Bạn đang xem: hoạn quan lý thường kiệt

Đinh Ngọc Thu

Thái giám còn được gọi là thái giám (1), dùng để chỉ những người có thể là do bẩm sinh
hoặc tự nguyện chịu tĩnh thân (2) để làm công việc phục dịch vua chúa, hoàng hậu và các phi tần trong cung cấm ngày xưa. Thái giám thường bị người đời khinh khi một phần là do không còn khả năng có con để nối dõi tông đường. Hơn nữa, thái giám còn bị khinh rẻ là vì có nhiều người bất tài, chỉ vì ham tiền nong và danh vọng mà chịu tĩnh thân để làm hoạn quan mong kiếm địa vị hoặc tiền nong lo cho bản thân và gia đình. Không những thế, hoạn quan còn bị mang tiếng xấu vì ở trong cung họ thường kết bè kết đảng để có quyền hành và nhiều người đã sử dụng quyền hành đó mưu hại trung thần hoặc làm suy yếu hay làm sụp đổ cả một triều đại mà tất cả chúng ta có dịp xem qua trong sử sách.

Xưa nhất phải nói đến Triệu Cao, một thái giám được giữ chức thừa tướng dưới thời nhà
Tần và đã làm sụp đổ cả triều đại này. Triệu Cao đã giả di chiếu của Tần Thuỷ Hoàng, buộc con trưởng là Phù Tô phải tự sát để nhường ngôi cho con thứ là Hồ Hợi lên làm vua, tức hoàng đế Tần Nhị Thế, rồi Triệu Cao cướp ngôi nhà Tần dẫn theo việc nhà Tần rơi vào tay nhà Hán. Hay như dưới thời vua Hán Linh Đế (3) có loạn “Thập thường thị” (4), mười hoạn quan thao túng triều đình, làm tan rã nhà Hán và quyền hành rơi vào tay Đổng Trác, mở đường cho Tam Quốc phân tranh.

Trong lịch sử nước ta, không biết thái giám có từ lúc nào nhưng một trong những hoạn
quan được sử sách ghi lại dưới thời nhà Lý là Lý Thường Kiệt (5), vị tướng tài giỏi vị trí thứ nhất và là người hùng của dân tộc ta. Mặc dù có nhiều người phục cái tài của Lý Thường Kiệt, ngưỡng mộ những công trạng mà ông đã lập được cho quốc gia, nhưng cũng có không ít nho gia đã khinh khi ông chỉ vì ông là một thái giám. Để hiểu rằng Lý Thường Kiệt có đáng phải nhận thái độ khinh khi của các nho gia giành cho ông hay không, tất cả chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu xem nguyên nhân nào ông trở thành thái giám.

Bạn đang đọc: Vì sao Lý Thường Kiệt trở thành thái giám

Thân thế Lý Thường Kiệt

Lý Thường Kiệt tên thật là Ngô Tuấn, sinh năm 1019 vào thời vua Lý Thái Tổ và mất năm
1105 dưới thời vua Lý Nhân Tông (6). Khi còn trẻ ông rất đẹp trai và được phong “Đệ nhất mỹ nam tử” thời bấy giờ. Ông có tên tự là Thường Kiệt, sau được vua ban quốc tính đổi sang họ Lý nên có tên là Lý Thường Kiệt (7). Ông là con của Sùng Tiết tướng quân (8) Ngô An Ngữ (9), và bà Hàn Diệu Chi (10). Ngô An Ngữ là tướng của Khai Quốc vương Lý Long Bồ (11), người con trai thứ hai của vua Lý Thái Tổ.

Ngô An Ngữ có công với triều Lý và tuẫn quốc (12), chẳng bao lâu sau thì vợ ông, bà Hàn
Diệu Chi cũng tạ thế. Do cha mẹ mất sớm nên hai đứa con còn nhỏ của họ là Thường Kiệt và Thường Hiến được Lý Long Bồ nhận làm con nuôi. Đến đời vua Lý Thánh Tông (13), ông được vua nhận làm thiên tử nghĩa nam, tức con nuôi của vua. Ngoài ra, Lý Thường Kiệt đang là cháu gọi bà Ngô Thuần Trúc (14), bằng cô. Ngô Thuần Trúc là phu nhân của tướng Tạ Đức Sơn, người giữ chức Điện tiền Lãnh đạo sứ, thống lĩnh ngự lâm quân của triều đình. 

Ngoài ra, Lý Thường Kiệt còn tồn tại quan hệ họ hàng với bà Ngô Cẩm Thi (16), vợ của tướng
Tôn Đản (17).

Trong đời, ông đã từng giữ qua nhiều chức vụ trọng yếu. Trước tiên là chức Thái tử Mật thư tỉnh sự ( 18 ), giúp thái tử Lý Nhật Tôn ( 19 ) ở Đông cung, tức vua Lý Thánh Tông sau này. Sau thời điểm bị hoạn, ông được cho giữ chức Hoàng môn chi hậu ( 20 ), rồi được thăng đến chức Nội thị sảnh đô tri ( 21 ), sau được cho giữ chức Đình Uý sứ, trông coi những việc về hình án trong triều. Năm 1042, vua Lý Thái Tông giao cho ông cùng với một số ít đại thần soạn thảo bộ Luật “ Hình thư ”, bộ luật này được xem là bộ luật hình sự tiên phong của nước ta .

Đến đời vua Lý Thánh Tông, Lý Thường Kiệt được thăng đến chức Thái bảo (22), sau đó
do lập được nhiều chiến công trong trận đánh với Chiêm Thành nên ông được phong chức phụ quốc Thái phó (23), tước Khai Quốc công (24). Đến tháng 8 năm 1075 ông được
phong chức Đôn quốc Thái uý (25). Đến khi mất, ông được vua Lý Nhân Tông truy phong
chức Kiểm hiệu Thái uý Bình chương sự (26) và ban tước Việt Quốc công.

Các đại công Lý Thường Kiệt đã lập

Các đại công Lý Thường Kiệt đã lập phải nói đến trận đánh Tống kinh thiên động địa cuối
năm 1075. Trận đánh này do Lý Thường Kiệt tổng lãnh đạo (27) quân Đại Việt vượt biên giới phía bắc đánh các châu phía nam của nhà Tống như: Khâm, Liêm và Ung châu (28) nhằm phá huỷ đường xá, cầu cống, các kho lương thực và vũ khí mà Tống tích trữ để chuẩn bị đánh Đại Việt.

