóm gồm 24 nhà thiên văn để tìm kiếm hành tinh thất lạc được phán đoán nằm ở 2,8 AU tính từ Mặt Trời theo định luật Titius-Bode, một phần của kết quả cuộc tìm hiểu này được lập ra bởi William Herschel vào năm 1781 phát xuất hiện Thiên Vương Tinh ở khoảng cách to hơn nhiều nhưng vẫn đúng trong dãy số được dự đoán của định luật. Công việc này đòi hỏi một bản đồ sao vẽ tay cho toàn bộ các người nổi tiếng thấy được nằm trên đường hoàng đạo. Trong nhiều đên, khung trời được vẽ đi vẽ lại & toàn bộ các thiên thể chuyển động sẽ được (hi vọng) phát xuất hiện. Chuyển động dự đoán của thiên thể thất lạc đó là khoảng 30 giây một giờ, khá nhanh so với những người xem xét.

Không những thế, tiểu hành tinh trước nhất, 1 Ceres, lại không được phát hiện bởi một member của nhóm, mà lại là Giuseppe Piazzi phát hiện tự dưng vào năm 1801, ông là giám đốc đài xem xét Palermo ở Sicily. Ông tìm hiểu ra một thiên thể giống sao mới ở Taurus & theo dõi sự biến đổi địa điểm của thiên thể này trong nhiều đêm. Đồng nghiệp của ông, Carl Friedrich Gauss, đã dùng những xem xét này để tính toán địa điểm đúng đắn của thiên thể này đối với Trái Đất. Tính toàn của Gauss đã xác nhận nó nằm giữa Sao Hỏa & Sao Mộc, Piazzi đặt tên nó là Ceres, theo tên vị nữ thật nông nghiệp của Roman.

Ba tiểu hành tinh khác (2 Pallas, 3 Juno, & 4 Vesta) được phát hiện vào vài năm sau đó, trong đó Vesta là vào năm 1807. Sau tám năm không có phát hiện mới sau đó, đa phần các nhà thiên văn học đã nghĩ rằng không còn thiên thể nào khác & ngừng các hoạt động tìm kiếm.

Không những thế, Karl Ludwig Hencke lại nghĩ trái lại & khởi đầu tìm kiếm thêm tiều hành tinh vào năm 1830. Mười lăm năm sau, ông tìm ra 5 Astraea, tiểu hành tinh mới trước nhất trong 38 năm. Ông cũng tìm ra 6 Hebe gần hai năm sau đó. Sau buổi lễ này, các nhà thiên văn khác lại gia nhập tìm kiếm & có ít nhất một tiểu hành tinh được tìm ra mỗi năm kể từ đó (chỉ trừ thời điểm đấu tranh 1945). Các nhà săn tiểu hành tinh nổi tiếng gần đây là J. R. Hind, Annibale de Gasparis, Robert Luther, H. M. S. Goldschmidt, Jean Chacornac, James Ferguson, Norman Robert Pogson, E. W. Tempel, J. C. Watson, C. H. F. Peters, A. Borrelly, J. Palisa, the anh em Henry & Auguste Charlois.

Năm 1891, Max Wolf tiến triển việc sử dụng ảnh thiên văn để tìm tiểu hành tinh, đây là những đĩa ảnh dài có những sọc ngắn. Việc này đã làm tăng mạnh tỷ lệ tìm ra tiểu hành tinh đối với bí quyết cũ: riêng Wolf đã tìm ra 248 tiểu hành tinh, khởi đầu bằng 323 Bruicia, trước thời điểm đó cả toàn cầu chỉ có hơn 300 tiểu hành tinh được tìm ra. Một thế kỷ sau đó chỉ có vài ngàn tiểu hành tinh được xác nhận, đặt tên & đánh số thứ tự. Vẫn còn nhiều tiểu hành tinh nữa, nhưng đa phần các nhà thiên văn học không chú trọng đến chúng, & gọi chúng là “những con bọ trên bầu trời”.

Cách thức thủ công của những năm 1900

Cho đến năm 1998, các tiểu hành tinh được tìm hiểu bằng một tiến trình gồm bốn bước. Trước nhất, một vùng trời được chụp bằng kính viễn vọng trường rộng, hay Astrograph. Các cặp hình được chụp, thông thường là cách nhau một tiếng. Những cặp hình có thể được chụp trong nhiều ngày. Bước thứ hai, hai tấm phim của cùng một khu vực sẽ được chiếu lên bằng một kính nhìn nổi (stereoscope). Bất kỳ thiên thể nào quay quanh Mặt Trời cũng sẽ di chuyển chậm rì rì giữa hai tấm phim này. Qua kính nhìn nổi, hình ảnh của thiên thể đó sẽ nổi nhẹ lên trên nền trời sao. Thứ ba, khi một thiên thể di động được phát hiện, địa điểm của nó sẽ được xác nhận bằng một kính hiển vi điện tử. Địa điểm sẽ được tính ra bằng tương quan của nó với các người nổi tiếng đã biết.

