Friday, September 17, 2021
HomeKhoa học vũ trụVũ trụ quan Phật giáo Mật tông, với trung tâm là núi...

Vũ trụ quan Phật giáo Mật tông, với trung tâm là núi lớn tu di ở tầng trời đao lợi của đế thích,

Ngày đăng: 23/09/2020, 13:02

Nội dung xác lập mối liên hệ giữa Phật giáo Mật tông với tín ngưỡng thờ Mẫu qua sắc phong cho Liễu Hạnh công chúa năm 1683. Từ đó, Author cho là việc mang công chúa Liễu Hạnh vào “Đế Thích tiên đình” (chữ dùng trong sắc phong) chính là sự chủ động xếp đặt của triều đình Lê – Trịnh dưới sự chi phối của Phật giáo Mật tông nhằm củng cố cho vương quyền. 34 Báo chí Tìm hiểu Lớn mạnh, số (155) 2020 VŨ TRỤ QUAN PHẬT GIÁO MẬT TÔNG, VỚI TRUNG TÂM LÀ NÚI LỚN TU DI Ở TẦNG TRỜI ĐAO LỢI CỦA ĐẾ THÍCH, PHẢN ÁNH TRONG NHĨM SẮC PHONG SỚM NHẤT CHO LIỄU HẠNH CÔNG CHÚA VÀO NỬA CUỐI THẾ KỶ XVII Chu Xuân Giao* Lời Tịa soạn: Chủ đích viết mong muốn xác lập mối liên hệ Phật giáo Mật tông với tín ngưỡng thờ Mẫu qua sắc phong cho Liễu Hạnh cơng chúa năm 1683 Từ đó, Author cho việc mang cơng chúa Liễu Hạnh vào “Đế Thích tiên đình” (chữ dùng sắc phong) chủ động xếp triều đình Lê – Trịnh chi phối Phật giáo Mật tông nhằm củng cố cho vương quyền Đây giả thuyết tìm hiểu cần tiếp tục luận giải, chí phải có thêm liệu liên quan ngồi sắc phong Trong cục diện tín ngưỡng thờ Mẫu Viet Nam UNESCO xác nhận Di sản văn hóa phi vật thể đại diện nhân loại, việc tìm hiểu tách bạch yếu tố tôn giáo trộn lẫn tín ngưỡng thờ Mẫu thiết yếu, để tránh biểu đà thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Lời mở Tính từ khởi điểm đầu thập niên 1910 (với tìm hiểu Đào Thái Hành) ngày nay, kỷ tìm hiểu đại tín ngưỡng Mẫu Liễu (Liễu Hạnh cơng chúa, Bà chúa Liễu Hạnh), mối quan hệ sâu sắc tín ngưỡng Mẫu Liễu với Phật giáo hệ học giả tiếp nối bàn luận, mà chủ đạo hai phương diện: truyền thuyết Mẫu Liễu, thực hành tín ngưỡng Mẫu Liễu (nền tảng thờ tự, trí điện thờ, hoạt động thờ cúng…) Kế thừa có phê phán thành hai hướng tìm hiểu đó, nhiều năm qua, chúng tơi tiếp cận tín ngưỡng Mẫu Liễu từ hướng nhìn văn hóa sử (nhân loại học lịch sử, historical anthropology), mà mối quan tâm lớn truy cứu cước lịch sử tín ngưỡng Mẫu Liễu qua tư liệu gốc Trong số đó, sắc phong nguyên vật loại tư liệu gốc gác có giá trị bậc nhất Sắc phong nguyên vật mảng tư liệu quan trọng phản ánh mối quan hệ sâu sắc tín ngưỡng Mẫu Liễu với Phật giáo Viet Nam Nhưng điểm thú vị riêng có sắc phong, trình bày đây, chỗ: cho thấy rõ rằng, mối quan hệ tín ngưỡng Mẫu Liễu với Phật giáo định vị vương quyền theo mơ hình Nho giáo * Viện Tìm hiểu Văn hóa, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Viet Nam Báo chí Tìm hiểu Lớn mạnh, số (155) 2020 35 Khái quát nhóm sắc phong sớm cho Liễu Hạnh công chúa Gần đây, trong tháng năm 2018, dựa sở tìm hiểu điền dã dân tộc học nhiều năm nhiều đền phủ mà trọng điểm Phủ Giầy – Nam Định Phủ Tây Hồ – Hà Nội, phối hợp với khảo chứng tư liệu thành văn (văn tự Hán Nôm, Quốc ngữ thời kỳ sớm, văn tự phương Tây), chủ đề hệ thần Liễu Hạnh,(1) người viết thông báo khảo luận cam kết việc thực phát tồn đích thực đạo sắc phong cổ đưa thời đại 1683 (Chính Hịa 4) cho Liễu Hạnh cơng chúa nguyên vật Phủ Giầy – Nam Định [Chu Xuân Giao 2018a, 2018b, 20199].(2) Các bảo đảm cho cam kết “đã thực phát tồn đích thực đạo sắc phong cổ mang niên đại 1683 cho Liễu Hạnh công chúa” trình bày chi li viết trên, nên đây, chúng tơi tóm lược nhược điểm mảng tư liệu sắc phong giữ gìn Phủ Giầy Nam Định Một là, tính đến thời điểm tháng năm 2018, Phủ Giầy giữ gìn 21 đạo sắc phong cho hệ thần Liễu Hạnh Nhưng giữ gìn riêng rẽ hai nơi thôn Tiên Hương Chi tiết là: Phủ Tiên Hương (gia đình thủ nhang Trần Thị Duyên – Trần Thị Huệ) có 14 đạo sắc, Phủ Nội dòng họ Trần Lê (đương kim trưởng họ Trần Lê Thịnh) có đạo.(3) Hai là, 14 đạo sắc phong Phủ Tiên Hương cựu thủ nhang Trần Viết Đức (thân phụ thủ nhang Trần Thị Huệ nay) phát hậu cung phủ vào đầu thời kỳ Đổi Mới Còn đạo sắc phong Phủ Nội trải qua trình lưu lạc thú vị sau Có nhóm cháu họ Trần Lê di cư vào Nam Bộ năm 1954 đưa nhóm sắc phong theo, sau kiến thiết Phủ Giầy Hồ Chí Minh, giữ gìn sắc phong Thế rồi, sau Đổi Mới, vào đầu thập niên 1990, nhóm cháu họ Trần Lê đưa trao lại cho quê hương, mà trực tiếp cho Phủ Nội ngày [Chu Xuân Giao 2018: 155, 163-165; Chu Xuân Giao 2019: 54, 50-55] Ba là, phối hợp tìm hiểu chỗ với 21 đạo sắc phong nguyên vật giữ Phủ Giầy ngày với khảo chứng tư liệu liên quan khác (trong đó, đặc biệt tổng hợp thuộc kho Thư viện Viện Thông tin Khoa học Xã hội, sắc phong thuộc kho Thư viện Viện Tìm hiểu Hán Nôm), xác nhận đạo cổ cho Liễu Hạnh công chúa, nửa cuối kỷ XVII Đó đạo với thời đại sau: 1) Dương Hòa (1642), ngày tháng âm lịch; 2) Cảnh Trị (1670), ngày 18 tháng âm lịch; 3) Chính Hịa (1683), ngày 24 tháng nhuận [Chu Xuân Giao 2018 : 159-163].Về chi tiết xem Bảng 36 Báo chí Tìm hiểu Lớn mạnh, số (155) 2020 Bảng 1: Thông tin tổng quát đạo sắc phong cổ (1642, 1670, 1683) Thời đại Stt Năm Ngày tháng Số sắc Thần nhận sắc Dạng văn thực tiễn (2018) Nguyên vật Bản Tổng hợp Dương Hòa (1642) tháng Liễu Hạnh Khơng Có Có Cảnh Trị (1670) 18 tháng Liễu Hạnh Khơng Có Có Chính Hòa (1683) 24 tháng nhuận Liễu Hạnh Có Có Có Bốn là, đạo sắc cổ trên, có tổng hợp trọn vẹn (cả tổng hợp nhập kho EFEO Hà Nội trước năm 1945), nhiên đạo đưa thời đại Chính Hịa (1683) cịn thấy ngun vật Phủ Giầy Có nghĩa là, thực tiễn, đạo sắc cổ lưu nguyên vật đến ngày đạo năm 1683 Xem vào thông tin tổng quát Bảng 