Đây là plan của Linh Nhân hoàng thái hậu Ỷ Lan khi thu được tin từ Khu Mật Viện Đại Việt ( 29 ) rằng Tống đang luyện binh và tích trữ lương thực sẵn sàng chuẩn bị mang quân tiến công nước ta theo plan nam tiến của Tể tướng nhà Tống là Vương An Thạch ( 30 ). Plan đánh Tống của bà Ỷ Lan đã được Lý Thường Kiệt và những tướng lúc bấy giờ ủng hộ. Theo plan này, Đại Việt phòng thủ bằng cách dữ thế chủ động tiến công trước, đánh phủ đầu quân Tống, phá kho lương thực, vũ khí, đường xá và cầu và cống nhằm mục đích ngăn cản cuộc xâm lăng của nhà Tống. Sau thời điểm hoàn thiện xong plan, hạ thành ở đầu cuối là thành Ung Châu, quân Đại Việt rút về nước ( 31 ) .
Dân gian có câu ca dao ca tụng việc Lý Thường Kiệt mang quân qua biên giới phía bắc đánh Tống trong trận này như sau :

Nực cười châu chấu đá xe
Tưởng rằng chấu ngã, ai dè xe nghiêng

Hoặc là :

Đem chuông đi đánh xứ người
Chẳng kêu cũng đánh vài hồi lấy danh

Thắng lợi này đã làm cho nhà Tống mất mặt đến mức vua Tống Thần Tông ( 32 ) đã phải nhượng bộ nước Hạ ở phía tây và tán thành cắt đất dâng cho nước Liêu ở phía bắc để rảnh tay ứng phó với Đại Việt. Năm 1076, nhà Tống đã mời gọi hàng loạt lực lượng quân lính ở phía bắc và phía tây tham gia vào trận chiến đánh trả thù, quyết tâm chiếm Đại Việt .

Trong trận này, hai tướng Quách Quỳ (33) và Triệu Tiết (34) cùng 12 tướng (35) đã từng
đánh trận ở Tây Hạ đem khoảng 30 vạn quân (36) tấn công Đại Việt. Nhưng với sự lãnh đạo tài giỏi của Lý Thường Kiệt, quân Tống đã bị đại bại ở trận chiến trên sông Như Nguyệt (37) và buộc phải rút quân. Trận thắng Tống lần này đã làm xáo trộn cả giang san nhà Tống và đã phá vỡ plan của Vương An Thạch (38).

Các lần cầm quân đánh quân Chiêm phải nói đến trận chiến năm 1069 ( 39 ), Lý Thường Kiệt bắt được vua Chiêm là Chế Củ và những tôn thất, sau đó Chế Củ xin dâng 3 châu Bố Chính ( 40 ), Địa Lý ( 41 ) và Ma Linh ( 42 ) để chuộc mạng. Tháng 10 năm 1103, mặc dầu tuổi cao nhưng Lý Thường Kiệt đã xin vua cho đi đánh Lý Giác ( 43 ) ở Diễn Châu nổi lên phản nghịch .

Năm 1104, ở tuổi 85 nhưng Lý Thường Kiệt vẫn còn cầm quân trực tiếp đi đánh Chiêm
Thành khi vua Chiêm là Chế Ma Na đem quân đánh lấy lại ba châu do Chế Củ đã dâng cho

Đại Việt để chuộc tội trước đó. Lý Thường Kiệt đã đánh thắng trận này, buộc Chế Ma Na
phải nộp lại vùng đất đó cho Đại Việt.

Vì sao Lý Thường Kiệt trở thành thái giám?

Nhiều thắc mắc đã được đưa ra rằng vì sao vị người hùng của dân tộc ta là một thái giám?
Thái giám thường không được trọng dụng trong những việc quốc sự và đánh giặc nhưng Lý Thường Kiệt được cầm quân đánh giặc và lập được nhiều đại công làm cho quân Tống phía Bắc, quân Chiêm phía Nam phải khiếp sợ. Điều này chứng tỏ Lý Thường Kiệt không giống như những thái giám khác. Vậy việc tĩnh thân của Lý Thường Kiệt có một nguyên nhân đặc biệt nào khác chăng? Hay ông là một thái giám bẩm sinh? Hoặc việc tĩnh thân của ông là một tai nạn hay chính ông là một nạn nhân?

1. Lý Thường Kiệt là một thái giám bẩm sinh?

Lý Thường Kiệt chắn chắn không phải là một thái giám bẩm sinh vì trước khi trở thành
thái giám ông đã có một mối tình với Dương Hồng Hạc, tức hoàng hậu Thượng Dương sau này. Dương Hồng Hạc là cháu của hoàng hậu Thiên Cảm (44), vợ vua Lý Thái Tông. nên hoàng hậu Thiên Cảm đã sắp xếp cho cháu bà là Hồng Hạc trở thành vợ của thái tử Lý Nhật Tôn, tức vua Lý Thánh Tông sau này.

Việc Dương Hồng Hạc trở thành vợ của thái tử Nhật Tôn có thể gây nguy hiểm cho Lý
Thường Kiệt nếu triều đình tìm tòi ra mối tình của ông với Hồng Hạc trước đó. Vì vậy, cha nuôi của ông là Lý Long Bồ đã sắp xếp cho Lý Thường Kiệt đính hôn với Tạ Thuần Khanh (45), là con gái của quan Điện suý Tạ Đức Sơn và bà Ngô Thuần Trúc. Trong lúc chờ đợi chính thức nên vợ nên chồng với Tạ Thuần Khanh thì Lý Thường Kiệt trở thành thái giám, do đó ông đã từ hôn với người vợ chưa cưới.

2. Lý Thường Kiệt tự hoạn vì tiền?

Có nhiều nguyên nhân được mang ra để giải thích việc Lý Thường Kiệt trở thành thái giám. Có
người tin rằng vì vua Lý Thái Tông thấy Lý Thường Kiệt “mặt mũi đẹp đẽ” nên cho 3 vạn
quan tiền bảo tự hoạn để vào cung phục dịch (46). Lập luận này không mấy có lý bởi vì, thứ
nhất số vốn 3 vạn quan là một số vốn rất lớn thời bấy giờ (47). Sử sách còn ghi lại rằng
năm 1254 vua Trần Thái Tông cho Phạm Ứng Mộng 400 quan bảo “tự hoạn” để vào cung
phục dịch vua (48). Không thể nào trước đó 213 năm (49), số vốn vua cho Lý Thường Kiệt lại lớn gấp 75 lần.

