Vũ khí Việt Nam trong chiến tranh hai cuộc kháng chiến.

Bạn đang xem : cttg 1

chiangshan

*
Nội dung: 3405


Không hy sinh, không thắng lợi

WWW

Thành viênBài viết: 3405Không hy sinh, không thắng lợi


Re: Vũ khí Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến.

« Trả lời # 190 vào lúc: 13 Tháng Tư, 2008, 08:10:28 chiều»

III. VŨ KHÍ BÌNH CHỦNG

1. Phào binh

α) Phào chống tăng 37mm loại M3 (Mỹ)

Cỡ nòng: 37mm; đạn cỡ: 37x233mm
Nặng: 414kg
Tầm bắn tối đa: 7000m
Vận tốc bắn: 25 phát / phút

Chống tăng 37mm loại M3 được phân tích phát triển từ năm 1937 và đi vào sản xuất hàng loạt từ 1940-1942, trang bị rộng rãi cho quân đội Mỹ trong CTTG 2 với nhiều phiên bản cho bộ binh hoặc gắn trên xe cơ giới.

Ở chiến trường Đông Dương, quân đội Pháp sử dụng nhiều pháo M3 do Mỹ trang bị. Một số được QĐNDVN thu và sử dụng lại.

ɓ) Phông chống tăng 37mm loại 94 (Nhật)

Cỡ nòng : 37mm
Nặng: 327kg
Tầm bắn: 2900m

Pháo chống tăng 37mm loại 94 được sản xuất hàng loạt và mang vào biên chế quân đội Nhật Bản năm 1936, sử dụng trong CTTG 2.

Năm 1945 QĐNDVN thu được một số pháo loại 94 từ các nhà cung cấp Nhật Bản trú tại Đông Dương và sử dụng lại.

¢) Pháo chống tăng 57mm QF 6 pounder / M1 (Anh)

Nòng cỡ: 57mm; đạn cỡ: 57x244mm
Nặng: 1140kg
Tầm bắn tối đa: 4600m

Pháo chống tăng 57mm QF 6 được thiết kế năm 1940, sản xuất hàng loạt năm 1941 để trang bị cho quân đội Anh trong CTTG 2 với nhiều phiên bản cho bộ binh và gắn trên xe cơ giới. Quân đội Mỹ cũng sử dụng rộng rãi loại pháo này với ký hiệu M1.

Ở Đông Dương, quân đội Pháp sử dụng một số pháo 57mm QF 6 do Mỹ trang bị. Một số được QĐNDVN thu và sử dụng lại.

α) Bộ pháo 37mm loại 1916 TRP (Pháp)

< br />
< br />
Nặng: 37mm
Nặng: 160kg
Tầm bắn tối đa: 2400m

Bộ binh bắn nhanh 37mm loại 1916 (M1916 TRP) do Pháp sản xuất, năm 1916 được mang vào cơ chế và được quân đội Pháp, Mỹ sử dụng trong CTTG 1.

Một số pháo M1916 được trang bị cho những người lính thuộc vị trí cư trú tại Đông Dương , sau năm 1945 được QĐNDVN thu và sử dụng lại.

ɓ) Bộ pháo 70mm kiểu 92 (Nhật)

< img alt = "" border = "0" src = "http://i33.photobucket.com/albums/d85/chiangshan/Vu%20khi%20KCCP/70mm_type92.jpg" />

Size nòng: 70mm
Nặng: 212kg
Tầm bắn: 2700m
Vận tốc bắn: 10 phát / phút

Bộ binh pháo 70mm loại 92 do Nhật chế tạo, được sản xuất hàng loạt và mang vào biên chế năm 1932, trang bị rộng rãi cho quân đội Nhật, sử dụng ng trong CT Trung – Nhật, CTTG 2. Pháo loại 92 cũng được quân đội TQ-QĐĐ và TQ-CS thu hồi sử dụng trong CT Trung – Nhật, nội chiến TQ, CT Triều Tiên …

QĐNDVN sử dụng nhiều loại pháo 92 do thu từ các nhà cung cấp Nhật trú tại Đông Dương năm 1945 hoặc do viện TQ-CS trợ giúp năm 1950. Pháo 92 còn được gọi là “sơn pháo 70 ly”.