1, thấy đạo sắc 1683 đáp ứng lần “Có” định dạng văn (có ngun vật cịn bảo lưu, có trước năm 1945, có tổng hợp trước năm 1945) Bởi vậy, lấy đạo sắc 1683 làm để thực việc tìm hiểu nhóm sắc phong cổ cho Liễu Hạnh công chúa Đối sánh bước đầu đạo sắc phong sớm nói trên, chúng tơi nhận ra rằng, chi li, có dị biệt mặt ngôn từ (cũng có nghĩa dị biệt mặt bài viết), mà lý do cục diện trị xã hội thời điểm ban sắc Chẳng hạn, năm 1642 cục chân vạc, quốc gia bị chia làm ba thành Lê Trịnh Đàng Ngoài – Nguyễn Đàng Trong – Mạc Đàng Trên (Cao Bằng), tương đối rõ ổn định, hẳn khác với năm 1683 mà cục chân vạc (nhà Mạc Cao Bằng chấm dứt, cịn Đàng Ngồi Đàng Trong) Sự độc đáo cục diện trị xã hội lý do sâu xa độc đáo ngôn từ sử dụng sắc phong ứng với cục diện năm 1642 hay năm 1683 Những điểm dị biệt thú vị cần khảo cứu kỹ càng kế tiếp, cịn đây, chúng tơi điểm chung đạo sắc mặt bài viết Đó là, ghi tên Liễu Hạnh “Đế Thích tiên đình 帝釋僊庭” “Liễu Hạnh Mạ Vàng 柳幸鎷鐄” (hoặc “Liễu Hạnh Mạ Vàng công chúa 柳幸鎷鐄公 主”) Cả ba đạo sắc xuất cách ghi tên đó, hai đạo sắc 1642 1683 hai đoản ngữ rời (khơng ghi liền vào nhau), riêng sắc 1670 xuất cách ghi liền thành “Đế Thích tiên đình Liễu Hạnh cơng chúa 帝釋僊庭柳幸公主” Kế tiếp, giới thiệu nhanh bài viết sắc phong nguyên vật đưa thời đại 1683 (đạo sắc có dạng văn bản: nguyên vật giữ gìn Phủ Giầy, tổng hợp lưu Viện Thông tin Khoa học Xã hội Viet Nam, lưu Viện Tìm hiểu Hán Nơm) Báo chí Tìm hiểu Lớn mạnh, số (155) 2020 37 Bài viết sắc phong đưa thời đại 1683 cho Liễu Hạnh công chúa nguyên vật Bài viết đạo sắc phong chúng tơi trình bày chi li viết gần (xem Chu Xuân Giao 2018, 2018b, 2019), nên giới thiệu chuyển tự Hán văn (chế microsoft word từ kết khôi phục nguyên bản) dịch tiếng Việt mà (1) Bản chuyển tự (các chữ số trịn thứ tự dịng ngun – vốn khơng có ngun bản, mà thêm vào) ①勅帝釋僊庭孕秀芳菲権該六宮嬪娘變現無穷②睿智英靈兼知山林掌 管山精精部號曰柳幸③鎷鐄斉家治國護士謹節和美端莊公主派出④天潢道 同地厚柔儀内備素敦端一之資盛徳⑤上洋凛發焄蒿之氣功顕多相佑禮蓋舉 褒封為黙相⑥勲王纘嗣⑦王基臨居正府尊扶⑧宗社鞏固鴻圖禮有登秩應加 封可加封帝釋⑨[僊]庭孕秀芳菲権該六宮嬪娘變現無穷⑩[睿]智英靈兼知山 林掌管山精精部號曰柳幸鎷鐄⑪[斉]家治國護士謹節和美端莊光穆仁明純 美公[主][故]⑫勅⑬[正和]四年閏六月二十四日{勅命之寶} Ảnh 1: Cận cảnh phần lịng sắc Chính Hịa (1683) ngun vật (2) Dịch nghĩa Sắc cho [vị thần trên] tiên đình Đế Thích, chứa đầy vẻ đẹp đẽ tươi tốt, cai trị sáu cung tiên nữ, biến hóa hiển vơ cùng, sáng ngời trí tuệ anh linh, kiêm quản sơn lâm, canh gác sơn tinh, hiệu Liễu Hạnh Mạ Vàng [mỹ tự 38 Tạp chí Nghiên cứu Phát triển, số (155) 2020 là] Tề gia trị quốc hộ sĩ, cẩn tiết hòa mỹ đoan trang công chúa [vị công chúa tề gia trị quốc giúp đỡ kẻ sĩ, thận trọng giữ gìn tiết hạnh, đẹp đẽ hòa thuận đoan trang] [Thần là] từ trời phái xuống, đạo [đức] đầy đặn ngang với đất, sẵn dáng điệu mềm mại, chứa đủ vẻ đoan trang phúc hậu, đức lớn chất ngất, khí ngùn ngụt dâng đầy Công lao giúp đỡ [của thần] sáng rõ từ lâu, thực đáng ca tụng [Nay] thần ngầm giúp cho vị vương có cơng lớn [vị Hn vương] nối móng ngơi vị vương [mà] vào địa điểm đáng làm rường cột cho triều đình, để kính cẩn phị trợ cho tơng miếu xã tắc, [giúp] củng cố đồ to lớn, [nên về] nghi lễ có thăng hạng, xứng đáng để gia phong [là vị thần trên] “tiên đình Đế Thích, chứa đầy vẻ đẹp đẽ tươi tốt, cai quản sáu cung tiên nữ, biến hóa hiển vơ cùng, sáng ngời trí tuệ anh linh, kiêm quản sơn lâm, trông coi sơn tinh, hiệu Liễu Hạnh Mạ Vàng” [mỹ tự vốn là] Tề gia trị quốc hộ sĩ, cẩn tiết hòa mỹ đoan trang, [mỹ tự ban thêm là] quang mục nhân minh mỹ [công sáng suốt, nhân nghĩa rạng ngời, mỹ lệ hậu] công chúa Vì mà ban sắc Ngày 24 tháng nhuận năm Chính Hịa thứ (1683) {dấu: Sắc mệnh chi bảo} Khái quát vũ trụ quan Tam giới Phật giáo, địa điểm Đế Thích Liễu Hạnh công chúa Điểm chung ba đạo sắc phong sớm nhất, nói trên, danh xưng “Đế Thích tiên đình” “Liễu Hạnh Mạ Vàng” Chúng sử dụng sắc phong năm 1683 với nhân cách đại diện cho ba đạo sắc sớm nhất, để nghiên cứu mối quan hệ danh xưng với vũ trụ quan Phật giáo Danh xưng Đế Thích tiên đình 帝釋僊庭 cho biết xuất thân thần tiên trời phái xuống hạ giới Liễu Hạnh công chúa Trong nguyên sắc phong, cịn có chỗ ghi rõ “phái xuất thiên hồng 派出天潢” (dịng dõi phát xuất từ Thiên đế) để bổ nghĩa thêm cho “Đế Thích tiên đình” Rạch ròi, đây, Liễu Hạnh xem vị tiên nữ tầng trời vua Đế Thích vũ trụ quan Phật giáo Về Đế Thích, biết vị thần mới mẻ, thờ phụng sớm Viet Nam Trước đó, qua tìm hiểu tích vua Đế Thích nguồn sử liệu, Hà Văn Tấn mang nhận định rằng, “rõ ràng Việt Nam, tín ngưỡng Đế Thích lúc gắn với Phật giáo, lúc gắn với Đạo giáo, hay ra, khơng có ranh giới rõ ràng Và vậy, khó tách rời Đế Thích – vị thần hộ pháp Phật giáo với Đế Thích – vị thần cải tử hoàn sinh Đạo giáo Và tất tư cách lại cịn trộn lẫn với tín ngưỡng dân gian, làm cho Đế Thích trở thành vị thần Việt Nam” [Hà Văn Tấn 2005a: 331; chữ nghiêng CXG] Vẫn theo kết khảo cứu Hà Văn Tấn, “ít tín ngưỡng Đế Thích tồn Phật giáo Việt Nam từ đầu kỷ VII” thời Bắc thuộc (qua chứng cứ bia đưa tựa đề Đại Tùy Cửu Chân quận Bảo An đạo tràng Báo chí Tìm hiểu Lớn mạnh, số (155) 2020 39 chi bi văn vốn dựng chùa Bảo An, tức đạo tràng Bảo An, xã Đông Minh huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hoa; bia dựng năm Đại Nghiệp thời nhà Tùy, tức năm 613; chùa/đạo tràng Bảo An lại thờ Đế Thích) Sang thời kỳ độc lập, từ đời nhà Lý, Đế Thích có thờ chung với Phạm Vương, có thờ riêng (qua việc chi tiết ghi chép năm 1057 1134 sử Đại Việt sử ký toàn thư) [Hà Văn Tấn 2005a: 326-327] Có vẻ tóm lược kết khảo cứu Hà Văn Tấn tín ngưỡng Đế Thích Viet Nam (vốn có nguồn gốc từ Phật