Xem Thêm  “Độc tâm thuật” - thuật đọc tâm

Thứ hai, Lý Thường Kiệt không thể vì túng tiền mà phải tự nguyện tĩnh thân để có 3 vạn
quan. Mặc dù cha mẹ mất sớm nhưng cha ông, Ngô An Ngữ là một công thần của nhà Lý
nên anh em Lý Thường Kiệt thừa hưởng gia sản của người cha để lại đủ để anh em ông
sống một cuộc sống không thua gì con cháu của các quan lại trong triều, do đó Lý Thường Kiệt không thể nào “túng thiếu” đến mức phải tĩnh thân vì nguyên nhân tiền nong.

3. Tự nguyện tĩnh thân để được vào cung?

Với cương vị là con của một công thần đã vì nước quyết tử và tổ ấm gia đình nối đời làm quan, Lý Thường Kiệt đã có sẵn cánh cửa lan rộng ra để “ tập ấm làm quan ” mà không cần phải qua thi tuyển giành cho những dân thường khác. Hơn nữa, ông đang là người tài trí mưu trí, văn võ song toàn thì việc vào cung không phải là chuyện khó ; chỉ cần tham gia một kỳ thi ứng thí võ thuật do triều đình mở ra, ông tuyệt đối có thể đậu và trở thành một võ quan một cách thuận tiện .

4. Lý Thường Kiệt bị vua phạt?

Có một thuyết nữa cho rằng: “vua Lý Thái Tông đánh Chiêm Thành bắt được Nùng Trí Cao
lại tha về, Lý Thường Kiệt can ngăn, vua nghĩ rằng thất lễ bắt phải tĩnh thân, sau đó triệu cho vào hầu cận” (50). Thứ nhất, Nùng Trí Cao (51) cai trị các khê động ở phía bắc giáp với Tống, trong lúc Chiêm Thành ở phía nam, nên vua Lý Thái Tông đánh Chiêm Thành không thể bắt được Nùng Trí Cao. Thứ hai, nếu cho rằng vua Lý Thái Tông vì lòng nhân từ mà tha cho một người “nổi lên làm giặc” như Nùng Trí Cao thì không lý nào vua lại trở nên “hung ác” đến độ “đem thiến” một người thân cận chỉ vì người đó can ngăn chuyện này.

5. Lý Thường Kiệt bị hại?

Có thuyết cho rằng Lý Thường Kiệt bị hại bằng cách cho đánh thuốc mê rồi hoạn ông trong đợt tuyển thái giám dưới thời vua Lý Thái Tông và trong thời hạn dài Lý Thường Kiệt không biết ai đứng đàng sau chuyện này. Lập luận này có lý hơn khi nhìn lại những chuyện “ thâm cung bí sử ” trong cung đình lúc bấy giờ .
Nếu không biết chuyện yêu đương trước kia của Lý Thường Kiệt với Dương Hồng Hạc cũng như chuyện lộng quyền của tổ ấm gia đình họ Dương so với triều Lý dẫn theo việc họ Dương làm gian tế cho Tống như vậy nào, tuyệt đối có thể toàn bộ tất cả chúng ta nghĩ rằng Lý Thường Kiệt trở thành thái giám là do những nguyên do kể trên. Để hiểu thêm chuyện cung đình lúc bấy giờ, xin nhắc vài vấn đề để toàn bộ tất cả chúng ta có thêm dữ kiện tương quan đến câu truyện của Lý Thường Kiệt .
Dương Hồng Hạc là hoàng hậu, vợ vua Lý Thánh Tông, sau này trở thành thái hậu Thượng Dương. Thái hậu Thượng Dương là người mà chính sử ghi rằng đã bị hoàng thái hậu Linh Nhân, tức bà Ỷ Lan chôn sống với 72 cung nữ sau khoảng thời gian vua Lý Thánh Tông chầu trời. Mặc dù chính sử ghi nguyên do của câu truyện này mập mờ lắm nhưng những nguồn tư liệu khác có nói việc chôn sống này là do thái hậu Thượng Dương cùng với 72 cung nữ là “ tay chân ” của bà và những người thân thuộc họ Dương đã làm gian tế cho Tống, được nhà Tống sắp xếp cướp ngôi khi vua Lý Thánh Tông mất ( 52 ) .

Dương Hồng Hạc là con của Dương Đức Uy và là cháu gọi hoàng hậu Thiên Cảm, vợ vua
Lý Thái Tông, bằng cô. Khi hoàng hậu Thiên Cảm được vua Lý Thái Tông sủng ái, cha của
bà là Dương Đức Thành được phong làm Tể Tướng. Từ đó thế lực họ Dương được hình
thành như: Dương Đạo Gia (53), Dương Đức Uy (54), Dương Đức Thao (55), Dương Đức
Huy (56)…ba thế hệ lần lượt nắm giữ các chức vụ trọng yếu trong triều.

Để tạo thêm thế lực cho họ Dương, hoàng hậu Thiên Cảm đã đem đứa cháu gọi bằng cô
ruột là Dương Hồng Hạc gả cho con chồng là thái tử Lý Nhật Tôn để khi Nhật Tôn lên làm vua thì Hồng Hạc trở thành hoàng hậu. Trước khi lấy Hồng Hạc, thái tử Nhật Tôn đã được cảnh giác về việc họ Dương lộng quyền có thể dẫn theo cướp ngôi vua như Vương Mãng cướp ngôi nhà Hán, vì vậy Nhật Tôn không muốn thân thiện với Hồng Hạc vì lo sợ nếu có con sẽ trúng kế họ Dương.

Mặc dù làm vợ thái tử nhưng Dương Hồng Hạc không hề được chồng đoái hoài tới nên
Hồng Hạc nhớ tới người tình cũ – Lý Thường Kiệt, người đang giữ chức Thái tử Mật thư tỉnh sự, giúp thái tử Nhật Tôn ở Đông cung. Mặc dù giữa Thường Kiệt với Nhật Tôn bên ngoài là quan hệ chúa – tôi nhưng bên trong hai người rất thân thiện và thân với nhau vì hai người đều là con nuôi của Lý Long Bồ, cùng đùa giỡn với nhau từ thời thơ ấu. Vì vậy, Dương Hồng Hạc đã nhờ Thường Kiệt giúp mình nói với Nhật Tôn để được “ban hồng ân”.

