Tàu con thoi

Tàu con thoi phóng ở trách nhiệm STS-120.

Tính năng
Tàu vũ trụ quỹ đạo có người lái & có khả năng quay trở lại Trái Đất.

Hãng sản xuất

United Space Alliance:
Thiokol/Alliant Techsystems (Hoả tiễn)
Lockheed Martin (Martin Marietta) (Bình nhiên liệu ngoài)
Rockwell/Boeing (Tàu vũ trụ)

Kích cỡ

Chiều cao
184 ft (56.1 m)

Đường kính
28.5 ft (8.69 m)

Khối lượng
4,470,000 lbm (2,030 t)

Số tầng
2

Khả năng

Trọng tải quỹ đạo Địa cầu thấp (LEO)
24,400 kg (53,600 lb)

Tải đến
GTO

3,810 kg (8,390 lbm)

Lịch sử phóng

Tình trạng
Đã về hưu (2011)

Các nơi phóng

LC-39, Trọng tâm vũ trụ Kennedy
SLC-6, Căn cứ Không Quân Vandenberg (không sử dụng)

Tổng số lần phóng
135

Thành công
133

Thất bại
2
(phóng thất bại, 7 phi hành gia tạ thế),
(tái nhập khí quyển thất bại, 7 phi hành gia tạ thế)

Chuyến cất cánh trước tiên
ngày 12 tháng 4 năm 1981

Bổ phận tiêu biểu

Vệ tinh Theo dõi & Chuyển tiếp dữ liệu
Spacelab
Chương trình Xem xét không gian (bao gồm cả kính Hubble)
Tàu Galileo
Vệ tinh Magellan
Phòng ban của Trạm vũ trụ Quốc tế

Tầng tách (booster) – Tên Lửa Nhiên Liệu Rắn

Số lượng tầng tách (boosters)
2

Động cơ
2 hoả tiễn đẩy nhiên liệu rắn

Sức đẩy
2,800,000 lực đẩy pound mỗi cái, đo ở mực nước biển khi khởi đầu phóng (12.5 MN)

Xung lượng riêng (Specific impulse)
269 s

Thời gian đốt
124 s

Nhiên liệu
Rắn

Tầng I – Bình nhiên liệu ngoài

Động cơ
3 động cơ chính (nằm trên tàu vũ trụ)

Sức đẩy
1,225,704 lực đẩy pound toàn bộ, đo ở mực nước biển khi khởi đầu phóng (5.45220 MN)

Xung lượng riêng (Specific impulse)
455 s

Thời gian đốt
480 s

Nhiên liệu

LOX/LH2

Tầng II Tàu vũ trụ

Động cơ
2 động cơ điều khiển quỹ đạo

Sức đẩy
53.4 kN lực đẩy toàn bộ ở môi trường chân không (12,000 lbf)

Xung lượng riêng (Specific impulse)
316 s

Thời gian đốt
1250 s

Nhiên liệu

MMH/N2O4

Tàu con thoi, là một hệ thống tàu vũ trụ quỹ đạo thấp của trái Đất có thể tái sử dụng, được vận hành bởi Đơn vị Hàng không & Vũ trụ Hoa Kỳ (NASA). Tên chính thức của chương trình là Space Transportation System (STS), được lấy từ một sách lược năm 1969 cho một hệ thống tàu vũ trụ có khả năng tái sử dụng khi mà nó là sách lược duy nhất thu được tài trợ để tiến triển[1]. Những chuyến cất cánh quỹ đạo thực nghiệm trước tiên là vào năm 1981, & chuyến cất cánh trách nhiệm hoạt động trước tiên khởi đầu vào năm 1982. Tàu con thoi được phóng tổng cộng 135 lần từ năm 1981 đến năm 2011, & phóng từ Trọng tâm vũ trụ Kennedy (KSC) ở Florida, Hoa Kỳ. Các trách nhiệm của tàu con thoi đã phóng vệ tinh, tàu khảo sát, & Kính viễn vọng không gian Hubble; thực hiện các thực nghiệm khoa học vũ trụ; & gia nhập vào trách nhiệm xây dựng & bảo trì Trạm vũ trụ Quốc tế. Tổng cộng thời gian cất cánh của đội tàu con thoi là 1322 ngày, 19 giờ, 21 phút & 23 giây[2].