giáo Ấn Độ Phật giáo Trung Quốc) thành điểm sau Một là, Đế Thích vốn vị thần cổ Ấn Độ với cái tên Indra, có bắt nguồn từ thời kỳ Veda, có chức thần Mưa Sấm Sét Indra có nghĩa “vua” “vua vị thần” Sau này, Indra Phật giáo tiếp nhận, mang vào điện thần mình, đưa tên đầy đủ tiếng Sanskrit Sakra Devanamindra Người Trung Quốc dịch âm để thành tên sau: Thích-Ca Đề-Hồn-Nhân-ĐàLa, Thích-Ca Đề-Bà-Nhân-Đạt-La, Đế Thích Thiên, Đế Thích Khi gia nhập điện thần Phật giáo, Đế Thích với Phạm Vương (hay Phạm Thiên, tức Brahma, vị thần tối cao Bà-la-môn giáo) trở thành hai vị thần bảo vệ Phật pháp, giữ vai trò chủ tể cõi Sa-bà Bởi vậy, thời kỳ sớm Phật giáo Ấn Độ, Đế Thích Phạm Thiên hình mẫu thành hai người tùy tịng đứng hai bên đức Phật Hai là, tính cách bảo vệ Phật pháp Để Thích thấy rõ nước tiếp nhận Phật giáo, Trung Quốc, Nhật Bản, Viet Nam Ở Viet Nam, hai vị tượng thường đứng hai bên tượng Thích Ca sơ sinh Tượng hai vị tạc theo kiểu hoàng đế (mặc áo cổn/long bào, đội mũ miện/bình thiên, ngồi ngai) Ba là, Đế Thích gần người theo vũ trụ quan Phật giáo (ở gần người Phạm Thiên, nên thờ nhiều hơn) Phật giáo chia vũ trụ làm Tam giới (ba giới), gồm Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới Mỗi giới gồm nhiều tầng trời Đế Thích tầng trời thứ hai Dục giới, tức giới đầy ham mong muốn Đế Thích đỉnh núi Tu Di với 32 vị thần quyền Các vị thần quyền chia làm nhóm, nhóm gồm người phương Đế Thích ngự Cộng lại 33 vị thần, tầng trời cịn gọi tam thập tam thiên (có nghĩa “tầng trời có 33 vị thần”; cần ý rằng, “tầng trời thứ 33”) Nguyên tiếng Phạn Trāyastrimśa, nên người Trung Quốc dịch âm thành Đao Lợi Thiên Đát Lê Thiên Đế Thích số thần tích Viet Nam gọi “tam thập tam thiên Đế Thích đế” Như thế, Đế Thích người tầng trời, bên Đế Thích cịn có bốn tầng trời khỏi Dục giới Trong Phạm Thiên tận tầng thứ từ lên 18 tầng trời Sắc giới, cách Đế Thích xa 40 Báo chí Tìm hiểu Lớn mạnh, số (155) 2020 Bốn là, theo truyền thuyết Phật giáo, tầng trời “tam thập tam thiên” Đế Thích cịn nơi phụ nữ tái sinh Chính mẹ đức Phật, Hoàng hậu Maya, tái sinh sau chết Ở Viet Nam Nhật Bản thấy dấu vết truyền thuyết Năm là, Viet Nam, Đế Thích cịn gắn với truyền thuyết “hồn Trương Ba da hàng thịt” tiếng Truyền thuyết ghi chép nhiều nơi, mà đó, Đế Thích xem thọ thần (“ai muốn sống lâu cầu Đế Thích”) giúp người ta cải từ hoàn sinh Song song, Đế Thích cịn ơng tiên cao cờ Với các chi li cao cờ cải tử hồn sinh này, Hà Văn Tấn cho tác động Đạo giáo Tức là, Đế Thích vừa vị thần hộ pháp Phật giáo, lại vừa vị thần cải tử hoàn sinh Đạo giáo Năm điểm mà Hà Văn Tấn (theo cách tóm tắt chúng tơi), rạch ròi, gợi ý trọng yếu để giúp hiểu tín ngưỡng Đế Thích Viet Nam Không những thế, để làm rõ thêm tầng trời “tam thập tam thiên” hay “Đao Lợi Thiên” Đế Thích, chúng tơi mong muốn bổ sung thêm điểm sau (từ tham bác tư liệu thành văn thử nghiệm điều tra thực địa), đó, nhấn mạnh đến địa điểm Đế Thích (cũng Liễu Hạnh công chúa) vũ trụ quan Phật giáo Qua đó, hiểu sâu sáng kiến kiến trúc triều đình Lê – Trịnh nửa cuối kỷ XVII địa điểm Liễu Hạnh công chúa – vị nữ thần mà người cầm quyền đương thời đặt vào tầng trời “tam thập tam thiên” Đế Thích cai trị Điềm trước nhất, cần nhấn mạnh rằng, vũ trụ quan Tam giới (dục giới, sắc giới, vơ sắc giới) thuộc Phật giáo Mật tông hay Mật giáo – tôn giáo nảy nở từ truyền thống Phật giáo mà có tính dung hợp mạnh khỏe với Đạo giáo tín ngưỡng dân gian Đế Thích tầng trời “tam thập tam thiên” vị cai trị có địa điểm trọng yếu vũ trụ quan Tam giới Mật giáo Về cỗi nguồn vũ trụ quan Tam giới nhân vật Đế Thích, xuất từ xa xưa thời kỳ Tạp Mật (đó thời kỳ trước Mật giáo – tức Thuần Mật – thành lập Ấn Độ) Đặc biệt, cịn suy cho rằng, Tam giới Đế Thích Mật giáo khởi phát từ Tam giới (thiên giới, trung giới, địa giới) Đế Thích thuyết giảng kinh Vệ-đà Bà-la-mơn – thời kỳ tối cổ, tới ngàn năm ngoái Cơng ngun Nhóm Kaneoka – học giả chun Phật giáo Nhật Bản – cho là, Mật giáo có nguồn gốc từ xa xưa gắn với kinh điểnVệ-đà Bà-la-mơn giáo, trước thời điểm Thích Ca đời tới sáu bảy trăm năm (tức khoảng 1200 năm ngoái Cơng ngun).(4) Sau này, tự tổ chức giáo đoàn Phật giáo trước nhất, thân Thích Ca nghiêm cấm việc sử dụng thuật hay cúng bái bí hiểm đưa Báo chí Tìm hiểu Lớn mạnh, số (155) 2020 41 tính lợi nhuận (vốn thịnh hành lúc Ấn Độ) Không những thế, Phật giáo Đại Thừa thông dụng thân thu nhận thêm nhiều yếu tố thuật, giáo lý hay thần linh tôn giáo thân thiện (Bà-la-môn, Hindu), kết tiến triển thành “Phật giáo mới” [Kaneoka Shuyu 2002: 82-83] Có vẻ nói, Mật giáo tạo dựng từ tảng Phật giáo Đại thừa, dung hợp Phật giáo Đại thừa với thuật hệ thống thần linh vay mượn từ tơn giáo thân thiện Về lịch sử tạo dựng tiến triển Mật giáo, tóm tắt thành chặng sau (theo mục từ “Mật giáo” bách khoa đo đạc tiếng Nhật Microsoft Encarta DVD 2003) Đó là: 1) Thành lập thức vào khoảng nửa cuối kỷ VII Ấn Độ kinh Đại nhật kinh Kim Cương đỉnh kinh giải quyết Mật giáo trước thời điểm hai kinh hồn thành gọi “Tạp Mật” Cịn Mật giáo từ sau có hai kinh xem Mật giáo túy, hay “Thuần Mật” Mật giáo gọi Kim Cương thừa Các công cụ trọng yếu Đà-la-ni, ấn khế, Man-đa-la có từ kỷ V-VI Chúng sử dụng “Tạp Mật” “Thuần Mật” 2) Sau kỷ, Mật giáo Ấn Độ suy tàn, chí đạo tràng Mật giáo cịn bị tín đồ Islam phá hủy vào năm 1203 3) Không những thế, Mật giáo Ấn Độ lan nhanh nước xoay quang Vào khoảng kỷ VIII Mật giáo truyền tới Tây Tạng, tiến triển độc trở thành Phật giáo Tây Tạng Các nhà