Có vẻ vì lo cho hậu vận nhà Lý nên Thường Kiệt đã không nhận lời trợ giúp Hồng Hạc. Phải chăng vì nguyên nhân này mà ông đã bị Hồng Hạc và hoàng hậu Thiên Cảm ra tay bức hại trong một đợt tĩnh thân tuyển thái giám vào cung ? Hậu quả của việc này cũng lý giải phần nào nguyên do vì sao Lý Thường Kiệt đã đứng về phe của bà Ỷ Lan chứ không phải là phe của hoàng hậu Thượng Dương trong việc tranh giành quyền “ nhiếp chính ” sau khoảng thời gian vua Lý Thánh Tông mất .
Riêng về cuộc sống của Dương Hồng Hạc, sau khoảng thời gian thái tử Nhật Tôn lên ngôi tức vua Lý Thánh Tông, hoàng hậu Thiên Cảm lúc đó trở thành thái hậu và đã ép vua Lý Thánh Tông phong Hồng Hạc làm hoàng hậu, tức hoàng hậu Thượng Dương. Nhưng từ khi được tiến cung đến khi trở thành hoàng hậu cho tới khi vua Lý Thánh Tông mất, Dương Hồng Hạc hay hoàng hậu Thượng Dương sau này chưa một lần được vua “ ban ân sủng ”. Bà đã sống bí mật lặng lẽ trong cung với mối hận nhà Lý không nguôi nên đã cùng với bác là Tể tướng Dương Đạo Gia và tay chân họ Dương thủ đoạn cướp ngôi nhà Lý khi vua Lý Thánh Tông mất. Vì vậy mới có câu truyện thái hậu Thượng Dương cùng 72 cung nữ bị giam và bị chôn sống theo vua Lý Thánh Tông mà toàn bộ tất cả chúng ta đã biết qua sử sách .

Tâm ý của người viết:

Nội dung này chỉ muốn phân giải phần nào nguyên do trở thành thái giám của Lý Thường Kiệt, người mà mặc dầu đã lập được nhiều đại công nhưng vẫn bị những nho gia khinh khi .
Đứng trên phương diện nhìn về lịch sử dân tộc đã qua, mặc dầu Lý Thường Kiệt là thái giám với bất kể nguyên do nào khác, lòng tôn kính của hậu thế toàn bộ tất cả chúng ta so với ông phải dựa trên những công trạng ông đã góp phần cho quốc gia, trong đó chiến công hiển hách nhất là đánh Tống để giữ vững nền độc lập cho nước Đại Việt. Công trạng so với quốc gia mới là điểm chủ đạo xác lập ai là người hùng dân tộc địa phương, là người mà muôn dân phải luôn tôn kính và ghi nhớ .

17-10-2008
Đinh Ngọc Thu

Ghi chú:

( 1 ) Mặc dù thái giám và thái giám được dùng cùng một nghĩa nhưng trước đó thái giám không hẳn là thái giám mà thái giám dùng để chỉ những người phục dịch, phục dịch vua, không nhất thiết phải là người bị thiến. Cho đến thời Đông Hán mới có lệnh ban ra là thái giám phải là người đàn ông bị thiến. Đến đời nhà Minh, từ “ thái giám ” Open và người được giữ chức thái giám phải là thái giám. Từ đó, thái giám được dùng để chỉ thái giám .

(2)        Tĩnh thân: thường hay gọi là hoạn, thiến, yêm cát, cung hình, hủ hình, âm hình, tàm
thất…chỉ việc cắt bỏ một phần hoặc hoàn toàn thể phận sinh dục người nam hoặc làm cho người đó không còn khả năng quan hệ với phụ nữ nhưng không nhất thiết phải thiến hoặc cắt bỏ.

( 3 ) Hán Linh Đế : là vua thứ 12 thời Đông Hán, quản lý từ năm 168 – 189 .

(4)        Loạn “thập thường thị”: mười tên thái giám hợp nhau khuynh đảo triều chính:
Trương Nhượng, Triệu Trung, Phong Tư, Tào Tiết, Hầu Lãm, Kiển Thạc, Trình Khoáng, Hạ Huy, Quách Thắng.

(5)        Thái giám trước hết nhiều người nghĩ rằng Đỗ Thích, người được nghĩ rằng đã giết vua
Đinh Tiên Hoàng và con trai là Đinh Liễn. Nhưng chính sử ghi thái giám trước hết là Lý
Nhân Nghĩa, giúp thái tử Lý Đức Chính (tức Lý Phật Mã) dẹp loạn chư vương (Dực Thánh
vương, Đông Chinh vương, Vũ Đức vương) lên ngôi, tức vua Lý Thái Tông. Thái giám
được biết sau này là Lý Thường Kiệt.

(6)        Lý Nhân Tông: là con của vua Lý Thánh Tông và bà Ỷ Lan, có tên huý là Lý Càn
Đức, là vua thứ tư nhà Lý. 1. Lý Thái Tổ – Lý Công Uẩn, 2. Lý Thái Tông – Lý Phật Mã hay
Lý Đức Chính, 3. Lý Thánh Tông – Lý Nhật Tôn, 4. Lý Nhân Tông – Lý Càn Đức.

( 7 ) Có nguồn tin cho rằng Thường Kiệt được ban họ Lý vì công lao của cha ông so với triều Lý nên sau khoảng thời gian cha ông – Ngô An Ngữ – mất, ông được ban quốc tính đổi họ. Nhưng cũng có nguồn tin cho rằng ông được đổi sang họ Lý khi lập được đại công sau này .
( 8 ) Sùng Tiết tướng quân : tức Sùng ban Lang tướng .

Xem Thêm  Valentine là gì? Nguồn gốc và ý nghĩa ngày Valentine - valentine là gì

(9)        Ngô An Ngữ: là cháu đời thứ năm của Ngô Quyền. Ngô An Ngữ là con Ngô Ích Vệ,
cháu nội Ngô Xương Xí, cháu cố (chắt) Ngô Xương Ngập, chút của Ngô Quyền.

(10)        Hàn Diệu Chi: là bạn của Ngô Thuần Trúc, phu nhân của tướng Tạ Sơn.