Tàu con thoi thực ra có 3 thành phần bao gồm tàu vũ trụ / trạm quỹ đạo (OV – Orbiter Vehicle), cặp đôi hoả tiễn đẩy nhiên liệu rắn có thể thu hồi (SRBs – Solid Rocket Boosters), & bình nhiên liệu ngoài (ET – External Tank) có chứa khí hi-dro lỏng & ôxy lỏng. Tàu con thoi được phóng thẳng đứng, như một hoả tiễn thường, với hai hoả tiễn được phóng đồng thời với 3 động cơ chính của tàu vũ trụ, được bình nhiên liệu ngoài phân phối nhiên liệu. Cặp đôi hoả tiễn được thả ra trước khi tàu vũ trụ đạt tới quỹ đạo, & bình nhiên liệu ngoài được vứt bỏ trước khi tàu khởi đầu tiến trình đạt tới quỹ đạo, lúc ấy tàu sẽ sử dụng đến 2 động cơ điều khiển quỹ đạo (OMS – Orbital Manuevering System). Khi chấm dứt trách nhiệm, tàu sẽ sử dụng tiếp 2 động cơ điều khiển quỹ đạo để rời quỹ đạo & tái nhập vào bầu khí quyển. Tàu sẽ lượn tới một đường băng bay xuống trên Hồ khô Rogers ở Căn cứ Không Quân Edwards ở California, hoặc tại Khu bay xuống Tàu con thoi ở Trọng tâm vũ Trụ Kennedy. Nếu tàu bay xuống ở Edwards, tàu sẽ được cất cánh trở lại Trọng tâm vũ trụ Kennedy trên Máy cất cánh chở Tàu con thoi, một chiếc Boeing 747 đã được sửa đổi.

Tàu vũ trụ trước tiên, Enterprise, được chế tác cho những chuyến cất cánh thực nghiệm bay xuống & tiếp cận & hoàn toàn không đủ khả năng cho một chuyến cất cánh trên quỹ đạo ngoài vũ trụ. 4 tàu vũ trụ trước tiên được chế tác cho chuyến cất cánh vũ trụ là: Columbia, Challenger, Discovery, & Atlantis. Trong số này, Challenger & Columbia đã bị phá hủy trong tai nạn năm 1986 & 2003 theo thứ tự, & tổng cộng 14 phi hành gia đã bỏ mạng. Tàu vũ trụ thứ 5, Endeavour, được chế tác vào năm 1991 để thay thế tàu Challenger. Tàu con thoi chính thức chấm dứt & về hưu ở trách nhiệm cuối cùng của tàu Atlantis vào ngày 21 tháng 7 năm 2011.

Danh mục

  • 1

    Diễn tả

  • 2

    Các thông số kỹ thuật kỹ thuật

  • 3

    Phóng

  • 4

    Bay xuống

    • 4.1

      Rời quỹ đạo

    • 4.2

      Tái nhập khí quyển

    • 4.3

      Tiến trình hạ độ cao & bay xuống

    • 4.4

      Sau khoảng thời gian bay xuống

    • 4.5

      Vị trí

  • 5

    Tìm hiểu thêm

  • 6

    Đọc qua

  • 7

    Link ngoài

Diễn tả

[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Atlantis hạ càng trước khi hạ xuống một đường băng đặc biệt như là một máy cất cánh thông thường

Trạm quỹ đạo giống như là một máy cất cánh với hai cánh delta, quét một góc 81° ở rìa cánh trong & 45° ở rìa ngoài cùng của cánh. Cánh ổn định thẳng đứng có cạnh ngoài cùng quét một góc 45° về phía sau. Có bốn cánh tà, gắn vào rìa ngoài cùng của hai cánh, một thắng cản, gắn vào rìa của cánh ổn định, với các cánh thân, điều khiển trạm quỹ đạo trong tiến trình bay xuống & đáp xuống.

