Chế Lan Viên là một trong số không nhiều nhà thơ nổi tiếng nhất của trào lưu Thơ mới 1930 – 1945 và sau 1945 ông vẫn được xem là một nhà thơ có vai trò mở đường và dẫn đường cho thơ ca cách mạng. Kỉ niệm 10 năm

Bạn đang xem: bút danh của chế lan viên

Chế Lan Viên là một trong số không nhiều nhà thơ nổi tiếng nhất của trào lưu Thơ mới 1930 – 1945 và sau 1945 ông vẫn được xem là một nhà thơ có vai trò mở đường và dẫn đường cho thơ ca cách mạng. Kỉ niệm 10 năm ngày mất của nhà thơ (1999), giới phân tích văn học đã tổ chức hội thảo khoa học về Chế Lan Viên. Qua đó, một lần nữa Chế Lan Viên lại được nhất định tài năng và sự nghiệp, được tôn vinh như một nhà thơ có tầm vóc to lớn. Cùng chúng tôi điểm qua những tuyển tập thơ Chế Lan Viên bạn nhé!

Tổng hợp những sáng tác của nhà thơ Chế Lan Viên

1, Tiếng Hát Con Tàu

Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc

Khi lòng ta đã hoá những con tàu

Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát

Tâm hồn ta là Tây Bắc, chứ còn đâu

Con tàu này lên Tây Bắc, anh đi chăng?

Bạn thân đi xa, anh giữ trời Hà Nội

Anh có nghe gió ngàn đang rú gọi

Ngoài cửa ô? Tàu đói những vành trăng

Quốc gia mênh mông, đời anh nhỏ hẹp

Tàu gọi anh đi, sao chửa ra đi?

Chẳng có thơ đâu giữa lòng đóng khép

Tâm hồn anh chờ gặp anh trên kia

Trên Tây Bắc! Ôi mười năm Tây Bắc

Xứ thiêng liêng rừng núi đã người hùng

Nơi máu rỏ tâm hồn ta thấm đất

Nay rạt rào đã chín trái đầu xuân

Ơi kháng chiến! Mười năm qua như ngọn lửa

Nghìn năm sau, còn đủ sức soi đường

Con đã đi nhưng con cần vượt nữa

Cho con về hội ngộ mẹ yêu thương

Con hội ngộ nhân dân như nai về suối cũ

Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa

Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa

Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay mang

Con nhớ anh con, người anh du kích

Chiếc áo nâu anh mặc đêm công đồn

Chiếc áo nâu suốt một đời vá rách

Đêm cuối cùng anh cởi lại cho con

Con nhớ em con, thằng em liên lạc

Rừng thưa em băng, rừng rậm em chờ

Sáng bản Na, chiều em qua bản Bắc

Mười năm tròn! Chưa mất một phong thư

Con nhớ mế! Lửa hồng soi tóc bạc

Năm con đau, mế thức một mùa dài

Con với mế không phải hòn máu cắt

Nhưng vĩnh viễn con nhớ mãi ơn nuôi

Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ

Nơi nào qua, lòng lại chẳng yêu thương?

Khi ta ở, chi là nơi đất ở

Khi ta đi, đất đã hoá tâm hồn!

Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét

Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng

Như xuân đến chim rừng lông trở biếc

Tình yêu làm đất lạ hoá quê hương

Anh nắm tay em cuối mùa chiến dịch

Vắt xôi nuôi quân em giấu giữa rừng

Đất Tây Bắc tháng ngày không có lịch

Bữa xôi đầu còn toả nhớ mùi hương

Quốc gia gọi ta hay lòng ta gọi?

Tình em đang mong, tình mẹ đang chờ

Tàu hãy vỗ giùm ta đôi cánh vội

Mắt ta thèm mái ngói đỏ trăm ga

Mắt ta nhớ mặt người, tai ta nhớ tiếng

Mùa nhân dân giăng lúa chín rì rào

Rẽ người mà đi, vịn tay mà đến

Mặt đất nồng nhựa nóng của cần lao

Nhựa nóng mười năm nhân dân máu đổ

Tây Bắc ơi, ngươi là mẹ của hồn thơ

Mười năm chiến tranh, vàng ta đau trong lửa

Nay trở về, ta lấy lại vàng ta

Lấy cả những giấc mơ! Ai bảo con tàu không mộng tưởng?

Mỗi đêm khuya không uống một vầng trăng

Lòng ta cũng như tàu, ta cũng uống

Mặt hồng em trong suối lớn mùa xuân

2, Người Đi Tìm Hình Của Nước

Quốc gia đẹp vô cùng. Nhưng Bác phải ra đi

Cho tôi làm sóng dưới con tàu tống biệt Bác

Khi bờ bãi dần lui làng xóm khuất

Bốn phía nhìn không một bóng hàng tre

Đêm xa nước trước hết, ai nỡ ngủ

Sóng vỗ dưới thân tàu đâu phải sóng quê hương

Trời từ đây chẳng xanh màu xứ sở

Xa nước rồi, càng hiểu nước đau thương

Lũ tất cả chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp

Giấc mơ con đè nát cuộc sống con

Hạnh phúc đựng trong một tà áo đẹp

Một mái nhà yên rủ bóng xuống tâm hồn

Trăm giấc mơ không chống nổi một đêm dày

Ta lại mặc cho mưa tuôn và gió thổi

Lòng ta thành con rối

Cho cuộc sống giật dây

Quanh hồ Gươm không ai bàn chuyện vua Lê

Lòng ta đã thành rêu phong chuyện cũ

Hiểu sao hết những tấm lòng lãnh tụ

Tìm đường đi cho dân tộc theo đi

Hiểu sao hết “Người đi tìm hình của Nước”

