Động cơ phản lực của VA-111 Shkval, đây là loại động cơ phản lực luồng có lượng thông qua lớn từ nước hút vào

VA-111 Shkval Nga, đầu tạo siêu bọt.

Tàu ngầm hạt nhân Le Redoutable Pháp, ngư lôi trong buồng L4 & L5

Một dàn phóng ngư lôi loại MK-32 Mod 15 (SVTT) bắn ra ngư lôi loại nhẹ MK-46 Mod 5

Tàu ngầm lớp Virginia phóng ngư lôi

Máy cất cánh Pháp & ngư lôi mk46

Một quả hoả tiễn đưa ngư lôi

CSS David, tàu hồi nội chiến Mỹ, tiền thân của ngư lôi.

Ngư lôi là một loại vũ khí tự di chuyển trong nước, bên trong đưa thuốc nổ lao vào đáy tàu thuyền của đối phương. Ngư lôi là đạn chính của tàu ngầm tấn công & tàu phóng lôi, không những thế còn tồn tại thể được bắn từ tàu nổi & máy cất cánh

Ngư lôi thuộc nhóm đạn tự hành (tiếng Anh: torpedo), có thể có điều khiển hoặc không, được bắn từ ống phóng lôi, thông dụng đặc biệt là bắn bằng năng lượng khí nén, hoặc được phóng không cần ống, như ở máy cất cánh hay thủy lôi.

Ngư lôi ngày nay có hình trụ rất dài, có máy tự đẩy & đưa theo đầu đạn chứa nhiều thuốc nổ. Ngư lôi đưa đầu đạn từ vài chục, vài trăm kilôgam đến nhiều tấn, có thể đưa đầu đạn hạt nhân hoặc thông thường. Ngư lôi cũng được dùng như một thành phần của vũ khí khác.

  • Các hoả tiễn phóng từ tàu ngầm dùng ngư lôi đẩy lên mặt nước trước khi phóng.
  • Các hoả tiễn chống ngầm đem đến khu vực có mục tiêu một phao nổi & ngư lôi nối với nhau bởi dây dẫn, qua đó điều khiển được ngư lôi.
  • Một số loại thủy lôi có đầu đạn ngư lôi. Khi phát xuất hiện mục tiêu phần ngư lôi lao đến diệt trừ.

Trong Nội chiến Mỹ ngư lôi dùng để chỉ loại tàu hẹp & dài, chạy hơi nước. Đầu tàu có cần dài, trên đó có khối thuốc nổ. Quyết tử quân đâm khối thuốc này vào tàu địch rồi kích nổ. Công việc này quá bất trắc nên có nhu cầu đạn tự hành.

Người ta hay lầm lẫn giữ ngư lôi & thủy lôi (một loại mìn dưới nước). Hiện tại, do công nghệ tiến triển nên ranh giới phân biệt 2 loại vũ khí này cũng mờ nhạt đi, hiện đã có những loại “thủy lôi lai ngư lôi”, chúng được neo dưới nước giống như thủy lôi nhưng lại có thể tự phát hiện mục tiêu rồi lao vào đối phương giống như ngư lôi.