Ba bước trước nhất không tạo nên phát hiện tiểu hành tinh: người xem xét đó chỉ mới tìm ra sự hiện ra, nó được đặt theo tên tạm thời (provisional designation), gồm năm phát hiện, một chữ cái của tuần tìm hiểu, & cuối cùng là một chữ & số để chỉ thứ tự của tìm hiểu (chẳng hạn: 1998 FJ74).

Bước cuối cùng của tìm hiểu đó là gửi địa điểm & thời gian xem xét đến Trung Tâm Hành Tinh Nhỏ (Minor Planet Center), ở đó các chương trình của dòng sản phẩm tính sẽ tính toán sự hiện ra này với các sự hiện ra trước đây để xem chúng có tạo nên một quỹ đạo đơn lẻ không. Nếu có, thiên thể sẽ được ghi vào danh mục & người trước nhất tìm ra sự hiện ra sẽ là coi là người phát hiện & được vinh dự đặt tên thiên thể theo sự đồng ý của hội thiên văn quốc tế.

Xem Thêm  Kinh nghiệm và cách chọn mua kính thiên văn

Cách thức dùng laptop

Mối quan tâm ngày trong việc tìm kiếm các tiểu hành tinh có quỹ đạo cắt qua quỹ đạo Trái Đất mà có thể gây ra va chạm càng ngày càng tăng. Có ba nhóm tiểu hành tinh gần Trái Đất trọng yếu là Apollos, Amors, & Atens. Nhiều kế sách làm lệch tiểu hành tinh đã được đưa ra ngay từ đầu những năm 1960.

Tiểu hành tinh gần Trái Đất 433 Eros được phát hiện khá lâu là vào năm 1898 & đến những năm 1930 một loạt các thiên thể tương đương hiện ra. Những thiên thể này là: 1221 Amor, 1862 Apollo, 2101 Adonis, & cuối cùng là 69230 Hermes chúng có lần tiến đến gần Trái Đất với khoảng cách chỉ 0,005 AU vào năm 1937. Các nhà thiên văn khởi đầu nhận thấy khả năng va chạm với Trái Đất.
Hai buổi lễ ở các thập niên sau đó đã gióng lên hồi chuông nhắc nhở: khả năng có thực ngày càng tăng của giả thuyết của Walter Alvarez về một vụ va chạm với tiểu hành tinh trong dĩ vãng đã diệt trừ đa phần sự sống trên Trái Đất, & việc xem xét thấy sao chổi Shoemaker-Levy 9 đâm vào Sao Mộc vào năm 1994. Quân đội Mỹ cũng bật mý rằng vệ tinh quân đội của mình, dùng để khảo sát các vụ nổ hạt nhân, cũng phạt xuất hiện hàng trăm thiên thể từ một đến 10 met cất cánh vào bầu khí quyển của Trái Đất.

Những buổi lễ này giúp đẩy nhanh việc mang vào không gian hệ thống auto có hiệu suất cao chứa camera sử dụng công nghệ CCD (Charge-Coupled Device) & laptop connect trực tiếp với kính thiên văn. Từ năm 1998, rất nhiều tiểu hành tinh lớn được phát xuất hiện bằng hệ thống auto này. Mục lục các nhóm sử dụng hệ thống này gồm:

  • Đội tìm kiếm tiểu hành tinh gần Trái Đất Lincoln (Lincoln Near-Earth Asteroid Research) (LINEAR)
  • Đội khảo sát tiểu hành tinh gần trái Đất (Near-Earth Asteroid Tracking) (NEAT)
  • Xem xét không gian (Spacewatch)
  • Đội tìm kiếm thiên thể gần Trái Đất của đài xem xét Lowell (Lowell Observatory Near-Earth-Object Search) (LONEOS)
  • Thăm dò khung trời Catalina (Catalina Sky Survey) (CSS)
  • Đội thăm dò thiên thể gần Trái Đất Campo Imperatore (Campo Imperatore Near-Earth Objects Survey) (CINEOS)
  • Liên hợp bảo vệ không gian Nhật Bản (Japanese Spaceguard Association)
  • Thăm dò tiểu hành tinh Asiago-DLR (Asiago-DLR Asteroid Survey) (ADAS)

Chỉ riêng hệ thống LINEAR cũng từng phát hiện tổng cộng 97.470 tiểu hành tinh vào 18/12/2008. Các hệ thống auto phát hiện được 4711 tiểu hành tinh gần địa cầu, trong đó có 600 tiểu hành tinh có đường kính hơn 1 km. Số lượng phát hiện đạt đỉnh vào năm 2000, có đến 38.679 tiểu hành tinh được đánh số, & sau đó giảm lập tức (719 hành tinh nhỏ được đánh số vào năm 2007).