Không phải hình một bài thơ đá tạc nên người

Một góc quê hương nửa đời thân thuộc

Hay một đấng vô hình sương khói xa xôi

Mà hình quốc gia hoặc còn hoặc mất

Sắc vàng nghìn xưa, sắc đỏ tương lai

Thế đi đứng của toàn dân tộc

Một cách vin hoa cho hai mươi lăm triệu nhân loại

Có nhớ chăng hỡi gió rét thành Ba Lê

Một viên gạch hồng, Bác chống lại cả một mùa băng giá

Và sương mù thành Luân Đôn, ngươi có nhớ

Giọt mồ hôi Người nhỏ giữa đêm khuya?

Đời bồi tàu lênh đênh theo sóng bể

Người đi hỏi khắp bóng cờ châu Mỹ, châu Phi

Những đất tự do, những trời nô lệ

Những đoạn đường cách mạng đang tìm đi

Đêm mơ nước, ngày thấy hình của nước

Cây cỏ trong giấc mơ xanh sắc biếc quê nhà

Ăn một miếng ngon cũng đắng lòng vì Tổ quốc

Chẳng yên lòng khi ngắm một nhành hoa

Ngày mai dân ta sẽ sống sao đây?

Sông Hồng chảy về đâu? Và lịch sử?

Lúc nào dải Trường Sơn bừng giấc ngủ

Cánh tay thần Phù Đổng sẽ vươn mây?

Rồi cờ sẽ ra sao? Tiếng hát sẽ ra sao?

Nụ cười sẽ ra sao?

Ơi, độc lập!

Xanh biết mấy là trời xanh Tổ quốc

Khi tự do về chói ở trên đầu

Kìa mặt trời Nga bừng chói ở phương Đông

Cây cay đắng đã ra mùa quả ngọt

Người cay đắng đã chia phần hạnh phúc

Sao vàng cất cánh theo liềm búa công nông

Luận cương đến Bác Hồ. Và Người đã khóc

Lệ Bác Hồ rơi trên chữ Lênin

Bốn hàng rào im nghe Bác lật từng trang sách gấp

Tưởng bên ngoài, quốc gia đợi mong tin

Bác reo lên một mình như nói cùng dân tộc

“Cơm áo là đây! Hạnh phúc đây rồi!”

Hình của Đảng lồng trong hình của Nước

Phút khóc trước hết là phút Bác Hồ cười

Bác thấy:

dân ta bưng dĩa cơm mồ hôi nước mắt

Ruộng theo trâu về lại với người cày

Mỏ thiếc, hầm than, rừng vàng, bể bạc

Không còn người bỏ xác bên đường ray

Giặc nước đuổi xong rồi. Trời xanh thành tiếng hát

Điện theo trăng vào phòng ngủ công nhân

Những kẻ quê mùa đã thành trí thức

U tối cần lao nay hoá những người hùng

Nước Việt Nam nghìn năm Đinh Lý Trần Lê

Thành nước Việt nhân dân trong mát suối

Mái rạ nghìn năm hồng thay sắc ngói

Những đời thường cũng có bóng hoa che

Ôi! Đường đến với Lênin là đường về Tổ quốc…

Tuyết Mat-xcơ-va sáng ấy lạnh trăm lần

Trong tuyết trắng như đọng nhiều nước mắt

Lênin mất rồi. Nhưng Bác chẳng dừng chân

Luận cương của Lênin theo Người về quê Việt

Biên giới còn xa. Nhưng Bác thấy đã tới rồi

Kìa, bóng Bác đang hôn lên hòn đất

Lắng nghe trong màu hồng, hình quốc gia phôi thai

3, Con Cò

Ι

Con còn bế trên tay

Con chưa biết con cò

Nhưng trong lời mẹ hát

Có cánh cò đang cất cánh:

“Con cò cất cánh la

Con cò cất cánh lả

Con cò Cổng Phủ

Con cò Đồng Đăng…”

Cò một mình, cò phải kiếm lấy ăn

Con có mẹ, con chơi rồi lại ngủ

“Con cò ăn đêm

Con cò xa tổ

Cò gặp cành mềm

Xem Thêm  25 mẫu thiệp chúc Tết đẹp, ý nghĩa và độc đáo nhất - làm thiệp chúc tết

Cò sợ xáo măng…”

Ngủ yên, ngủ yên, cò ơi, chớ sợ

Cành có mềm, mẹ đã sẵn tay nâng

Trong lời ru của mẹ thấm hơi xuân

Con chưa biết con cò con vạc

Con chưa biết những cành mềm mẹ hát

Sữa mẹ nhiều, con ngủ chẳng phân vân

Ngủ yên, ngủ yên, ngủ yên

Cho cò trắng đến làm quen

Cò đứng ở quanh nôi

Rồi cò vào trong tổ

Con ngủ yên thì cò cũng ngủ

Cánh của cò, hai đứa đắp chung đôi

Mai khôn lớn, con theo cò đi học

Cánh trắng cò cất cánh theo gót đôi chân

Lớn lên, lớn lên, lớn lên…

Con làm gì?