Sau đây là thống kê về vũ khí binh chủng (pháo binh và phòng không) VN trong KCCP. Các bác đều biết là trong KCCP ta sử dụng rất nhiều cỡ pháo khác nhau, do nhiều quốc gia chế tạo. Tuy nhiên các tài liệu lại chỉ thống kê lại theo cỡ nòng và mẫu mã (sơn pháo, dã pháo, thủy pháo…) và ngay cả cách ghi mẫu mã thỉnh thoảng cũng không đúng đắn. Do đó thống kê này không tránh khỏi có nhiều sai sót, rất mong thu được sự phản hồi.Cỡ nòng: 37mm; cỡ đạn: 37x233mmNặng: 414kgTầm bắn tối đa: 7000mTốc độ bắn: 25 phát/phútPháo chống tăng 37mm kiểu M3 được phân tích phát triển từ năm 1937 và đi vào sản xuất hàng loạt từ 1940-1942, trang bị rộng rãi cho quân đội Mỹ trong CTTG 2 với nhiều phiên bản cho bộ binh hoặc gắn trên xe cơ giới.Ở chiến trường Đông Dương, quân đội Pháp sử dụng nhiều pháo M3 do Mỹ trang bị. Một số được QĐNDVN thu và sử dụng lại.Cỡ nòng: 37mmNặng: 327kgTầm bắn: 2900mPháo chống tăng 37mm kiểu 94 được sản xuất hàng loạt và mang vào biên chế quân đội Nhật năm 1936, sử dụng trong CTTG 2.Năm 1945 QĐNDVN thu được một số pháo kiểu 94 từ các nhà cung cấp Nhật đồn trú ở Đông Dương và sử dụng lại.Cỡ nòng: 57mm; cỡ đạn: 57x244mmNặng: 1140kgTầm bắn tối đa: 4600mPháo chống tăng 57mm QF 6 được thiết kế năm 1940, sản xuất hàng loạt năm 1941 để trang bị cho quân đội Anh trong CTTG 2 với nhiều phiên bản cho bộ binh và gắn trên xe cơ giới. Quân đội Mỹ cũng sử dụng rộng rãi loại pháo này với ký hiệu M1.Ở Đông Dương, quân đội Pháp sử dụng một số pháo 57mm QF 6 do Mỹ trang bị. Một số được QĐNDVN thu và sử dụng lại.Cỡ nòng: 37mmNặng: 160kgTầm bắn tối đa: 2400mBộ binh pháo bắn nhanh 37mm kiểu 1916 (M1916 TRP) do Pháp sản xuất, năm 1916 được mang vào biên chế và được quân đội Pháp, Mỹ sử dụng trong CTTG 1.Một số pháo M1916 được trang bị cho các nhà cung cấp lính thuộc địa đồn trú ở Đông Dương, sau 1945 bị QĐNDVN thu và sử dụng lại.Cỡ nòng: 70mmNặng: 212kgTầm bắn: 2700mTốc độ bắn: 10 phát/phútBộ binh pháo 70mm kiểu 92 do Nhật chế tạo, được sản xuất hàng loạt và mang vào biên chế năm 1932, trang bị rộng rãi cho quân đội Nhật, sử dụng trong CT Trung – Nhật, CTTG 2. Pháo kiểu 92 cũng được quân đội TQ-QDĐ và TQ-CS thu sử dụng lại trong CT Trung – Nhật, nội chiến TQ, CT Triều Tiên…QĐNDVN sử dụng nhiều pháo kiểu 92 do thu từ các nhà cung cấp Nhật đồn trú ở Đông Dương năm 1945 hoặc do TQ-CS viện trợ năm 1950. Pháo kiểu 92 còn được gọi là “sơn pháo 70 ly”.

« »


Logged

Dân ta phải biết sử ta
Cái gì không biết cần tra Gúc gồ


chiangshan

*
Nội dung: 3405


No sacrifice, no victory

WWW

Thành viênBài viết: 3405No sacrifice, no victory


Re: Vũ khí Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến.

« Trả lời #191 vào lúc: 13 Tháng Tư, 2008, 09:00:05 pm »

α) Sơn pháo 65mm kiểu 1906 (Pháp)

Cỡ nòng: 65mm
Nặng: 400kg
Tầm bắn: 6500m

Sơn pháo 65mm kiểu 1906 được mang vào biên chế quân đội Pháp từ 1906, được sử dụng trong CTTG 1 và CTTG 2. Một số được trang bị cho các nhà cung cấp lính thuộc địa đồn trú ở Đông Dương, sau 1945 bị QĐNDVN thu và sử dụng lại.

ɓ) Sơn pháo 75mm kiểu 1928 (Pháp)

Cỡ nòng: 75mm; cỡ đạn: 75x190mm
Nặng: 660kg
Tầm bắn tối đa: 9000m
Vận tốc bắn tối đa: 28 phát/phút

Sơn pháo 75mm kiểu 1928 được sản xuất và xuất khẩu từ 1908, được mang vào biên chế quân đội Pháp năm 1919, nâng cấp và mang ký hiệu M1928. Pháo M1928 được quân Pháp sử dụng trong CTTG 2 và tiếp tục dùng ở chiến trường Đông Dương. Một số được QĐNDVN thu và sử dụng lại.

¢) Sơn pháo 75mm kiểu 41 (Nhật)

Cỡ nòng: 75mm
Nặng: 540kg
Tầm bắn tối đa: 6300m

Sơn pháo 75mm kiểu 41 được sản xuất và mang vào biên chế quân đội Nhật năm 1908, được sử dụng rộng rãi trong CTTG 2. Pháo kiểu 41 cũng được quân TQ-QDĐ, TQ-CS sử dụng trong nội chiến TQ, CT Triều Tiên…

QĐNDVN sử dụng nhiều pháo kiểu 41, trang bị cho trung đoàn pháo binh 675, đại đoàn công pháo 351; có được nhờ thu của các nhà cung cấp Nhật đồn trú ở Đông Dương năm 1945 hoặc được TQ-CS viện trợ năm 1950.

{d}) Sơn pháo 94mm QF 3.7 Inch (Anh)

Cỡ nòng: 94mm
Nặng: 731kg
Tầm bắn tối đa: 5400m

Sơn pháo 94mm QF 3.7 Inch được sản xuất và mang vào biên chế quân đội Anh năm 1916, được sử dụng rộng rãi trong CTTG 1 và 2.

Ở chiến trường Đông Dương quân đội Pháp sử dụng pháo 94mm do Anh trang bị. Một số được QĐNDVN thu và sử dụng lại.

α) Dã pháo 75mm kiểu 38 (Nhật)

Cỡ nòng: 75mm
Nặng: 947-1100kg
Tầm bắn: 8000-11000m

Dã pháo 75mm kiểu 38 được sản xuất và mang vào biên chế năm 1905, nâng cấp năm 1926, trở thành 1 trong những kiểu pháo tiêu chuẩn của quân đội Nhật, sử dụng trong CTTG 2.

Sau 1945, QĐNDVN thu được một số pháo kiểu 38 từ các nhà cung cấp Nhật đồn trú ở Đông Dương và sử dụng lại.

ɓ) Dã pháo 75mm kiểu 1897 (Pháp)

Cỡ nòng: 75mm
Nặng: 1190kg
Tầm bắn: 11000m
Vận tốc bắn: 15 phát/phút

Dã pháo 75mm kiểu 1897 được thiết kế từ 1891-1896, sản xuất hàng loạt và mang vào biên chế quân đội Pháp từ 1897 với nhiều phiên bản, được quân Pháp và một số nước khác sử dụng trong CTTG 1 và 2.

Pháo M1897 tiếp tục được quân Pháp dùng ở chiến trường Đông Dương, nhiều khẩu đã bị QĐNDVN thu và sử dụng lại.