Danh mục

  • 1

    Máy đẩy

  • 2

    Sinh ra

  • 3

    Điều khiển

  • 4

    Kích cỡ

  • 5

    Một số ngư lôi

    • 5.1

      Đức

    • 5.2

      Đế quốc Nhật

    • 5.3

      Hải quân Hoàng tộc Anh

    • 5.4

      Hải quân Nga

    • 5.5

      Hải quân Mỹ

  • 6

    Tham khảo thêm

  • 7

    Đọc qua

  • 8

    Link ngoài

Máy đẩy

[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

  • Những ngư lôi ban đầu dùng khí nén nguội. Năm 1866 bình khi nén 2,25 atm chạy piston 100 vòng phút, ngư lôi đi được khoảng 180 mét. Đến năm 1906 ngư lôi khí nén nguội đã đi được 1 km.
  • Loại ngư lôi Howell Mỹ năm 1870 chạy bằng bánh đà 60 kg, quay đến vận tốc 10.000-20.000 vòng/phút trước khi phóng. Đầu đạn 43,5 kg, tầm 365 mét, vận tốc 46 km/h.
  • Loại ngư lôi Brennan 1877 dùng dây, dây quấn vào trống, khi kéo dây thì trống quay, qua đó điều khiển được ngư lôi, đây là đạn tự hành có điều khiển trước hết.
  • Năm 1904 người ta dùng không khí nén để đốt nhiên liệu động cơ. Sau đó nước được bơm vào tăng lượng thông qua. Đến những năm 1930 đã có ngư lôi chạy ôxy nén.
  • Thông dụng hiện tại ngư lôi chạy điện ra đời từ pin. Động cơ điện quay chân vịt đẩy ngư lôi.
    • Ngày nay có loại pin dùng hơi sulphur hexaflorua phun qua mặt lithium cho dòng điện mạnh & lâu, khởi động nhanh.
  • Các loại ngư lôi mạnh của Nga dùng động cơ phản lực hơi nước. Nhiên liệu đốt cất cánh hơi hơi nước, tạo áp suất sinh phản lực.
  • Các loại ngư lôi tầm xa dùng động cơ chạy bằng nhiên liệu & chất oxy hóa đưa theo như peroxyt hydro, nhiệt năng tạo hơi nước, đẩy turbine hay piston.
  • Ngày nay ngư lôi đẩy mạnh đặc biệt là loại VA-111 Shkval vận dụng công nghệ siêu bọt của Nga, vận tốc đạt 360 km/h, nhanh gấp 7 lần đối với vận tốc 52 km/h của ngư lôi MK-46 (Mỹ). Ngư lôi siêu bọt đẩy bằng động cơ phản lực hơi nước, đầu ngư lôi có chóp tạo khí, cả ngư lôi nằm trong một cái bọt lớn, thành ngư lôi có các càng chống vào thành bọt.

Sinh ra

[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Ngư lôi cũ: [1]
Ngư lôi cổ: [2]

Ivan Fedorovich Aleksandrovsky năm 1865 đề xuất với bộ Hải quân Nga loại ngư lôi tự đẩy. Đô đốc Stepan Osipovich Makarov lãnh đạo tàu Công tước Konstantin. Chiến hạm này có 4 tàu phóng lôi Chesma (Чесма), Sinop (Синоп), Navarin (Наварин) & Miner (Минер). Hai chiếc Chesma (Чесма), Sinop (Синоп) đánh chìm tàu hơi nước Thổ Intibah ngày 14 tháng 1 năm 1878.

Giovanni Luppis người Áo trình bày một loại vũ khí bảo vệ bãi biển salvacoste năm 1860, Robert Whitehead là một kỹ sư Anh đang điều hành nhà xưởng Fiume đã hỗ trợ mang phát minh này vào thực tiễn với cái tên Minenschiff dùng cho tàu ngầm, được trình lên Ủy ban Hải quân Đế chế Áo ngày 21 tháng 12 năm 1866.

Hệ thống điều khiển điện do Nikola Tesla vẽ & sau đấy ông trình bày giải pháp điều khiển qua radio lên Quân đội Mỹ, nhưng bị xếp xó.

Đến đầu thế kỷ 20 đã thông dụng các tàu phóng lôi nhỏ, chạy nhanh & các tàu ứng phó với chúng là tàu khu trục, sau Đại chiến toàn cầu thứ đặc biệt là tàu ngầm chính yếu dùng ngư lôi. Cuộc chiến lớn dùng ngư lôi là Nga-Nhật 1905 Viễn Đông. Các tàu phóng lôi rất rẻ luôn thách thức đội thiết giáp hạm đắt đỏ.

Mẹo chống ngư lôi phổ biến đặc biệt là dùng hoả tiễn phóng bom nổ dưới mặt nước. Người Mỹ tiến triển các hệ thống chiến tranh tầm rất ngắn, dùng súng máy bắn đạn xuyên chống máy cất cánh, hoả tiễn & ngư lôi. Các căn cứ & tàu đứng yên sắp xếp các bức tường & lưới, quanh các chiến hạm chính của đội tàu có các tàu bé hơn che đỡ. Tàu ngầm Nga dùng ngư lôi siêu nhanh đánh chặn ngư lôi địch.