Con làm thi sĩ

Cánh cò trắng lại cất cánh hoài không nghỉ

Trước hiên nhà

Và trong hơi mát câu văn

III

Dù ở gần con

Dù ở xa con

Lên rừng xuống bể

Cò sẽ tìm con

Cò mãi yêu con

Con dù lớn vẫn là con của mẹ

Đi hết đời, lòng mẹ vẫn theo con

À ơi!

Một con cò thôi

Con cò mẹ hát

Cũng là cuộc sống

Vỗ cánh qua nôi

Ngủ đi, ngủ đi!

Cho cánh cò, cánh vạc

Cho cả sắc trời

Đến hát

Quanh nôi

4, Những Sợi Tơ Lòng

Tôi không muốn đất trời xoay chuyển nữa

Với tháng ngày biền biệt đuổi nhau trôi

Xuân đừng về! Hè đừng gieo ánh lửa!

Thu thôi sang! Ðông thôi lại não lòng tôi!

Quả đất chuyển giây lòng tôi rung động

Nỗi sầu tư nhuần thấm cõi Hư Vô!

Tháng ngày qua, gạch Chàm đua nhau rụng

Tháp Chàm đua nhau đổ dưới trăng mờ!

Lửa hè đến! Nỗi căm hờn vang dậy!

Gió thu sang thấu lạnh cả hồn thơ!

Chiều đông tàn, như mai xuân lộng lẫy

Chỉ nói thêm sầu khổ với ưu tư!

Tạo hoá hỡi! Hãy trả tôi về Chiêm quốc!

Hãy đem tôi xa lánh cõi tục gian!

Muôn cảnh đời chỉ làm tôi chướng mắt!

Muôn vui tươi nhắc mãi vẻ điêu tàn!

Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh

Một vì sao trơ trọi cuối trời xa!

Ðể nơi ấy tháng ngày tôi lẩn tránh

Những ưu tư, thống khổ với buồn lo!

5, Xuân

Tôi có chờ đâu, có đợi đâu

Ðem chi xuân lại gợi thêm sầu?

– Với tôi, toàn bộ như vô nghĩa

Toàn bộ không ngoài nghĩa khổ đau!

Ai đâu trở lại mùa thu trước

Nhặt lấy cho tôi những lá vàng?

Với của hoa tươi, muôn cánh rã

Về đây, đem chắn nẻo xuân sang!

Ai biết hồn tôi say mộng ảo

Ý thu góp lại cản tình xuân?

Có một người nghèo không biết Tết

Mang lì chiếc áo độ thu tàn!

Có đứa trẻ thơ không biết khóc

Vô tình bỗng nổi tiếng cười ran!

Chao ôi! Mong nhớ! Ôi mong nhớ!

Một cánh chim thu lạc cuối ngàn

6, …Cái Vui Bây Giờ

Nắng đem chia mùa mới xuống trăm nhà

Đã tắt tiếng than cuộc sống gió thổi

Mẹ ru con bằng bài ca bộ đội

Đời quá vui nên áo vải cũng cài hoa

7, Cái Sọ Người

Này chiếc sọ người kia, mi hỡi!

Dưới làn xương mỏng mảnh của đầu mi

Mi nhớ gì, tưởng gì trong đêm tối?

Mi trông mong ước ao những điều chi?

Mi nhớ đến cảnh pháp trường rùng rợn

Sọ muôn người lần lượt đuổi nhau rơi?

Hay mi nhớ những đêm mờ rùng rợn

Hồn mi cất cánh trong đốm lửa ma trơi?

Có tìm chăng, những chiều không tiếng gió

Của người mi thi thể rữa tan rồi?

Có tưởng lại mảnh hồn mi thống khổ

Đang lạc loài trong Cõi Chết xa xôi?

Hỡi chiếc sọ, ta vô cùng rồ dại

Muốn riết mi trong sức mạnh tay ta!

Để những giọt máu đào còn đọng lại

Theo hồn ta, tuôn chảy những lời thơ

Ta muốn cắn mi ra từng mảnh nhỏ!

Muốn điên cuồng nuốt cả khối xương khô!

Để nếm lại cả một thời xưa cũ

Cả một dòng năm tháng đã trôi xa!

8, Tình Ca Ban Mai

Em đi, như chiều đi

Gọi chim vườn cất cánh hết

Em về, tựa mai về

Rừng non xanh lộc biếc

Em ở, trời trưa ở

Nắng sáng màu xanh che

Tình em như sao khuya

Rải hạt vàng chi chít

Sợ gì chim cất cánh đi

Mang bóng chiều cất cánh hết

Tình ta như lộc biếc

Gọi sớm mai lại về

Dù nắng trưa không ở

Ta vẫn còn sao khuya

Hạnh phúc trên đầu ta

Mọc sao vàng chi chít

Mai, hoa em lại về…

9, Vòng Cườm Trên Cổ Chim Cu

Con cu cườm vẫn đeo vòng cườm muôn thuở

Triệu tấn bom không thể nào làm xổ

Một hạt cườm trên cổ chim tơ

Mùa xuân thật ngạc nhiên

Tiếng chim sau pháo cụm pháo đàn cấp tập

Rừng cháy đen vẫn cành ra lộc

Chỗ cành xanh là chỗ chim gù.