¢) Dã pháo 105mm kiểu 1936 Schneider (Pháp)

Cỡ nòng: 105mm
Nặng: 3920kg
Tầm bắn tối đa: 16000m

Dã pháo 105mm kiểu 1936 được mang vào biên chế quân đội Pháp năm 1936, sử dụng trong CTTG 2 và tiếp tục dùng trên chiến trường Đông Dương. QĐNDVN tịch thu một số pháo M1936 nhưng sử dụng hết sức hạn chế do thiếu đạn và thiếu phương tiện vận tải.

Xem Thêm  Xem 'Vang bóng một thời': Thiên lương - Sức mạnh cho cuộc sống - bong thoi

Cỡ nòng: 65mmNặng: 400kgTầm bắn: 6500mSơn pháo 65mm kiểu 1906 được mang vào biên chế quân đội Pháp từ 1906, được sử dụng trong CTTG 1 và CTTG 2. Một số được trang bị cho các nhà cung cấp lính thuộc địa đồn trú ở Đông Dương, sau 1945 bị QĐNDVN thu và sử dụng lại.Cỡ nòng: 75mm; cỡ đạn: 75x190mmNặng: 660kgTầm bắn tối đa: 9000mTốc độ bắn tối đa: 28 phát/phútSơn pháo 75mm kiểu 1928 được sản xuất và xuất khẩu từ 1908, được mang vào biên chế quân đội Pháp năm 1919, nâng cấp và mang ký hiệu M1928. Pháo M1928 được quân Pháp sử dụng trong CTTG 2 và tiếp tục dùng ở chiến trường Đông Dương. Một số được QĐNDVN thu và sử dụng lại.Cỡ nòng: 75mmNặng: 540kgTầm bắn tối đa: 6300mSơn pháo 75mm kiểu 41 được sản xuất và mang vào biên chế quân đội Nhật năm 1908, được sử dụng rộng rãi trong CTTG 2. Pháo kiểu 41 cũng được quân TQ-QDĐ, TQ-CS sử dụng trong nội chiến TQ, CT Triều Tiên…QĐNDVN sử dụng nhiều pháo kiểu 41, trang bị cho trung đoàn pháo binh 675, đại đoàn công pháo 351; có được nhờ thu của các nhà cung cấp Nhật đồn trú ở Đông Dương năm 1945 hoặc được TQ-CS viện trợ năm 1950.Cỡ nòng: 94mmNặng: 731kgTầm bắn tối đa: 5400mSơn pháo 94mm QF 3.7 Inch được sản xuất và mang vào biên chế quân đội Anh năm 1916, được sử dụng rộng rãi trong CTTG 1 và 2.Ở chiến trường Đông Dương quân đội Pháp sử dụng pháo 94mm do Anh trang bị. Một số được QĐNDVN thu và sử dụng lại.Cỡ nòng: 75mmNặng: 947-1100kgTầm bắn: 8000-11000mDã pháo 75mm kiểu 38 được sản xuất và mang vào biên chế năm 1905, nâng cấp năm 1926, trở thành 1 trong những kiểu pháo tiêu chuẩn của quân đội Nhật, sử dụng trong CTTG 2.Sau 1945, QĐNDVN thu được một số pháo kiểu 38 từ các nhà cung cấp Nhật đồn trú ở Đông Dương và sử dụng lại.Cỡ nòng: 75mmNặng: 1190kgTầm bắn: 11000mTốc độ bắn: 15 phát/phútDã pháo 75mm kiểu 1897 được thiết kế từ 1891-1896, sản xuất hàng loạt và mang vào biên chế quân đội Pháp từ 1897 với nhiều phiên bản, được quân Pháp và một số nước khác sử dụng trong CTTG 1 và 2.Pháo M1897 tiếp tục được quân Pháp dùng ở chiến trường Đông Dương, nhiều khẩu đã bị QĐNDVN thu và sử dụng lại.Cỡ nòng: 105mmNặng: 3920kgTầm bắn tối đa: 16000mDã pháo 105mm kiểu 1936 được mang vào biên chế quân đội Pháp năm 1936, sử dụng trong CTTG 2 và tiếp tục dùng trên chiến trường Đông Dương. QĐNDVN tịch thu một số pháo M1936 nhưng sử dụng hết sức hạn chế do thiếu đạn và thiếu phương tiện vận tải.

« »
Logged

Dân ta phải biết sử ta
Cái gì không biết cần tra Gúc gồ


chiangshan

*
Nội dung: 3405


No sacrifice, no victory

WWW

Thành viênBài viết: 3405No sacrifice, no victory


Re: Vũ khí Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến.

« Trả lời #192 vào lúc: 13 Tháng Tư, 2008, 10:14:21 pm »

α) Lựu pháo 87,6mm QF 25 pounder (Anh)

Cỡ nòng: 87,6mm
Nặng: 1800kg
Tầm bắn tối đa: 12000m

Lựu pháo 87,6mm QF 25 được sản xuất hàng loạt và trang bị cho quân đội Anh trong thập niên 30, được Anh và nhiều nước khác sử dụng rộng rãi trong CTTG 2, CT Triều Tiên….

Quân đội Pháp ở Đông Dương sử dụng pháo QF 25 do Anh trang bị, một số được QĐNDVN thu sử dụng lại và thường được gọi là “pháo 88 ly”.

ɓ) Lựu pháo 75mm kiểu M1/M116 (Mỹ)

Cỡ nòng: 75mm
Nặng: 653kg
Tầm bắn: 8800m

Lựu pháo 75mm M1 được sản xuất hàng loạt năm 1940 và mang vào biên chế quân đội Mỹ với nhiều phiên bản. Pháo M1 được Mỹ trang bị cho các nhà cung cấp sơn cước, không vận, thuỷ quân lục chiến… sử dụng rộng rãi trong CTTG 2, CT Triều Tiên.

QĐNDVN sử dụng một số pháo M1 (thường gọi thành “sơn pháo”) do thu của quân Pháp (được Mỹ trang bị) hoặc được TQ-CS viện trợ.