Xem thêm: Cách sử dụng nước hoa hồng đúng cách và hiệu quả nhất

(11)        Lý Long Bồ: là con trai thứ hai của vua Lý Thái Tổ. Ông là em của công chúa An
Quốc (vợ tướng Đào Cam Mộc) và công chúa Bảo Hoà (vợ Thân Thừa Quý). Lý Long Bồ là
người có nhiều mưu lược và cũng chính là người đứng đằng sau lãnh đạo nhiều trận đánh
trong các cuộc đụng độ ở biên giới giữa ta với Tống. Vì sự hiểu nhầm giữa ông với triều đình (cho rằng ông phản nghịch) nên các công lao của ông không được chính sử ghi lại. Ông có hai con trai là hoàng tử Lý Hoằng Chân và Lý Chiêu Văn là những người hùng đã lãnh đạo trận đánh Tống năm 1075 và cả hai đã tử trận trong trận đánh Tống trên sông Kháo Túc (Nham Biền) sau đó.

(12)        GS Lê Văn Lan cho rằng: năm 1031 Ngô An Ngữ đi tuần ở Thanh Hoá và mất tại
đó. Nhưng theo các nguồn sử liệu khác thì Ngô An Ngữ chết năm 1028 trong trận triều đình dẹp loạn các chư vương, khi quân của chư vương đánh phá Trường Yên. Vì vậy, Ngô An Ngữ đã được vua ban hai câu đối như sau:
“Đã đem xương máu đền non nước,
Còn mãi trí não với gió trăng”
Sau thời điểm mất, vua chiếu công lao truy phong chức tước cho ông là Tả kim Ngô Thượng
Tướng quân, Đồng Trung thư Môn hạ Bình chương sự, Trường Yên Tiết độ sứ.

( 13 ) Lý Thánh Tông : có tên huý là Lý Nhật Tôn, là vua thứ ba triều Lý .
( 14 ) Ngô Thuần Trúc : là em gái của Ngô An Ngữ, cháu đời thứ năm của Ngô Quyền .

(15)        Tạ Đức Sơn: tức Điện Suý Tạ Sơn vì ông giữ chức Điện tiền lãnh đạo sứ, bảo vệ an
ninh hoàng cung.

(16)        Ngô Cẩm Thi: theo gia phả họ Ngô, bà là con của Ngô Quảng Thiên, tức Ngô
Xương Anh. Ngô Cẩm Thi là cháu đời thứ năm của Ngô Quyền, dòng Ngô Xương Văn. Lý
Thường Kiệt, tức Ngô Tuấn là cháu đời thứ sáu của Ngô Quyền, dòng Ngô Xương Ngập.

(17)        Tôn Đản: là tướng cùng với Lý Thường Kiệt lãnh đạo các trận vượt qua biên giới
đánh các châu của Tống nhằm ngăn chặn plan xâm lược quân Tống. Mặc dù có công
lớn với quốc gia nhưng cả đời ông chưa từng nhận chức tước hoặc bổng lộc của triều Lý.
Tôn Đản không phải là Nùng Tông Đán, người đứng đầu các châu mục bắc biên, như một
số sách lầm tưởng. Tôn Đản to hơn Nùng Tông Đán khoảng 40 tuổi và là con của Tôn
Trung Luận, còn Nùng Tông Đán là con của Nùng Tồn Thương. Nùng Tông Đán đã từng bỏ ta theo Tống.

(18)        Thái tử Mật thư tỉnh sự: tức là chức Mật thư Tỉnh sự thuộc phủ Thái tử (Đông
cung). Thường khi thái tử 13 tuổi được cho ra ở Đông cung để “tập làm vua”. Mỗi tháng
cũng thiết triều 3 lần nhưng không cùng ngày với vua. Chức Thái tử Mật thư Tỉnh sự là chức quan nửa võ nửa văn, ngang với chức Tham tri (thứ trưởng ngày nay). Người giữ chức vụ này luôn ở bên cạnh thái tử và có nhiệm vụ trình và đọc toàn bộ mọi tấu chương cho thái tử.
Khi thái tử ban lệnh ra thì người này có nhiệm vụ truyền lệnh và theo dõi xem lệnh đó có được thi hành không.

(19)        Lý Nhật Tôn: ông có tước Khai Hoàng vương, là vua Lý Thánh Tông sau này. Ông
là con của vua Lý Thái Tông và bà Triệu Liên Phương nhưng chính sử ghi mẹ ông là Linh
Cảm hoàng hậu – Mai Thị.

(20)        Hoàng môn chi hậu: là thái giám theo phục dịch vua. Ngoài ra, người giữ chức này
cùng với Hoàng môn Tổng quản phụ trách khám tuyển các phi tần nạp vào hoàng cung cho vua và các thân vương.

(21)        Nội thị sảnh đô tri: người giữ chức này phụ trách giám sát các công việc
mỗi ngày trong hoàng cung.

( 22 ) Thái bảo : là một chức quan trong hàng Tam sư : Thái sư, Thái phó, Thái bảo .

(23)        Thái phó: cao hơn chức Thái bảo một bậc, cũng là một chức quan trong hàng
Tam sư: Thái sư, Thái phó, Thái bảo.

( 24 ) Khai Quốc công : Khai Quốc là tước hiệu, công là tước công .

(25)        Thái uý: Chức quan đầu triều trong hàng tam công: Thái uý, Tư Đồ, Tư không.
Thái uý tương tự với chức Tổng tư lệnh quân đội ngày nay.

( 26 ) Tên không thiếu của chức này là “ Nhập nội Điện đô tri Kiểm hiệu Thái uý Bình chương quân quốc trọng sự ” .

(27)        Trận bắc phạt Tống năm 1075: tổng lãnh đạo là Lý Thường Kiệt cùng các tướng
Tôn Đản, Nguyễn Căn, Lý Kế Nguyên, Trung Thành vương Lý Hoằng Chân và Tín Nghĩa
vương Lý Chiêu Văn. Hoằng Chân và Chiêu Văn là cháu nội vua Lý Thái Tổ, hai ông là con của Lý Long Bồ.

(28)        Sử Việt ghi có ba châu là: Khâm, Liêm và Ung châu nhưng Tống sử ghi sáu châu:
Ung, Khâm, Liêm, Dung, Nghi và Bạch châu. Theo Việt Sử Kỷ Yếu thì sau khoảng thời gian hạ Ung Châu, Lý Thường Kiệt kéo quân lên Tân Châu. Viên quan coi châu này nghe tin quân ta kéo lên liền bỏ trốn.