Hồn quốc gia bâng khuâng theo tiếng chim dân dã

Như chửa nghe khi nào. Mà như đã

Nghe rồi. Tự đâu thời xa xửa xa xưa

Tự sông Thương đôi dòng, Vọng phu hoá đá

Tiếng chim như tự buổi bình Ngô, tự thuở Hai Bà

Tiếng chim như tình ái, như thơ

Ở xứ nghìn năm chiến tranh, vạn ngày trận mạc

Để yên lòng người thì con chim hát

Cho kẻ ra đi, cho kẻ đợi chờ

Bom đạn ngất trời thì đã sao đâu?

Trăm hạt cườm trên cổ chim không thiếu hạt cườm nào.

Chim cu gáy sự vật tuần hoàn theo quy luật,

Chim cu gáy thì xanh rờn cỏ mọc

Đỏ trái chín cành cao cành thấp

Thì anh lại yêu em như buổi ban đầu.

Ngày thắng trận trở về vẫn chim cu ấy gáy

Vòng cườm qua nghìn cơn lửa cháy

Tiếng gáy tưởng chừng như đã, như chưa

Như của năm nào, như của hiện thời.

10, Đêm Tàn

Ta cùng Nàng nhìn nhau không tiếng nói

Sợ lời than lay đổ cả đêm sâu

Đôi hơi thở tìm nhau trong bóng tối

Đôi linh hồn đắm chìm bể ᑗ Sầu

“- Chiêm nương ơi, cười lên đi, em hỡi!

Cho lòng anh quên một phút buồn lo!

Nhìn chi em chân trời xa vòi vọi

Nhớ chi em sầu hận nước Chàm ta?

Này, em trông một vì sao đang rụng

Hãy nghiêng mình mà tránh đi, nghe em!

Chắc có vẻ linh hồn ta lay động

Khi vội vàng trở lại nước non Chiêm”

Lời chưa dứt, bóng đêm đà vụt biến!

Tình chưa nồng, đã sắp phải phôi pha!

Trên trần gian vầng ô kia đã tới

Gỡ hồn Nàng ra khỏi mảnh hồn ta!

11, Đêm Xuân Sầu

Trời xuân vắng. Cỏ cây rên xào xạc

Bóng đêm luôn hốt hoảng mãi không thôi

Gió xuân lạnh, ngàn sâu thôi ca hát

Trăng xuân sầu, sao héo, cũng thôi cười

Trên đồi lạnh, tháp Chàm sao ủ rũ

Hay hận xưa muôn thuở vẫn chưa nguôi?

Hay lãnh đạm, Hời không về tháp cũ

Hay xuân sang. Chiêm nữ chẳng vui cười?

Bên tháp vắng, còn người thi si hỡi

Sao không lên tiếng hát đi, người ơi?

Mà buồn bã, buồn bã trong đêm tối

Người vẫn nằm há miệng đớp sao rơi?

12, Điệu Nhạc Điên Cuồng

Hầu ran nóng, lửa hồng bừng cháy mắt

Máu hồng tươi lay vỡ cả thành tim

Ðâu điệu nhạc điên cuồng ta khao khát

Chẳng vang lên tràn ngập suối träng êm?

Ðem mau đây, chiếc sọ dừa ứ huyết

Chiếc xương khô rợn trắng khí tinh anh!

Và rót mau trong hồn ta tê liệt

Những nguồn mơ rồ dại, hỡi yêu tinh!

Ta sẽ nhịp khớp xương lên đỉnh sọ

Ta sẽ ca những giọng của Hồn Ðiên

Ðể máu cạn, hồn tàn, tim tan vỡ

Ðể trôi đi ngày tháng nặng ưu tư!

Ðể hưởng lấy một giờ không tục lụy

Ðể uống vào một phút chết say sưa!

– Nhạc trần gian khôn vui hồn quạnh quẽ

Rượu trần gian gây nhớ vết thương xưa

13, Mồ Không

Và xương khô, và sọ dừa, và thịt nát

Và hơi âm rờn rợn của yêu tinh

Loài người đã mang đi qua mộ khác

Để lòng ta trống trải khí thiêng linh

Thôi vắng bặt từ nay bao giây phút

Mà tiếng cười rùng rợn dậy vang mồ!

Mà hơi khóc rung dài giây gió lướt

Mà thời gian náo động cõi Hư Vô!

Hồn ma ơi! Hồn ma ơi! có nhớ

Nơi mi hằng chôn gửi hận Trần Gian?

Nơi đã khô của mi bao máu đỏ

Bao tủy nồng, nào trắng với xương tàn?

Xem Thêm  Âm phủ của Việt Nam như thế nào? - nguwoif âm phủ

Mi có biết rồi đây trong những buổi

Mà sao sa rung chuyển đáy mồ không

Mà nắng chếch huyệt sâu um cỏ dại

Ta buồn thương, nhớ tiếc, với trông mong?

Hồn ma ơi! Trong những đêm u tối

Mi tung mây về chân trời vòi vọi

Hãy mau nghiêng cánh lại ở bên mồ

Phủ lòng ta say đắm chút hương mơ!

Lời của mồ không:

Ở đâu rồi, người nhớ mong yêu tưởng

Mà phách hồn vừa ôm ấp trong tay?

Quá xa xôi phút giây chứa chan mộng!