¢) Lựu pháo 105mm kiểu M2/M101 (Mỹ)

Cỡ nòng: 105mm; cỡ đạn: 105x372mm
Nặng: 2260kg
Tầm bắn: 11700m

Lựu pháo 105mm kiểu M2 được sản xuất hàng loạt năm 1941, trở thành lựu pháo tiêu chuẩn của quân đội Mỹ và nhiều quốc gia khác, sử dụng rộng rãi trong CTTG 2, CT Triều Tiên… Pháo M2 cũng là lựu pháo chính của quân đội Pháp ở chiến trường Đông Dương.

QĐNDVN thu được 4 khẩu pháo M2 trong chiến dịch Biên giới 1950 và Tây Bắc 1952, và được TQ-CS viện trợ 20 khẩu khác (QGP TQ thu từ TQ-QDĐ do Mỹ trang bị). Số pháo này được trang bị cho trung đoàn pháo binh nặng trước hết của QĐNDVN – trung đoàn 45, đại đoàn công pháo 351 thành lập năm 1953. Pháo M2 được QĐNDVN sử dụng lần đầu với quy mô hạn chế trong chiến dịch Hoà Bình 1952-1953, nhưng đáng kể nhất là trong chiến dịch Điện Biên Phủ 1954.

1.6. Pháo phản lực

Pháo phản lực 75mm Н-6 (TQ)

Cỡ nòng: 75mm x6

QĐNDVN được TQ-CS viện trợ 1 tiểu đoàn 12 dàn H6 năm 1954, nằm trong đại đoàn công pháo 351. Tiểu đoàn này đã tham gia trong đợt tiến công thứ 3 của chiến dịch Điện Biên Phủ 1954.

Năm 1945, QĐNDVN thu được một số pháo phòng thủ bờ biển (thường được gọi là “thuỷ pháo”) của các nhà cung cấp thuộc địa Pháp đồn trú ở Đông Dương. Đáng kể nhất có 3 khẩu pháo 138mm kiểu 1910 (?) ở pháo đài Cát Bà (Hải Phòng) đã được trung đội Ký Con sử dụng để đánh trả tàu chiến Pháp từ tháng 11/46 đến tháng 2/47 trước khi phải phá huỷ. Một số pháo cỡ nòng 75mm cũng được sử dụng lại trong đại chiến.

Cỡ nòng: 87,6mmNặng: 1800kgTầm bắn tối đa: 12000mLựu pháo 87,6mm QF 25 được sản xuất hàng loạt và trang bị cho quân đội Anh trong thập niên 30, được Anh và nhiều nước khác sử dụng rộng rãi trong CTTG 2, CT Triều Tiên….Quân đội Pháp ở Đông Dương sử dụng pháo QF 25 do Anh trang bị, một số được QĐNDVN thu sử dụng lại và thường được gọi là “pháo 88 ly”.Cỡ nòng: 75mmNặng: 653kgTầm bắn: 8800mLựu pháo 75mm M1 được sản xuất hàng loạt năm 1940 và mang vào biên chế quân đội Mỹ với nhiều phiên bản. Pháo M1 được Mỹ trang bị cho các nhà cung cấp sơn cước, không vận, thuỷ quân lục chiến… sử dụng rộng rãi trong CTTG 2, CT Triều Tiên.QĐNDVN sử dụng một số pháo M1 (thường gọi thành “sơn pháo”) do thu của quân Pháp (được Mỹ trang bị) hoặc được TQ-CS viện trợ.Cỡ nòng: 105mm; cỡ đạn: 105x372mmNặng: 2260kgTầm bắn: 11700mLựu pháo 105mm kiểu M2 được sản xuất hàng loạt năm 1941, trở thành lựu pháo tiêu chuẩn của quân đội Mỹ và nhiều quốc gia khác, sử dụng rộng rãi trong CTTG 2, CT Triều Tiên… Pháo M2 cũng là lựu pháo chính của quân đội Pháp ở chiến trường Đông Dương.QĐNDVN thu được 4 khẩu pháo M2 trong chiến dịch Biên giới 1950 và Tây Bắc 1952, và được TQ-CS viện trợ 20 khẩu khác (QGP TQ thu từ TQ-QDĐ do Mỹ trang bị). Số pháo này được trang bị cho trung đoàn pháo binh nặng trước hết của QĐNDVN – trung đoàn 45, đại đoàn công pháo 351 thành lập năm 1953. Pháo M2 được QĐNDVN sử dụng lần đầu với quy mô hạn chế trong chiến dịch Hoà Bình 1952-1953, nhưng đáng kể nhất là trong chiến dịch Điện Biên Phủ 1954.Cỡ nòng: 75mm x6QĐNDVN được TQ-CS viện trợ 1 tiểu đoàn 12 dàn H6 năm 1954, nằm trong đại đoàn công pháo 351. Tiểu đoàn này đã tham gia trong đợt tiến công thứ 3 của chiến dịch Điện Biên Phủ 1954.Năm 1945, QĐNDVN thu được một số pháo phòng thủ bờ biển (thường được gọi là “thuỷ pháo”) của các nhà cung cấp thuộc địa Pháp đồn trú ở Đông Dương. Đáng kể nhất có 3 khẩu pháo 138mm kiểu 1910 (?) ở pháo đài Cát Bà (Hải Phòng) đã được trung đội Ký Con sử dụng để đánh trả tàu chiến Pháp từ tháng 11/46 đến tháng 2/47 trước khi phải phá huỷ. Một số pháo cỡ nòng 75mm cũng được sử dụng lại trong đại chiến.

« »


Logged

Dân ta phải biết sử ta
Cái gì không biết cần tra Gúc gồ


chiangshan

*
Nội dung: 3405


No sacrifice, no victory

WWW

Thành viênBài viết: 3405No sacrifice, no victory


Re: Vũ khí Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến.