sư Ấn Độ Thiện Vơ Úy, Kim Cương Trí, Bất Không tới Trung Quốc quảng bá Mật giáo vào nửa cuối kỷ VIII Mật giáo tiến triển rực rỡ vào thời kỳ nhà Đường Trung Quốc Ở Nhật Bản, Tạp Mật du nhập từ thời Heian, người coi ông tổ Mật giáo Nhật Bản Khơng Hải (774-835, cịn gọi “Hoằng Pháp đại sư”) Khơng Hải tới du học Trung Quốc thời nhà Đường, học Thuần Mật từ Bất Không Huệ Quả (cao đệ Bất Khơng) Ơng đưa Nhật Bản lượng lớn kinh điển Mật giáo, đặc biệt Lưỡng giới Mạn-đà-la (tức Thai Tạng giới Man-đa-la Kim Cương giới Man-đa-la) Trên sở kinh điển này, Không Hải tu chỉnh, mở Chân Ngôn tông Nhật Bản [Microsoft Encarta DVD2003a] Ngày nay, mức khái lược, người ta quen dùng Tạng Mật 藏密 để Mật giáo Tây Tạng, Đông Mật 東密 để Mật giáo Nhật Bản [Đàm Tích Vĩnh 2008: 171-172] Cịn Nhật Bản, với Mật giáo lại có phân biệt chi tiết nữa, Đơng Mật để Chân Ngơn tơng 真言宗 gắn với khai tổ Khơng Hải 空海, cịn Đài Mật 台密 để Thiên Đài tông 天台宗 gắn với khai tổ Tối Trừng 最澄 [Microsoft Encarta DVD2003a] 42 Báo chí Tìm hiểu Lớn mạnh, số (155) 2020 Ở Viet Nam, theo Hà Văn Tấn, “Phật giáo Việt Nam có yếu tố Mật giáo trước Mật tông thành lập Trung Quốc” (“Mật tông thành lập Trung Quốc vào kỷ 8, Mật giáo hình thành Ấn Độ sớm nhiều”) [Hà Văn Tấn 2005b: 287] Nếu sử dụng hai thuật ngữ “Tạp Mật” “Thuần Mật” trên, biểu đạt lại bài viết là: Tạp Mật du nhập vào Viet Nam từ sớm, trước Thuần Mật thức đời Ấn Độ truyền nước xoay quang Về chứng cứ cho việc du nhập sớm này, Hà Văn Tấn dẫn cột kinh dựng năm 973 Hoa Lư (Ninh Bình), mà có chữ “Tổng trì bí mật giáo” (theo Hà Văn Tấn, “tổng trì” đà-la-ni, cịn “bí mật giáo” “mật giáo”) [Hà Văn Tấn 2005b: 279] Đáng ý là, theo Hà Văn Tấn, thân Phật giáo Trúc Lâm với tổ thứ hai Pháp Loa kỷ XIV đưa đậm màu sắc Mật giáo Phật giáo nói chung suy thối vào kỷ XV, bình phục từ cuối kỷ XVI, tiến triển qua thể kỷ XVII-XVIII Thuyết “tam giáo đồng nguyên” ngợi ca kỷ Phật giáo có khuynh hướng hịa đồng mạnh khỏe với Nho giáo, Đạo giáo, hiển nhiên yếu tố Mật giáo tiến triển [sđd: 290] Như thế, từ khái quát trên, thấy rằng, thời điểm mà triều đình Lê – Trịnh ban nhóm sắc phong sớm cho Liễu Hạnh cơng chúa, tức đạo sắc nửa cuối kỷ XVII, hiểu Mật giáo tiến triển mạnh Viet Nam, khuynh hướng hòa đồng với Nho giáo Đạo giáo Điểm thứ hai cần nhấn mạnh thêm, sau mang khái quát lịch sử Mật giáo trình bày trên, thân vũ trụ quan Tam giới Mật giáo địa điểm trọng yếu Đế Thích (cũng tức địa điểm Liễu Hạnh cơng chúa) Tầng trời Đao Lợi (Tam thập tam thiên) với núi lớn Tu Di – nơi ngự Đế Thích Liễu Hạnh cơng chúa Thú vị là, điểm lại lịch sử tìm hiểu vũ trụ quan Tam giới Phật giáo Viet Nam, phát rằng, cơng trình sưu tầm tìm hiểu tương đối Viet Nam với tựa đề Quảng tập viêm văn – Chrestomathie Annamite xuất sớm (ấn hành lần đầu năm 1898, tái có canh chỉnh số lần vào thập niên 1910, với dung tích 300 trang in), Author người Pháp Edmond Nordemann dành riêng phần viết riêng vũ trụ quan Phật giáo Thậm chí, ơng cịn dành riêng mục từ kèm vẽ cho “Đế Thích” (nguyên văn viết “Đế Thích” “vua Đế Thích”), giải thích Đế Thích Ngọc Hồng [Edmond Nordemann 1898 : 247-250, 187; Edmond Nordemann 1914 : 250, 195] Edmond Nordemann có tên tiếng Việt Ngơ Đê Mân, sinh năm 1869 khoảng năm 1945, học giả người Pháp tinh thông Viet Nam.(5) Tác Báo chí Tìm hiểu Lớn mạnh, số (155) 2020 43 phẩm Quảng tập viêm văn ơng viết hai ngơn ngữ tiếng Việt (chữ Quốc ngữ) tiếng Pháp, chỗ thiết yếu có chua thêm chữ Hán Theo Nordemann, vũ trụ quan Phật giáo vẽ thành lược đồ, gọi “Tranh vẽ ba cõi đại thiên” (大天三界図, carte des trois regions de chacun des systèmes d’un grand monde) “Tam thiên đại thiên giới” [Edmond Nordemann 1898: 248; 1914: 250] Bức lược đồ (xem Ảnh 2), ơng ghi khái quát tiếng Pháp “Cosmogonie Bouddhique Annamite et Chinoise”, có nghĩa “Vũ trụ quan Phật giáo An Nam Trung Quốc” Lược đồ “Tranh vẽ ba cõi đại thiên” Nordemann, cái tên, diễn tả vũ trụ gồm ba cõi, tính từ lên là: 1) Nhân gian (phần phía gian địa ngục); 2) Tịnh độ (hay cực lạc); 3) Hoa tạng (nước Phật) Gần địa điểm lược đồ Núi Tu-di, gọi Tam thập tam thiên Núi Tu Di diễn tả phần nối thông Nhân gian sang Tịnh độ, tức vị trị cao Nhân gian chuẩn bị thông với Tịnh độ Núi tầng trời “Tam thập tam thiên” Ở phần thích cho “Tam thập tam thiên”(ở trang sau lược đồ, thích 4), Nordemann có giải thích rằng, tầng trời Đế Thích, Ngọc Hồng, cai trị And đó, có vị thần gọi Tứ Thiên vương Ảnh 2: Lược đồ Đại thiên tam giới đồ – Tranh vẽ ba cõi đại thiên (Bản vẽ thích Nordemann) [Edmond Nordemann 1914: 250].(6) 44 Báo chí Tìm hiểu Lớn mạnh, số (155) 2020 Về Đế Thích, nói trên, Nordemann có mang hình vẽ diễn tả vị thần với phong thái đế vương (ngự ngai, đội mũ bình thiên, mặc áo long bào) Ở bên cạnh chữ “Đế Thích” có mở ngoặc ghi “vua” chua hai chữ Hán 帝釋 (xem Ảnh 3) Đây hình vẽ cỡ nhỏ, số không nhiều hình vẽ vị thần tác phẩm Nordemann Điều này, góp phần nói lên rằng, Nordemann quan tâm đến địa điểm vua Đế Thích tranh chung tơn giáo tín ngưỡng người Viet Nam Đặc biệt, ông nhấn mạnh đến tài đánh cờ “vơ địch” Đế Thích Ảnh 3: Hình vẽ Đế Thích (vua) Edmond Nordemann 1898 (trang 187).