Khoang chứa phi hành đoàn của trạm quỹ đạo bao gồm 3 tầng: tầng cất cánh, tầng giữa & tầng sử dụng tiện ích. Tầng trên cùng là tầng điều khiển cất cánh với những chỗ ngồi cho lãnh đạo trưởng, phi công, hai Chuyên Viên của chuyến cất cánh ngồi đằng sau. Tầng giữa, ở phía dưới tầng cất cánh, có thêm 3 chỗ ngồi cho các member còn sót lại của phi hành đoàn. Bếp, phòng ngự sinh, chỗ ngủ, tủ chứa quần áo & cửa sập bên hông cho việc vào ra tàu cũng ở tầng này, cũng như là cửa với khóa không khí (). Khóa không khí cũng có thêm một cửa vào khoang chứa hàng hóa. Nó cho phép hai phi hành gia, đưa bộ áo phi hành với nhà cung cấp di động ngoài không gian ( – EMU), giảm áp suất trước khi bước ra không gian.

Trạm quỹ đạo có một khoang chứa hàng hóa, kích cỡ 60 ft × 15 ft (18 m × 4,6 m) chiếm đa số phần thân. Các cửa vào khoang hàng hóa có bộ tỏa nhiệt ở các mặt phẳng bên trong, & được mở cho việc điều khiển nhiệt độ khi tàu con thoi đang ở trên quỹ đạo. Điều khiển nhiệt độ bằng cách định hướng tàu tương đối đối với Trái Đất & Mặt Trời. Bên trong khoang chứa hàng là hệ thống cần cẩu điều khiển từ xa, cũng được nghe đến như là Canadarm, 1 cánh tay máy được sử dụng để vận tải & mang các thiết bị ra không gian.

Trạm quỹ đạo

Ba động cơ chính của tàu con thoi ( – SSME) được gắn vào đuôi của trạm quỹ đạo dưới dạng tam giác. Ba động cơ này có thể nghiêng lên 10,5 độ & nghiêng xuống 8,5 độ từ bên này sang bên kia trong tiến trình phóng để biến đổi hướng đẩy của chúng & lái tàu con thoi trong khi đẩy.

Hệ thống điều khiển quỹ đạo ( – OMS) phân phối các điều khiển trên quỹ đạo, bao gồm vào quỹ đạo, connect, cất cánh vòng quanh, chuyển hóa, gặp mặt, rời bỏ quỹ đạo.

Hệ thống điều khiển các phản ứng ( – RCS) phân phối các điều khiển về độ cao & dịch chuyển theo 3 trục theo độ dốc, cuốn, trệch trong các công đoạn cất cánh vào quỹ đạo, vòng quanh quỹ đạo, & tái nhập
khí quyển.

Hệ thống bảo vệ nhiệt độ ( – TPS) bao phủ bên ngoài trạm quỹ đạo, bảo vệ nó từ độ lạnh cóng -121 °C (-250 °F) trong không gian đến 1649 °C (3000 °F), nhiệt độ lúc vào lại khí quyển.

Cấu tạo của trạm quỹ đạo chủ chốt được làm từ hợp kim nhôm dù rằng kết cấu động cơ đẩy được làm từ hợp kim titani.

Bình nhiên liệu chứa ngoài ( – ET) phân phối 2,025 triệu lít (535.000 gallon) hiđrô lỏng & ôxy lỏng để làm nhiên liệu cho động cơ chính của tàu con thoi (SSME). Nó được bỏ đi 8,5 phút sau khoảng thời gian phóng lên ở độ cao khoảng 60 nautical miles (111 km), rồi bị đốt cháy khi vào lại khí quyển. Bình chứa dày 1/8 inch chủ chốt làm bằng hợp kim nhôm-lithi.