« Trả lời #193 vào lúc: 13 Tháng Tư, 2008, 11:03:19 pm »

α) Pháo cao xạ 20mm Oerlikon

Cỡ nòng: 20mm
Nặng: 480kg
Tầm bắn (cao): 2000m
Vận tốc bắn: 450 phát/phút

Pháo cao xạ Oerlikon 20mm do Reinhold Becker thiết kế trong thời gian CTTG 1, sau đó nhanh chóng được quân đội nhiều nước mang vào biên chế, được sử dụng rộng rãi với nhiều phiên bản cho bộ binh, gắn trên xe cơ giới và tàu thuyền.

QĐNDVN thu được một số pháo Oerlikon từ quân đội Pháp và sử dụng lại cả để chống mục tiêu mặt đất lẫn phòng không.

Xem Thêm  Bệnh kén bã đậu ở trẻ là gì? - ken bi

ɓ) Pháo cao xạ 20mm kiểu 98 (Nhật)

Cỡ nòng: 20mm
Nặng: 373kg
Tầm bắn: xa 5500m, cao 3500m
Vận tốc bắn: 120-300 phát/phút

Pháo cao xạ 20mm kiểu 98, dựa trên pháo Oerlikon, được sản xuất và mang vào biên chế quân đội Nhật năm 1938, sử dụng rộng rãi trong CTTG 2.

Năm 1945 QĐNDVN thu được một số pháo kiểu 98 từ các nhà cung cấp Nhật đồn trú ở Đông Dương và sử dụng lại cả để chống mục tiêu mặt đất lẫn phòng không.

¢) Pháo cao xạ 76,2mm kiểu 88 (Nhật)

Cỡ nòng: 76,2mm
Nặng: 2450kg
Tầm bắn: xa 13800m, cao 9100m

Pháo cao xạ 76,2mm kiểu 88 dựa trên pháo cao xạ Vickers của Anh, được mang vào biên chế quân đội Nhật từ 1927, được sử dụng trong CTTG 2. Pháo kiểu 88 thường được gọi là 75mm, mặc dù cỡ nòng thực tiễn là 76,2mm.

Năm 1945 QĐNDVN thu được một số pháo kiểu 98 từ các nhà cung cấp Nhật đồn trú ở Đông Dương và đã hoán cải thành pháo bắn mục tiêu mặt đất.

{d}) Pháo cao xạ 25mm Hotchkiss/kiểu 96 (Pháp/Nhật)

Cỡ nòng: 25mm; cỡ đạn: 25x163mm
Nặng: 850kg
Tầm bắn tối đa: xa 7500m, cao 2500m
Vận tốc bắn: 250-300 phát/phút

Pháo cao xạ Hotchkiss 25mm được chọn mang vào biên chế quân đội Pháp năm 1938 nhưng chỉ kịp sản xuất một số trước khi CTTG 2 nổ ra. Phiên bản do Nhật sản xuất mang tên kiểu 96 được trang bị năm 1936 và sử dụng rộng rãi trong CTTG 2 với nhiều phiên bản.

QĐNDVN thu được một số pháo Hotchkiss/kiểu 96 và sử dụng lại để chống mục tiêu mặt đất lẫn phòng không.

e) Pháo cao xạ 75mm (Pháp)

Có nhiều phiên bản pháo cao xạ cỡ nòng 75mm được quân đội Pháp sử dụng trước và trong CTTG 2 (kiểu 1897, 1913, 1917, 1933, 1936…). Một số được trang bị cho các nhà cung cấp lính thuộc địa đồn trú ở Đông Dương trước CTTG 2.

Năm 1945, QĐNDVN thu được nhiều khẩu pháo cao xạ 75mm của Pháp và đã hoán cải thành pháo bắn mục tiêu mặt đất. Trong số đó có số pháo trang bị cho đại đội pháo binh Thủ đô – nhà cung cấp pháo binh chính quy trước hết của QĐNDVN, thành lập tháng 6/46.

ƒ) Pháo cao xạ 40mm Bofors

Cỡ nòng: 40mm; cỡ đạn: 40x311mm
Nặng: 522kg
Tầm bắn tối đa: cao 7000m
Vận tốc bắn: 120 phát/phút

Pháo cao xạ 40mm Bofors do công ty tư vấn du học Bofors phát triển từ cuối thập niên 1920, được hầu như quân đội các nước Đồng minh sử dụng rộng rãi trong CTTG 2 với nhiều phiên bản cho cả bộ binh và hải quân.

QĐNDVN thu được một số pháo Bofors phiên bản gắn trên tàu hoả bọc thép hoặc trong đồn bốt của quân Pháp và sử dụng lại để chống mục tiêu mặt đất.