Từ thập niên 1960 ở Liên Xô, châu Âu, Mỹ có những phòng thực nghiệm tiếng động mạnh, cho sinh ra các ngư lôi tự tìm mục tiêu bị động, chủ động & điều khiển từ xa. Lúc đó Liên Xô cũng phát minh nguyên lý siêu bọt & tiến triển các ngư lôi siêu nhanh. Đến cuối thế kỷ 20 kỹ thuật siêu bọt thất thoát, không còn là độc quyền của Nga nhưng hiện giờ ngoài Nga vẫn chỉ dùng mức thực nghiệm.

Ngư lôi có thể phóng từ bệ phóng cố định, máy cất cánh tàu… nhưng với tàu phóng lôi & tàu ngầm thì ngư lôi là vũ khí chính yếu.

Sau Chiến tranh thế giới thứ 2 hiện ra pháo auto bắn nhanh, hoả tiễn… nên các tàu phóng lôi ít công dụng hơn trước, nhưng vẫn thông dụng. Thông thường tàu phóng lôi ngày nay đưa cỡ vài trăm tấn, đưa 2 hay 4 ống phóng, một động cơ đốt trong thường & một động cơ turbine hoặc turbo, chạy rất nhanh chóng & rẻ. Tàu phóng lôi có các phương tiện phóng không tầm thấp & pháo nhỏ bắn nhanh, có radar để chiến tranh mọi thời tiết, có vỏ tang hình để chống radar địch. Chiến thuật thông thường của tàu phóng lôi là dùng nhóm tàu lao về phía tàu địch, lạng lách tránh pháo địch & chống trả máy cất cánh đến khi phóng được ngư lôi. Tuy nhiên, ngày nay tàu phóng lôi có trách nhiệm chính là chấm dứt tàu địch đã bị thương, không cho thời cơ sửa chữa. (Chẳng hạn trận đánh eo Đan Mạch, Tàu Bismarck bị tàu phóng lôi Dorsetshire kết luận số phận).

Ngày nay có hai loại tàu ngầm chính là tàu ngầm sách lược & tàu ngầm tấn công.

  • Tàu ngầm sách lược có trách nhiệm chính đưa hoả tiễn có đầu đạn sách lược, ẩn náu sâu trong biển đề phòng đấu tranh hạt nhân. Tàu ngầm sách lược đưa ngư lôi đường kính lớn, phóng hoả tiễn từ ống phóng lôi thường hoặc từ các ống phóng thẳng đứng đường kính lớn. Ngư lôi đưa hoả tiễn lên mặt nước để hoả tiễn phóng đi. Các tàu ngầm này có thể phóng cả hoả tiễn đạn đạo & có cánh.
  • Tàu ngầm tấn công là tàu ngầm dùng đánh chìm các tàu khác của đối phương. Các tàu này nhỏ, chạy nhanh, rất ít ồn & có sonar rất nhậy. Thông thường nó nằm im chờ đối phương đến gần, bắn ngư lôi & điều khiển ngư lôi đến gần tàu địch bằng bị động, rồi bật chủ động lên công kích. Các tàu ngầm tấn công lớn ngày nay không khác tàu ngầm sách lược, diệt tàu địch bằng hoả tiễn.
  • Để diệt tàu ngầm vũ khí chính cũng là ngư lôi. Máy cất cánh hải quân Sukhoi tiến triển hệ thống phát hiện & chống ngầm độc lập, tiên tiến. Radar của sản phẩm cất cánh phát hiện vệt đường đi của tàu ngầm bằng giao thoa. Khi đến khu vực có mục tiêu, máy cất cánh thả xuống 70 phao nhỏ, các phao có định vị, liên lạc & phát âm bằng các vụ nổ nhỏ, thu tiếng vọng. Nhờ hạ âm từ các phao này định vị đúng đắn mục tiêu. Đạn diệt tàu ngầm là hỗn hợp hoả tiễn – ngư lôi – phao nổi, cho phép điều khiển đúng đắn ngư lôi trong lòng biển.