Hai hoả tiễn đẩy nhiên liệu rắn ( – SRB) phân phối khoảng 83% sức đẩy của tàu vào lúc phóng & công đoạn 1 của tiến trình phóng. Chúng được vứt bỏ 2 phút sau khoảng thời gian phóng tại độ cao vào khoảng 150.000 feet (45,7 km), rồi bung dù & hạ xuống trên biển khơi để được thu nhặt lại. Vỏ của hoả tiễn SRB làm bằng thép dày khoảng 1/2 inch (1,27 cm).

Tàu con thoi là một trong những phi thuyền trước tiên sử dụng hệ thống điều khiển cất cánh auto trên máy tính fly-by-wire. Điều này có nghĩa là không có một connect cơ học hay thủy lực nào giữa cần điều khiển của phi công đến mặt phẳng điều khiển hay hệ thống điều khiển phản ứng của các động cơ đẩy.

Vào năm 1990 những laptop nguyên thủy được thay thế với một kiểu chuyên sâu AP-101S, với dung tích khoảng 1 megabyte & vận tốc 1,2 MHz. Bộ nhớ lưu trữ được thay từ các vòng từ tính sang bán dẫn với pin đề phòng.

Các thông số kỹ thuật kỹ thuật

[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Các thông số kỹ thuật của trạm quỹ đạo (cho Endeavour, OV-105)

  • Dài: 122,17 ft (37,24 m)
  • Sải cánh: 78,06 ft (23,79 m)
  • Cao: 58,58 ft (17,25 m)
  • Trọng lượng trống: 151.205 lb (68.586,6 kg)
  • Tổng trọng lượng lúc bay: 240.000 lb (109.000 kg)
  • Trọng lượng tối đa lúc bay xuống: 230.000 lb (104.000 kg)
  • Các động cơ chính: 3 Rocketdyne Block 2 A SSME, mỗi cái với sức đẩy tại mặt biển là 393.800 lbf (178.624 kgf/1,75 MN)
  • Khối lượng chuyên chở tối đa: 55.250 lb (25.061,4 kg)
  • Kích cỡ sàn chuyên chở: 15 ft × 60 ft (4,6 m × 18,3 m)
  • Độ cao vận hành: 100 – 520 nmi (185 – 1.000 km)
  • Vận tốc: 25.404 ft/s (7.743 m/s, 27.875 km/h, 17.321 mi/h)
  • Sải ngang : 1.085 nautical mile (2.009,4 km)
  • Phi hành đoàn: 7 (lãnh đạo, phi công, 2 Chuyên Viên cho chuyến cất cánh & 3 Chuyên Viên về hàng hóa đưa theo), 2 là tối thiểu.

Tàu con thoi được chuyên chở bởi máy cất cánh Boeing 747, 1998 (NASA)

Các thông số kỹ thuật cho bình nhiên liệu ngoài (cho SLWT)

  • Dài: 153,8 ft (46,9 m)
  • Đường kính: 27,6 ft (8,4 m)
  • Thể tích nhiên liệu: 535.000 gallon (2.030.000 L)
  • Trọng lượng trống: 58.500 lb (26.559 kg)
  • Trọng lượng tổng lúc bay: 1,667 triệu lb (757.000 kg)

Các thông số kỹ thuật của hoả tiễn đẩy nhiên liệu rắn

  • Dài: 149,6 ft (45,6 m)
  • Cao: 12,17 ft (3,71 m)
  • Trọng lượng trống: 139.490 lb (63.272,7 kg)
  • Tổng trọng lượng lúc bay: 1,3 triệu lb (590.000 kg)
  • Sức đẩy (tại mặt biển, bay): 2,8 triệu lbf (1.270.058 kgf/12,46 MN)

Thông số kỹ thuật hệ thống khay chồng ()

  • Cao: 184,2 ft (56,14 m)
  • Tổng trọng lượng bay: 4,5 triệu lb (2,04 triệu kg)
  • Tổng sức đẩy lúc bay: 6,781 triệu lbf (3,076 triệu kgf/30,18 MN)