Cỡ nòng: 20mmNặng: 480kgTầm bắn (cao): 2000mTốc độ bắn: 450 phát/phútPháo cao xạ Oerlikon 20mm do Reinhold Becker thiết kế trong thời gian CTTG 1, sau đó nhanh chóng được quân đội nhiều nước mang vào biên chế, được sử dụng rộng rãi với nhiều phiên bản cho bộ binh, gắn trên xe cơ giới và tàu thuyền.QĐNDVN thu được một số pháo Oerlikon từ quân đội Pháp và sử dụng lại cả để chống mục tiêu mặt đất lẫn phòng không.Cỡ nòng: 20mmNặng: 373kgTầm bắn: xa 5500m, cao 3500mTốc độ bắn: 120-300 phát/phútPháo cao xạ 20mm kiểu 98, dựa trên pháo Oerlikon, được sản xuất và mang vào biên chế quân đội Nhật năm 1938, sử dụng rộng rãi trong CTTG 2.Năm 1945 QĐNDVN thu được một số pháo kiểu 98 từ các nhà cung cấp Nhật đồn trú ở Đông Dương và sử dụng lại cả để chống mục tiêu mặt đất lẫn phòng không.Cỡ nòng: 76,2mmNặng: 2450kgTầm bắn: xa 13800m, cao 9100mPháo cao xạ 76,2mm kiểu 88 dựa trên pháo cao xạ Vickers của Anh, được mang vào biên chế quân đội Nhật từ 1927, được sử dụng trong CTTG 2. Pháo kiểu 88 thường được gọi là 75mm, mặc dù cỡ nòng thực tiễn là 76,2mm.Năm 1945 QĐNDVN thu được một số pháo kiểu 98 từ các nhà cung cấp Nhật đồn trú ở Đông Dương và đã hoán cải thành pháo bắn mục tiêu mặt đất.Cỡ nòng: 25mm; cỡ đạn: 25x163mmNặng: 850kgTầm bắn tối đa: xa 7500m, cao 2500mTốc độ bắn: 250-300 phát/phútPháo cao xạ Hotchkiss 25mm được chọn mang vào biên chế quân đội Pháp năm 1938 nhưng chỉ kịp sản xuất một số trước khi CTTG 2 nổ ra. Phiên bản do Nhật sản xuất mang tên kiểu 96 được trang bị năm 1936 và sử dụng rộng rãi trong CTTG 2 với nhiều phiên bản.QĐNDVN thu được một số pháo Hotchkiss/kiểu 96 và sử dụng lại để chống mục tiêu mặt đất lẫn phòng không.Có nhiều phiên bản pháo cao xạ cỡ nòng 75mm được quân đội Pháp sử dụng trước và trong CTTG 2 (kiểu 1897, 1913, 1917, 1933, 1936…). Một số được trang bị cho các nhà cung cấp lính thuộc địa đồn trú ở Đông Dương trước CTTG 2.Năm 1945, QĐNDVN thu được nhiều khẩu pháo cao xạ 75mm của Pháp và đã hoán cải thành pháo bắn mục tiêu mặt đất. Trong số đó có số pháo trang bị cho đại đội pháo binh Thủ đô – nhà cung cấp pháo binh chính quy trước hết của QĐNDVN, thành lập tháng 6/46.Cỡ nòng: 40mm; cỡ đạn: 40x311mmNặng: 522kgTầm bắn tối đa: cao 7000mTốc độ bắn: 120 phát/phútPháo cao xạ 40mm Bofors do công ty tư vấn du học Bofors phát triển từ cuối thập niên 1920, được hầu như quân đội các nước Đồng minh sử dụng rộng rãi trong CTTG 2 với nhiều phiên bản cho cả bộ binh và hải quân.QĐNDVN thu được một số pháo Bofors phiên bản gắn trên tàu hoả bọc thép hoặc trong đồn bốt của quân Pháp và sử dụng lại để chống mục tiêu mặt đất.

« »


Logged

Dân ta phải biết sử ta
Cái gì không biết cần tra Gúc gồ


chiangshan

*
Nội dung: 3405


No sacrifice, no victory

WWW

Thành viênBài viết: 3405No sacrifice, no victory


Re: Vũ khí Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến.

« Trả lời #194 vào lúc: 13 Tháng Tư, 2008, 11:27:39 pm »

2. Phòng không

α) Pháo cao xạ 20mm Oerlikon

Cỡ nòng: 20mm
Nặng: 480kg
Tầm bắn (cao): 2000m
Vận tốc bắn: 450 phát/phút

Pháo cao xạ Oerlikon 20mm do Reinhold Becker thiết kế trong thời gian CTTG 1, sau đó nhanh chóng được quân đội nhiều nước mang vào biên chế, được sử dụng rộng rãi với nhiều phiên bản cho bộ binh, gắn trên xe cơ giới và tàu thuyền.

QĐNDVN thu được một số pháo Oerlikon từ quân đội Pháp và sử dụng lại cả để chống mục tiêu mặt đất lẫn phòng không.

ɓ) Pháo cao xạ 20mm kiểu 98 (Nhật)

Cỡ nòng: 20mm
Nặng: 373kg
Tầm bắn: xa 5500m, cao 3500m
Vận tốc bắn: 120-300 phát/phút

Pháo cao xạ 20mm kiểu 98, dựa trên pháo Oerlikon, được sản xuất và mang vào biên chế quân đội Nhật năm 1938, sử dụng rộng rãi trong CTTG 2.

Năm 1945 QĐNDVN thu được một số pháo kiểu 98 từ các nhà cung cấp Nhật đồn trú ở Đông Dương và sử dụng lại cả để chống mục tiêu mặt đất lẫn phòng không.

{d}) Pháo cao xạ 25mm Hotchkiss/kiểu 96 (Pháp/Nhật)

Cỡ nòng: 25mm; cỡ đạn: 25x163mm
Nặng: 850kg
Tầm bắn tối đa: xa 7500m, cao 2500m
Vận tốc bắn: 250-300 phát/phút

Pháo cao xạ Hotchkiss 25mm được chọn mang vào biên chế quân đội Pháp năm 1938 nhưng chỉ kịp sản xuất một số trước khi CTTG 2 nổ ra. Phiên bản do Nhật sản xuất mang tên kiểu 96 được trang bị năm 1936 và sử dụng rộng rãi trong CTTG 2 với nhiều phiên bản.

QĐNDVN thu được một số pháo Hotchkiss/kiểu 96 và sử dụng lại để chống mục tiêu mặt đất lẫn phòng không.

e) Đại liên DShK kiểu 1938 (LX)

Cỡ đạn : 12,7x109mm
Dài : 1625mm
Nặng : 34kg riêng súng
Băng đạn : 50 viên

Đại liên Degtyarov – Shpagin kiểu 1938 (DShK M1938) do Shpagin phát triển dựa trên mẫu đại liên DK của Degtyarov, được chấp thuận mang vào biên chế Hồng quân LX năm 1938. DShK được quân đội LX sử dụng rộng rãi trong CTTG 2 với nhiều phiên bản cho bộ binh, phòng không, gắn trên xe cơ giới, tàu thuyền….

Năm 1950, đại liên DShk phiên bản phòng không được TQ viện trợ cho VN và trở thành hoả lực phòng không chính trong các đại đoàn chủ lực và các tiểu đoàn phòng không độc lập QĐNDVN.

ƒ) Pháo cao xạ 37mm 61K kiểu 1939 (LX)

Cỡ nòng: 37mm
Nặng: 2100kg
Vận tốc bắn: 60 phát/phút

Pháo cao xạ 37mm 61K kiểu 1939 được LX phát triển dựa trên pháo 25mm Bofors kiểu 1933, được sản xuất hàng loạt và mang vào biên chế Hồng quân LX năm 1939, sử dụng rộng rãi trong CTTG 2. Pháo M1939 cũng được sử dụng bởi một số quân đội các nước CS.