(8) Hiện chưa rõ Nordemann tự vẽ, hay nhờ người vẽ, tranh diễn tả “ba cõi đại thiên” “vua Đế Thích” Nhưng thực cơng việc đó, người vẽ dựa theo ebook giới thiệu hay vẽ vũ trụ quan Phật giáo (gồm ebook Hán Nôm Viet Nam, tư liệu Hán văn Trung Quốc) Mà mong muốn truy cứu tận nghề diễn tả vũ trụ quan Phật giáo trình bày trên, cần phải đến với tác phẩm kinh điển Phật giáo Câu xá luận 俱舍論 hay A-tỳ-đạt-ma câu-xá luận 阿毘達磨俱舍論 (từ trở xuống thống gọi Câu xá luận) đời Ấn Độ, quảng bá nước xoay quang Các vẽ vũ trụ quan Tam giới tạo dựng từ Câu xá luận Báo chí Tìm hiểu Lớn mạnh, số (155) 2020 45 Rạch ròi mong muốn truy cứu tường tận vũ trụ quan Phật giáo, cần phải trở với Câu xá luận Bởi tác phẩm, mà Sadakata (học giả Nhật Bản) cho biết, “miêu tả hồn hảo súc tích quan điểm Phật giáo vũ trụ” [Sadakata 2017 (1997): 25] Câu xá luận (nguyên tên Sanskrit Abhidharma-kośa-bhāṣya) kiệt tác tác phẩm chuyên mục luận Phật giáo, danh sư Thế Thân 世親 (Vasubandhu) giải quyết vào khoảng thể kỷ V (cuộc sống danh sư nhiều điểm cho rõ, đại khái sống vào khoảng kỷ IV-V) Tác phẩm Thế Thân sau dịch Hán văn Tạng văn Trong dịch Hán văn, dịch Huyền Trang 玄奘 (602-664) thời Đường với dung tích 30 sử dụng nhiều Nguyên Sanskrit dịch Hán văn Huyền Trang gọi tắt Câu xá luận 俱舍論 [Sadakata 2017 (1997): 23-26; Thích Thiện Siêu 2000; Microsoft Encarta DVD2003b; Acarya Vasubandhu 2012] Trong tác phẩm này, Thế Thân có giảng luận kỹ càng vũ trụ quan Tam giới với kết cấu tổng thể kết cấu giới, mà tổng quan “tam giới nhị thập bát thiên 三界二十八天” (3 giới với 28 thiên, hay cõi với 28 tầng trời) Phật giáo cho vũ trụ vô bất tận (vô lượng vô biên, vô thủy vô chung, gian vô số) Ở chiều kết cấu tích hợp, vũ trụ tổ hợp tầng tầng lớp lớp “ba nghìn đại thiên giới” (tức tam thiên đại thiên giới 三千大千世 界(8)) Còn chiều kết cấu cao thấp, vũ trụ phân làm “tam giới” (dục giới, sắc giới, vô sắc giới) And kết cấu tam giới núi Tu Di xem trọng điểm Tức núi Tu Di (“núi Tu Di biển lớn”) trọng điểm vũ trụ [Thích Ấn Thuận 1992 (1948): 131-144; Hồng Phỉ Mưu – Khương Ngọc Trân 1993: 3-7] Trên đỉnh núi Tu Di nơi Đế Thích: “núi Tu Di biển lớn, cao so với mặt biển Trong núi, bốn phía có tứ nhạc chỗ tứ đại vương chúng thiên Mặt trời mặt trăng xoay quanh sườn núi Đỉnh núi Đế Thích thiên 32 phụ thần (bốn phương phương có vị phụ thần) cai trị, gọi Đao Lợi ba mươi ba cõi thiên”[Thích Ấn Thuận 1992 (1948): 134] Thêm nữa, theo Thích Ấn Thuận, núi Tu Di bốn châu thượng cổ đại thể gần với thật Tu Di núi Himalaya, thực núi cao giới [Thích Ấn Thuận 1992 (1948): 135] Đi vào chi tiết hơn, “Tam giới nhị thập bát thiên” gồm: dục giới lục thiên 欲界六天 (cõi dục giới có tầng trời), sắc giới thập bát thiên 色界一十八天 (cõi sắc có 18 tầng trời), vô sắc giới tứ thiên 無色界四天 hay tứ khơng thiên (cõi vơ sắc có tầng trời) Song song, cịn có cách phân tổng qt thành: 1) Hữu tình giới (sinh vật có tình thức), 2) Khí giới (xứ sở); đó, hữu tình giới xem chủ thể Tam giới xác lập thiện nghiệp hay ác nghiệp mà hữu tình tạo 46 Báo chí Tìm hiểu Lớn mạnh, số (155) 2020 ra, báo khác khổ, lạc, sắc, vô sắc mà định nghiệp khác cảm giác [Đa Cát Tang Bố 2007: 171].Với cách biểu đạt khác, Thích Ấn Thuận thì, “thế giới giới hữu tình mà lại khơng định có: giới hình thành mà an trụ, an trụ bị hủy hoại, giới giới hữu tình” “thế gian gian hữu tình, hữu tình dựa vào gian mà tồn tại” [Thích Ấn Thuận 1992 (1948): 132-133] Theo học giả Hồ Đồng Khánh (Trung Quốc), dựa theo Câu xá luận Huyền Trang dịch vào kỷ VII thời nhà Đường, có nhiều vẽ diễn tả vũ trụ quan Tam giới Các vẽ trở thành giáo cụ để truyền dạy Phật pháp Trong số đó, có vẽ đưa tên Tam giới cửu địa chi đồ 三界九地之圖 vốn cất trữ động Phật kinh Đơn Hồng, sau thu thập Pháp Hiện tại, Tam giới cửu địa chi đồ giữ gìn Thư viện Đất nước Pháp (Bibliothèque nationale de France) với ký hiệu kho P.2824 (Pelliot chinois 2824), tranh cuộn với kích cỡ 213,6 × 29,3 cm Theo kết tìm hiểu văn học cơng bố năm 1996 Hồ Đồng Khánh, P.2824 vẽ Tam giới cửu địa chi đồ hồn chỉnh sớm cịn giữ Nó vẽ vào khoảng kỷ IX X, tức cách tới khoảng ngàn năm [Hồ Đồng Khánh 1996] Hiện tại, giới tìm hiểu Phật học giới nhất trí với nhận định Hồ Đồng Khánh, chẳng hạn gần có tìm hiểu update Gabor Hungary [Kósa Gábor 2017] Bản thân tư liệu P.2824 gần Thư viện Đất nước Pháp số hóa cơng bố mạng toàn thế giới từ năm 2009 [Bibliothèque nationale de France 2009] Ở này, sử dụng tư liệu số hóa đó, để mang ảnh chụp toàn cảnh P.2824 (tức toản cảnh Tam giới cửu địa chi đồ, xem Ảnh 4) trích đoạn từ diễn tả đoạn “tam thập tam thiên” tức tầng trời Đao Lợi Thiên Đế Thích (xem Ảnh 6) Có vẻ xem đối sánh P.2824 (Ảnh 4) với vẽ theo công nghệ đại đưa tính diễn đạt Tam giới đưa tên Phật giáo giới đồ cư sĩ Thanh Tâm 清心 Ngũ Đài sơn (tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc)(9) vẽ cơng bố năm 2016 mạng tồn cầu (xem Ảnh 5) Tương tự Tam giới cửu địa chi đồ Trung Quốc, theo Komine, Nhật Bản có vẽ Huyền Trang tam tạng hội 玄奘三蔵絵 (giải quyết vào kỷ 13) Nhật Bản Tu Di chư thiên đồ 日本須弥諸天図 (giải quyết vào đầu kỷ 15) Ở Triều Tiên, có vẽ tương tự [Komine Kazuaki 2011] Theo nghiên cứu Komine, núi Tu Di xem trọng điểm vũ trụ quan Tam giới, vũ trụ quan chung cho vùng Đơng Á (các nước vùng văn hóa chữ Hán) Nói cách khác, vũ trụ quan Tam giới có trọng điểm núi Tu Di (cũng tầng trời vua Đế Thích, Liễu Hạnh cơng chúa) Báo chí Tìm hiểu Lớn mạnh, số (155) 2020 47 Trong vẽ Tam giới kỹ thuật cư sĩ Thanh Tâm (xem Ảnh 5), phần trọng điểm rạch ròi tầng trời “Tam thập tam thiên”, tức Đao Lợi Thiên, có núi Tu Di đỡ lấy tòa thành vua Đế Thích Tịa thành đó, tranh Đơn Hồng P.2824 (đã nói trên) ghi Đế Thích cung 帝釋宮 Ở Đế Thích cung Tứ đại Thiên vương 四大天王, Nhật cung, Nguyệt cung Xem tranh P.2824, nhận ra tầng trời Đao Lợi Thiên vua Đế Thích vẽ nhấn mạnh, trở thành trọng điểm tranh (xem Ảnh Ảnh 6) Ảnh 4: Ảnh thu nhỏ tranh cuộn Tam giới cửu địa chi đồ (ký hiệu P.2824) giữ gìn Thư viện Đất nước Pháp (vốn tư liệu Đơn Hồng Trung Quốc, xem hồn thành vào kỷ IX-X) Kích cỡ thực 213,6 × 29,3 cm.