Phóng

[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Tàu con thoi sẽ không được phóng trong điều kiện có thể bị sét đánh trúng. Máy cất cánh thường bị sét đánh nhưng không gây ra tác hại nào bởi dòng điện sẽ bị tiêu tán đi bởi lớp vỏ dẫn điện & máy cất cánh không được nối đất. Như phần đông các loại máy cất cánh, tàu con thoi được chế tác bằng lớp nhôm dẫn điện, vốn bảo vệ & che chắn cho các hệ thống bên trong. Bên cạnh đó, trong tiến trình tàu con thoi được phóng đi nó thải ra một luồng khí nóng khi cất cánh lên, & luồng khí này có thể dẫn sét vì phân phối một đường dẫn cho dòng điện xuống đất. Trong lúc tàu con thoi có thể chịu được một cú sét đánh, một cú sét đã xảy ra với tàu Apollo 12 & vì sự an toàn NASA đã chọn không phóng tàu con thoi khi sấm sét có thể xảy ra.

Vào ngày phóng đi, sau khoảng thời gian đã xong việc đếm ngược trước 9 phút, tàu con thoi sẽ trải qua sự chuẩn bị cuối cùng cho phóng, & hệ thống đếm ngược được điều khiển bằng một chương trình laptop đặc biệt ở Launch Control Center gọi là Ground Launch Sequencer (GLS). Hệ thống này sẽ dừng việc đếm ngược nếu có bất kỳ vấn đề mấu chốt nào xảy ra với hệ thống trên tàu. Trước khi phóng 31 giây GLS sẽ để việc đếm ngược cho hệ thống laptop trên tàu thực hiện.

Bay xuống

[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Đa số tiến trình sau khoảng thời gian tàu con thoi rời khỏi quỹ đạo & tái nhập khí quyển, trừ tiến trình hạ càng, thường được điều khiển dưới sự điều hành của dòng sản phẩm tính. Bên cạnh đó, tiến trình tái nhập khí quyển có thể được điều khiển hoàn toàn bằng tay nếu có trường hợp nguy cấp. Sau khoảng thời gian tái nhập bầu khí quyển, tiến trình hạ độ cao & bay xuống có thể điều khiển auto, nhưng tiến trình này thường được cất cánh thủ công.

Rời quỹ đạo

[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Luồng khí nóng của tàu con thoi Atlantis khi tái nhập khí quyển nhìn từ Trạm vũ trụ Quốc tế.

Tàu khởi đầu tái nhập khí quyển bằng cách rời bỏ quỹ đạo bằng cách dùng các động cơ điều khiển quỹ đạo, trong lúc đang cất cánh lật ngược, & ngược chiều với hướng quỹ đạo trong vòng 3 phút, lúc ấy sẽ giảm vận tốc của tàu khoảng 200 dặm/h (322 km/h). Kết quả là sẽ làm chậm tàu & giảm độ cao quỹ đạo của tàu xuống & vào tầng khí quyển. Sau 3 phút sử dụng xong các động cơ, tàu sẽ quay ngược trở lại, đẩy phần đầu của tàu xuống (thực ra là “ngóc lên” đối với trái Đất). Việc giảm độ cao quỹ đạo này xảy ra một nửa chặng đường quanh trái Đất từ tàu đến khu bay xuống.