Năm 1953 QĐNDVN được LX viện trợ qua đường TQ 6 tiểu đoàn pháo M1939, biên chế thành trung đoàn cao xạ pháo trước hết – trung đoàn 367, đại đoàn 351. Nhà cung cấp này tham chiến lần trước hết trong chiến dịch Điện Biên Phủ 1954.

Xem Thêm  10 máy quét vi-rút USB có khả năng khởi động hàng đầu để bạn thử [2022] - vi rút usb

————————-

Thống kê vũ khí VN trong KCCP đến đây là hết, phần súng ngắn sẽ được bổ sung vào mục VK cá nhân. Xin nhường lại cho bác Đoàn với thống kê vũ khí VN trong KCCM Grin

Cỡ nòng: 20mmNặng: 480kgTầm bắn (cao): 2000mTốc độ bắn: 450 phát/phútPháo cao xạ Oerlikon 20mm do Reinhold Becker thiết kế trong thời gian CTTG 1, sau đó nhanh chóng được quân đội nhiều nước mang vào biên chế, được sử dụng rộng rãi với nhiều phiên bản cho bộ binh, gắn trên xe cơ giới và tàu thuyền.QĐNDVN thu được một số pháo Oerlikon từ quân đội Pháp và sử dụng lại cả để chống mục tiêu mặt đất lẫn phòng không.Cỡ nòng: 20mmNặng: 373kgTầm bắn: xa 5500m, cao 3500mTốc độ bắn: 120-300 phát/phútPháo cao xạ 20mm kiểu 98, dựa trên pháo Oerlikon, được sản xuất và mang vào biên chế quân đội Nhật năm 1938, sử dụng rộng rãi trong CTTG 2.Năm 1945 QĐNDVN thu được một số pháo kiểu 98 từ các nhà cung cấp Nhật đồn trú ở Đông Dương và sử dụng lại cả để chống mục tiêu mặt đất lẫn phòng không.Cỡ nòng: 25mm; cỡ đạn: 25x163mmNặng: 850kgTầm bắn tối đa: xa 7500m, cao 2500mTốc độ bắn: 250-300 phát/phútPháo cao xạ Hotchkiss 25mm được chọn mang vào biên chế quân đội Pháp năm 1938 nhưng chỉ kịp sản xuất một số trước khi CTTG 2 nổ ra. Phiên bản do Nhật sản xuất mang tên kiểu 96 được trang bị năm 1936 và sử dụng rộng rãi trong CTTG 2 với nhiều phiên bản.QĐNDVN thu được một số pháo Hotchkiss/kiểu 96 và sử dụng lại để chống mục tiêu mặt đất lẫn phòng không.Cỡ đạn : 12,7x109mmDài : 1625mmNặng : 34kg riêng súngBăng đạn : 50 viênĐại liên Degtyarov – Shpagin kiểu 1938 (DShK M1938) do Shpagin phát triển dựa trên mẫu đại liên DK của Degtyarov, được chấp thuận mang vào biên chế Hồng quân LX năm 1938. DShK được quân đội LX sử dụng rộng rãi trong CTTG 2 với nhiều phiên bản cho bộ binh, phòng không, gắn trên xe cơ giới, tàu thuyền….Năm 1950, đại liên DShk phiên bản phòng không được TQ viện trợ cho VN và trở thành hoả lực phòng không chính trong các đại đoàn chủ lực và các tiểu đoàn phòng không độc lập QĐNDVN.Cỡ nòng: 37mmNặng: 2100kgTốc độ bắn: 60 phát/phútPháo cao xạ 37mm 61K kiểu 1939 được LX phát triển dựa trên pháo 25mm Bofors kiểu 1933, được sản xuất hàng loạt và mang vào biên chế Hồng quân LX năm 1939, sử dụng rộng rãi trong CTTG 2. Pháo M1939 cũng được sử dụng bởi một số quân đội các nước CS.Năm 1953 QĐNDVN được LX viện trợ qua đường TQ 6 tiểu đoàn pháo M1939, biên chế thành trung đoàn cao xạ pháo trước hết – trung đoàn 367, đại đoàn 351. Nhà cung cấp này tham chiến lần trước hết trong chiến dịch Điện Biên Phủ 1954.Thống kê vũ khí VN trong KCCP đến đây là hết, phần súng ngắn sẽ được bổ sung vào mục VK cá nhân. Xin nhường lại cho bác Đoàn với thống kê vũ khí VN trong KCCM

« »


Logged

Dân ta phải biết sử ta
Cái gì không biết cần tra Gúc gồ


Ngocvancu

*
Nội dung: 580

Cựu chiến binhBài viết: 580


Re: Vũ khí Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến.

« Trả lời #195 vào lúc: 14 Tháng Tư, 2008, 02:16:44 pm »

Như vậy là hai khẩu Pháo ở Pháo đài Láng nổ súng vào quân Pháp 12/1946 là Loại Pháo phòng không 75mm của Pháp phải 0 chiangshan?


Logged


chiangshan

*
Nội dung: 3405


No sacrifice, no victory

WWW

Thành viênBài viết: 3405No sacrifice, no victory


Re: Vũ khí Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến.

« Trả lời #196 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2008, 10:28:07 am »

Nhưng có cái này thú vị, đây là bức ảnh vẫn thường được chú thích là ở pháo đài Láng.

Thử so sánh:

Các bác thấy sao, em thì cho rằng cái ảnh đấy là 1 khẩu pháo Nhật.

Vâng, mặc dù mấy khẩu pháo ở pháo đài Láng được ghi là của Đức nhưng phần nhiều khả năng là của Pháp.Nhưng có cái này thú vị, đây là bức ảnh vẫn thường được chú thích là ở pháo đài Láng.Thử so sánh:Các bác thấy sao, em thì cho rằng cái ảnh đấy là 1 khẩu pháo Nhật.