(10) Ảnh 6: Trích đoạn tầng trời Đao Lợi Thiên vua Đế Thích Tam giới cửu địa chi đồ (ký hiệu P.2824, Thư viện Đất nước Pháp) Ảnh 5: Bức Phật giáo giới đồ cư sĩ Thanh Tâm vẽ năm 2016.(11) 48 Báo chí Tìm hiểu Lớn mạnh, số (155) 2020 Tầng trời vua Đế Thích gồm có 33 vị thần (gồm Đế Thích 32 vị xoay quang) khắc họa chi tiết số kinh điển Phật giáo khác Chẳng hạn Pháp giới an lập đồ 法界安立圖, trung, có vẽ Đao Lợi thiên cung chi đồ 忉利天宮之圖, ghi Tam thập tam thiên danh xuất Chính pháp niệm xứ kinh (có nghĩa là: tên “Tam thập tam thiên” từ kinh Chính pháp niệm xứ 正法念處經) [CBETA 2016a] Ảnh 7: Bức Đao Lợi thiên cung chi đồ Pháp giới an lập đồ.(12) Bức Đao Lợi thiên cung chi đồ Pháp giới an lập đồ (xem Ảnh 7) vẽ đủ 33 thiên Nơi Đế Thích ngự trọng điểm ghi Đế Thích Thù Thắng điện, tức điện Thù Thắng Đế Thích Điện Thù Thắng nằm cấm thành, vòng tường cấm thành có cửa trổ hướng Cấm thành lại nằm bên thành Thiện Kiến vị thần Thiện Kiến thành thiên trông giữ Tức Thiện Kiến thành thiên có bổ phận trơng giữ thành điện (cấm thành) Tường thành Thiện Kiến có 12 cửa trổ xoay quang Như thế, nơi ngự vua Đế Thích điện Thù Thắng bảo vệ lớp tường thành (của điện Thù Thắng, thành Thiện Kiến) Báo chí Tìm hiểu Lớn mạnh, số (155) 2020 49 Ở tường thành Thiện Kiến chỗ ngự 32 vị thần (đó vị Sơn Đỉnh thiên, Thượng Hành thiên, Thanh Tĩnh thiên, Uy Đức Nhan thiên, Uy Đức Luân thiên ) Thú vị bên tường thành Thiện Kiến tường thành điện Thù Thắng lại có chợ, ẩm thực thị (chợ ăn uống), mễ cốc thị (chợ thóc gạo), y phục thị (chợ quần áo), hoa man thị (chợ hoa quả) Đặc biệt, chợ thành Thiện Kiến, có riêng chợ hí nữ thị 戯女 市 – có nghĩa “chợ nữ vui vẻ” hay “chợ nữ chơi bời” (xem Ảnh 7) Giải thích chợ đặc biệt này, sách Pháp uyển châu lâm ghi rõ dâm nữ thị 婬女市- tức “chợ dâm nữ” – nơi mà vị nam nữ tầng trời đến đùa giỡn.(13) Như thế, rạch ròi, tòa thành Thiện Kiến vĩ đại – nơi mà vua Đế Thích cơng chúa Liễu Hạnh ngự – đỉnh núi Tu Di cao vời vợi, thực giới thân quen, thân thiện với người trần tục Vũ trụ quan Phật giáo, Thích Ấn Thuận Đa Cát Tang Bố ra, có chủ thể đích thực “hữu tình giới” (toàn cầu hữu tình) [Thích Ấn Thuận 1992 (1948): 132-133; Đa Cát Tang Bố 2007: 171] Thay lời kết: Sự thẩm thấu Phật giáo khởi đầu chủ động từ phía người vi Trở lên, thơng qua việc giải độc nghiên cứu cách tương đối chi tiết ebook đưa tính gốc gác từ hai phía (đó sắc phong ngun gốc mà triều đình Lê – Trịnh ban cho Liễu Hạnh công chúa vào năm 1683, vẽ có thời đại sớm phía Phật giáo), đến đây, chúng tơi mong muốn rằng, từ nửa cuối kỷ XVII, triều đình Lê – Trịnh có tri thức sâu sắc vũ trụ quan Tam giới Phật giáo, nhờ ánh sáng đường từ đó, họ khéo léo sắp xếp địa điểm bách thần phụng thờ tồn quốc, có Liễu Hạnh cơng chúa Có vẻ đặt giả thiết rằng, triều đình Lê – Trịnh rạch ròi lấy Nho học làm rường cột phương diện trị xã hội (trong chính sách khoa cử, chính sách quan chức, hệ thống quản trị xã hội ), cịn phương diện tơn giáo (hay vũ trụ quan đưa tính tơn giáo) họ lại sùng bái Phật giáo, mà bao chứa tác động tương tác Đạo giáo Có nghĩa là, người vi lúc đương thời vừa tơn Nho vừa sùng Phật, cấp độ vũ trụ quan rạch ròi Phật giáo Đúng Komine ra, bản, nhìn tồn cục rằng, vũ trụ quan tam giới (lấy trọng điểm núi Tu Di với tầng trời “Tam thập tam thiên” vua Đế Thích thuộc dục giới) vũ trụ quan chung nước vùng Đông Á thời gian bền lâu Vũ trụ quan chi phối sâu sắc toàn diện đời sống xã hội Đông Á, trước có gặp mặt đối kháng mạnh khỏe với vũ trụ quan phương Tây kỷ XVI-XIX (trước sau tùy nước, Nhật Bản tranh biện học thuật gay gắt hai bên vào kỷ XVII-XVIII) 50 Báo chí Tìm hiểu Lớn mạnh, số (155) 2020 Triều đình Lê – Trịnh rạch ròi sùng kính Liễu Hạnh công chúa mà đặt bà vào khu vực trọng điểm vũ trụ quan tam giới Họ xếp nữ thần hiển hách vào “phạm trù Đế Thích”, để cơng chúa ngự cung điện Thù Thắng vị vua trời (Thiên Đế, Ngọc Hoàng) chủ quản tầng trời “Tam thập tam thiên” (Đao Lợi Thiên) Như thế, hiểu cách nguồn trên, khơng cịn trì cách bị động ý kiến xem “thuần chiều” tồn lâu học giới Đó ý kiến cho Liễu Hạnh công chúa thực thể thần linh có sức mạnh tự chủ động vận động cách tự nhiên phía Phật giáo Sự thực thì, Liễu Hạnh cơng chúa khơng tự thăng lên tầng trời Đao Lợi Thiên Đế Thích, tức khơng tự thân vươn phía Phật giáo Mà, đích thực từ đầu, người vi hoàn toàn chủ tâm chủ ý xếp bà vào tầng trời Vũ trụ quan tam giới niên đại chi phối quan niệm họ việc “quản trị” bách thần Tất nhiên, thiết yếu phải nhắc rằng, tư liệu gốc gác tiếp tục sưu tập lại mang tới nhận thức trọng yếu chiều trái lại Đó là, hiển linh, chói ngời trầm mặc, Liễu Hạnh công chúa, với nhân cách thực thể thần linh có sức mạnh tự nó, nhiều lần phía triều đình phía Phật giáo thừa nhận Ở khảo cứu kế tiếp, đang chạy đề tài Cuối cùng, để đóng lại viết, chúng tơi mong muốn nhắc lại dấu hiệu trọng yếu tầng trời Đao Lợi Thiên – nơi cai trị vua Đế Thích (tức Ngọc Hoàng đại đế), nơi ngự cơng chúa Liễu Hạnh Đó là, tầng trời mức tầng thứ hai từ lên tầng trời dục giới Đao Lợi Thiên cao bậc so Tứ thiên vương thiên (do Tứ đại Thiên vương cai trị), núi Tu Di Có nghĩa là, tầng trời chưa cao xa, mà gần với tầng người nơi dục giới Đế Thích Liễu Hạnh cõi dục, mà chưa phải cõi sắc cõi vô sắc.