( 29 ) Khu Mật Viện : tương tự với Hội đồng An ninh Quốc gia ngày này ở Nước Ta, gồm Bộ Công an, Cục Tác chiến, Cục Quân báo và Cục Phản gián .

(30)        Vương An Thạch: được xếp trong “Đường Tống Bát Đại Gia”, tức là tám nhà thi
hào lỗi lạc nhất đời Đường – Tống. Ngoài ra, ông đang là Tể tướng thời vua Tống Thần
Tông. Vương An Thạch đã mang ra Tân Pháp nhằm cải tiến tình hình kinh tế, chính trị, xã
hội Tống lúc bấy giờ. Trong Tân Pháp có nhiều điểm tiến bộ mà nhiều người cho rằng nếu
việc thực hiện thành công có thể Trung Hoa sẽ qua mặt cả châu Âu và châu Mỹ sau này.
Tiếc rằng do bị các quan trong triều chống đối Tân Pháp nên Vương An Thạch đã xui vua
Tống đánh Đại Việt để lấy lại uy tín nhưng sự thất bại ở Đại Việt đã làm cho ông mất chức Tể tướng và Tân Pháp cũng bị huỷ bỏ.

( 31 ) Quân Đại Việt khởi đầu rút quân ngày 23 tháng giêng năm Bính Thìn, tức 1-3-1076 .

(32)        Tống Thần Tông: tên là Triệu Húc, con của vua Tống Anh Tông – Triệu Thự.
Tống Thần Tông là vua thứ sáu nhà Tống: 1. Tống Thái Tổ – Triệu Khuông Dẫn, 2. Tống
Thái Tông – Triệu Khuông Nghĩa, 3. Tống Chân Tông – Triệu Hằng, 4.Tống Nhân Tông –
Triệu Trinh, 5. Tống Anh Tông – Triệu Thự, 6. Tống Thần Tông – Triệu Húc. Nhưng Triệu
Thự không phải là con ruột của vua Tống Nhân Tông. Triệu Thự là cháu cố của vua Tống
Thái Tông, vì vua Tống Nhân Tông không có con trai nên nhận ông làm con nuôi và
nhường ngôi cho ông.

(33)        Quách Quỳ: dòng dõi Quách Quân Biện, người đã bị tóm gọn sống trong lần quân
Tống xâm lược nước ta năm 981 dưới thời vua Lê Đại Hành. Quách Quỳ từng giữ chức
Tuyên vũ sứ Quảng Nam (Quảng Đông và Quảng Tây ngày nay), sau được cử làm Kinh
lược chiêu thảo sứ, kiêm Nguyên soái, Tổng quản, Chánh sứ trong trận chiến chinh phạt
Đại Việt.

(34)        Triệu Tiết: từng giữ chức An phủ sứ Quảng Nam Tây Lộ, tức Quảng Tây, sau
được cử làm phó Nguyên soái, phó Tổng quản, cùng với Quách Quỳ sang đánh Đại Việt.

(35)        Tên của 12 tướng này là: Khúc Chẩn, Vương Mẫn, Diêu Tự, Lôi Tự Văn, Lý Hạo,
Dương Vạn, Trương Chi Giám, Lữ Chân, Trương Thế Cự, Lê Hiếu Tôn, Địch Tường, Quảng
Vi. Các tướng này đã qua kinh nghiệm trận mạc và có chức tước, đã chính thức giữ chức chỉ huy các đạo binh. Nhưng theo chính sử Việt thì chỉ có 9 tướng.

(36)        Chính sử Việt ghi chỉ có 10 vạn quân. Nhưng theo các nguồn sử liệu khác thì con
số này hơn 30 vạn. Theo nhật ký hành quân của Quách Quỳ và Triệu Tiết trong “Quách Thị Nam Chinh” và “Triệu Thị Chinh Tiễu Giao Chỉ Ký” thì tổng số quân sang đánh nước ta trong trận này là 96 vạn, được chia ra như sau: 30 vạn binh triều, 16 vạn binh các lộ, châu, 5 vạn kỵ binh, 5 vạn thuỷ binh, 40 vạn bảo binh (quân đi theo vận tải lương thảo, nấu ăn, tắm rửa cho ngựa. Khi cần phải có thể xung trận). Thiết nghĩ, con số phải là trên 10 vạn vì theo tài liệu thì số quân này từ biên giới phía bắc và phía tây được điều động về cùng với quân triều đình mang sang đánh nước ta. Nếu cần 10 vạn quân cũng có thể lấy thiên tử binh của triều đình, không cần phải điều động quân thêm từ các chiến trường. Vả lại mục đích tiến quân lần này là để trả thù cho 10 vạn quân, dân bị chết trong trận vừa rồi và cũng để “làm cỏ” Đại Việt thì không thể mang chỉ có 10 vạn là đủ.

(37)        Sông Như Nguyệt: tức sông Cầu ngày nay. Lý Thường Kiệt đã cho quân lập ba
phòng tuyến chặn quân Tống trên sông này ở ba đoạn: Phú Lương, Kháo Túc (tức Nham
Biền) và Như Nguyệt. Sau thời điểm các nơi khác bị thất thủ thì phòng tuyến trên sông Như Nguyệt là nơi cuối cùng chặn giặc không cho tiến vào Thăng Long. Nơi đây đã xảy ra trận đánh kinh thiên động địa, hơn ½ số quân Tống bị giết, buộc Quách Quỳ phải lui binh.

(38)        Trong lúc giữa Tống và Liêu với Tây Hạ còn đang cầm cự, Vương An Thạch xin
vua Tống Thần Tông đem quân đánh Đại Việt. Khi Đại Việt thua thì các nước phía nam như: Đại Lý, Lão Qua, Chiêm Thành, Chân Lạp, Xiêm La sẽ thần phục nhà Tống, lúc đó Tống mang quân các nước này lên đánh dẹp Liêu và Tây Hạ đơn giản. Vua Tống nghe lời, cho luyện tập binh mã, tích trữ lương thực, xây dựng đường xá chuẩn bị đánh Đại Việt, đồng thời cấm không cho buôn bán qua lại giữa hai nước để nước ta không biết việc làm này. Tống lặng thầm chuẩn bị được 3 năm thì Đại Việt hiểu rằng và kéo quân qua đánh. Thất bại ở Đại Việt đã làm cho Vương An Thạch bị phe chống đối buộc vua Tống Thần Tông miễn nhiệm, năm 1076 An Thạch về quê sống ở Giang Ninh.