Vỡ tan rồi! cốc rượu ứa hơi say!

Nàng hỡi Nàng! trên tay ta là mộ trống

Trong lòng ta là huyệt bỏ, với trong hồn

Là mồ không lạnh lùng sương giá đọng

Toàn khổ đau, sầu não với lo buồn!

Hãy cho ta lúc vui trên tay khác

Một tí Thương an ủi tấm lòng đau

Như hồn ma, trong lúc về mộ khác

Còn đôi hồi dừng cánh viếng mồ sâu

14, Hoa Đào Nở Sớm

Rặng đào trước ngõ em qua

Sáng nay bỗng ướm cành hoa vào mùa

Đầy vườn lộc biếc cây tơ

Năm đi chưa hết, đã ngờ xuân đâu

Tự dưng một đóa hoa đầu

Nghe như đất lạ năm nào gặp em

Phải rằng xê xích thời gian

Vầng dương bên ấy mọc sang bên này?

Nắng hoe. Bướm trở mình cất cánh

Cánh non nở vội kịp ngày chào hoa

Lòng anh từ độ em qua

Hoa cất cánh bướm dạo, cùng ta vào đời

15, Ngủ Trong Sao

Ta để xiêm lên mây, rồi nhẹ bước

Xuống dòng Ngân loà chói ánh hào quang

Sao tán loạn đua bơi trên mặt nước

Tiếng lao xao dội thấu đến cung Hằng

Rồi trần truồng, ta nằm trên điện ngọc

Hai tay cuồng vơ níu áo muôn tiên

Đầu gối lên hàng Thất tinh vừa mọc

Hồn giạt trôi về đến nước non Chiêm

Ta gặp Nàng trên một vì sao nhỏ

Ta hôn Nàng trong bóng núi mây cao

Ta ôm Nàng trong những nguồn trăng đổ

Ta ghì Nàng trong những suối trăng xao

Nàng không nói, không cười, không than thở

Theo ta về sao Đẩu ở chân trời

Trên má ta lệ Nàng đâu bỗng nhỏ

Ôm má ta, Nàng sẽ bảo đôi lời

Tuy nhiên trăng! tuy nhiên sao! tuy nhiên gió!

Ồn ào lên, tán loạn chạy quanh ta

Phút hỗn độn qua rồi. Trời! Thống khổ!

Bóng Chiêm nương dần khuất dưới sương sa

Đêm ngày hôm nay ngồi đây trên bờ bể

Ta lặng đếm thử bao nhiêu thế kỷ

Đã trôi trong một phút vội vàng qua

Ta lắng nghe những toàn cầu bát ngát

Tụ họp lại trong lòng muôn hột cát

Dòng tư tưởng lần trôi trong Lầm Lạc

Hồn say sưa vào khắp cõi Trời Mơ

Ai kêu ta trong cùng thẳm Hư Vô?

Ai réo gọi trong muôn sao, chới với?

– Nàng, nàng, nàng, thôi chính nàng đương mong đợi

16, Gửi Kiều cho em năm đánh Mĩ

Hai trăm năm ngày kỉ niệm Nguyễn Du

Pháo sáng đốt tên nhà của Nguyễn

Em có yên tâm để đọc Truyện Kiều

Buổi trăng lửa chếch soi tiền tuyến?

Gió mùa thu xào xạc hoa lau

Anh qua nhà của Nguyễn chả dừng lâu

Nhớ đến Nguyễn: ngước nhìn Hồng Lĩnh vậy

Bến phà Vinh bom “cắt” hai đầu…

Có ngờ đâu cồn cát trắng cây xanh

Gặp Nguyễn nơi đây trên đất Quảng Bình

Đất hỏa tuyến những chàng trai lớp bảy

Lại ngâm Kiều sau một cuộc giao tranh.

Bốn phía ruộng đồng mái rạ bờ tre

Trận địa nằm man mác giữa hương quê…

Thơ dân tộc lẫn màu nâu dân dã

Nên câu Kiều đồng vọng, họ còn nghe.

Đêm thắng giặc Bảo Ninh, mẹ Suốt ngâm Kiều

Mẹ dám đâu quên cái thuở khổ nghèo

Nhà ai đó lẩy Kiều, câu được, mất

Mẹ nấp gốc dừa, nước mắt tràn theo

“Thuyền ai thấp thoáng”… Đất trời quê ta

Nhật Lệ sông dài, đò mẹ lại qua

Câu thơ Nguyễn cũng góp phần chống Mĩ

Một mái chèo trong lửa đạn xông pha.

Hai trăm năm… ờ nhỉ… hai trăm năm

Thuở vui buồn… Kiều sống giữa lòng dân

Xưa tiếng võng ru hời đêm lạnh giá

Nay cỏ mềm xanh nõn tận trời xuân.

Quốc gia mình còn nghèo lắm, hỡi em yêu

Cho đến giọt lệ cha ông cũng còn tồn tại ích với ta nhiều…

Dẫu súng đạn ngặng đường ra hỏa tuyến

Đi đường dài, em giữ Truyện Kiều theo.

17, Cành đào Nguyễn Huệ

Hẳn nhớ Thăng Long,hẳn nhớ đào?

Mai vàng xứ Huế có khuây đâu?

Đào phi theo ngựa về cung nhé!

Nở cạnh đài gương sắc chiến bào.