(*) Hà Nội, tháng năm 2018 Chỉnh lý lần cuối trong tháng năm 2019 CXG CHÚ THÍCH (1) Về thuật ngữ hệ thần Liễu Hạnh chúng tơi đề nghị, xem chi tiết Chu Xuân Giao 2017 (2) Nhận thức phát có ý nghĩa, nên chúng tơi cho thông báo hội thảo quốc tế tổ chức Đại học Trung Sơn (Quảng Châu, Trung Quốc) trong tháng Báo chí Tìm hiểu Lớn mạnh, số (155) 2020 51 năm 2018 Tại hội thảo, chúng tơi trình bày tiểu ban với thời lượng khoảng 20 phút, có chiếu ảnh lời giải thắc mắc học giả Trung Quốc Viet Nam Bản thảo mang vào in tạm thời sử dụng hội thảo (xem Chu Xuân Giao 2018a) Sau đó, để học giới nước độc giả phổ thơng có hội tiếp cận với phát hiện, tiếp tục cho cơng bố thức báo chí Tìm hiểu Lớn mạnh vào cuối năm 2018 đầu năm 2019 (xem Chu Xuân Giao 2018b, 2019) (3) Nửa cuối năm 2018 nửa đầu năm 2019, thủ nhang Phủ Tiên Hương (thanh đồng Trần Thị Huệ) nhận lại số đạo sắc phong vốn Phủ Tiên Hương bị lưu lạc nơi (việc lưu lạc xảy khứ, nơi giữ gìn chấp thuận bàn trả lại cho Phủ Tiên Hương) Bởi vậy, số lượng sắc phong Phủ Tiên Hương tăng trưởng đối với thời điểm mùa hè năm 2017 tới thăm dò tư liệu khu vực Phủ Giầy Nam Định (4) Tra cứu thêm từ nhiều nguồn khác nhau, biết thêm rằng, kinh Vệ-đà, Rig Vệ-đà (Rigveda, 梨倶吠陀) – kinh cổ Bà-la-mơn giáo – dành bài viết lớn để đề cao Indra (Đế Thích) Đặc biệt, Rig Vệ-đà, xuất Tam giới theo cách mường tượng vũ trụ lúc đó, gồm Thiên giới, Trung giới Địa giới Mỗi giới có 11 vị thần, nên cộng Tam giới có 33 vị thần Đế Thích thuộc Trung giới (5) Edmond Nordemann nhiều năm giữ chức đốc học Viet Nam Lào Ông sáng lập viên Hội Trí Tri Về đời tư, ông kết duyên với phụ nữ Viet Nam bà Đỗ Thị Hợp (6) Tranh vẽ ba cõi đại thiên có ấn năm 1898 1914 (Edmond Nordemann 1898 : 248; 1914 : 250) Không những thế, vẽ ấn 1898 có lỗi (chẳng hạn tả “chanh vẽ ba cõi đại thiên”), nên sửa ấn 1914 (7) Kèm theo hình vẽ, ấn 1898 có giải thích ngắn gọn câu (nhấn mạnh tài đánh cờ vua Đế Thích), cịn ấn 1914 có giải thích chi tiết (đánh cờ giỏi, Indra tầng trời “tam thập tam thiên” Phật giáo – trang 195) (8) Tứ đại châu có mặt trăng mặt trời chiếu xuống “Tiểu giới” Một ngàn “Tiểu giới” gọi “Tiểu thiên giới” Một ngàn “Tiểu thiên giới” hợp lại thành “Trung thiên giới” Một ngàn “Trung thiên giới” hợp lại thành “Đại thiên giới” Ba ngàn “Đại thiên giới” hợp lại thành “Phật thổ” [Hồng Phỉ Mưu – Khương Ngọc Trân 1993: 6-7] (9) Theo giới thiệu chùa Ngũ Đài Sơn 五台山 (tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc), cư sĩ Thanh Tâm cơng trình sư thượng hạng, Tổng Chỉnh sửa trang web Ngũ Đài Sơn chùa Ngũ Đài Sơn Cư sĩ sinh năm 1964, quy y tam bảo năm 2006 (Ngũ Đài Sơn Huyền Soạn 2012) (10) Ảnh tranh này, nói văn, lấy xuống từ trực tuyến Thư viện Đất nước Pháp (Bibliothèque Nationale de France 2009) (11) Như ghi văn, Phật giáo giới đồ lấy từ trang mạng mà cư sĩ Thanh Tâm cơng bố vào năm 2016 Cư sĩ mang lần thứ lên vào ngày 3/8/2016, tiếp tục bổ sung (giảng giải thêm tam giới) vào ngày 4/8/2016 (Ngũ Đài sơn Thanh Tâm 2016a, 2016b) Chúng lấy phần bổ sung ngày 4/8/2016 (12) Bức vẽ lấy tư liệu trực tuyến Hiệp hội Phật điển điện tử Trung Hoa 中華電子佛典協會 đường liên kết CBETA 2016a (13) Tư liệu tiếng Việt đọc nhanh tầng “Tam thập tam thiên” giới quan Phật giáo, có Phật học tinh yếu Thích Thiền Tâm (Thích Thiền Tâm 2016) Author sách khơng dịch “Hí nữ thị” gì, mà ghi âm Hán Việt Không những thế, Pháp uyển châu lâm 法苑珠林 (quyển 3, thiên Tam giới 三界篇, mục Trang sức 莊飾部) ghi rõ là: “cái chợ thứ chợ dâm nữ” (第七婬女市) [CBETA2016b] 52 Báo chí Tìm hiểu Lớn mạnh, số (155) 2020 TÀI LIỆU THAM KHẢO – – – – – – – – – – – – – – – – – Acarya Vasubandhu (2012) A – tì – đạt – ma câu – xá Tuệ Sĩ dịch Tập Nxb Phương Đông Cà Mau Bibliothèque Nationale de France (2009) San jie jiu di zhi tu 三界九地之圖 (Pelliot Paul 1878-1945).P.2824 (Date de mise en ligne: 09/10/2009) https://archivesetmanuscrits.bnf fr/ark:/12148/cc8831s/cd0e39415 CBETA 漢文大藏經 (中華電子佛典協會) (2016a).『法界安立圖卷中之上』(卍新續藏第 57 冊 No 0972 法界安立圖.版本記錄: CBETA 電子佛典 2016.06,完成日期: 2016/06/15) http:// tripitaka.cbeta.org/X57n0972_002 CBETA 漢文大藏經 (中華電子佛典協會) (2016b) 『法苑珠林第 卷』(大正藏  第 53 冊 No.2122第 卷.大正藏第 53 冊 No 2122 法苑珠林.版本記錄: CBETA 電子佛典 2016.06 ,完成日期: 2016/06/15).http://tripitaka.cbeta.org/T53n2122_003 Chu Xuân Giao (2017) Về cấu tạo kép trọng điểm truyền thuyết hệ thần Liễu Hạnh qua thăm dò thần tích Đệ tam tiên chúa được phụng thờ Nga Sơn Nghĩa Hưng Báo chí Tìm hiểu Lớn mạnh Số (135) Tr 15-50 Chu Xuân Giao (2018a) Căn cước lịch sử Thánh Mẫu: Phát luận giải đạo sắc phong cổ đưa thời đại 1683 cho Liễu Hạnh công chúa nguyên vật Phủ Giầy – Nam Định” Trong 中越关系研究:历史、现状与未来・国际研讨会论文集 Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế “Nghiên cứu quan hệ Trung Quốc – Việt Nam: Lịch sử, Hiện trạng Tương lai”, Tập 1, pp.136-189vàamp; i Quảng Châu: Đại học Trung Sơn xuất (Hội thảo tổ chức ngày 14-15 tháng năm 2018, Quảng Châu; Kỷ yếu gồm tập với 1280 trang) Chu Xuân Giao ( 2018b) Căn cước lịch sử Thánh Mẫu: Phát luận giải đạo sắc phong cổ đưa thời đại 1683 cho Liễu Hạnh công chúa nguyên Phủ Giầy Nam Định Báo chí Tìm hiểu Lớn mạnh Số (148) Tr 24-55 Chu Xuân Giao (2019) Căn cước lịch sử Thánh Mẫu: Phát luận giải đạo sắc phong cổ đưa thời đại 1683 cho Liễu Hạnh công chúa nguyên Phủ Giầy Nam Định Báo chí Tìm hiểu Lớn mạnh Số (153) Tr 50-73 Đa Cát Tang Bố 多吉桑布 (2007).『图解藏密修持法』.