Xem Thêm  5 cách làm sợi bánh canh bột gạo, bột mì, bột xắt tại nhà “thơm ngon” - cách làm sợi bánh canh tại nhà

(39)        Trận đánh Chiêm 1069: có nhiều nguyên nhân quân ta đánh Chiêm trong trận
này nhưng nguyên nhân chính là do Tống xúi Chiêm tràn qua biên giới giết người Việt. Vì vậy, Đại Việt đánh Chiêm cũng với mục đích là dằn mặt Tống.

(40)        Bố Chính: nay là đất các huyện Quảng Trạch, Bố Trạch, Tuyên Hóa, tỉnh Quảng
Bình.

( 41 ) Địa Lý : sau thường hay gọi là châu Lâm Bình, nay là đất huyện Lệ Ninh, tỉnh Quảng Bình .

(42)        Ma Linh: sau còn được gọi là châu Minh Linh, nay là đất huyện Bến Hải, tỉnh
Quảng Trị.

(43)        Lý Giác: người học được tà thuật, tự xưng là tướng nhà trời nên nhiều người ở
Diễn Châu theo về. Nhân đó Lý Giác giữ Diễn Châu phản nghịch, chống lại triều đình. Sau thời điểm bị Lý Thường Kiệt đánh dẹp, Lý Giác qua Chiêm xúi vua Chế Ma Na đánh Đại Việt.

(44)        Hoàng hậu Thiên Cảm: tức Dương hậu. Bà là con của Tể tướng Dương Đức
Thành và là em của Dương Đức Uy, tức cô ruột của Dương Hồng Hạc. Dương hậu là người thiếp yêu của vua Lý Thái Tông, tháng 7-1035 bà được lập làm hoàng hậu.

( 45 ) Tạ Thuần Khanh : là em con của người cô của Lý Thường Kiệt .

(46)        Xin xem: “Hoạn quan”, Nguyễn Thị Chân Quỳnh: http://vietsciences.free.
fr/vietnam/vanhoa/phongtuc/hoanquan.htm

(47)        Vào thời điểm đó, mỗi quan tiền là 600 đồng, 30.000 quan bằng 18.000.000 đồng.
Giá một thùng gạo (10.75 kg) là 5 đồng, vậy 30.000 quan có thể mua được 3.600.000 thùng gạo, tức 38.700.000 kg gạo. Nếu 1 kg gạo nuôi 2 người lính trong một ngày, thì số gạo trên có thể nuôi 75.000 lính trong khoảng 3 năm, một số vốn rất lớn.

( 48 ) Phạm Ứng Mộng : xem Đại Việt Sử Ký Toàn Thư quyển 𝒱, phần Ι .

(49)        Nguồn tin này cho rằng Lý Thường Kiệt bị hoạn khi 23 tuổi, tính theo tuổi ta tức
năm 1041.

(50)        Xin xem: “Hoạn quan”, Nguyễn Thị Chân Quỳnh: http://vietsciences.free.
fr/vietnam/vanhoa/phongtuc/hoanquan.htm

( 51 ) Nùng Trí Cao : con của Nùng Tồn Phúc và bà 𝓐 Nùng. Nùng Trí Cao là thủ lĩnh những khê động ở biên giới phía bắc giáp Tống và đã nhiều lần nổi dậy chống Tống với sự trợ giúp của nhà Lý đứng đằng sau. Sau đó Nùng Trí Cao chiếm đất Tống lập nên nước Đại Nam, sống sót khoảng chừng ba năm .

(52)        Các nguồn sử liệu Tống có ghi lại việc này như sau: vua Tống cho người sang Đại
Việt với lời hứa sẽ phong cho Dương Đạo Gia làm Giao Chỉ Quận Vương nếu cướp được
ngôi nhà Lý. Nhà Tống muốn Dương Đạo Gia tổ chức binh biến cướp ngôi với lời hứa nếu
thất bại thì họ sẽ gửi quân Tống sang giúp. Họ Dương tin lời và đã tổ chức cướp ngôi ngay khi vua Lý Thánh Tông mất, mang hoàng hậu Thượng Dương lên làm thái hậu, nắm quyền trong triều. Ỷ Lan là mẹ vua Lý Nhân Tông chỉ được làm thái phi mặc dù bà rất tài giỏi, trước đây đã làm nhiếp chính khi vua Lý Thánh Tông cầm quân đi đánh Chiêm Thành. Nhờ có sự trợ giúp của Lý Thường Kiệt nên phe bà Ỷ Lan lật đổ được phe hoàng hậu Thượng Dương rồi lên nắm quyền nhiếp chính, bà Ỷ Lan được tôn lên làm hoàng thái hậu Linh Nhân. Sau khi thất bại, quân Tống đã không qua giúp họ Dương như lời hứa nên phe họ Dương đã bị
diệt.

(53)        Dương Đạo Gia: tức Dương Đức Minh. Ông giữ chức Tể tướng tiếp theo cha ông,
Dương Đức Thành. Dương Đạo Gia là bác của Dương Hồng Hạc.

(54)        Dương Đức Uy: tức Dương Đức Khai, là cha của Dương Hồng Hạc. Đức Uy giữ
chức Tham tri bộ Lại, tương đương nhiệm Thứ trưởng bộ Nội Vụ ngày nay.

( 55 ) Dương Đức Thao : Anh trai của Dương Hồng Hạc .

(56)        Dương Đức Huy: là con của Dương Đức Thao, cháu gọi Dương Hồng Hạc bằng
cô.