18,  Nhớ Em Nơi Huyện Nhỏ

em đi về Kiến Xương

mùa này mưa bão lắm

phòng anh mờ hơi sương

nhớ em nhu nhớ nắng

chiều nay ốm một mình

vắng em ngồi bên cạnh

ngọn gío đùa trêu anh

cửa khép rồi vẫn đánh

đường xa trăm cây số

ngỡ có em về đó

đắp chăn dày cho anh

và đứng nhìn anh ngủ

rồi lại đi Thái Bình

về Kiến Xương huyện nhỏ

để lại trời bên cửa

một màu xanh xanh xanh

(Hoa Ngày Thường-Chim Bào Bão)

Tiểu sử nhà thơ Chế Lan Viên

Chế Lan Viên tên thật là Phan Ngọc Hoan, sinh ngày 20 tháng 10 năm 1920 (tức ngày 9 tháng 9 năm Canh Thân) tại xã Cam An, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị.

Ông lớn lên và đi học ở Quy Nhơn, đỗ bằng Thành chung (THCS hay cấp II hiện tại) thì thôi học, đi dạy tư kiếm sống. Có thể xem Quy Nhơn, Bình Định là quê hương thứ hai của Chế Lan Viên, nơi đã để lại những dấu ấn sâu sắc trong tâm hồn của nhà thơ.

Ông khởi đầu làm thơ từ năm 12, 13 tuổi. Năm 17 tuổi, với bút danh Chế Lan Viên, ông xuất bản tập thơ đầu tay nhan đề Điêu tàn, có lời tựa đồng thời là lời tuyên ngôn văn nghệ của “Trường Thơ Loạn”. Từ đây, tên gọi Chế Lan Viên trở nên nổi tiếng trên thi đàn Việt Nam. Ông cùng với Hàn Mặc Tử, Yến Lan, Quách Tấn được người đương thời gọi là “Bàn thành tứ hữu” của Bình Định.

Năm 1939, ông ra học tại Hà Nội. Sau đó Chế Lan Viên vào Sài Gòn làm báo rồi ra Thanh Hóa dạy học. Năm 1942, ông phát hành tập văn Vàng sao, tập thơ triết luận về đời với màu sắc siêu hình, huyền bí.

Cách mạng tháng Tám nổ ra, ông tham gia trào lưu Việt Minh tại Quy Nhơn, rồi ra Huế tham gia Đoàn xây dựng cùng với Hoài Thanh, Lưu Trọng Lư, Đào Duy Anh. Thời kỳ này, Chế Lan Viên viết bài và làm chỉnh sửa cho các báo Quyết thắng, Cứu quốc, Kháng chiến. Phong thái thơ của ông thời kỳ này cũng chuyển dần về trường phái hiện thực. Tháng 7 năm 1949, trong chiến dịch Tà Cơn-đường 9 (Quảng Trị), Chế Lan Viên tham gia Đảng Cộng sản Đông Dương.

Năm 1954, Chế Lan Viên tập kết ra Bắc làm chỉnh sửa viên báo Văn học. Từ năm 1956 đến năm 1958, ông công tác ở phòng văn nghệ, Ban tuyên huấn trung ương và đến cuối năm 1958 trở lại làm chỉnh sửa tuần báo Văn học (sau là báo Văn nghệ). Từ năm 1963 ông là ủy viên thường vụ Hội nhà văn Việt Nam, ủy viên ban thư ký Hội nhà văn Việt Nam. Ông cũng là đại biểu Quốc hội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa các khóa IV, 𝒱 và VI, ủy viên Ban văn hóa – giáo dục của quốc hội.

Sau 1975, ông vào sống tại Tp Hồ Chí Minh. Ông mất ngày 19 tháng 6 năm 1989 (tức ngày 16 tháng 5 năm Kỷ Tỵ) tại Phòng khám Thống Nhất, tp Hồ Chí Minh, thọ 68 tuổi.

Ông được nhà nước Việt Nam truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học văn nghệ (1996).

Con gái ông, bà Phan Thị Vàng Anh, cũng là một nhà văn nổi tiếng.

Phong thái của Chế Lan Viên

Đoạn đường thơ của Chế Lan Viên “trải qua nhiều biến động, nhiều bước ngoặt với những trăn trở, tìm tòi không ngừng của nhà thơ”, thậm chí có một thời gian dài lặng im (1945-1958).

Trước Cách mạng tháng Tám, thơ Chế Lan Viên là một toàn cầu đúng nghĩa “trường thơ loạn”: “kinh dị, thần bí, bế tắc của thời Điêu tàn  với xương, máu, sọ người, với những cảnh đổ nát, với tháp Chàm”. Những tháp Chàm “điêu tàn” là một nguồn xúc cảm lớn đáng lưu ý của Chế Lan Viên. Qua những phế tích đổ nát và không kém phần kinh dị trong thơ Chế Lan Viên, ta thấy ẩn hiện hình bóng của một vương quốc hùng mạnh thời vàng son, cùng với nỗi niềm hoài cổ của nhà thơ.