北京:陕西师范大学出版社 Đàm Tích Vĩnh 谈锡永 (2008) 『密宗百问』(第1版) 北京:华夏出版社 Edmond Nordemann (Ngô Đê Mân) (1898) Quảng tập viêm văn – Chrestomathie annamite (Dáo học Ngơ Đê Mân chích lục) Khơng rõ nhà xuất Hà Nội Edmond Nordemann (Ngô Đê Mân) (1914) Quảng tập viêm văn – Sách tóm nhặt lối văn nơm An Nam – Chrestomathie annamite (Ngô Đê Mân Giám đốc Học chánh Trung Kỳ chọn chép) Hà Nội – Hải Phòng: Imp d’Extrême-Orient Hà Văn Tấn (2005a) Chùa Vua tín ngưỡng Đế Thích Trong Đến với lịch sử văn hóa Viet Nam Nxb Hội Nhà văn Hà Nội Tr 323-331 Hà Văn Tấn (2005b) Về ba yếu tố Phật giáo Viet Nam: Thiền, Tịnh, Mật Trong Đến với lịch sử văn hóa Viet Nam Nxb Hội Nhà văn Hà Nội Tr 279-294 Hồ Đồng Khánh 胡同慶 (1996).「P.2824 ‘三界九地之圖’內容考證」『敦煌研究』No.4 (50): 48 – 62 Hồng Phỉ Mưu, Khương Ngọc Trân 洪丕謨姜玉珍 (1993).『佛教生活風情』.北京:中国国际 广播出版社 Kaneoka Shuyu (giám tu) 金岡秀友 (監修) (2002) 『面白いほどよくわかる仏教のすべて― 釈迦の生涯から葬式まで仏教早わかり事典』東京:日本文芸社 Báo chí Tìm hiểu Lớn mạnh, số (155) 2020 – – – – – – – – – – – – – – 53 Komine Kazuaki 小峯和明.(2011).「須弥山世界の言説と図像をめぐる」『アジア新 時代の南アジアにおける日本像:インド・SAARC 諸国における日本研究の現状と必 要性 (Changing Perceptions of Japan in South Asia in the NewAsian Era: The State of Japanese Studies in India & OtherSAARC Countries)』 Tokyo: 国際日本文化研究センタ ー (International Research Center for Japanese Studies), pp 45 – 55.  Kósa Gábor (2017) A Sumeru-hegy és a buddhista világkép egy dunhuangi kéziraton (Pelliot chinois 2824), Bibliotheca Buddhoologica Budapestinensis -Szent hegek a Buddhizmusban 2017 Budapest : ELTE Budapest Centre for Buddhist Studies – Hungary, pp 113-148 Microsoft Encarta DVD (2003a).「密教」Microsoft Encarta 2003 Microsoft Encarta DVD (2003b).「世親」Microsoft Encarta 2003 Microsoft Encarta DVD (2003c).「トゥンホワン(敦煌)」Microsoft Encarta 2003 Microsoft Encarta (2003).『エンカルタ総合大百科 2004 DVD』 DVD-ROM 2003 Microsoft Corporation.(C) 1993-2003 Microsoft Corporation (Đại bách khoa đo đạc Encarta, tiếng Nhật) Ngũ Đài Sơn Huyền Soạn (五台山玄譔) (2012) “清心居士简介” (2012-05-31 09:46-来源:五 台山在线) http://www.wtszx.com/wutaibaike/31-6042.html Ngũ Đài Sơn Thanh Tâm 五台山清心 (五台山清心居士) (2016a) “代替天眼通:一张窥视三 千大千世界的手绘图” (五台山清心  五台在线 2016-08-03) https://mp.weixin.qq.com/s? bi z=MjM5NjQ0NTA2MA==&mid=2654615400vàamp;idx=1vàamp;sn=ae5af0abedc3537aa89d369f0648 2108vàamp;scene=21#wechat_redirect Ngũ Đài Sơn Thanh Tâm (2016b) “手绘高清:能看到自己过去、现在、将来在哪里!” (Original  2016-08-04  五台山清心  五台山在线  五台山在线) https://freewechat.com/a/ MjM5NjQ0NTA2MA==/2654615423/1 Thích Thiện Siêu (2000) Đại cương Luận câu xá Nxb Tôn giáo Hà Nội Sadakata Akira 定方晟 (1973).『須弥山と極楽 仏教の宇宙観』講談社現代新書 Sadakata Akira (2017) Vũ trụ quan Phật giáo – Triết học nguồn gốc Trần Văn Duy dịch Nxb Kiến thức Hà Nội (Dịch theo tiếng Anh Buddhist Cosmology – Philosophy & Origins ấn 1997, có đối chiếu với tiếng Nhật ấn 1973) Thích Ấn Thuận (1992) Phật pháp khái luận, Thích Quảng Độ, Nguyễn Văn Phát, Nguyễn Đức Sâm dịch Nxb Đại học Dạy bảo chuyên nghiệp Hà Nội Thích Thiền Tâm (1965/2016) Phật học tinh yếu – Thiên thứ hai Nxb Tôn giáo Hà Nội TÓM TẮT Nội dung giới thiệu cách khái quát bài viết nhóm sắc phong sớm cho Mẫu Liễu (Liễu Hạnh công chúa, Bà chúa Liễu Hạnh) thập niên 1640-1680 – mà đạo số đưa thời đại 1683 nguyên vật Phủ Giầy Nam Định; kế tiếp, mang luận giải giới quan Phật giáo quan hệ với tín ngưỡng Mẫu Liễu phản ảnh nhóm sắc phong Có vẻ bảo rằng, vũ trụ quan Phật giáo Mật tông (Mật giáo) người vi đương thời, tức triều đình Lê – Trịnh Đàng Ngồi khoảng nửa cuối kỷ XVII Có nghĩa là, thân người vi nhà nước phong kiến Nho giáo thời kỳ tiếp cận Mẫu Liễu vũ trụ quan Phật giáo Mật tơng Kết là, qua việc thức ban cấp sắc phong cho bản địa phụng thờ, quyền trung ương đương thời song song xác nhận địa điểm Liễu Hạnh cơng chúa vũ trụ quan Phật giáo Mật tông, cấu tạo vương quyền theo mơ hình Nho giáo Vị trí đầu tiên, Liễu Hạnh 54 Báo chí Tìm hiểu Lớn mạnh, số (155) 2020 công chúa xác nhận thuộc vào tầng trời “Tam thập tam thiên” (cũng gọi “Đao Lợi Thiên”) Đế Thích, tức tầng thứ hai sáu tầng trời thuộc Dục giới – cấu tạo Tam giới (Dục giới – Sắc giới – Vô sắc giới), tầng trời gần với tầng người Còn địa điểm thứ hai, ngơi vị cao hệ thống tước vị phong kiến công chúa thánh thượng triều đình ban tặng đặc cách, thể cầu mong giao bổ phận cho nữ thần lừng danh Nhờ ban tặng triều đình, nữ thần dự vào hàng hồng thân quốc thích, có bổ phận phị trợ triều đình xã tắc … thân vũ trụ quan Tam giới Mật giáo địa điểm trọng yếu Đế Thích (cũng tức địa điểm Liễu Hạnh công chúa) Tầng trời Đao Lợi (Tam thập tam thiên) với núi lớn Tu Di – nơi ngự Đế Thích Liễu Hạnh cơng chúa. .. kết cấu cao thấp, vũ trụ phân làm “tam giới” (dục giới, sắc giới, vô sắc giới) And kết cấu tam giới núi Tu Di xem trọng điểm Tức núi Tu Di (? ?núi Tu Di biển lớn? ??) trọng điểm vũ trụ [Thích Ấn Thuận… đó, nhấn mạnh đến địa điểm Đế Thích (cũng Liễu Hạnh công chúa) vũ trụ quan Phật giáo Qua đó, hiểu sâu sáng kiến kiến trúc triều đình Lê – Trịnh nửa cuối kỷ XVII địa điểm Liễu Hạnh công chúa – vị nữ thần

XEM THÊM  Vegeta là gì? Chi tiết về Vegeta mới nhất 2021
XEM THÊM  Tìm hiểu về Sao Mộc - Những điều cần biết

– Tìm hiểu thêm –

Tìm hiểu thêm: Vũ trụ quan Phật giáo Mật tông, với trọng điểm là núi lớn tu di ở tầng trời đao lợi của đế thích, phản ánh trong nhóm sắc phong sớm nhất cho Liễu Hạnh công chúa vào nửa cuối thế kỷ XVII, Vũ trụ quan Phật giáo Mật tông, với trọng điểm là núi lớn tu di ở tầng trời đao lợi của đế thích, phản ánh trong nhóm sắc phong sớm nhất cho Liễu Hạnh công chúa vào nửa cuối thế kỷ XVII

Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Khoa học vũ trụ
RELATED ARTICLES

Most Popular

Recent Comments