Tái nhập khí quyển

[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Tàu sẽ khởi đầu gặp mật độ không khí dày trong tầng nhiệt thấp ở độ cao khoảng 120 km, với tốc độ khoảng 25 Mach, 8,200 m/s (30,000 km/h). Tàu được điều khiển bằng sự phối hợp giữa hệ thống RCS (Hệ thống điều khiển ở môi trường chân không) & các mặt phẳng điều khiển, để cất cánh hạ độ cao tại một góc 40 độ với mũi tàu trên đường chân mây, tạo nên lực cản, không những để giảm vận tốc đến vận tốc bay xuống, mà còn hỗ trợ giảm sức nóng của bầu khí quyển. Tàu càng lúc sẽ gặp nhiều mật độ khí, & chuyển từ một con tàu vũ trụ thành một cái máy cất cánh thường. Trên một đường thẳng, góc 40 độ của tàu sẽ chầm chậm giảm xuống hoặc thậm chí cao thêm. Lúc ấy sẽ buộc tàu phải thực hiện 4 lần nghiêng qua nghiêng lại tạo ra hình chữ S, mỗi lần nghiêng sẽ nghiêng khoảng vài phút, nhiều lúc tàu có thể nghiêng tới 70 độ, nhưng bù lại vẫn giữ nguyên góc 40 độ. Phương pháp này sẽ khiến vận tốc tàu có thể giữ nguyên. Những lần nghiêng này được thực hiện khi mà tàu đang ở nhiệt độ cao nhất của tiến trình tái nhập khí quyển, khi ấy lớp bảo vệ nhiệt độ của tàu sẽ có màu đỏ rực & lực G ở mức cao nhất. Sau khoảng thời gian chấm dứt tiến trình nghiêng này, tàu lúc ấy sẽ hoàn tất chuyển thành một cái máy cất cánh. Lúc ấy tàu sẽ giảm độ ngóc, & chúi mũi xuống & khởi đầu tiến trình hạ độ cao & bay xuống.

Tại phần thấp nhất của khí quyển, tàu sẽ cất cánh giống như một tàu lượn thường, loại trừ hạ độ cao mau hơn, với độ hạ độ cao hơn 50 m/s (180 km/). Ở tốc độ khoảng 3 Mach, hai đầu dò không khí, nằm ở hai bên thấp của phần thân tàu, được triển khai để đo áp suất của không khí đối với tàu khi di chuyển ở khí quyển.

Tàu con thoi Endeavour (STS-127) bay xuống, 2009.

Có thể bạn quan tâm

 

[Wiki] Hoàng tử quái thú là gì? Cụ thể về Hoàng tử quái thú cập nhật 2021

Tiến trình hạ độ cao & bay xuống

[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Khi tiến trình hạ độ cao & bay xuống khởi đầu, tàu con thoi khi ấy đang ở độ cao 3.000 m, 12 km đến đường băng. Phi công khi ấy sẽ sử dụng phanh khí động để giúp giảm tốc của tàu. Vận tốc của tàu giảm từ khoảng 682 xuống còn 346 km/h, tốc độ chạm xuống đường băng (đối với 260 km/h của dòng sản phẩm cất cánh thương mại). Càng bánh xe của tàu được thả ra khi đang cất cánh với vận tốc 430 km/h. Nhằm bổ trợ thắng cho tàu, một cái dù giảm tốc khoảng 12 m được thả ra sau khoảng thời gian toàn thể 3 càng bánh của tàu đã chạm đường băng ở tốc độ khoảng 343 km/h. Dù sẽ được thả ra một khi tàu đã giảm tốc xuống còn 110 km/h.

Sau khoảng thời gian bay xuống

[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Phi hành đoàn của tàu con thoi Discovery rời phi thuyền

Sau khoảng thời gian bay xuống, tàu con thoi sẽ ở lại trên đường băng khoảng vài tiếng để giảm nhiệt độ con tàu. Một nhóm nhân sự ở trước & sau tàu sẽ kiểm soát các phần nhiên liệu của hệ thống RCS & 3 động cơ phụ của tàu con thoi. Nếu hiđrô được phát hiện, một trường hợp nguy cấp sẽ được cảnh báo, nhân sự sẽ ngắt năng lượng của tàu & nhóm nhân sự sẽ sơ tán khỏi khu vực. Một nhóm khác gồm 25 xe đặc biệt & 150 kỹ sư & kỹ thuật viên sẽ tiếp cận con tàu & xóa bỏ các khí độc từ nguyên nhiên liệu & khu hàng hóa của tàu khoảng 45-60 phút sau khoảng thời gian bay xuống. Một viên doctor sẽ lên tàu kiểm soát y tế cho phi hành đoàn trước khi họ có thể rời phi thuyền. Một khi phi hành đoàn đã rời khỏi tàu, bổ phận sẽ được giao lại từ Trọng tâm vũ trụ Johnson ở Houston, Texas cho Trọng tâm vũ trụ Kennedy.