Đặt tên

Một tiểu hành tinh mới được phát hiện sẽ được đặt tên tạm thời (chẳng hạn 2002 AT4). Một khi xác nhận được quỹ đạo của tiểu hành tinh, nó được đánh số, & có thể được đặt tên (433 Eros). Theo quy tắt sẽ có dấu ngoặc đơn quanh con số, nhưng thông thường người ta bỏ qua dấu ngoặc này.

Khảo sát

Trước kỷ nguyên không gian, các thiên thể trong vành đai tiểu hành tinh chỉ là những chấm sáng so với những kính thiên văn lớn nhất & hình dạng cũng như mặt phẳng của nó vẫn là một huyền bí. Hiên nay, những ống kính thiên văn mặt đất hiện đại nhất & kính thiên văn vũ trụ Hubble đã có thể nghiên cứu một phần nhỏ trên mặt phẳng của những tiểu hành tinh lớn nhất không những thế ngay cả so với chúng thì các tiểu hành tinh hầu hết vẫn là một giọt nước mờ nhạt. Các thông tin giới hạn về kiểu dáng & thành phần kết cấu của các tiểu hành tinh có thể được khắc phục bằng những đường cong ánh sáng (light curve) (là sự biến đổi độ sáng khi chúng xoay tròn) & vạch quang phổ của chúng, kích cỡ của cấc tiểu hành tinh có thể tính toán được bằng quãng thời gian che khuất các người nổi tiếng (xảy ra khi tiểu hành tinh đi qua một người nổi tiếng nào đó). Hình ảnh radar cũng cho những thông tin hữu hiệu về kiểu dáng & thông số kỹ thuật tự quay của các tiểu hành tinh, nhất là những tiểu hành tinh gần Trái Đất.

Tấm hình cận cảnh của một thiên thể giống tiểu hành tinh trước nhất được chụp bởi tàu khảo sát Mariner 9, nó chụp Phobos & Deimos, hai mặt trăng nhỏ của Sao Hỏa, chúng có khả năng là những tiểu hành tinh bị Sao Hỏa giữ lại. Những tấm hình này cho thấy kiểu dáng không xác nhận, hầu hết khoai tây của các tiểu hành tinh, tương đương với các mặt trăng nhỏ của các hành tinh khí đồ sộ được chụp bởi tàu khảo sát Voyager.

Tiểu hành tinh thực sự trước nhất được chụp cận cảnh là 951 Gaspre vào năm 1991, kế tiếp là năm 1993 với 243 Ida & mặt trăng của nó Dactyl, toàn bộ đều được chụp bởi tàu khảo sát Galileo khi nó đi đến Sao Mộc

Tàu khảo sát tiểu hành tinh trước nhất là NEAR Shoemaker, nó chụp 253 Mathilde vào 1997, trước khi vào quỹ đạo quanh 433 Eros, cuối cùng là đáp lên mặt phẳng của nó vào năm 2001.

Các cuộc gặp tiểu hành tinh ngắn trên đường đi của các tàu khảo sát đến địa điểm khác còn tồn tại 9969 Braille (tàu Deep Space 1 năm 1999) & 5535 Annefrank (tàu Stardust năm 2002).

Tháng 9 năm 2005, tày khảo sát Hayabusa của Nhật Bản khởi đầu tìm hiểu kỹ lượng 25143 Itokawa & có thể nó sẽ đưa mẫu mặt phẳng của tiểu hành tinh này về Trái Đất. Trách nhiệm của Hayabusa đang gặp khổ cực, bao gồm việc hỏng hai trong số ba bánh xe điều khiển, làm nó gặp khổ cực trong việc hướng đến Mặt Trời để lấy năng lượng. Kế tiếp đó, chuyến tiếp cận tiểu hành tinh kế tiếp sẽ là của tàu khảo sát Rosetta của châu Âu (phóng vào năm 2004), nó cất cánh ngang qua 2867 Šteins năm 2008 & sẽ đến 21 Lutetia năm 2010.

Tháng 9 năm 2007, NASA đã khỏi động bổ phận Dawn, tàu khảo sát này sẽ đi vào quỹ đạo của hành tinh lùn Ceres & tiểu hành tinh 4 Vesta năm 2011-2015, bổ phận này cũng có thể mở rộng ra với 2 Pallas.

Nhiều người nghĩ rằng tiểu hành tinh sẽ là mỏ Nguyên liệu chính trong tương lai mà khi đó Nguyên liệu trên Trái Đất đã hết sạch, hay chúng sẽ phân phối Nguyên liệu việc sinh sống trong không gian. Nguyên liệu rất nặng & rất mắc tiền để phóng lên từ Trái Đất chính vì như thế một ngày nào đó loài người sẽ khai thác từ các tiểu hành tinh & dùng cho việc xây dựng trong không gian.

By ads_law

Trả lời