Điều khiển

[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

  • Ban đầu các ngư lôi không có điều khiển
  • Giữ hướng bằng con quay hồi chuyển hay la bàn từ trường tăng tầm bắn đúng đắn của ngư lôi.
  • Ngư lôi đuổi theo chương trình lập sẵn được người Đức dùng trong Chiến tranh thế giới thứ 2 để đánh lừa Đồng Minh
  • Ngư lôi tự dò mục tiêu bị động tìm nguồn tiếng động thường phát ra từ tàu thủy. Mỹ & Đức dùng trong Chiến tranh thế giới thứ 2. Đức dùng ngư lôi Tsaukenig phóng từ tàu ngầm, ngư lôi Faydo của Mỹ phóng từ máy cất cánh.
  • Ngày nay có nhiều ngư lôi tìm mục tiêu chủ động, ngư lôi có sonar riêng.
  • Một số ngư lôi đièu khiển từ xa bằng dây. Điều khiển từ xa có thể phối hợp bám địch chủ động hay bị động.
  • Ngư lôi có thể được kích nổ bằng chạm nổ, bằng từ trường, tiếng động hay điều khiển phát nổ.

Kích cỡ

[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Vào năm 1945. Chiến tranh thế giới thứ 2 có nhiều ngư lôi rất lớn. Ngày nay đa số ngư lôi có cỡ 533 mm, một số cỡ phổ biến nữa là 450 mm & 650 mm. Ngư lôi cỡ 533 mm dài bình quân 7 mét, nặng 2 tấn, đưa 200–400 kg thuốc nổ.

Những cơ ngư lôi & ống phóng ít thấy hơn

  • 12,75 inch (324 mm), ngư lôi hạng nhẹ.
  • 16 inch (406 mm) được Liên Xô dùng trên lớp tàu ngầm Hotel, loại ngư lôi ASW, thông thường có thêm ống 21 inch.
  • 450 mm (17,7 inch): Hải quân Hoàng tộc Nhật, đôi lúc được gọi là 18 inch.
  • 21 inch (533 mm) phổ biến nhất, Đồng Minh, Đức, NATO, một số ngư lôi Liên Xô, một số ngư lôi Đế quốc Nhật.
  • 24 inch (610 mm) Đế quốc Nhật, dùng cho ngư lôi phòng từ tàu nổi Kiểu 93.
  • 650 mm dùng trên một số tàu Liên Xô, có guốc để phóng ngư lôi 533 mm trong ống 650 mm.
  • 660 mm (26 inch), 30 inch (762 mm) & 36 inch (914 mm) dùng trên các tàu ngầm hạt nhân phóng hoả tiễn có đường kính lớn. Có thể phóng được ngư lôi 533 mm.
  • 1550 mm,hiếm thấy nhất,được Nga dùng để phóng ngư lôi T-15 & Status-6

Một số ngư lôi

[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Đức

[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Hải quân Đức:

  • DM2A4
  • DM2A3
  • MU90 Impact
  • Mark 46 torpedo
  • Barracuda đang tiến triển, siêu bọt

Hải quân Đức quốc xã Kriegsmarine:

  • G7a (T1)
  • G7e (T2)
  • T3
  • T4 (Falke)
  • G7es (Zaunkönig)
  • T11

Đế quốc Nhật

[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

  • Ngư lôi kiểu 91
  • Ngư lôi kiểu 92
  • Ngư lôi kiểu 93
  • Ngư lôi kiểu 95
  • Ngư lôi kiểu 97
  • Ngư lôi kiểu Kaiten

Hải quân Hoàng tộc Anh

[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

  • Ngư lôi kiểu Spearfish
  • Ngư lôi kiểu Stingray
  • Ngư lôi kiểu Mark 24

Hải quân Nga

[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

  • Ngư lôi kiểu 53
  • Ngư lôi kiểu 65
  • Ngư lôi kiểu VA-111 Shkval

Hải quân Mỹ

[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

  • Mark 46 hạng nhẹ;
  • Mark 48 hạng nặng;
  • Mark 50 hạng nhẹ;
  • Mark 54 Hạng nhẹ vận tốc cao..

Tham khảo thêm

[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

  • Thủy lôi
  • http://en.wikipedia.org/wiki/Supercavitation

Đọc qua

[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Link ngoài

[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

  • http://www.globalsecurity.org/military/world/russia/shkval.htm
  • http://www.fas.org/man/dod-101/sys/missile/row/shkval.htm
  • http://de.wikipedia.org/wiki/Superkavitation

Xem Thêm  Đề tài Nghiên cứu tích hợp công nghệ ảnh vệ tinh, công nghệ gis và công nghệ GPS để thành lập bản đồ địa chính cơ sở tỷ lệ 1:10000 và 1:5000

By ads_law

Trả lời