Xem Thêm  15 món ngon với măng tây hấp dẫn, dễ làm - cách chế biến măng tây

Sau Cách mạng tháng Tám, thơ ông đã “đến với cuộc sống nhân dân và đất nước, thấm nhuần ánh sáng của cách mạng”, và có những thay đổi rõ rệt. Trong thời kì 1960-1975, thơ Chế Lan Viên vươn tới xu hướng sử thi hào hùng, chất chính luận, đậm tính thời sự. Sau năm 1975, “thơ Chế Lan Viên dần trở về đời sống thế sự và những trăn trở của cái “tôi” trong sự phức tạp, đa diện và vĩnh hằng của đời sống”.

Phong thái thơ Chế Lan Viên rất sắc nét và mới lạ. Thơ ông là sức mạnh trí tuệ được dấu hiệu trong xu hướng suy tưởng – triết lý. “chất suy tưởng triết lý mang vẻ đẹp trí tuệ và sự đa dạng, phong phú của hình ảnh thơ được sáng tạo bởi một ngòi bút thông minh, tài hoa” Khai thác triệt để các tương quan đối lập. Và nổi trội nhất là năng lực sáng tạo hình ảnh phong phú, mới lạ nhiều ý nghĩa biểu tượng.

Các bút danh của Chế Lan Viên

Ngoài bút danh Chế Lan Viên (được hiểu là tác giả tự nhận mình là bông hoa lan trong sân vườn nhà họ Chế- dòng tộc vua chúa của dân tộc Chăm ở nước Chiêm Thành xưa) nổi tiếng, trong bài giới thiệu tập tiểu luận Những bước đường tư tưởng của tôi của Xuân Diệu, đăng trên báo Văn học tháng 9 năm 1958, ông ký bút danh Thạch Hãn (tên một dòng sông tỉnh Quảng Trị quê ông). Nhiều bài báo in trên báo Thống Nhất, xuất bản ở Hà Nội trước tháng 5 năm 1975, ông cũng ký bằng bút danh này.

Từ năm 1959 đến năm 1963, trong thời gian làm chỉnh sửa báo Văn học, phụ trách thể loại Trò chuyện văn thơ, trả lời độc giả, ông ký bút danh Chàng Văn. Năm 1961, Nhà xuất bản Văn học đã cho xuất bản hai tập Vào nghề và Trò chuyện văn thơ của tác giả Chàng Văn.

Trong mục Nụ cười xuân trên báo Văn học, Chế Lan Viên có hai nội dung ngắn là Ngô bói Kiều và Lý luận Đờ Gôn ký tên Oah (tức Hoan).

Tác phẩm chính của Chế Lan Viên

Thơ

Điêu tàn (1937), 37 bài thơ

Gửi các anh (1954), 13 bài thơ

Ánh sáng và phù sa (1960), 70 bài thơ

Hoa ngày thường – Chim báo bão (1967), 49 bài thơ

Những bài thơ đánh giặc (1972)

Hội thoại mới (1973), 64 bài thơ

Ngày vĩ đại (1976)

Hoa trước lăng Người (1976), 12 bài thơ

Dải đất vùng trời (1976)

Hái theo mùa (1977), 75 bài thơ

Hoa trên đá Ι,II (1984 – 1988), 15 và 16 bài thơ

Tuyển tập thơ Chế Lan Viên (tập Ι, 1985 tập II, 1990)

Ta gửi cho mình (1986)

Di cảo thơ Ι, II, III (1992, 1993, 1995)

Tuyển tập thơ chọn lọc

Văn

Vàng sao (1942)

Thăm Trung Quốc (chữ ký, 1963)

Những ngày tức giận (chữ ký, 1966)

Bác về quê ta (tạp văn, 1972)

Giờ của đô thị (chữ ký, 1977)

Nàng tiên trên mặt đất (1985)

Tiểu luận phê bình

Kinh nghiệm tổ chức sáng tác (1952)

Trò chuyện thơ văn (1960)

Vào nghề (1962)

Phê bình văn học (1962)

Tư duy và comment (1971)

Cất cánh theo đường cất cánh dân tộc đang cất cánh (1976)

Nghĩ cạnh dòng thơ (1981)

Từ gác Khuê Văn tới quán Trung Tân (1981)

Ngoại vi thơ (1987)

Nàng và tôi (1992)

Thành Tựu của nhà thơ Chế Lan Viên

“‘Chế Lan Viên là nhà thơ luôn có sự tìm tòi, tìm tòi và sáng tạo. Ông luôn biết kế thừa, phát huy những tinh hoa của nền văn chương và nhân loại để mang lại cho tác phẩm của mình một vẻ đẹp riêng. Ông có sự nhận thức sâu sắc về tính năng của văn chương và sứ mệnh thiêng liêng của người nghệ sĩ so với cuộc sống.[cần dẫn nguồn]
“Thành tựu nghệ thuật Chế Lan Viên đã đạt được trong quá trình sáng tạo chính là những đóng góp lớn lao đối với sự phát triển của thơ ca Việt Nam nói riêng và văn chương Việt Nam nói chung.”

Trên đây là những thông tin liên quan đến nhà thơ Chế Lan Viên do review.edu.vn đã tổng hợp và chia sẻ đến các bạn. Trông mong rằng với những chia sẻ trên đây sẽ giúp bạn có thêm nhiều thông tin hơn về nhà thơ Chế Lan Viên bạn nhé!