Logged

Dân ta phải biết sử ta
Cái gì không biết cần tra Gúc gồ


dongadoan

*
Nội dung: 7256


Cái thời hoa gạo cháy…

WWW

Thành viênBài viết: 7256Cái thời hoa gạo cháy…


Re: Vũ khí Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến.

« Trả lời #197 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2008, 12:01:34 pm »

—————————————
 Phần pháo mặt đất còn thiếu khẩu này thì phải: Grin

—————————————Phần pháo mặt đất còn thiếu khẩu này thì phải:


Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!


dongadoan

*
Nội dung: 7256


Cái thời hoa gạo cháy…

WWW

Thành viênBài viết: 7256Cái thời hoa gạo cháy…


Re: Vũ khí Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến.

« Trả lời #198 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2008, 12:18:32 pm »

Vũ khí của Quân đội nhân dân Việt Nam trong Kháng chiến chống Mỹ

 

CHƯƠNG 1: VŨ KHÍ BỘ BINH

 Ι, Vũ khí cá nhân:

α,

₭-54

:
  Lúc này vũ khí cá nhân đã được sử dụng thống nhất. Cán bộ sơ, trung cấp sử dụng súng Tokarev TT33, VN ta gọi là khẩu ₭-54 (theo TQ):


– Cỡ nòng: 7,62mm
– Nặng: 910 gr
– Dài nòng: 116 mm/196mm.
– Băng đạn: 8 viên.

ɓ,

₭-59:

 
  Cán bộ thượng hạng hoặc làm nhiệm vụ đặc biệt trang bị loại Makarov PM, PMM hay hay còn gọi là ₭-59 (TQ sao chép của Nga):


 Thông số kỹ thuật chính :
– Cỡ nòng: 9 mm
– Nặng: 730 gr (PMM: 760 gr)
– Dài: 161 mm (PMM: 165 mm)
– Băng đạn: 8 viên (PMM: 12 viên)

α,Lúc này vũ khí cá nhân đã được sử dụng thống nhất. Cán bộ sơ, trung cấp sử dụng súng Tokarev TT33, VN ta gọi là khẩu ₭-54 (theo TQ):Thông số kỹ thuật chính:- Cỡ nòng: 7,62mm- Nặng: 910 gr- Dài nòng: 116 mm/196mm.- Băng đạn: 8 viên.ɓ,Cán bộ thượng hạng hoặc làm nhiệm vụ đặc biệt trang bị loại Makarov PM, PMM hay hay còn gọi là ₭-59 (TQ sao chép của Nga):Thông số kỹ thuật chính :- Cỡ nòng: 9 mm- Nặng: 730 gr (PMM: 760 gr)- Dài: 161 mm (PMM: 165 mm)- Băng đạn: 8 viên (PMM: 12 viên)

« »


Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!


Xem thêm những thông tin liên quan đến đề tài cttg 1

Tóm Tắt Nhanh Thế Chiến 1

alt

  • Tác giả: Tóm Tắt Nhanh
  • Ngày đăng: 2019-01-03
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 6474 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Chiến tranh toàn cầu thứ nhất, còn được gọi là Đại chiến toàn cầu lần thứ nhất, Đệ Nhất thế chiến hay Thế chiến 1, diễn ra từ 28 tháng 7 năm 1914 đến 11 tháng 11 năm 1918, là một trong những trận chiến tranh quyết liệt, quy mô to lớn nhất trong lịch sử nhân loại
    Nguồn video minh họa : Oversimplified, 1914 Sainsbury’s Ad
    ================
    Donate để ủng hộ kênh tại : https://unghotoi.com/tomtatnhanh

So sánh hậu quả của CTTG 1 và CTTG 2 ạ cần gấp ai giúp vs

  • Tác giả: hoc24.vn
  • Nhận xét: 5 ⭐ ( 2065 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: So sánh hậu quả của CTTG 1 và CTTG 2 ạ cần gấp ai giúp vs

Những tình tiết về chiến sự chiến tranh toàn cầu thứ nhất>

  • Tác giả: loigiaihay.com
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 8399 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Những tình tiết về chiến sự chiến tranh toàn cầu thứ nhất. Tóm tắt mục II. Những tình tiết chính của chiến sự chiến tranh toàn cầu thứ nhất

Nguyên Nhân Chiến Tranh Thế Giới Thứ 1, Nguyên Nhân Dẫn Đến Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất

  • Tác giả: acthan.vn
  • Nhận xét: 5 ⭐ ( 1607 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Chiến tranh toàn cầu thứ nhất nổ ra đầu thế kỉ XX đã tạo thành một cuộc phân tách lại bản đồ toàn cầu, Vậy nguyên nhân kéo theo Chiến tranh toàn cầu thứ nhất là gì? Cùng GiaiNgo tìm hiểu qua nội dung sau!Chiến tranh toàn cầu thứ nhất là trận chiến tranh trước hết diễn ra trên phạm vi toàn toàn cầu

Vì sao nói CTTG 1 là trận chiến đẫm máu nhất hành tinh?

  • Tác giả: kienthuc.net.vn
  • Nhận xét: 5 ⭐ ( 1471 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Nhiều nhà sử học phải tán thành rằng, chiến tranh toàn cầu thứ nhất là trận chiến tranh đẫm máu và bế tắc hàng đầu trong lịch sử nhân loại

Câu 72: So sánh quan hệ quốc tế sau CTTG 2 và CTTG 1

  • Tác giả: soanbaionline.net
  • Nhận xét: 3 ⭐ ( 7298 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm:

Khổ sở vô cùng cuộc đại chiến chiến hào trong CTTG 1

  • Tác giả: baomoi.com
  • Nhận xét: 5 ⭐ ( 7987 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Được mệnh danh là trận chiến tranh chiến hào, chiến tranh toàn cầu thứ nhất đã có tổng cộng 40.233km đường hào ‘tiêu chuẩn’.

Xem thêm các nội dung khác thuộc thể loại: Khám Phá Khoa Học

By ads_law