Nếu tàu bay xuống tại Căn cứ Không quân Edwards ở California, hoặc các đường băng nguy cấp. thì tàu sẽ được cất cánh trở lại Trọng tâm vũ trụ Kennedy trên một chiếc 747 được phục chế & bay xuống tại Khu bay xuống Tàu con thoi. Một khi đến tới Khu bay xuống, tàu sẽ được kéo tiếp chặng đường 3.2 km trên đường kéo hoặc đường thường dùng bởi chuyến xe buýt tham quan hoặc nhân sự của Trọng tâm vũ trụ Kennedy đến Khu vực Giải quyết Tàu con thoi, nơi mà nó sẽ khởi đầu tiến trình dài tháng chuẩn bị cho trách nhiệm kế tiếp.

Vị trí

[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

NASA thường bay xuống các chuyến tàu con thoi ở Trọng tâm vũ trụ Kennedy[3]. Nếu thời tiết khiến việc bay xuống gặp khổ cực, việc bay xuống có thể trì hoãn đến lúc điều kiện thới tiết tốt; bay xuống ở Căn cứ Không quân Edwards ở California; hoặc sử dụng một số đường băng đề phòng khắp toàn cầu. Các việc bay xuống nào ngoài Trọng tâm vũ trụ Kennedy sẽ phải chuyển về lại Mũi Canaveral. Bổ phận STS-3 của tàu con thoi Columbia năm 1982 đã một lần bay xuống tại Sân cất cánh Vũ trụ White Sands, New Mexico; đây là sự lựa chọn cuối cùng bởi vì các nhà khoa học NASA tin rằng các hạt cát có thể gây thiệt hại ngoại thất của con tàu.

Có rất nhiều khu bay xuống đề phòng khác nhưng không lúc nào dùng đến.[4] Cho đến lúc chấm dứt chương trình, tàu con thoi chỉ duy nhất bay xuống tại 3 vị trí.

Tìm hiểu thêm

[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Huy hiệu kỷ niệm chương trình tàu con thoi

  • NSTS 1988 Reference manual
  • How The Space Shuttle Works
  • NASA Space Shuttle News Reference – 1981 (PDF document)
  • Orbiter Vehicles
  • Lecture Series on the space shuttle from MIT OpenCourseWare
  • Cronological danh sách of Space Shuttle Missions

Đọc qua

[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

  1. ^

    “Space Task Group Report, 1969”.

  2. ^

    “Space Shuttle Facts Statistics”.

  3. ^

    “Roster for landing sites – NASA”.

  4. ^

    “Shuttle Alternative Landing Sites”.

Link ngoài

[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

  • NASA Human Spaceflight – Shuttle: Current status of shuttle missions
  • Video of current and historical missions (STS-1 thru Current) Lưu trữ 2010-09-09 tại Wayback Machine
  • Space Shuttle Newsgroup – sci.space.shuttle
  • Danh sách of all Shuttle Landing Sites
  • Map of Landing Sites
  • Official NASA Human Space Flight Orbital Tracking system
  • Weather criteria for shuttle launch Lưu trữ 2006-09-12 tại Wayback Machine
  • NASA Shuttle Gallery: Newer images, audio, and video of the space shuttle program
  • Atlantis photo essay From Boston.com.
  • Older images of the space shuttle program
  • The maiden launch of the space shuttle (Google Video) Lưu trữ 2007-08-29 tại Wayback Machine
  • Different details and perspectives from the orbiter (Gallery drafts.de) (ger.)
  • NASA Further Updates Launch Schedule.
  • GRiD Compass History at Hrothgar’s Cool Old Junk Page
  • NASA History Series Publications (many of which are on-line)
  • time lapse of orbiter flow from processing, to stacking, to launch Lưu trữ 2013-12-07 tại Wayback Machine
  • They Write the Right Stuff: Phần mềm development for the Space Shuttle

Xem Thêm  Những vụ phóng tên lửa thất bại làm thay đổi lịch sử vũ trụ thế giới

By ads_law

Trả lời