Tài liệu tham khảo:

–         “Battlefronts Real and Imagined: War, Border, and Identity in the Chinese Middle
Period”, edited by Don Ĵ. Wyatt. Phần “Shifting Frontier Alliances in the Breakdown of Sino- Vietnamese Relations on the Eve of the 1075 Border War”, của James 𝓐. Anderson.
–        “Chế độ hoạn quan ở Việt Nam có từ khi nào”? http://www.sggp.org.
vn/bandocdatcauhoi/2006/12/75072/
–        Danh nhân đất Việt: “Lý thường Kiệt”, của PTS Văn Khuê.
–        Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, quyển II và III: Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên
soạn thảo năm 1272 – 1697, do Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam dịch (1985 – 1992).
–        “Hà Nội ngàn năm” của GS Lê Văn Lan. Tạp chí Thăng Long, số 7-2002.
–         “Hoạn quan”, Nguyễn Thị Chân Quỳnh: http://vietsciences.free.
fr/vietnam/vanhoa/phongtuc/hoanquan.htm
–        Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục – chính biên, quyển II và quyển III, và
quyển VI, Quốc Sử Triều Nguyễn, biên soạn năm 1856-1881 và do Viện Sử Học dịch
năm1957-1960.
–        “Kinh đô Rồng”, “Một mất một còn” và “Thời vàng son” trong “Thăng Long ký”, của
Nguyễn Khắc Phục. Nhà Xuất Bản Thanh Niên, 2004.
–        “Lý Thường Kiệt: Lịch sử, ngoại giao và tôn giáo triều Lý”, của GS Hoàng Xuân Hãn.
–        “Lý Thường Kiệt” của Nguyễn Mộng Khôi.
–        “Một số trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử dân tộc”, phần: “Thắng lợi Như
Nguyệt” của các tác giả: Phan Huy Lê, Bùi Đăng Dũng, Phan Đại Doãn, Phan Thị Tâm và
Trần Bá Chí.
–        “Nam Quốc Sơn Hà” của GS Trần Đại Sĩ.
–        Nhật ký hành quân: “Quách Thị Nam Chinh” của Quách Quỳ và “Triệu Thị Chinh Tiễu
Giao Chỉ Ký” của Triệu Tiết, hai người là chánh và phó Nguyên soái của Tống trong cuộc
nam chinh đánh Đại Việt vào năm 1076.
–        “Nhị trình di thư”, của Trình Di & Trình Hạo, phần “Tống – Lý giao bang tập lục”.
–        “Những dấu tích Lý Thường Kiệt trên đất Hà Nội” của Vân Ngọc: http://www.suutap.
com/default.asp?id=858vàamp;muc=3
–        Nùng Trí Cao: “Người Choang, các dân tộc ít người vùng biên giới Việt – Hoa trong
triều đại nhà Tống”, của Jeffrey ₲. Barlow.
–        “Song-Lý War of 1075-77, detailed account of the conflict with Dai Viet”, Chiến tranh Tống – Lý năm 1075-1077, cụ thể dẫn tới cuộc khủng hoảng với Đại Việt. China History
Forum: http://www.chinahistoryforum.com/index.php?showtopic=26426
–         “The Rebellion of Nong Zhigao” (Sự nổi dậy của Nùng Trí Cao) by Jeffrey ₲. Barlow.
–        Việt Nam Sử Lược, phần IV. Trần Trọng Kim.
–        “Việt Sử Kỷ Yếu”, của Trần Xuân Sinh. Nhà Xuất Bản Hải Phòng, 2004.
–        Ngoài các nguồn tài liệu kể trên, nội dung này còn sử dụng nhiều nguồn tài liệu tranh luận trên các Diễn đàn Lịch sử, Diễn đàn Sử học, Diễn đàn Viện Việt học…

Nguồn bài đăng

Chia sẻ:

Thích bài này:

Thích

Xem thêm: Hướng dẫn cách khóa ứng dụng trên iPhone bằng mật khẩu

Đang tải …


Xem thêm những thông tin liên quan đến đề tài thái giám lý thường kiệt

3 Thái Giám Quyền Lực Tối Cao – Ai Cũng Phải Khiếp Sợ Trong Sử Việt | Đàm Đạo Lịch Sử | #7

  • Tác giả: Taca WHY
  • Ngày đăng: 2021-12-19
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 8383 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Subscribe Taca Why: http://bit.ly/3d1Bj0M

    Thái giám là những người đàn ông “tịnh thân” (cắt bỏ phòng ban sinh dục) để trở thành “người trung tính”, cả cuộc sống làm nô bộc phục dịch hoàng đế và gia đình của hoàng đế trong triều đình. Trong sử sách và dân gian, người ta còn gọi thái giám là thái giám, công công, nội quan, nội thần, nội giám. Nhiều người tư tưởng rằng thái giám chỉ là một chức vị nhỏ nhắn để phục dịch chốn hoàng cung, là hạ đẳng và bị xem thường. Tuy nhiên cũng có những nhân vật khác biệt… Trong thời kì phong kiến Việt Nam, lịch sử đã ghi nhận 3 vị thái giám tài năng và quyền lực vị trí thứ nhất của các triều đại. Trong số đó có cả người được phong là người hùng dân tộc tiêu biểu. Hãy cùng Taca điểm mặt chỉ tên họ là ai trong video ngày ngày hôm nay nhá!
    3 thái giám quyền lực, ai cũng phải kinh sợ trong lịch sử Việt.

Lý Thường Kiệt- Ngô Tuấn: Thái giám tài giỏi nổi danh sử Việt

  • Tác giả: vanhienplus.vn
  • Nhận xét: 5 ⭐ ( 6669 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm:

Tiết lộ về thái giám thời Lê – Nguyễn và chuyện bí mật danh tướng Lý Thường Kiệt

  • Tác giả: thanhnien.vn
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 3367 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Chuyện anh em danh tướng Lý Thường Kiệt tự thiến một phần thân thể nhằm thổ lộ lòng trung thành với vua, sau này nổi tiếng với nhiều chiến công hiển hách. Dù không là thái giám, nhưng qua ông nhiều chuyện về giới này được hé lộ…

Tìm hiểu danh tướng nhà Lý từng là thái giám

  • Tác giả: vnexpress.net
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 2045 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Lý Thường Kiệt là danh tướng nhà Lý, một trong 14 người hùng dân tộc tiêu biểu trong lịch sử Việt Nam. Hãy làm bài trắc nghiệm để tìm hiểu về vị tướng này. – VnExpress

Lý Thường Kiệt(1019

  • Tác giả: thuvienlichsu.com
  • Nhận xét: 5 ⭐ ( 8374 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Lý Thường Kiệt – Nhân vật lịch sử – Thư viện lịch sử Việt Nam.Tìm hiểu lịch sử và nguồn cội Việt Nam qua hình ảnh và video.

Lý Thường Kiệt(1019 – 1105)

  • Tác giả: cdspvinhlong.edu.vn
  • Nhận xét: 5 ⭐ ( 7049 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm:

Vì sao Lý Thường Kiệt trở thành thái giám

  • Tác giả: saigonmetromall.com.vn
  • Nhận xét: 5 ⭐ ( 5771 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Đinh Ngọc Thu

Xem thêm các nội dung khác thuộc thể loại: Khám Phá Khoa Học

By ads_law