Xem thêm những thông tin liên quan đến đề tài bút danh của chế lan viên

XUYÊN KHÔNG LÀM VỢ PHÚ ÔNG | Hai Anh Em Phần 388 | Phim Học Đường Hài Hước Hay Nhất Gãy Media

  • Tác giả: Gãy Media
  • Ngày đăng: 2022-05-14
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 2144 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: XUYÊN KHÔNG LÀM VỢ PHÚ ÔNG | Hai Anh Em Phần 388 | Phim Học Đường Hài Hước Hay Nhất Gãy Media
    ————————————
    ►Gãy Media là một kênh Youtube chuyên sản xuất Parody nhạc chế, Phim ngắn tình cảm, khôi hài… mang lại những giây phút tiêu khiển cho toàn bộ mọi người sau những giờ làm việc mệt mỏi.
    */// Nếu trong lúc xem phim có xuất hiện quảng cáo, hãy xem hoặc click quảng cáo để ủng hộ chúng tôi ///**
    ► Kịch bản và đạo diễn :
    – Yến Xôi : https://www.facebook.com/nguyenthiyen28
    ► Fanpage diễn viên :
    – Nhung Thị : https://www.facebook.com/nhunggaytv
    – Phương Thảo : https://www.facebook.com/nptgaytv
    – Hoàng Minh Hiếu : https://www.facebook.com/minhhieugaytv
    – Hồ Việt Hoàng : https://www.facebook.com/hoanggaytv/
    – Quốc Tuấn : https://www.facebook.com/quoctuangaytv
    ► Quay & dựng phim :
    – Trường Giang : https://www.facebook.com/nntgiang1
    – Ngọc Đại : https://www.facebook.com/NgocDaiGayTV
    – Hoàng Duy Phú : https://www.facebook.com/MuaLaBay888
    ————————————
    ➤ Đăng kí để xem nhiều hơn tại: Gãy TV, Gãy Media, Gãy School, Gãy Fan, Cơm Áo Gạo Tiền
    ❖ Công ty tư vấn du học cổ phần truyền thông 88 Entertainment
    • Viral Videos
    • Short Film
    • Music Videos
    • TVC
    • Infographic & Animation Videos
    ❖ Liên Hệ :
    • Fb : facebook.com/hieuyenanhlinh
    • Tin nhắn hộp thư online : gaymedia88@gmail.com
    ————————————
    © Bản quyền thuộc về Gãy Media & 88 Entertainment
    © Copyright by Gãy Media & 88 Entertainment ☞ Do not Reup”

Bút danh của chế lan viên

  • Tác giả: mojaocena.com
  • Nhận xét: 5 ⭐ ( 6897 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Trong làng thơ Việt Nam, người ta haу nhắᴄ đến một nhóm thơ ᴄủa Bình Định, Nhóm thơ ấу gồm bốn ᴄhàng trai ᴄòn rất trẻ, mỗi người mỗi ᴠẻ, thương nhau như anh em ruột thịt; quâу quần cùng nhau dưới ánh trăng ᴠàng ᴄhập ᴄhờn bóng tháp Chàm ᴄổ kính, liêu trai; ᴄùng nhau đọᴄ ѕáᴄh, ngâm thơ; ᴄùng ᴠui buồn ᴠới những ᴄuộᴄ dâu bể ᴠà ѕáng táᴄ những ᴠần thơ để lại ᴄho đời

Chế Lan Viên, “nhân sư” của thi đàn Việt Nam

  • Tác giả: www.qdnd.vn
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 7085 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: QĐND – Trong trào lưu Thơ mới (1932-1945), giữa một “rừng” thi nhân lãng mạn-cảm tính, thi sĩ có toàn cầu văn nghệ thơ triết luận, nhiều suy tưởng lý trí, nhiều trằn trọc trí não nhất là Chế Lan Viên (1920-1989).

Chuyện làng văn: Vì sao có bút danh Chế Lan Viên – Yến Lan?

  • Tác giả: www.giaoduc.edu.vn
  • Nhận xét: 5 ⭐ ( 1629 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Nhà thơ Chế Lan Viên tên thật là Phan Ngọc Hoan. Ông còn tồn tại một số bút danh khác, là Chàng Văn (như cách gọi Nàng Thơ), Thạch Hãn (tên một dòng sông trên quê hương Quảng Trị của nhà thơ).tc

Những bút danh của nhà thơ Chế Lan Viên

  • Tác giả: vnexpress.net
  • Nhận xét: 3 ⭐ ( 9087 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Chế Lan Viên tên thật là Phan Ngọc Hoan. Ông sinh ngày 14/1/1920 tại Đông Hà (Quảng Trị). Lấy bút danh họ Chế, nhà thơ đã nổi tiếng khi mới tròn tuổi 17 với tập thơ đầu tay “Điêu tàn”. – VnExpress

Nhà thơ Chế Lan Viên có mấy bút danh?

  • Tác giả: tienphong.vn
  • Nhận xét: 3 ⭐ ( 6871 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Chế Lan Viên tên thật là Phan Ngọc Hoan, ông sinh ngày 14/1/1920 tại Đông Hà (Quảng Trị). Ông lấy bút danh họ Chế, với bút danh này ông đã nổi tiếng ngay từ tuổi 17 với tập thơ “Điêu tàn”.

Tiểu sử Nhà thơ Chế Lan Viên

  • Tác giả: hubm.edu.vn
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 8682 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm:

Xem thêm các nội dung khác thuộc thể loại: Khám Phá Khoa Học

By ads_law